1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI KINH TẾ TƯ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM - CHI NHÁNH BẮC HẢI DƯƠNG

84 601 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nâng Cao Chất Lượng Hoạt Động Tín Dụng Đối Với Kinh Tế Tư Nhân Tại Ngân Hàng Đầu Tư Và Phát Triển Việt Nam - Chi Nhánh Bắc Hải Dương
Người hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Thị Thu Thảo, Nguyễn Thị Huyền
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Ngân Hàng - Tài Chính
Thể loại Chuyên đề thực tập
Năm xuất bản 2011
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 824 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực trạng tín dụng đối với KTTN tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam chi nhánh Bắc Hải Dương.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

KHOA NGÂN HÀNG - TÀI CHÍNH

CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP

Đề tài:

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI KINH TẾ TƯ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN

VIỆT NAM - CHI NHÁNH BẮC HẢI DƯƠNG

Giảng viên hướng dẫn : PGS.TS NGUYỄN THỊ THU THẢO

Sinh viên thực hiện : NGUYỄN THỊ HUYỀN

Trang 2

Hµ Néi, 01/ 2011

Trang 3

LỜI NÓI ĐẦU

Ngày nay, ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, dù là nước công nghiệp pháttriển, đang phát triển hay các nước còn đang trong tình trạng kém phát triển Trong

cơ cấu phát triển kinh tế của các quốc gia này đều có sự đóng góp của 3 khu vựckinh tế cơ bản là: Khu vực kinh tế nhà nước, khu vực KTTN và khu vực kinh tế cóvốn đầu tư nước ngoài (liên doanh, liên kết hoặc 100% vốn đầu tư nước ngoài) Mỗikhu vực kinh tế có những đóng góp nhất định vào sự phát triển chung của toàn bộnền kinh tế quốc dân, nhưng theo thống kê hiện nay thì khu vực kinh tế có đóng góplớn nhất cho sư phát triển đó là khu vực KTTN Bởi loại hình kinh tế này có nhữngđặc thù nhất định như nguồn vốn không lớn, quy mô và địa bàn hoạt động nhỏ,tham gia tất cả các lĩnh vực kinh tế mà pháp luật không cấm, nên dễ thích ứng với

sự biến động của thị trường, sự đổi của các yếu tố Cung – Cầu, môi trường pháp lý

và môi trường cạnh tranh, dễ dàng có những thay đổi về mô hình tổ chức, cơ chếhoạt động, cơ cấu sản phẩm để phù hợp với hoàn cảnh hiện tại

Ở Việt Nam chúng ta trong những năm Miền Bắc được giải phóng tiến lên xâydựng Chủ nghĩa xã hội Do những nhận thức sai lầm về KTTN, Đảng và Chính phủ

đã xây dựng chính sách đối ngoại bế quan tỏa cảng, xóa bỏ hoàn toàn khu vựcKTTN xác định một nền kinh tế thuần nhất là kinh tế nhà nước Sau năm 1986 cảnước bước vào xây dựng nền kinh tế theo cơ chế mở cửa, đổi mới, kêu gọi tất cả cácthành phần kinh tế cùng phát triển, phát huy truyền thống tự lực tự cường của dântộc kết hợp với sự ủng hộ, giúp đỡ của các nước anh em và bạn bè quốc tế để pháttriển kinh tế và xây dựng đất nước

Thực tế đã chứng minh rằng trong những năm qua ở Việt Nam nói chung vàtrên địa bàn thị xã Chí Linh nói riêng khu vực KTTN đã phát triển mạnh mẽ cả về

số lượng và chất lượng đã có những đóng góp tích cực trong công cuôc Côngnghiệp hóa – Hiện đại hóa đất nước, tạo công ăn việc làm cho lực lượng lao độngnhàn rỗi và góp phần ổn định xã hội và phát triển kinh tế

Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam chi nhánh Bắc Hải Dương là mộtđơn vị đóng trên địa bàn thị xã Chí Linh Với chức năng của một trung gian tàichính Ngân hàng đã không ngừng hoàn thiện và đưa ra các dịch vụ cung ứng củamình nhằm phục vụ khách hàng tốt nhất Ngân hàng đã tiến hành phân tích thịtrường, tìm hiểu địa bàn hoạt động, cơ cấu ngành trên địa bàn và nhận thấy khu vực

Trang 4

KTTN là “mảnh đất màu mỡ, ẩn chứa nhiều cơ hội cũng như là thách thức” màNgân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam và cả hệ thống ngân hàng thương mại cầnphải hướng đến trong hiện tại và tương lai Sự chuyển hướng nhanh đối tượng tíndụng từ khu vực kinh tế nhà nước sang khu vực KTTN là một tất yếu không thểtránh khỏi trong công cuộc đổi mới và xây dựng đất nước

Đây là sự chuyển hướng phù hợp với nhu cầu phát triển của nền kinh tế nóichung và của Ngân hàng nói riêng Mặc dù trong thời gian qua ngân hàng luônhướng tới đối tượng khách hàng nằm trong khu vực KTTN song quan hệ tín dụnggiữa ngân hàng và đối tượng này vẫn còn nhiều trở ngại và khúc mắc do ngân hàng

lo sợ vấp phải những rủi ro tín dụng Vì vậy, việc nghiên cứu thực trạng và tìm ragiải pháp nhằm tháo gỡ vấn đề là vô cùng quan trọng

Qua thời gian học tập tại trường Đại học Kinh tế quốc dân và quá trình thựctập, nghiên cứu và khảo sát thực tế, tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Namchi nhánh Bắc Hải Dương, em đã chọn đề tài nghiên cứu:

“Nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng đối với KTTN tại Ngân hàng Đầu

tư và Phát triển Việt Nam chi nhánh Bắc Hải Dương” làm đề tài thực tập tốt nghiệp của mình.

Ngoài phần mở đầu và kết luận chuyên đề được chia thành 3 chương:

Chương I: Tổng quan chung về vấn đề tín dụng đối với KTTN

Chương II: Thực trạng tín dụng đối với KTTN tại Ngân hàng Đầu tư và Pháttriển Việt Nam chi nhánh Bắc Hải Dương

Chương III: Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng đối với KTTNtại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam chi nhánh Bắc Hải Dương

Trang 5

Chương I TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ TÍN DỤNG ĐỐI VỚI KINH TẾ TƯ NHÂN

1.1 Kinh tế tư nhân trong nền kinh tế.

1.1.1 Khái niệm kinh tế tư nhân.

Trong nền kinh tế hiên nay dựa trên các đặc điểm cụ thể và thực tế của khuvực KTTN mà người ta đưa ra rất nhiều các quan điểm khác nhau về đối tượng kinh

tế này, tuy nhiên thì chưa có một cơ quan hay tổ chức nào đưa ra một định nghĩachính xác về nó Tuy nhiên theo quan điểm của bản thân mình thì tôi thấy rằng việcdựa trên đặc điểm về sở hữu mà định nghĩa và đánh giá về đối tượng này là chínhxác nhất

Khái niệm KTTN được dùng để chỉ các thành phần kinh tế dựa trên chế độ sởhữu tư nhân về tư liệu sản suất, trong đó tài sản là của các chủ thể cá nhân chứkhông phải của nhà nước hay yếu tố nước ngoài Khu vực KTTN bao gồm kinh tế

cá thể, tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân (các doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp cổphần hóa mà trong đó vốn của tư nhân chiếm trên 51%, doanh nghiệp trách nhiệmhữu hạn, hộ sản xuất và kinh doanh cá thể, cá nhân)….Tiến hành hoạt động sản xuấtkinh doanh theo các quy định của pháp luật

Nói theo nghĩa rộng, khu vực này bao gồm tất cả các doanh nghiệp, các tổchức kinh doanh của người Việt Nam không thuộc sở hữu nhà nước (hoặc Nhànước có góp vốn nhưng không giữ vai trò chi phối), không do nước ngoài đầu tư(hoặc nước ngoài có góp vốn nhưng không giữ vai trò chi phối), không thuộc thànhphần kinh tế tập thể (các hợp tác xã)

Các loại hình kinh tế tồn tại trong KTTN rất đa dạng và phong phú, Sau mộtthời gian dài nền kinh tế nước ta trì trệ với việc duy trì thuần nhất khu vực kinh tếquốc doanh, các doanh nghiệp nhà nước này thụ động trong việc quản lý và điềuhành, phụ thuộc rất lớn vào cơ chế bao cấp đã làm nền kinh tế của nước ta lạc hậu

so với các quốc gia khác hàng chục năm, Sau cải cách mở cửa, việc thu hút đầu tưnước ngoài đã mang lại những bước tiến mới cho nền kinh tế, tuy nhiên sau khi đãnắm bắt được luật pháp và lão luyện trên thương trường thì các nhà đầu tư nước ngoàinày đã tìm đủ mọi cách để chuyển hầu hết toàn bộ lãi về chính quốc Vì vậy giờ đâyĐảng và Nhà nước đã nhận định khu vực KTTN sẽ là đòn bẩy mạnh mẽ và là khu vựcđầu tàu chèo lái con thuyền nền kinh tế Việt Nam trong hiện tại và tương lai

Trang 6

1.1.2 Đặc điểm của khu vực kinh tế tư nhân.

Bản thân khu vực kinh tế tư nhân và các doanh nghiệp tư nhân của nước tanhìn chung còn nhỏ, yếu, mới hình thành, rất thiếu các nguồn lực cần thiết cũng nhưthiếu sự liên kết để nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển

Trong số các doanh nghiệp tư nhân của chúng ta có tới 90% thuộc quy mô vừa

và nhỏ (theo tiêu chí của nước ta có dưới 300 lao động hoặc vốn kinh doanh dưới

10 tỷ đồng), các hộ sản xuất và kinh doanh cá thể, các trang trại và cá nhân sản xuấtnông nghiệp đều hoạt động ở quy mô nhỏ, manh mún vì thiếu vốn đầu tư đồng bộ.Cái yếu của khu vực kinh tế tư nhân nước ta thể hiện rõ nhất ở năng suất lao động,hiệu quả kinh doanh và năng lực cạnh tranh nhìn chung còn thấp so với doanhnghiệp đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp nhà nước Do nhỏ và yếu nên khu vựckinh tế tư nhân của nước ta vừa khó đương đầu với tính cạnh tranh ngày càng khốcliệt trên thị trường trong nước và quốc tế nhất là sau khi chúng ta gia nhập WTO(mọi hàng rào thuế quan và chính sách bảo hộ sản xuất trong nước đều bị rỡ bỏ) vừa

dễ bị tổn thương trước những biến động của thị trường Hơn 80% doanh nghiệp tưnhan của nước ta ra đời sau khi luật doanh nghiệp năm 1999 được thi hành nên họcòn rất thiếu kinh nghiệm thương trường, chưa đủ thời gian để trưởng thành trongkhi đã phải đối mặt với áp lực cạnh tranh ngày càng gay gắt hiện nay

Khu vực kinh tế tư nhân ở nước ta đều thiếu những nguồn lực cơ bản và cầnthiết cho họ như: nguồn vốn, đất đai, công nghệ, kỹ năng quản lý, nguồn nhân lực

có chất lượng Ngoài ra họ còn chưa thiết lập được được sự liên kết đơn vị thuộcmọi thành phần kinh tế với nhau trong từng ngành, giữa các ngành liên quan hoặctrong từng vùng để tạo thé mạnh mang tính hệ thống và hiệu quả của sự phối hợp.Từng chủ thể kinh tế mới chỉ dựa vào sức mình là chính chưa khai thác và sử dụngđược sức mạnh của sự liên kết vốn rất cần thiết nhất là đối với các doanh nghiệpvừa và nhỏ

Môi trường kinh doanh trong nước còn nhiều khó khăn và thiếu bình đẳng,tình trạng này kéo dài đã lâu nhưng chưa được khắc phục khiến cho môi trườngkinh doanh luôn là thách thức lớn nằm ngoài khả năng kiểm soát của khu vựcKTTN Trong môi trường kinh doanh ở nước ta hiện nay, trở ngại lớn nhất của khuvực KTTN là ở 1 số mặt sau:

Việc gia nhập thị trường tuy đã được cải thiện nhiều nhưng vẫn đòi hỏi chi phícao về tiền của và thời gian

Trang 7

Còn những rào cản lớn về pháp lý và hành chính trong quá trình hoạt động,sản xuất, kinh doanh của khu vực KTTN Hệ thống pháp luật và chính sách củanước ta còn nhiều nhược điểm: thiếu minh bạch, thiếu tính nhất quán, thiếu ổn định,khó tiên liệu, tổ chức thực thi luật pháp còn kém Hệ thống hành chính nước ta cònkém hiệu quả với tình trạng can thiệp hành chính vào hoạt động của các chủ thểkinh tế phổ biến và kéo dài, sự yếu kém nhũng nhiễu của không ít công chức đã làm

vô hiêụ hóa các chính sách tốt và cam kết cải cách của nhà nước Còn tồn tại nhiêuvướng mắc trong vấn đề thanh tra, kiểm tra, thuế, phí hải quan và đất đai kéo dài vàchậm giải quyết

Việc tiếp cận các nguồn lực rất khó khăn và tốn kém Khu vực KTTN rất khótiếp cận với các nguồn lực cần thiết và họ phải trả giá rất cao để tiếp cận các nguồnlực đó Trong khi đó doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nướcngoài lại được tiếp cận dễ dàng hơn với những điều kiện ưu đãi và chi phí thấp hơnnhiều Thực tế này gây bất binhg đẳng cho khu vực KTTN làm cho họ mất đi nhiều cơhội thị trường, tăng rủi ro và giảm đáng kể khả năng đầu tư Điều này dẫn tới chi phísản xuất kinh doanh của họ tăng cao và hạn chế khả năng sinh lời, làm giảm động lực

và nguồn lực kinh doanh, giảm khả năng cạnh tranh của khu vực kinh tế này

Thách thức của môi trường kinh doanh quốc tế chứa đựng nhiều điều kiệnkhông thuận lợi cho các nước đang phát triển như nước ta, dự bất công, bất bìnhđẳng không những không giảm mà còn có chiều hướng tăng lên trong nhiều lĩnhvực Các nước lớn, các công ty đa quốc gia nắm quyền chi phối thị trường đã luôntìm cách lái thị trường thế giới theo hướng có lợi cho họ

Nhìn chung, chặng đường trước mắt của khu vực KTTN nước ta còn rất dài vàgian nan Tuy nhiên, với quyết tâm cao và đường lối chính sách đúng đắn của Đảng

và nhà nước trong v iệc phát triển KTTN định hướng xã hội chủ nghĩa của ViệtNam chắc chắn khu vực KTTN Việt Nam sẽ vượt qua mọi thử thách, giành nhữngthắng lợi lớn hơn trong kinh doanh, phát triển mạnh và vững chắc để là độn lực đưanền kinh tế nước ta phát triển và hội nhập

1.1.3 Vị thế của khu vực kinh tế tư nhân.

Sau đại hội Đảng VI, cùng với những nhận thức mới về đường lối phát triểnkinh tế, khu vực kinh tế tư nhân như được sinh ra một lần nữa và đã khẳng địnhđược vị thế vô cùng quan trọng của mình trong quá trình xây dựng đất nước và pháttriển kinh tế xã hội Trong những năm qua khu vực kinh tế tư nhân đã phát triểnmạnh mẽ cả về mọi mặt cả về số lượng và chất lượng, mọi người dân hồ hởi phát

Trang 8

triển kinh tế cho bản thân, gia đình và góp phần xây dựng đất nước, đưa đất nướctiến nhanh, tiến mạnh và con đường Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa và tiến lên xâydựng Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Phát triển kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa là một xu thế tất yếu, một chủ trương đúng đắn và nhất quán của Đảng ta.Điều này thể hiện ở chỗ:

Với trình độ phát triển chưa cao như hiện nay của lực lượng sản xuất ở nước

ta, sự tồn tại của KTTN vẫn là nhu cầu khách quan

KTTN đã và đang tiếp tục chứng tỏ vai trò động lực của nó đối với sự pháttriển kinh tế - xã hội của đất nước ta

Sự phát triển của KTTN trong hơn 20 năm đổi mới vừa qua đã đóng gópkhong nhỏ vào việc giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội của đất nước Tât nhienKTTN chỉ phát triển đúng hướng khi Đảng và Nhà nước có chính sách và biện phápquản lý phù hợp, không làm mất động lực phát triển của nó nhưng cũng không để

nó phát triển theo hướng tự phát

Trong thời đại ngày nay, bất cứ một nền sản xuất xã hội nào muốn đạt hiệuquả tăng trưởng cao đều phải xây dựng nền kinh tế thị trường Công cuộc đổi mới

do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đã đạt được nhiều thành tựu to lớn Một trongnhững nguyên nhân cơ bản tạo nên sự phát triển của nền kinh tế nước ta là đã khơidậy được tiềm năng của các thành phần kinh tế thông qua chính sách phát triển kinh

tế nhiều thành phần, trong đó KTTN có vai trò quan trọng và tiếp tục được khuyếnkhích phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Khu vực KTTN ở nước ta bao gồm khoảng hơn 200.000 doanh nghiệp hoạtđộng theo Luật Doanh nghiệp, hơn 2,6 triệu hộ kinh doanh cá thể, một bộ phận củagần 100.000 trang trại và hơn 10 triệu hộ nông dân có sản xuất nông sản hàng hóakhông tham gia các hợp tác xã hoặc tổ hợp tác Trong số này, 200.000 doanh nghiệp

tư nhân , với các hình thức tổ chức khác nhau (công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty

cổ phần, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân một chủ), có đầy đủ tư cách phápnhân, thường được coi là khu vực doanh nghiệp tư nhân chính thức; số còn lại được

tổ chức kinh doanh ở hình thức thấp hơn, chưa có tư cách pháp nhân và do đóthường được coi là khu vực tư nhân phi chính thức hoặc phi hình thức Với lựclượng đông đảo của mình khu vực KTTN đã đóng góp một phần không nhỏ vàocông cuôc xây dựng kinh tế, củng cố chính trị của nước ta trong những năm qua:

Trang 9

Khu vự KTTN đã tạo ra môi trường kinh doanh năng động hơn và có tínhcạnh tranh cao hơn, góp phần thúc đẩy việc cải tổ và giảm thiểu tính độc quyền củadoanh nghiệp Nhà nước.

Sự đi lên của khu vực KTTN là một yếu tố quan trọng làm thay đổi diện mạocủa nền kinh tế Việt Nam Theo nghiên cứu mới đây giữa Bộ Kế hoạch và Đầu tư

và Quỹ Phát triển Liên Hiệp Quốc cho thấy hoạt động tài chính của khu vực KTTNđang cải thiện tốt hơn khối doanh nghiệp Nhà nước Trong năm 2008, với 1 tỷ đồngvốn, doanh nghiệp tư nhân có thể tạo ra 1,18 tỷ đồng doanh thu trong khi đó con sốnày với doanh nghiệp Nhà nước và doanh nghiệp FDI lần lượt là 0,8 tỷ và 0,89 tỷđồng Sự tăng trưởng nhanh của khu vực KTTN đã góp phần tạo ra sức hút đối vớiđầu tư trực tiếp nước ngoài

Thực tế đã chứng minh rằng khu vực KTTN hoạt động rất hiệu quả trong bốicảnh nước ta hiện nay Về khía cạnh năng suất và hiệu quả khu vực kinh tế tư nhancũng đã vượt các doanh nghiệp Nhà nước cũng như doanh nghiệp có vốn đầu tưnước ngoài Theo đánh giá của bộ công thương thì từ năm 2005 đến năm 2009, khuvực KTTN đã tạo ra tăng trưởng GDP trung bình trên 8%, cao hơn mức 7,38% của

cả nền kinh tế Hiện nay khu vực KTTN chiếm 48% GDP và 40% tổng số đầu tưvào nền kinh tế, đóng góp một nửa vào kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam

Một điểm hết sức quan trọng là khối doanh nghiệp tư nhân đã tạo ra sự thayđổi trong cấu trúc thị trường lao động, vốn đã mất cân bằng và điều này đóng góptích cực vào tăng trưởng kinh tế và xóa đói giảm nghèo Hiện tại, lao động trongkhu vực KTTN chiếm 77% lực lượng lao động trong cả nước, không chỉ thu hútnhững nguồn lao động kỹ thuật chất lượng cao mà còn tận dụng được lực lượng laođộng tại chỗ rất dồi dào, góp phần vào đẩy lùi tệ nạn và ổn định xã hội

1.2 Tín dụng ngân hàng trong phát triển kinh tế tư nhân.

1.2.1 Khái niệm tín dụng đối với kinh tế tư nhân.

Tín dụng là một phạm trù kinh tế tồn tại và phát triển qua nhiều hình thái kinh

tế xã hội Khó có thể đưa ra một mình nghĩa rõ rang về tín dụng Vì vậy tùy theomỗi góc độ nghiên cứu mà chúng ta có thể xác định nội dung của thuật ngữ này.Trong quan hệ tài chính cụ thể, tín dụng là một giao dịch về tài sản trên cơ sở

có hoàn trả giữa hai chủ thể Như một công ty công nghiệp hay thương mại bánhàng trả chậm cho một công ty khác, trong trường hợp này bên bán chuyển giaohàng hóa cho bên mua và sau một thời gian nhất định theo thỏa thuận bên mua phảitrả tiền cho bên bán, giá cả của mua hàng trả chậm thường lớn hơn so với với việc

Trang 10

thanh toán ngay tiền hàng Hay giao dịch giữa ngân hàng và các định chế tài chínhkhác với các chủ thể (tổ chức, cá nhân…) thể hiện dưới hình thức cho vay tức làngân hàng cấp tín dụng cho bên đi vay, sau một thời gian nhất định người đi vayphải thanh toán vốn gốc và lãi.

Tóm lại, trên cơ sở tiếp cận theo chức năng hoạt động của ngân hàng thì tíndụng được hiểu như sau:

Tín dụng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa bên cho vay(ngân hàng và các định chế tài chính khác) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp vàcác chủ thể khác), trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụngtrong một thời gian nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vôđiều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán

1.2.2 Các hình thức tín dụng đối với kinh tế tư nhân.

Trong suốt quá trình tồn tại và phát triển, hệ thống ngân hàng thương mại đãkhông ngừng đổi mới hoạt động, cơ chế quản lý cũng như đưa ra hàng loạt các sảnphẩm, dịch vụ phong phú và đa dạng để phù hợp hơn với những thay đổi của nềnkinh tế thị trường Cùng với sự phát triển chung của toàn bộ nền kinh tế - xã hội,các hình thức tín dụng ngân hàng cũng ngày càng trở lên phong phú và đa dạng hơn

để đáp ứng các nhu cầu khác nhau về vốn trong nền kinh tế Tín dụng ngân hàng đãtrở thành yếu tố vô cùng quan trọng trong sự phát triển của các chủ thể trong nềnkinh tế, nó giữ vai trò then chốt trong việc thúc đẩy đầu tư, mở rộng sản xuất vàphát triển kinh tế xã hội Đối với khu vực KTTN, hệ thống ngân hàng thương mạicung cấp các hình thức tín dụng sau:

1.2.2.1 Cho vay từng lần (cho vay giản đơn).

Cho vay từng lần là tiến trình cho vay theo từng đối tượng cụ thể, như cho vaytheo từng lần mua hàng, hoặc cho vay dự trưc các loại hàng tồn kho (tồn khonguyên nhiên vật liệu, bán thành phẩm, thành phẩm…), hoặc tài khoản các khoảnphải thu

Loại vay này có đặc điểm là: Ngân hàng cho vay và thu nợ theo từng món vay.Khách hàng xin vay món nào thì phải làm hồ sơ xin vay món đó, trong 1 quý màkhách hàng có bao nhiêu món vay thì sẽ phải làm bấy nhiêu hồ sơ xin vay, bộ phậntín dụng sẽ tiến hành phân tích và xem xét cho vay đối với từng khoản vay cụ thể.Việc tham gia vốn của ngân hàng cho từng đối tượng vay, có hai phương pháp thamgia của ngân hàng như sau:

Trang 11

Ngân hàng tham gia theo phần cho từng đối tượng vay cụ thể, nghĩa là ngânhàng chỉ tài trợ một phần nhất định còn phần còn lại bên đi vay phải sử dụng vốn tự

có của mình để trang trải

Ngân hàng cho vay 100% nhu cầu vốn của một số đối tượng vay cụ thể Khi

áp dụng phương pháp này chính sách tín dụng thường có các quy định cụ thể cácloại tài sản hoặc chi phí thuộc đối tượng vay và không thuộc đối tượng vay Tài sản

và chi phí không thuộc đối tượng vay thì bên vay sẽ phải sử dụng vốn tự có đểthanh toán, còn lại ngân hàng sẽ tài trợ 100%

Hình thức cho vay này thường được áp dụng với những khách hàng khôngthường xuyên, khách hàng thường xuyên nhưng chưa được ngân hàng tín nhiệm cho

áp dụng hạn mức tín dụng và trong trường hợp yêu cầu khách hàng phải có tài sảnđảm bảo

1.2.2.2 Cho vay vốn lưu động theo hạn mức tín dụng:

Cho vay vốn lưu động theo hạn mức tín dụng là loại cho vay để đáp ứng toàn

bộ nhu cầu vốn lưu động thiếu hụt của bên vay Đây là loại cho vay tổng hợp đápứng toàn bộ nhu cầu dự trữ tồn kho về nguyên liệu, hàng hóa và thu nợ khi códoanh thu phát sinh từ việc bán hàng Loại vay này có đặc điểm cơ bản sau:

Đối tượng cho vay là toàn bộ vốn nhu cầu vốn lưu động thiếu hụt, vì vậy phảixác định hạn mức tín dụng để làm cơ sở cho việc giải ngân

Không có kỳ hạn nợ cụ thể gắn với từng lần giải ngân mà chỉ có thời hạn chovay cuối cùng và các điều kiện sử dụng vốn vay, trừ một số trường hợp đặc biệt.Chi phí mà người đi vay phải trả bao gồm chi phí lãi và chi phí phi lãi, chi phíphi lãi thông thường bao gồm chi phí cam kết sử dụng hạn mức tín dụng và số dưtiền gửi bù trừ

Cho vay vốn lưu động theo hạn mức tín dụng có thời hạn từ vài ngày đến 1năm tùy theo chu kỳ sản xuất và khả năng tài chính của từng bên vay, loại vay này

là loại vay để đáp ứng nhu cầu vốn thời vụ

Loại vay này được áp dụng với khách hàng là các chủ thể có hoạt động sảnxuất, kinh doanh mang tính thời vụ, thường xuyên phải vay – trả, tốc độ luânchuyển vốn tín dụng nhanh và có mức độ tín nhiệm cao đối với ngân hàng

1.2.2.3 Chiết khấu các chứng từ có giá.

Chiết khấu các chứng từ có giá là một nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn, trong đókhách hàng chuyển nhượng các chứng từ có giá (thương phiếu, trái phiếu, kỳphiếu…) chưa đáo hạn cho ngân hàng để đổi lấy một số tiền bằng mệnh giá của trái

Trang 12

phiếu trừ đi lãi chiết khấu và hoa hồng phí (nếu có) Như vậy, với những CTCGchưa đáo hạn khách hàng có thể yêu cầu ngân hàng chiết khấu bằng cách làm giấy

đề nghị chiết khấu và lập các thủ tục mà cán bộ tín dụng yêu cầu Ngân hàng sẽ tiếnhành phân tích tín dụng, nếu mọi rủi ro là nằm trong giới hạn và tầm kiểm soát củangân hàng thì ngân hàng sẽ tiến hành chiết khấu cho khách hàng Thông thường cácngân hàng chỉ chấp nhận chiết khấu các chứng từ có giá mà thời hạn còn lại củachúng là nhỏ hơn 90 ngày Trong trường hợp ngân hàng cần vốn để thanh toán vàđầu tư ngân hàng có thể mang các chứng từ có giá này đến Ngân hàng Trung Ươngxin tái chiết khấu

1.2.2.4 Cho vay thấu chi.

Là nghiệp vụ cho vay ngắn hạn bổ sung vốn lưu động thiếu hụt nhằm cân đốingân quỹ hàng ngày trên tài khoản vãng lai của khách hàng tránh phải đi vay nhiềulần với nhiều thủ tục phức tap, phần lớn là đáp ứng nhu cầu chi trả, thanh toán Tàikhoản vãng lai là tài khoản mà ngân hàng mở cho khách hàng để ghi chép nghiệp vụgửi tiền và rút tiền của khách hàng, đây là một tài khoản lưỡng tính có thể dư Có và cóthể dư Nợ Khi tài khoản này dư Có thể hiện số tiền đang gửi tại ngân hàng còn khi tàikhoản này dư Nợ thì thể hiện số tiền khách hàng đang vay của ngân hàng

Hình thức tín dụng này thường được áp dụng cho các khách hàng có nhu cầuthanh toán không dùng tiền mặt cao d

1.2.2.5 Cho vay trả góp.

Cho vay trả góp là các khoản cho vay nhằm tài trợ cho nhu cầu mua sắm máymóc trang thiết bị, nhu cầu tiêu dùng trong gia đình và một số nhu cầu khác củakhách hàng Loại vay này thường có thời hạn trên 1 năm, tiền vay được thanh toándần cho ngân hàng theo đúng định kỳ và theo nhiều kỳ hạn trong suốt kỳ hạn trả nợ.Các điều khoản về mức cho vay, lãi suất vay, thời hạn vay, kỳ hạn trả nợ, mứctrả gốc và lãi của từng lần được bên cho vay và bên vay thỏa thuận rõ ràng tronghợp đồng tín dụng

Cho vay trả góp là một thuật ngữ bao gồm cả việc ngân hàng mua khoản nợphát sinh do những đơn vị bán chịu hàng hóa, dịch vụ trả góp cho các tổ chức cà cánhân Hình thức này vừa đáp ứng nhu cầu vốn kinh doanh của doanh nghiệp lại vừa

hỗ trợ tiêu thụ hàng hóa Đây là một hình thức tín dụng có tính kích cầu rất cao từ

đó kích thích được sự phát triển sản xuất của các doanh nghiệp, góp phần thúc đẩyphát triển kinh tế, nâng cao đời sống của người dân

Trang 13

1.2.2.6 Tín dụng cho thuê tài chính.

Cho thuê tài chính là một hình thức tài trợ tín dụng trung và dài hạn thông quaviệc cho thuê máy móc trang thiết bị, phương tiện vận chuyển trên cơ sở hợp đồngcho thuê giữa bên cho thuê với bên đi thuê Theo đó bên cho thuê cam kết mua máymóc trang thiết bị, phương tiện vận chuyển theo yêu cầu của bên đi thuê và nắmquyền sở hữu đối với tài sản cho thuê và bên thuê sử dụng tài sản thuê và thanh toántiền thuê trong suốt thời gian hai bên thỏa thuận

Hình thức cấp tín dụng của cho thuê tài chính là bằng tài sản, bên đi thuê chỉ

có quyền sử dụng tài sản và định kỳ thanh toán tiền thuê cho bên cho thuê theo thỏathuận Thời hạn thuê chiếm phần lớn thời gian sử dụng của tài sản (ít nhất là 60%thời gian hoạt động theo thiết kế) và trong thời gian này bên thuê không được hủyngang hợp đồng Khi hết hợp đồng thuê hết thời hạn thì bên thuê có thể mua lạihoặc ký hợp đồng thuê tiếp theo thỏa thuận của hai bên Tổng số tiền cho thuê củamột tài sản ít nhất tương đương với giá trị của tài sản trên thị trường vào thời điểm

ký hợp đồng

Các hình thức cấp tín dụng này chính là các dịch vụ và sản phẩm mà các ngânhàng thương mại đưa ra để phục vu khách hàng Nhu cầu của mỗi khách hàng là rấtkhác nhau cùng với sự cạnh tranh khốc liệt trên thị trường cung cấp các dịch vụ tàichính hiện nay là động lực để các sản phẩm và dịch vụ của các ngân hàng phát triển

cả về chất lượng và số lượng để đáp ứng tốt nhất các nhu cầu của khách hàng, qua

đó khẳng định được tên tuổi, vị thế và thị phần của ngân hàng mình Với mỗi đốitượng khách hàng khác nhau, chúng ta sẽ phải có các sản phẩm dịch vụ khác nhauvới mức lãi suất, thời hạn vay hợp lý để phù hợp với nhu cầu thực tế của kháchhàng Nhận thức rõ về vấn đề này là vô cùng cần thiết, nhất là khi đối tượng cho vay

là khu vực KTTN, là đối tượng khách hàng có độ rủi ro tương đối cao

1.2.3 Đặc điểm của tín dụng ngân hàng đối với kinh tế tư nhân.

Trong nền kinh tế thị trường thì hoạt động tín dụng rất phong phú và đa dạng.Theo các tiêu thức khác nhau thì các loại hình tín dụng cũng được phân loại khácnhau và từ đó kéo theo các đặc điểm khác nhau Khu vực KTTN được chủ yếu gồmcác doanh nghiệp tư nhân, các hộ sản xuất và kinh doanh cá thể, cá nhân sản xuấtkinh doanh

Vậy hình thức tín dụng đối với thành phần KTTN có các đặc trưng sau:

Thứ nhất, khu vực KTTN phần lớn là các thành phần kinh tế có quy mô sản

xuất kinh doanh nhỏ nên mức tín dụng đối với khu vực này cũng đa phần là nhỏ bởi

Trang 14

lẽ các doanh nghiệp lớn thường là đã có lịch sử phát triển lâu dài đã có những vị thếnhất định trên thị trường nên họ tận dụng được một lượng rất lớn tín dụng thươngmại, có lợi thế cạnh tranh hơn tín dụng ngân hàng, mặt khác các doanh nghiệp tưnhân lớn thường phát triển theo hướng tập đoàn kinh tế nên có thể có sự chi phốivốn giữ các công ty con và các công ty thành viên.

Thứ hai, tín dụng đối với khu vực KTTN chủ yếu là nhằm mở rộng hoạt động

sản xuất kinh doanh và đầu tư trang thiết bị công nghệ để nâng cao năng lực sảnxuất nên các khoản tín dụng thường là tín dụng trung và dài hạn

Khu vực này có số lượng khách hàng rất đông đảo, với các nhu cầu vay đadạng và phong phú để phát triển ở mọi khu vực của nền kinh tế từ nông – lâm –thủy sản đếncông nghiệp, thương nghiệp và dịch vụ, tiềm năng phát triển của củakhu vực này là vô cùng lớn và hứa hẹn một mảng thị trường đầy tiềm năng nếu cácngân hàng biết khai thác bằng cách đưa ra các sản phẩm hợp lý để hỗ trợ cho cácthành phần kinh tế tận dụng hết các điều kiện và tiềm năng của mình để phát triển

1.2.4 Vai trò của tín dụng ngân hàng trong phát triển kinh tế tư nhân.

Hệ thống tài chính của mỗi quốc gia đều cơ bản dựa trên nền tảng bao gồmcác tổ chức trung gian tài chính mà trong đó ngân hàng có vai trò vô cùng quantrọng và thị trường tài chính Tuy nhiên ở mỗi một nước lại có cấu trúc tài chínhkhác nhau và hiện nay có thể chia làm hai hình mẫu cấu trúc tài chính cơ bản là: Hệthống tài chính dựa vào thị trường tài chính (thị trường chứng khoán) và hệ thốngtài chính dựa vào hệ thống ngân hàng Mỗi loại cấu trúc lại có các ưu nhược điểmkhác nhau và phù hợp với những điều kiện khác nhau của mỗi quốc gia khi áp dụng

Ở các quốc gia trên thế giới thì thị trường tài chính rất lâu đời và hoạt động rấthiệu quả và đã trở thành một kênh dẫn vốn vô cùng hiệu quả cho nền kinh tế Song

ở Việt Nam chúng ta,thị trường tài chính mà trong đó tiêu biểu là thị trường chứngkhoán còn chưa hoàn thiện, còn nhiều bất cập trong hoạt động cũng như cơ chế tổchức, cơ chế thông tín vẫn chưa minh bạch và rõ ràng trong khi đây là một yếu tố

vô cùng quan trọng trong hoạt động của thị trường tài chính, nó giúp cho các chủthể hoạt động một các hiệu quả và công bằng hơn, tuy nhiên điều này lại là điềuchưa được thực hiện tốt tại Việt Nam và nó làm cho thị trường tài chính Việt Namtrở nên kém hấp dẫn đối với các nhà đầu tư Đây là một trong số các nguyên nhânkhiến cho các ngân hàng thương mại ở Việt Nam vốn đã có một rất quan trọngtrong việc dẫn vốn cho nền kinh tế thì giờ đây vai trò của nó ngày càng được khẳngđịnh một cách rõ nét hơn

Trang 15

Các ngân hàng thương mại đã trở thành kênh dẫn vốn không thể thiếu cho cácchủ thể trong nền kinh tế mà đăc biệt là đối với khu vực KTTN bởi lẽ nếu như khuvực kinh tế Nhà nước thì nhu cầu về vốn được đáp ứng một phần bởi ngân sách vàcác nguồn FDI có định hướng của nhà nước Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài thìlại có một nguồn vốn vô cùn phong phú từ nước ngoài cung vốn khu vực nàythường chủ động được nguồn vốn và họ thường chủ động được vốn trong kế hoạchđầu tư của mình nên trong các cuộc cạnh tranh các doanh nghiệp trong nước thường

bị thua bởi nhân tố này Chỉ riêng có khu vực KTTN là phải hoàn toàn chủ động vàphải dựa trên năng lực thật sự của họ để tìm kiềm dự án đầu tư của mình, vốn của

họ hoàn toàn là của bản thân, gia đình, những người thân và họ hàng giúp đỡ nếu cóchăng thì họ chỉ được hỗ trợ một phần trong chính sách phát triển từng thời kỳ củanhà nước như trong năm 2009 nhà nước hỗ trợ cho những cá nhân và hộ sản xuấtnông nghiệp và doanh nghiệp tư nhân sản xuất 4% lãi suất khi vay vốn ngân hàng

để sản xuất kinh doanh Vì vậy dẫn đến vốn của khu vực KTTN thường rất nhỏ vàluôn thụ động về vốn trong kế hoạch sản xuất kinh doanh

Như chung ta đã biết vốn là vấn đề hết sức quan trọng trong sự phát triển củamỗi nền kinh tế, nó là năng lượng là thứ dầu bôi trơn cho sự hoạt động của nền kinh

tế, nếu thiếu nó thì nền kinh tế sẽ không thể phát triển được Tất cả các hoạt độngcủa các chủ thể kinh tế đều cần tới vốn và coi đó là vấn đề quan trọng đầu tiên đểkhởi đầu việc sản xuất hay kinh doanh

Trong nền kinh tế thị trường, sự tồn tại và phát triển của khu vực KTTN làmột tất yếu khách quan Cũng như tất cả các khu vực kinh tế khác thì trong quátrình sản xuất kinh doanh các thành phần kinh tế đều sử dụng vốn tín dụng ngânhàng để đáp ứng nhu cầu thiếu hụt vốn và để tối đa hóa hiệu quả sử dụng vốn củamình thông qua việc sử dụng đòn bẩy tài chính Vốn tín dụng có vai trò rất quantrọng đối với khu vực KTTN, nó không những thúc đẩy sự phát triển của khu vựckinh tế này mà thông qua đó còn tác động trở lại thúc đây hệ thống ngân hàng pháttriển bằng việc các ngân hàng đổi mới chính sách tiền tệ và hoàn thiện cơ chế, chínhsách về tín dụng, thanh toán ngoại hối

Qua đó chúng ta thấy được vai trò vô cùng quan trọng của vốn và hệ thốngngân hàng thương mại đối với sự phát triển của khu vực KTTN:

Thứ nhất, hệ thống các ngân hàng thương mại đã cấp tín dụng, tạo đà và cung

cấp nguồn lực phát triển cho khu vực này Góp phần đảm bảo cho hoạt động củakhu vực kinh tế này được liên tục

Trang 16

Trong nền kinh tế thị trường đòi hỏi các đơn vị phải luôn cải tiến kỹ thuật,công nghệ, nâng cao chất lượng và cải tiến mẫu mã sản phẩm, đổi mới công nghệmáy mócđể tồn tại đứng vững và phát triển Trên thực tế thì không có một đơn vịnào có thể đảm bảo toàn bộ nguồn vốn cho quá trình hoạt động sản xuất kinh doanhcủa mình Vì thế mà việc mở rộng và phát triển sản xuất kinh doanh phần lớn đềudựa vào nguồn tài trợ từ tín dụng ngân hàng Vốn tín dụng tạo điều kiện cho cácđơn vị mở rộng sản xuất kinh doanh, mua sắm trang thiết bị máy móc và đổi mớicông nghệ Có vốn khu vực KTTN sẽ hoạt động linh hoạt và hiệu quả hơn rất nhiều

từ đó góp phần thúc đẩy việc sản xuất kinh doanh được tiến hành một cách liên tục

Thứ hai, tín dụng ngân hàng góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của khu

vực KTTN, giúp họ tận dụng được những lợi thế của mình và tạo ra đòn bẩy tàichính để phát triển hiệu quả hơn

Khi sử dụng vốn tín dụng thì các thành phần kinh tế phải tôn trọng các điềukhoản của hợp đồng tín dụng bằng việc phải thanh toán nợ gốc và lãi cho ngân hàngkhi đến hạn Hơn thế nưa để tiếp cận được nguồn vốn của ngân hàng thì các đơn vịnày phải hoạt động có hiệu quả ở các thời điểm trước đó, khả năng tài chính phảiđảm bảo trả nợ Do đó đòi hỏi các đơn vị phải cố gắng trong hoạt động sản xuấtkinh doanh tìm ra các phương án khả thi và hiệu quả để tạo ra tỷ suất lợi nhuận lớnhơn lãi suất ngân hàng thì mới đảm bảo trả nợ cho ngân hàng và đảm bảo lợi íchtrong hoạt động sản xuất và kinh doanh Và trong quá trình cho vay thì luôn có sựkiểm tra, giám sát và đôn đốc của cán bộ tín dụng điều này buộc các đơn vị phải sửdụng vốn đúng mục đích và hiệu quả tránh được những rủi ro xảy ra trong tương lai

Thứ ba, tín dụng ngân hàng góp phần tập trung vốn sản xuất, nâng cao năng

lực cạnh tranh của khu vực KTTN và tạo công bằng trong cạnh tranh giữa các khuvực kinh tế

Cạnh tranh là một quy luật tất yếu và khách quan trong nền kinh tế thị trường,muốn tồn tại, đứng vững và phát triển đòi hỏi các chủ thể kinh tế phải chiến thắngtrong cạnh tranh Đặc biệt là đối với khu vực KTTN, vốn có nhiều hạn chế hơn sovới khu vực kinh tế nhà nước và khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài Để cóchiến thắng trong cạnh tranh thì một yếu tố quan trọng là phải có vốn lớn để đầu mởrộng sản xuất kinh doanh, để làm được như với một khả năng tích lũy thấp thì phảimất nhiều năm mới thực hiện được, khi đó thì cơ hội để phát triển không còn nữa.Như vậy để đáp ứng đáp ứng kịp thời cho cơ hội sản xuất kinh doanh thì các chủ thểkinh tế chỉ có thể nhờ vào tind ụng ngân hàng

Trang 17

Thứ tư, nguồn vốn tín dụng ngân hàng giúp khu vực KTTN nắm bắt được cơ

hội của thị trường Vốn được đáp ứng và đưa ngay vào sản xuất kinh doanh và khi

sử dụng vốn tín dụng ngân hàng thì trách nhiệm của các chủ thể được nâng lên do

có áp lực và sự kiểm soát từ phía ngân hàng Tín dụng ngân hàng có vai trò khôngthể thiếu được trong sự tồn tại và phát triển của KTTN và KTTN giúp cho các ngânhàng thương mại mở rộng được đối tượng khách hàng, tăng thị phần và lợi nhuânđầu tư Đây là mối quan hệ tương hỗ góp phần tích cực trong quá trình phát triểnkinh tế - xã hội

1.2.5 Quy trình tín dụng đối với khu vực kinh tế tư nhân.

Đối với bất kỳ một khách hàng nào khi có quan hệ tín dụng đối với ngân hàngthì điều bắt buộc là phải thực hiện theo các bước của quy trình tín dụng để đảm bảocông bằng và an toàn cho cả khách hàng và ngân hàng Quy trình tín dụng đượcthực hiện theo các bước sau:

Hồ sơ do khách hàng lập:

Giấy đề nghị vay vốn

Các giấy tờ chứng minh năng lực về năng lực pháp lý, năng lực hành vi dân sự.Các giấy tờ chứng minh tình hình tài chính, năng lực tài chính trong quá khứcũng như trong hiện tại cũng nhưcác giấy tờ chứng minh khả năng trả nợ vay (thunhập) Như các bảng cân đối kế toán, báo cáo tài chính, báo cáo lưu chuyển tiền tệ,bảng lương, các thu nhập khác…

Phương án sản xuất kinh doanh trong tương lai, mục đích sử dụng vốn vay.Các tài liệu đảm bảo tiền vay gồm các giấy tờ chứng minh quyền sở hữu đốivới tài sản:

Hồ sơ do Ngân hàng lập:

Các báo cáo về thẩm định và tái thẩm định

Báo cáo kiểm tra sử dụng vốn vay

Báo cáo phân tích tình hình tài chính

Các loại thông báo cho vay hay từ chối cho vay

Trang 18

Thông báo đến hạn, thông báo nợ quá han

Sổ theo dõi cho vay và thu nợ

Thông báo tạm ngừng cho vay hoặc chấm dứt cho vay

Ngoài việc đánh giá dựa vào các tài liệu do khách hàng cung cấp thì ngânhàng còn phải dựa vào rất nhiều các thông tin khác như phỏng vấn trực tiếp kháchhàng, thông tin từ hồ sơ lưu trữ của khách hàng tại ngân hàng, thông tin từ các mốiquan hệ của khách hàng Hơn nữa ngân hàng còn phải phân tích để đánh giá cả nhữngyếu tố phi tài chính như đánh giá năng lực pháp lý, đánh giá uy tín của khách hàng…

1.2.5.3 Quyết định cấp tín dụng.

Kết quả của quá trình phân tích tín dụng là đưa ra quyết định cho vay haykhông cho vay Đối với những khoản vay nhỏ, ngân hàng thường giao quyền phánquyết cho cán bộ tín dụng còn với những khoản vay lớn thì quyền phán quyết thuộc

về hội đồng tín dụng (mức độ lớn hay nhỏ của khoản vay thì mỗi ngân hàng sẽ cónhững quy định riêng và sẽ có sự phân cấp xử lý rõ ràng cho các phòng ban)

Nếu hồ sơ vay vốn bị từ chối thì ngân hàng sẽ phải thông báo cho khách hàngbằng văn bản và cho khách hàng biết lý do từ chối cấp tín dụng của ngân hàng.Nếu yêu cầu vay vốn của khách hàng được chấp thuận thì ngân hàng cũngphải thông báo cho khách hàng biết bằng văng bản, rồi sau đó hai bên sẽ cùng kýkết hợp đồng tín dụng và hợp đồng bảo đảm tiền vay (nếu có)

Trang 19

1.2.5.4 Ký kết hợp đồng tín dụng.

Hợp đồng tín dụng là 1 văn bản thỏa thuận giữa ngân hàng và khách hàngtrong đó đặt ra nghĩa vụ và quyền hạn của các bên, đưa ra các bảo đảm nhất định vàthường đưa ra sự quy định bảo đảm sự kiểm soát của ngân hàng đối với khách hàng

Nội dung chủ yếu của hợp đồng:

- Tên gọi chính thức của hợp đồng

- Tên, địa chỉ của các bên tham gia hợp đồng

- Mức cho vay

- Điều kiện giải ngân và sử dụng tiền vay (lãi suất, phí, thwoif ạng sử dụngvốn vay, phươn thức và tiến độ trả nợ)

- Điều kiện đảm bảo tín dụng

- Quy định về bên trang trải chi phí kí kết hợp đồng

- Các điều khoản thi hành khác

- Chữ ký và dấu của các bên

1.2.5.5 Giải ngân (phát tiền vay).

Hồ sơ của khoản vay sau khi được giám đốc ký duyệt cho vay được chuyểncho kế toán thực hiện nghiệp vụ hạch toán, thanh toán rồi chuyển cho thủ quỹ đểgiải ngân cho khách hàng

Giải ngân là phát tiền vay cho khách hàng trên cơ sở mức tín dụng đã cam kếttrong hợp đồng tín dụng

Nguyên tắc giải ngân là luôn luôn gắn liền sự vận động tiền tệ với sự vận độngcủa hàng hóa và các dịch vụ đối ứng nhằm đảm bảo khả năng thu hồi nợ sau này

1.2.5.6 Giám sát và quản lý tín dụng.

Ngân hàng phải luôn luôn thực hiện công tác giám sát và quản lý đối vớikhoản tín dụng cấp cho khách hàng để đảm bảo việc khoản tín dụng được sử dụngđúng mục đích và hiệu quả Việc kiểm tra giám sát phải được thực hiện trong suốtquá trình trước trong và sau khi cho vay từ khi bắt đầu lập hồ sơ tín dụng cho tới khithanh lý hợp đồng tín dụng

Kiểm tra trước khi cho vay là việc thẩm định các điều kiện vay vốn theo quy định.Kiểm tra trong khi cho vay bao gồm: Kiểm tra mục đích, đối tượng vay vốn;kiểm tra mức vay và thời hạn cho vay; kiểm tra tính hợp pháp, hợp lý của hợp đồngvay vốn (ví dụ: hợp dồng cung cấp nguyên vật liệu, các chứng từ hóa đơn có liênquan, hồ sơ và giá trị thực tế của tài sản thế chấp, cầm cố)

Trang 20

Kiểm tra sau khi cho vay: sau khi cấp tín dụng nhất định cán bộ tín dụng phảikiểm tra việc sử dụng tiền vay ngay tại trụ sở kinh doanh của khách hàng Định kỳ cán bộtín dụng phải kiểm tra và phân tích nợ để phát hiện nợ quá hạn, nợ khó đòi từ đó đưa rabiện pháp xử lý thích hợp để từ đó làm lành mạnh hóa quan hệ tín dụng.

- Khởi kiện trước pháp luật: việc khởi kiện nhằm buộc khách hàng phải trả nợcho ngân hàng thông qua việc đề nghị cơ quan pháp luật được bán tài sản thế chấp

để trả nợ hoặc yêu cầu người bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho kháchhàng Nếu nợ vẫn chưa trả hết mà ngân hàng đánh giá khả năng tài chính của kháchhàng là khó khăn không thể khắc phục được thì lập hồ sơ đề nghị tòa án tuyên bốphá sản khách hàng đó để ngân hàng tiến hành thanh lý tài sản và thu hồi nợ Ngânhàng thương mại nơi cho vay có quyền khởi kiện khách hàng (dân sự hoặc hình sự)trong những trường hợp sau:

Khách hàng có nợ quá hạn do nguyên nhân chủ quan, nhưng không có biệnpháp khắc phục khả thi để trả nợ ngân hàng

Khách hàng có năng lực trả nợ nhưng cố tình trốn tránh trả nợ ngân hàng theothỏa thuận

Khách hàng có hành vi gian lân, lừa đảo

Khách hàng có các vi phạm khác theo quy định của pháp luật

1.2.5.7 Thu nợ.

Căn cứ vào đặc điểm sản xuất kinh doanh, khả năng tài chính thu nhập vànguồn trả nợ của từng khách hàng mà ngân hàng nơi cho vay và khách hàng thỏathuận về việc trả nợ gốc và lãi cho vay như sau:

Các kỳ hạn trả lãi

Trang 21

Các kỳ hạn trả lãi cùng với một phần nợ gốc hoặc theo kỳ hạn riêng: tháng,quý, năm.

Khi đến hạn trả nợ gốc hoặc lãi mà khách hàng không trả nợ đúng hạn vàkhong được điều chỉnh kỳ hạn trả nợ gốc hoặc lãi hoặc không được gia hạn nợ gốchoặc lãi thì ngân hàng thương mại nơi cho vay chuyển toàn bộ số dư nợ sang nợ quáhạn và khách hàng phải chịu lãi quá hạn (lãi phạt)

Trường hợp khách hàng trả nợ trước hạn số lãi phải trả chỉ tính từ ngày vayđến ngày trả nợ Giám đốc nơi cho vay thỏa thuận cùng khách hàng về điều kiện, sốphí trả trước hạn, số phí trả trước hạn phải được ghi vào hợp đồng tín dụng

1.2.6 Rủi ro và một số biện pháp phòng ngừa rủi ro trong tín dụng đối với kinh tế tư nhân.

1.2.6.1 Rủi ro trong cho vay KTTN ở các ngân hàng thương mại.

Khu vực KTTN là khu vực kinh tế với nhiều thành phần kinh tế với nhữngquy mô tổ chức sản xuất, kinh doanh đa dạng và ở tất cả các lĩnh vực của nền kinh

tế từ những ngành đơn giản như sản xuất nông nghiệp đến những ngành chứa đựngcông nghệ cao như công nghệ phần mềm Vì thế mà cho vay đối với KTTN chắcchắn sẻ ẩn chứa rất nhiều khó khăn và rủi ro đối với các tổ chức tín dụng hơn là cáckhu vực kinh tế khác Một số rủi ro có thể nhận thấy như:

Thứ nhất, do đặc điểm phần lớn các đơn vị sản xuất kinh doanh của KTTN đề

có quy mô tương đối nhỏ, vốn sản xuất kinh doanh hạn chế, trình độ trong quản lý

và điều hành của người lãnh đạo chưa cao nên các đơn vị kinh tế này thường gặp rấtnhiều khó khăn trong việc sản xuất và kinh doanh từ đó ảnh hưởng tới khả năng trả

nợ của khách hàng, có thể ngân hàng sẽ không thu hồi được nợ đúng hạn hoặc dẫntới mất vốn

Thứ hai, hiện nay cơ chế tín dụng còn nhiều điểm chưa phù hợp với nhu cầu

phát triển của khu vực KTTN, ngoài ra khả năng thẩm định cuả cán bộ tín chưa cao,phần lớn dựa trên những phán xét cá nhân, chưa quen với việc thu thập và xử lýthông tin từ các nguồn bổ sung khác của khách hàng Nên nhiều khi các quyết địnhtín dụng không chính xác dẫn tới việc cho vay không hiệu quả

Thứ ba, cơ sở vật chất kỹ thuật, trình độ công nghệ của khu vực KTTN

thường là yếu kém, lạc hậu nên ảnh hưởng rất nhiều đến năng suất, chất lượng sảnphẩm và chưa tận dụng được hết năng lực làm việc của con người Từ đó dẫn tớigiảm sản lượng cuả đơn vị và có thể làm chậm thời gian trả nợ của khách hàng vàdẫn tới rủi ro cho ngân hàng

Trang 22

Thứ tư, công tác kiểm tra, giám sát sau khi cho vay của ngân hàng chưa thực

sự được chú trọng Trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng, các ngân hàng đang

cố gắng thực hiện việc đa dạng hóa khách hàng và đa dạng hóa sản phẩm tín dụngtuy nhiên hoạt động tín dụng đối với khu vực KTTN lại chưa được quan tâm mộtcách đúng mực và đúng hướng bởi lẽ các ngân hàng thương mại rất “ngại” cho cácđối tượng có quy mô nhỏ vay đặc biệt là đối tượng hộ sản xuất kinh doanh cá thể và

cá nhân và đặc biệt hơn nữa là nếu họ sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực nôngnghiệp, một lĩnh vực mà cả Đản và Nhà nước đều quan tâm nhưng lại chưa có biệnpháp khuyến khích phát triển phù hợp bởi lẽ các đối tượng của khu vực KTTN ẩnchứa rất nhiều rủi ro Vì thế mà các ngân hàng thương mại đã đánh mất một phầnlợi nhuận không nhỏ từ việc cấp tín dụng đối với khu vực này

1.2.6.2 Một số biện pháp nhằm hạn chế rủi ro trong cho vay đối với kinh tế tư nhân.

Để nâng cao hơn nữa chất lượng và mang lại hiệu quả trong đầu tư tín dụngđồng thời hạn chế tối đa rủi ro tín dụng đối với KTTN thì các ngân hàng thương mạiphải tăng cường hơn nữa việc kiểm tra, giám sát các khoản vay và đề ra các biệnpháp hữu hiệu để xử lý các khoản vay khi xay ra vấn đề

Sau khi giải ngân cho khách hàng, cán bộ tín dụng phải thường xuyên thep dõihoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng nhằm đanh giá mục đích sử dụngvốn vay và tiến độ thực hiện của phương án đầu tư Việc này là vô cùng quan trọng

và cẩn thiết bởi vì nó giúp cho các tổ chức tín dụng phát hiện các vấn đề nảy sinhsớm và có thể đưa ra những biện pháp xử lý hợp lý và kịp thời để hạn chế tối tối đarủi ro và tổn thất Tuy nhiên ở nước ta hiện nay, các ngân hàng thương mại chưađược cung cấp đầy đủ chính xác và thường xuyên về khách hàng của họ nhất là cácthông tin về tài chính thực tế của khách hàng Để khắc phục tình trạng này thì cácngân hàng thương mại phải tận dụng tối đa các cuộc găp gỡ trực tiếp đối với kháchhàng và quan trọng hơn là ngân hàng nên tận dụng các mối quan hệ của ngân hàng

và của khách hàng để tìm hiểu rõ hơn về khách hàng như chính quyền địa phương,bạn hàng, bạn bè có quan hệ với khách hàng Đây là những thông tin vô cùng quantrọng và đôi khi nó còn quan trọng hơn là những thông tin mà khách hàng cung cấp,

và các cán bộ tín dụng cần đến thăm trực tiếp nơi làm việc và cơ sở sản suất kinhdoanh của khách hàng việc này giúp cho ngân hàng có thể tìm thấy những thông tinthực tế của khách hàng

Trang 23

Do một đặc điểm của khu vực KTTN là phần lớn tài chính không phân tách rõràng giữa ngân sách dùng cho hoạt động sản xuất kinh doanh và ngân sách cho tiêudùng gia đình Vì thế cán bộ tín dụng cần khéo léo tìm hiểu việc tổ chức tài chínhcủa khách hàng để tránh tình trạng khách hàng mất khả năng thanh toán.

Trong thực tế có thể vì những nguyên nhân chủ quan và khách quan khiến chokhách hàng không thể trả nợ đúng hạn Ngân hàng phải thường xuyên theo dõi,giám sát các khoản nợ, đôn đốc khách hàng Cùng khách hàng nghiên cứu tìm raphương thức trả nợ phù hợp có thể tư vấn cho khách hàng những biện pháp nhằm tháo

gỡ khó khăn và có thể thanh toán toàn bộ nợ gốc và lãi cho ngân hàng, hạn chế tối đaviệc phải giải chấp tài sản của khách hàng bởi việc này tốn rất nhiều thời gian

1.3 Chất lượng tín dụng đối với kinh tế tư nhân.

1.3.1 Khái niệm chất lượng tín dụng

Chất lượng tín dụng được hiểu là sự đáp ứng các yêu cầu hợp lý của kháchhàng có lựa chọn, đồng thời thúc đẩy kinh tế xã hội và đảm bảo sự tồn tại và pháttriển của ngân hàng Nói cách khác, chất lượng tín dụng là một chỉ tiêu tổng hợpphản ánh mức độ thích nghi của ngân hàng đối với sự phát triển của môi trường bênngoài, thể hiện sức mạnh cạnh tranh của ngân hàng trong quá trình cạnh tranh đểtồn tại

Nói cụ thể hơn, chất lượng tín dụng là chất lượng của món vay Một món vayđược đánh giá là có chất lượng tốt khi vốn vay được khách hàng sử dụng đúng mụcđích, phục vụ cho sản xuất kinh doanh có hiệu quả, đảm bảo trả nợ ngân hàng đúnghạn, bù đắp được chi phí và có lợi nhuận, có nghĩa là ngân hàng vừa tạo ra hiệu quảkinh tế vừa đem lại hiệu quả xã hội

Dựa vào lợi ích các bên tham gia trong quan hệ tín dụng, có thể xem xét kháiniệm chất lượng tín dụng trên ba khía cạnh sau:

- Đối với khách hàng: tín dụng phát ra phải phù hợp với mục đích tín dụng củakhách hàng với lãi suất, kỳ hạn nợ hợp lý, thủ tục giản đơn thu hút được khách hàngnhưng vẫn đảm bảo đúng nguyên tắc

- Đới với phát triển kinh tế xã hội: tín dụng phục vụ sản xuất và lưu thônghàng hóa, góp phần giải quyết việc làm, thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung sảnxuất

- Đối với ngân hàng thương mại: phạm vi, mức độ, giới hạn tín dụng phải phùhợp với thực lực của bản thân ngân hàng, đảm bảo nguyên tắc hoàn trả đúng hạn và

có lãi tín dụng và đảm bảo tính thanh khoản cho ngân hàng

Trang 24

Chất lượng tín dụng tỷ lệ thuận với hiệu quả và độ tin cậy trong hoạt động tín dụng.

1.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng.

1.3.2.1 Nhóm chỉ tiêu đánh giá quy mô

Tỷ lệ vốn tự có trên tổng tài sản Có (tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu)

Tình hình cho vay, dư nợ và thu nợ khu vực kinh tế tư nhân

Chỉ tiêu này được phản ánh qua các con số về doanh số cho vay, doanh số dư

nợ và doanh số thu nợ đối với kinh tế tư nhân

Doanh số cho vay khu vực kinh tế tư nhân là số tiền cho vay của ngân hàngđối với khách hàng đối với khách hàng thuộc khu vực kinh tế tư nhân trong mộtthời kỳ

Dư nợ tín dụng khu vực kinh tế tư nhân là số tiền mà khách hàng thuộc khuvực kinh tế tư nhân còn nợ ngân hàng tại một thời điểm

Doanh số thu nợ tín dụng khu vực kinh tế tư nhân là số tiền ngân hàng thu nợkhách hàng thuộc khu vực kinh tế tư nhân trong một thời kỳ

Thông qua đó, đánh giá chất lượng tín dụng của ngân hàng đối với thành phầnkinh tế này thông qua sự tăng trưởng hay giảm sút của các con số,

Trang 25

Tỷ lệ nợ quá hạn của khu vực kinh tế tư nhân

Nợ quá hạn trong kinh doanh tín dụng là khi đến thời hạn thanh toán khoản

nợ, người đi vay không có khả năng thực hiện ngay nghĩa vụ của mình đối vớingười cho vay Nợ quá hạn là kết quả của mối quan hệ tín dụng không hoàn hảo,trước hết nó vi phạm hợp đồng tín dụng về tính thời hạn, tính hoàn trả và lòng tincủa người cấp tín dụng với người nhận tín dụng

Về cơ bản, tỷ lệ nợ quá hạn là chỉ tiêu phản ánh các khoản tín dụng có vấn đề những khoản cho vay quá hạn mà ngân hàng không thu hồi được đúng hạn Đây làđiều mà các ngân hàng không mong muốn khi tiến hành cấp tín dụng cho kháchhàng, trong thực tế rất khó có thể giữ được tỷ lệ này bằng 0 bởi trong nền kinh tế thịtrường các chủ thể kinh tế phải chịu tác động của nhiều yếu tố cả chủ quan lẫn kháchquan dẫn tớ việc không trả nợ đúng hạn nhưng cơ bản là kết quả của sự không sẵn lòngchi trả của khách hàng vay vốn hoặc không có khả năng thực hiện hợp đồng để giảmbớt dư nợ hay toàn bộ khoản vay như thỏa thuận, cá biệt có âm mưu chiếm dụng vốn.Tuy nhiên thì các ngân hàng luôn có gắng duy trì tỷ lệ này càng thấp càng tốt (thường

-là ở mức dưới 1%)

Tỷ lệ nợ khó đòi ( nợ xấu)

Chỉ tiêu này phản ánh các khoản nợ đã qúa thời hạn gia hạn nợ quá hạn màkhách hàng còn chưa thực hiện được nghĩa vụ trả nợ của mình Cùng với chỉ tiêu nợquá hạn, chỉ tiêu này thể hiện chất lượng tín dụng tốt hay xấu, tỷ lệ này cao biểuhiện cho dấu hiệu của một khoản tín dụng xấu và ngược lại, nên hạn chế tỷ lệ này ởmức dưới 1% và chuyển hướng dần về 0%

 Tỷ lệ lợi nhuận từ cho vay kinh tế tư nhân

Tỷ lệ DT cho vay KTTN Doanh thu từ tín dụng KTTN

Tổng doanh thu hoạt động tín dụng

Đây là một chỉ tiêu quan trọng nhất để đo lường chất lượng tín dụng của ngânhàng Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của tín dụng đối với kinh tế tư nhân

Tỷ lệ này càng cao nghĩa là lợi nhuận thu được từ tín dụng đối với kinh tế tư nhânđóng góp vào thu nhập của ngân hàng càng lớn, thể hiện chất lượng tín dụng đối vớithành phần kinh tế này càng cao

Trang 26

1.3.2.2 Nhóm chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng không thể định lượng

 Chính sách quản trị, điều hành đúng đắn cùng với chiến lược phát triểnphù hợp với thực tế hoạt động kinh doanh của ngân hàng trong từng giai đoạn

 Hệ thống trang thiết bị, công nghệ hiện đại hỗ trợ cho công tác nghiệp vụmột cách thuận lợi và hiệu quả

 Đội ngũ cán bộ nghiệp vụ có trình độ, năng lực và đạo đức nghề nghiệp,đây là yếu tố cuối cùng và quan trọng nhất trong mọi hoạt động của ngân hàng

 Quy trình nghiệp vụ tín dụng khoa học, phù hợp với thực tế, đảm bảo quản

lý chặt chẽ qua trình cấp tín dụng, thuận tiện cho khách hàng và đảm bảo tín dụngcho ngân hàng

 Uy tín mà ngân hàng đã tạo dựng được trong nền kinh tế và các mối quan

hệ với các khách hàng truyền thống

1.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng kinh tế tư nhân

Quy mô tín dụng và chất lượng tín dụng là hai chỉ tiêu đi liền nhau Bởi lẽ, nếu

mở rộng quy mô tín dụng mà không tính đến chất lượng tín dụng thì sẽ dẫn tới rủi

ro rất lớn Nếu chỉ chú trọng việc tăng chất lượng tín dụng mà không quan tâm đếnquy mô tín dụng thì không thể đạt hiệu quả kinh tế tối ưu Do mối quan hệ mật thiếtgiữa hai chỉ tiêu này mà hầu hết những nhân tố tác động lên hai chỉ tiêu này thìcũng vó tác động lên chỉ tiêu còn lại và ngược lại

1.4.1 Các nhân tố khách quan

1.4.1.1 Môi trường kinh tế

Về tổng thể, nền kinh tế phát triển ổn định sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạtđộng tín dụng Khi đó, các quá trình sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế nóichung và của khu vực kinh tế tư nhân nới riêng sẽ có những điều kiện thuận lợi đểphát triển, tránh được những tác động xấu của nền kinh tế Một khi môi trường kinh

tế không ổn định, môi trường kinh doanh sẽ biến động sẽ gây khó khăn cho hoạtđộng của khu vực kinh tế tư nhân – khu vực không có sự hỗ trợ đặc biệt của nhànước thì quy mô và chất lượng tín dụng cũng bị ảnh hưởng mà trước hết là nợ quáhạn sau đó là quy mô tín dụng sẽ giảm dần

1.4.1.2 Môi trường xã hội

Tín dụng là quan hệ vay mượn dựa trên cơ sở lòng tin Sự tín nhiệm là cầu nốigiữa ngân hàng và khách hàng Ngân hàng nào có uy tín cao thì sẽ thu hút được sốlượng lớn các khách hàng và ngược lại khách hàng nào làm ăn hiệu quả được sự tínnhiệm trong quan hệ tín dụng sẽ được cấp vốn dễ dàng hơn và được hưởng các ưu

Trang 27

đãi của ngân hàng (lãi suất, thời gian ân hạn…) Niềm tin lẫn nhau là cơ sở để mởrộng tín dụng và đảm bảo cho chất lượng tín dụng.

1.4.1.3 Môi trường pháp lý

Nhân tố pháp lý bao gồm tính đồng bộ của hệ thống pháp luật tính đầy đủ vàthống nhất củ các văn bản dưới luật Đồng thời gắn liền với quá trình chấp hànhpháp luật và trình độ dân trí Pháp luật có nhiệm vụ tạo lập môi trường pháp lý chomọi hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra thuận tiện và đạt hiệu quả cao là cơ sởpháp lý để giải quyết tranh chấp Vì vậy nhân tố pháp luật có vị trí hết sức quantrọng trọng dối với hoạt động ngân hàng nói chung và hoạt động tín dụng nói riêng.Chỉ có trong điều kiện các chủ thể tham gia quan hệ tín dụng tuân thủ pháp luật mộtcách nghiêm túc thì mới đem lại lợi ích cho cả hai bên, chất lượng đảm bảo và quy

mô tín dụng có cơ hội được mở rộng

1.4.2 Các nhân tố chủ quan

1.4.2.1 Về phía khách hàng

Nếu các chủ thể kinh tế trong khu vực kinh tế tư nhân làm ăn có hiệu quả, uytín thì chắc chắn nhu cầu tín dụng của họ sẽ được ngân hàng đáp ứng đầy đủ.Ngược lại nếu các chủ thể này làm ăn thua lỗ, cạnh tranh không lành mạnh hoặctham gia các lĩnh vực kinh tế trái pháp luật thì các ngân hàng không thể cấp tíndụng cho họ được Kết quả là quy mô tín dụng không được mở rộng và chất lượngtín dụng không có cơ sở đảm bảo Do đó, để tiếp cận nguồn vốn tín dụng các chủthể của khu vực kinh tế tư nhân cần nỗ lực hơn nữa trong hoạt động kinh doanh đểtạo uy tín với các ngân hàng thương mại

1.4.2.2 Về phía các ngân hàng thương mại

 Chính sách tín dụng

Chính sách tín dụng là kim chỉ nam cho hoạt động tín dụng của ngân hàng.Một chính sách tín dụng đúng đắn sẽ thu hút nhiều khách hàng, đảm bảo khả năngsinh lời từ hoạt động tín dụng dựa trên cơ sở phân tán rủi ro, tuân thủ pháp luật,đường lối chính sách của Nhà nước Điều này có nghĩa là quy mô và chất lượng tíndụng phụ thuộc rất lớn vào việc xây dựng một chính sách tín dụng có phù hợp vàđúng đắn hay không

 Quy trình tín dụng

Quy trình tín dụng bao gồm các quy định phải thực hiện trong quá trình chovay và thu nợ nhằm đảm bảo an toàn vốn tín dụng Chất lượng tín dụng có đượcđảm bảo hay không phụ thuộc vào việc thực hiện tốt các quy định ở từng bước Sự

Trang 28

phối hợp nhịp nhàng giữa các bước trong quy trình tín dụng đảm bảo vốn tín dụngđược luân chuyển bình thường, đúng kế hoạch Ngoài ra, việc linh hoạt trong quytrình tín dụng cũng sẽ gây được cảm tình cho khách hàng và từ đó quy mô tín dụng

 Hoạt động huy động vốn

Ngân hàng hoạt động trên nguyên tắc “nhận tiền gửi để cho vay”, đóng vai trò

là trung gian tài chính Vì vậy, muốn mở rộng cho vay thì trước hết phải huy độngđược nguồn Nguồn vốn càng huy động được nhiều, đa dạng thì quy mô cho vaycàng lớn và chất lượng của nguồn huy động của gián tiếp ảnh hưởng tới chất lượngtín dụng

 Công tác tổ chức của ngân hàng

Tổ chức của ngân hàng được sắp xếp một cách khoa học, đảm bảo sự phối hợpchặt chẽ, nhịp nhàng giữa các phòng ban trong ngân hàng sẽ tạo điều kiện đáp ứngkịp thời yêu cầu của khách hàng, giúp ngân hàng quản lý sát sao các khoản cho vay.Đây là cở sở để mở rộng quy mô tín dụng và tiến hành các nghiệp vụ tín dụng lànhmạnh để đảm bảo chất lượng tín dụng

 Chất lượng nhân sự và cơ sở vật chất

Chất lượng nhân sự chính là trình độ nghiệp vụ, khả năng giao tiếp, marketing củangười cán bộ ngân hàng Cơ sở vật chất là máy móc, phương tiện làm việc, đây làhai yếu tố ảnh hưởng mạnh mẽ đến việc thu hút khách hàng của ngân hàng Đặc biệtđối với đối tượng khách hàng là khu vực kinh tế tư nhân, trình độ nghiệp vụ của cán

bộ công nhân viên cũng ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng của khoản vay

Trang 29

Chương II THỰC TRẠNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI KINH TẾ TƯ NHÂN TẠI NHĐT&PT VIỆT NAM CHI NHÁNH BẮC HẢI DƯƠNG

2.1 Khái quát về quá trình hình thành và phát triển của ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam chi nhánh Bắc Hải Dương

2.1.1 Tình hình kinh tế xã hội trên địa bàn có ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng.

2.1.1.1 Bối cảnh kinh tế xã hội

Chi nhánh đóng trên địa bàn thị xã Chí Linh, được mệnh danh là vùng đất

“Địa linh nhân kiệt” với tổng diện tích tự nhiên là 29.618ha là một trong những thị

xã có diện tích lớn nhất nứơc ta với 20 đơn vị hành chính trực thuộc (08 phường và

12 xã) nằm ở phía đông bắc tỉnh Hải Dương, cách trung tâm tỉnh 27km Thị xã có vịtrí địa lý đặc biệt, nằm án ngữ trên đường giao thông thuỷ, bộ từ biên giới phía Bắc

về Thủ Đô Hà Nội Phía đông giáp huyện Đông Triều của tỉnh Quảng Ninh, phíatây giáp tỉnh Bắc Ninh, Phía nam giáp huyện Nam sách, và phía bắc giáp tính BắcGiang Hơn thế nữa thị xã Chí Linh lại nằm trong vùng tam giác kinh tế trọng điểmcủa Miền Bắc là Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, có đường giao thông thuận lợi(quốc lộ 18, quốc lộ 37)

Trong những năm qua, tình hình kinh tế - xã hội của thị xã Chí Linh phát triểnkhá nhanh về mọi mặt, với những tiềm năng và lợi thế của vùng như:

Diện tích đất nông nghiệp là 9.784ha, chiếm tỷ trọng 33,03%, là diện tích đấtmàu mỡ kết hợp với khí hậu nhiệt đới gió mùa quanh năm mưa thuận gió hoà ít bịảnh hưởng của thiên tai cùng với thuỷ văn phong phú ôn hoà Diện tích đất lâmnghiệp là 14.470ha bao gồm cả diện tích rừng trồng và rừng tự nhiên, rừng tự nhiên

có nhiều loại gỗ quý ước khoảng 140.000m3, có nhiều loại thực vật đặc trưng cungcấp nguồn dược liệu quý cho y hoc Ngoài ra Chí Linh có nguồn nước phong phúcung cấp bởi sông Kinh Thày, sông Thái Bình, sông Đông Mai, có kênh mươngtrung thuỷ nông dài 15,5 km và 33 hồ đập cùng ao hồ tự nhiên với tổng diện tích409ha Trên địa bàn khoáng sản không đa dạng về chủng loại nhưng có loại lại cótrữ lượng rất lớn và có giá trị kinh tế cao như: Đất cao lanh trữ lượng 40 vạn tấn, sétchịu lửa 08 triệu tấn, đá, cát vàng xây dựng, mỏ than nâu và than đá với trữ lượnghàng tỷ tấn Cùng với đó dân số của Chí Linh là 152.287 người và khoảng 32 vạn

Trang 30

người khách vãng lai là người đến làm ăn sinh sống và hoc tập tại trường Đại họcSao Đỏ và trung cấp nghề Cơ Giới, trung cấp nghề Ligogi Trình độ dân trí của dân

cư trong vùng là khá cao đặc biệt là giới trẻ đều được qua đào tạo chính quy cơ bản

từ trung cấp nghề đến đại học và sau đại học, cung cấp cho địa phương nguồn nhânlực dồi dào, có trình độ chuyên môn cao trong quá trình xây dựng quê hương, đấtnước, trong vòng 5 năm trở lại đây, tốc độ tăng trưởng của thị xã luôn đạt9,6%/năm, nền kinh tế chuyển dịch tích cực tăng nhanh ngành công nghiệp, thủcông nghiệp, du lịch và dịch vụ, phát triển ngành nông – lâm – ngư nghiệp về theo

cả chiều rộng và chiều sâu

=> Đó là những nhân tố vô cùng quan trọng để xây dựng một thị xã Chí Linhthành một thị xã giàu mạnh và văn minh, và đó cũng là “miền đất hứa” cho Ngânhàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam chi nhánh Bắc Hải Dương mở rộng thị phần vàphát triển lớn mạnh và vững chắc

2.1.1.2 Đặc điểm của khu vực kinh tế tư nhân trên địa bàn.

Trong vài năm trở lại đây, Chí Linh trở thành điểm sang trên bức tranh kinh tếcủa toàn tỉnh Hải Dương Đến nay trên địa bàn thị xã đã có 07 cụm công nghiệpvới trên 200 doanh nghiệp lớn nhỏ và hơn 1300 hỗ cá thể sản xuất công nghiệp, tiểuthủ công nghiệp dựng Trong số đó chỉ có trên 30 doanh nghiêp nhà nước đượcthành lập từ sau giải phóng chủ yếu là hoạt động ở lĩnh vực công nghiệp nặng vàđộc quyền như nhà máy thép và xây dựng của bộ quốc phòng, nhà máy điện vàcông ty xăng dầu… Bên cạnh một số đơn vị đã tiến hành cổ phần hóa thành công

và có những bước phát triển nhảy vọt thì vẫn còn một số đơn vị đang trong tìnhtrạng cố gắng duy trì hoạt động và đang trong giai đoạn phục hồi và khắc phụcnhững yếu kém trong cơ chế điều hành và quản lý, cùng với đó là hơn 50 doanhnghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (liên doanh, liên kết hoặc doanh nghiệp có 100%vốn nước ngoài) chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp nhẹ như dệt may vàgiầy da… Những doanh nghiệp này hoạt động rất hiệu quả do họ có cơ chế quản lýchuyên nghiệp cùng với lợi thế nguồn lao động rẻ, và những lợi thế mà nhà nước vàđịa phương dành cho họ khi kêu goi đầu tư, tuy nhiên hầu hết phần lợi nhuân đượcchuyển phần lớn về chính quốc nên cũng không đóng góp được nhiều cho ngân sáchđịa phương Còn lại là các doanh nghiệp, hộ sản xuất cá thể và cá nhân thuộc tất cảcác lĩnh vực sản xuất của mọi thành phần kinh tế từ nông, lâm, ngư nghiệp – côngnghiệp, thượng nghiệp – dịch vụ Các đối tượng này đã biết tận dụng những lợi thếsẵn có của địa phương, bản thân và những nguồn lực từ bên ngoài để phát triển kinh

Trang 31

tế, đang ngày đêm lao động sản xuất góp phần mang lại lợi ích về kinh tế cho bảnthân, gia đình và quê hương, với cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, tỷtrọng nông – lâm – thủy sản; công nghiệp; thương mại và dịch vụ lần lượt là:17,6%; 68,6%; 13,8% Tổng GDP của toàn thị xã năm 2009 đạt 3.237 tỷ đồng,trong đó khu vực kinh tế nhà nước chiếm 8,7% tổng GDP đạt 281,6 tỷ đồng, khuvực kinh tế có vốn đầu tư nươc ngoài chiếm 13,8% tổng GDP đạt 446,7 tỷ đồng vàkhu vực KTTN chiếm 77,5% tổng GDP đạt 2.508,6 tỷ đồng.

Qua đây chúng ta thấy rằng, sự phát triển kinh tế của thị xã thuộc rất nhiều vàokhu vực KTTN với sự nhay nhạy và linh hoạt cơ chế sản xuất và kinh doanh, phùhợp với điều kiện và hoàn cảnh của địa phương trong từng thời kỳ để phát triển.Khu vực kinh tế naỳ cũng là khu vực kinh tế được Đảng, Nhà nước và địa phương

ưu tiên phát triển cùng với những sự hỗ trợ cần thiết về vốn cũng như hành langpháp lý để đối tượng này ngày càng phát huy được những ưu thế của mình trongquá trình phát triển kinh tế và xây dựng địa phương

2.1.2 Tổng quan về Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam chi nhánh Bắc Hải Dương

2.1.2.1 Sự hình thành và phát triển của Ngân Hàng Đầu tư và Phát triển chi nhánh Bắc Hải Dương.

Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (viết tắt là NHĐT&PTVN hoặcBIDV) được thành lập theo nghị định số 177/TTG ngày 26 tháng 04 năm 1957 củathủ tướng Chính phủ và đã có những tên gọi:

- Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam từ ngày 26/04/1957

- Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Việt Nam từ ngày 24/06/1981

- Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam từ ngày 14/11/1990

Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam là một doanh nghiệp Nhà nướchạng đặc biệt, được tổ chức theo mô hình tổng công ty nhà nước (tập đoàn) mangtính hệ thống thống nhất bao gồm 113 chi nhánh và các công ty trong toàn quốc, có

03 đơn vị liên doanh với nước ngoài (02 ngân hàng và 01 công ty), hùn vốn với 05

tổ chức tín dụng

Tiền thân của BIDV Bắc Hải Dương là chi nhánh NHĐT&PT Phả Lại – chinhánh cấp II trực thuộc chi nhánh NHĐT&PT tỉnh Hải Dương Trải qua hơn 45năm hoạt động và phát triển chi nhánh đã nhiều lần đổi tên, cụ thể như sau:

Tháng 06/1965 có tên gọi là Chi điếm Ngân hàng Kiến thiết, trực thuộcNHĐT&PT tỉnh Hải Dương, trụ sở tại số 206 - Nguyễn Trãi - thị trấn Sao Đỏ,

Trang 32

huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương với mục tiêu chính là cấp phát vốn xây dựng cơbản Nhà Nước cho các công trình xây dựng trên địa bàn khu vực miền núi phía Bắctỉnh Hải Dương chưa thực hiện cho vay kinh doanh thương mại.

Đến tháng 02/1981 đổi tên thành Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng công trìnhnhà máy nhiệt điện Phả Lại, mục tiêu chính là phục vụ thi công xây dựng nhà máynhiệt điện Phả Lại I và cấp phát vốn cho các doanh nghiệp nhà nước hoạt động kinhdoanh trên địa bàn, bắt đầu thực hiện cho vay kinh doanh thương mại

Tháng 01/1995 đổi tên thành Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Phả Lại, đa dạnghoá loại hình hoạt động, mở rộng cho vay kinh doanh thương mại, cho vay tư nhân

cá thể, cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ…

Đến tháng 10/2006 chi nhánh Ngân hàng ĐT&PT Phả Lại được nâng cấpthành chi nhánh cấp I, và đổi tên thành Ngân hàng ĐT&PT chi nhánh Bắc HảiDương trực thuộc NHĐT&PT Việt Nam theo quyết định số 352/QĐ-HĐQT củaHội đồng quản trị ngày 10/10/2006 Trọng tâm phục vụ phát triển kinh tế trọngđiểm khu vực cụm động lực phía Bắc của tỉnh Hải Dương, khu di tích lich sử CônSơn, Kiếp Bạc và các tỉnh lân cận là Bắc Ninh và Quảng Ninh…

2.1.2.2 Nhiệm vụ của Ngân hàng ĐT&PT Bắc Hải Dương.

Ngân hàng Đầu tư và Phát triển chi nhánh Bắc Hải Dương là một chi nhánhtrong toàn hệ thống của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam thực hiện đầy đủchức năng nhiệm của một ngân hàng thương mại như: huy động vốn của dân cư,các tổ chức kinh tế và thực hiện nhiệm vụ cho vay, bảo lãnh, phát hành giấy tờ cógiá, thanh toán trong nước và quốc tế, kinh doanh vàng và ngoại tệ…theo giấychứng nhận ĐKKD số 0446000020 do Sở KHĐT tỉnh Hải Dương cấp ngày20/10/2006 quy định thực hiện các hoạt động Ngân hàng và các hoạt động kinhdoanh khác liên quan theo luật các tổ chức tín dụng, theo điều lệ tổ chức và hoạtđộng của NHĐT&PT Việt Nam và theo phân cấp uỷ quyền của Tổng giám đốcNgân hàng ĐT&PT Việt Nam

2.1.2.3 Cơ cấu tổ chức:

Chi nhánh mới thực hiện chuyển đổi mô hình tổ chức theo dự án TA2 do nhàthầu nước ngoài tư vấn nhằm tạo ra mô hình tổ chức mới phù hợp với quy định củapháp luật và đặc điểm môi trường, tập quán kinh doanh của Việt Nam, đồng thờiđáp ứng nhu cầu quản lý ngân hàng thương mại theo hướng thông lệ và chuẩn mựcquốc tế để tạo ra bước đột phá nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh, chất lượng phục

vụ khách hàng, đáp ứng yêu cầu quản lý tập trung và quản trị rủi ro Qua đó, tập

Trang 33

trung xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của 05 khối nghiệp vụ trrục thuộc chi nhánhnhất là 03 khối nghiệp vụ trực tiếp liên quan tới hoạt động kinh doanh (khối quan hệkhách hàng, khối quản lý rủi ro và khối tác nghiệp) theo yêu cầu tách bạch rõ ràngtừng khối nhưng vẫn đảm bảo liên kết, phối hợp chặt chẽ và yêu cầu quản lý rủi ronhằm đảm bảo tính thống nhất, liên thông giữa chức năng nhiệm vụ của cácphòng/tổ thuộc chi nhánh với các đơn vị tương ứng thuộc trụ sở chính BIDV đểđảm bảo yêu cầu quản trị điều hành, quản lý tập trung.

Chi nhánh mới nâng cấp, hiện tại chi nhánh có 56 cán bộ, nhân viên (26 nữ và

30 nam) độ tuổi trung bình là 30 tuổi, tỷ lệ có bằng đại học và sau đại học là 85%,trình độ cao đẳng là 19%, còn lại trung cấp và học nghề là 6% Chi nhánh đang tiếptục chuẩn hoá đội ngũ cán bộ nhân viên nhằm đáp ứng yêu cầu công việc đặt ra

Trang 34

Cơ cấu tổ chức của chi nhánh được tổ chức theo sơ đồ sau

GIÁM ĐỐC

Khối quản lý nội bộ

Phòng tài chính kế toán

Khối quản lý rủi ro

Phòng quản lý rủi ro

Phòng kế toán tổng hợp

Phòng quản trị tín dụng

Phòng dịch vụ khách hàng

Tổ dịch vụ kho quỹ

Phòng giao dịch

số 05

Phòng giao dịch

số 02

33

Trang 35

Chức năng, nhiệm vụ của các phòng ban.

Trong đó chức năng, nhiệm vụ của các phòng ban được thực hiện như sau:

Ban lãnh đạo chi nhánh gồm 03 người:

Giám đốc - Điều hành mợi hoạt động của chi nhánh

01 Phó giám đốc - Phụ trách khối quan hệ khách hàng

01 Phó giám đốc - Phụ trách khối tác nghiệp

Khối quan hệ khách hàng gồm:

01 phòng quan hệ khách hàng có chức năng chính là thực hiện chức năngMarketing, tiếp xúc khách hàng, tư vấn, cho vay và bán chéo các sản phẩm dịch vụngân hàng cho các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước

Khối quản lý rủi ro gồm:

01 phòng quản lý rủi ro thực hiện rà soát các khoản vay có tiềm ẩn rủi ro caonhư: Dư nợ cho vay trên 05 tỷ đồng, các khách hàng mới, các dự án đầu tư, các báocáo liên quan đến rủi ro, nợ xấu

Khối tác nghiệp gồm:

01 tổ quản trị tín dụng;

01 phòng dịch vụ khách hàng (kiêm cả chức năng thanh toán quốc tế);

01 tổ quản lý và dịch vụ kho quỹ

Thực hiện phối kết hợp liên hoàn nhận hồ sơ từ phòng quan hệ khách hàng,kiểm tra nếu đầy đủ điều kiện cho vay sẽ tiến hành nhập số liệu vào hệ thống máytính, nhập thông tin khách hàng, tài sản đảm bảo, số tiền giải ngân…và Phòng dịch

vụ khách hàng, tổ dịch vụ kho quỹ căn cứ vào chứng từ do tổ quản trị chuyển tới sẽphát tiền vay cho khách hàng Khi đến hạn thu nợ, tổ quản trị tín dụng sẽ theo dõitrên máy, đôn đốc khách hàng trả nợ và lập phiếu thu nợ để phòng dịch vụ kháchhàng và tổ kho quỹ thu nợ và hạch toán vào hệ thống máy tính của cơ quan

Khối quản lý nội bộ gồm:

01 Phòng Kế hoạch - Tổng hợp

01 Tổ Điện toán

01 Phòng tài chính - kế toán

Văn phòng, bảo vệ, lái xe

Các bộ phận phòng ban trên có chức năng hoạt động như tại một doanh nghiệpthông thường, với chức năng quản lý, hạch toán và hỗ trợ cho các phòng ban kháchoạt động có hiệu quả cao hơn

Trang 36

2.1.3 Hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam chi nhánh Bắc Hải Dương.

Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt chi nhánh Bắc Hải Dương từ chỗ chỉ làmột chi nhánh cấp II trực thuộc chi nhánh NHĐT&PTVN tỉnh Hải Dương hoạtđộng giống như một Quỹ đầu tư và phát triển chỉ có chức năng cấp phát vốn cho cáccông trình xây dựng của khu vực miền núi phía bắc tỉnh Hải Dương, chưa thực hiệnchức năng cho vay kinh doanh thương mại Đến năm 1981 bắt đầu thực hiện chứcnăng cho vay kinh doanh thương mại và hoạt động đúng nghĩa là một NHTM chođến nay sau 45 năm xây dựng trưởng thành và phát triển đến nay NHĐT&PTVNchi nhánh Bắc Hải Dương đã trở thành chi nhánh cấp I và thực hiện đầy đủ các chứcnăng nhiệm vụ của một NHTM với rất nhiều các sản phẩm và dịch vụ nhằm đápứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng và đáp ứng nhu cầu phát triển của chi nhánh.Các sản phẩm, dịch vụ mà chi nhánh đã triển khai trong thời gian qua là:

2.1.3.1 Công tác huy động vốn:

Ngân hàng là một chủ thể kinh tế hoạt động trong lĩnh vực tài chính, với đặctrưng cơ bản là “Nhận tiền gửi để cho vay”, do đó nguồn vốn mà ngân hàng huyđộng được có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với hoạt động của ngân hàng Nóđóng vai trò là “đầu vào”, cung cấp năng lực hoạt động và quyết định hiệu quả kinhdoanh Đối với một doanh nghiệp, một chủ thể kinh tế thông thường thì vốn hoạtđộng chính là vốn chủ sở hữu, vốn Nợ chỉ chiếm tối đa khoảng 50% để đảm bảovốn an toàn và các chỉ tiêu tài chính nhưng đối với một ngân hàng thương mại thìvốn chủ sở hữu của họ chỉ chiếm dưới 10% và chỉ dùng để mua sắm tài sản cố định

và gửi tại Ngân hàng Trung Ương để làm đảm bảo cho, toàn bộ nguồn vốn để kinhdoanh là vốn Nợ (tài sản Nợ) Tài sản Nợ của các ngân hàng thương mại khoảngtrên 90% tổng nguồn vốn

Trang 37

Vì vậy nếu nguồn vốn này không đủ đáp ứng cho các nhu cầu đầu tư của ngânhàng thì hoạt động của ngân hàng sẽ không thể hiệu quả được và dễ bỏ lỡ cơ hộiđầu tư vì không đảm bảo vốn kinh doanh Nguồn vốn này phản ánh một cách chínhxác nhất về uy tín, tình hình hoạt động kinh doanh và thị phần của ngân hàng trênđịa bàn Nhận thức rõ được tầm quan trọng của nguồn vốn huy động Để thực hiệntốt nghiệp vụ được đánh giá là quan trọng bậc nhất này, trong thời gian quaNHĐT&PTVN chi nhánh Bắc Hải Dương đã triển khai rất nhiều các sản phẩm vàdịch vụ nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng và nhằm thu hút được tối đanguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư Các sản phẩm và dịch vụ mà chi nhánh đã triểnkhai trong thời gian qua như:

Tiền gửi không kỳ hạn (chủ yếu là tiền gửi thanh toán)

Tiền gửi tiết kiệm có kì hạn (3, 6, 9, 12, 18, 36 tháng.…) Đặc biệt tại thờiđiểm cuối năm 2008 đầu năm 2009 nhằm đáp ứng nhu cầu “khát vốn” để đáp ứngcác nhu cầu giải ngân và thanh toán cuối năm Để huy động vốn ngân hàng áp dụngcác kì hạn ngắn như 1, 2, 3 tuần

Trong tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn, để thu hút khách hàng, chi nhánh còn ápdụng rất nhiều các gói khuyến mãi cùng những tiện ích đi kèm khác khi khách hànggửi tiền (Tiết kiệm hưởng lãi suất cao và rút gốc linh hoạt, tiết kiệm cùng quà tặng,tiết kiệm bốc thăm trúng thưởng, …)

Phát hành giấy tờ có giá để huy động tiền gửi của khách hàng Hình thức nàykhác với hình thức nhận tiền gửi Nếu như nhận tiền gửi thì ngân hàng sẽ thụ độnghơn trong việc chờ đợi khách hàng tới gửi tiền còn trong phát hành giấy tờ có giá thìngân hàng chủ động đứng ra huy động nguồn tiền nhàn rỗi của khách hàng Hìnhthức phát hành giấy tờ có giá thì chi phí huy động của ngân hàng phải trả sẽ caohơn Ngân hàng chỉ phát hành giấy tờ có giá khi có mục đích kinh doanh cụ thể, đãxác đinh được rõ nhu cầu vốn, thường là huy động để phục vụ cho mục đích đầu tư

dự án

Để thấy rõ hơn tình hình của công tác huy động vốn tại NHĐT&PTVN chinhánh Bắc Hải Dương ta xét bảng số liệu sau:

Trang 38

Bảng 1: Tình hình huy động vốn qua các năm (2007 – 2009)

Số tiền

Tỷ trọng (%)

Số tiền

Tỷ trọng (%)

Số tiền Tỷ lệ

(%) Số tiền

Tỷ lệ (%)

Trang 39

Qua bảng số liệu trên ta có thể rút ra đựợc biểu đồ sau

Biểu đồ 1: Tổng nguồn vốn huy động qua các năm

(Đơn vị: Tỷ đồng)

0 200 400 600 800 1000 1200 1400 1600 1800

Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009

Qua bảng số liệu trên ta thấy rằng tổng nguồn vốn huy động của ngân hàng đềutăng qua các năm Năm 2008 tổng nguồn vốn huy động đạt 1.397,48 tỷ đồng tăng139,33 tỷ, tốc độ tăng đạt 11,07% so với năm 2007 Năm 2009 tổng nguồn vốn huyđộng đạt 1.650,55 tỷ tăng 253,07 tỷ với tốc độ tăng là 18,11% Khi so sánh giữagiữa các năm với nhau ta thấy rằng 2009/2008 tăng nhiều hơn 2008/2007 về số tiền(số tuyệt đối) nhưng về mặt tỷ lệ thì lại tăng chậm hơn, đó là do tốc độ tăng của năm

2008 lớn hơn năm 2009 do cuối năm 2008, toàn hệ thống NHTM Việt Nam nóichung và NHĐT&PTVN chi nhánh Bắc Hải Dương nói chung đều phải đối mặt vởitình trạng “khát vốn” nên cùng bước vào cuộc chạy đua lãi suất, có những thời điểmlãi suất lên tới 19,2%/năm nên đã huy động được một lượng lớn tiền gửi tại thờiđiểm đó nên làm tốc độ tăng lên cao, nhưng khi xét đến chỉ tiêu tiền gửi bình quânhàng tháng đã thấy rằng tốc độ tăng trưởng của ngân hàng là ổn định và theo chỉ tiêunăm sau cao hơn năm trước

Qua bảng trên ta cũng thấy rằng trong cơ cấu tổng số tiền huy động được thì:Trong tiền gửi không kỳ hạn, do đặc điểm của loại hình tiền gửi này phần lớn

là dành cho các khách hàng đã có mục đích sử dụng tiền nhàn rỗi nhưng không xácđịnh được chính xác thời điểm sử dụng vốn và các khách hàng gửi với mục đíchthanh toán, chi trả qua ký séc Trong hình thức này tiền gửi của các doanh nghiệp làlớn nhất luôn đạt tỷ trọng cao nhất với năm 2007 là 117,92 tỷ đồng đạt 9,37% tonngrnguồn vốn huy động, Năm 2008 là 142,63 tỷ đồng đạt 10,2% và năm 2009 là 190,71đạt 11,55% tổng nguồn vốn huy động được Tiền gửi không kỳ hạn của dân cư làthấp nhất, năm 2008 đạt 30,32 tỷ đồng tăng 0,37 tỷ đồng và tỷ lệ tăng 1,24% so với

Trang 40

chứng tỏ việc thanh toán không dùng tiền mặt trong nền kinh tế, đây là một dấu hiệuđáng mừng và chứng tỏ việc phát triển các dịch vụ thanh toán của ngân hàng đangphát triển mạnh và mang lại những tín hiệu tốt trong quản lý vĩ mô của nhà nước Tuynhiên tốc độ tăng vẫn còn chậm và tỷ trọng của khu vực này vẫn là thấp chỉ đạt hơn2% trong tổng nguồn vốn huy động của chi nhánh Cần phải có những chính sách tíchcực hơn nữa để phát triển việc thanh toán không dung tiền mặt trong dân cư.

Trong tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn, do đây là một nghiệp vụ dành cho cáckhách hàng đã có mục đích sử dụng vốn rõ ràng và xác định được thời điểm sử dụngvốn của mình và những khách hàng gửi tiền với mục đích an toàn và kiếm lời thôngqua hưởng lãi suất cao Đây là một nguồn vốn rất quan trọng với bất kỳ một ngânhàng nào bởi lẽ đây là nguồn vốn có tính ổn định cao, ngân hàng có thể lên kế hoạch

và chủ động trong việc sử dụng vốn và không phải tốn quá nhiều chi phí cho dự trữvượt quá để đảm bảo khả năng thanh toán như đối với tiền gửi không kỳ hạn (tiềngửi thanh toán) Trong loại tiền gửi này thì tiền gửi có đối tượng dân cư là cao nhất,năm 2008 đạt 752,53 tỷ đồng tăng 98,03 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng là 14,98% sovới năm 2007 Năm 2009 số tiền huy động đượclà 921,1 tỷ đồng tăng 168,57 tỷđồng tốc độ tăng trưởng là 22,4% so với năm 2008 Đối với tiền gửi tiết kiệm có kỳhạn của các doanh nghiệp là nhỏ nhất chỉ đạt từ 2% đến 4% trong tổng nguồn vốnhuy động được của chi nhánh Đây là một hiện tượng chung bởi đặc thù của các khuvực kinh tế là khác nhau nên mục đích gửi tiền cũng là khác nhau, đây là xu thế vậnđộng chung của toàn bộ nền kinh tế và xã hôi

Trong những năm qua, tình hình huy động vốn của chi nhánh đã đáp ứng đượcnhu cầu đầu tư, cấp tín dụng và phục vụ các mục đích phát triển khác của của chinhánh và đồng thời còn hỗ trợ được vốn cho các chi nhánh khác trong hệ thống.Trong cơ cấu nguồn vốn huy động của chi nhánh thì nguồn TG trung – dài hạn làchiếm tỷ trọng cao nhất, trung bình qua các năm khoảng trên 80%, đặc biệt là nguồn

TG của dân cư là nguồn vốn có vai trò quan trọng nhất, nó chiếm tỷ trọng lớn nhấttrong tổng nguồn vốn huy động, thường là trên 50%

2.1.3.2 Hoạt động cho vay

Bên cạnh việc coi trọng công tác huy động vốn thì việc sử dụng vốn có hiệuquả là yếu tố quyết định việc mở rộng huy thu hẹp đầu tư, đây là một nghiệp vụmang tính chất sống còn của một ngân hàng Lợi nhuận mà ngân hàng thu được làdựa trên việc sử dụng nguồn vốn huy động được vào các mục đích đầu tư và manglại hiệu quả, nếu việc sử dụng vốn không hiệu quả có thể dẫn tới bị lỗ và ảnh hưởngtới nguồn vốn của khách hàng, vốn tự có của ngân hàng và gây ra những tác độngxấu tới nền kinh tế Vì vậy mà NHĐT&PTVN chi nhánh Bắc Hải Dương luôn chú

Ngày đăng: 19/07/2013, 13:33

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Tình hình huy động vốn qua các năm (2007 – 2009) - NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI KINH TẾ TƯ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM - CHI NHÁNH BẮC HẢI DƯƠNG
Bảng 1 Tình hình huy động vốn qua các năm (2007 – 2009) (Trang 38)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w