1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Áp dụng biện pháp kê biên tài sản đối với tài sản đang bị cầm cố, thế chấp theo pháp luật việt nam

126 293 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 126
Dung lượng 1,33 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong phạm vi nghiên cứu, luận văn sẽ chỉ đề cập đến các công trình nghiên cứu điển hình về áp dụng biện pháp kê biên tài sản đối với tài sản đang bị cầm cố, thế chấp: Luận văn thạc sĩ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

TRỊNH THỊ SEN

ÁP DỤNG BIỆN PHÁP KÊ BIÊN TÀI SẢN ĐỐI VỚI TÀI SẢN ĐANG BỊ CẦM CỐ, THẾ CHẤP THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội - 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

TRỊNH THỊ SEN

ÁP DỤNG BIỆN PHÁP KÊ BIÊN TÀI SẢN ĐỐI VỚI TÀI SẢN ĐANG BỊ CẦM CỐ, THẾ CHẤP

THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

Chuyên ngành : Luật Dân sự và Tố tụng dân sự

Mã số : 60 38 01 03

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học:TS NGUYỄN VINH HƢNG

Hà Nội - 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi.Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trông bất kỳ công trình nào khác.Các trích dẫn, ví dụ, số liệu trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét đề tôi có thể bảo vệ luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Trịnh Thị Sen

Trang 4

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ NGỮ VIẾT TẮT

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG BIỆN PHÁP KÊ BIÊN TÀI SẢN ĐỐI VỚI TÀI SẢN ĐANG BỊ CẦM CỐ, THẾ CHẤP 7

1.1 Áp dụng biện pháp kê biên tài sản đang bị cầm cố, thế chấp trong thi hành án dân sự 7

1.1.1 Khái niệm tài sản cầm cố, thế chấp và áp dụng biện pháp kê biên tài sản đang bị cầm cố, thế chấp trong thi hành án dân sự 7

1.1.2 Đặc điểm áp dụng biện pháp kê biên tài sản đang bị cầm cố, thế chấp 13 1.1.3 Bản chất áp dụng biện pháp kê biên tài sản đang bị cầm cố, thế chấp 15 1.1.4 Nguyên tắc áp dụng biện pháp kê biên tài sản đang bị cầm cố, thế chấp 17

1.1.5 Điều kiện áp dụng biện pháp kê biên tài sản đang bị cầm cố, thế chấp 19 1.1.6 Vai trò và ý nghĩa của áp dụng biện pháp kê biên tài sản đang bị cầm cố, thế chấp 21

1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của chế định kê biên tài sản đang bị cầm cố, thế chấp trong pháp luật Việt Nam qua các thời kỳ 24

1.2.1 Giai đoạn trước Cách mạng Tháng 8 năm 1945 24

1.2.2 Giai đoạn từ 1945 đến 1989 26

1.2.3 Từ 1989 đến 2009 27

1.2.4 Từ 2009 đến nay 31

1.3 Pháp luật tại một số quốc gia về biện pháp kê biên tài sản đang bị cầm cố, thế chấp và kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam 33

1.3.1 Quy định tại Cộng hòa Pháp 33

1.3.2 Quy định tại Nhật Bản 35

Trang 5

1.3.3 Kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam 37

Kết luận chương 1 39

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG ÁP DỤNG BIỆN PHÁP KÊ BIÊN TÀI SẢN ĐỐI VỚI TÀI SẢN ĐANG BỊ CẦM CỐ, THẾ CHẤP HIỆN NAY 40

2.1 Thực trạng quy định của pháp luật về áp dụng biện pháp kê biên tài sản đang bị cầm cố, thế chấp trong thi hành án dân sự 40

2.1.1 Lập hồ sơ, xác minh điều kiện thi hành án và ra quyết định cưỡng chế kê biên tài sản đang bị cầm cố, thế chấp 40

2.1.2 Những công việc liên quan đến cưỡng chế kê biên tài sản đang bị cầm cố, thế chấp 47

2.1.3 Xử lý tài sản cầm cố, thế chấp 59

2.2 Thực tiễn áp dụng và những khó khăn, vướng mắc khi áp dụng biện pháp kê biên tài sản đang bị cầm cố, thế chấp hiện nay 66

2.2.1 Thực tiễn áp dụng biện pháp kê biên tài sản đang bị cầm cố, thế chấp hiện nay 66

2.2.2 Những khó khăn, vướng mắc và nguyên nhân của khó khăn, vướng mắc trong việc áp dụng biện pháp kê biên tài sản đang bị cầm cố, thế chấp hiện nay 72

Kết luận chương 2 86

CHƯƠNG 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG BIỆN PHÁP KÊ BIÊN TÀI SẢN ĐỐI VỚI TÀI SẢN ĐANG BỊ CẦM CỐ, THẾ CHẤP 88

3.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật về áp dụng biện pháp kê biên tài sản đối với tài sản đang bị cầm cố, thế chấp 88

3.1.1 Cơ sở chính trị 88

3.1.2 Từ yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp tại Việt Nam hiện nay 93

3.1.3 Từ sự phát triển kinh tế, xã hội tại Việt Nam hiện nay 95

Trang 6

3.2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp kê biên tài sản đối với tài sản đang bị cầm cố, thế chấp 97 3.2.1 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về áp dụng biện pháp kê biên tài sản đối với tài sản đang bị cầm cố, thế chấp 97 3.2.2 Giải pháp về thực hiện pháp luật kê biên tài sản đối với tài sản đang bị cầm cố, thế chấp 103 3.2.3 Giải pháp về cơ chế quản lý thi hành án và chất lượng cán bộ thi hành

án dân sự 106 Kết luận chương 3 108 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

THADS: Thi hành án dân sự

TAND: Tòa án nhân dân

VKSNDTC: Viện kiểm sát nhân dân tối cao

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong hoạt động thi hành án dân sự, biện pháp kê biên tài sản là biện pháp thường xuyên được sử dụng và đối tượng kê biên cũng rất đa dạng, phong phú Trong số đó, kê biên các tài sản cầm cố, thế chấp là một loại đối tượng kê biên khá phức tạp, khó khăn Điều này bởi lẽ, các tài sản cầm cố, thế chấp thường đang do một chủ thể khác nắm giữ, quản lý Vì vậy, việc kê biên khi đó còn liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp của cả bên thứ ba đang quản

lý, nắm giữ tài sản bị áp dụng biện pháp kê biên

Hiện nay, Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 quy định khá chi tiết về nhóm biện pháp kê biên nói chung cũng như kê biên đối với tài sản đang bị cầm cố, thế chấp nói riêng Tuy nhiên, khi áp dụng vào thực tiễn thì các quy định pháp luật lại bộc lộ rất nhiều hạn chế, bất cập Điều này gây khó khăn không chỉ đối với đội ngũ Chấp hành viên mà còn ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể liên quan trong quá trình thi hành án dân sự

Trước yêu cầu đổi mới, yêu cầu cải cách tư pháp, cải cách nền hành chính, đặc biệt trong bối cảnh công tác thi hành án dân sự đang ngày càng được quan tâm thì kê biên tài sản cầm cố, thế chấp luôn là nội dung nhận được sự quan tâm rất lớn của Đảng, Nhà nước Bởi lẽ, đây là một nội dung rất quan trọng của công tác thi hành án dân sự và còn là phương thức bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho các chủ thể Cụ thể, Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 đã đề ra

định hướng là: “Xây dựng Bộ luật thi hành án điều chỉnh tất cả các lĩnh vực

thi hành án; xác định Bộ Tư pháp là cơ quan giúp Chính phủ quản lý nhà nước thống nhất công tác thi hành án; từng bước xã hội hoá hoạt động thi

Trang 9

hành án ”[27] Từ đó, biện pháp kê biên tài sản đang bị cầm cố, thế chấp

không ngừng được bổ sung, hoàn thiện

Hiện nay, Việt Nam đang trong giai đoạn xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Đặc biệt, trước xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng thì các giao lưu, hợp tác về dân sự, kinh doanh thương mại, lao động, hôn nhân và gia đình… ngày càng

có xu hướng đa dạng, phong phú hơn trước Cũng từ đó, số vụ việc tranh chấp dân sự ngày càng theo khuynh hướng gia tăng và kéo theo đó còn là số

vụ việc thi hành án dân sự năm sau luôn nhiều hơn năm trước Còn trên thực tiễn, việc kê biên nhầm đối tượng, hay việc cán bộ, công chức ngành thi hành

án dân sự còn có các biểu hiện ngại va chạm, ngại thực hiện việc cưỡng chế,

kê biên … vẫn đang diễn ra khá phổ biến Điều này đòi hỏi cần có sự nghiên cứu, tìm hiểu để từ đó đề ra các biện pháp khắc phục

Từ những lý do trên, tác giả luận văn nhận thấy, cần thiết phải nghiên cứu biện pháp kê biên đối với tài sản đang bị cầm cố, thế chấp Qua việc nghiên cứu, tác giả sẽ tìm ra những giải pháp quan trọng để góp phần hoàn thiện các quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp kê biên

tài sản đang bị cầm cố, thế chấp Chính vì vậy, việc nghiên cứu đề tài “Áp

dụng biện pháp kê biên tài sản đối với tài sản đang bị cầm cố, thế chấp theo pháp luật Việt Nam” là rất cần thiết trong giai đoạn hiện nay Qua việc

nghiên cứu, đề tài sẽ bổ sung vào hệ thống lý luận khoa học và góp phần nâng cao hiệu quả của hoạt động kê biên tài sản cầm cố, thế chấp trong thi hành án dân sự Đây cũng chính là lý do, tác giả luận văn xin lựa chọn đề tài trên làm đề tài luận văn thạc sĩ luật học

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Là đề tài luôn thu hút được sự quan tâm, chú ý nên trong nhiều năm vừa qua, tại Việt Nam, đã có khá nhiều các bài viết, hay các công trình nghiên

Trang 10

cứu liên quan đến vấn đề cưỡng chế, kiên biên tài sản thi hành án dân sự

Trong phạm vi nghiên cứu, luận văn sẽ chỉ đề cập đến các công trình nghiên

cứu điển hình về áp dụng biện pháp kê biên tài sản đối với tài sản đang bị

cầm cố, thế chấp:

Luận văn thạc sĩ luật học “Các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự,

Thực tiễn áp dụng và hướng hoàn thiện” của tác giả Nguyễn Công Long bảo

vệ tại Đại học Luật Hà Nội năm 2000;

Luận văn thạc sĩ luật học “Các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự

trong quân đội” của tác giả Tăng Đình Năm bảo vệ tại Khoa Luật Đại học

quốc gia Hà Nội năm 2006;

Luận văn thạc sĩ luật học “Biện pháp cưỡng chế kê biên và xử lý tài sản

của người phải thi hành án dân sự” của tác giả Nguyễn Anh Tuấn bảo vệ tại

Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2015; và

Luận văn thạc sĩ luật học “Kê biên quyền sử dụng đất trong thi hành án

dân sự qua thực tiễn thực hiện trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên” của tác giả

Nguyễn Văn Tiến bảo vệ tại Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2015 Trên các tạp chí khoa học uy tín của ngành luật học tại Việt Nam có những công trình nghiên cứu điển hình như:

Bài viết “Các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự” của học giả Trần

Phương Thảo trên tạp chí Luật học,Trường Đại học Luật Hà Nội, số 7 năm 2007;

“Cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án” của tác

giả Lê Anh Tuấn trên tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số chuyên đề Thi hành án dân sự, năm 2010;

Bài viết “Về kê biên, xử lý tài sản” của các tác giả Nguyễn Thanh Thủy

và Lê Thị Kim Dung trong sách: “Xử lý tình huống trong thi hành án dân sự

Trang 11

và các văn bản pháp luật về thi hành án dân sự” nhà xuất bản Tư pháp xuất

bản năm 2010;

Bài viết “Vấn đề cưỡng chế đối với người thứ ba” của tác giả Bùi Văn Yên và bài viết “Cần xử lý triệt để hành vi chiếm lại đất sau cưỡng chế thi

hành án” của tác giả Trần Hoàng Đoán trong số chuyên đề về Thi hành án

dân sự của Tạp chí dân chủ và pháp luật tháng 5 năm 2012; và

“Những điểm mới về cưỡng chế thi hành án dân sự” của tác giả Lê Anh

Tuấn trên tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số chuyên đề Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật Thi hành án dân sự, tháng 5 năm 2015

Bên cạnh đó, trong hệ thống giáo trình đào tạo môn luật thi hành án dân

sự hay kỹ năng thi hành án dân sự của trường Đại học Luật Hà Nội, Học viện

Tư pháp … cũng có đề cập sơ lược về nội dung này

Mặc dù vậy, nghiên cứu chuyên sâu về áp dụng biện pháp kê biên tài sản đối với tài sản đang bị cầm cố, thế chấp thì vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập chi tiết, đầy đủ Chính vì vậy, trên cơ sở kế thừa và phát triển từ các công trình nghiên cứu trên, tác giả luận văn sẽ hoàn thiện một công trình nghiên cứu chuyên sâu về đề tài này

3 Mục tiêu nghiên cứu

Luận văn hướng đến mục đích nghiên cứu sau:

- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về áp dụng biện pháp kê biên tài sản đối với tài sản đang bị cầm cố, thế chấp

- Phân tích, đánh giá thực trạng của quy định hiện hành về áp dụng biện pháp kê biên tài sản đối với tài sản đang bị cầm cố, thế chấp

- Những khó khăn vướng mắc và nguyên nhân những khó khăn vướng mắc trong việc áp dụng biện pháp kê biên tài sản đối với tài sản đang bị cầm

cố, thế chấp

- Đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về

Trang 12

áp dụng biện pháp kê biên tài sản đối với tài sản đang bị cầm cố, thế chấp

4 Những đóng góp của đề tài

Trong phạm vi nghiên cứu giới hạn, luận văn tập trung vào những điểm chính sau:

Về mặt lý luận, luận văn nghiên cứu và phân tích có hệ thống các vấn đề

như khái niệm, đặc điểm, điều kiện, nguyên tắc… áp dụng biện pháp kê biên tài sản đang bị cầm cố, thế chấp Đồng thời, so sánh các quy định pháp luật về

kê biên tài sản đối với tài sản đang bị cầm cố, thế chấp tại Việt Nam với một

số nước trên thế giới

Về mặt thực tiễn, từ thực trạng quy định của pháp luật về áp dụng biện

pháp kê biên tài sản đang bị cầm cố thế chấp, luận văn hệ thống thành quy trình, thủ tục cụ thể, các giai đoạn khi áp dụng biện pháp kê biên tài sản đối với tài sản đang bị cầm cố, thế chấp

Về mặt định hướng hoàn thiện, luận văn đưa ra cơ sở hình thành những

định hướng và đề xuất những giải pháp để hoàn thiện hơn nữa các quy định pháp luật về biện pháp kê biên tài sản đối với tài sản đang bị cầm cố, thế chấp

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là các quy định pháp luật về áp dụng biện pháp

kê biên tài sản đối với tài sản đang bị cầm cố, thế chấp theo pháp luật Việt

Nam

5.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của luận văn là các vấn đề trong pháp luật thực định bao gồm các quy định hiện hành của Việt Nam về áp dụng biện pháp kê biên tài sản đối với tài sản đang bị cầm cố, thế chấp (Luật, Nghị định, Thông

tư liên tịch, Thông tư ) trong thi hành án dân sự và pháp luật có liên quan

Trang 13

Trên cơ sở các quy định này được đưa vào thực tiễn để áp dụng đã làm nảy sinh những vấn đề hạn chế, bất cập gây ảnh hưởng đến việc áp dụng biện pháp kê biên đối với tài sản đang bị cầm cố, thế chấp Ngoài ra, từ phạm vi nghiên cứu, luận văn sẽ đưa ra một số kiến nghị cụ thể để nhằm mục đích hoàn thiện việc áp dụng biện pháp kê biên đối với tài sản, đang bị cầm cố thế chấp tại Việt Nam

6 Phương pháp nghiên cứu của đề tài

Phương pháp luận được tác giả sử dụng trong suốt quá trình nghiên cứu

đề tài là phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lênin

Ngoài ra, do là đề tài của ngành khoa học xã hội nên các phương pháp nghiên cứu đặc thù của ngành khoa học xã hội nói chung và khoa học pháp

lý nói riêng được tác giả kết hợp sử dụng trong quá trình thực hiện luận văn như: phương pháp tổng hợp; phương pháp phân tích; phương pháp so sánh, phương pháp đánh giá các quy định pháp luật

7 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm 03 chương với kết cấu:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về áp dụng biện pháp kê biên tài sản đối với tài sản đang bị cầm cố, thế chấp

Chương 2: Thực trạng áp dụng biện pháp kê biên tài sản đối với tài sản đang bị cầm cố, thế chấp hiện nay

Chương 3: Định hướng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp kê biên tài sản đối với tài sản đang bị cầm cố, thế chấp

Trang 14

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG BIỆN PHÁP KÊ BIÊN TÀI SẢN ĐỐI VỚI TÀI SẢN ĐANG BỊ CẦM CỐ, THẾ CHẤP

1.1 Áp dụng biện pháp kê biên tài sản đang bị cầm cố, thế chấp trong thi hành án dân sự

1.1.1 Khái niệm tài sản cầm cố, thế chấp và áp dụng biện pháp kê biên tài sản đang bị cầm cố, thế chấp trong thi hành án dân sự

1.1.1.1 Khái niệm tài sản cầm cố, thế chấp trong thi hành án dân sự (i) Khái niệm tài sản cầm cố

Cầm cố tài sản là một dạng quan hệ mà ở đó một người giao cho người khác tài sản để làm tin cho cam kết, giao ước của mình, nếu mình không thực hiện được thì tài sản này mặc nhiên thuộc về sở hữu của người kia Quan hệ cầm cố đã tồn tại từ rất lâu trong lịch sử các quan hệ dân sự

Bộ luật dân sự năm 1995 quy định cầm cố tài sản tại khoản 1 Điều 329

đó là việc một bên có nghĩa vụ giao tài sản là động sản thuộc sở hữu của mình cho bên có quyền để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự; nếu tài sản cầm cố

có đăng ký quyền sở hữu thì các bên có thể thỏa thuận bên cầm cố vẫn giữ tài sản cầm cố hoặc giao cho người thứ ba giữ

Căn cứ Điều 326 của Bộ luật dân sự 2015 thì cầm cố tài sản được hiểu

là: “Cầm cố tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên cầm cố) giao tài sản

thuộc quyền sở hữu của mình cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận cầm cố)

để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự”

Từ đó, có thể khái quát về cầm cố tài sản: “Cầm cố tài sản là sự thỏa

thuận giữa các chủ thể trong một quan hệ nghĩa vụ Theo đó, bên có nghĩa vụ phải giao cho bên có quyền một tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ dân sự”[80, tr 63] Việc giao hay không chuyển giao

tài sản trong các quy định về cầm cố, thể chấp là diễn đạt về mối quan hệ

Trang 15

chuyển giao hay không chuyển giao một số quyền năng pháp lý nhất định đối với tài sản ( quyền chiếm hữu hoặc cả quyền sử dụng nhưng không chuyển giao quyền định đoạt) từ chủ sở hữu (bên cầm cố, thế chấp) sang cho bên nhận cầm cố, thế chấp - cho dù để chiếm hữu tài sản thì người người thụ quyền phải nắm nó trong tay mà không quan tâm đến việc tài sản ấy có hay không có khả năng dịch chuyển, di dời cơ học hay không Qua đó, quy định pháp luật về cầm cố tài sản qua từng thời kỳ có sự khác nhau, song về cơ bản, đặc điểm nổi bật vẫn được giữ nguyên trong các quy định đó là việc chuyển giao tài sản từ bên cầm cố sang bên nhận cầm cố

Như vậy, “Tài sản cầm cố là tài sản thuộc sở hữu của bên cầm cố, được

phép giao dịch và không có tranh chấp, tài sản này được xác định và được chuyển giao giữa các bên trong giao dịch”.[42]

Từ đó, khái niệm tài sản cầm cố trong lĩnh vực thi hành án dân sự được

hiểu theo hướng:

Tài sản cầm cố trong thi hành án dân sự là tài sản thuộc sở hữu của người phải thi hành án đang tham gia giao dịch cầm cố với bên thứ ba để đảm bảo thực hiện một nghĩa vụ dân sự đã cam kết, được cơ quan thi hành án dân sự áp dụng các biện pháp nghiệp vụ lên tài sản đó

(ii) Khái niệm tài sản thế chấp

Thế chấp là một từ có nguồn gốc Hán Việt, cụ thể: “thế” là bỏ đi, thay

cho[2, tr 154], còn “Chấp” là cầm, giữ, nắm[2, tr394] Từ điển Tiếng Việt

giải thích thêm: “Thế chấp là dùng tài sản làm vật đảm bảo, thay thế cho số tiền vay nếu không có khả năng trả đúng kỳ hạn”[93] Từ đó, có thể hiểu thế chấp là một cách thức mà bên có quyền và bên có nghĩa vụ đã lựa chọn để đảm bảo cho việc thực hiện nghĩa vụ dân sự thông qua một tài sản Đồng thời, giá trị của tài sản này có khả năng thay thế cho nghĩa vụ bị vi phạm

Trang 16

Trước đây, Bộ luật dân sự năm 2005 quy định tại Điều 432 về thế chấp

tài sản như sau: “Thế chấp tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên thế

chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân

sự đối với bên kia (sau đây gọi là bên nhận thế chấp) và không chuyển giao tài sản đó cho bên nhận thế chấp”[52]

Hiện nay, căn cứ Điều 317 của Bộ luật dân sự năm 2015: “Thế chấp tài

sản là việc một bên (sau đây gọi là bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và không giao tài sản cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận thế chấp)”[53] Như đã phân tích ở phần trên, việc

giao hay không giao tài sản được tiếp cận ở góc độ pháp lý Sự khác nhau cơ bản giữa cầm cố và thế chấp đó chính là sự thỏa thuận có chuyển giao (quyền chiếm hữu) tài sản hay không, trên phương diện pháp lý nó phụ thuộc vào ý chí chủ quan của các bên tham gia giao dịch mà không quan tâm đến tính chất khách quan là khả năng dịch chuyển cơ học của tài sản đó

Ngoài ra, biện pháp thế chấp còn có thể được hiểu là sự thỏa thuận giữa

các bên, theo đó bên thế chấp cam kết dùng tài sản của mình thông qua việc chuyển giao toàn bộ hồ sơ pháp lý của tài sản cho bên nhận thế chấp để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự mà không phải chuyển giao bản thân tài sản thế chấp[79, tr 59]

Theo quy định tại Điều 318 của Bộ luật dân sự 2015 thì có thể thấy, tài sản thế chấp có thể là những tài sản như bất động sản, động sản và quyền sử dụng đất trong các giao dịch thế chấp cụ thể Còn theo tác giả Vũ Thị Hồng

Yến: “Tài sản thế chấp là vật hoặc quyền được các chủ thể thỏa thuận lựa

chọn và không cần giao tài sản cho bên nhận thế chấp để bảo đảm quyền của bên nhận thế chấp khi có sự vi phạm nghĩa vụ được bảo đảm”[95]

Trang 17

Ngoài ra, tài sản thế chấp có thể đƣợc hiểu nhƣ sau: “Tài sản thế chấp là

vật hoặc quyền được các chủ thể thỏa thuận lựa chọn để bảo đảm quyền của bên nhận thế chấp khi có sự vi phạm nghĩa vụ được bảo đảm”[95, tr30]

Đối với lĩnh vực thi hành án dân sự, cùng với khái niệm tài sản trong thi hành án dân sự đã nêu ở phần trên thì tài sản thế chấp cũng phải đảm bảo các yêu cầu của tài sản trong giao dịch thế chấp tài sản quy định tại Điều 318 của

Bộ luật dân sự năm 2015 Mặc dù vậy, tài sản thế chấp trong quan hệ thi hành

án dân sự bên cạnh việc bảo đảm nghĩa vụ đã cam kết, còn cần phải bảo đảm nghĩa vụ về tiền theo bản án, quyết định đã tuyên khi chủ sở hữu không còn tài sản nào khác có giá trị để thi hành Từ đó, tài sản thế chấp trong thi hành

án dân sự đƣợc hiểu nhƣ sau:

Tài sản thế chấp trong thi hành án dân sự là tài sản thuộc sở hữu của người phải thi hành án đang trong quan hệ thế chấp tài sản với bên thứ ba được cơ quan thi hành án dân sự áp dụng các biện pháp nghiệp vụ để đảm bảo nghĩa vụ về tiền của chủ sở hữu tài sản

1.1.1.2 Khái niệm kê biên tài sản là tài sản đang bị cầm cố, thế chấp trong thi hành án dân sự

(i) Khái niệm kê biên tài sản trong thi hành án dân sự

“Kê biên” là một động từ ghép bời hai từ “kê” và “biên” Từ điển Tiếng

Việt giải thích: “kê” là viết ra theo thứ tự từng tên, từng nhóm để ghi nhớ

hoặc thông báo ”[93, tr 466], còn “biên” là viết lên trang giấy[93, tr 159]

Từ điển các thuật ngữ pháp lý thông dụng định nghĩa “kê biên tài sản” nhƣ

sau: “Kê biên tài sản là việc ghi lại từng tài sản, cấm việc tẩu tán, phá hủy, để

đảm bảo cho việc xét xử và thi hành án”[88]

Kê biên tài sản là một thuật ngữ pháp lý chỉ việc tính toán và ghi chép lại tài sản theo một trật tự nhất định nhằm mục đích cụ thể Hay kê biên tài sản đƣợc hiểu là tạm thời cấm vận chuyển, chuyển đổi, định đoạt hoặc chuyển

Trang 18

dịch tài sản của người vi phạm pháp luật Điều này có nghĩa khi kê biên tài sản của một người nào đó thì quyền sở hữu tài sản của họ bị hạn chế, hay họ không được chuyển đổi, định đoạt … tài sản đã bị kê biên đó Mặt khác tài sản bị kê biên phải là của người vi phạm pháp luật Tài sản ở đây có thể là vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản

Theo quy định tại khoản 3 Điều 71 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2014 (sau đây gọi tắt là Luật thi hành án dân sự năm 2014) thì kê biên là một trong số các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự và được sử dụng khi Chấp hành viên áp dụng biện pháp kê biên tài sản của người phải thi hành án trong trường hợp người thi hành án không tự nguyện thi hành án

Từ đó, khái niệm kê biên tài sản trong thi hành án dân sự như sau:

“Kê biên tài sản là một biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự do cơ

quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện nhằm hạn chế các giao dịch liên quan đến tài sản của người phải thi hành án để bảo đảm cho việc thực hiện một nghĩa vụ tài sản đối với cá nhân, cơ quan, tổ chức khácđã bị xâm hại về quyền, lợi ích”

(ii) Khái niệm áp dụng biện pháp kê biên tài sản là tài sản đang bị cầm

cố, thế chấp trong thi hành án dân sự

Kê biên tài sản đang bị cầm cố, thế chấp là một trong những biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự Biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản đang bị cầm cố, thế chấp được áp dụng đối với người phải thi hành án có nghĩa vụ về tài sản (tiền) đối với người được thi hành án khi người phải thi hành án không

tự nguyện thi hành Biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản đang bị cầm cố, thế chấp có mục đích là căn cứ pháp lý để xử lý tài sản của người phải thi hành án nhằm buộc chủ thể này phải thực hiện nghĩa vụ thi hành án của họ Ngoài ra,

kê biên tài sản đang bị cầm cố, thế chấp được áp dụng trong trường hợp người

Trang 19

phải thi hành án không còn tài sản nào khác hoặc có tài sản nhưng không đủ

để thi hành án thì có thể kê biên tài sản đang bị cầm cố, thế chấp nếu giá trị tài sản đó lớn hơn nghĩa vụ được đảm bảo và chi phí cưỡng chế thi hành án.[56,Điều 90]

Quy đinh này dựa trên tính chất đặc biệt của đối tượng kê biên là tài sản đang bị cầm cố, thế chấp, đó là tài sản thuộc quyền sở hữu của người bị cầm

cố, thế chấp nhưng lại đang tham gia giao dịch với bên thứ ba có liên quan.Việc tham gia giao dịch bảo đảm này mà tính chất pháp lý của tài sản có

sự đặc biệt đó là có sự chuyển giao hay không chuyển giao một số quyền năng pháp lý của tài sản cho bên thứ ba – bên nhận cầm cố, thế chấp Chính vì vậy, khi kê biên đối tượng tài sản này, Chấp hành viên cần có lưu ý thông báo khi tiến hành kê biên, cũng như khi xử lý tài sản kê biên cho bên thứ ba, bên nhận cầm cố, thế chấp

Như vậy, khái niệm kê biên tài sản đang bị cầm cố, thế chấp trong thi

hành án dân sự được hiểu:Kê biên tài sản đang bị cầm cố, thế chấp là một

biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự thể hiện quyền lực Nhà nước, do Chấp hành tiến hành để kê biên tài sản đang bị cầm cố, thế chấp của người phải thi hành án đang tham gia giao dịch với người thứ ba để buộc người phải thi hành án thực hiện nghĩa vụ về tiền theo bản án, quyết định của tòa

án, trong trường hợp người phải thi hành án không tự nguyện thi hành án

Từ khái niệm này áp dụng biện pháp kê biên tài sản đối với tài sản đang

bị cầm cố, thế chấp đó là việc cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên áp dụng các quy định của pháp luật về kê biên tài sản đối với tài sản đang cầm

cố, thế chấp lên tài sản đang cầm cố, thế chấp thuộc sở hữu của người phải thi hành án nhằm hạn chế sự dịch chuyển pháp lý của tài sản đang cầm cố, thế chấp của người phải thi hành án nhằm mục đích để đảm bảo thực hiện

Trang 20

nghĩa vụ về tiền theo bản án, quyết định của Tòa án về thi hành án dân sự khi người phải thi hành án không tự nguyện thi hành

1.1.2 Đặc điểm áp dụng biện pháp kê biên tài sản đang bị cầm cố, thế chấp

Biện pháp kê biên tài sản đang bị cầm cố, thế chấp là một trong số các biện pháp cưỡng chế kê biên của thi hành án dân sự Vì vậy, việc áp dụng biện pháp kê biên tài sản cầm cố, thế chấp vừa mang những đặc điểm chung của biện pháp cưỡng chế kê biên và nó còn có những đặc điểm riêng biệt:

Thứ nhất, việc áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản đang bị cầm

cố, thế chấp thể hiện tính quyền lực nhà nước Người áp dụng biện pháp kê biên là Chấp hành viên - người được Nhà nước trao quyền thực hiện quyền lực Nhà nước trong hoạt động thi hành án dân sự

Thứ hai, khi bị áp dụng biện pháp kê biên tài sản đang bị cầm cố, thế

chấp thì tài sản của người phải thi hành án bị đặt vào tình trạng bị hạn chế trong các giao dịch:

Biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản đang bị cầm cố, thế chấp với mục đích trước tiên là hạn chế một số quyền được phép giao dịch đối với tài sản bị

kê biên của người phải thi hành án Ngoài ra, còn để hạn chế giao dịch của bên nhận cầm cố, thế chấp trên tài sản bị kê biên dù cho tài sản đó đã được chuyển giao hay chưa Việc hạn chế một số quyền này sẽ chấm dứt khi người phải thi hành án đã hoàn thành các nghĩa vụ tài sản của mình đối với người được thi hành án và được thể hiện bằng quyết định giải tỏa kê biên tài sản đang bị cầm cố, thế chấp của Chấp hành viên

Thứ ba, biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản đang bị cầm cố, thế chấp

thường được áp dụng để thi hành trong những vụ án liên quan đến các tổ chức tín dụng, ngân hàng và một số cơ sở hoạt động các ngành nghề cầm đồ:

Trang 21

Biện pháp kê biên tài sản cầm cố, thế chấp được áp dụng với điều kiện người phải thi hành án không còn tài sản nào khác hoặc có tài sản nhưng không đủ để thi hành án thì mới kê biên đến tài sản cầm cố, thế chấp Tuy nhiên, thực tế số lượng vụ việc kê biên tài sản cầm cố, thế chấp khá ít Đối với những trường hợp người phải thi hành án không còn tài sản nào khác để đảm bảo thi hành án thì tài sản cầm cố, thế chấp thường là những tài sản lớn, được cầm cố, thế chấp ở các ngân hàng, tổ chức tín dụng Do vậy, khi kê biên đến các tài sản này thì cơ quan, tổ chức hoặc bên thứ ba có liên quan thường

là các ngân hàng, tổ chức tín dụng và cũng có một số trường hợp là cơ sở hoạt động kinh doanh dịch vụ cầm đồ

Thứ tư, mục đích áp dụng kê biên tài sản cầm cố, thế chấp là để bán đấu

giá thu tiền nhằm đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả tiền của người phải thi hành án:

Ngoài mục đích bảo đảm cho việc thi hành án thì còn có mục đích là xử

lý tài sản cầm cố, thế chấp đã kê biên để bán đấu giá tài sản nhằm thu được khoản tiền Từ đó, đảm bảo thực hiện nghĩa vụ thi hành án của người phải thi hành án

Thứ năm, việc áp dụng biện pháp kê biên tài sản cầm cố, thế chấp phải

được thực hiện theo trình tự chặt chẽ do pháp luật quy định: Chấp hành viên phải thực hiện đầy đủ, chặt chẽ các thủ tục ngay từ khi nhận bản án, quyết định để thi hành án, ra quyết định, lập hồ sơ thi hành án, xác minh điều kiện thi hành án, thông báo thi hành án, ra quyết định cưỡng chế kê biên tài sản cầm cố, thế chấp, định giá tài sản, bán đấu giá tài sản, giao tài sản đến thanh toán tiền bán đấu giá Bên cạnh việc tuân thủ luật thủ tục và các văn bản pháp luật hướng dẫn thì Chấp hành viên còn phải tuân thủ theo các văn bản pháp luật nội dung khác như: Bộ luật dân sự, Luật đất đai, Luật hôn nhân gia đình, Luật các tổ chức tín dụng, hay Luật ngân hàng Nhà nước Việt Nam…

Trang 22

1.1.3 Bản chất áp dụng biện pháp kê biên tài sản đang bị cầm cố, thế chấp

Theo Điều 90 của Luật thi hành án dân sự năm 2014, áp dụng biện pháp

kê biên này khi người phải thi hành án không còn tài sản nào đảm bảo thi hành án hoặc có tài sản nhưng không đủ để thi hành án thì Chấp hành viên có thể kê biên tài sản đang bị cầm cố, thế chấp thuộc sở hữu của người phải thi hành án để đảm bảo việc thi hành án đúng theo bản án, quyết định cũng như phải đảm bảo quyền lợi của các bên đương sự, nhưng phải thông báo đến những người có liên quan

Điều kiện để áp dụng biện pháp kê biên tài sản cầm cố, thế chấp được xác định dựa trên tài sản đang bị cầm cố, thế chấp thuộc sở hữu của người phải thi hành án.Trên thực tế, có những trường hợp người phải thi hành án đã mang những tài sản có giá trị đi cầm cố, thế chấp để hòng trốn tránh nghĩa vụ phải thi hành án Vì người phải thi hành án cho rằng tài sản đã không còn nằm trong tay họ, hoặc không do họ đang khai thác, quản lý, sử dụng, thì không phải lấy khối tài sản đó để thực hiện nghĩa vụ thi hành án

Tài sản cầm cố, thế chấp của người phải thi hành án được Chấp hành viên áp dụng biện pháp kê biên chỉ khi người phải thi hành án không còn tài sản nào khác đảm bảo cho việc thi hành án dân sự Bản chất của biện pháp cầm cố, thế chấp chính là việc mang tài sản thuộc sở hữu của mình tham gia một giao dịch nhằm đảm bảo thực hiện một nghĩa vụ nào đó về tiền hoặc nghĩa vụ khác cho bên nhận cầm cố, thế chấp và về bản chất tài sản này đã bị hạn chế giao dịch bởi bên chủ thể tham gia giao dịch – là bên nhận cầm cố, thế chấp Người phải thi hành án có thể đã chuyển giao quyền sử dụng, quản

lý tài sản cho bên nhận cầm cố, thế chấp hoặc đã chuyển giao tài sản

Đối với những biện pháp kê biên mà đối tượng kê biên là tài sản khác thì hầu hết các tài sản này đều không tham gia bất kỳ một loại giao dịch nào khi

Trang 23

tiến hành kê biên Còn với biện pháp kê biên tài sản cầm cố, thế chấp đối tượng của biện pháp kê biên này là tài sản đang tham gia một giao dịch khác với người thứ ba trước khi tiến hành kê biên, cụ thể đó là giao dịch cầm cố, thế chấp nhưng mục đích hạn chế tài sản tham gia giao dịch vẫn không thay đổi Chính vì vậy, khi tiến hành kê biên loại tài sản này, Chấp hành viên cần lưu ý tính chất để có những dự liệu tình huống có thể xảy ra và xử lý tài sản một cách phù hợp

Xuất phát từ lý do này, biện pháp kê biên tài sản cầm cố, thế chấp là biện pháp cưỡng chế có bản chất quy định dựa trên căn cứ tính chất sở hữu tài sản của người phải thi hành án Tất cả các tài sản thuộc sở hữu của người phải thi hành án mà không thuộc diện tài sản không kê biên được thì Chấp hành viên đều có thể kê biên để thi hành án cho dù tài sản đó đang tham gia giao dịch với bên thứ ba, do người thứ ba nắm giữ hay tài sản đang bị cầm cố, thế chấp Nhận thấy tài sản cầm cố, thế chấp đã là hạn chế chuyển dịch pháp lý tài sản trong giao dịch dân sự, tuy nhiên, xét từ bản chất sở hữu tài sản của người phải thi hành án trong thi hành án dân sự thì việc pháp luật đưa ra các quy định nhằm thực thi quyền lực Nhà nước lên tài sản đó để quy định các trình

tự, thủ tục, ra các quyết định, thông báo, hay cách thức tổ chức tiến hành kê biên Do vậy, việc áp dụng biện pháp kê biên tài sản đối với tài sản đang bị cầm cố, thế chấp cũng như việc tổ chức tiến hành kê biên vừa phải đảm bảo tính chất sở hữu của người phải thi hành án, cũng như quyền lợi của các bên phải được đảm bảo trong trường hợp tiến hành áp dụng biện pháp kê biên tài sản đối với tài sản đang bị cầm cố thế chấp cụ thể là bên thứ ba có liên quan – bên nhận cầm cố, thế chấp Chính vì vậy, cũng có thể nhận định bản chất của việc áp dụng biện pháp kê biên tài sản đối với tài sản đang bị cầm cố, thế chấp chính là sự áp dụng linh hoạt của Chấp hành viên đối với những quy định có

Trang 24

liên quan đến biện pháp kê biên tài sản, đến tài sản đang cầm cố, thế chấp trong thực tiễn thi hành pháp luật và áp dụng pháp luật thi hành án dân sự

1.1.4 Nguyên tắc áp dụng biện pháp kê biên tài sản đang bị cầm cố, thế chấp

Thứ nhất, chỉ được áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản đang bị

cầm cố, thế chấp sau khi đã hết thời gian tự nguyện thi hành án, trừ trường hợp bản án, quyết định của Tòa án đã tuyên về việc kê biên tài sản cầm cố, thế chấp hoặc trường hợp áp dụng các biện pháp cưỡng chế theo quy định tại khoản 2, Điều 45 của Luật thi hành án dân sự năm 2014

Để tổ chức thi hành một bản án, quyết định trước tiên Chấp hành viên cần phải ấn định thời gian tự nguyện thi hành án cho người phải thi hành án theo quy định tại Điều 45 của Luật thi hành án dân sự năm 2014 là 10 ngày,

kể từ ngày nhận được hoặc được thông báo hợp lệ quyết định thi hành án Nếu hết thời gian tự nguyện thi hành án mà người phải thi hành án không tự nguyện thi hành thì Chấp hành viên mới phải áp dụng biện pháp cưỡng chế lên tài sản của người phải thi hành án để buộc người phải thi hành án phải thi hành theo đúng bản án, quyết định

Như vậy, về nguyên tắc, Chấp hành viên chỉ được áp dụng biện pháp kê biên tài sản đối với tài sản đang bị cầm cố thế chấp khi hết thời hạn tự nguyện thi hành án Tuy nhiên, để đảm bảo công tác thi hành án dân sự đạt hiệu quả cao và với mục đích nhằm ngăn chặn hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản hoặc trốn tránh nghĩa vụ thi hành án thì Chấp hành viên vẫn được quyền áp dụng biện pháp cưỡng chế lên tài sản đó kể cả khi chưa hết thời hạn tự nguyện thi hành án trong một số trường hợp kể trên [56, Điều 45]

Thứ hai, chỉ kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án khi có căn

cứ khẳng định tài sản đó thuộc sở hữu của người phải thi hành án đang quản

lý, sử dụng, đang cầm cố, thế chấp hoặc đang do người thứ ba giữ

Trang 25

Việc kê biên, xử lý tài sản cầm cố, thế chấp chỉ được thực hiện khi có căn cứ xác định tài sản đó thuộc sở hữu của người phải thi hành án, do người phải thi hành án đang quản lý sử dụng hay tài sản của người phải thi hành án mang đi cầm cố, thế chấp hoặc tài sản của họ đang do người thứ ba giữ Tài sản này có thể là tài sản chung, tài sản riêng hoặc tài sản đang do bên nhận cầm cố giữ … Để xác định được điều này, yêu cầu Chấp hành viên cần có biện pháp nghiệp vụ để xác minh chính xác tài sản đó có phải thuộc sở hữu của người phải thi hành án hay không mới có thể áp dụng được biện pháp kê biên tài sản.[35, tr 367]

Thứ ba, chỉ được kê biên tài sản cầm cố, thế chấp tương ứng với nghĩa

vụ thi hành án của người phải thi hành án:

Về nguyên tắc pháp định, Chấp hành viên chỉ được kê biên tài sản cầm

cố, thế chấp khi người phải thi hành án không còn tài sản nào khác hoặc có tài sản nhưng không đủ để thực hiện nghĩa vụ Đồng thời, giá trị tài sản kê biên phải tương ứng với nghĩa của người phải thi hành án Vì vậy, Chấp hành viên phụ trách vụ việc thi hành án cần phải cân nhắc kỹ trước khi kê biên tài sản đang bị cầm cố, thế chấp của người phải thi hành án làm sao tương ứng với nghĩa vụ phải thi hành án của họ Để thực hiện đúng nguyên tắc này buộc Chấp hành viên phải đánh giá sơ bộ giá trị của tài sản cầm cố, thế chấp (theo kết quả định giá cầm cố, thế chấp hoặc có thể định giá lại) trước khi kê biên bằng cách trưng cầu ý kiến các cơ quan chức năng thẩm định giá Giá trị của tài sản cầm cố, thế chấp kê biên sau khi trừ đi các chi phí và phần nghĩa vụ phải thực hiện sao cho bảo đảm ngang bằng, tương ứng với nghĩa vụ phải thi hành án tránh trường hợp kê biên tài sản cầm cố, thế chấp với giá quá lớn gây tổn hại đến quyền lợi của người phải thi hành án Nguyên tắc này không những bảo vệ quyền lợi của người được thi hành án mà còn bảo vệ về quyền tài sản của người phải thi hành án, tránh những tổn thất cho các bên đương sự

Trang 26

Trường hợp người phải thi hành án chỉ có một tài sản duy nhất lớn hơn nhiều lần so với nghĩa vụ phải thi hành án mà tài sản đó không thể phân chia được hoặc việc phân chia làm giảm đáng kể giá trị của tài sản thì Chấp hành viên vẫn có quyền áp dụng biện pháp cưỡng chế kê tài sản cầm cố, thế chấp của người phải thi hành án để thi hành án.[35, tr 186]

Thứ tư, không tổ chức cưỡng chế kê biên tài sản cầm cố, thế chấp trong

những khoảng thời gian mà pháp luật quy định không được cưỡng chế thi hành án:

Thứ năm, không tổ chức cưỡng chế kê biên tài sản cầm cố, thế chấp

thuộc tài sản theo quy định của pháp luật không được kê biên:

Trước khi kê biên tài sản cầm cố, thế chấp buộc Chấp hành viên cần phải xác minh đầy đủ, kỹ lưỡng và chi tiết nguồn gốc của tài sản để xem có phải là những tài sản được quy định tại Điều 87 của Luật thi hành án dân sự năm

2014 hay không Hoặc tài sản cầm cố, thế chấp có phải tài sản bị cấm lưu thông, tài sản do phạm tội mà có, tài sản phục vụ an ninh, quốc phòng lợi ích công cộng, tài sản do ngân sách nhà nước cấp nhưng lại mang làm của riêng

để mang ra cầm cố, thế chấp… Đối với tài sản cầm cố, thế chấp là bất động sản hoặc quyền sử dụng đất thì Chấp hành viên phải tiến hành xác minh nguồn gốc Nhà nước giao cho các tổ chức quản lý, sử dụng vì mục đích phục

vụ quốc phòng, an ninh, lợi ích công cộng hoặc tài sản do ngân sách Nhà nước cấp cho cơ quan, tổ chức Ví dụ: tài sản được cấp cho các cơ quan Đảng,

cơ quan Nhà nước trong bộ máy Nhà nước và các tổ chức chính trị xã hội làm trụ sở làm việc

1.1.5 Điều kiện áp dụng biện pháp kê biên tài sản đang bị cầm cố, thế chấp

+ Người phải thi hành án phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán tiền theo bản án, quyết định được đưa ra thi hành Nghĩa vụ thanh toán tiền của người

Trang 27

phải thi hành án được ấn định trong bản án, quyết định của Tòa án, trọng tài thương mại, hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh Bản án, quyết định được thi hành bao gồm những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật hoặc chưa

có hiệu lực pháp luật những được thi hành ngay theo quy định tại Điều 2, Luật thi hành án dân sự năm 2014

+ Người phải thi hành án có điều kiện thi hành án Người phải thi hành

án có điều kiện thi hành án là những người mà Chấp hành viên qua nghiệp vụ khẳng định được người đó có tài sản và tài sản đó không thuộc trường hợp không được phép kê biên Tài sản của người phải thi hành án có thể là động sản, bất động sản hoặc kể cả quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất… theo quy định tại Mục 6, chương IV của Luật thi hành án dân sự năm 2014 Cụ thể

ở đây là người phải thi hành án không có tài sản nào khác hoặc có tài sản nhưng không đủ để thi hành án thì xác định đến việc người phải thi hành án

có tài sản đang cầm cố, thế chấp thuộc sở hữu của người phải thi hành án thì vẫn xác định là người đó có điều kiện thi hành án

+ Người phải thi hành án đã không thi hành án trong thời hạn tự nguyện thi hành án Thời gian tự nguyện thi hành án theo quy định là 10 ngày, kể từ ngày nhận được hoặc được thông báo hợp lệ quyết định thi hành án theo quy định tại các Điều 39 về thông báo thi hành án, Điều 40 về thủ tục thông báo trực tiếp cho cá nhân, Điều 41 về thủ tục thông báo trực tiếp cho cơ quan, tổ chức, Điều 42 về niêm yết công khai và Điều 45 về thời hạn tự nguyện thi hành án của Luật thi hành án dân sự năm 2014 Tuy nhiên, trong thời gian tự nguyện thi hành án, nếu Chấp hành viên thấy cần phải ngăn chặn việc tẩu tán, hủy hoại tài sản hoặc trốn tránh nghĩa vụ thi hành án thì Chấp hành viên có quyền ra quyết định áp dụng các biện pháp cần thiết trong đó có biện pháp kê biên tài sản

Trang 28

1.1.6 Vai trò và ý nghĩa của áp dụng biện pháp kê biên tài sản đang bị cầm cố, thế chấp

1.1.6.1 Vai trò của áp dụng biện pháp kê biên tài sản đang bị cầm cố, thế chấp

Thứ nhất, việc áp dụng biện pháp kê biên tài sản đang bị cầm cố, thế

chấp thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật và khôi phục lại những quan hệ

xã hội mà pháp luật bảo vệ Trong quá trình giải quyết một vụ án, khi bản án quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì Cơ quan thi hành án phải thi hành bản án, quyết định một cách đầy đủ, nhanh chóng và kịp thời Khi một người có nghĩa vụ về tài sản mà họ không tự nguyện thi hành thì Chấp hành viên phải áp dụng biện pháp cưỡng chế lên tài sản của người phải thi hành án

đó kể cả tài sản đang cầm cố, thế chấp nhằm buộc họ phải thi hành nghĩa vụ của họ Đây cũng là hình thức Chấp hành viên thực thi quyền lực Nhà nước Bởi lẽ, nếu người phải thi hành án có nghĩa vụ về tài sản mà không chấp nhận thi hành án, cũng như không có biện pháp xử lý thì sẽ ảnh hưởng tiêu cực và tác động đến toàn bộ hoạt động của các cơ quan chức năng khác, trật tự kỷ cương xã hội bị vi phạm, quyền lực, uy tín của nhà nước bị giảm sút, đồng thời quyền và lợi ích hợp pháp của công dân bị ảnh hưởng[61] Ngược lại, nếu áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản đang bị cầm cố, thế chấp thì

sẽ mang lại niềm tin cho nhân dân đối với tính nghiêm minh của pháp luật trong công tác thi hành án dân sự và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể được thi hành án

Thứ hai, áp dụng biện pháp kê biên tài sản đang bị cầm cố, thế chấp góp

phần nâng cao nhận thức và hiểu biết về pháp luật cho người dân Có thể khẳng định, các hoạt động của thi hành án dân sự nói chung và biện pháp kê biên tài sản đang bị cầm cố, thế chấp nói riêng đều góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của nhân dân Bởi lẽ, đặc thù của thi hành án dân sự là sự

Trang 29

kết hợp chặt chẽ giữa vai trò chủ động, phát huy trách nhiệm của cán bộ, công chức Cơ quan thi hành án dân sự và các cơ quan, ban ngành, đơn vị cùng phối hợp tổ chức thi hành án Trong hoạt động thi hành án dân sự nói chung và khi

áp dụng biện pháp kê biên tài sản đang bị cầm cố, thế chấp nói riêng thì không chỉ có hoạt động nghiệp vụ riêng của cơ quan thi hành án được thực hiện, mà còn là trách nhiệm của các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương, các đoàn thể xã hội và mọi thành viên trong xã hội cùng phối hợp thi hành, thực hiện tính nghiêm minh của bản án Chính vì vậy, thông qua công tác thi hành án, ý thức pháp luật được tuyên truyền, phổ biến rộng rãi trong nhân dân đồng thời nâng cao nhận thức của mọi người và toàn thể xã hội đối với pháp luật và các hoạt động của nhà nước

Thứ ba, việc áp dụng kê biên tài sản đang bị cầm cố, thế chấp là thước

đo hiệu quả, chất lượng của quá trình xét xử Có thể coi thi hành án dân sự chính là thước đo hiệu quả, chất lượng các hoạt động xét xử của Tòa án và

các hoạt động tư pháp khác Bởi lẽ, “việc giải quyết vụ việc dân sự tại Tòa án

tuy rất quan trọng nhưng thực ra mới chỉ là giai đoạn đầu của quá trình bảo

vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự”[40, tr 6] “Chỉ đến khi các phán quyết được thực thi đầy đủ trong cuộc sống thì quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể mới được bảo vệ thực sự”[35, tr 17] Vì thế, các hoạt động xét xử

sẽ không đạt hiệu quả nếu như bản án, quyết định của Tòa án không được đưa

ra thi hành trên thực tế một cách kịp thời, hiệu quả Với vai trò như vậy, thi hành án dân sự là một hoạt động không thể thiếu trong quá trình bảo vệ quyền

và lợi ích hợp pháp của đương sự Thông qua công tác thi hành án dân sự thì kết quả công tác xét xử được đảm bảo

1.1.6.2 Ý nghĩa của áp dụng biện pháp kê biên tài sản đang bị cầm cố, thế chấp

Trang 30

Thứ nhất, áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản cầm cố, thế chấp

góp phần vào việc bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa Bởi lẽ, yêu cầu của pháp chế là sự đòi hỏi mọi chủ thể phải tuân thủ pháp luật một cách đầy đủ, nghiêm minh và bình đẳng Vì thế, biện pháp kê biên tài sản cầm cố, thế chấp chính là hiện thực hóa các bản án, quyết định sau khi xét xử Chính vì vậy, đây chính là một hoạt động tích cực để bảo vệ pháp luật và bảo đảm pháp chế

xã hội chủ nghĩa

Thứ hai, áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản đang bị cầm cố,

thế chấp đảm bảo được quyền lợi của Nhà nước, tập thể, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, đảm bảo được sự công bằng xã hội Mục đích của cưỡng chế nói chung là buộc người phải thi hành án phải thực hiện nghĩa vụ của mình trước bên có quyền, lợi ích là người được thi hành án Trong đó, người được thi hành án có thể là Nhà nước, tập thể hoặc công dân Bởi thế, biện pháp kê biên tài sản đang bị cầm cố, thế chấp chính là một biện pháp bảo đảm cho quyền và lợi ích hợp pháp của người được thi hành án

Thứ ba, thông qua việc áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản

đang bị cầm cố, thế chấp góp phần vào việc tuyên truyền, giáo dục pháp luật

về thi hành án dân sự Trên thực tế, hiện nay ý thức pháp luật của phần lớn người dân còn chưa cao Hơn nữa, công tác tuyên truyền phố biến giáo dục pháp luật nhất là pháp luật về thi hành án dân sự vẫn chưa được quan tâm, chú trọng Chính vì thế, thông qua việc áp dụng biện pháp kê biên tài sản đang bị cầm cố, thế chấp phần nào giúp người dân (trực tiếp là người phải thi hành án, người được thi hành án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và phía gia đình họ) hiểu biết pháp luật và chấp hành pháp luật Ở nhiều nơi người được thi hành án do không hiểu biết pháp luật nên đã không yêu cầu thi hành án hoặc người phải thi hành án do nhận thức sai lầm về pháp luật đã có hành vi

Trang 31

cản trở, chống đối việc thi hành án rất quyết liệt làm ảnh hưởng tới việc thi hành pháp luật và cũng như ảnh hưởng đến quyền lợi của chính bản thân họ

Thứ tư, thi hành án dân sự nói chung cũng như việc áp dụng biện pháp

cưỡng chế kê biên tài sản đang bị cầm cố, thế chấp nói riêng là một hoạt động thực tiễn Vì vậy, thông qua biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản đang bị cầm

cố, thế chấp giúp chúng ta xác định được nguyên nhân của việc thi hành án chậm Đồng thời, phát hiện được những sai sót trong quá trình thực hiện để từ

đó có phương hướng khắc phục, sửa chữa Ngoài ra, còn góp phần rút kinh nghiệm trong đường lối xét xử và thi hành án về tài sản sau đó Từ đó, hiệu quả của nó đã góp phần vào việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về thi hành

án dân sự

Thứ năm, hoạt động cưỡng chế thi hành án dân sự nói chung và việc áp

dụng biện pháp kê biên tài sản đang bị cầm cố, thế chấp nói riêng là hoạt động

áp dụng pháp luật mang tính đa dạng, sáng tạo Vì thế, qua việc tiến hành áp dụng biện pháp kê biên tài sản đang bị cầm cố, thế chấp có thể đánh giá phần nào năng lực, phẩm chất của các Chấp hành viên

1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của chế định kê biên tài sản đang bị cầm cố, thế chấp trong pháp luật Việt Nam qua các thời kỳ

Biện pháp kê biên tài sản đang bị cầm cố, thế chấp có mối quan hệ gắn

bó mật thiết với lịch sử pháp luật về thi hành án dân sự tại Việt Nam Điều này bởi lẽ, biện pháp kê biên tài sản đang bị cầm cố, thế chấp trên thực chất cũng là một trong số các biện pháp kê biên của thi hành án dân sự nên vì thế, lịch sử pháp luật thi hành án dân sự cũng là lịch sử hình thành và phát triển của biện pháp kê biên tài sản cầm cố, thế chấp

1.2.1 Giai đoạn trước Cách mạng Tháng 8 năm 1945

Trong giai đoạn này, Việt Nam chưa có một nền pháp luật hoàn chỉnh, thống nhất Chủ yếu, hệ thống pháp luật được áp dụng tại Việt Nam là hệ

Trang 32

thống pháp luật Cộng hòa Pháp Bởi lẽ, đây là hệ thống pháp luật được Pháp đưa vào Việt Nam với mục đích phục vụ cho quá trình khai thác thuộc địa Thời kỳ phong kiến, Nhà nước phong kiến chưa có một bộ luật cụ thể nào quy định về chế định dân sự, cụ thể là chế định cưỡng chế mà chỉ quan tâm đến các hình phạt trong đó có các bộ luật liên quan đến hình phạt, điền sản, cải cách hành chính Cho đến thời kỳ Pháp thuộc, thời kỳ này du nhập dân luật phương Tây vào nước ta, cụ thể đã ban hành các bộ dân luật điều chỉnh các mối quan hệ trong xã hội, mà chủ yếu là bảo vệ quyền lợi của đế chế pháp thuộc như Dân luật giản yếu Nam Kỳ năm 1883, Dân Luật Bắc Kỳ năm 1931 hay Hoàng Việt Hộ Luật Trung kỳ 1931- 1936 Ngày 05/6/1862, đại diện triều đình nhà Nguyễn (thời vua Tự Đức) là Chánh sứ Phan Thanh Giản và Phó sứ Lâm Duy Hiệp đã ký kế với đại diện của Pháp là thiếu tướng Bonard và đại diện của Tây Ban Nha là đại tá Don Carlos Palanca Gutiere Hiệp ước Nhâm Tuất Sau hiệp ước Nhâm Tuất, “Nam Kỳ lục tỉnh” của nước

ta nằm dưới sự cai trị của người Pháp, họ đã tiến hành phân chia lại địa giới hành chính, thiết lập chính quyền cai trị, hệ thống Tòa án và cùng với đó là việc áp dụng hệ thống luật của Pháp vào sáu tỉnh Nam Kỳ nước ta[6] Chế định Thừa phát lại cũng từ đó du nhập vào nước ta, dưới thời kỳ này, thi hành

án dân sự được tiếp cận với tên gọi Thừa phát lại Các quy định về Thừa phát

lại trong giai đoạn này được quy định trong: “Bộ Dân sự tố tụng Nam Việt:

ban hành kèm Nghị định ngày 16/3/1910 ở Nam Kỳ; Bộ Dân luật Trung năm

1936 - 1939 ban hành kèm Bộ Hộ sự, Thương sự tố tụng Trung Việt năm 1942

ở Trung Kỳ và Bộ Dân luật Bắc năm 1931 kèm theo Bộ Dân sự tố tụng Bắc năm 1917 ở Bắc Kỳ”[25, tr 9-10]

Tóm lại, giai đoạn trước năm 1945, Việt Nam chưa có một quy định cụ thể nào về thi hành án dân sự mà chúng ta chỉ tiếp cận được các chế định về lĩnh vực thi hành án thông qua các quy định về Thừa phát lại dưới góc độ là

Trang 33

trợ giúp Tòa án chứ chưa có quy định cụ thể nào về việc áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản đang bị cầm cố, thế chấp

1.2.2 Giai đoạn từ 1945 đến 1989

Cách mạng Tháng 8 năm 1945 thành công lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã chấm dứt chế độ cai trị của thực dân phong kiến Song do hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ, Nhà nước ta vừa hình thành nên chưa thể xây dựng ngay một hệ thống pháp luật mới Vì thế, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành sắc lệnh số 47/SL ngày 10/10/1945 về việc tạm thời giữ các luật lệ hiện

hành của chế độ cũ ở Bắc, Trung, Nam bộ với điều kiện “không trái với các

nguyên tắc độc lập của nước Việt Nam và chính thể cộng hòa”[71, tr 59] Vì

vậy, hoạt động thi hành án dân sự vẫn do Thừa phát lại đảm nhiệm cho đến năm 1950 Bên cạnh đó, theo sắc lệnh số 13/SL ngày 24/01/1946 có quy định Ban tư pháp xã cũng có quyền thi hành những mệnh lệnh của Tòa án cấp trên bao gồm cả những bản án và quyết định của Tòa án Như vậy, trong những năm đầu của chính quyền cách mạng tổ chức hoạt động thi hành án dân sự đã hình thành và song song tồn tại hai lực lượng thi hành án là Thừa phát lại và Ban tư pháp xã Đến năm 1950, theo sắc lệnh số 85/SL ngày 22/5/1950 “Về cải cách bộ máy tư pháp và tố tụng” công tác thi hành án dân sự được giao cho Tòa án đảm nhiệm mà cụ thể là do Thẩm phán tòa án nhân dân cấp huyện[84]

Tiếp theo đó, Thông tư số 19/VHH/HS ngày 30/6/1955 của Bộ Tư pháp

và Chỉ thị 771/TATC ngày 10/7/1957 của Tòa án nhân dân tối cao từ thời gian này trở đi các Tòa án không được áp dụng pháp luật của chế độ cũ nữa Lúc này, hoạt động thi hành án dân sự được tiến hành theo Thông tư 4176 - HCTP ngày 28/11/1957 của Bộ Tư pháp Thông tư 4296/DS ngày 09/12/1957 của Bộ Tư pháp đã đưa ra nguyên tắc thực hiện các biện pháp cưỡng chế thi

Trang 34

hành án Tuy nhiên, lúc đó lại chưa có một văn bản nào quy định cụ thể về biện pháp cưỡng chế thi hành án.[71, tr 60]

Ngày 14/7/1960, Luật tổ chức tòa án nhân dân năm 1960 được ban hành

Theo Điều 24 của Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 1960 thì “Tại các tòa án

nhân dân địa phương, có nhân viên chấp hành án làm nhiệm vụ thi hành các bản án và quyết định về dân sự, những khoản xử về bồi thường tài sản trong các bản án, quyết định hình sự” Trong thời gian này hoạt động thi hành án

được tiến hành theo quy định của Thông tư số 04/NCLP ngày 14/4/1966 của

Bộ Tư pháp, Thông tư 442/TC ngày 04/7/1968, Thông tư 187/TC ngày 13/10/1972 của Tòa án nhân dân tối cao

Nội dung cơ bản của biện pháp kê biên tài sản trong giai đoạn này được quy định cụ thể tại Thông tư số 04/NCPL ngày 14/4/1966 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn về kê biên tài sản có quy định về phạm vi kê biên tài sản, quy định về những đồ vật không được kê biên, quy định về thủ tục kê biên tài sản cũng như quy định về xử lý tài sản kê biên … đồng thời thông tư

số 04/NCPL ngày 14/4/1966 đã hướng dẫn về cách định giá và bán các tài sản

đã bị kê biên để thi hành án[71, tr 62]

Tóm lại, từ sau Cách mạng Tháng 8 năm 1945 đến năm 1989, Nhà nước

đã ban hành khá nhiều văn bản pháp luật quy định về các vấn đề khác nhau

của công tác thi hành án dân sự “Các quy định này bước đầu đã tạo ra cơ sở

pháp lý cho việc thi hành án dân sự được thuận lợi Tuy nhiên, pháp luật về thi hành án dân sự thời kỳ này vẫn còn tản mạn, hiệu lực chưa cao”[81] Vì

thế, biện pháp kê biên tài sản đang bị cầm cố, thế chấp chưa được quan tâm trong giai đoạn này

1.2.3 Từ 1989 đến 2009

Ngày 28/8/1989, Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1989 Pháp lệnh quan trọng này đã đánh dấu một sự thay đổi lớn trong

Trang 35

tiến trình phát triển của pháp luật về thi hành án dân sự cũng như về biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản đang bị cầm cố, thế chấp Đây cũng là lần đầu tiên các nguyên tắc, trình tự, thủ tục thi hành án dân sự và các biện pháp cưỡng chế thi hành án được quy định một cách chặt chẽ, cụ thể Đội ngũ cán bộ thi hành án đã được chuyên môn hóa, tiêu chuẩn hóa và chịu trách nhiệm trước Nhà nước về việc thực hiện các nhiệm vụ thi hành án dân sự chứ không phải hình thức kiêm nhiệm của Thẩm phán như trước đó Nói cách khác, cơ chế mới cho phép kết hợp giữa quyền tự định đoạt của đương sự và tính chủ động

bị cầm cố, thế chấp nhưng cũng đã có manh nha hình thành quan điểm liên quan đến tài sản đang giao dịch với người thứ ba thông qua quy định tại

khoản 2 của Điều 34 đó là: “Đối với tài sản của người phải thi hành án đang

cho người khác vay, mượn, thuê hoặc gửi giữ, gửi sửa chữa, chấp hành viên yêu cầu người vay, mượn, thuê hoặc giữ chuyển cho người được thi hành án

số tài sản mà người phải thi hành án phải trả cho người đó hoặc kê biên và bán tài sản đó để thi hành án”

Mặc dù có những điểm tiến bộ nhưng trong quá trình thực hiện Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1989 cũng đã bộc lộ khá nhiều điểm bất hợp lý Công tác cưỡng chế thi hành án vẫn chưa thực hiện tốt bởi Cơ quan thi hành

án dân sự, Chấp hành viên vẫn trực thuộc hệ thống Tòa án và do Tòa án trực tiếp chỉ đạo về mặt nghiệp vụ, chịu trách nhiệm về kết quả thi hành án Vì thế, Chấp hành viên chỉ là người thừa hành sự chỉ đạo của Chánh án nên không có

Trang 36

đủ quyền năng cần thiết để đảm bảo thực thi nhiệm vụ của mình và giải quyết những vấn đề phát sinh trong quá trình thi hành án Mọi quyết định quan trọng trong quá trình thi hành án đều thuộc thẩm quyền của Chánh án Tòa án nhân dân

Nhận thấy tầm quan trọng và cần thay đổi công tác thi hành án dân sự, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết về việc bàn giao công tác thi hành án dân

sự từ Tòa án nhân dân sang cơ quan thuộc Chính phủ Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1989 được thay thế bằng pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1993 Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1993 đã tạo ra bước ngoặt mới trong sự phát triển của pháp luật về thi hành án dân sự tại Việt Nam và đã tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc xây dựng, tổ chức và hoạt động thi hành án

Bên cạnh đó, các quy định về biện pháp cưỡng chế còn được hướng dẫn

cụ thể ở các văn bản hướng dẫn thi hành như: Nghị định 69/CP của Chính phủ ngày 18/10/1993 quy định về thủ tục thi hành án dân sự, Thông tư 981/TTLN của BTP-TANDTC-VKSNDTC ngày 21/9/1993 hướng dẫn một số quy định của pháp lệnh thi hành án dân sự, Thông tư số 02/TTLN của BTP-BNV-VKSNDTC ngày 17/9/1993 hướng dẫn về bảo vệ cưỡng chế thi hành án dân sự; Thông tư số 119/TTLN của BTP-BTC hướng dẫn kê biên tài sản của doanh nghiệp để thi hành án, Thông tư liên tịch số 01/TTLT của TANDTC-VKSNDTC ngày 10/1/1992 hướng dẫn việc xét xử và thi hành án về tài sản trong vụ án hình sự và dân sự; Thông tư liên tịch số 12/TTLT của BTP-VKSNDTC ngày 26/2/2001 hướng dẫn thực hiện một số quy định pháp luật

về thi hành án.[71, tr 63-64]

Mặc dù Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1993 có bổ sung những điểm mới nhưng về biện pháp kê biên tài sản đang bị cầm cố, thế chấp thì Pháp lệnh này vẫn chưa quy định rõ ràng mà trên tinh thần vẫn tiếp tục giữ nguyên như quy định tại Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1989 Tuy vậy, cũng đã có

Trang 37

điểm mới trong việc bổ sung thêm quy định về thi hành án trong trường hợp

có tranh chấp về tài sản của người phải thi hành án với bên thứ ba đang giữ tài

sản đó là:“Nếu có tranh chấp về tài sản, thì cơ quan thi hành án đã ra quyết

định thi hành án vẫn tiến hành kê biên và giao cho người vay, mượn, thuê, giữ hoặc sửa chữa bảo quản tài sản đó; Người được thi hành án, người phải thi hành án, người có quyền, lợi ích liên quan đến tài sản tranh chấp có quyền khởi kiện theo thủ tục tố tụng dân sự”[90, Điều 40]

Sau đó, Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1993 đã được thay thế bằng Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004 Trong đó, Pháp lệnh thi hành án dân

sự năm 2004 có nhiều nội dung đã được phát triển thêm ở nhiều góc độ khác nhau trong đó có các quy định về kê biên tài sản Pháp lệnh thi hành án dân sự

2004 đã bổ sung, làm mới các quy định liên quan đến thi hành án dân sự, các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự nói chung và biện pháp kê biên tài sản nói riêng về trình tự thủ tục áp dụng các biện pháp, quy trình cách thức tiến hành… đặc biệt liên quan đến tài sản đang do người thứ ba giữ Khác với quy định tại Điều 34 Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1989, Điều 40 Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1993 khi hai pháp lệnh này đều chưa có quy định nào cho phép kê biên tài sản đang bị cầm cố, thế chấp mà chỉ có quy định về

việc trừ vào tài sản của người phải thi hành án đang do người thứ ba giữ: “Đối

với tài sản của người phải thi hành án đang cho người khác vay, mượn, thuê hoặc gửi giữ, gửi sửa chữa, chấp hành viên yêu cầu người vay, mượn, thuê hoặc giữ chuyển cho người được thi hành án số tài sản mà người phải thi hành án phải trả cho người đó hoặc kê biên và bán tài sản đó để thi hành án”

thì Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004 đã có quy định về việc kê biên tài sản kể cả tài sản đang do người thứ ba cầm giữ trong đó có bao gồm cả tài sản

đang bị cầm cố, thế chấp tại khoản 4 của Điều 41: “Trong trường hợp người

phải thi hành án không có tài sản nào khác thì Chấp hành viên có quyền kê

Trang 38

biên cả tài sản của người đó đang cầm cố, thế chấp, nếu tài sản đó có giá trị lớn hơn nghĩa vụ được bảo đảm Chấp hành viên có trách nhiệm thông báo cho người nhận cầm cố, thế chấp biết về việc kê biên”; và quy định về điều

khoản thanh toán tài sản tại Điều 52 của Pháp lệnh thi hành án dân sự năm

2004: “Số tiền thu được từ việc bán tài sản cầm cố, thế chấp hoặc bán tài sản

mà bản án, quyết định tuyên kê biên để bảo đảm thi hành án được ưu tiên thanh toán cho nghĩa vụ được bảo đảm sau khi trừ các chi phí về thi hành án” Cũng từ đây, biện pháp kê biên tài sản đang bị cầm cố, thế chấp mới

được ghi nhận chính thức trong pháp luật thi hành án dân sự của Việt Nam

về các biện pháp kê biên theo nghĩa vụ mà đương sự phải thực hiện thì Luật thi hành án dân sự năm 2008 đã quy định theo hướng xác định đối tượng áp dụng biện pháp cưỡng chế là vật, tiền, giấy tờ hay là tài sản khác Ngoài ra, quy định rõ hơn về áp dụng biện pháp kê biên tài sản cũng như trình tự của từng đối tượng tài sản áp dụng biện pháp kê biên

Điều 90 của Luật thi hành án dân sự năm 2008 quy định về kê biên, xử

lý tài sản đang bị cầm cố, thế chấp: “Trường hợp người phải thi hành án

không còn tài sản nào khác hoặc có tài sản nhưng không đủ để thi hành án, Chấp hành viên có quyền kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án đang cầm cố, thế chấp nếu giá trị của tài sản đó lớn hơn nghĩa vụ được bảo đảm và chi phí cưỡng chế thi hành án” Đồng thời khi kê biên tài sản đang

cầm cố, thế chấp thì Chấp hành viên phải thông báo ngay cho người nhận cầm

Trang 39

cố, nhận thế chấp; khi xử lý tài sản kê biên, người nhận cầm cố, nhận thế chấp được ưu tiên thanh toán theo quy định tại khoản 3, Điều 47 của Luật thi hành

án dân sự năm 2008 Kèm theo đó là các văn bản hướng dẫn thi hành cụ thể Luật thi hành án dân sự nói chung và về quy định cưỡng chế kê biên tài sản nói riêng như: Nghị định 58/2009/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Thi hành

án dân sự về thủ tục thi hành án dân sự; Nghị định 125/2013/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 58/2009/NĐ-CP hướng dẫn Luật thi hành án dân sự về thủ tục thi hành án dân sự; Thông tư liên tịch số 14/2010/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC hướng dẫn về thủ tục thi hành án dân sự và phối hợp liên ngành trong thi hành án dân sự; Thông tư 22/2010/TT-BTP về đăng ký, cung cấp thông tin trực tuyến giao dịch bảo đảm, hợp đồng, thông báo việc kê biên tài sản thi hành án; Nghị định 17/2010/NĐ-CP về bán đấu giá tài sản ; Thông tư 23/2010/TT-BTP hướng dẫn Nghị định 17/2010/NĐ-CP về bán đấu giá tài sản; Thông tư 137/2010/TT-BTC quy định việc xác định giá khởi điểm của tài sản nhà nước bán đấu giá và chế độ tài chính của Hội đồng bán đấu giá tài sản; Thông tư liên tịch 03/2012/TTLT-BTP-BCA quy định phối hợp bảo vệ cưỡng chế trong thi hành án dân sự

Sau đó, đến năm 2014, Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một

số điều của Luật thi hành án dân sự 2008 có hiệu lực ngày 01/7/2015 và được

áp dụng cho đến hiện nay Theo đó, các quy định về biện pháp kê biên tài sản đang bị cầm cố, thế chấp được quy định rất rõ ràng tại Điều 90 của Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự năm 2014 Đây là cơ sở pháp lý để các chủ thể có thẩm quyền áp dụng biện pháp kê biên, xử lý tài sản đang bị cầm

cố, thế chấp

Ngoài ra, để hướng dẫn chi tiết việc thi hành Luật sửa đổi, bổ sung luật thi hành án dân sự năm 2014 thì Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ được ban hành Theo đó, Nghị định quy định về thủ

Trang 40

tục kê biên tài sản để thi hành án đã được quy định rất chi tiết, cụ thể tại Điều

24 Bên cạnh đó, quy định tại khoản 2, Điều 4 của Thông tư liên tịch 11/2016/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC về thủ tục thi hành án dân sự ngày 01/8/2016 cũng đã quy định khá rõ thủ tục kê biên tài sản đang bị cầm

cố, thế chấp

Tóm lại, cùng với quá trình phát triển của pháp luật về thi hành án dân

sự, biện pháp kê biên tài sản đang bị cầm cố, thế chấp ngày càng được pháp luật quan tâm nhiều hơn Vì vậy, các quy định pháp luật về biện pháp kê biên tài sản đang bị cầm cố, thế chấp ngày càng chi tiết, đầy đủ và hoàn thiện hơn

1.3 Pháp luật tại một số quốc gia về biện pháp kê biên tài sản đang

bị cầm cố, thế chấp và kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam

1.3.1 Quy định tại Cộng hòa Pháp

Trên thực tế, pháp luật của Cộng hòa Pháp luôn là điển hình, khuôn mẫu cho khá nhiều quốc gia ở châu Âu cũng như nhiều nơi trên thế giới học hỏi và

áp dụng theo Mặt khác, cùng với Đức, pháp luật của Pháp là hai quốc gia điển hình cho hệ thống pháp luật Civil law (pháp luật châu Âu lục địa) Như

đã trình bày, bộ máy thi hành án ở Sài Gòn trước năm 1975 là bắt nguồn từ chế định thi hành án của nước Pháp Vì vậy, pháp luật thi hành án dân sự của Việt Nam thời kỳ trước đây mang nặng dấu ấn và chịu ảnh hưởng của pháp luật Cộng hòa Pháp

Tại Cộng hòa Pháp, việc thi hành án dân sự được đặt dưới sự điều hành của hai chủ thể chính: Thẩm phán đặc trách thi hành án và chế định Thừa phát lại (tên gọi này tương đương với chấp hành viên hiện nay) Vai trò của Thẩm phán và Thừa phát lại tại Pháp được Luật số 91-650 ngày 9-7-1991 về thủ tục thi hành án dân sự của Pháp để nâng cao vai trò của thẩm phán và Thừa phát lại Hiện nay, được quy định tại Luật số 2011-1895 ngày 19/12/2011 về phía lập pháp của các quy tắc thủ tục thực thi dân sự bao gồm 6 cuốn chia thành

Ngày đăng: 24/10/2017, 16:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w