1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG NGẮN HẠN CỦA NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP & PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN TỈNH ĐIỆN BIÊN

46 176 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng ngắn hạn của ngân hàng nông nghiệp & phát triển nông thôn tỉnh Điện Biên
Tác giả Võ Thị Vân Anh
Người hướng dẫn ThS. Hoàng Minh Châu
Trường học Trường Đại Học Chu Văn An
Chuyên ngành Tài Chính - Ngân Hàng
Thể loại Chuyên đề tốt nghiệp
Năm xuất bản 2010
Thành phố Điện Biên
Định dạng
Số trang 46
Dung lượng 327,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cùng với xu hướng đổi mới của nền kinh tế, hệ thống ngân hàng Việt Nam cũng đang trong quá trình đổi mới, và đã đạt được những thành công nhất định. Xu thế hội nhập, cạnh tranh ngày một diễn ra ngay gắt. Đặt hệ thống ngân hàng Việt Nam trước những vận hội mới cũng như những khó khăn phải đối mặt.

Trang 1

CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP

ĐỀ TÀI:

GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG NGẮN HẠN CỦA NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP & PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

TỈNH ĐIỆN BIÊN

GVHD : Th.S HOÀNG MINH CHÂU

SINH VIÊN : VÕ THỊ VÂN ANH

LỚP : 07CK1

NGÀNH : TÀI CHÍNH _ NGÂN HÀNG

Trang 2

Điện Biên Ngày 22/03/2010

LỜI MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài.

Cùng với xu hướng đổi mới của nền kinh tế, hệ thống ngân hàng Việt Nam cũng đang trong quá trình đổi mới, và đã đạt được những thành công nhất định Xu thế hội nhập, cạnh tranh ngày một diễn ra ngay gắt Đặt hệ thống ngân hàng Việt Nam trước những vận hội mới cũng như những khó khăn phải đối mặt Hoạt động của ngân hàng đạt kết quả tốt sẽ tạo điều kiện rất lớn cho nền kinh tế phát triển và ngược lại ngân hàng hoạt động kém hiệu quả sẽ ảnh hưởng trầm trọng tới sự phát triển của cả nền kinh tế, thẩm chí cả nền kinh tế thế giới Xác định được tầm quan trọng của tín dụng và vai trò của ngân hàng Chính phủ và NHNN Việt Nam đã có nhiều giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động ngân hàng cũng như chất lượng tín dụng trong toàn bộ hệ thống NHTM Việt Nam Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng

do nợ tồn đọng từ các năm khác chưa xử lý hết và những khoản quá hạn mới phát sinh Năm 2001 , theo thống kê của NHNN Việt Nam thì nợ quá hạn của NHTM Việt Nam là 11% Đây là trở ngại rất lớn cản trở sự phát triển của ngân hàng Để phát triển ổn định và bền vững thì đòi hỏi hệ thống NHTM Việt Nam cần tiếp tục đổi mới hơn nữa

Hoà vào nhịp đổi mới toàn hệ thống ngân hàng Việt Nam, chi nhánh NHNo&PTNT Tỉnh Điện Biên cũng có sự đổi mới đáng khích lệ Tuy nhiên, nhìn vào kết quả hoạt động trong những năm gần đây có thể thấy có một số vấn đề cần phải khắc phục trong thời gian tới, đó là tình trạng dư nợ tín dụng ngắn hạn có tỷ trọng ngày càng giảm trong tổng dư nợ, mặc dù về số tuyệt đối thì có sự tăng lên trong các năm gần đây Số nợ xấu tồn đọng từ các năm trước mặc dù đã tích cực xử

lý nhưng vẫn chưa đạt yêu cầu, nợ quá hạn mới còn phát sinh, tình trạng nợ khoanh vẫn chiếm tỷ trọng cao trong tổng nợ quá hạn Để bắt kịp với sự đổi mới thì nâng cao chất lượng tín dụng ngắn hạn tại chi nhánh NHNo&PTNT Tỉnh Điện Biên là điều hết sức cần thiết để để chi nhánh phát triển vững chắc

Xuất phát từ hoàn cảnh phát triển nền kinh tế và thực trạng hoạt động tín dụng của chi nhánh NHNo&PTNT Tỉnh Điện Biên, em đã nghiên cứu và tìm hiểu về tình hình hoạt động tín dụng ngắn hạn tại chi nhánh NHNo&PTNT Tỉnh Điện Biên

Trang 3

với để tài “Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng ngắn hạn tại chi nhánh NHNo&PTNT Tỉnh Điện Biên” Bài viết tập trung nghiên cứu về các chỉ tiêu đánh

giá chất lượng tín dụng ngắn hạn, tập trung vào những vấn để liên quan đến hoạt động tín dụng ngắn hạn tại NHNo&PTNT Tỉnh Điện Biên

2 Đề tài: “Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng ngắn hạn tại chi nhánh

NHNo&PTNT Tỉnh Điện Biên”

3 Kêt cấu đề tài gồm 3 chương:

Chương 1: cơ sớ lí luận về chất lượng tín dụng ngắn hạn

Chương 2: Thực trạng chất lượng tín dụng tại chi nhánh NHNo&PTNT Tỉnh Điện Biên Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng ngắn hạn tại chi nhánh NHNo&PTNT Tỉnh Điện Biên

Trang 4

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG

NGẮN HẠN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

+ Trong quan hệ tài chính cụ thể, tín dụng là một giao dịch về tài sản trên cơ

sở hoàn trả giữa hai chủ thể Như một công ty công nghiệp hoặc thương mại bán hàng trả chậm cho một công ty khác, trong trường hợp này người bán hàng chuyển giao hàng cho bên mua và sau một thời gian nhất định theo thỏa thuận bên mua phải trả tiền cho bên bán Phổ biến hơn cả là giao dịch của ngân hàng và các định chế tài chính khác với các doanh nghiệp và cá nhân thể hiện dưới hình thức cho vay, tức là ngân hàng cấp tiền vay cho bên đi vay và sau một thời hạn nhất định người đi vay phải thanh toán vốn gốc và lãi

+ Xuất phát từ nguyên tắc hoàn trả, vì vậy người cho vay chuyển giao tài sản cho người đi vay sử dụng phải có cơ sở để tin rằng người đi vay sẽ trả đúng hạn Đây

là yếu tố hết sức cơ bản trong quản trị tín dụng Trong thực tế khi một số nhân viên tín dụng khi xét duyệt cho vay không dựa trên cơ sở đánh giá mức độ tín nhiệm về khách hàng mà lại chú trọng đến các đảm bảo, chính quan điểm này đã làm ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng

+ Giá trị hoàn trả thường phải lớn hơn giá trị lúc cho vay, hay nói cách khác

là người đi vay phải trả thêm phần lãi ngoài gốc Để thực hiện được nguyên tắc này phải xác định lãi xuất danh nghĩa lơn hơn tỷ lệ lạm phát, hay nói cách khác lãi xuất

Trang 5

thực phải dương (Lãi suất thực = Lãi xuất danh nghĩa- Tỷ lệ lạm phát) Tuy nhiên, vì lãi suất chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau, nên trong một số trường hợp cụ thể lãi suất danh nghĩa có thể thấp hơn tỷ lệ lạm phát, ngoại lệ này chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn.

+ Trong quan hệ tín dụng ngân hàng tiền vay được cấp trên cơ sở cam kết hoàn trả vô điều kiện Về khía cạnh pháp lý, những văn bản xác định quan hệ tín dụng như hợp động tín dụng, khế ước thực chất là lệnh phiếu, trong đó bên đi vay cam kết hoàn trả vô điều kiện cho bên cho vay khi đến hạn

Phân loại:

- Tín dụng cho vay tồn tại dưới rất nhiều hình thức, nhiều tên gọi Tuy nhiên, căn

cứ vào một số các tiêu thức khác nhau để phân chia tín dụng ngân hàng Dưới đây là một số cách phân chia mà Ngân hàng thường sử dụng khi phân tích và đánh giá

a) Phân loại theo thời hạn tín dụng.

Theo cách này tín dụng ngân hàng được phân làm 3 loại:

- Tín dụng ngắn hạn: là khoản tín dụng dưới 1 năm và được sử dụng để bổ sung sự thiếu hụt tạm thời vốn lưu động của doanh nghiệp, nó có thể được vay cho những sinh hoạt cá nhân

- Tín dụng trung hạn: là khoản tín dụng có thời hạn từ 1-3 năm loại tín dụng này thường dùng để cung cấp, mua sắm tài sản cố định, cải tiến và biến đổi kỹ thuật, mở rộng và xây dựng công trình nhỏ có thời hạn thu hồi vốn nhanh

- Tín dụng dài hạn: là khoản tín dung có thời gian từ 3 năm trở lên Loại tín dụng này dùng để cung cấp vốn cho xây dựng cơ bản như: Đầu tư xây dựng các xí nghiệp mới, các công trình thuộc cơ sở hạ tầng, cải tiến và mở rộng sản xuất có quy

mô lớn

Tín dụng trung và dài hạn được đầu tư để hình thành vốn cố định và một phần

bổ sung cho vốn lưu động

b) Phân loại theo mục đích :

Theo tiêu thức này thì tín dụng ngân hàng được phân chia rất đa dạng và phong phú:

- Cho vay bất động sản: là loại cho vay liên quan đến việc mua sắm và xây dựng bất động sản, nhà ở, đất đai, bất động sản trong lĩnh vực công nghiệp thương mại và dịch vụ

- Cho vay công nghiệp và thương mại: là cho vay ngắn hạn để bổ xung vốn lưu động cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực này

Trang 6

- Cho vay Nông nghiệp: là loại cho vay để trang trải các chi phí sản xuất như phân bón, thuốc trừ sâu, giống cây trồng, con giống, lao động,

- Cho vay cá nhân: là loại cho vay để đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng như mua sắm các vật dụng đắt tiền Ngày nay Ngân hàng còn cho vay để trang trải các khoản chi phí thông thường của đời sống thông dụng dưới tên gọi là tín dụng tiêu dùng và phát hành thẻ tín dụng là một ví dụ

- Thuê mua và các loại tín dụng khác

c) Phân loại theo căn cứ đảm bảo.

- Cho vay không bảo đảm: là loại cho vay không cần tài sản thế chấp, cầm cố hoặc sự bảo lãnh của người thứ ba Việc cho vay chỉ dựa trên uy tín Đối vói những khách hàng tốt, trung thực trong kinh doanh, có khả năng tài chính mạnh, quản trị có hiệu quả thì Ngân hàng có thể cấp tín dụng mà không đòi hỏi nguồn thu nợ bổ xung

- Cho vay có bảo đảm: là loại cho vay được Ngân hàng cung cấp với điều kiện phải có tài sản thế chấp hoặc cần có bảo lãnh của bên thứ ba Đối với khách hàng không có uy tín cao đối với Ngân hàng, khi vay vốn đòi hỏi phải có bảo đảm Sự bảo đảm này căn cứ pháp lý để Ngân hàng có thêm một nguồn thứ hai, bổ xung cho nguồn thu nợ thứ nhất thiếu chắc chắn nhằm bù lại khoản tiền vay trong trường hợp người vay không có khả năng trả nợ

d) Phân loại theo đối tượng tín dụng :

Theo tiêu thức này thì tín dụng được chia làm 2 loại

* Tín dụng lưu động: loại nào được cấp phát để hình thành vốn lưu động của các tổ chức kinh tế như cho vay để dự trữ hàng hoá đối với xí nghiệp, thương nghiệp, bù đắp vốn lưu động thiếu hụt tạm thời

- Loại này được chia làm 2 loại:

+ Cho vay dự trữ hàng hoá, cho vay chi phí sản xuất

+ Cho vay để thanh toán các khoản nợ dưới hình thức chiết khấu kỳ phiếu, với thời hạn cho vay là ngắn hạn

* Tín dụng vốn cố định: là loại tín dụng được cấp phát để hình thành tài sản cố định Loại này thường được đầu tư để mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rộng sản xuất, xây dựng các công trình mới Thời hạn cho vay đối với loại này là trung và dài hạn

e) Phân loại theo phương thức hoàn trả tiền vay :

Trang 7

Theo cách này thì khoản cho vay có thể được hoàn trả theo hai cách Cách thứ nhất

là trả một lần cả vốn gốc và lãi khi đến hạn Hai là khoản tiền vay sẽ được trả làm nhiều lần theo nhiều kỳ

f) Phân loại theo xuất xứ vốn vay :

Có loại do ngân hàng trực tiếp cho vay, có loại cho vay gián tiếp tức là ngân hàng mua lại nợ từ chủ nợ khác

g) Phân loại theo hình thức giá tự có :

Một là cho vay bằng tiền, đây là loại cho vay chủ yếu của các ngân hàng được thực hiện bằng các kỹ thuật khác nhau

Hai là cho vay bằng tài sản - loại này được áp dụng phổ biến dưới hình thức tài trợ thuê mua

h) Phân loại theo thành phần kinh tế :

- Tín dụng đối với thành phần kinh tế quốc doanh

- Tín dụng đối với thành phần kinh tê ngoài quốc doanh

1.1.2 Vai trò của tín dụng ngắn hạn.

Tín dụng đã trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống của mỗi chúng ta Tín dụng đã góp phần làm ổn định và phát triển sản xuất của nền kinh tế, các tổ chức và mỗi cá nhân Cũng như các loại tín dụng khác, tín dụng ngắn hạn có vai trò cực kỳ quan trọng Đặc biệt, trong bối cảnh Việt Nam là một nước trong giai đoạn đang phát triển thì tín dụng ngắn hạn càng có vai trò quan trọng Nó thể hiện:

Đối với nền kinh tến

Ngân hàng trong nền kinh tế với tư cách là một doanh nghiệp kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ Với tư cách là một trung gian tài chính, nó là kênh chuyển vốn từ những nơi thừa vốn đến những nơi thiếu vốn và hoạt động hiệu quả trong nền kinh tế Các kênh truyền dẫn vốn có thể qua thị trường tài chính đó là các nghiệp vụ tín dụng trung và dài hạn, nhưng nó đã bị cạnh tranh mạnh mãnh mẽ của các tổ chức tài chính phi ngân hàng tham gia vào thị trường này như: Công ty Bảo hiểm, các quỹ đầu tư, công ty tài chính Hoặc là thị trường tiền tệ là kênh dẫn và huy động những ngồn vốn

và các giấy tờ có giá ngắn hạn Thị trường này hoạt động rất linh hoạt và cung cấp một nguồn một nguồn vốn rất lớn cho nền kinh tế Do đó tín dụng ngắn hạn ngày càng phát triển mạnh mẽ

Đối với các doanh nghiệp.

Trang 8

Tín dụng ngân hàng là nguồn bổ sung vốn lưu động để bảo đảm hoạt động kinh doanh được liên tục

Không có sự ăn khớp về mặt thời gian giữa các khoản thu và các khoản chi của một doanh nghiệp nên tại một thời điểm nhất định, trong nền kinh tế có những thời điểm trong nền kinh tế có những doanh nghiệp thiếu vốn tạm thời và cần bổ sung ngay để đảm bảo tính sản xuất được liên tục Đối với các doanh nghiệp sản xuất mang tính thời vụ như các doanh nghiệp bán lẻ, chế biến thực phẩm, các công ty chế biến nông sản, các doanh nghiệp xây lắp hoặc các doanh nghiệp có vòng quay vốn lưu động chậm thì các khoản tín dụng từ ngân hàng có vai trò quan trọng trong việc giúp cho quá trình sản xuất không bị gián đoạn Các khoản tín dụng ngắn hạn có ý nghĩa lớn đối với các doanh nghiệp khi xuất hiện cơ hội kinh doanh trên thị trường, giúp doanh nghiệp tận dụng được thời cơ phát triển sản xuất

Tín dụng ngắn hạn tạo áp lực buộc các doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả.

Một trong những nguyên tắc cơ bản là vay có hoàn trả ngốc lẫn lãi sau một thời gian nhất định Do vậy có thể trả nợ đúng hạn cho ngân hàng và tạo lập được uy tín trong việc thực hiện hợp đồng tín dụng, các doanh nghiệp phải hoạt động có hiệu quả

để trả nợ cho ngân hàng

Như vậy, tín dụng ngân hàng cũng là một yếu tố kích thích sản xuất của doanh nghiệp, thúc đẩy đổi mới công nghệ và cải tiến mẫu mã sản phẩm để có thể rút ngắn chu kỳ sản xuất, đưa nhanh sản phẩm vào lưu thông, tạo lập chỗ đứng trên thị trường.Đối với các doanh nghiệp lớn, công việc sản xuất đang phát triển thì phần lớn vốn lưu động đều vay ngân hàng Nhiều doanh nghiệp còn ký hợp đồng ứng trước để

có thể linh hoạt trong việc vay vốn, đáp ứng các cơ hội kinh doanh Do tính chất của tín dụng ứng trước là doanh nghiệp phải trả lãi kể cả trên phần dư nợ vay chưa sử dụng đến Do đó bắt buộc các doanh nghiệp phải quay vốn nhanh và tính toán hoạt động kinh doanh có hiệu quả, mang lại lợi nhuận cho cả doanh nghiệp và cả cho ngân hàng

Nói tóm lại, tín dụng ngắn hạn không chỉ giúp các doanh nghiệp có được nguồn

bổ sung nguồn vốn lưu động mà còn là động lực giúp các doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả, trước là để trả các khoản nợ vay và sau là để phát triển doanh nghiệp

Đối với ngân hàng.

Hoạt động tín dụng nói chung và tín dụng ngắn hạn nói riêng đã đảm bảo nguồn thu chủ yếu cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng Đó là công cụ để tạo

Trang 9

nên lợi nhuận và phòng chống rủi ro của ngân hàng Trong quá trình hoạt động của các ngân hàng, các nhà quản trị ngân hàng phải quan tâm đến các vấn đề : Phải tạo được nguồn thu bù đắp được các chi phí( chi phí huy động vốn, chi phí trả lương, chi phí quản lý Mặt khác phải đảm bảo khả năng thanh khoản của ngân hàng Tín dụng ngắn hạn có thể giúp các nhà quản trị giải quyết vấn đề này.

1.1.3 Các hình thức tín dụng ngắn hạn.

Để phục vụ việc quản lý các khoản cho vay ngắn hạn, Ngân hàng thường phân loại tín dụng theo các tiêu chí khác nhau như theo phương thức cho vay, theo mục đích sử dụng vốn vay, tài sản đảm bảo

Theo mục đích sử dụng vốn vay, các khoản vay ngắn hạn được sử dụng với các mục đích:

• Cho vay mua hàng dự trữ : Đây là một trong những mục đích sử dụng vốn vay đầu tiên khi tín dụng ra đời, các thương nhân trước đây vì chưa thu được tiền bán hàng cho nên họ cần có vốn để mua hàng mới, do đó phải vay vốn Ngân hàng Kỳ hạn của các khoản vay này thường được tính từ lúc doanh nghiệp cần vốn để mua hàng cho đến khi thu được tiền bán hàng và trả nợ cho Ngân hàng Đây là các khoản cho vay truyền thống của Ngân hàng, giờ đây những khoản cho vay này chiếm hơn 50% giá trị của doanh mục cho vay của Ngân hàng thương mại

• Cho vay vốn lưu động : Những khoản vay ngắn hạn này thường được doanh nghiệp sử dụng để đáp ứng mức sử dụng và nhu cầu tín dụng trong thời kỳ cao điểm của chu kỳ dự trữ, các khoản này cũng thường được dùng để mua hàng dự trữ ngoài

ra còn được dùng để trả lương công nhân nộp thuế Kỳ hạn của những khoản vay này thông thường được tính toán tương đương với chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp, đảm bảo có thể cung cấp vốn cho khách hàng ở thời kỳ cao điểm của chu kỳ kinh doanh

• Cho vay ngắn hạn các công trình xây dựng: Để tài trợ các công trình xây dựng lớn người vay vốn thường vay vốn trung và dài hạn, tuy nhiên trong quá trình chờ giải ngân vốn, doanh nghiệp thường phải đi vay vốn ngắn hạn để phục vụ các hoạt động xây dựng, thuê nhân công, mua thiết bị xây dựng, nguyên vật liêu Khi giai đoạn xây dựng kết thúc, doanh nghiệp sử dụng vốn được giải ngân để trả cho các khoản vay ngắn hạn hoặc sử dụng công trình để vay thế chấp dài hạn Kỳ hạn của những khoản vay này được tính toán theo các giải đoạn thi công khác nhau, có thể dài hơn 1 năm

Trang 10

• Cho vay để kinh doanh chứng khoán: Người vay kinh doanh chứng khoán chính phủ và chứng khoán tư nhân thường cần có sự giúp đỡ của vốn ngắn hạn để mua chứng khoán mới và duy trì doanh mục chứng khoán hiện có cho tới khi bán hoặc tới kì hạn phải thanh toán Những khoản vay kinh doanh chứng khoán chính phủ thường được các Ngân hàng sẵn sàng cho vay bởi đây là khoản cho vay có chất lượng cao, được đảm bảo bằng chính các chứng khoán chính phủ mà các nhà kinh doanh đang nắm giữ Thời hạn của các khoản vay này rất ngắn hạn có khi chỉ là vay qua đêm hoặc trong vài ngày.

• Cho vay kinh doanh bán lẻ: Những đối tượng khách hàng của loại vay kinh doanh bán lẻ này là những người kinh doanh hàng hoá lâu bền như ô tô, đồ dùng gia đình Ngân hàng có thể cho vay thông qua việc hỗ trợ người tiêu dùng mua trả góp hàng hoá các hợp đồng trả góp sẽ được Ngân hàng mua lại Ngoài ra Ngân hàng cho những người bán lẻ vay để mua hàng và sử dụng ngay những hàng hoá này để làm vật thế chấp, khi những loại hàng hoá này bán thu được tiền sẽ trả lại cho Ngân hàng

Theo phương thức cho vay trong giai đoạn đầu hình thành, Ngân hàng thương mại thực hiện cho vay ngắn hạn dưới hình thức đơn giản như cho vay trực tiếp để mua hàng, do yêu cầu phát triển của nền kinh tế đã hình thành nên các nghiệp vụ khác như chiết khấu thương phiếu, cho vay theo hạn mức ngày nay các nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn càng trở nên đa dạng và phong phú hơn nhằm đắp ứng mọi nhu cầu của khách hàng tuy vậy tại các Ngân hàng thương mại vẫn luôn duy trì một số phương thức tín dụng ngắn hạn cơ bản:

Chiết khấu thương phiếu: Là nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn trong đó khách

hàng chuyển nhượng lại thương phiếu chưa đáo hạn cho Ngân hàng để đổi lấy một

số tiền bằng mệnh giá của thương phiếu trừ lãi chiết khấu và phí hoa hồng, đây là hình thức cho vay gián tiếp trong khâu thanh toán trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp Trong nền kinh tế thị trường, mua bán chịu hàng hoá là hành vi thương mại phổ biến xuất phát từ nhiều mục đích khác nhau như cung cầu tín dụng, mục đích khuyến mại hay để cạnh tranh thâm nhập và chiếm lĩnh thị trường Trong mua, bán chịu hàng hoá bên bán giao hàng và chuyển quyền sở hữu cho bên mua nhưng chưa nhận được tiền mà chỉ nhận được một giấy nợ chờ thanh toán Giấy nợ có thể là một hoá đơn hàng hoá trả chậm hoặc là một thương phiếu, trong trường hợp giấy nợ chưa

Trang 11

đến hạn thanh toán nhưng người bán lại cần tiền để đáp ứng nhu cầu kinh doanh của mình họ có thể nhường lại cho các Ngân hàng mà không cần đợi đến lúc đáo hạn.

Cho vay trực tiếp: gồm một số nghiệp vụ như cho vay theo hạn mức, thấu

chi , cho vay từng lần

Cho vay theo hạn mức : Ngân hàng sẽ căn cứ vào nhu cầu sử dụng vốn, chu

kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp để xác định hạn mức tín dụng Trong nhiệp

vụ này Ngân hàng không xác định trước kỳ hạn nợ và thời hạn tín dụng, doanh nghiệp có thể yêu cầu Ngân hàng chi trả liên tục nhưng cũng luôn phải có tiền vào

để đảm bảo cuối quý dự nợ bằng hạn mức tín dụng quy định

Cho vay thấu chi: Ngân hàng cho khách hàng vay để khắc phục khó khăn tạm

thời về tài chính trong những trường hợp nhất định như khi doanh nghiệp đã bán hàng nhưng chưa có tiền để trả lương cho nhân viên hoặc nộp thuế Ngân hàng cho phép khách hàng có mức chi vượt số dư nợ cuối quý, thu được trong thời gian nhất định Nghiệp vụ này thường chỉ được thực hiện đối với những khách hàng đặc biệt, đáng tin cậy và có uy tín

Cho vay luân chuyển: Là nghiệp vụ cho vay dựa trên quá trình luân chuyển

của hàng hoá Khi mua hàng doanh nghiệp có thể bị thiếu vốn, Ngân hàng có thể cho vay để mua hàng và sẽ thu nợ khi doanh nghiệp thu được tiền bán hàng, giữa Ngân hàng và khách hàng có thoả thuận với nhau về phương thức vay, hạn mức tín dụng,

và các nguồn cung cấp hàng hoá và khả năng tiêu thụ Cho vay luân chuyển thường được áp dụng đối với các doanh nghiệp thương nghiệp hặc doanh nghiệp sản xuất có chu kỳ tiêu thụ ngắn ngày, có quan hệ vay trả thường xuyên với Ngân hàng

Cho vay từng lần: Là tiến trình cấp tín dụng dựa trên cơ sở nhu cầu tín dụng

của từng đố tượng vay cụ thể Căn cứ trên cơ sở hợp đồng thực tế đơn đặt hàng, thư tín dụng Ngân hàng xác định quy mô, thời hạn trả nợ, lãi suất và yêu cầu đảm bảo khoản vay Trong nghiệp vụ này thông thường chi có một kỳ hạn trả nợ vào cuối thời hạn cho vay và lãi vay được tính theo phương pháp lãi đơn

1.2 Chất lượng tín dụng ngắn hạn của ngân hàng thương mại.

1.2.1 Khái niệm:

Danh từ tín dụng dùng để chỉ một hành vi kinh tế rất phức tạp như : bán chịu hàng hoá, cho vay, chiết khấu, bảo lãnh, ký thác, phát hành giấy bạc Trong mỗi một hành vi tín dụng vừa nói, chúng ta thấy hai bên cam kết với nhau như sau:

- Một bên trao ngay một số tài hoá hay tiền bạc;

Trang 12

- Còn bên kia cam kết sẽ hoàn lại những đối khoản của tài hoá đó trong một thời gian nhất định và theo một số điều kiện nào đó.

Trong quan hệ giao dịch trên thể hiện các nội dung:

Trái chủ hay còn gọi là người cho vay chuyển giao cho người thụ trái hay còn ngọi là người đi vay một lượng giá trị nhất định Giá trị này có thể dưới hình thái giá trị hoặc dưới hình thái hiện vật như hàng hoá, máy móc, thiết bị bất động sản

Người thụ trái hay là người đi vay chỉ được sử dụng tạm thời một thời gian nhất định, sau khi hết thời hạn sử dụng theo thoã thuận, người đi vay phải hoàn trả cho người cho vay

Giá trị hoàn trả thường lớn hơn giá trị cho vay hay nói cách khác người đi vay phải trả thêm phần lợi tức Thước đo phần lợi tức này là giá trị tài hoá hoặc tiền tệ và lãi suất mà hai bên thoả thuận Người cho vay phải tuân thủ nguyên tắc : Lãi suất cho vay phải chứa đựng các yếu tố như lạm phát, rủi ro và chi phí cơ hội Người cho vay phải chú ý đến giá trị thời gian của tiền

Như vậy: Tín dụng là một quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó một bên

chuyển giao tiền hoặc tài sản cho bên kia sử dụng trong một thời gian nhất định, đồng thời bên nhận tiền hoặc tài sản cam kết hoàn trả phần tài sản đã mượn cộng thêm một phần lợi tức theo thời hạn đã thoả thuận.

Từ tín dụng xuất phát từ tiếng la tinh -credittum- có nghĩa là sự tín nhiệm Trong giới tài chính, một người được xem là có uy tín khi người khác tin tưởng và sẳn sàng ký thác tài sản hoặc tiền bạc cho anh ta Tín dụng là sự cho vay có hứa hẹn thời tgian hoàn trả Sự hứa hẹn biểu hiện mức độ tín nhiệm của người cho vay, yếu tố tín nhiệm là yếu tố bao trùm trong hoạt động tín dụng, là điều kiện cần cho quan hệ tín dụng phát sinh

Do nhu cầu phát triển và đi lên của xã hội loài người mà quan hệ tín dụng đã hình thành rất sớm Quan hệ tín dụng đầu tiên trong lịch sử là tín dụng nặng lãi, quan

hệ tín dụng này hình thành từ đầu chế độ nô lệ và thậm chí còn tồn tại đến ngày nay Hình thức tín dụng này được coi là phương pháp tích luỹ nguyên thuỷ, là công cụ đẩy nhanh quá trình tích tụ và tập trung vốn, tạo điều kiện cho phương thức sản xuất mới

ra đời ra đời Quan hệ tín dụng phát triển hết sức đa dạng và phức tạp bắt đầu từ khi chế độ chủ nghĩa tư bản ra đời Cho đến ngày nay các quan hệ tín dụng đã phát triển toàn diện Trong thực tiễn thường có các chủ thể tham gia vào quan hệ tín dụng cụ thể, ví dụ: Quan hệ tín dụng giữa nhà nước với các doanh nghiệp và công chúng thể hiện dưới hình thức nhà nước phát hành các giấy nợ như công trái, trái phiếu đô thị,

Trang 13

tín phiếu kho bạc Quan hệ giữa các doanh nghiệp với nhau hay còn gọi là tín dụng thương mại thể hiện dưới hình thức bán chịu hàng hoá.Quan hệ tín dụng giữa các công ty và công chúng thể hiện dưới hình thức các công ty phát hành các trái phiếu, hoặc bán hàng trả góp Quan hệ tín dụng giữa các ngân hàng, các tổ chức tài chính phi ngân hàng với các doanh nghiệp và công chúng, thể hiện dưới hình thức nhận tiền gửi của khách hàng, cho khách hàng vay, tài trợ thuê mua

Quan hệ tín dụng giữa nhà nước và các tổ chức tài chính quốc tế, chính phủ các nước thể hiện dưới hình thức vay nợ

Với chức năng kinh doanh tiền tệ, các ngân hàng thương mại tham gia vào quan

hệ tín dụng với hai tư cách Ngân hàng đóng vai trò thụ trái và hành vi này được gọi

là đi vay bao gồm nhận tiền gửi của khách hàng, phát hành trái phiếu để vay vốn trong xã hội, vay vốn của ngân hàng trung ương và các ngân hàng khác Ngân hàng đóng vai trò trái chủ, hành vi này được gọi là cho vay Vì tính chất phức tạp của hoạt động cho vay vì thế khi nói đến tín dụng người ta thường đề cập đến hoạt động cho vay mà bỏ quên mặt thứ hai đó là đi vay

Quan hệ tín dụng mà ngân hàng đóng vai trò trái chủ gọi là tín dụng ngân hàng Tín dụng ngân hàng là một trong ba nghiệp vụ cơ bản khi hình thành nên các ngân hàng thương mại và đây cũng là nguồn thu chủ yếu của các ngân hàng Sự phù hợp

về nhu cầu của hai nhà tư bản ngân hàng và nhà tư bản sản xuất kinh doanh hàng hoá

đã dẫn đến sự ra đời mối quan hệ tín dụng này Do chuyên môn hoá trong kinh doanh

và do đặc điểm của hàng hoá tiền tệ mà hình thức tín dụng này ngày càng phát triển

và trở thành hình thức tín dụng chủ yếu trong nền kinh tế hàng hoá Tín dụng ngân hàng đã khắc phục được những hình thức tín dụng trước đó và thực sự trở thành một yếu tố quan trọng thúc đẩy sản xuất phát triển

Như vậy:Tín dụng ngân hàng là quan hệ vay mượn về vốn tiền tệ giữa ngân

hàng và các đơn vị kinh tế, các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội và các tầng lớp dân cư theo nguyên tắc có hoàn trả.

1.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá.

Xu hướng cho vay cho thấy rằng cơ hội cho vay của các ngân hàng đối với các khách hàng có rủi ro thấp đã giảm Các giấy tờ thương mại, chứng khoán và cạnh tranh phi ngân hàng đã đẩy ngân hàng sang các loại khách hàng có độ rủi ro cao hơn thay thế những khách hàng truyền thống Ví dụ: những người vay là doanh nghiệp lớn và ổn định đã từng có quan hệ trong danh mục cho vay của ngân hàng đã chuyển sang các nguồn thị trường mở như thị trường như thị giấy tờ thương mại và trái phiếu

Trang 14

nhằm giảm chi phí giao dịch của họ Các ngân hàng đã tìm cách thay thế đối tượng khách hàng này bằng những khách hàng vay nhỏ và kém ổn định hơn Như vậy, do các khoản mục cho vay ngày càng ngày càng có độ rủi ro cao hơn và không ổn định

do tính chất cạnh cao và không ổn định của nền kinh tế Do vậy việc đánh giá chất lượng tín dụng đối với một ngân hàng là hết sức quan trọng Bởi chất lượng tín dụng biểu hiện khả năng hoạt động của ngân hàng tốt hay xấu, làm cơ sở để để đánh giá ngân hàng Mặt khác, việc đánh giá chất lượng tín dụng cũng giúp cho ngân hàng có những thay đổi hợp lý, điều chỉnh hoạt động để nâng cao khả năng cạnh tranh của mình Việc nâng cao chất lượng tín dụng không những làm cho ngân hàng tăng thu nhập mà còn giúp ngân hàng được an toàn Phương pháp đánh giá chất lượng tín dụng mang tính khoa học, nó vừa cụ thể vừa trừu tượng nên để đánh giá chất lượng tín dụng người ta dựa vào 2 hệ thống chỉ tiêu: Chỉ tiêu định lượng và chỉ tiêu định tính

Nhóm các chỉ tiêu định tính.

Đây là nhóm chỉ tiêu đánh giá chất lượng cho vay trên cơ sở pháp lý, việc tuân thủ các quy chế, quy trình nghiệp vụ, việc thực hiện theo đúng cam kết trong hợp đồng cho vay

Trên cơ sở pháp lý hoạt động tín dụng có chất lượng phải chấp hành pháp luật của nhà nước, trực tiếp là luật của các tổ chức tín dụng , các quy chế cho vay, các văn bản chỉ đạo của chính phủ và Ngân hàng nhà nước

Trên cơ sở quy chế cho vay của Ngân hàng thương mại, hoạt động cho vay có chất lượng luôn phải tuân thủ quy chế và quy trình nghiệp vụ tín dụng Các quy định trong quy trình tín dụng được áp dụng cụ thể cho tùng trường hợp xin vay ở mỗi Ngân hàng thương mại là nhằm thực hiện cho vay có chất lượng Cho nên việc tuân thủ quy trình này là tiền đề của chất lượng tín dụng

Trên cơ sở hợp đồng tín dụng, hoạt động tín dụng có chất lượng khi nó mang lại khoản vay có chất lượng Khoản vay có chất lượng phải là khoản vay được thực hiện theo đúng cam kết đã thoả thuận trong hợp đồng Đó là các cam kết về mục đích

sử dụng vốn vay, cam kết về thời hạn, phương thức trả nợ và trả lãi, các điều kiện ràng buộc khác Nếu một khoản vay mà ngay từ mục đích vay vốn đã không được thực hiện đúng như cam kết thì koản vay đó không thể có chất lượng Hoặc khoản vay mà vốn nguồn thu nợ không phải từ doanh thu bán hàng của doanh nghiệp mà từ nguồn vay nợ khác thì cũng không đạt được chất lượng

Trang 15

Trên đây là nhóm các chỉ tiêu đánh giá chất lượng của cho vay trên cơ sở định tính

Có thể nói đây là các chỉ tiêu đầu tiên của một khoản vay cũng như hoạt động cho vay muốn đạt chất lượng phải đáp ứng được Tuy nhiên để đánh giá cụ thể về chất lượng tín dụng, phải phân tích các chỉ tiêu định lượng

Nhóm các chỉ tiêu định lượng

Nhóm các chỉ tiêu định lượng đánh giá chất lượng tín dụng thông qua việc phân tích các chỉ tiêu về lượng, tính toán các tỷ lệ Nhóm chỉ tiêu định lượng bao gồm các mức sau đây :

a, Mức tăng trưởng tương đối

Dư nợ cho vay năm nay

Dư nợ cho vay =

Dư nợ cho vay năm trướcMức tăng trưởng tuyệt đối = Dư nợ cho vay – Dư nợ cho vay

dư nợ cho vay năm nay năm trước

Chỉ tiêu về tăng trưởng tín dụng tuyệt đối và tương đối phản ánh mức tăng trưởng trong hoạt động tín dụng của Ngân hàng thể hiện chất lượng hoạt động tín dụng trong năm

b, Chỉ tiêu vòng quay vốn cho vay:

Doanh số thu nợ

Vòng quay vốn tín dụng =

Dư nợ cho vay bình quân

Người vay có thường xuyên đúng kỳ hạn và nhanh chóng hay không Vòng quay vốn cho vay lớn với mức dư nợ bình quân không đổi, doanh số trả nợ lớn chứng

tỏ chất lượng tín dụng cao hơn so với vòng quay nhỏ, doanh số trả nợ thấp Tuy nhiên, vòng quay vốn tín dụng còn tuỳ thuộc vào khách hàng vay vốn Nếu khách hàng vay vốn là các doanh nghiệp thương mại, dịch vụ, có đặc điểm quay vòng vốn nhanh thì vòng quay vốn cho vay của NHTM cũng lớn Còn nếu khách hàng là doanh nghiệp sản xuất thị trường, vốn quay vòng chậm hơn, dẫn đến vòng quay vốn cho vay cũng nhỏ hơn

Trang 16

c, Chỉ tiêu về nợ quá hạn

Tổng dư nợ quá hạn

Tỷ lệ nợ quá hạn = x100%

Tổng dư nợ cho vay

Chỉ tiêu này phản ánh tỷ lệ dư nợ quá hạn trong tổng dư nợ Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ số dư nợ quá hạn càng lớn trong tương quan với tổng dư nợ, chất lượng tín dụng càng thấp

Ngoài ra, để đánh giá đầy đủ hơn về chất lượng tín dụng, người ta còn xem xét mức tăng giảm tương đối, tuyệt đối cơ cấu nợ quá hạn qua các năm để thấy mức hiệu quả của công tác và các biện pháp giảm nợ quá hạn nâng cao chất lượng tín dụng

d, Chỉ tiêu tỉ lệ nợ khó đòi:

Chỉ tiêu nợ khó đòi = x 100%

Tỉ lệ nợ khó đòi trong tổng dư nợ quá hạn càng cao, rủi ro mất vốn càng lớn, thì chất lượng tín dụng càng thấp Nó cũng thể thể hiện công tác xử lý nợ quá hạn của Ngân hàng còn thiếu hiệu quả việc thu hồi nợ còn yếu kém

e, Chỉ tiêu mức sinh lời của tín dụng

Thu nhập từ tín dụng Mức sinh lời của tín dụng = x100%

Dư nợ cho vay bình quân

Chỉ tiêu này đánh giá hoạt động tín dụng ở chổ đó là hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Chỉ tiêu này phản ánh mức lợi nhuận thu được trên một đồng tín dụng Mức sinh lời cao cho thấy hoạt động kinh doanh có hiệu quả cao Nhất là đối với các NHTM ở nước ta hiện nay Khoảng 60-70% thu thập là từ hoạt động tín dụng, mà phần lớn là tín dụng ngắn hạn, thì chỉ tiêu mức sinh lời này thể hiện phần lớn hiệu quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Mức sinh lời cao cũng chứng tỏ hoạt động cho vay có chất lượng

Ngoài ra, người ta còn tính tỉ lệ thu nhập

Tỉ lệ thu nhập = Thu nhập từ cho vay/ Tổng thu nhập x 100%

Tỉ lệ này cho biết thu nhập từ tín dụng đóng góp bao nhiêu phần trăm vào thu nhập của Ngân hàng Từ đó, có thể nhận xét được vai trò của hoạt động tín dụng và chất lượng tín dụng đối với hoạt động kinh doanh của Ngân hàng

1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng.

Để có thể nâng cao được chất lượng tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp ( cả về ngân hàng và doanh nghiệp sản xuất kinh doanh) ta phải hiểu rõ các nhân tố

Trang 17

ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng ngân hàng để từ đó phát huy những ảnh hưởng tích cực cũng như hạn chế các ảnh hưởng tiêu cực Mặt khác cả ngân hàng và doanh nghiệp phải cố gắng linh hoạt để phù hợp với quy định của Nhà nước trong hoạt động tín dụng Có như thế thì cả ngân hàngvà doanh nghiệp mới để ra các biện pháp đúng đắn, cụ thể, linh hoạt để đạt được mục tiêu hoạt động của mình một cách tốt nhất Sau đây chúng ta lần lượt nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng ngân hàng thuộc về ngân hàng và doanh nghiệp.

Các nhân tố thuộc về ngân hàng

- Chính sách tín dụng

Đây là kim chỉ nam cho hoạt động tín dụng của Ngân hàng, nó có ý nghĩa quyết định sự thành công hay thất bại của Ngân hàng Chính sách tín dụng phải phù hợp với đường lối phát triển kinh tế của đảng và nhà nước, đồng thời kết quả hài hòa giữa quyền lợi của người gửi tiền, của ngân hàng và người sử dụng vốn vay Muốn vậy, chính sách tín dụng phải được xây dựng trên cơ sở khoa học và thực tiễn

- Thông tin tín dụng

Nhờ có thông tin tín dụng mà người quản lý có thể đưa ra những quyết định cần thiết liên quan đến việc cho vay, quản lý đảm bảo tiền vay, giảm thiểu rủi ro tín dụng, nâng cao hiệu quả tín dụng Thông tin tín dụng có thể thu thập được từ nguồn thông tin sẵn có của ngân hàng từ thông tin tín dụng(CIC), từ khách hàng, từ đối thủ cạnh tranh hoặc nói cách khác từ nguồn trực tiếp hay gián tiếp, từ các nguồn thông tin của cơ quan pháp luật

- Công tác tổ chức Ngân hàng

Nhân tố này không chỉ tác động đến chất lượng tín dụng mà tác động đến mọi hoạt động của Ngân hàng Một Ngân hàng có cơ cấu tổ chức đựơc sắp xếp một cách khoa học, sự phân công công việc được tiến hành một cách cụ thể, có sự liên kết giữa các bộ phận thì việc đáp ứng các yêu cầu của khách hàng sẽ được thực hiện kịp thời, không bỏ lỡ cơ hội kinh doanh, quản lý có hiệu qủa và an toàn các khoản tín dụng

- Chất lượng nhân sự

Con người là yếu tố quyết định đến sự thành bại trong hoạt động kinh doanh nói chung, còn nói đến hoạt động Ngân hàng thì nó lại càng quan trọng Vì cán bộ công nhân viên của Ngân hàng là bộ mặt, hình ảnh của Ngân hàng đối với khách hàng Hơn nữa nghiệp vụ ngân hàng càng ngày càng phát triển đòi hỏi chất lượng nhân sự ngày càng cao Việc tuyển dụng nhân viên có đạo đức tốt, giỏi chuyên môn

Trang 18

nghiệp vụ sẽ giúp ngân hàng ngừa tối đa những sai phạm có thể xẩy ra để đem lại một khoản tín dụng có chất lượng.

- Công tác kiểm soát nội bộ

Đây là công tác mà Ngân hàng nào cũng cần tiến hành thường xuyên, liên tục nhằm duy trì chất lượng, hiệu quả kinh doanh của mình phù hợp với các chính sách, đáp ứng yêu cầu, mục tiêu đã đề ra Để làm tốt công tác này, Ngân hàng cần sắp xếp một đội ngũ cán bộ giỏi chuyên môn, nghiệp vụ, trung thực làm nhiệm vụ này và có chế độ thưởng, phạt nghiêm minh Có như thế, công tác tín dụng mới được thực hiện đúng quy trình nhằm nâng cao chất lượng tín dụng

Nhân tố thuộc về doanh nghiệp

-Năng lực của doanh nghiệp: Không một doanh nghiệp nào đi vay lại không muốn món vay đem lại hiệu quả Nhưng nhiều khi do năng lực có hạn chế, họ không thực hiện được mục đích của mình và làm ảnh hưởng đến khoản tín dụng mà họ đã nhận từ ngân hàng

- Trình độ quản lý của các nhà doanh nghiệp: Do trình độ của nhiều nhà lãnh đạo còn nhiều hạn chế về học vấn, kiếm thức cũng như kinh nghiệm thực tế nên nhiều khi họ không dự đoán được những biến động của thị trường, yếu kém Marketing sản phẩm Do sự bảo thủ của nhiều nhà quản lý không dám đổi mới khiến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp không có hiệu quả, dẫn đến tình trạng không thu hôi hết được vốn và làm ảnh hưởng đến hiệu quả của doanh nghiệp từ đó ảnh hưỏng đến chất lượng của khoản tín dụng đã sử dụng

- Đạo đức của người đi vay: Ngân hàng chỉ quyết định cho vay sau khi đã phân tích kỹ các yếu tố có liên quan đến khả năng của người vay trong việc hoàn trả nợ và cách thức sử dụng vốn vay Nhưng thông tin này có thể bị thay đổi sau khi doanh nghiệp nhận được tiền vay Thực tế, nhiều doanh nghiệp đã sử dụng vốn vay không hợp lý dẫn đến không đạt đựơc hiệu quả sản xuất kinh doanh Còn có nhiều ngừơi có

ý tham nhũng và kết quả là hiệu quả sử dụng vốn vay Ngân hàng kém thậm chí không thu hồi được Vì vậy, công tác kiểm tra, giám sát của ngân hàng là rất quan trọng

Các nhân tố khách quan khác

Ngoài những nhân tố chủ quan trên còn nhiều nhân tố khách quan mà tác động của nó cũng không nhỏ đến chất lượng của các khoản tín dụng ngân hàng

Trang 19

- Tác động của môi trường kinh tế Đây là nhân tố luôn ảnh hưởng đến khả năng tài chính của người vay hay nói rõ hơn là nếu môi trường kinh tế xấu làm cho hoạt động của doanh nghiệp gặp khó khăn, ảnh hưởng đến thời hạn trả nợ và khả năng hoàn trả món vay cho ngân hàng đo đó ảnh hưởng đến chất lượng của khỏan tín dụng

đó của ngân hàng Ngược lại nếu môi trường kinh tế thuận lợi sẽ giúp cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thuận lợi, thu hồi được vốn nhanh đồng thời lợi nhuận thu được sẽ cao và từ đó khả năng trả nợ của doanh nghiệp, khỏan vay sẽ được trả đúng hạn, khoản tín dụng ngân hàng sẽ có chất lượng tốt

- Tác động của môi trường pháp lý: Ngân hàng là một doanh nghiệp luôn phải hoạt động trong hành lang pháp lý hẹp hơn bất kỳ một doanh nghiệp sản xuất hay thương mại nào Vì vậy, một hệ thống pháp lý càng hoàn chỉnh, đồng bộ thì sẽ càng đem lại hiệu quả hoạt động của ngân hàng, của các doanh nghiệp và đảm bảo đựơc chất lượng tín dụng của các doanh nghiệp đó với ngân hàng Còn nếu môi trường pháp lý không hoàn chỉnh, có nhiểu lỗ hổng thì kết quả sẽ ngược lại cho cả ngân hàng

và các doanh nghiệp từ đó làm cho chất lượng của các khỏan tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp sẽ xấu và khó có thể thu hồi

- Chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước.Trong nền kinh tế thị trường các chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước bao gồm các chính sách tài chính tiền tệ, chính sách lãi suất, chính sách đối ngoại có vai trò quan trọng đối với hoạt động của nền kinh tế nói chung và hoạt động của các ngân hàng, các doanh nghiệp nói riêng Chính sách kinh tế trong hoàn cảnh này thì có tác dụng cho cả ngân hàng và doanh nghiệp nhưng trong hoàn cảnh khác thì lại ngược lại Các chính sách này nhằm

ưu tiên phát triển hay hạn chế một ngành nào đó để đảm bảo cân đối cho nền kinh tế

Do vậy các chủ trương, chính sách của Nhà nước phải đúng đắn thì mới thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, là điều kiện cần để đạt được chất lượng và hiệu quả của các khoản tín dụng ngân hàng

- Các yếu tố thiên tai gây lên.Chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhiều khi mang tín thời vụ Trong cơ cấu kinh tế nhiều thành phần của Nhà nước có thành phần kinh tế Nhà nước, trong đó doanh nghiệp trong các ngành nông – lâm – ngư nghiệp lại chiếm một tỷ lệ không nhỏ thì yếu tố này rất quan trọng Khi thiên tai xẩy ra như: lũ lụt, hạn hán, mưa bão, hỏa hoạn, làm cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp bị đổ bể, dẫn đến khả năng hoàn trả các khoản nợ là khó khăn hoặc không thể, làm cho chất lượng của các khoản tín dụng bị giảm sút

Trang 20

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN TINH ĐIỆN

BIÊN

2.1.Khái quát về chi nhánh NHNo&PTNT Tỉnh Điện Biên

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của chi nhánh NHNo&PTNT Tỉnh Điện Biên

- NHNo&PTNT Việt Nam được thành lập ngày 26/3/1988 theo nghị định số 53/ HĐBT của hội đồng bộ trưởng ( nay là chính phủ) trên cơ sở tách ra từ Ngân hàng nhà nước & hoạt động dưới hình thức là Ngân hàng chuyên doanh

- Đến tháng 11/1990 được đổi tên là Ngân hàng nông nghiệp Việt Nam theo quyết định số 400/ CT ngày 14/11/1990 của thủ rướng chính phủ Theo quyết định số 280/QĐ - NH5 ngày 15/10/1996 & quyết định số 1836/ QĐ - TCCB ngày 28/12/1996 một lần nữa đổi tên thành Ngân Hàng Nông Nghiệp & Phát Triển Nông Thôn Việt Nam

- NHNo&PTNT VN là Doanh nghiệp nhà nước hạng đặc biệt, được tổ chức theo mô hình tổng công ty nhà nước, có thời hạn hoạt động 99 năm, bao gồm các đơn

vị thành viên có gắn bó với nhau về lợi ích kinh tế, tài chính, công nghệ, thông tin, đào tạo, nghiên cứu, tiếp thị, hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, tín dụng & các dịch vụ liên quan đến hoạt động tài chính - tiền tệ - ngân hàng

- NHNo&PTNT VN là ngân hàng lớn nhất Việt nam về tổng tài sản, mạng lưới chi nhánh & số cán bộ ngân hàng cung cấp dịch vụ, ngân hàng cho khu vực hộ gia đình & cá nhân lĩnh vực mà NHNo&PTNT luôn đóng vai trò quan trọng, bên cạnh đó ngân hàng còn cung cấp các dịch vụ ngân hàng cho đối tượng doanh nghiệp vừa và nhỏ và các công ty lớn

- Hoạt động của NHNo&PTNT từ năm 2000-2007 cho ta thấy xu thế ổn định, vững chắc & phát triển mạnh mẽ của ngân hàng trên nhiều lĩnh vực, tập trung vào các lĩnh vực chính là tốc độ tăng trưởng nguồn vốn, dư nợ tín dụng & kết quả tài chính Với tốc độ tăng trưởng về nguồn vốn kinh doanh, dư nợ cho vay hàng năm khoảng

từ 20-25% trên năm Trong vòng 7 năm NHNo&PTNT việt nam có sự phát triển vượt bậc về tổng tài sản có, nguồn vốn kinh doanh, dư nợ cho vay : tổng tài sản có tăng 470%; nguồn vốn kinh doanh tăng 485%; dư nợ cho vay tăng tăng 451% Tỷ lệ nợ xấu dao động trong khoảng dưới 2% Chỉ tiêu lợi nhuận tăng 357% đã đánh giá được

Trang 21

hiệu quả kinh doanh của NHNo&PTNT việt nam Vốn điều êệ tăng 355% khẳng định thêm về xu hướng phát triển ổn định và vững chắc

* Điều kiện tự nhiên:

Điện biên Phủ là thành phố mới thành lập, là một tỉnh vùng sâu, vùng xa (tỉnh Lai Châu) có 85,1% số xã thuộc diện đặc biệt khó khăn và biên giới Thành phố Điện biên Phủ là thành phố mới thành lập, là một tỉnh vùng sâu, vùng xa (tỉnh Lai Châu)

có 85,1% số xã thuộc diện đặc biệt khó khăn và biên giới Thành phố Điện Biên Phủ

có diện tích tự nhiên 50,96 km2, dân số 3.1 vạn ngời gồm 4 phờng và 02 xã vùng 3 ( theo Quyết định số 42/QĐ của UB dân tộc và miền núi) Khí hậu có phần khắc nghiệt bởi mùa ma kéo dài từ tháng 4 đến hết tháng 8 dơng lịch, sơng muối và rét từ cuối tháng 9 đến hết tháng 12, thời gian còn lại là hanh khô, nóng, gió lào

Hàng năm lũ quét, hạn hán, ma đá, dịch bệnh xẩy ra thờng xuyên Điện biên Phủ nằm trong khu vực có d chấn động đất nên tình hình sản xuất, kinh doanh, đời sống kinh tế xã hội của nhân dân gặp nhiều khó khăn

Cơ cấu kinh tế nông nghiệp đợc xác định: Chăn nuôi gia súc, gia cầm, phát triển cây công nghiệp, cây ăn quả và phát triển kinh tế trang trại theo mô hình tổng hợp

2.1.2- Điều kiện kinh tế và xã hội:

Điện Biên Phủ là Thành phố mới thành lập với dân số 3.1 vạn ngời, mật độ dân số bình quân 612 ngời/km2 Số ngời đang trong độ tuổi lao động là 15.531 ngời Toàn Thành phố có 7700 hộ sản xuất bao gồm: Hộ sản xuất nông nghiệp chiếm 70%, còn lại là hộ sản xuất lâm nghiệp, hộ làm nghề tiểu thủ công, hộ kinh doanh nhỏ và

hộ làm kinh tế trang trại

Trong gần 10 năm xây dựng, Thành phố Điện Biên Phủ không ngừng đổi mới phát triển và đã đạt đợc những thành tựu kinh tế, xã hội đáng phấn khởi Tuy nhiên khó khăn không phải là ít Thu chi ngân sách trên địa bàn vẫn mất cân đối lớn Nền kinh

tế mang tính thuần nông, ngành nghề không phát triển, cơ sở hạ tầng đã có những thay đổi căn bản nhng vì quá xa, đờng bộ về đến Hà Nội trên 500 km nên giao lu hàng hoá khó khăn Giá cả hàng tiêu dùng, lơng thực, thực phẩm đắt đỏ Trong khi đó các doanh nghiệp trên địa bàn có quy mô nhỏ làm ăn không hiệu quả, sản xuất kinh doanh có tính cầm chừng không mở rộng và phát triển Một số doanh nghiệp có nguy

cơ phá sản (Công ty lơng thực Tỉnh, Công ty lâm đặc sản xuất khẩu)

Tuy còn nhiều khó khăn nhng tiềm năng về vờn đồi, về phát triển chăn nuôi, trồng cây ăn quả, cây công nghiệp, phát triển kinh tế theo mô hình trang trại tổng hợp

Trang 22

là một tiềm năng lớn đòi hỏi phải có chính sách kinh tế phù hợp đặc biệt là cần sự hỗ trợ về vốn vay ngân hàng (chủ yếu là vốn trung, dài hạn).

* Vai nét về NHNo&PTNT Thành phố Điện Biên Phủ:

- NHNo&PTNT Thị xã Điện Biên Phủ thành lập từ năm 1993 địa bàn kinh doanh là khu vực Thành phố Điện biên Phủ và 2 xã Thanh Minh, Thanh Na thuộc huyện Điện biên Ngoài trụ sở chính đặt tại Thành phố Điện Biên Phủ, có 02 chi nhánh loại 4 trực thuộc, 02 bàn tiết kiệm và 02 cửa hàng kinh doanh vàng bạc ngoại tệ

Các chi nhánh trực thuộc, bàn tiết kiệm, cửa hàng kinh doanh vàng bạc ngoại

tệ vừa huy động vốn, vừa cho vay đối với các hộ trên địa bàn Riêng cho vay doanh nghiệp do trụ sở chính đảm nhiệm

- Là một Ngân hàng Thuong mai trên địa bàn thành phố nhng hoạt động tín dụng chủ yếu là huy động vốn và cho vay đối với các hộ sản xuất Ngoài ra ngân hàng còn tổ chức kinh doanh vàng bạc và thực hiện các dịch vụ theo yêu cầu của khách hàng

2.1.3 Tổ chức bộ máy

Người đứng đầu chi nhánh là ban giám đốc gồm Giám đốc và Phó giám đốc Chi nhánh gồm 5 phòng là phòng tín dụng, phòng kế toán, phòng thanh toán quốc tế, phòng quĩ, phòng hành chính nhân sự Các phòng hoạt động dưới sự chỉ đạo điều hành của Ban giám đốc

BAN GIAM ĐỐC : CÓ PHÒNG KẾ TOÁN, PHÒNG KIỂM SOÁT, PHÒNG HÀNH CHÍNH DÂN SỰ, PHÒNG KINH DOANH, PHONG VI TÍNH

Sơ đồ về cơ cấu tổ chức của chi nhánh ngân hàng

PHÒNG KINH DOANH

PHÒNG

KẾ TOÁN

PHÒNG

VI TÍNH

Trang 23

Giám đốc của chi nhánh là người chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động của chi nhánh đánh giá thêm của cả hai bên và quyết định đưa ra đều phải được cả hai bên thống nhất

2.1.4 Nhiệm vụ, chức năng của phòng tín dụng

Để phục vụ cho nhu cầu tín dụng của các khách hàng, chi nhánh đã quy định rất

rõ ràng, cụ thể về chức năng nhiệm vụ của phòng Bao gồm các công việc cụ thể như sau:

- Giới thiệu và tư vấn cho khách về các hình thức vay nợ

- Phân tích tín dụng và các hợp đồng vay nợ của khách

- Chuẩn bị các chứng từ liên quan tới các khoản nợ được xác nhận

- Thông báo cho ban giám đốc của chi nhánh và trụ sở chính xin ý kiến và thừa nhận đối với các khoản cho vay

- Hoàn thành các hợp đồng về cầm cố, thế chấp tài sản Các chứng từ này đều phải được công chứng và đăng ký

- Thực hiện và quản lý các khoản tín dụng

- Thực hiên các mẫu chứng từ về việc phát hành bảo đảm

- Phát hành các bảo lãnh ngân hàng ( trừ bảo lãnh vận chuyển )

- Thực hiện các chứng từ bảo đảm cho việc phát hành thẻ tín dụng

- Điều chuyển vốn trong nước hàng ngày

- Thường xuyên kiểm tra, thu thập thông tin về tình hình kinh doanh của khách

- Thường xuyên báo cáo tình hình kinh doanh của khách và khả năng có thể trả

nợ của khách cho ban giám đốc của chi nhánh

- Thường xuyên cập nhật các thông tin về các vawb bản luật, các thông tin về tình hình kinh tế, đầu tư trong nước, ngoài nước và các thông tin có liên quan tới việc kinh doanh của ngân hàng

- Điều chỉnh về thời hạn, điều kiện vay nợ, lãi suất vay cho khách hàng để phù hợp với sự thay đổi của lãi suất trên thị trường

- Lập các báo cáo về hoạt động tín dụng

Ngày đăng: 19/07/2013, 13:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Tiền tệ, Ngân hàng và thị trường tài chính – Fredric Minskin Khác
2. Giáo trình lý thuyết tài chính tiền tệ - Đại học KTQD Hà Nội Khác
3. Ngân hàng thương mại – GS-TS Lê Văn Tư Khác
4. Tổng quan về tín dụng – Ngân hàng Hồng Kông Khác
5. Ngân hàng thương mại- Edwrd K. Gill Khác
6. Tài liệu tập huấn nghiệp vụ tín dụng của NHNo&PTNT Tỉnh Điện Biên Khác
7. Quản trị tài chính doanh nghiệp- TS Vũ Duy Hào- Đàm Văn Huệ- Thạc sỹ Nguyễn Minh Quang Khác
8. Các văn bản pháp quy của NHNo&PTNT Tỉnh Điện Biên Khác
9. Các báo cáo tài chính tổng hợp lưu tại NHNo&PTNT Tỉnh Điện Biên Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ về cơ cấu tổ chức của chi nhánh ngân hàngBAN GIÁM ĐỐC - GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG NGẮN HẠN CỦA NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP & PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN TỈNH ĐIỆN BIÊN
Sơ đồ v ề cơ cấu tổ chức của chi nhánh ngân hàngBAN GIÁM ĐỐC (Trang 22)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w