1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tính tự chủ của sinh viên trường Đại học Kinh Tế Quốc Dân

64 695 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tính chủ động của sinh viên trường Đại học Kinh Tế Quốc Dân
Trường học Đại học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại Đề tài nghiên cứu
Năm xuất bản 2009
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 346,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tính tự chủ của sinh viên trường Đại học Kinh Tế Quốc Dân trươc hết chúng ta đi làm rõ khái niệm tính chủ động của sinh viên , những đặc điểm riêng trong tính chủ động của sinh viên kinh tế

Trang 1

ĐặT VấN Đề

1.Lý do chọn đề tài.

Một trong những đặc điểm nổi bật của nguồn nhân lực hiện nay là “vừathừa lại vừa thiếu” Mặc dù cầu lao động tăng lớn song số lợng lao động vẫn cha

đợc sử dụng hết Bên cạnh đó chất lợng cung lao động còn thấp biểu hiện ở trình

độ học vấn cha cao, trình độ chuyên môn kĩ thuật còn thấp, thể lực còn hạn chế,

ý thức kỉ luật cha cao Trong năm 2003, Việt Nam mới chỉ đạt trình độ trungbình yếu về nhân lực, đứng cuối cùng trong 13 nớc ở khu vực Đáng lo ngại hơn

là trình độ Tiếng Anh và trình độ tiếp cận công nghệ cao đều còn ở mức cuốibảng Sinh viên là đội ngũ nhân lực trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao trong t-

ơng lai nhng lại thiếu những kiến thức và kĩ năng cơ bản về công việc Phần lớnsinh viên ra trờng đều phải đào tạo lại.Vậy nguyên nhân sâu xa nằm ở đâu? Nhchúng ta đã biết, để đào tạo sinh viên cần phải qua một quá trình lâu dài Trongquá trình đó có rất nhiều yếu tố tác động tạo nên chất lợng sinh viên Đầu tiênphải kể đến sự tác động từ bên ngoài đó là phơng pháp giảng dạy, điều kiện kinh

tế, cơ sở vật chất…Đây là các yếu tố tác động quan trọng đến hinh thành chất lĐây là các yếu tố tác động quan trọng đến hinh thành chất lợng sinh viên nhng nhân tố quan trọng hàng đầu lại nằm trong chính bản thânmỗi sinh viên, nằm trong sự hạn chế trong tính chủ động trong học tập, nghiêncứu khoa học cũng nh việc mài dũa những kĩ năng cần thiết cho công việc tơnglai

-Hơn thế nữa, xu hớng toàn cầu hóa đang diễn ra một cách mạnh mẽ ởkhắp nơi trên thế giới trong đó có Việt Nam Việc này tác động rất lớn đối vớisinh viên Chúng ta ai cũng nhận thấy rằng chất lợng nguồn nhân lực nớc ta thấphơn rất nhiều so với nhiều nớc Chính vì vậy năng suất lao động của ta thấp chấtlợng sản phẩm không tốt, giá thành cao, giảm khả năng cạnh tranh với các nớckhác Chất lợng lao động thấp còn làm cho một số doanh nghiệp chuyển sang sửdụng lao động nớc ngoài

Tự hoàn thiện bản thân là yêu cầu đặt ra đối với bản thân mỗi sinh viênngay từ khi còn ngối trên ghế nhà trờng Cùng với quá trình toàn cầu hóa là sựlỗi thời một cách nhanh chóng của kiến thức Khoa học kĩ thuật không phải thay

đổi từng năm nữa mà là cần từng ngày Việc trau dồi kiến thức thờng xuyên vàkhả năng tự học của sinh viên là vô cùng cần thiết giúp sinh viên chuẩn bị kĩnăng chco tơng lai

Bản thân là những sinh viên năm thứ 3 của trờng đại học Kinh Tế QuốcDân chúng tôi đã chọn đề tài:”Tính chủ động của sinh viên trờng đại học Kinh

Tế Quốc Dân” nhằm mục đích đa ra một cái nhìn toàn cảnh về sinh viên của

Trang 2

trờng Từ đó tìm ra những nguyên nhân, những mặt hạn chế và đề xuất một sốgiải pháp nâng cao tính chủ động cho sinh viên kinh tế nói riêng và sinh viênnói chung.

2.Đối tợng nghiên cứu.

Tính chủ động của sinh viên

3.Phạm vi nghiên cứu.

Nghiên cứu trong trờng đại học Kinh tế Quốc Dân năm 2009, bao gồmsinh viên các khóa 47, 48, 49 ,50

4.Mục tiêu nghiên cứu

- Xây dựng khung lý thuyết về tính chủ động của sinh viên

+ Định nghĩa về tính chủ động, tính chủ động của sinh viên , và của sinhviên trờng Kinh Tế Quốc Dân

+ Đánh giá tính chủ động của sinh viên thông qua các chỉ tiêu: chủ động trong học tập, chủ động trong nghiên cứu khoa học và chủ

động trong việc định hớng nghề nghiệp tơng lai

+ Vai trò của tính chủ động trong các hoạt động của sinh viên

- Khảo sát thực trạng của sinh viên kinh tế về tính chủ động từ đó thấy đợcnhững u nhợc điểm, tìm ra nguyên nhân của những hiện tợng trên

- Những đề xuất để tăng cờng tính chủ động trong sinh viên

- Sử dụng số liệu thứ cấp: lấy từ các phòng ban quản lí sinh viên của trờng

về số lợng sinh viên, theo giới tính theo năm học, mục tiêu, hớng phát triển củatrờng năm tới

- Sử dụng số liệu sơ cấp: trực tiếp khảo sát thông qua bảng hỏi, phỏng vấn…Đây là các yếu tố tác động quan trọng đến hinh thành chất l

6.Kết cấu

Chơng I: Lý luận về tính chủ động của sinh viên

1 Một số khái niệm

2 ý nghĩa, vai trò của tính chủ động của sinh viên

3 Những nhân tố tác động đến tính chủ động của sinh viên

4 Tiêu chí đánh giá

Chơng II: Đánh giá về tính chủ động của sinh viên

Trang 3

1 Giới thiệu sơ lợc về đội ngũ sinh viên Kinh Tế Quốc Dân( KTQD).

2 Nhân tố ngoại hàm tác động đến tính chủ động của sinh viên

3 Nhân tố nội hàm tác động đến tính chủ động của sinh viên

Chơng III: Giải pháp nâng cao tính chủ động của sinh viên

Trang 4

1 Tính chủ động

Chủ động là trạng thái làm chủ đợc hành động của mình , không để bị tìnhthế hoặc đối phơng chi phối Ngợc lại với nó là bị động: buộc phải hành độngtheo sự chi phối của tình thế hoặc của đối phơng ( từ điển tiếng việt – NXB GD2008)

Vậy năng động có phải là chủ động không ? Mặc dù có những điểm tơng

đồng nhng TCD khác biệt với tính năng động TCD sẽ tạo nên con ngời năng

động trong mỗi tập thể hoặc cá nhân

Trái nghĩa với TCD là TBD và sức ỳ Tính bị động : buộc phải hành độngtheo sự chi phối của tình thế hoặc của đối phơng Còn sức ỳ là : giữ nguyên trạngthái, thái độ không hề thay đổi, bất kể tác động mạnh từ bên ngoài Nó thể hiện

ở tác phong “đợi” trong câu chuyện phong trào, không có sự độc lập t duy và độclập hành động, ở sự hớng ngoại 1 cách dè dặt và thiếu hiểu biết

2 Tính chủ động của sinh viên.

Sinh viên ( SV) trớc hết mang đầy đủ đặc tính của con ngời mà theo Mac

“ là tổng hòa các mối quan hệ xã hội” Ngoài ra , SV mang những đặc điểmriêng biệt, mà đầu tiên là tuổi đời thờng còn trẻ ( từ 18 đến 25 tuổi ), do đó có

đặc điểm cha định hình rõ về nhân cách, dễ thích nghi với cái mới, nhạy cảm vớicác vấn đề chính trị, a các hoạt động về giao tiếp, có tri thức đang đợc đào tạo vềchuyên môn

Ngoài ra sinh viên trong giai đoạn hiện nay còn có những đặc điểm riêngbiệt so với sinh viên ở những giai đoạn trớc SV giai đoạn này có khả năng nắmbắt và xử lý thông tin một cách nhanh nhạy Nguyên nhân chính là do môi trờngsống thay đổi , các điều kiện kinh tế xã hội ngày càng phát triển Khi kinh tế xãhội phát triển thì cơ sở hạ tầng, vật chất đợc nâng cao, ngày càng đáp ứng tốt hơnnhu cầu của ngời dạy và học Mặt khác cùng với sự ra đời và phát triển của côngnghệ thông tin _ một nguồn tài liệu mở khổng lồ, ngời học có thể tiếp cận thôngtin một cách nhanh chóng, với số lợng lớn Sống trong môi trờng ảo đó, SV sẽhình thành một lối sống ảo, hình thành một phơng pháp t duy của thời đại công

Trang 5

nghệ thông tin: ngôn ngữ ngắn gọn, viết bằng bàn phím thay vì cây bút, có tínhlắp ghép chính xác, hệ thống.

Các hoạt động chính của SV gồm học tập, nghiên cứu khoa học, các hoạt

động nhằm tìm hiểu định hớng nghề nghiệp nh nâng cao kỹ năng mềm, tìm hiểu

về các doanh nghiệp, định hớng nghề nghiệp tơng lai

Sự khác biệt về độ tuổi, suy nghĩ và mục đích dẫn tới sự khác nhau về tínhchủ động của SV so với các đối tợng khác nh giáo s, công nhân viên chức, nôngdân hay các bà nội trợ Họ có điểm chung là tự mình nâng cao hiểu biết về phạm

vi lĩnh vực hoạt động của mình, cố gắng nâng cao trình độ chuyên môn hay kỹnăng, tay nghề của bản thân Ví dụ: TCD của một ngời nội trợ biểu hiện ở việcsắp xếp thời gian thích hợp trong các công việc gia đình, tích cực tìm hiểu vềdinh dỡng, khẩu vị của mỗi thành viên nhằm đa ra một khẩu phần ăn thích hợpvới điều kiện kinh tế; tìm hiểu các thiết bị có thể hỗ trợ trong các công việc gia

đình nhằm tiết kiệm thời gian, công sức Cũng nh vậy đối với một SV, TCD là sựtìm tòi các phơng pháp học tập một cách hiệu quả nhất, giải quyết các vấn đề đ-

ợc đặt ra trong quá trình học tập cũng nh trong đời sống hàng ngày một cách tựgiác

Sự khác biệt lớn nhất trong khối ngành kinh tế và SV kĩ thuật là họ là cómột kiến thức tổng quan về các vấn đề của XH Từ đó, nâng cao đợc khả năngphân tích, tổng hợp 1 vấn đề tổng quát Trong khi đó SV khối ngành kỹ thuật chỉchuyên sâu về 1 lĩnh vực nhất định Chính vì vậy SV kinh tế cần phải chủ độnghơn trong việc tiếp thu các thông tin tổng hợp để nâng cao các kỹ năng nh: giaotiếp, thuyết phục

3 Phân loại tính chủ động

Chia làm 2 loại: TCD trong t duy và TCD trong phơng pháp

TCD trong t duy:

T duy là giai đoạn cao của quá trình nhận thức, đi sâu vào bản chất để suy

ra tính quy luật của sự vật bằng những ý nghĩ, điều phán đoán

Hành động là làm việc gì đó có ý thức, có mục đích

Tính chủ động trong t duy : tích cực nêu ra các vấn đề và sử dụng nhữngkiến thức có đợc để giải quyết vấn đề đó nhng chỉ trong suy nghĩ, cha đợc ápdụng để làm 1 công việc cụ thể

Tính chủ động trong t duy sẽ là nguồn gốc tạo nên tính chủ động tronghành động

II ý nghĩa, vai trò của tính chủ động

1 Các đặc tính của SV

Trang 6

Cũng nh sinh viên của các lĩnh vực khác để nâng cao trình độ SV kinh tếphải rèn luyện cho mình những đặc điểm sau : Tính thực tế, tính năng động, tính

cụ thể của lý tởng, tính liên kết( tính nhóm ), tính cá nhân

a Tính thực tế(TTT)

TTT là có mục đích rõ ràng trong hành động và suy nghĩ Với một SV,TTT biểu hiện ở việc chọn ngành nghề, ở việc hớng đến lựa chọn những kiếnthức để học sao cho đáp ứng nhu cầu thực tế, chuẩn bị kinh nghiệm làm việc chotơng lai, định hớng công việc sau khi ra trờng, thích những công việc đem lại thunhập cao, có khả năng thăng tiến, có môi trờng làm việc thuận lợi Trái ngợc vớiTTT là tính viển vông, luôn đa ra những mục tiêu nằm ngoài khả năng, nguồnlực của mình TTT cũng nằm ở việc hiểu rõ công việc mình làm, từ đó tránh đa

ra những quyết định sai lầm, gây ra thiệt hại cho bản thân và xã hội Đây là 1trong những đức tính quan trọng của SV, nó giúp trả lời câu hỏi : Bạn là ai? Vàbạn đang đứng ở đâu? Bạn cần làm gì để đạt đợc mục tiêu

b Tính cụ thể của lý tởng.

Lý tởng là ớc vọng cao đẹp nhất mà ngời ta phấn đấu để đạt tới , còn tính

cụ thể của lý tởng đối với mỗi cá nhân là sự cụ thể hóa lý tởng của cá nhân đó,hoạch định chiến lợc mục tiêu cho cuộc sống mình hiệu quả, phù hợp với nguồnlực của bản thân và ảnh hởng của môi trờng sống Một câu hỏi thờng đặt ra là “liệu SV có lý tởng” Câu trả lời là có Lý tởng của SV mang tính chất thế hệ ( nómang đặc trng của mỗi thời kỳ và phụ thuộc vào điều kiện KTXH.Thế hệ SVngày trớc tham gia cuộc chiến giành độc lập dân tộc Hầu hết tuổi trẻ thời ấyquyết xông pha trận mạc, mang trong mình lý tởng cao đẹp giải phóng nớc nhà.Nhng hiện nay rõ ràng lý tởng đó không còn thích hợp với giới trẻ nữa Lý tởngkhông gắn với những mục đích xa xôi mà gắn liền với lợi ích của mỗi cá nhân

Cụ thể đối với SV họ mong muốn nâng cao địa vị xã hội và nâng cao vị thế của

đất nớc

c ý thức về bản thân

ý thức cá nhân là hiểu rõ đợc khả năng của bản thân, yêu quý chính bảnthân mình Từ đó cố gắng hết sức để có thể đạt đợc những mong muốn của mình.Hiện nay trào lu dân chủ hóa, làn sóng công nghệ thông tin và việc nâng cao dântrí đã làm ý thức cá nhân ngày càng rõ rệt, đặc biệt rõ trong những ngời trẻ tuổi

có học vấn là SV Họ tự ý thức cao về bản thân mình và muốn thể hiện vai trò cánhân Điều này có tính 2 mặt, nếu một ngời quá coi trọng bản thân thì sẽ sa vàochủ nghĩa cá nhân Chủ nghĩa cá nhân nhấn mạnh đến sự độc lập của con ngời vàtầm quan trọng của tự do và sự tự lực của mỗi cá nhân Những ngời theo chủnghĩa cá nhân chủ trơng không hạn chế mục đích và ham muốn cá nhân, phản

Trang 7

đối sự can thiệp bên ngoài lên sự lựa chọn cá nhân Từ đó có thể gây ra nhữnghậu quả làm suy giảm lợi ích chung của xã hội Nhng nếu biết cách “ kiểm soát”tính cá nhân, tức là kết hợp hài hòa giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội thì nó sẽ

nh một “ chất kích thích” làm tăng hiệu quả hoạt động Chẳng hạn một ngời vìlợi ích của bản thân mà chặt phá rừng bừa bãi, ngời này đã đặt lợi ích cá nhân lêntrên hết, làm thiệt hại cho xã hội Nhng một ngời khác lại kết hợp giữa trồngrừng và khai thác gỗ Nh vậy mục đích cá nhân là lợi nhuận của họ vẫn đạt đợc,mặt khác không gây thiệt hại cho xã hội, thậm chí tạo ra ngoại ứng tích cực Nhvậy vấn đề cốt lõi ở đây là sự hài hòa giữa lợi ích và nghĩa vụ cá nhân

d Tính liên kết( tính nhóm)

Một trong những đặc điểm đợc nói đến của SV ở trên là a thích các hoạt

động giao tiếp, luôn có xu hớng mở rộng các mối quan hệ, đặc biệt là các mốiquan hệ đồng đẳng ,điều này dẫn tới hình thành tính nhóm Các nghiên cứu của

2 nhà xã hội học ngời Pháp về bản sắc xã hội dới góc độ nhóm là Taspen vàTurnez đã đa đến kết luận : Tính nhóm phụ thuộc vào môi trờng xã hội xungquanh chúng ta đang sống Sự thay đổi của đời sống tinh thần trong SV trớc xuhớng toàn cầu hóa đang hớng mạnh đến tính cộng đồng Nghiên cứu đã chứngminh rằng trí tuệ nhóm bao giờ cũng lớn hơn trí tuệ của những ngời có chỉ số IQcao nhất Đối với SV hiện nay, kỹ năng này vô cùng cần thiết.Nó không chỉ choyêu cầu học tập Điều này dẫn đến xu hớng tất yếu của hình thức làm việc nhóm.Tuy nhiên kỹ năng này của SV Việt Nam còn nhiều hạn chế đòi hỏi phải cónhững cố gắng từ bản thân SV và hệ thống giáo dục hỗ trợ

e Tính năng động, sáng tạo

Tính năng động là sự sẵn sàng, chủ động tiếp thu và vận dụng cái mới

Đối với một SV, và đặc biệt là SVKT tính năng động biểu hiện ở việc thamgia các phong trào tình nguyện hay các câu lạc bộ Một số ng ời vừa đi học vừa

đi làm( làm thêm bán thời gian hay thành viên chính thức của 1 cơ quan, tổchức ) Tính sáng tạo nằm ở việc tìm tòi những phơng pháp thích hợp với bảnthân để tạo ra đợc kết quả tốt nhất trong học tập, công việc hay những hoạt

động xã hội khác

2 Vai trò của tính chủ động.

a Vai trò của TCĐ trong các đặc tính của SV

Sự phân tách những đặc điểm trên của SV chỉ mang tính tơng đối, vì các

đặc điểm trên đan xen, tác động hỗ trợ lẫn nhau Ví dụ tính cá nhân không thểtách rời tính nhóm, tính năng động sáng tạo không thể tách rời tính cụ thể Sự kếthợp hài hòa giữa các yếu tố trên tạo nên một SV hoàn chỉnh

Trang 8

Khi đi tìm hiểu nguồn gốc sâu xa của các đặc điểm trên, ta thấy điểm xuấtphát của chúng đều nằm ở tính chủ động Thật vậy, để có đợc tính thực tế, trớchết phải hiểu thực tế là gì, và muốn hiểu thực tế là gì chúng ta phải tự mình tìmhiểu Hay nói cách khác phải chủ động trải nghiệm, quan sát, đánh giá, từ đó đa

ra 1 cái nhìn đúng đắn nhất về bản chất của sự vật hiên tợng, gắn liền với lợi íchcá nhân Để có tính năng động sáng tạo thì sự chủ động trong tìm kiếm thôngtin, nâng cao khả năng của bản thân là không thể thiếu đợc Ngoài ra, tính chủ

động trong tinh thần đại học, giúp SV định hớng đợc mục đích của bản thân Từ

đó, dám nghĩ, dám làm.Xét đến tính nhóm, mỗi thành viên trong một nhóm phải

tự ý thức đợc việc mình là thành viên của nhóm và chủ động phối hợp với cácthành viên khác để cùng phát huy đợc sức mạnh nhóm ý thức cá nhân đợc hìnhthành trên cơ sở các đặc điểm về hình dáng, tính cách, t duy, Mà các đặc điểmnày lại chịu sự tác động lớn của tính chủ động

b Vai trò của TCĐ trong các hoạt động học tập , nghiên cứu khoa học,

định hớng nghề nghiệp trong tơng lai

Năng lực giải quyết vấn đề của sinh viên biểu hiện ở các mức độ sau

Mức độ tích cực: Dới sự hớng dẫn của giáo viên, sinh viên tích cực, tự

giác tham gia giải quyết vấn đề, từ chỗ giải quyết những tình huống quen thuộc

đến việc vận dụng tri thức vào những tình huống mới Mức độ này có thể thểhiện ngay trên lớp hay qua các bài tập về nhà

Mức độ độc lập: Sinh viên tự mình hoàn thành các nhiệm vụ nhận thức

thuộc kiểu tái hiện – tìm kiếm, độc lập đọc giáo trình và tài liệu tham khảo đểgiải quyết những bài tập phức tạp ở mức độ này, sinh viên phải có những kiếnthức cơ bản cần thiết và sự giúp đỡ của giáo viên là không đáng kể

Mức độ sáng tạo: Sinh viên tự đề ra nhiệm vụ nghiên cứu cho mình và

chủ động, tích cực, độc lập tổ chức việc giải quyết nhiệm vụ đó ở mức độ này,sinh viên có thể đa ra những kết quả phân tích logic phỏng đoán và cách thứcgiải quyết vấn đề độc đáo, tối u

Tính chủ động của sinh viên có vai trò vô cùng quan trọng trong thời kỳhội nhập kinh tế quốc tế.Nếu không có tính chủ động,sinh viên khi ra trờng sẽ rấtkhó kiếm cho mình 1 công việc vì khi hội nhập thì cơ hội việc làm mở ra nhng ở

đó lại không dung nạp những ngời chỉ biết ỷ lại vào ngời khác Đó là vùng đấtmàu mỡ cho những sinh viên luôn muốn khẳng định bản thân,năng động ,sángtạo hết lòng vì công việc

Không chỉ là chìa khoá để tìm kiếm việc làm cho tơng lai,tính chủ độngcủa sinh viên còn có vai trò ngay trên giảng đờng đại học.Sinh viên nào có tính

Trang 9

chủ động ,luôn tìm tòi học hỏi, năng động trong các chơng trình ngoạikhoá ,tham gia một số câu lạc bộ thì tự bản thân mình sẽ rút ra các kinh nghiệmcần thiết trong cuộc sống và áp dụng nó vào thực tiễn.

Tính chủ động mang tính tích cực, là một nhân tố giúp con ngời hoànthành công việc một cách tốt nhất có thể.Một sinh viên chủ động tiếp cận vớinhững cái mới sẽ dễ dàng thích ứng với sự thay đổi hơn những sinh viên khôngchịu tự tìm tòi học hỏi Chính vì vậy tính chủ động cần thiết cho mọi ngời nóichung và sinh viên nói riêng Cụ thể nh sau

b.1 Đối với hoạt động học tập.

Học tập là nhiệm vụ quan trọng nhất đối với sinh viên, luôn phải đợc utiên hàng đầu, là yếu tố cần quan tâm xem xét nhiều nhất Chủ động trong việchọc tập nghĩa là tự giác nghiên cứu, tìm hiểu những gì mình cần, học những gì

có ích cho sự hiểu biết của mình, cho tơng lai

ở trên lớp, tính chủ động của sinh viên đợc thể hiện ở các mặt nh tham giaxây dựng bài, tích cực phát biểu đóng góp giúp bài học sinh động, sôi nổi hơn,tạo ra hứng thú học không chỉ cho mình mà cho các bạn khác tron lớp Làm bàitập ở nhà, học bài trên lớp là những việc bắt buộc đối với sinh viên giúp sinhviên đạt hiệu quả cao trong học tập Không những thế sinh viên còn cần nghiêncứu sâu hơn về các môn đang học nữa Một sinh viên thụ động sẽ chỉ học nhữnggì đợc giao, thậm chí còn lời làm bài tập, không chịu tìm tài liệu nghiên cứu Khi

đó kĩ năng của sinh viên ngày càng bị mài mòn sẽ dẫn tới tình trạng ngày càng

bị động hơn Trong khi đó, một sinh viên khác luôn luôn hoàn thành những yêucầu thầy cô giáo giao, thậm chí còn nghiên cứu sâu hòn về vấn đề, hiểu rõ vấn đềthì sẽ luôn làm chủ đợc mọi tình huống có thể xảy ra Nghiên cứu nhiều về mônhọc sẽ giúp sinh viên có cái nhìn tổng quát toàn diện và chính xác về các vấn đề

Sự chủ động sẽ rèn luyện cho sinh viên tính tự giác, không ngại khó, năng độngtrong mọi việc Sinh viên sẽ biết cách tốt nhất tìm ra hớng giải quyết vấn đề mộtcách nhanh chóng Không có gì khó hơn việc rèn luyện cho mình một thói quentích cực nh tính chủ động Nhng nếu không có sự chủ động đó thì sinh viên ngàycàng đi xuống, không bắt kịp với sự thay đổi của thời đại, nhất là trong thời kì

mà sự tiến bộ của khoa học kĩ thuật tính theo từng giờ

ở nhà, việc sinh viên dành thời gian rỗi để học thêm các kiến thức xã hội

là một việc vô cùng bổ ích Rèn luyện đợc tính chủ động Hiện nay, chủ trơngcủa phơng pháp giáo dục mới đó là lấy sinh viên làm trung tâm Điều đó cónghĩa là giáo viên chỉ là ngời hớng dẫn chứ không phải là ngời bày sẵn cho sinhviên nh trớc kia nữa Sinh viên sẽ tự nghiên cứu rồi rút ra đợc vấn đề, sau đó giáoviên xem xét, sửa đổi, đánh giá và giúp sinh viên điều chỉnh lại những vấn đề ch-

Trang 10

a chính xác Với cách học tập và nghiên cứu này phần lớn là sinh viên tự nghiêncứu nên thời gian học ở nhà của sinh viên là rất lớn Kết quả học tập của sinhviên có tốt hay không chủ yếu dựa vào khả năng tự học của sinh viên Tính chủ

động đợc thể hiện rất rõ tác động của nó trong phơng pháp dạy học này Sinhviên sẽ không thể có một kêt quả tốt nếu không biết phơng pháp học tập đúng

đắn

b.2 Đối với việc nghiên cứu khoa học

Nghiên cứu khoa học là một trong những đề tài mới đối với sinh viên khichuyển từ trung học lên đại học Đây là một lĩnh vực đòi hỏi khá cao về tính độclập, sáng tạo của sinh viên Sinh viên phải nghiên cứu khá sâu về vấn đề mình đa

ra nghiên cứu Các môn học trên lớp thờng đợc các thày cô giáo đa ra những đềtài thảo luận và yêu cầu sinh viên tự làm rồi trình bày trớc cả lớp Đây là mộtcách học mang tính tích cực Tuy vậy, nhiều sinh viên lại phàn nàn về vách họcnày không hiệu quả, kiến thức thu lợm đợc chẳng bao nhiêu Vậy lí do ở đây làgì? Cần phải thấy rằng, để cách học này đạt hiệu quả sinh viên phải phát huy hếttính tự học của mình, mà đặc biệt là tính chủ động: chủ động tìm các tài liệu ở

th viện, ở internet, ở sách báo…Đây là các yếu tố tác động quan trọng đến hinh thành chất lVới một cách học thụ động của sinh viên ViệtNam hiện nay thì kêt quả thu đợc không cao là điều không thể tránh khỏi Hơnnữa, nhà trờng thờng tổ chức cho sinh viên tham gia làm các đề tài nghiên cứukhoa học Trong lĩnh cực này đòi hỏi ở sinh viên một sự nghiên cứu và hiểu vấn

đề một cách sâu sắc, không thể do ăn may mà có thể thực hiện đợc đề tài Vậytính chủ động có ý nghĩa nh thế nào trong những vấn đề này? Một yếu tố quantrọng để có thể có thể hoàn thành các đề tài nghiên cứu khoa học đó là tìmnguồn tài liệu và phân tích tài liệu mình tìm đợc Sinh viên chúng ta hiện nay cótật là ngại đọc sách mặc dù biết rõ sách là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá Khi

đó việc nhận thức vấn đề sẽ bị hạn chế rất nhiều so với ngời thờng xuyên đọcsách Sinh viên đa ra rất nhiều lí do biện minh cho việc không đọc sách của mình

nh là thời gian học quá nhiều, lịch học dày đặc, thiếu kinh phí để mua sách, thviện cho sinh viên đọc tự do không nhiều…Đây là các yếu tố tác động quan trọng đến hinh thành chất lNhng phải thấy một nguyên nhânchủ yếu của hiện tợng này là tính thụ động của sinh viên Đa phần đều chỉ đọcsách khi có yêu cầu của giáo viên, tức là phải có một áp lực nào đó thì lúc đósinh viên mới tìm sách và nghiên cứu Bộ phần sinh viên ham đọc sách, chủ độngtim đọc luôn có một cách tiếp cận vấn đề mới mẻ, sáng tạo, phơng pháp tổng hợptài liệu khoa học, cách sắp xếp từng phần hợp lý Đây chính là lợi ích của việcchủ động trong nghiên cứu khoa học của sinh viên

b.3 Đối với hoạt động định hớng việc làm cho tơng lai.

Mục đích của sinh viên hớng tới là sau khi ra trờng có một công việc phùhợp với nguyện vọng, mức lơng cao, cơ hội thăng tiến tốt, môi trờng làm việc

Trang 11

thoải mái hoặc có sinh viên muốn tự mình đứng lên làm chủ, tự mình kinhdoanh Nhng dù mục đích nh thế nào thì cũng cần có một hoạch định sẵn khi cònngồi trên ghế nhà trờng Nghiên cứu về công việc, các lĩnh vực chuyên sâu của

nó luôn là điều cần thiết cơ bản Một sinh viên sẽ có cơ hội thành công lớn hơnnếu biết mình cần gì và mình phải làm nh thế nào Ngay khi đi học, chủ độngtrong việc định hớng việc làm sẽ giúp bạn biết cần phải làm gì để nâng cao kiếnthức chuyên môn về công việc mà mình lựa chọn Từ đó đặt ra các mục tiêu, cácphơng pháp cụ thể để đạt đợc mục tiêu đó Hiện nay, vấn đề định hớn việc làmcho tơng lai của sinh viên còn rất mù mờ Thậm chí nhiều sinh viên còn khôngbiết sau này mình sẽ làm về cái gì Không chủ động tìm hiểu về nghề nghiệp củamình sẽ là một vấn đề khó khăn khi sinh viên tìm các tài liệu nâng cao trình độbản thân cho công việc Hiện nay, khá nhiều sinh viên đã chủ động kiếm việclàm thêm nh gia s, phát tò rơi, thậm chí còn làm cho một số công ty Những côngviệc này cha đòi hỏi cao nhng cũng rèn luyện cho sinh viên một số kĩ năng cầnthiết cho công việc sau này nh cách giao tiếp ứng xử, cách tổ chức một công việc

nh thế nào cho có hiêu quả…Đây là các yếu tố tác động quan trọng đến hinh thành chất lĐây là những kĩ năng đòi hỏi tính thực tế cao Sinhviên không chủ động trong việc này sau khi ra trờng sẽ bỡ ngỡ, khó thích ứngngay với công việc, năng suất làm việc sẽ kém hơn Trong thời đại hiện nay, khi

đất nớc đang tiến hành hội nhập vào nền kinh tế thế giới ngày càng sâu rộng thìnhững trình độ cơ bản về ngoại ngữ là điều kiện cần thiết cho mọi sinh viên Hơnnữa, khoa học công nghệ ngày càng phát triển, thời đại chúng ta hiện nay là thời

đại của công nghệ số, thời đại của tự động hóa, khoa học công nghệ dần trởthành lực lợng sản xuất trực tiếp Việc tìm hiểu về những phát minh mới có tínhứng dụng cao là vô cùng cần thiết, sẽ tạo thuận lợi cho không chỉ việc học tậphiện tại mà còn công việc sau này Hiện nay tất cả mọi khâu trong sản xuất, kinhdoanh đang tiến dần đến sử dụng các công nghệ cao Sinh viên không chịu tìmhiểu sẽ lỗi thời, không đáp ứng đợc yêu cầu của nhà tuyển dụng Trớc kia khi ch-

a có ứng dụng của mạnh internet việc tìm tài liệu của sinh viên là vô cùng khókhăn, nhng hiện nay công nghệ đã giúp sinh viên giải quyết phần lớn công việckhó khăn đó, Một sinh viên chủ động sẽ tiết kiệm đợc thời gian công sức hiệuquả của công việc tăng lên rõ rệt

III Những nhân tố ảnh hởng đến TCĐ của SV.

1 Nhân tố khách quan.

a Phơng pháp giảng dạy của giáo viên

Yêu cầu đào tạo hệ cao đẳng và đại học trên thế giới đang tăng lên rấtnhanh cả về số lợng và chất lợng

Trang 12

Các phơng pháp dạy học mới dựa trên quan điểm phát huy tính tích cựccủa ngời học, đề cao vai trò tự học của học trò, kết hợp với sự hớng dẫn của thầy

đang đợc áp dụng rộng rãi trên thế giới

Thay đổi cách giảng dạy và cả việc tổ chức quá trình giáo dục, ứng dụngnhững công nghệ dạy học, phơng tiện kỹ thuật trong giảng dạy…Đây là các yếu tố tác động quan trọng đến hinh thành chất l

ở nớc ta, trong quá trình cải cách giáo dục đã có những thay đổi – đàotạo, mục tiêu, chơng trình, nội dung giáo dục phù hợp với yêu cầu phát triển kinh

tế - xã hội và đã đạt đợc những tiến bộ đáng khích lệ

Tuy nhiên, những thay đổi về phơng pháp còn quá ít, quá chậm Phơngpháp đang đợc sử dụng phổ biến trong các trờng đại học chủ yếu là thuyết giảng

có tính chất áp đặt của thầy, coi nhẹ hoạt động tích cực, chủ động của trò

Hiện nay có hai quan điểm chung đợc nêu ra trong giáo dục ở các cấp nhsau:

Quan điểm lấy ngời học làm trung tâm Quan điểm lấy ngời dạy làm trung tâm

1 GV định hớng nghiên cứu và tài liệu

5.GV độc quyền đánh giá cho điểm

Chúng ta xác định đợc 2 mục tiêu giảng dạy chính là: Tạo ra phơng phápgiúp SV có thể tự tìm hiểu kiến thức; truyền niềm cảm hứng cho họ, tạo ra độnglực giúp SV hứng thú trong học tập "Nhà giáo không phải là ngời nhồi nhét kiếnthức mà đó là công việc của ngời khơi dậy ngọn lửa cho tâm hồn."(Uyliam BatoDit) Ngọn lửa tâm hồn chính là lòng nhiệt tình của SV, sự thích thú của họ đốivới 1 vấn đề nào đó Nh vậy quan điểm lấy ngời học làm trung tâm đã thỏa mãn

đợc các mục tiêu trên, phát huy đợc tính chủ động của SV nhờ “khơi dậy đợcngọn lửa tâm hồn”

Tại một số nớc sinh viên học theo kiểu phát hiện vấn đề và giải quyết vấn

đề Mỗi vấn đề đợc giải quyết lại liên quan đến hàng loạt các vấn đề khác, quátrình cứ nh vậy cho đến vô cùng Trong quá trình học tập các sinh viên chủ độngtrao đổi các vấn đề với nhau và thầy giáo hớng dẫn để đa ra các kết quả đánh giá

Trang 13

phù hợp Nh vậy, các sinh viên của họ phát huy đợc hết các khả năng t duy sángtạo trong quá trình học tập nghiên cứu Hơn nữa các sinh viên sẽ đợc tạo niềmhứng khởi say mê trong quá trình học tập Đây là yếu tố cơ bản ảnh hởng đến kếtquả học tập và chất lợng sinh viên Ngoài ra thay vì phải lên giảng đờng nhiều,các giảng viên ở nớc ngoài có nhiều thời gian để nghiên cứu các vấn đề chuyênmôn sâu sắc hơn, dẫn đến có nhiều kết quả nghiên cứu Các kết quả nghiên cứunày lại đợc trình bày cho sinh viên, bổ sung thêm tri thức cho sinh viên Với cáchhọc này, coi sinh viên là trọng tâm, ngời thày chỉ làm công tác dẫn dắt Trongthực tế đã chứng minh sự hiệu quả của nó ở những nơi áp dụng Nó tạo ra mộtthế hệ trẻ năng động, sáng tạo luôn làm chủ đợc mình, làm chủ đợc tơng lai củachính mình Nhng đối với Việt Nam, phơng pháp giảng dạy còn rất nhiều điềuphải bàn đến.

Theo thực tế nghiên cứu cho thấy, có 3 cách giảng thờng đợc thực hiện:

- Cách thứ nhất: Giáo viên trình bày đầy đủ, chi tiết toàn bộ nội dung mônhọc trên lớp từ tiết đầu đến tiết cuối cùng của chơng trình theo phơng pháp giảngthuyết trình độc thoại Đây là cách giảng khá phổ biến hiện nay

Trong điều kiện chơng trình đào tạo nói chung và cho các môn chuyênngành nói riêng đều có xu hớng: số tiết giảm nhng khối lợng kiến thức tăng, việc

áp dụng phơng pháp giảng này gây rất nhiều khó khăn cho ngời dạy, đòi hỏi phảithay đổi phơng pháp phù hợp, sao cho với qũy thời gian có hạn phải chuyển tải

và tiếp thu đợc khối lợng kiến thức tối đa

Mặt khác, với cách giảng này, khiến cho không khí lớp học năng nề, đẩyngời học vào thế thụ động, chấp nhận, làm thui chột ý thức chủ động, tích cực vàsáng tạo của ngời học, tạo nên tâm lý lời đọc giáo trình, đọc sách tham khảo Vìvậy nhiều sinh viên không còn cảm thấy hứng thú khi đi học, chỉ chờ đến cuốihọc kỳ mợn sách vở của bạn bè để photocopy Một cách học nh vậy làm cho sinhviên không những không hiểu sâu về những kiến thức của môn học mà thậm chícòn làm sinh viên không thể nhớ các kiến thức mình đã học Bởi vì cuối kì mớibắt đầu học nên khả năng tiếp thu kiến thức chỉ là nhất thời, mang tính thời

điểm, học chỉ để thi không phải tích lũy kiến thức Đây là một kiểu học khá phổbiến của sinh viên hiện nay và một phần quan trọng chính là do tác động của ph-

ơng pháp giảng dạy này của giáo viên

Bên cạnh đó phơng pháp giảng dạy này không khuyến khích đợc SV tranhluận.Việt nam chúng ta là một đất nớc còn bị ảnh hởng nặng nề của t tởng phongkiến, trong Giáo dục điều này đợc thể hiện một cách rõ rệt nhất Truyền thốngtôn s trọng đạo ngoài những giá trị văn hóa không thể phủ nhận, nó cũng đồng

Trang 14

thời hình thành nên “nỗi sợ vô hình” của trò đối với thầy và “lời toàn năng” củathầy đối với trò

Tranh luận giữa thầy và trò là điều hiếm thấy trong môi trờng giáo dụchiện nay ở nớc ta Kiểu giáo dục một chiều áp đặt, khiến ngời học trở nên thụ

động, ỷ lại, ít tìm tòi, sáng tạo, rập khuôn máy móc lời giảng của thầy và nộidung trong sách giáo khoa Thực tế cho thấy có rất ít sinh viên nào dám đứng lên

“bắt bẻ” hay thắc mắc những gì mà họ cho là giáo viên nói cha chính xác Đâychính là hệ quả tất yếu của cách học thụ động từ những năm trớc Thời kì màthày đọc trò chép, học trò phải học đúng những gì giáo viên đã đa ra, không đợcphép sáng tạo, có ý kiến riêng Chính điều đó đã tạo nên tâm lý thụ động trongsinh viên Hơn nữa, những lời thầy cô đợc coi là khuôn mẫu không đợc phépthay đổi Khi đi thi sinh viên có hai lựa chọn là làm y theo những gì đã đợc thàycô giảng hoặc làm theo ý kiến riêng của mình ( đôi lúc ý kiến đó trái ng ợc hoàntoàn so với sách hoặc thày cô) Ta có thể đoán đợc sự lựa chọn của sinh viên làcách nào Chính cách chấm điểm ấy sẽ làm cho sinh viên không tích cực suynghĩ vì suy nghĩ cũng không có lợi ích gì

Trải qua một thời kì dài học tập, nghiên cứu theo cách đó, tính chủ độngcủa sinh viên cha kịp hình thành đã bị thui chột và khả năng nuôi dỡng lại tínhchủ động ấy là rất khó khăn

- Cách thứ hai: giáo viên giới thiệu giáo trình và tài liệu, sinh viên dựa vàogiáo trình và tài liệu để tự học, giáo viên chỉ hớng dẫn một số nội dung của ch-

ơng trình, còn lại nói chuyện ngoài lề Trờng hợp này tuy cá biệt nhng vẫn tồn tại

Với cách giảng này, vừa không cung cấp đợc kiến thức cơ bản cho sinhviên, vừa lãng phí thời gian lên lớp, lại vừa không phát huy đợc tích tích cực chủ

động sáng tạo của sinh viên Sinh viên tuy đã đủ khả năng tự nghiên cứu nhngnhiều vấn đề mang tính chất chuyên ngành đòi hỏi phải có sự dẫn dắt của nhữngngời có trình độ có kinh nghiệm Việc tự nghiên cứu của sinh viên cũng chỉ nên

ở một mức độ nào đó Không thể để sinh viên bị lệch hớng mà không có sự uốnnắn kịp thời của giáo viên định hớng lại cho sinh viên những kiến thức mà sinhviên hiểu sai Nếu giáo viên chỉ nêu tài liệu cho sinh viên tự nghiên cứu lấy thìkhông tránh khỏi sự lệch lạc trong nhận thức của một bộ phận sinh viên Giáoviên phải làm nhiệm vụ hớng dẫn sinh viên đi đúng hớng, tạo cho sinh viên mộtlối mòn trong t duy, rèn luyện cho sinh viên tính chủ động

- Cách thứ ba: giáo viên giảng ngắn gọn nhng cơ bản những kiến thức sinhviên cần nắm bắt, còn lại đa ra các đề tài trong nội dung chơng trình môn họccho sinh viên nghiên cứu, chuẩn bị rồi tổ chức thuyết trình tại lớp

Trang 15

Chúng ta sẽ đi đánh giá kỹ phơng pháp này tại phần chơng III.

b Điều kiện cơ sở,vật chất và đặc biệt là giáo trình.

Điều kiện cơ sở vật chất còn thiếu cũng là một yếu tố làm giảm tính chủ

động của sinh viên Số lợng sách tham khảo cũng nh tài liệu còn quá ít, không

đáp ứng đợc nhu cầu cần tra cứu của sinh viên Nếu có thì cũng là tài liệu đã đợcviết ra cách đây hàng chục năm, không còn phù hợp với tình hình hiện nay nữa.Trong thời kì hiện nay, điều kiện kinh tế xã hội thay đổi qua từng năm, khoa học

kĩ thuật thì thay đổi từng ngày nhng vẫn giữ nội dung của giáo trình cũ khôngthay đổi sao cho phù hợp với thời kì mới ảnh hởng đến sự tiếp thu thông tin củasinh viên Phòng học cũng là một vấn đề cần phải bàn đến Phòng học chật chội,thiếu không gian, số lợng sinh viên 1 lớp quá đông, cộng với việc bàn ghế sắpxếp không hợp lý…Đây là các yếu tố tác động quan trọng đến hinh thành chất l đã ảnh hởng rất lớn đến sinh viên Một lớp học quá đông,không gian lớp học không thoáng khí thực tế đã gây ra tình trạng sinh viên cảmthấy ngột ngạt, không thoải mái, làm họ không có tinh thần học hành Bàn ghếsắp xếp theo hớng 1 chiều từ trên xuống dới nên sinh viên gặp khó khăn khi thảoluận, thuyết trình Việc sắp xếp nh vậy chỉ phù hợp cho kiểu tiếp thu 1 chiều,sinh viên khó quan sát đợc các bạn xung quanh để tiếp thu đợc nhiều ý kiến hơn,giảm khả năng phản ứng nhanh của sinh viên trớc các tình huống cũng nh làmgiảm khả năng trao đổi thông tin khi thảo luận nhóm Trong trờng ĐH KTQDhiện nay, do cha có đủ số lợng lớp học cần thiết vì vậy rất nhiều lớp đã phảichuyển sang học nhờ ở một số trờng khác do nhà trờng đi thuê Điều này gây bấtlợi cho nhiều sinh viên trong việc sắp xếp thời khóa biểu cũng nh chỗ ở và phơngtiện đi lại Các trang thiết bị đi kèm với giảng đờng còn thiếu hoặc chất lợngkhông tốt không chỉ ảnh hởng tới sinh viên mà còn làm cho giáo viên không sửdụng đợc cách giảng dạy tiên tiến hiện Một vấn đề khá cần thiết hơn nữa đó làcơ sỏ vật chất của th viện trờng Nơi đầu tiên phải nói đến của một trờng đại học

phải là th viện, đó là kho tàng tri thức, là bộ mặt của trờng đại học Th viện cần

phải có cấu trúc sao cho phù hợp với cơ số sinh viên của trờng, nơi có một môitrờng thân thiện và thuận lợi cho sinh viên và nghiên cứu viên tìm t liệu để học

Sách tham khảo: Cần phải đầy đủ và cập nhật Bố trí theo cách thức sao cho sinhviên có thể tự động tìm kiếm sách mình cần tìm Nhân viên thủ th chỉ là ngời h-ớng dẫn khi cần thiết, và giải quyết các thủ tục mợn sách cũng nh tìm kiếm liên

hệ mợn sách nơi khác khi có yêu cầu

Trang 16

Ngoài sách đóng quyển có trong th viện của trờng thì việc liên kết với cáctrờng khác để có thể gia tăng cơ số sách có thể trao đổi chéo, nhằm đáp ứng nhucầu đọc

Một bộ phận trong th viện mới mà gần nh đóng một vai trò rờng cột đó là

th viện điện tử Th viện điện tử của một trờng đại học phải thuê bao các th viện

điện tử quốc tế lớn để có thể truy cập đợc gần nh đầy đủ các tài liệu lu trữ trênmạng phục vụ các ngành liên quan đế mục đích đào tạo của trờng, học tập củasinh viên và nghiên cứu Do đó dịch vụ phần cứng và phần mềm cũng cần phải

đủ mạnh để có thể đáp ứng đợc việc truy nhập và truy xuất thông tin nhanhchóng Thủ th cũng có nhiệm vụ đáp ứng tìm kiếm các t liệu điện tử không cótrong hệ thống thuê bao của trờng một khi có yêu cầu

Phần cấu trúc và không gian của th viện trờng đại học cần phải có đủ chỗrộng rãi, riêng t để sinh viên có thể học tại th viện Phòng lab th viện cũng phải

có một cơ số máy tính nhất định để sinh viên và nhân viên sử dụng

C, Hình thức học.

Trờng KTQD đã áp dụng hình thức tín chỉ cho sinh viên từ năm 2006 Đây

là một hình thức khá phổ biến đợc áp dụng ở nhiều nớc trên thế giới và tỏ ra rấthiệu quả Tuy vậy, khi đợc áp dụng tại trờng KTQD thì vẫn còn nhiều bất cập

ảnh hởng không nhỏ đến bản thân các sinh viên Ta có thể nhận thấy rằng, tínchỉ là một hình thức học có rất nhiều u điểm Trong phơng thức học truyềnthống, một chơng trình cử nhân gồm từ 200 – 210 đơn vị học trình, mỗi đơn vịhọc trình gồm 15 tiết tiếp xúc trực tiếp trên lớp với giáo viên (tơng ứng khoảng

3000 – 3150 tiết) Đây là một hình thức lấy công làm lãi, chú trọng vào việcnhồi nhét kiến thc của giáo viên sang sinh viên Do không tính đén thời gian tựhọc của sinh viên nên đã bỏ qua khả năng tự tìm tòi kiến thức, tự nghiên cứu.Trong phơng thức đào tạo theo tín chỉ tự học tự nghiên cuuwscuar sinh viên làmột yếu tố đợc coi trọng, đợc tính vào nội dung và thời lợng của chơng trình

Đây là phơng thúc đa giáo dục đại học về đúng với ý nghĩa của nó: ngời học tựhọc, tự nghiên cứu, giảm sự nhồi nhét kiến thức của ngời dạy, phát huy đợc tínhchủ động, sáng tạo của ngời học Ưu điểm thứ hai của phơng thức dạy học này là

sự mềm dẻo, linh hoạt của chơng trình Sinh viên có thể chọn cho mình nhữngmôn học trong nhóm lựa chọn mà mình thích Sinh viên có thể tham khảo ý kiếncủa thày cố vấn để chọn những môn học phù hợp với mình, để hoàn thành nhữngyêu cầu cho một văn bằng và để phục vụ cho nghề nghiệp tơng lai Sinh viên cóthể tiết kiệm không chỉ thời gian mà còn cả tiền bạc, sức khỏe nếu có thể kếtthúc, ra trờng sớm Cuối cùng, tín chỉ phản ánh mối quan tâm và những yêu cầu

Trang 17

của ngời học và các nhà sử dụng lao động trong các tổ chức kinh doanh và tổchức nhà nớc.

Đối với những SV KTQD đang theo học theo hình thức này để tích đủ tínchỉ, ra trờng đúng thời hạn thì số lợng tín chỉ phải học mỗi học kỳ là khoảng 30tín chỉ Nh vậy mỗi tuần SV phải lên giảng đờng 30 tiết( 25h/ tuần) Số lợng giờhọc trên lớp quá nhiều, dẫn đến SV không còn thời gian dành cho tự học vànghiên cứu sâu hơn về các môn học Không những thế, vì học tín chỉ, việc đăng

ký, sắp xếp lịch học còn cha hợp lý dẫn đến lãng phí thời gian, hoặc xếp lịch họcquá dày trong ngày gây ra sự mệt mỏi cho SV, học tập không hiệu quả Chỉ cầntrải qua một lần đăng kí học thì sẽ nhận thấy rõ sự cha hiệu quả của việc tổ chứchọc theo hình thức này Theo hình thức học tín chỉ đúng nghĩa sinh viên sẽ cóquyền chọn cho mình những lớp học mình thích, nghiên cứu những môn mà sinhviên cho là cần thiết cho kĩ năng của mình sau này

Nhng thực tế hiện nay cho thấy điều hoàn toàn khác Sinh viên phải rấtvất vả để có thể đăng kí đợc lịch học của mình Thậm chí đăng kí đợc đấy đủ cácmôn cần thiết còn khó khăn chứ cha nói gì đến những môn sinh viên muốn chọn

Số môn sinh viên đợc phép lựa chọn còn rất ít, cha đáp ứng đợc nhu cầu của sinhviên Hơn nữa, số lợng giáo viên còn thiếu dẫn đến tình trạng không đủ lớp họccho sinh viên đăng kí Việc một lớp học phải vợt chỉ tiêu là chuyện không thểtránh khỏi Thực tế, có lớp chỉ tiêu chỉ có 80 sinh viên nhng đã phải tăng lên 95,

96 ngời Tình trạng này thờng xuyên xảy ra trong mấy năm trờng áp dụng hìnhthức tín chỉ mà vẫn cha có biện pháp giải quyết hoặc giảm thiểu

d Đời sống SV

Đời sống của sinh viên còn nhiều khó khăn cũng là một trở ngại, làm giảmtính chủ động của sinh viên.Với số tiền “khiêm tốn” của bố mẹ cho mỗi thángsinh viên không thể trang trải đầy đủ cho cuộc sống của mình trong “ cơn bãogiá ”hiện nay Để có thể tiếp tục theo đuổi con đờng học vấn, nhiều bạn sinhviên đã lựa chọn con đờng đi làm thêm, có thể là làm gia s, làm chân bng bê,giúp việc nhà…Đây là các yếu tố tác động quan trọng đến hinh thành chất l Vừa tan tiết học tiết học là nhiều bạn hối hả lao đi làm thêmngay, với tâm trạng sợ bị trễ giờ, bị trừ lơng…Đây là các yếu tố tác động quan trọng đến hinh thành chất lChính vì đầu t thời gian quá nhiềucho việc làm thêm nên thời gian dành cho việc học hành bị giảm bớt Không chỉ

ảnh hởng đến thời gian học hành mà làm thêm quá nhiều còn ảnh hởng nghiêmtrọng đến sức khỏe của sinh viên Mất ngủ, gầy gò, thiếu máu, dễ bệnh tật…Đây là các yếu tố tác động quan trọng đến hinh thành chất llà

điều khó tránh khỏi Sức khỏe không đảm bảo lại quay lại ảnh hởng xấu đến việchọc Không chỉ không có thời gian học tập, làm bài tập ở nhà mà nhiều bạn còntận dụng giờ học trên giảng đờng để tranh thủ ngủ Nên cũng dễ hiểu khi đối với

Trang 18

sinh viên việc lên th viện tìm đọc các bài có liên quan đến bài học trên giảng ờng, cũng nh việc tham gia vào các câu lạc bộ dành cho sinh viên nhằm làm chocuộc sống sinh viên thêm phong phú là việc rất khó khăn Bên cạnh đó, còn cóvấn đề nhà ở, nhà trọ của sinh viên Trờng ta hiện nay đã có kí túc xá dành chosinh viên nhng mới chỉ đáp ứng đợc một phần so với nhu cầu của sinh viên Lựachọn của sinh viên không có tiêu chuẩn trong kí túc tất yếu là ngoại trú Trừnhững sinh viên có nhà trên Hà Nội, các sinh viên còn lại đều phải đi tìm chomình một chỗ ở thuận tiện.Một phòng trọ tốt không chỉ là thoáng, sạch, mà cònphải có giá cả phù hợp, an ninh đảm bảo, tiện lợi cho việc đi lại của sinh viên.Tuy vậy, tìm kiếm đợc những phòng trọ đó là rất khó khăn khiến cho sinh viênkhông chuyên tâm học tập Có những sinh viên có 1 tháng mà phải chuyển nhà

đ-5, 6 lần Nhà ở quá chật hẹp, an ninh không đảm bảo, nớc sinh hoat thiếu…Đây là các yếu tố tác động quan trọng đến hinh thành chất lkhiến cho sinh viên lúc nào cũng trong tâm trạng lo âu Đây là một thực tế đã có

từ lâu nhng vẫn cha đợc giải quyết triệt để

e Các tổ chức trong trờng.

Các tổ chức, các CLB…Đây là các yếu tố tác động quan trọng đến hinh thành chất lcũng cha làm tròn nhiệm vụ của mình, đó là gópphần tăng tính chủ động cho sinh viên, làm cho cuộc sống sinh viên thêm phongphú Đoàn TNCSHCM phải là đầu tàu thúc đẩy, phát động các chơng trình ngoạikhóa cho sinh viên Nhng hiện tại thì Đoàn TNCSHCM cha làm đợc điều này.Hiện nay chỉ có 2 chơng trình thực sự thu hút đợc sinh viên là “ hiến máu nhân

đạo” và “ mùa hè xanh” Trong 1 năm mà chỉ có 2 chơng trình thì quá ít, nh thếthì làm sao có thể thúc đẩy tính chủ động, tích cực của sinh viên đợc,làm saonâng cao khả năng giao lu học hỏi của các sinh viên, tạo cho sinh viên động lựctrong cuộc sống Đoàn sinh viên đã nh vậy còn các CLB thì còn khó khăn hơn

Có những CLB chỉ tồn tại trên giấy tờ, trên bàn giấy, cả năm không tổ chức đợc

1 hoat động nào Những CLB tổ chức đợc thì cũng chỉ mang tính chất hình thức

Nội dung thì đơn điệu, đấy là cha kể lặp đi lặp lại từ những năm trớc Cũng có

nhiều ý tởng mới sáng tạo nhng lại vấp phải khó khăn về kinh phí nên những ý ởng này trở thành không tởng Trờng KTQD là một trờng đợc đánh giá là khá sôinổi trong các hoạt động tình nguyện, các câu lạc bộ nhng vẫn cha thu hút đợc

t-đông đảo sinh viên trờng tham gia Hoặc sinh viên than gia đợc một thời gian rồi

bỏ vì không biết mình vào CLB đợc lợi ích gì hay không muốn phí phạm thờigian vào những hoạt đông nhàm chán Chúng ta không thể phủ nhận vai trò tíchcực cũng nh thành tựu của các CLB trờng trong thời gian qua, nhng để nó trởthành động lực thúc đẩy tính chủ động của sinh viên, giúp sinh viên có một môitrờng vui chơi học tập lành mạnh, một đời sống phong phú về tinh thần là điều

Trang 19

vô cùng khó khăn Một hoạt động của một câu lạc bộ, của một tổ chức tìnhnguyện cha đợc đánh giá cao, cũng nh cha thu hút đợc sự quan tâm của nhiềusinh viên Các hoạt động này là một phần quan trọng phân biệt sinh viên với cáccấp học trớc, nó giúp sinh viên nâng cao khả năng giao tiếp, hòa đồng với mọingời, tạo cho sinh viên sự tự tin khi đứng trớc đám đông trình bày quan điểm củamình Chính vai trò này nên cần phải có sự quan tâm đúng mức của nhà trờng

đối với công tác đoàn đội, CLB

f ảnh hởng của lối sống ảo.

Một nguyên nhân phải kể đến nữa đó chính là những trò chơi game online

đang bùng nổ hiện nay.Ta hãy thử bớc chân vào 1 hàng game chắc hẳn bạn sẽ dễdàng nhận ra những ngời đang chơi game ở đây có độ tuổi rất trẻ, họ đều chỉ

đang là học sinh, sinh viên Cuộc sống xa nhà không có bố mẹ thờng xuyên ởbên nhắc nhở khiến cho sinh viên dễ dàng sa đà vào những trò giải trí vô bổ màthậm chí còn vô cùng có hại mà tiêu biểu là các trò chỏi điện tủ này Có nhữngbạn ngoài những giờ lên giảng đờng thì tất cả thời gian đều có mặt ở hàng game.Thậm chí có những ngời còn bỏ học để game online Một điều đáng nói là dờng

nh nắm bắt đợc nhu cầu trên mà ở cạnh các trờng ĐH thờng có rất nhiều hànggame mọc lên Điển hình chúng ta có thể đi vào ngõ Cột cờ gần với 3 trờng ĐHlớn là ĐHKTQD, ĐHXD và ĐHBK thì sẽ không khỏi giật mình vì số lợng hànggame ổ đây Có lẽ phải gọi đó là ngõ “game online” thì đúng hơn Mật độ hànggame ở đây thật dày đặc, cứ khoảng hai nhà thì có một hàng game Với việc dễdàng game online nh thế nên sinh viên chơi game là một điều không khó hiểu Thời gian đáng lẽ phải danh cho học tập, cho nghiên cứu thì nay lại đợc dùngvào việc chơi game nên tính chủ động, sáng tạo ở sinh viên không đợc nâng cao

mà còn bị mất đi

2 Nhân tố chủ quan

Nh đã trình bày ở trên có rất nhiều nhân tố khách quan ảnh hởng đến TCĐcủa SV, nhng điểm cốt lõi ở đây phải bàn đến lại chính là những nhân tố chủquan tồn tại trong bản thân mỗi sinh viên

Yếu tố thể lực

Thống kê về tình trạng sức khỏe của SVKT( đợi lên th viện)

Tầm quan trọng của sức khỏe:

Trớc hết, chúng ta làm rõ khái niệm của sức khỏe và tác động của nó tới

sự phát triển của 1 cá nhân

- Sức khỏe đợc xem nh một hàng hóa tiêu dùng (consuming good), Grossman (1972) phát triển một mô hình dùng để giải thích mặt cầu của sức

Trang 20

khỏe và y tế Đối với 1 SV việc tiêu dùng hàng hóa sức khỏe ở đây biểu hiện chủyếu ở việc học tập, nâng cao kiến thức và các hoạt động vui chơi giải trí Không

có sức khỏe hoặc sức khỏe yếu đồng nghĩa với việc “ cầu” về sức khỏe không

đủ, mặc dù cung lớn Điều này dẫn đến SV khó có thể tham gia đợc nhiều hoạt

động, đồng thời tính chủ động bị giảm sút

- Sức khỏe còn đợc xem nh một t bản (health capital) dùng để đầu t,

một thứ hàng hóa t bản (capital good) Một ngời khỏe mạnh sẽ kiếm nhiều tiền

hơn một ngời bị bệnh tật triền miên Với thời gian, sức khỏe, nh một tài sản(assets), sẽ bị hao mòn dần, tiến đến việc cần có các dịch vụ y tế để phục hồi sứckhỏe hoặc làm chậm lại tốc độ khấu hao (depreciation)( sách về kinh tế về sứckhỏe và y tế (economics of health and health care), đợc bàn trong phần sản xuấtsức khỏe (production of health) Khái niệm này coi sức khỏe nh 1 t bản dùng để

đầu t vào các hoạt động hàng ngày của SV Nếu nh khối lợng đầu t nhỏ sẽ dẫn

đến sản xuất nhỏ (ít tham gia vào các hoạt động, cũng nh tính chủ động thấp), lợinhuận thấp ( hiệu quả và thành tích đạt đợc) và tích lũy thấp Và tích lũy thấp lạidẫn đến đầu t ít Điều này nh 1 cái vòng luẩn quẩn tạo cho SV tính thụ động cao

và thành tích thấp, đã bị động nay sinh viên ngày càng bị động hơn

- ảnh hởng của tính cách đến tính chủ động của SV.Dụt dè, nhút nhát, dễdãi với bản thân

Những SV dụt dè, nhút nhát chiếm số lợng không nhỏ trong SV Họ lànhững ngời ngại nói ra ý kiến của mình, sợ sai, không tự tin khi đứng trớc đám

đông nói ra chính kiến của mình Điều này ảnh hởng nghiêm trọng tới tính chủ

động,tạo ra 1 phơng pháp học thụ động, không bàn luận, không tranh cãi Đặcbiệt đối với 1 SV kinh tế, sự tự tin là hết sức cần thiết cho các kỹ năng nh giaotiếp, thuyết phục hay làm việc nhóm

Bên cạnh bộ phận này là những ngời quá dễ dãi với bản thân Dễ dãi ở đâybiểu hiện ở việc lời suy nghĩ, lời đặt ra các vấn đề và giải quyết chúng, lời tranhluận, lời đọc Ngoài ra còn ham vui, đốt cháy thời gian và tiền của vào nhữnghoạt động nh: nhậu nhẹt , tán gẫu, xem phim, cờ bạc…Đây là các yếu tố tác động quan trọng đến hinh thành chất l Từ đó dẫn đến tính ỷ lại,thụ động gây ảnh hởng tới thành tích đạt đợc cũng nh việc nâng cao kiến thức,

kỹ năng xã hội.Theo nh ngạn ngữ Đức có viết: Dễ dãi là phơng châm của thể xác

và là tro nguội của tâm hồn Ngoài ra một số SV còn mắc bệnh: “ ta đây biết hết

mọi thứ nhng không thèm nói” Bệnh này là do dễ dãi với bản thân và cá nhânchủ nghĩa mang lại Không có ý thức xây dựng tập thể, xây dựng bài học

- Cha có phơng pháp(Thức đêm, ngủ ngày, cha phân bổ đợc thời gian,Bệnh lời đọc, Bị động vì thiếu chuẩn bị, thụ động vì thiếu sẵn sàng)

Trang 21

Bệnh lời đọc biểu hiện ở việc, hầu hết SV chỉ lên th viện hoặc tìm tài liệukhi có những bài thảo luận trên lớp hoặc làm tiểu luận đề tài, tức là phải chịu ápchế mới chịu đọc Bệnh lời đọc hạn chế Sv tiếp thu hững kiến thức về chuyênngành, lý luận cần thiết cho những bài học trên lớp Vì thầy cô giáo không dạy

đợc tất cả những kiến thức của bộ môn và sách giáo trình cũng chỉ truyền tảinhững nội dung chính nhất mà thôi Do đó việc đọc thêm tài liệu là hết sức cầnthiết Bên cạnh đó, việc đọc không phải chỉ giới hạn trong những kiến thứcchuyên môn mà còn là những kiến thức xã hội Chẳng hạn đối với 1 SV ngànhbất động sản thì việc nắm bắt đợc biến động của thị trờng bất động sản là cầnthiết, bên cạnh đó cũng phải hiểu đợc các luật về đất đai, cũng nh mối quan hệgiữa thị trờng bất động sản với thị trờng tài chính, chứng khoán Thậm chí họcòn phải có những kiến thức về qui hoạch, đô thị hay về kiến trúc, xây dựng.Ngoài ra ngay cả những mẩu tin vắn hàng ngày cũng có thể giúp bạn giải quyết

đợc 1 vấn đề quan trọng nào đó Kho tàng kiến thức nhân loại là vô biên, những

ai không biết nắm bắt nó, không rèn luyện cho mình kỹ năng đọc hiểu thì khó cóthể chủ động trong cuộc sống

Bị động vì thiếu chuẩn bị, thụ động vì thiếu sẵn sàng

Phần lớn SV trớc khi lên lớp không tìm hiểu trớc về bài đọc thậm chí cha

đọc trớc giáo trình ở nhà, điều này dẫn đến tính bị động vì thiếu chuẩn bị

Ai cũng hiểu để hình thành cũng nh phát huy tính chủ động thì bản thânmỗi sinh viên phải tự hiểu và tự ý thức đợc bản thân Nếu không có sự vận động,

cố gắng của chính bản thân mỗi ngời thì tất cả các nhân tố khách quan dù có tíchcực đến đâu cũng không thể nâng cao đợc tính chủ động của sinh viên

IV Tiêu chí đánh giá.

Nh trên đã phân tích chúng ta đều có thể nhận thấy tầm quan trọng của tínhchủ động của sinh viên đối với chính bản thân họ, và để đánh giá một con ngờihay cụ thể là một sinh viên có tính chủ động cao là nh thế nào chúng ta phải dựavào rất nhiều tiêu chí khác nhau

Nhiệm vụ chủ yếu của sinh viên là học tập nâng cao kiến thức của mình,rèn luyện để chuẩn bị bớc vào một môi trờng mới Vì vậy, tính chủ động củasinh viên quan trọng nhất đợc phản ánh trong khả năng năng động, sáng tạotrong học tập Chúng ta không thể lợng hóa chính xác một mức học tập nh thếnào của sinh viên thì đợc gọi là chủ động nhng hoàn toàn có thể nhận thấy mộtsinh viên chủ động trong học tập hay không thông qua một số tiêu chí nh

Trang 22

sau.Đầu tiên phải kể đến một kế hoạch học tập cụ thể rõ ràng Một thời khóabiểu cho việc học tập trong ngày của mình là không thể thiếu Sự phân chia thờigian trong ngày hợp lí sẽ giúp sinh viên học tập, làm việc hiệu quả hơn, tránhtình trạng mọi công việc dồn cùng vào một lúc hoặc tình trạng “nớc đến chânmới nhảy” nh của một số không nhỏ sinh viên hiện nay Kết hợp với một thờikhóa biểu hợp lý là sự năng động của chính bản thân sinh viên trong mọi côngtác liên quan đến nhiệm vụ chính của mình Sáng tạo trong học tập, không chỉtrên lớp mà đợc thể hiện ở việc tự học ở nhà của chính các bạn sinh viên Trênlớp phải tích cực tham gia xây dựng bài, góp phần làm cho bài học trở nên sinh

động, nâng cao khả năng tiếp thu của chính viên và các bạn trong lớp Sinh viênkhông thể hiểu tất cả mọi vấn đề thầy cô giáo giảng nên phải mạnh dạn hỏi lạiphần không hiểu để nắm bắt bài đợc sâu hơn.Một sinh viên không thể nói là chủ

đông khi lên lớp không bao giờ phát biểu, có ý kiến về bài học hoặc trả lời cáccâu hỏi đợc đặt ra Cũng nh vậy, củng cố lại bài học trên lớp bằng cách học lại ởnhà không bao giờ là thừa Việc học ở lớp và ở nhà phải bổ sung kết hợp vớinhau mới tạo ra hiệu quả tốt nhất Hiện nay sinh viên trờng ta đang đợc học theohình thức tín chỉ, một hình thức đổi mới khá tốt cho sinh viên, cần phải tận dụnghết các u điểm của hình thức này Thực tế, hình thức tín chỉ đánh giá cao khảnăng tự học tự nghiên cứu của sinh viên, thời gian tự học ở nhà của sinh viên khánhiều, nếu không có ý thức sinh viên sẽ rất dễ không theo kịp chơng trình Hơnnữa, thuyết trình và làm bài tập nhóm cũng là một nội dung không thể thiếu củahình thức học mới nên sinh viên cần phải thích ứng nhanh chóng với cách họcmới để cos kết qua rhocj tập tốt nhất Kết hợp với sự chủ động của bản thân sinhviên tất nhiên cũng cần sự tác động của các yếu tố khách quan nh phơng phápgiảng dạy, điều kiện cơ sở vật chất của trờng và điều kiện sống của bản thân sinhviên nhng chúng ta không thể viện những lý do đó để che đậy sự bị động củamình Mục tiêu của sinh viên sau khi ra trờng là tìm đợc một công việc phù hợpvới bản thân, có khả năng thăng tiến tốt…Đây là các yếu tố tác động quan trọng đến hinh thành chất lnên việc rèn luyện cho mình những kĩnăng nh tin học, tiếng Anh là rất cần thiết Có thể nói đây là những chứng chỉ cơbản là điều kiện cần để sinh viên có khả năng tìm đợc công việc tốt

Tiêu chí thứ hai để đánh giá sự chủ động của một sinh viên là tham gia cáccâu lạc bộ hoặc các đội sinh viên tình nguyện của trờng Một sinh viên khi thamgia vào các câu lạc bộ trên sẽ là một môi trờng tốt rèn luyện bản thân, giúp sinhviên tự tin hơn với chính bản thân, tự tin hơn khi đứng trình bày trớc những ngờikhác – một kĩ năng quạn trọng của sinh viên kinh tế Một ngời luôn tự tin là ng-

ời đã nắm 50% sự thành công trong tay mình Đa số sinh viên tham gia vào

Trang 23

những câu lạc bộ trên đều nhận thấy sự tiến bộ rõ rệt của mình, từ đó làm cơ sởcho sự phát triển toàn diện của sinh viên sau này Hiện nay, trờng ta đã có rấtnhiều câu lạc bộ, nâng cao các kĩ năng mềm cho sinh viên nh : câu lạc bộ tiếnganh kinh tế, MEC, CLB kinh tế trẻ, CLB du lịch trẻ…Đây là các yếu tố tác động quan trọng đến hinh thành chất lCLB tiếng Anh kinh tếhàng tuần có tổ chức một buổi talkshow, giúp cho sinh viên nâng cao khả năngnghe nói tiếng Anh, CLb kinh tế trẻ tổ chức ra các buổi nói chuyện hớng nghiệp,tạo cơ hội làm việc cho sinh viên…Đây là các yếu tố tác động quan trọng đến hinh thành chất l

Sinh viên cần phải tự mình học tập hoàn thiện các kĩ năng không đợc họctrên lớp nhng lại rất cần thiết cho hiện tại cũng nh công việc trong tơng lai Đó làkhả năng làm việc nhóm, khả năng thuyết trình, khả năng thuyết phục ngời khác,khả năng tổng hợp bao quát vấn đề…Đây là các yếu tố tác động quan trọng đến hinh thành chất lHọc vấn của sinh viên bao giờ cũng quantrọng nhng một điều quan trọng không kém đó là cách vận dụng những hiểu biết

đó vào mục đích của mình và những kĩ năng trên là công cụ quan trọng để sinhviên thể hiện khả năng của họ, tạo nên một con ngời hoàn thiện Vì vậy chủ độngcủa sinh viên còn đợc thể hiện ở chỗ tự bản thân sinh viên phải nhận thức đợctầm quan trọng của các kĩ năng này và tìm cách tự nâng cao trau dồi thêm khảnăng của mình Đánh giá sinh viên chủ không chỉ thông qua các tiêu chí này màcòn cần phải nói đến khả năng đọc sách báo, xem tivi, vào mạng, nắm bắt cácthông tin thời sự thực tế Đối với sinh viên các ngành khác thì việc nắm bắtthông tin thời sự về các vấn đề trong xã hội hiện nay nh kinh tế, chính trị, vănhóa…Đây là các yếu tố tác động quan trọng đến hinh thành chất lcó vẻ nh không quạn trọng, nhng một sinh viên kinh tế xa rời thực tiễn, chỉbiết lí thuyết, không cập nhật những kiến thức mới thì không thể làm việc đợc,hoặc làm việc không hiệu quả Vì vậy, cần phải rèn luyện ngay từ khi còn ngồitrên ghế nhà trờng những khả năng không bao giờ bị coi là thừa trong mọi xãhội

Trang 25

Chơng II Đánh giá về TCĐ hiện nay của Sv KTQD.

I Giới thiệu chung về Sv đại học KTQD.

1 Đội ngũ Sv KTQD trong những năm gần đây

a Số lợng sv phân theo ngành đào tạo

Nămthứ 2

Nămthứ 3

Nămthứ 4

BảNG 1- Số LƯợNG SV KTQD PHÂN THEO NGàNH ĐàO TạO

a.2 Số lợng sv phân theo môn ngoại ngữ.

Nămthứ 2

Nămthứ 3

Nămthứ 4

Trang 26

B¶NG 2 : Sè L¦îNG SV PH¢N THEO M¤N NGO¹I NG÷

Trang 27

Số sv

có mặt

đầukhóahọc

Số svtheohọc

đếncuốikhóahọc

Loạigiỏi

Loạikhá

Loại trungbình khá

Loại trungbình

Tổngsố

Trang 28

6 §µo t¹o liªn th«ng

7 HÖ chuyªn tu cò

8 §µo t¹o tõ xa

B¶NG 3: Sè L¦îNG SV TèT NGHIÖP N¡M 2007

Trang 29

2.Hội sv

Hội Sv của trờng gồm 25 clb, tổ, đội, ban,nhóm, chia ra làm 3 mảngchính: sở thích đoàn đội, tổ chức hội sinh viên Mỗi mảng có những đặc thùriêng, nhng có đặc điểm chung là tạo môi trờng vui chơi lành mạnh, giúp đỡ sinhviên trong học tập cũng nh trong đời sống hàng ngày Với các tổ chức đoàn đội,

đó là nơi gặp gỡ, giao lu, tổ chức các hoạt động giúp đỡ cộng đồng Các hoạt

động tiêu biểu nh mùa hè xanh, hiến máu nhân đạo, giúp đỡ trẻ em khiếm thị ờng Nguyễn Đình Chiểu Hàng tháng tổ chức giao lu 2 đến 3 lần Các clb manghình thức học thuật nh du lịch, tiếng anh thơng mại, nghiên cứu khoa học, clbkinh tế trẻ…Đây là các yếu tố tác động quan trọng đến hinh thành chất lcác hình thức hoạt động mang tính nâng cao kỹ năng Chẳng hạn,clb du lịch, ngoài việc sinh hoạt clb còn tổ chức dẫn các tua du lịch, đặc biệt cócác đoàn nớc ngoài Hoạt động này không những nâng cao đợc kỹ năng về cáchoạt động liên quan đến du lịch, vốn ngoại ngữ cho sinh viên đồng thời hìnhthành đợc nguồn ngân sách tự cấp Clb tiếng anh kinh tế, hàng tuần có mộtbuổi talk show nơi rèn luyện kỹ năng nói và nâng cao kiến thức kinh tế Ngoài

tr-ra clb nghiên cứu khoa học là nơi các Sv có điều kiện học tập ph ơng phápnghiên cứu, viết các đề tài, tiếp cận dễ dàng với các đề tài cấp tr ờng, cấp bộ…Đây là các yếu tố tác động quan trọng đến hinh thành chất l

Các tổ chức hội sinh viên hàng năm tổ chức các chơng trình gặp gỡ giữa

Sv và doanh nghiệp nh hội chợ việc làm, các cuộc thi tìm hiểu về vấn đề kinh tế,

có tài trợ của các doanh nghiệp, hay hoạt động thờng kỳ hàng năm vào tháng 5,

6 vào thời điểm Sv năm thứ 4 ra trờng

ý kiến của phó chủ tịch hội Sv hiện thời, Lê Nhã Phơng, nói rằng các Svlãnh đạo trong các clb, sinh viên tình nguyện sẽ đào tạo đội ngũ cán bộ kế tiếp,tạo điều kiện thuận lợi cho những khóa sau có thể phát huy đợc khả năng củamình Ngoài ra, Phơng cũng nhận xét, không thể nói Sv các khóa mới vào thiếuchủ động hơn Sv các khóa trên Thậm chí họ rất nhiệt tình, có nhiều ý tởng mớilạ Hàng năm cũng có những hoạt động chào mừng Sv khóa mới, tạo sân chơicho họ

II Đánh giá

1 Nhân tố chủ quan tác động đến TCĐ.

Để đánh giá phần nội hàm tính chủ động của sinh viên KTQD, chúng tôi

đánh giá dựa trên các tiêu chí sau: đọc sách và chuẩn bị bài cũ, thời gian tự học ởnhà, chủ động nghiên cứu sâu hơn về 1 môn học nào đó, chủ động tìm kiếmthông tin trên internet hoặc trên các kênh thông tin khác, chủ động sắp xếp thờigian của mình theo một thời gian biểu và thực hiện đúng thời gian biểu đó, chủ

Trang 30

động tham gia các CLB, thái độ học tập trên lớp,tự định hớng cho nghề nghiệp

t-ơng lai và chủ động chuẩn bị các kĩ năng cần thiết khác cho công việc sau nay

Trong 200 bảng hỏi chúng tôi đa ra và thu về đợc thì có 43,20% đọc sách

và chuẩn bị bài cũ trớc khi đến lớp và với câu trả lời là “ không” thì tỷ lệ này là56,80% Tuy nhiên, ở các khóa thì tỷ lệ trên cũng khác nhau Với K47 thì tỷ lệtrên lần lợt là 38,80% và 61,20%, K48 là 30,00% và 70,00%, K49 là 46,00% và54,00%, K50 là 58,00% và 42,00%

Nh vậy có thể thấy việc đọc sách và chuẩn bị bài cũ ở sinh viên KTQD cònrất hạn chế Và ở sinh viên năm 1 và năm 2 thì việc chuẩn bị bài còn cao nhng tỷ

lệ trên lại giảm xuống ở các sinh viên năm 3 và năm 4 Vậy thì nguyên nhân tạisao lại có sự khác biệt này giữa các khóa với nhau Tỉ lệ này cao vì sinh viênnăm 1 và năm 2 vẫn còn giữ đợc u điểm của phơng pháp học ở THPT ở các tr-ờng cấp phổ thông trung học, việc chuẩn bị bài trớc khi đến lớp là một việc bắtbuộc đối với mọi học sinh Thầy cô giáo có 15 phút đấu giờ để hỏi bài cũ củahọc sinh Và điểm mà thầy cô giáo đánh giá sẽ đợc đa vào bảng điểm của họcsinh Với phơng pháp này đòi hỏi ngời học phải chuẩn bị bài đến lớp nếu khôngmuốn bị điểm thấp Khi lên đại học, sinh viên vẫn còn giữ nếp suy nghĩ , thóiquen cũ vì vậy coi việc chuẩn bị bài là quan trọng Còn sinh viên năm 3 và năm

4 những sinh viên đã khá quen thuộc với phơng pháp giáo dục ở bậc đại học làsinh viên tự giác là chính, không còn sự dẫn dắt từng bớc một của ngời thầy Nếubản thân sinh viên không tự ý thức đợc những điều nên hoặc không nên làm thì

sẽ dẫn tới sự lời biếng, không tự giác học bài cũ nh trớc mà không cần sự thúcgiục của thầy cô giáo Với cách học mang tính tự giác là chính nh hiện nay khicha rèn luyện cho sinh viên tính chủ động thì sẽ là nhân tố tác động tiêu cực chosinh viên, tạo điều kiện cho sinh viên ngày càng trở nên chây lời hơn Hơn nữa

sự đánh giá của nhà trờng đối với sinh viên chỉ thông qua 3 loại điểm với tỷ lệ

điểm cuối kì mang ý nghĩa quyết định cho nên ở các sinh viên năm 3,4 này đãhình thành t tởng để cuối kì học và đã xem nhẹ việc chuẩn bị bài trớc khi đếnlớp Và nhiều khi sinh viên vẫn qua kì thi một cách dễ dàng, nhng điều đáng nói

là đọng lại trong đầu sinh viên sau mỗi kì thi là cái gì? Đây là câu hỏi không quákhó để trả lời Thực tế, do học để đi thi và chỉ học trong vài ngày một cuốn giáotrình nên sinh viên chỉ có thể nhớ qua loa và không thể nhớ lâu những kiến thức

đó Kết quả là sau mỗi kì học sinh viên không hề tích lũy đợc những kiến thứccần thiết và có thể kéo theo các môn liên quan Việc học đã trở nên vô ích, tốnthời gian của cả thày và trò Đây là một thực trạng không phải là hiếm có, thậmchí còn khá phổ biến

Trang 31

Biểu đồ 1- Tỷ lệ đọc sách và chuẩn bị bài của sV 4 khóa

Trờng ta đã bắt đầu tiếp cận với phơng pháp học theo hình thức tín chỉ.Với phơng pháp mới này, sinh viên chúng ta đợc sắp xếp một số tiết học sẽnghiên cứu ở nhà Đây là khoảng thời gian khá quan trọng giúp sinh viên hiểu rõhơn về môn học Nhng sinh viên chúng ta giành quỹ thời gian ở nhà nh thế nào?Theo điều tra cho thấy: Có 44,7% sinh viên có thời gian tự học ở nhà < 2h,39,70% có thời gian tự học ở nhà từ 2 – 4h và 15,60% có thời gian tự học ở nhà

> 4h ở K47 các tỉ lệ lần lợt là 52,00%, 32,00%, 16,00%; ở K48 là 48,00%,44,00%, 8,00%; ở K49 là 44,90%, 44,90%, 10,20%; ở K50 là 34,00%, 38,00%,28,00% Ta nhận thấy K50 có thời gian tự học ở nhà > 4h chiếm tỷ lệ cao nhất,tiếp đến là K47, thấp nhất là K48 Thứ tự này cho ta thấy một điều đáng quantâm là tinh thần tự giác ngày càng mai một theo thời gian Nó đi ngợc lại với sựphát triển cần thiết Đúng ra, càng học lên cao tính tự chủ trong mỗi ngời phải có

xu hớng tăng lên do đợc rèn luyện học tập trong môi trờng mang tính giáo dụccao nhng ngợc lại trong sinh viên trờng ta là mới vào trờng thì sự tự giác càngcao và trải qua những năm học thì ngày càng bị suy giảm

Thời gian tự học ở nhà

2h - 4h

> 4h

< 2h 45%

16.4 % 6.4%

38.6%

Trang 32

Biểu đồ 2- thời gian tự học ở nhà

Tính chủ động của sinh viên còn đợc đánh giá qua việc chủ động nghiêncứu sâu hơn về 1 môn học nào đó Có 66,5% sinh viên đợc hỏi trả lời là đã từngnghiên cứu sâu về 1 môn học nào đó Tỷ lệ này tăng lên theo số lợng năm họccủa sinh viên Với K47 ( sinh viên năm 4) tỉ lệ này cao nhất là 78%, tiếp đến làK48 ( sinh viên năm 3) là 70%, với K49 là 66% và K50 là 52% Nguyên nhân làcùng với số năm học tại trờng tăng lên thì sinh viên càng có nhiều cơ hội tiếp cậnvới các môn học đòi hỏi phải có sự tìm tòi, nghiên cứu sâu nhiều hơn, các mônhọc đó cũng đòi hỏi tính thực thế nhiều hơn Do đó sinh viên phải chủ độngnghiên cứu sâu nhiều hơn ít nhất là các môn chuyên ngành rồi đến những mônhọc mà sinh viên a thích Tuy nhiên mặc dù tỉ lệ này có tăng lên nhng tốc độtăng giảm dần 78% ở K47 là 1 con số còn thấp K47 là khóa sinh viên sắp ra tr -ờng thì tỉ lệ này phải cao hơn nữa, điều này chứng tỏ là sinh viên năm cuối nhngtính chủ động trong vấn đề tự nghiên cứu vẫn cha cao, vẫn cha tự mình tìm tòi,nghiên cứu để đáp ứng những đòi hỏi của công việc sau này Ngợc lại với tỉ lệchủ động nghiên cứu sâu còn thấp thì tỉ lệ cha chủ động nghiên cứu còn khá cao( 33,5% ) Có các nguyên nhân sau đợc đa ra để lí giải cho vấn đề trên là: không

có thời gian ( 28,8% ), cảm thấy không cần thiết vì không vận dụng gì cho saunày ( 10% ), thầy cô giáo không yều cầu nên không làm ( 38,8% ), hoàn toànkhông thích nghiên cứu ( 22,5% ) Với nguyên nhân do thầy cô giáo không yêucầu nên không làm chiếm tỉ lệ lớn nhất cho thấy trong vấn đề tự nghiên cứu sâunày sinh viên KTQD còn thụ động phụ thuộc nhiều vào thầy cô giáo, cha có ýthức tự mình nghiên cứu Nuyên nhân chủ yếu của tình trạng trên là sinh viêncủa ta cha nhận thức rõ đợc lợi ích của việc nghiên cứu đó Sinh viên cha thấy đ-

ợc mặt tích cực, lợi ích lâu dài của việc nghiên cứu sâu, tìm tòi về các môn học.Tất cả các kiến thức đều cần thiết cho cuộc sống, ta cha biết sau này chúng tacần những gì nên có thể tiếp cận đợc những kiến thức nào cũng là bổ ích đối vớimọi sinh viên

Không chỉ ở nhà, việc học tập trên lớp của sinh viên chính là một nguồnkiến thức quan trọng đối với sinh viên.Và vấn đề thái độ học tập trên lớp này,chúng tôi đánh giá qua các mặt sau: Đầu tiên phải kể đến sự tham gia thảo luận

Ngày đăng: 19/07/2013, 11:27

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BảNG 1- Số LƯợNG SV KTQD PHÂN THEO NGàNH ĐàO TạO - Tính tự chủ của sinh viên trường Đại học Kinh Tế Quốc Dân
1 Số LƯợNG SV KTQD PHÂN THEO NGàNH ĐàO TạO (Trang 29)
BảNG 2 : Số LƯợNG SV PHÂN THEO MÔN NGOạI NGữ - Tính tự chủ của sinh viên trường Đại học Kinh Tế Quốc Dân
2 Số LƯợNG SV PHÂN THEO MÔN NGOạI NGữ (Trang 30)
BảNG 3: Số LƯợNG SV TốT NGHIệP NĂM 2007 - Tính tự chủ của sinh viên trường Đại học Kinh Tế Quốc Dân
3 Số LƯợNG SV TốT NGHIệP NĂM 2007 (Trang 32)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w