MIÊU TẢ NGỮ NGHĨA CỦA NHÓM THÀNH NGỮ LIÊN QUAN ĐẾN GIỚI TÍNH TRONG THÀNH NGỮ TIẾNG VIỆT .... Trong kho tàng thành ngữ tiếng Việt, nhóm thành ngữ liên quan đến giới tính chiếm một số lượn
Trang 1KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Ngôn Ngữ
HÀ NỘI, 2016
Trang 3Lời cảm ơn
Em xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành, sâu sắc của mình tới cô giáo
hướng dẫn TS Đỗ Thị Thu Hương, người đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn em
hoàn thành khóa luận này
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong tổ Ngôn ngữ khoa Ngữ văn, trường Đại học sư phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình học tập nghiên cứu
Xin cảm ơn bạn bè, gia đình đã luôn động viên, giúp đỡ em hoàn thành khóa luận
Do khả năng còn có hạn chắc chắn khóa luận này còn nhiều thiếu sót
Em rất mong nhận được sự giúp đỡ của các thầy cô
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2016
Sinh viên
Phạm Thị Huế
Trang 4Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan những nội dung đã trình bày trong khóa luận này là kết quả quá trình nghiên cứu của bản thân tôi dưới sự hướng dẫn của các
thầy cô giáo, đặc biệt là TS Đỗ Thị Thu Hương Những nội dung trong
này không trùng với kết quả nghiên cứu của các tác giả khác Nếu sai tôi hoàn thành chịu trách nhiệm
Hà Nội, tháng 5 năm 2016
Sinh viên
Phạm Thị Huế
Trang 5Mục lục
Lời cảm ơn i
Lời cam đoan ii
Mục lục iii
Mở đầu 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5
3.1 Mục đích 5
3.2 Nhiệm vụ 5
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
4.1 Đối tượng nghiên cứu 6
4.2 Phạm vi nghiên cứu 6
4.3 Phương pháp nghiên cứu 6
5 Đóng góp 6
6 Bố cục 6
Nội dung Error! Bookmark not defined CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN 7
1.1 Khái quát về thành ngữ 7
1.1.1 Khái niệm 7
1.1.2 Đặc điểm 7
1.1.3 Phân loại 8
1.1.3.1 Thành ngữ đối 10
1.1.3.2 Thành ngữ so sánh 9
Trang 61.1.4 Nhận diện thành ngữ (trong sự so sánh với từ ghép, quán ngữ, tục ngữ)
Error! Bookmark not defined
1.1.4.1 Khái quát Error! Bookmark not defined
1.1.4.2 Phân biệt thành ngữ với từ ghép 11
1.14.3 Phân biệt thành ngữ với quán ngữ 12
1.1.4.4 Phân biệt thành ngữ với tục ngữ 13
1.1.5 Quan niệm về giới trong xã hội Việt Nam truyền thống 13
Tiểu kết chương 1 15
CHƯƠNG 2 MIÊU TẢ NGỮ NGHĨA CỦA NHÓM THÀNH NGỮ LIÊN QUAN ĐẾN GIỚI TÍNH TRONG THÀNH NGỮ TIẾNG VIỆT 17
2.1 Kết quả thống kê 17
2.1.1 Tiêu chí thống kê 17
2.1.2 Kết quả thống kê phân loại 17
2.1.3 Nhận xét sơ bộ kết quả thống kê 18
2.2 Miêu tả ngữ nghĩa của nhóm thành ngữ liên quan tới sự phân chia giới tính 18 2.2.1 Thành ngữ miêu tả ngoại hình của mỗi giới 18
2.2.2 Thành ngữ miêu tả đặc điểm tính cách, phẩm chất của mỗi giới 36
2.2.3 Thành ngữ miêu tả vai trò xã hội, sự nghiệp, công việc của mỗi giới 26 2.2.4 Thành ngữ miêu tả vai trò của mỗi giới trong gia đình 31
2.2.5 Thành ngữ miêu tả thói hư tật xấu của mỗi giới 41
Tiểu kết chương 2 45
Kết luận 46
Tài liệu tham khảo 47
Trang 7Mở đầu
1 Lí do chọn đề tài
Thành ngữ là một trong những đơn vị có giá trị về ngôn ngữ - văn hóa của mỗi dân tộc Hầu hết, các thành ngữ đều do nhân dân sáng tác được truyền từ đời này sang đời khác nên mang đậm tính chất dân gian và tính bình
dị đời thường Thành ngữ chứa đựng đầy đủ những đặc tính sáng tạo của lối nói dân gian Đó là lối so sánh, ví von mang tính hình tượng, cụ thể, gợi cảm, lối nói khoa trương trào lộng, dí dỏm và tế nhị, lối nói linh hoạt và nhạc điệu đồng thời cũng rất giàu hình ảnh, sinh động, cô đọng, hàm súc theo lối cấu trúc đơn giản nên rất dễ nhớ, dễ thuộc Do đó, thành ngữ được vận dụng rất nhiều trong cuộc sống một cách nhuần nhuyễn và tự nhiên
Trong tiếng Việt thành ngữ có một khối lượng lớn rất đa dạng và phong phú Cùng phát triển với tiếng nói dân tộc, thành ngữ dần dần được nhân dân
sử dụng như một công cụ giao tiếp chung Phát triển thành ngữ là một trong những cách tốt nhất để bổ sung cho vốn từ của một ngôn ngữ Xét về mặt tu
từ, thành ngữ đã góp phần làm giàu, làm đẹp cho tiếng Việt về nhiều phương diện
Thành ngữ trong mỗi ngôn ngữ có một vị trí rất đặc biệt Nó là một bộ phận quan trọng của từ vựng , thành ngữ là nơi thể hiện rất rõ các đặc trưng văn hóa, dân tộc Có ý kiến cho rằng: “Nếu coi ngôn ngữ dân tộc là tinh thần của dân tộc thì có thể nói thành ngữ, tục ngữ, ca dao, dân ca… là các cách thức biểu hiện khác nhau của bản sắc văn hóa dân tộc Trong thành ngữ, chúng ta có thể tìm thấy những đặc điểm riêng của tư duy dân tộc, quan điểm thẩm mĩ, đạo lí làm người, đối nhân xử thế giữa người với người, lối sống, cách cảm, cách nghĩ cũng như thái độ đối với cái thiện và cái ác, cái cao cả và cái thấp hèn” Về mặt văn hóa, thành ngữ chính là nơi thể hiện sâu sắc nhất
Trang 8vốn văn hóa của một dân tộc Cách nói năng, cách suy nghĩ, tư duy của một
dân tộc biểu hiện rõ nhất trong vốn từ ngữ của họ mà đặc biệt là trong các
thành ngữ chính vì điều này mà khi nghiên cứu thành ngữ, tức là chúng ta
cũng đã nghiên cứu được một phần rất lớn của ngôn ngữ Do đó, việc nhận
diện đúng và hiểu đúng thành ngữ có vai trò rất quan trọng giúp mọi người
tiếp nhận các thành ngữ dân tộc
Trong kho tàng thành ngữ tiếng Việt, nhóm thành ngữ liên quan đến giới tính
chiếm một số lượng lớn Tìm hiểu nhóm thành ngữ này giúp chúng ta hiểu rõ
hơn đặc điểm riêng của mỗi giới, đồng thời cũng thấy được quan niệm về giới
của người Việt
Từ những lí do trên, chúng tôi chọn đặc điểm ngữ nghĩa của nhóm thành ngữ
liên quan đến giới tính làm đề tài nghiên cứu
2 Lịch sử vấn đề
Về thành ngữ tiếng Việt đã có rất nhiều công trình nghiên cứu dưới các dạng khác nhau Tuy nhiên, với những điều kiện khác nhau, mục đích khác
nhau thành ngữ được xem xét, luận giải các phương thức và mức độ khác
nhau Các công trình về thành ngữ có thể phân chia thành một số dạng như
sau:
Hướng thứ nhất: nghiên cứu đặc điểm cấu trúc - ngữ nghĩa Đối với
thành ngữ tiếng Việt, Giáo sư Hoàng Văn Hành vẫn một quan điểm xuyên
suốt trong tiếp cận vốn từ tiếng Việt, ông coi thành ngữ thuộc loại tổ hợp từ
cố định nhưng có đặc điểm bền vững về hình thái cấu trúc và hoàn chỉnh,
bóng bẩy về nghĩa Tính bền vững về hình thái cấu trúc thể hiện ở sự ổn định
ở thành phần từ vựng (nhiều khi chặt chẽ đến mức loại bỏ khả năng thay thế
từ đồng nghĩa, ví dụ chỉ có thể là nói toạc móng heo chứ không thể là nói toạc
móng lợn) và sự bền vững về hình thái cấu trúc (đó là hệ quả của quá trình bị
mờ nhạt, hay bị lãng quên đi những mối quan hệ về ngữ pháp và ngữ nghĩa)
Trang 9Tuy nhiên, ông lưu ý rằng, tính bền vững của thành ngữ trong hệ thống chuẩn
và tính uyển chuyển của thành ngữ trong sử dụng là hai mặt không hề mâu thuẫn, không hề loại trừ nhau Tính hoàn chỉnh về nghĩa của thành ngữ được ông lý giải từ góc độ nghĩa định danh “Song, khác với các đơn vị định danh bình thường, thành ngữ là loại các đơn vị định danh bậc hai” Với cách nhìn này, ông cho rằng thành ngữ là đơn vị từ vựng có lượng nghĩa đôi và hai nghĩa này gần như song song tồn tại: nghĩa đen là cơ sở, là gốc; nghĩa bóng hay nghĩa phái sinh là nghĩa được sử dụng trong hành chức, là nghĩa hình thành qua quá trình biểu trưng hóa Biểu trưng hóa về nghĩa của thành ngữ, theo ông, thể hiện dưới hai hình thức: hình thức so sánh (ẩn dụ hóa) và hình thức ẩn dụ (so sánh ngầm)
Hướng thứ hai, để nhận diện thành ngữ tiếng Việt, các nhà Việt ngữ học còn đặt khái niệm thành ngữ trong sự phân biệt với các đơn vị như cụm từ tự
do, từ ghép/từ phức, quan ngữ và tục ngữ Mặc dù vậy, các tác giả có quan điểm khác nhau về những khái niệm này khiến cho việc phân biệt cũng không
hề đơn giản nhìn chung, khi đưa ra các khái niệm nói treenhoj đều dựa vào hai tiêu chí quan trọng là cấu trúc và ngữ nghĩa Song, do tính phức tạp của chúng, nhiều tác giả đã phải sử dụng thêm các tiêu chí khác để làn rõ hơn (chẳng hạn tiêu chí số lượng âm tiết, tiêu chí chức năng, tính độc lập/không độc lập của một đơn vị ngôn ngữ, tính biểu trưng ) Bản thân những tiêu chí như vậy cũng vẫn chưa có được sự thống nhất trong quan điểm giưa các nhà nghiên cứu Nhưng dù sao, việc bổ sung thêm tiêu chí càng góp phần làm rõ
và khu biệt khái niệm thành ngữ với cái khái niệm có liên quan
Nhìn trên tổng thể mà nói, về cơ bản, các nhà Việt ngữ học đã vạch đủ các ranh giới cần thiết để nhận diện thành ngữ Song không phải lúc nào việc áp dụng các tiêu chí trên cũng mang lại kết quả như mong đợi Chẳng han, sự phân biệt giữa khái niệm thành ngữ với tục ngữ dường như vẫn còn rất dễ nhầm lẫn Các đơn vị như Con giun xéo mãi cũng quằn, Cây ngay không sợ chết đứng… thường có sự lẫn lộn khi nhận diện chúng là thành ngữ hay tục ngữ Ví dụ trong một số ngữ cảnh, Con giun xéo mãi cũng quằn nhằm chỉ ra một tình huống Đó là tình huống bị áp bức thì sẽ có đấu tranh Trong trường
Trang 10hợp này, nó có thể được coi là thành ngữ Nhưng trong một số tường hợp
khác, nó có thể được coi là tục ngữ vì đã nêu ra một phán đoán rằng nếu bị áp
bức nhiều quá thì sẽ có đấu tranh, cho nên có thể hàm ý đưa ra một lời khuyên trong cách ứng xử
Chúng tôi đồng ý với một vài người đi trước cho rằng, việc phân biệt thành ngữ và tục ngữ cần phải có căn cứ vào từng hoàn cảnh cụ thể, vì thành ngữ vừa là một đơn vị ngôn nữ, vừa là một đơn vị văn hóa Ngoài thành ngữ thì tục ngữ cũng như vậy, cho nên, nếu chỉ xét đơn thuần ở mặt ngôn ngữ học thì
dù cố gắng đến đâu cũng không thể mình định đượcranh giới giữa thành ngữ
và phân biệt nó với tục ngữ Bản thân thành ngữ và tục ngữ do những nhân tố ngoài ngôn ngữ quy định, do đó, các tiêu chí ngôn ngữ dù sát thực đến đâu cũng không bù được những sự đắp đổi những nhân tố ngoài ngôn ngữ đưa lại Nhân tố ngoài ngôn ngữ chính là các đặc điểm văn hóa xã hội ở dân gian Có
sự xâm lấn của những nhân tố văn hóa xã hội ở dân gian Có sự xâm lấn của những nhân tố văn hóa xã hội thì hẳn sẽ có tính dị bản và có nhiều cách hiểu khác nhau
Hướng thứ ba là nghiên cứu so sánh đối chiếu thành ngữ giữa hai ngôn ngữ và có quan tâm đến nội dung văn hóa ở thành ngữ Trương Đông San, một trong những nhà nghiên cứu thành ngữ đầu tiên của Việt Nam trên cứ liệu tiếng Nga, đã khảo sát thành ngữ tiếng Nga trong cách nhìn của người Việt và đưa ra một số cách chuyển dịch sang tiếng Việt dựa trên các phương thức cấu tạo ngữ nghĩa của thành ngữ tiếng Nga Tuy nhiên Ông mới chỉ chú trọng làm thế nào để dịch thành ngữ từ tiếng này sang thứ tiếng khác mà chưa chú trọng nhiều đến đặc điểm văn hóa dân tộc trong thành ngữ Sau này, các luận án khác đã chú ý đến những đặc trưng văn hóa dân tộc trong thành ngữ như Phùng Trọng Toàn (1995), Nguyễn Xuân Hòa (1996), Trần Thị Lan (2002), Ngô Minh Thúy (2006), Phạm Minh Tiến (2008), Nguyễn Tô Chung (2010)…
Chú ý đến mối quan hệ giữa ngôn ngữ - văn hóa- xã hội trong thành ngữ, Nguyễn Công Đức cho rằng: “ Ngoài những đặc điểm của một đơn vị
Trang 11ngôn ngữ, thành ngữ còn có những dấu ấn của một đơn vị văn hóa, còn tiềm ẩn, trầm tích những đặc điểm văn hóa dân tộc cho nên, cũng có thể xem thành ngữ là những đơn vị ngôn ngữ - văn hóa” Tuy nhiên, ở tác giả này cũng mới chỉ là sự “chú ý đến” mà thôi
Mặc dù không chuyên nghiên cứu về thành ngữ, nhưng trong “Ngôn ngữ
và văn hóa: Tri thức nền và việc giảng dạy tiếng nước ngoài”, Kim Ngọc (1999) lại có đề cấp đến thành tố văn hóa dân tộc trong thành ngữ
Theo khảo sát chúng tôi nhận thấy rằng chưa có một đề tài nào nghiên cứu về thành ngữ liên quan tới sự phân chia giới tính trong thành ngữ Tiếng Việt Vì vậy, trong khóa luận này, chúng tôi đi vào tiến hành nghiên cứu một mảng đề tài mà những khóa luận trước chưa đề cập đến
Như vậy, có thể nói các công trình nghiên cứu thành ngữ nói chung và thành ngữ tiếng Việt nói chung rất phong phú và đã đạt được nhiều kết quả Tuy nhiên, các vấn đề về giới tính hay quan niệm về giới của người Việt được phản ánh thì chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu Kế thừa những thành tựu nghiên cứu về thành ngữ tiếng Việt, đề tài của chúng tôi tập trung tìm hiểu vấn đề giới và quan niệm về giới của người Việt Nam trong thành ngữ tiếng Việt
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 12- Tồng hợp các vấn đề lí thuyết có liên quan đến đề tài
- Khảo sát, thống kê và phân loại ngữ liệu
- Phân tích đặc điểm ngữ nghĩa của các thành ngữ liên quan đến giới tính trong tiếng Việt
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đặc trưng ngữ nghĩa của nhóm thành ngữ tiếng Việt liên quan đến giới tính
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Ngữ liệu được khảo sát trong cuốn Từ điển Thành ngữ tiếng Việt của Nguyễn Lực – Lương Văn Đang
4.3 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thống kê, phân loại
Khóa luận của chúng tôi gồm 2 chương và phần phụ lục như sau:
Chương 1: Cơ sở lí luận
Chương 2: Miêu tả ngữ nghĩa nhóm thành ngữ liên quan đến giới tính
trong thành ngữ tiếng Việt
Trang 13Hoàng Văn Hành cho rằng: “ Theo cách hiểu thông thường nhất thì
thành ngữ là một loại từ cố định bền vững về hình thái, cấu trúc, hoàn chỉnh, bóng bẩy về nghĩa, được sử dụng rộng rãi trong giao tiếp hàng ngày đặc biệt trong khẩu ngữ”
Ví dụ: Lẩn như chạch, Nằm gai nếm mật, Tham vàng bỏ ngãi, Đầu cua
tai ngheo
Sự khác biệt giữa các nhà nghiên cứu chủ yếu thể hiện ở điểm nhấn trong từng quan niệm về cấu trúc hình thức, đặc tính ngữ nghĩa hoặc chức năng của thành ngữ Không tham vọng xây dựng một khái niệm mới về thành ngữ, khóa luận này chúng tôi chỉ muốn thể hiện một hướng nghiên cứu về thành ngữ xuất phát từ ngữ nghĩa của các thành tố tạo nên chúng Chính vì vậy, chúng tôi chọn một cách hiểu thông thường rút ra từ quan niệm của các nhà Việt ngữ học, cụ thể chúng tôi coi: “ Thành ngữ là một loại tổ hợp từ cố định bền vững về hình thái cấu trúc hoàn chỉnh, bóng bẩy về nghĩa, thành ngữ là đơn vị có sẵn và được sử dụng tương đương với từ trong giao tiếp ngôn ngữ”
1.1.2 Đặc điểm
1.1.2.1 Đặc điểm kết cấu
Trang 14Thành ngữ là cụm từ có tính cố định, chặt chẽ Chính nhờ có tính chất chặt chẽ, cố định mà thành ngữ được dùng tương đương như từ Tuy nhiên, tính cố định, ổn định và bền vững về hình thái cấu trúc của thành ngữ không phải là bất biến, bất di bất dịch Nghĩa là trong hoạt động giao tiếp, người ta vẫn chấp nhận việc sử dụng thành ngữ một cách sáng tạo, linh hoạt Hai đặc tính trên của thành ngữ không hề mâu thuẫn, loại trừ nhau mà có tác dụng bổ sung cho nhau Chính điều này khiến cho kho tàng thành ngữ ngày càng được
mở rộng, phong phú hơn do xuát hiện nhiều biến thể của một thành ngữ Thí
dụ, thường nói cứng đầu cứng cổ, chứ không nói hoặc rất ít nói cứng cố cứng
đầu, hoặc tai to mặt lớn, không nói hoặc ít nói mặt lớn tai to
1.1.2.2 Điểm điểm ngữ nghĩa
Đặc trưng nối bật về nghĩa của thành ngữ là tính hoàn chỉnh, bóng bẩy
và tính gợi cảm cao Nghĩa của thành ngữ không phải là nghĩa đen của các yếu tố cấu thành cộng lại mà là nghĩa bóng, nghĩa toàn khối Nghĩa này được suy ra từ nghĩa của các yếu tố cấu thành
Chẳng hạn thành ngữ Kén cá chọn canh không có nghĩa là kén chọn cá
ngon, canh ngọt trong ăn uống mà dùng để chỉ người phụ nữ kén chọn chồng quá kĩ do cầu kỳ hoặc khó tính
Trang 15+ Thành ngữ ẩn dụ hóa phi đối xứng
1.1.3.1 Thành ngữ so sánh
Thành ngữ so sánh là một cụm từ bền vững, được hình thành từ phép so
sánh và thường có nghĩa biểu trưng Ví dụ: Ăn ở như bát nước đầy, Chắc như
cua gạch, Dai như đỉa đói, Gắt như mắm tôm, Len lét như rắn mồng năm, Khép nép như dâu mới về nhà chồng, Lừ đừ như ông từ vào đền
Trong phép so sánh thông thường thì việc so sánh một sự vật này với
sự vật kia chỉ thực hiện được khi giữa hai sự vật này phải có một đặc điểm, thuộc tính nào đó được coi là tương đồng Nếu trong phép so sánh hai sự vật được đem ra so sánh bao giờ cũng phải thuộc cùng một phạm trù (chẳng hạn,
Nam cao bằng Hải, Ngôi nhà này đẹp hơn ngôi nhà kia), thì trong phép so
sánh nghệ thuật, các sự vật, hiện tượng được đem ra so sánh lại không cùng một phạm trù Các đặc điểm, thuộc tính được dùng làm căn cứ so sánh giữa các sự vật hiện tượng chỉ có tính chất tương đối, lâm thời Chính “đặc điểm này cho phép so sánh trong nghệ thuật có tính bất ngờ và tính hình tượng”
Theo lí giải của Hoàng Văn Hành, cấu trúc lôgic của phép so sánh
là: At 1 như Bt 2, trong đó t1 là thuộc tính của A, t2 là thuộc tính của B Cấu trúc lôgic này làm cơ sở cho cấu trúc ngôn ngữ của phép so sánh Theo ông, giữa hai cấu trúc này không có tương ứng hoàn toàn về thành tố Trong cấu trúc ngôn ngữ của phép so sánh, t2 không bao giờ xuất hiện dưới dạng hiển
ngôn Do đó, mẫu tổng quát của cấu trúc ngôn ngữ của phép so sánh là At
"Trong thành ngữ so sánh, thành phần biểu thị quan hệ so sánh và cái
so sánh [có thể gọi là cấu trúc so sánh (như B)] là bộ phận bắt buộc và ổn định
trên cấu trúc bề mặt cũng như cấu trúc sâu Nếu phá vỡ cấu trúc so sánh thì sẽ không còn thành ngữ so sánh nữa" Do tính chất bắt buộc và ổn định như vậy
Trang 16nên việc lựa chọn từ ngữ biểu thị quan hệ so sánh và cái so sánh, theo ý kiến của Hoàng Văn Hành, là "mang tính dân tộc sâu sắc" Trong tiếng Việt, các từ
ngữ biểu thị quan hệ so sánh khá đa dạng: như, như thế, như thể là, tày, tựa,
tựa như, bằng, là, như là, hơn , nhưng trong thành ngữ so sánh
thì như và tày được dùng nhiều hơn cả
1.1.3.2 Thành ngữ đối
Thành ngữ ẩn dụ hóa đối xứng
Thành ngữ đối là bộ phận quan trọng trong vốn thành ngữ của bất kỳ một ngôn ngữ nào đó Đặc điểm nổi bật về mặt cấu trúc của thành ngữ đối là tính chất đối ứng giữa các bộ phận và các yếu tố tạo nên thành ngữ
Trong cuốn Kể chuyện thành ngữ tục ngữ Hoàng Văn Hành đã khái
quát đặc điểm cơ bản của thành ngữ đối được xây dựng qua hai bậc – bậc đối
ý và bậc đối lời Đối ý là bậc đối ứng giữa hai vế của thành ngữ với nhau về mặt ý
Ví dụ: Thành ngữ Đời cha ăn mặn đời con khát nước Thành ngữ gồm
hai vế có quan hệ đối ứng (đời cha đối với đời con, ăn mặn đối với khát nước) Ý nghĩa của thành ngữ này là: đời cha đã hưởng nhiều, hưởng hết, hưởng quá phần được hưởng thì đời con phải chịu nhiều thiếu thốn, chịu nhiều thiệt thòi Như vậy, nghĩa của thành ngữ đối được xác lập chính là nhờ vào bậc đối ý này
Đối lời là quan hệ đối xứng giữa các yếu tố then cài trong hai vế của
thành ngữ Trong thành ngữ Mẹ tròn con vuông, sở dĩ ta nhận thấy quan hệ
đối ý (sau khi sinh) mẹ khỏe khoắn, vẹn toàn, con lành lặn kháu khỉnh là nhờ
có quan hệ đối ứng giữa các yếu tố mẹ với con, tròn với vuông
Các yếu tố đối xứng với nhau phải thuộc cùng một phạm trù từ loại, tức
có cùng một thuộc tính ngữ pháp
Trang 17Nếu xét một cách tổng hòa đặc trưng ngữ pháp ngữ nghĩa thì thấy giữa hai vế của các thành ngữ có hai kiểu quan hệ khác nhau, đó là quan hệ đẳng kết và quan hệ phi đẳng kết
Thành ngữ ẩn dụ hóa phi đối xứng
Về mặt cấu trúc, chúng không có tính đối xứng, do được cấu tạo giống hệt như những cấu trúc ngữ pháp bình thường (nên còn gọi là thành ngữ thường) Hai là, chúng được tạo nghĩa chủ yếu bằng con đường ẩn dụ hóa Nếu đi sâu hơn nữa về mặt cấu trúc, thì trên đại thể có thể thấy những thành ngữ đang xét được cấu tạo theo hai kiểu kết cấu phổ biến:
Những kết cấu ngữ pháp có một trung tâm
Những kết cấu ngữ pháp có hai trung tâm
Nói đến những kết cấu ngữ pháp có một trung tâm chính là nói đến những kết cấu danh ngữ, đồng ngữ và tính ngữ, còn kết cấu ngữ pháp có hai trung tâm chính là những kết cấu chủ - vị
1.1.4 Nhận diện thành ngữ (trong sự so sánh với từ ghép, quán ngữ, tục ngữ)
1.1.4.1 Phân biệt thành ngữ với từ ghép
Về điểm giống nhau: cả thành ngữ và từ ghép đều là những đơn vị ngôn ngữ để tạo câu
Trang 18động, tính chất hoặc trạng thái (nhà cửa, áo dài) thì thành ngữ lại hàm chứa một nội dung lớn hơn và sâu sắc hơn bởi thành ngữ nêu rõ những sự vật và những hoạt động ấy như thế nào, những tính chất hoặc những trạng thái ấy
đến mức nào : Treo đầu dê bán thịt chó (chỉ những kẻ làm ăn giả dối, bề
ngoài thì giới thiệu, đưa ra cái thật, cái tốt, cái ngon (dê) nhưng khi trao bán thì cho người ta thì bên trong đã đánh tráo thay bằng những thứ kém giá trị không còn giống như lúc giới thiệu (chó) để nhằm mục đích kiếm lợi cho bản thân)
Chức năng định danh của từ ghép là chức năng đơn giản, còn thành ngữ
là chức năng phức hợp Điều đó dẫn đến mức độ phức tạp trong mối quan hệ ngữ pháp giữa các thành tố tạo nên các đơn vị của thành ngữ cao hơn so với
từ ghép và mức độ nhận biết giữa từ ghép và thành ngữ không mấy khó khăn
1.1.4.2 Phân biệt thành ngữ với quán ngữ
Quán ngữ là những cụm từ được dùng lặp đi lặp lại trong các loại diễn
từ thuộc các phong cách khác nhau Chức năng của chúng là đưa đẩy, rào đón
để nhấn mạnh hoặc liên kết trong diễn từ và nghĩa của chúng là nghĩa suy trực tiếp từ ý nghĩa của các từ vị tạo ra nó
Ví dụ: Nói thật mất lòng, Khí không phải, Nói tóm lại,
Về mặt cấu trúc, quán ngữ không được ổn định như thành ngữ vì thật
ra, quán ngữ thiên về cụm từ tự do, chẳng qua do nội dung biểu thị của chúng được người ta thường xuyên nhắc đến cho nên hình thức và cấu trúc của chúng cũng tự nhiên ổn định và rồi lâu dần trở thành một đơn vị có sẵn
mà thôi Vì vậy nghĩa của chúng hoàn toàn hiểu theo nghĩa thực của những đơn vị cấu tạo nên quán ngữ Còn thành ngữ là những cụm từ cố định có nghĩa hình tượng tổng quát không suy trực tiếp từ ý nghĩa của các đơn vị tạo ra nó Thành ngữ gồm có những đơn vị mang nghĩa hình tượng chung, trong đó tất cả các từ vị tạo ra nó đều mất nghĩa đen và những đơn vị mang
Trang 19nghĩa hình tượng bộ phận có một phần mất nghĩa đen và một phần vẫn giữ
nghĩa đen như Treo đầu dê bán thịt chó, Trắng như trứng gà bóc,
1.1.4.3 Phân biệt thành ngữ với tục ngữ
Thành ngữ và tục ngữ tuy có một số nét tương đồng có thể chuyển hóa lẫn nhau, nhưng về bản chất là khác nhau, xét về cả hình thái cấu trúc cũng như về mặt ngữ nghĩa, nội dung biểu đạt và chức năng của chúng trong giao tiếp xã hội Những điểm đồng nhất và dị biệt ấy có thể tóm tắt bằng lược đồ sau đây:
Câu (phát ngôn) cố định (cả đơn và phức), quan hệ cú pháp
2 Chức năng biểu hiện
nghĩa định danh
Định danh sự vật, hiện tượng, quá trình…
Định danh sự tình, sự kiện, trạng huống)
3 Chức năng biểu hiện
hình thái nhận thức
Biểu thị khái niệm bằng hình ảnh biểu trưng
Biểu thị phán đoán bằng hình tượng biểu
hóa
1.1.5 Quan niệm về giới trong xã hội Việt Nam truyền thống
Năm tháng đi qua hằn in trên từng trang sách là những chiến công lịch
sử những vết tích của chiến tranh thế hệ người Việt Nam Người ra chiến trường người, người đảm nhận việc trong nhà làm chỗ dựa vững chắc cho người ra đi Mỗi giới đều gánh trên vai trách nhiệm của mình, không ai là
Trang 20không phấn đấu vì một sự nghiệp nào đó Có khi họ cùng giống nhau ở mục đích nhưng thời xưa cũng như thời nay có những quan niệm khác nhau về giới
Từ xưa tới nay, trong truyền thống phụ nữ Việt Nam là nguồn nhân tố quan trọng đối với sự phát triển toàn diện của xã hội Việt Nam Lịch sử đã và đang luôn chứng minh sự hiện diện của phụ nữ trong các vai trò quan trọng trong xã hội Lịch sử và dân tộc đã ghi nhận vai trò tích cực khả năng và cống hiến to lớn của người phụ nữ cổ Việt Nam trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước trên mọi lĩnh vực Song ách thống trị về mặt giai cấp của các thế lực phong kiến kéo dài hàng nghìn năm chất nặng lên đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân Việt Nam, của người phụ nữ Việt Nam
Chế độ phong kiến tập trung quyền hành vào ông Vua để thống trị nhân dân, và trong gia đình thì quyền hành tập trung vào người đàn ông gia trưởng
đề áp bức phụ nữ Trong sách Bình Hồ gia huấn có câu: “Gái trong cửa kín
như bưng, Khác nào chim chích vào rừng biết chi”
Từ Luật Hồng Đức đến Luật Gia Long là quá trình phát triển ngày càng phản động của chế độ phong kiến đối với phụ nữ Những cực hình, chỉ áp dụng riêng đối với phu nữ: thả bè trôi sông, gọt gáy bôi vôi, ngựa xé, voi giày
Đến tuổi lấy chồng, người con gái không có quyền được lựa chọn người chồng Với tục “Cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy” và với lệ thách cưới người con gái trở thành một vật trao đổi mua bán
Một khi việc “gả bán” đã xong, người con gái rời nhà cha mẹ, sống cuộc đời “xuất giá tòng phu”, người vợ không còn giữ được địa vị tương xứng với vai trò của mình trong gia đình, trái lại còn bị ngược đãi đủ điều
Suốt đời họ phải chịu những hậu quả tai hại về thể xác và tinh thần Và, với quan niệm “ trai lấy năm lấy bảy, gái chính chuyên chỉ có một chồng”,
Trang 21những người phụ nữ nạn nhân của chế độ đa thê (bất kể là vợ cả hay vợ lẽ) suốt đời chìm đấm trong những mối mâu thuẫn, bất hòa, khổ đau nhiều khi chỉ vì những chuyện rất vụn vặt
Người phụ nữ chỉ quẩn quanh với công việc trong nhà Khi người chồng chết, người phụ nữ mất hết quyền thừa kế tài sản và phải phục tòng người con trai
Phần lớn, phụ nữ Việt Nam thời xưa không được coi trọng, không có được địa vị xứng đáng trong gia đình, xã hội, phải chịu nhiều sự áp đặt, bất
công, tư tưởng Trọng nam khinh nữ (Nam trọng nữ khinh, Nam ngoại nữ nội)
Người phụ nữ không có được một cơ hội phát triển ngang tầm với phát triển của xã hội
Đối với nam giới, quan niệm truyền thống của người Việt xưa, họ phải
có một địa vị nhất định trong xã hội, có công danh sự nghiệp để lãnh đạo xã hội Con đường mà họ lựa chọn là học hành thi cử và đỗ đạt để khắc tên mình
vào Bia đá bảng vàng, ghi tên mình vào trong sử sách Trong lịch sử loài
người, trải qua chế độ mẫu hệ, hầu hết các nền văn hóa theo chế độ phụ hệ, với sự đề cao các quyền lợi của nam giới Theo đó, nam giới luôn là những người lãnh đạo bộ tộc, bộ lạc, quốc gia và mọi của cải đều truyền cho con trai
với ý nghĩa Quyền huynh thế phụ Quan niệm thời xưa cũng nhấn mạnh thêm vai trò thống trị tuyệt đối của nam giới Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô
Trong gia đình họ còn là những người trụ cột để sao cho xứng đáng là người
chồng, người cha có trách nhiệm
Tiểu kết
Nằm trong hệ thống từ vựng tiếng Việt, thành ngữ chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng Nó vừa là đơn vị ngôn ngữ vừa là đơn vị văn hóa Thành ngữ
là những cụm từ cố định có kết cấu chặt chẽ, ổn định, cố định và có nghĩa bóng bẩy, nghĩa biểu trưng
Trang 22Thành ngữ do người Việt tự sáng tạo phản ánh đời sống văn hóa, tinh thần, phong tục tập quán, thói quen, nếp cảm, nếp nghĩ của người Việt Tính chất của thành ngữ thể hiện ở các phương diện ngữ âm, ngữ nghĩa, màu sắc
phong cách và cấu trúc
Trang 23CHƯƠNG 2 MIÊU TẢ NGỮ NGHĨA NHÓM THÀNH NGỮ LIÊN QUAN ĐẾN GIỚI
TÍNH TRONG THÀNH NGỮ TIẾNG VIỆT
Thành ngữ miêu tả vai trò xã hội, sự nghiệp, công việc của mỗi giới
Thành ngữ miêu tả vai trò của mỗi giới trong gia đình
Thành ngữ miêu tả đặc điểm tính cách, phẩm chất của mỗi giới
Thành ngữ miêu tả thói hư của mỗi giới
2.1.2 Kết quả thống kê phân loại
Tổng số thành ngữ liên quan tới sự phân chia giới tính trong thành ngữ Tiếng Việt mà chúng tôi thống kê được là 368 thành ngữ
Nam Nữ Chung cho cả 2 giới
Miêu tả hình thức của mỗi giới 47 33 11
Miêu tả đặc điểm tính cách, phẩm
Miêu tả vai trò xã hội, sự nghiệp,
công việc của mỗi giới 26 13 2
45 25 1
Trang 24đình
Miêu tả thói hư tật xấu của mỗi giới 18 55 21
2.1.3 Nhận xét sơ bộ kết quả thống kê
Theo kết quả thống kê trên, tổng số lượng thành ngữ liên quan tới sự phân chia giới tính chiếm khá nhiều trong thành ngữ tiếng Việt và tổng số là
368 thành ngữ Có những dấu hiệu riêng để nhận ra thành ngữ nào dùng cho nam giới và thành ngữ nào chỉ nữ giới Đó là những từ ngữ như ông, bà, trai gái, nam, nữ, thầy, chú, thằng, con…
Qua đó ta thấy được quan niệm về giới của người Việt Nam, mỗi giới lại có những đặc điểm riêng, có những vai trò riêng của mình để có thể tồn tại
và hòa nhập vào với xã hội Cũng thông qua nhóm thành ngữ này mà ta có thể nhìn nhận con người trong xã hội được đánh giá như thế nào và liệu có “sự kì
thị giới tính” hay không? Điển hình như thành ngữ Trọng nam khinh nữ
Và trên tất cả, thành ngữ tiếng Việt đã thể hiện tư duy của người Việt so với các dân tộc khác Đó là giá trị văn hóa dân tộc đặc trưng được cộng đồng giữ
gìn cho tới muôn đời sau
2.2 Miêu tả ngữ nghĩa nhóm thành ngữ liên quan tới sự phân chia giới tính
2.2.1 Thành ngữ miêu tả hình ngoại hình của mỗi giới
Tổng số thành ngữ miêu tả đặc điểm hình ngoại hình của mỗi giới là
Trang 25Quần là áo lượt, trước hết phải phát hiện ra quan hệ đối ý trong thành ngữ
này quần là là quần bằng là, áo lượt là áo bằng lượt Từ đó suy ra ý toàn
thành ngữ nghĩa chỉ quần áo chỉnh tề, sang trọng cách ăn mặc, tả cảnh giàu sang của các thanh niên thời xưa
Người giàu má đỏ, mày xanh Quần là áo lượt đua tranh trên đường
Trang phục nghi lễ, lễ hội cũng mang một màu sắc riêng tiêu biểu:
Khăn đóng áo dài, Áo the khăn xếp Khăn xếp hay khăn đóng là loại khăn đội
đầu của đàn ông thời trước, thường màu đen được đóng sẵn thành nếp, xếp
vòng tròn, không che kín đỉnh đầu Còn áo dài là loại trang phục truyền thống
của người Việt Nam che thân từ cổ đến quá đầu gối Trước đây, áo dài thường được mặc chung với nón quai thao, nón lá đối với nữ hay khăn đóng đối với nam Nghĩa của thành ngữ này chỉ sự ăn mặc chỉnh tề chững trạc, trang trọng các nghi lễ toát lên nét đẹp hình thức của cộng đồng người Việt
Trang phục ở từng vùng miền cũng có sự khác nhau nhưng trang phục của người Việt trước đây nói chung là giản dị và kín đáo Đàn ông Việt mặc
áo cánh nâu, quần trắng, đầu vấn khăn, chân đi guốc mộc hoặc guốc sơn Bộ
lễ phục có thêm áo dài đen bằng vải hoặc bằng the, đầu đội khăn xếp Đó là
bộ “quốc phục” của người nam giới Việt, những trang phục này còn được giữ gìn cho tới ngày hôm nay Ai cũng biết quốc phục là nét văn hóa biểu trưng mang bản sắc riêng của mỗi dân tộc, dẫu dưới con mắt của mỗi người có thể đẹp hay chưa đẹp nhưng đối với dân tộc đó nó nhất định là đẹp, vì là biểu trưng cao quý của dân tộc mình Riêng bộ áo dài và chiếc khăn đóng, đàn ông nước ta rất coi trọng và coi là quốc phục Cách thức trang phục của người Việt qua các thời đại bị chi phối bởi hai nhân tố chính của môi trường tự nhiên hoặc có nguồn gốc từ môi trường tự nhiên đó là khí hậu nóng bức của vùng nhiệt đới và công việc lao động nông nghiệp trồng lúa nước Trang phục
Trang 26của nam giới Việt Nam mang một nét riêng mà không một quốc gia nào trên thế giới có những trang phục ấy Đây chính là bản sắc văn hóa, quan điểm thẩm mĩ của công đồng người Việt
Đối với dân thường, trang phục của họ là Quần nâu áo vải Thành ngữ
ẩn dụ hóa đối xứng Quần nâu áo vải tả cách ăn mặc đơn sơ, mộc mạc của
người lao động nghèo khó ở nông thôn ngày trước; cũng dùng để chỉ những người nông dân nghèo Trang phục này phân biệt giữa những người lao động chân tay với người thuộc tầng lớp quý tộc khá giả hơn
Trang phục lao động thời xưa tiêu biểu có thành ngữ Lưng đen khố bện,
khố bện là những manh khố phải vá đụp bện lại nhiều lần Người nông dân
xưa với cách ăn mặc cởi trần để lộ ra tấm lưng đen và đóng khố bện Nghĩa của câu thành ngữ này là tả cảnh nghèo khó đến cùng cực của người dân trong
xã hội xưa cuộc sống khó khăn đến miếng ăn còn không đủ nói gì đến việc ăn mặc thế nào cho tươm tất Nhưng những trang phục ấy lại tạo nên những màu sắc, những dấu ấn khó phai mờ trong tâm hồn người Việt
Trang phục của người Việt là một trong những gì thân thiết nhất đối với con người Việt Nam Sự gắn bó tâm hồn này chính là đều xuất phát từ những trái tim yêu quê hương đất nước Trang phục là một nhu cầu vật chất quan trọng trong đời sống của nhân dân ta với tính chất thực dụng, nó là một sản phẩm , dưới góc độ thẩm mĩ nó lại là một tác phẩm Chức năng cơ bản trước nhất của nó là bảo vệ con người Trang phục người Việt còn là những đặc trưng chỉ định sự khác biệt giữa người Việt với các dân tộc anh em không chỉ trên đất nước ta mà còn với nhiều quốc gia khác, phân biệt được một số mặt như nghề nghiệp, giới tính, thị hiếu thẩm mĩ của từng vùng Một cái nhìn khái quát thông qua sự tiến triển thăng trầm của lịch sử giúp ta khẳng định được bản lĩnh vững vàng của phẩm chất người