LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đề tài tốt nghiệp đại học: “ Nghiên cứu ảnh hưởng của chất kích thích NAA và IBA tới khả năng ra rễ của chiết cành cây Bương lông Điện Biên tại trung tâm n
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LÔNG ĐIỆN BIÊN (DENDROCALAMUS GIGANTEUS) TẠI TRUNG
TÂM NGHIÊN CỨU KHOA HỌC LÂM NGHIỆP VÙNG ĐÔNG BẮC
CẦU HAI – PHÚ THỌ”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Hệ đào tạo : Chính quy
Lớp : K43-NLKH
Chuyên nghành : Nông lâm kết hợp
Khoa : Lâm Nghiệp
Khóa học : 2011-2015
Thái Nguyên, năm 2015
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LÔNG ĐIỆN BIÊN (DENDROCALAMUS GIGANTEUS) TẠI TRUNG
TÂM NGHIÊN CỨU KHOA HỌC LÂM NGHIỆP VÙNG ĐÔNG BẮC
CẦU HAI – PHÚ THỌ”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Hệ đào tạo : Chính quy
Lớp : K43-NLKH
Chuyên nghành : Nông lâm kết hợp
Khoa : Lâm Nghiệp
Khóa học : 2011-2015
Giảng viên hướng dẫn: ThS Đặng Thị Thu Hà
Thái Nguyên, năm 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài tốt nghiệp đại học: “ Nghiên cứu ảnh hưởng của chất
kích thích NAA và IBA tới khả năng ra rễ của chiết cành cây Bương lông Điện Biên tại trung tâm nghiên cứu khoa học lâm nghiệp vùng Đông Bắc, Cầu Hai – Phú Thọ”
là công trình nghiên cứu khoa học của bản thân tôi, công trình được thực hiện dưới sự
hướng dẫn của cô giáo Th.S Đặng Thị Thu Hà trong thời gian từ 20/09/2015 đến ngày
26/02/2016 Những phần sử dụng tài liệu tham khảo trong báo cáo đã được nêu rõ trong phần tài liệu tham khảo Các số liệu và kết quả nghiên cứu trình bày trong báo cáo là quá trình điều tra, theo dõi thực tế thí nghiệm hoàn toàn trung thực, nếu có sai sót gì tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm và chịu mọi hình thức kỉ luật của khoa và nhà tường đề ra
Thái Nguyên, tháng 01 năm 2016
Xác nhận của giáo viên hướng dẫn Sinh viên
Quan Trung Hiệu
Xác nhận của giáo viên phản biện
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khoá luận này Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo đã tận tình hướng dẫn, giảng dạy trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và rèn luyện ở
Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên Xin chân thành cảm ơn cô giáo hướng dẫn ThS
Đặng Thị Thu Hà đã tận tình, chu đáo hướng dẫn tôi thực hiện khoá luận này
Cảm ơn Ban lãnh đạo, cán bộ, công nhân viên trung tâm nghiên cứu khoa học lâm nghiệp vùng trung tâm bắc bộ đã giúp đỡ tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình thực tập
Mặc dù đã có nhiều cố gắng để thực hiện đề tài một cách hoàn chỉnh nhất Song
do lần đầu mới làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, tiếp cận với thực tế sản xuất cũng như hạn chế về kiến thức và kinh nghiệm nên không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định mà bản thân chưa thấy được Tôi rất mong được sự góp ý của quý Thầy, Cô giáo và các bạn đồng nghiệp để khoá luận được hoàn chỉnh hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 19 tháng 01 năm 2016
Sinh viên
Quan Trung Hiệu
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Bảng phân tích phương sai một nhân tố (ANOVA) 25
Bảng 4.1: Kết quả điều tra cây mẹ theo cấp kính 29
Bảng 4.2: Chất lượng cây mẹ theo cấp kính 31
Bảng 4.3: Kết quả tạo cành chét tại các thí nghiệm 33
Bảng 4.4: Kết quả điều tra chọn cành chét tại cây mẹ tuổi 1 35
Bảng 4.5: Kết quả điều tra chọn cành chét tại cây mẹ tuổi 2 37
Bảng 4.6: Kết quả theo dõi thời gian ra rễ của các cành chét (IBA) 40
Bảng 4.7: Kết quả theo dõi thời gian ra rễ của các cành chét (NAA) 41
Bảng 4.8: Kết quả theo dõi chiều dài rễ của các cành chét (IBA) 43
Bảng 4.9: Kết quả theo dõi chiều dài rễ của các cành chét (NAA) 44
Bảng 4.10: Kết quả theo dõi tỷ lệ sống của hom cành chiết 45
Trang 6DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 4.1: Biểu đồ kết quả điều tra cây mẹ tuổi 1 theo cấp kính 30
Hình 4.2: Biểu đồ kết quả điều tra cây mẹ tuổi 2 theo cấp kính 31
Hình 4.3: Biểu đồ chất lượng cây mẹ tuổi 1 theo cấp kính 32
Hình 4.4: Biểu đồ chất lượng cây mẹ tuổi 2 theo cấp kính 32
Hình 4.5 Biểu đồ kết quả chọn cành chét tại cây mẹ tuổi 1, cấp kính 8 – 12 cm 35
Hình 4.6 Biểu đồ kết quả chọn cành chét tại cây mẹ tuổi 1, cấp kính 12 –16cm 36
Hình 4.7 Biểu đồ kết quả chọn cành chét tại cây mẹ tuổi 1, cấp kính >16 cm 36
Hình 4.8 Biểu đồ kết quả chọn cành chét tại cây mẹ tuổi 2, cấp kính 8 – 12 cm 37
Hình 4.9 Biểu đồ kết quả chọn cành chét tại cây mẹ tuổi 2, cấp kính 12 –16cm 38
Hình 4.10 Biểu đồ kết quả chọn cành chét tại cây mẹ tuổi 2, cấp kính >16 cm 38
Hình 4.11 Biểu đồ kết quả theo dõi thí nghiệm nghiên cứu chiết cành (IBA)…… 43
Hình 4.12 Biểu đồ kết quả theo dõi thí nghiệm nghiên cứu chiết cành (NAA).… 44
Hình 4.13 Biểu đồ tỷ lệ sống của hom cành chiết 45
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CT Công thức
DTTN Diện tích tự nhiên
IBA β-indol butyric acid
KHLN Khoa học lâm nghiệp
LSNG Lâm sản ngoài gỗ
NAA α- naphthyl acetic acid
NN&PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn
OTC Ô tiêu chuẩn
QP 04TCN Quy phạm 04 tiêu chuẩn ngành
Trang 8MỤC LỤC
PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích nghiên cứu 3
1.3 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.4 Ý nghĩa của đề tài 3
PHẦN 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
2.1 Cơ sở khoa học về tre trúc 4
2.2 Đặc điểm sinh vật học, đặc điểm sinh trưởng của tre trúc 5
2.3 Những vấn đề nghiên cứu liên quan đến tre trúc ở trên thế giới và Việt Nam 6 2.3.1 Nghiên cứu chung về tre trúc trên thế giới 6
2.3.2 Nghiên cứu chung về tre trúc ở Việt Nam 8
2.4 Tổng quan khu vực nghiên cứu 13
2.4.1 Điều kiện tự nhiên huyện Đoan Hùng tỉnh Phú Thọ 13
2.4.1.1 Vị trí địa lý 13
2.4.1.2 Địa hình 13
2.4.1.3 Đặc điểm đất đai 14
2.4.1.4 Khí hậu 15
2.4.1.5 Thủy văn 16
2.4.2 Điều kiện kinh tế xã hội 16
2.4.2.1 Hiện trạng dân số, dân tộc, lao động 16
2.4.2.2.Tình hình kinh tế 17
2.4.2.3 Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng 17
PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU20 3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 20
3.3.1 Đối tượng nghiên cứu 20
3.3.2 Phạm vi nghiên cứu 20
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 20
Trang 93.3 Nội dung nghiên cứu 20
3.3.1 Nghiên cứu kỹ thuật chọn cây mẹ và cành chét 20
3.3.2 Nghiên cứu kỹ thuật nhân giống bằng chiết cành 20
3.3.3 Đề xuất một số biện pháp kỹ thuật nhân giống Bương lông điện biên 20 3.4 Phương pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi 21
3.4.1 Phương pháp luận 21
3.4.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm 21
3.4.3 Phương pháp thu thập thông tin 21
3.4.4 Phương pháp theo dõi 22
3.4.4.1 Phương pháp lựa chọn cây mẹ và cành chét 22
3.4.4.2 Phương pháp chiết cành 22
3.4.5 Phương pháp xử lí số liệu Error! Bookmark not defined PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 27
4.1 Đặc điểm hình thái cây Bương lông 27
4.1.1 Thân khí sinh 27
4.1.2 Cành 27
4.1.3 Lá 27
4.1.4 Mo 28
4.1.5 Thân ngầm 28
4.1.6 Rễ 28
4.1.7 Hoa 29
4.2 Nghiên cứu kỹ thuật chọn cây mẹ và cành chét 29
4.2.1 Kỹ thuật chọn cây mẹ 29
4.2.2 Kỹ thuật tạo cành chét 33
4.2.3 Kỹ thuật chọn cành chét Error! Bookmark not defined 4.3 Nghiên cứu kỹ thuật nhân giống bằng chiết cành 39
4.3.1 Nghiên cứu kỹ thuật chiết cành 39
4.3.2 Nghiên cứu kĩ thuật tạo cây con trong vườn ươm bằng chiết cành 45
Trang 104.4 Đề xuất một số biện pháp kỹ thuật nhân giống Bương lông điện biên 46
4.4.1 K ỹ thuật chọn cây mẹ và cành chét để làm giống 46
4.4.2 Kỹ thuật nhân giống bằng chiết cành 47
4.4.3 Kỹ thuật nhân giống bằng giâm hom cành 47
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 48
5.1 Kết luận 48
5.2 Đề nghị Error! Bookmark not defined
Trang 12Phần 1 MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Như chúng ta đã biết rằng loài Tre – Trúc luôn gắn bó với cuộc sống người dân Việt Nam Từ thời cha ông ta đã hàng nghìn năm về trước, đây là loài cây không thể tách rời được với cuộc sống của người dân, chúng được sử dụng với rất nhiều mục đích khác nhau: điều mà có thể thấy rõ nhất là các lũy tre làng, những bụi tre gai ken dày chắc chắn gió bão chống thiên tai, chống xâm lược đã từ khi nào Tre – Trúc đi vào nền văn hóa người Việt như một hình ảnh bình dị đầy sức sống, hùng vĩ mềm mại nhưng rất dẻo dai Về tính năng không thể không kể đến tác dụng của các loài Tre – Trúc trong việc xây dựng nhà cửa, làm vô số vật dụng sinh hoạt cái cần câu, cái vó cất tôm cất tép, cái đó, bè mảng, cái cầu ao và cả những cái cầu bắc qua những con mương, con kênh nhỏ; làm chông… làm đồ thủ công mỹ nghệ, cây cảnh Còn măng là món ăn không thể thiếu trong danh sách ẩm thực của
người dân Việt (Vũ Văn Dũng,1980)[6] Việt Nam có 10 loài Tre - Trúc cho măng
ăn ngon (Mai ống, Luồng, Lồ ô, Là ngà, Trúc sào, Vầu đắng, Tre gầy…) Tuy nhiên, các loài cho măng ngon năng suất cao, chất lượng tốt chưa được phát triển,
việc khai thác măng chỉ dừng lại ở mức độ tận dụng ( Lê Viết Lâm, Nguyễn Tử Kim
và Lê Thu Hiền, 2005)[12]
Đấy là còn chưa nói tới các loại vật dụng của nhà nông, cũng như nhiều loại
vũ khí thời xưa của cha ông ta đều có phần cán, phần tay cầm làm bằng một loại cây nào đó thuộc họ tre Nhiều vật dụng gần gũi khác như vậy mà bây giờ gần như chúng ta xa rời loài cây nhiều lợi ích như thế Tuy nhiên, việc trồng, khai thác, chế biến sản phẩm từ tre nứa, song mây ở nước ta vẫn chưa phát huy hết tiềm năng sẵn
có do thiếu vùng nguyên liệu, khai thác quá mức dẫn đến mức cạn kiệt nguyên liệu
(Vũ Đình Lân, 2014)[14] Trong họ tre trúc có một loài tre là loài Bương Lông
Điện Biên là một trong số các loài cây đem lại lợi ích kinh tế cho người dân
Loài Bương lông Điện Biên, còn có các tên gọi khác như Mạy púa mơi, Bương lớn, Bương lớn Điện Biên Là một trong những loài tre có kích thước lớn
Trang 13nhất ở Việt Nam chiều cao từ 15 -20 m, đường kính gốc 20-25 cm, có vách dày, chiều dài đốt từ 25 – 30 cm, ít cành nhánh; có tiềm năng để phát triển và cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến.Tuy nhiên, việc phát triển loại cây này còn hạn chế rất nhiều, vì việc trồng loài cây này gần như phụ thuộc hoàn toàn vào kiến thức bản địa của người dân nên năng suất không cao Đặc biệt, việc phát triển mở rộng diện tích trồng loài cây này rất khó khăn do nhân giống bằng gốc rất hạn chế
về số lượng giống, người dân chưa có được kỹ thuật nhân giống bằng phương pháp chiết cành hoặc giâm hom cành nên số lượng giống cung cấp ra thị trường ít chưa đáp ứng được nhu cầu nhân rộng mô hình Mặt khác, người dân địa phương chỉ cho rằng trồng bằng gốc mới cho năng suất, trong khi đó có nhiều loài tre mọc cụm khác việc nhân giống và trồng bằng giống cành đã đem lại hiệu quả kinh tế rất cao như: Luồng (Dendrocalamus barbatus), Mai xanh (Dendrocalamus latiflorus)…
Xuất phát từ những lý do nêu trên, thực hiện đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng
của chất kích thích NAA và IBA tới khả năng ra rễ của chiết cành cây Bương lông Điện Biên tại trung tâm nghiên cứu khoa học lâm nghiệp vùng Đông Bắc, Cầu Hai – Phú Thọ” là hết sức cần thiết để góp phần công tác xây dựng quy trình, quy phạm và kỹ thuật gây trồng cây Bương lông bằng chiết cành và giâm hom
1.2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu ảnh hưởng của chất kích thích sinh trưởng thực vật đến khả năng
tạo rễ của chiết cành, giâm hom cây Bương lông Điện Biên ( Dendrocalamus
giganteus) làm cở sở xác định loại chất kích thích sinh trưởng, nồng độ chất kích
thích sinh trưởng thích hợp nhất cho sự phát triển của rễ cây Bương lông
1.3 Mục tiêu nghiên cứu
Tìm ra được nồng độ thuốc phù hợp nhất cho khả năng ra rễ của chiết cành,
giâm hom cây Bương lông điện biên
1.4 Ý nghĩa của đề tài
- Trong học tập, nghiên cứu khoa học:
+ Giúp cho sinh viên có điều kiện vận dụng các kiến thức đã học vào
Trang 14thực tế sản xuất, nâng cao trình độ chuyên môn
+ Kết quả của đề tài nghiên cứu làm cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo trong nghiên cứu, nhân giống loài cây Bương lông
+ Thông qua quá trình thực hiện đề tài, sinh viên có điều kiện học hỏi
những kiến thức thực tiễn nâng cao kiến thức và kỹ năng cho bản thân để thực hiện tốt công tác sau này
- Trong thực tế:
Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở thực tiễn cho công tác nhân
giống loài cây Bương lông bằng chiết cành, giâm hom trên địa bàn và một số nơi
có điều kiện tương tự
Trang 15PHẦN 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1.Cơ sở khoa học về tre trúc
Như chúng ta đã biết thì phần lớn các loài thực vật đều sinh sản bằng con đường sinh sản hữu tính, tuy nhiên chúng ta vẫn bắt gặp các hình thức sinh sản vô tính: Chiết, ghép, nuôi cấy mô tế bào, giâm hom Nhờ có phương thức sinh sản vô tính mà thực vật có thể tái tạo lại mình từ các phần của cơ thể: Bằng thân như dây Khoai lang, bằng rễ như cây Hồng,…
Tre trúc thường có thân cứng như gỗ, song có đặc trưng là thân thường rỗng trong ruột, có hệ thân ngầm và phân cành khá phức tạp, và có hệ thống mo thân hoàn hảo, được sử dụng hiệu quả trong quá trình phân loại Thân ngầm của tre trúc thường phát triển trong đất thành mạng lưới hay chỉ phát triển thành một số đốt ngắn ở gốc cây Các đốt thân ngầm thường có nhiều rễ và chồi ngủ Chồi sẽ mọc lên thành cây tre, trúc (thân khí sinh) trên mặt đất hay phát triển thành thân ngầm mới Tre trúc có 3 loài thân ngầm chính là thân ngầm mọc cụm, thân ngầm mọc rải
và thân ngầm kiểu hỗn hợp
Trong các biện pháp sinh sản vô tính, chiết cành và giâm hom là hình thức phổ biến nhất và là những công cụ có hiệu quả cho việc lưu giữ, bảo vệ và duy trì giống cây rừng Bởi chúng có các đặc điểm sau:
- Giâm hom có thể dùng hom thân, hom cành, hom rễ toàn những nguyên liệu sẵn có, dễ làm, dễ thao tác
- Nhân giống bằng chiết cành, giâm hom cho hệ số nhân giống lớn, tương đối
rẻ tiền, nên được dùng phổ biến cho trong nhân giống cây rừng, cây cảnh và cây ăn quả
- Cây hom, cây chiết mặc dù không giữ được các đặc trưng hình thái giải phẫu nhưng lại giữ được các đặc điểm di truyền mong muốn của cây mẹ
Trang 16Đặc biệt đối với một số cây lâm nghiệp có hình thức lai xa thì nó còn giúp giữ các tính trạng tốt ở đời F1, tránh phân ly ở đời F2 và như vậy chúng có hệ số biến động nhỏ hơn cây sinh sản hữu tính bằng hạt
2.2 Đặc điểm sinh vật học, đặc điểm sinh trưởng của tre trúc
Cơ quan sinh dưỡng của tre trúc gồm thân ngầm, măng, cành, lá, rễ Thân khí sinh và thân ngầm hợp thành thể thống nhất Thân ngầm sinh ra măng, măng mọc thành tre (trúc), tre nuôi thân ngầm hoặc sinh thân ngầm mới, mỗi thân ngầm lại sinh ra măng, cứ luân hồi như vậy, cho nên cả rừng tre là một thể thống nhất
Cơ quan sinh sản của tre trúc là hoa, quả , hạt nhưng tre trúc lại nhân giống chủ yếu bằng sinh dưỡng vì tre trúc hàng mấy chục năm thậm chí trăm năm mới ra hoa kết quả một lần
Năng lực sinh trưởng sinh dưỡng và tái sinh vô tính của tre trúc rất mạnh, măng tre trúc được phân sinh từ gốc, từ thân ngầm mà ra, lợi dụng đặc tính này người ta có thể sản xuất kinh doanh rừng tre trúc liên tục Tre trúc hàng năm đều sinh ra măng mọc thành tre, cho nên bụi tre, rừng tre luôn là rừng khác tuổi
Tre trúc sinh trưởng rất nhanh vì thân, cành, thân ngầm của tre trúc đều sinh đốt, mỗi đốt đều có tổ chức phân sinh, đều sinh trưởng nên tre trúc sinh trưởng rất nhanh Hầu hết các loài tre trúc chỉ cần trên dưới 3 tháng (khoảng 100 ngày) đã hoàn thành sinh trưởng chiều cao và đường kính Thời gian về sau chỉ là hoàn thiện, cây cứng ra, tích lũy Cellulose v v mà không tăng thêm về đường kính chiều cao nữa Đường kính thân tre, số đốt tre (lóng tre) được quyết định trong giai đoạn măng
Mặc dù sinh trưởng mạnh mẽ, nhu cầu về các chất dinh dưỡng, nước, muối khoáng cao song tre trúc vẫn là bạn của môi trường do có khả năng bảo vệ đất, chống xói mòn nhờ bộ rễ và thân ngầm ăn rộng, chằng chịt, lá rụng nhiều và không ảnh hưởng xấu đến môi trường
Trang 172.3 Những vấn đề nghiên cứu liên quan đến tre trúc ở trên thế giới và Việt Nam
2.3.1.Nghiên cứu chung về tre trúc ở trên thế giới
Cây Bương là thuộc họ Tre Trúc (Dendrocalamus giganteus) mà các nghiêu
cứu về Tre Trúc trên thế giới đã bắt đầu từ khá lâu và rất đa dạng Tre là một tài nguyên Lâm sản ngoài gỗ (LSNG) rất có giá trị Có tới hơn một nửa dân số thế
giới liên quan với nhóm tài nguyên này Tre thuộc phân họ Tre (Bambusoideae), họ Hòa Thảo (Poaceae) với khoảng 1300 loài thuộc 70 chi phân bố trên toàn thế giới
Theo thống kê có trên 14 triệu ha rừng tre phân bố từ 51o vĩ Bắc đến 47o vĩ Nam đều có tre phân bố Nhiều loài tre có đặc tính mọc thành rừng Nước nhiều tre nhất
là Trung Quốc, với khoảng 50 chi, 500 loài và diện tích 7 triệu ha rừng tre Nước nhiều tre thứ hai là Nhật Bản với 13 chi, trên 230 loài và diện tích 0,1 triệu ha rừng tre.Tiếp đó là các nước Ấn Độ, các nước Nam và Đông Nam Á, trong đó có Việt
Nam (Trần Văn Mão và nhóm tác giả, 2006)[15] , (Lê Nguyên, 1970)[16]
Tuy trái ngược với nhiều ý kiến cây tre không cần ánh nắng và độ ẩm để sinh sôi nảy nở Có đến 1500 giống tre, trong số đó, một số có thể chịu đựng với nhiệt
độ rất thấp, tới 30 độ Đó là lí do vì sao chúng ta nhìn thấy nó mọc trong khu vực nhiệt đới, cũng như ôn đới mặc dù với chiều cao của chúng nhưng tre không phải một giống cây mà là một giống cỏ khổng lồ Trong đó lớn nhất có thể cao đến 25m
Nhân giống tre được nhiều tác giả quan tâm và đề cập đến như Hassan (1977)[25], R Swarup & A Gambhir (2008)[26], Nautiyal et al (2008)[27] bằng
nhiều phương pháp như bằng hạt, chiết, nuôi cấy mô, chồi gốc Hạt B.tulda có tỷ lệ
nảy mầm chỉ 24,78% và 5% cây con tồn tại ở vườn ươm Nhưng nhân giống bằng
gốc đạt tỉ lệ cao hơn, chẳng hạn đạt tỉ lệ cao hơn, chẳng hạn đạt 5% ở Melocana baccifera, 9% ở B tulda, 33% ở Oxytanenthera nigrociliata, 40% ở Dendrocalamus longispathus và 100% ở Bambusa vulgaris (Hassan, 1977)[25]
Trang 18Phương pháp chiết tỷ lệ ra rễ ở các loài tre vách dày được áp dụng ở Băng –
la – đét đạt 45 -56% ở các loài Bambusa vulgaris, B.polymorpha và D.giganteus (A Benton et al 2011 [23]) Nghiên cứu về phương pháp chiết đối với tre cho rằng: đảm bảo ra rễ tốt nhất ở trên cây trước khi cắt xuống Nhưng phương pháp này chỉ áp dụng ở những vùng có độ ẩm cao và bị hạn chế ở phần dưới của cây mà thường phần này không dùng làm vật liệu nhân giống
Chồi gốc (cành chét) của các loài Bambusa balcooa, B.longispiculata, Btulda, B vulgaris, Dendrocalamus longispathus, Melocana baccifera, Neohouzeaua dulloa và Oxytenathera nigrociliata đã được sử dụng để trồng rừng ở
Ấn Độ tỉ lệ thành công đạt 44 – 76% khi trồng vào tháng 4, đạt 3 -38% vào tháng 6
và chồi mầm một tuổi đạt tỉ lệ sống cao hơn cây 2 -3 tuổi Nhân giống bằng phương
pháp chiết thân đối với loài Bambusa longispiculata đạt tỉ lệ ra rễ 25% nhưng tỉ lệ
ra rễ tăng lên 54% khi có xử lí với hooc môn tăng trưởng IBA 200ppm Sử dụng hooc môn IBA và NAA khi giâm hom thân (mỗi hom 1 đốt, gồm 2 mấu) đạt tỉ lệ ra
rễ 80% ở Bambusa arundinacea, 70% ở Dendrocalamus strictus (S Nautiyal et al
2008)[27]
Có 607 ha rừng tre của 9 loài (Dendrocalamus strictus, D asper, D hamiltonii, Bambusa bambos, B nutans, B balcooa, Pseudooxytanthera, Guadua angustifolia) được trồng bằng giống cây nuôi cấy mô Điều này rất có lợi ích về
mặt kinh tế và có thể trồng rừng quy mô lớn Công nghệ này đạt chất lượng tốt có thể triển khai trồng rừng trên toàn quốc Ấn Độ (R Swarup & Gambhir, 2008)[26]
Zhou Fangchun (2000)[28] với công trình “Selected works of Bamboo research” đã nghiên cứu từ nhân giống đến canh tác, khai thác sử dụng tre trúc trong đó có nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ, lượng mưa và độ ẩm đến quá trình phát sinh, phát triển măng của nhiều loài tre trúc khác nhau ở Trung Quốc làm cơ
sở cho việc áp dụng biện pháp thâm canh thúc đẩy sinh măng trái vụ
Trang 19Fu Maoyi, Xiao Jianghua (1996)[24] với “Cultivation & Utilzation on Bamboos” đã xác định những nhân tố ảnh hưởng đến quá trình sinh măng, sinh trưởng và phát triển của thân khí sinh là: độ ẩm, nhiệt độ, dinh dưỡng, cấu trúc rừng, biện pháp lâm sinh, sâu bệnh Đây là những nhân tố cần phải được quan tâm khi áp dụng vào các biện pháp thâm canh tăng năng suất măng và thân khí sinh
Loài Dendrocalamus giganteus được công bố năm 1868 (Munro,1868) đây là một
trong những loài tre lớn nhất của chi Dendrocalamus cũng như tre của thế giới Loài tre này đều có đường kính thân 20-30 cm, cao từ 20-30 m, vách dày 2-2,5 cm,
vỏ có màu xanh lục Đây cũng là loài tre có giá trị cao ở Trung Quốc
2.3.2 Nghiên cứu chung về tre trúc ở Việt Nam
Ở Việt Nam, ngành tre nứa, song mây gắn liền với cuộc sống của người dân nhiều vùng nông thôn, đồng bào dân tộc thiểu số Hơn một triệu người sống ở các gia đình có thu nhập từ tre nứa, song mây Tuy nhiên, việc trồng, khai thác, chế biến sản phẩm từ tre nứa, song mây ở nước ta vẫn chưa phát huy hết tiềm năng sẵn
có do thiếu vùng nguyên liệu, khai thác quá mức dẫn đến mức cạn kiệt nguyên liệu Tre nứa, song mây là những loài cây lâm sản ngoài gỗ có biên độ sinh thái rộng trên cả nước và có khả năng gây trồng thành vùng nguyên liệu chuyên canh hoặc bảo tồn khai thác bền vững So với các loài cây gỗ, Tre nứa có ưu điểm nổi trội là chúng có tốc độ sinh trưởng rất nhanh, tuổi khai thác của tre nứa sớm, có thể khai thác sau 3 - 4 năm kể từ khi trồng và cho năng suất khá cao (từ 4 - 12 tấn/ha/năm) Luân kỳ khai thác của rừng tre nứa rất ngắn (từ 2 - 3 năm), thậm chí trong thực tiễn sản xuất, nhiều địa phương đã khai thác rừng tre nứa theo phương thức chặt chọn với luân kỳ 1 năm (năm nào cũng tiến hành khai thác) Ngoài cung cấp thân cây, tre nứa còn cung cấp măng làm thực phẩm có giá trị sử dụng trong
nước và xuất khẩu (Đỗ Văn Bản, năm 2005)[2]
Tre Nứa đây là loài LSNG có diện tích lớn nhất của Việt Nam, vì vậy đây là nhóm loài có tiềm năng nâng cao giá trị của ngành công nghiệp chế biến LSNG Càng ngày người ta càng phát hiện các giá trị sử dụng của tre nứa như : làm than
Trang 20hoạt tính, bô ̣t giấy, nguyên liê ̣u cho các nhà máy chế biến ván thanh , đóng đồ đa ̣c,
làm hàng mỹ nghê ̣…(Nguyễn Tích và Trần Hợp 1971[19]) và nhiều người khác
xếp các loài Tre trúc vào họ Tre (Bambusaceae), song gần đây nhiều nhà khoa học
(Trần Đình Lý,1993[13]; Sách đỏ Việt Nam, phần Thực vật, 1996[4]) đã tập hợp
các loài Tre trúc vào các chi khác nhau của họ Lúa hoặc họ Hoà thảo (Poaceae) Điều tra khảo sát và định danh đang còn là vấn đề cần sớm giải quyết, bởi vì cho tới nay chưa biết cụ thể có bao nhiêu loài, bao nhiêu chi cũng như tên khoa học chính xác của một số loài đã được thu thập
Việt Nam đứng thứ 4 thế giới về diện tích tre nứa, với 194 loài tre trúc thuộc
26 chi được các nhà khoa học phát hiện ở Việt Nam đã phần nào đánh giá được tính đa dạng về thành phần loài tre trúc ở nước ta Tuy nhiên, mới chỉ có 80 loài đã tạm thời được định danh, còn lại là các loài chưa có tên
Trong nhiều năm trở lại đây, rất nhiều chi, loài mới được các nhà khoa học Việt Nam nghiên cứu và bổ sung vào danh lục tre nứa của nước nhà Công trình
đầu tiên nghiên cứu về tre nứa ở Việt Nam là Camus and Camus (1923) đã thống
kê có 73 loài tre trúc của Việt Nam (Năm 1978 Vũ Văn Dũng [6]) công bố Việt
Nam có khoảng 50 loài Năm 1999 Phạm Hoàng Hộ đã thống kê được 123 loài, số
lượng các loài tre trúc của Việt Nam đã tăng lên đáng kể (Lê Viết Lâm, Nguyễn Tử Kim và Lê Thu Hiền, 2005[12]) Không dừng lại ở đó vào giai đoạn 2001-2003,
Nguyễn Tử Ưởng, Lê Viết Lâm (Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam) cùng với
GS Xia Nianhe, chuyên gia phân loại tre (chi Bambusa) của Viện thực vật học Quảng Châu, Trung Quốc đã xác định ở Việt Nam có 113 loài của 22 chi, kiểm tra
và cập nhật 11 tên khoa học mới, đặc biệt đưa ra được 6 chi và 22 loài tre lần đầu đầu được định tên khoa học ở Việt Nam bổ sung cho hệ thực vật Việt Nam; đưa ra
22 loài cần được xem xét để xác nhận loài mới (Nguyễn Tử Ưởng, Lê Viết Lâm,2001[22])
Trang 21Các loài có giá trị kinh tế cao, hiện đang được ưa chuộng gây trồng:Quá trình điều tra khảo sát đã bước đầu đề xuất danh mục 9 loài Tre trúc quan trọng nhất dựa vào giá trị sử dụng hiện tại, nhu cầu của sản xuất, tiềm năng khai thác và trữ lượng rừng Có loài như Le có trữ lượng và diện tích rất lớn, song do giá trị sử dụng không cao nên không có tên trong bản danh sách; ngược lại, Trúc sào có diện tích nhỏ song nhu cầu sử dụng và gây trồng lại khá lớn nên lại có mặt trong danh sách này Trong quá trình khảo sát, tình trạng gây trồng và tình hình suy giảm vốn gen của loài đã được đặc biệt lưu ý để có được những đề xuất hợp lý cho công tác bảo
tồn cũng như việc phát triển nguồn gen của loài trong tương lai ( Nguyễn Hoàng Nghĩa, năm 2005)[17]
Nghiên cứu về kỹ thuật nhân giống, trồng, khai thác tre đã được quan tâm nghiên cứu khá sớm ở Việt Nam, từ những năm 60 của thế kỷ 20 như: Phạm Quang
Độ (1963) – Trồng và khai thác tre nứa trúc[5] Nguyễn Tử Ưởng (1965 – 1968) – Nghiên cứu phương thức kinh doanh rừng Nứa lá nhỏ[21], Nguyễn Thị Phi Anh (1967) – Kỹ thuật trồng tre, diễn ở Cầu Hai[1], Trần Xuân Thiệp (1976) – Nghiên cứu thực nghiệm kinh doanh cây Vầu đắng tại Bắc Quang – Hà Giang[20], Lê Quang Liên (2001) – Nhân giống Luồng bằng chiết cành[10]
Trần Xuân Thiệp đã đưa ra kết quả thực nghiệm kinh doanh rừng Vầu đắng
(Arundinaria sp) tại Bắc Quang – Hà Tuyên[20] Ngô Trí Lực (1971) trong báo cáo
bước đầu tìm hiểu một số đặc tính tự nhiên và kinh doanh rừng Nứa lá nhỏ
(Neohoazeana dullooa A Camus) đã phân chia quá trình phát triển của cây nứa
thành các giai đoạn măng – non – trung niên – già sau đó là hiện tượng khuy chết của nứa sau 20 – 30 năm
Từ năm 1998, Phân viện nghiên cứu khoa học Lâm Nghiệp Nam Bộ được Cục
Phát triển Lâm Nghiệp cấp kinh phí để thí nghiệm trồng Tre tầu (Sinocalamus latiflorus Munro) lấy măng Đề tài đã tập hợp được một số kỹ thuật gây trồng, nhân
giống có thể áp dụng cho thực tiễn sản xuất (Đỗ Văn Bản, 2005)[2]
Trang 22Năm 2000, Lê Quang Liên và cộng sự đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu kỹ thuật trồng tre trúc để lấy măng” [11] [ cho 2 loài Luồng (Dendrocalamus
barbatus) và tre Gầy (Dendrocalamus sp.) trong đó khảo nghiệm 3 công thức bón phân NPK và khẳng định muốn trồng tre trúc để lấy cây hay lấy măng năng suất cao thì phải trồng thâm canh, trong đó phân bón gồm phân chuồng kết hợp với phân hóa học tổng hợp NPK có tác dụng nâng cao năng suất đến 2,5 lần
Triệu Văn Hùng, Nguyễn Xuân Phát, Hoàng Chương (2002) [8] trong “Kỹ thuật trồng một số loài cây đặc sản rừng” đã giới thiệu kỹ thuật trồng cho 2 loài là
Trúc sào và Vầu đắng gồm: điều kiện gây trồng, nguồn giống, kỹ thuật gây trồng, chăm sóc, khai thác và chế biến
Nghiên cứu về đất rừng trồng tre trúc nhìn chung còn ít, chủ yếu tập trung vào
một số loài rất phổ biến Nguyễn Ngọc Bình (2001) với “Đặc điểm đất rừng trồng rừng tre Luồng và ảnh hưởng của các phương thức trồng rừng tre trúc Luồng đến đất” [3] cho biết: Luồng sinh trưởng tốt ở đất chua pH(H2O) 4,8 – 5,9; pHKCl 4,2 – 5,0 Ở tầng đất mặt hàm lượng chất hữu cơ và N tổng số tương quan rất chặt, hàm lượng K2O dễ tiêu trong đất tương quan tương đối chặt, còn hàm lượng P2O5 dễ tiêu lại tương quan không chặt với sinh trưởng về đường kính của cây Luồng Tác giả cho rằng nên trồng Luồng theo phương thức hỗn giao với cây họ đậu như Keo
để tránh cho đất suy thoái
Nguyễn Văn Phong và các cộng sự (2008) [18] đã đưa ra kết quả nghiên cứu “
Nhân giống Trúc sào (Phyllostachys edulis) (Carr.) Houz De Lehaie) bằng phương pháp giâm hom thân ngầm tại tỉnh Cao Bằng” đã sử dụng 5 loại chất điều
hòa sinh trưởng là ABT1, NAA, 2,4 – D, Atonik, IBA với các nồng độ khác nhau, kết quả cho thấy các chất điều hòa sinh trưởng khác nhau có ảnh hưởng khác nhau đến tỉ lệ hình thành cây măng và cây hom Tỷ lệ hình thành cây hom có xử lý Atonik 25ppm đạt 57,2% là cao nhất, các chất khác cho tỷ lệ từ 35,2% đến 42,9%
Trang 23Các nghiên cứu trên đây là cơ sở để đề tài lựa chọn phương thức và phương pháp nhân giống phù hợp nhằm giảm giá thành, nâng cao hiệu quả trồng rừng, phát triển vùng trồng Bương lông Điện Biên làm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, đặc biệt trong giai đoạn 2012 – 2020
Công trình nghiên cứu tổng hợp có nhiều nội dung khoa học đã được thực
hiện 5 năm liên tục từ 1976 – 1980, đó là nghiên cứu “Kỹ thuật trồng và kinh doanh rừng Luồng tập trung có năng suất cao, chất lượng tốt và bền vững” do Trần
Nguyên Giảng [7], chủ nhiệm bộ môn Lâm học, Viện khoa học Lâm nghiệp chủ trì,
đã được tổng kết và công bố vào năm 1981 với một số kết quả rất đáng lưu ý sau đây:
- Tạo giống Luồng bằng hom thân thay thế giống gốc và chét
- Các phương thức trồng rừng thuần loài và hỗn loài với các cây gỗ họ Đậu bản địa có khả năng cố định N trong môi trường đất chua
- Kỹ thuật trồng rừng Luồng trên đất xấu (trảng cỏ + cây bụi chịu hạn)
- Kỹ thuật khai thác rừng Luồng hợp lý, đảm bảo bên vững rừng…
Từ năm 1986 – 1990, Trung Tâm Nghiên Cứu Thực Nghiệm Lâm Sinh Cầu Hai (Viện KHLN Việt Nam) thực hiện đề tài “Nghiên cứu di thực cây Luồng Thanh Hóa ra vùng Trung Tâm” do KS Lê Quang Liên phụ trách, trong kết quả của đề tài, đáng quan tâm là kỹ thuật tạo giống Luồng bằng hom cành Từ những kết quả đó, diện tích rừng Luồng ở Thanh Hóa năm 1973 chỉ có 15,160 ha, đến năm 1980 đã tăng lên 40.000 ha và đến năm 2006 toàn tỉnh Thanh Hóa đã có tới 65,942 ha tróng đó cs 61,049 ha là rừng Luồng thuần loài và 4,983 ha là rừng hỗn loài với cây gỗ
Nhận xét: hiện nay chưa có một công trình nghiên cứu nào về nhân giống Bương lông Điện Biên Những đề tài nghiên cứu trong nước chủ yếu là nhân giống bằng giâm hom thân ngầm Nhân giống bằng hom thân ngầm thì hom nhanh ra măng chất lượng cây tốt hơn hom cành, nhưng số lượng nhân giống hạn chế không được nhiều và khó sản xuất đại trà
Trang 242.4 Tổng quan khu vực nghiên cứu
2.4.1 Điều kiện tự nhiên huyện Đoan Hùng tỉnh Phú Thọ
2.4.1.1 Vị trí địa lý
Đoan Hùng là một huyện đồi núi trung du, nằm tại ngã ba ranh giới giữa tỉnh
+ Phía Đông Nam giáp huyện Phù Ninh
+ Phía Nam giáp huyện Thanh Ba
+ Phía Tây Nam và phía Tây giáp huyện Hạ Hòa, đều là các huyện của tỉnh Phú Thọ
+ Phía Tây Bắc, Đoan Hùng giáp huyện Yên Bình của tỉnh Yên Bái
+ Phía Bắc và phía Đông, huyện Đoan Hùng giáp các huyện của tỉnh Tuyên
Dương (phía Đông) Trên phần phía Đông Bắc huyện có đoạn cuối của sông Chảy
lòng huyện
2.4.1.2 Địa hình
Với đặc trưng của vùng chuyển tiếp từ miền trung du và miền đồi núi cao, huyện Đoan Hùng có tổng diện tích đất tự nhiên 30.244,47 ha Trong đó diện tích đất gò đồi chiếm phần lớn diện tích Địa bàn huyện Đoan Hùng nằm trên trục quốc
lộ 2 và quốc lộ 70, địa hình phức tạp đồi núi xen kẽ các cánh đồng lầy thụt huyện
có 27 xã và một thị trấn, gồm 14 dân tộc, trong đó dân tộc kinh chiếm phần lớn dân
số trong vùng
Địa hình của huyện khá phức tạp thấp dần từ bắc xuống nam, từ tây sang đông độ dốc trung bình 3-5 độ, có nhiều cánh đồng chua, lầy thụt, nằm ở các khe dốc, có chiều dài từ tây bắc xuống đông nam là 31 km, chiều rộng từ đông sang tây
Trang 25là 14 km sự thay đổi độ cao của các vùng trong huyện thấp dần về phía sông lô, sông chảy, cụ thể địa hình được chia làm 3 tiểu vùng
Tiểu vùng 1 ( tiểu vùng Thượng huyện) diện tích là 12.347 ha bao gồm 9 xã: Bằng Luân, Minh Lương, Bằng Doãn, Quế Lâm, Phúc Lai, Đông Khê, Tây Cốc, Ca Đình, Ngọc Quan) chiếm khoảng 41%tổng diện tích tự nhiên Địa hình nơi đây có nhiều núi cao, rừng tự nhiên suy kiệt, chủ yếu là rừng trồng, đọ dốc trung bình 12-
25 độ với dải gò đồi bát úp mấp mô có đọ cao trung bình từ 50-100m tạo nên khoảng giữa là các thung lũng nhỏ hẹp thích hợp cho trồng rừng sản xuất, cây công nghiệp và cây ăn quả
Tiểu vùng 2 (tiểu vùng vên sông Lô, sông Chảy) có diện tích là 10.800 ha bao gồm 13 xã ( Chí Đám, Vân Du, HÙNg Quan, Nghinh xuyen, Phương Trung, Phong Phú, thị trấn Đoan Hùng, Hữu Đô, Phú Thứ, Đại Nghĩa, Hùng Long, Sóc Đăng, Vụ Quang), chiếm 35,7 diện tích tự nhiên, là vùng chuyển tiếp có dạng núi thấp xen kẽ các dải đồng bằng hẹp ven sông lô, sông chảy đất vùng ven sông nên chủ yếu là đất phù sa cổ và 1 phần sình lầy, thích hợp cho trồng cây lương thực, rau màu, cây công nghiệp ngắn ngày, chăn nuôi và cây ăn quả
Tiểu vùng 3 (tiểu vùng hạ huyện) có diện tích là 7.097,47 ha, bao gồm 6 xã Minh Phú, Chân Mộng, Vân Đồn, Tiêu Sơn, Yên Kiện, Minh Tiến) chiếm khoảng 23,5% tổng diện tích tự nhiên, dạng núi thấp, xen kẽ vùng đồi bát úp có nhiều cánh đồng dạng lòng chảo , có độ cao phổ biến từ 25- 50 m, có ưu thế về chăn nuôi,
trồng cây công nghiệp dài ngày và cây nguyên liệu cho nhà máy giấy bãi bằng
2.4.1.3.Đặc điểm đất đai
Đoan Hùng có những nhóm đất chính sau:
- Nhóm đất Feralít đỏ vàng phát triển trên đá phiến thạch sét: Đất có thành phần cơ giới từ thịt nặng đến sét, tầng đất dày, thấm nước tốt, lượng mùn trung bình, lân dễ tiêu nghèo Độ PH của đất thay đổi từ trung tính đến chua ở các mức
độ khác nhau Loại đất này thích hợp với đất sản xuất nông lâm nghiệp
Trang 26- Nhóm đất Feralít đỏ vàng phát triển trên nền phù sa cổ: Đất có hàm lượng mùn và đạm tổng số nghèo, lân tổng số trung bình, lân dễ tiêu nghèo, kali tổng số
và trao đổi giàu và trung bình Nhóm đất này thích hợp với đất sản xuất lâm nghiệp
- Nhóm đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ: Đất này được hình thành do sản phẩm dốc tụ Thành phần cơ giới của đất chủ yếu là thịt trung bình đến thịt nặng Hàm lượng mùn và đạm tổng số khá, lân tổng số và lân dễ tiêu nghèo, đất có độ PH chua và rất chua Nhóm đất này chủ yếu sử dụng để gieo trồng lúa nước và các loại cây màu
- Nhóm đất Feralít phát triển trên tầng đá mẹ sa thạch, phiến thạch, đất nghèo dinh dưỡng, có thành phần cơ giới thịt nhẹ đến trung bình Độ PH của đất chua, hàm lượng mùn và đạm tổng số nghèo, lân tổng số và lân dễ tiêu trung bình, kali nghèo Nhóm đất này thích hợp cho các loài cây công nghiệp như: Chè
- Nhóm đất phù sa sông suối, thành phần cơ giới từ thịt trung bình đến thịt nặng Đất có phản ứng trung tính, hàm lượng mùn và đạm tổng số khá, lân tổng số giàu và dễ tiêu, ka li tổng số và trao đổi nghèo Nhóm đất này thích hợp với một số
cây ngắn ngày như: Ngô, Đậu tương
2.4.1.4 Khí hậu
Đoan Hùng thuộc vùng trung du bắc bộ, chịu ảnh hưởng của nhiệt đới gió
mùa nóng ẩm, chia thành hai mùa rõ rệt: Mùa mưa lượng mưa cao, cường độ mạnh chiếm khoảng 90% lượng mưa cả năm, trời nắng gắt đôi khi có những đợt lốc xoáy cục bộ và mưa đá Mùa khô ít mưa, có gió mùa Đông Bắc thổi vào, trời rét, nhiệt
độ thấp
Đặc điểm chính về khí hậu thời tiết của huyện như sau:
- Nhiệt độ: nhiệt độ trung bình năm từ 23 - 24ºc, mùa nóng nhiệt độ từ 27 - 28ºC, mùa lạnh nhiệt độ từ 15 - 16ºC
- Chế độ mưa: Lượng mưa trung bình 1780 mm/năm, phân bố theo mùa rõ rệt mùa mưa kéo dài 7 tháng ( tháng 5- tháng 11)
Trang 27- Độ ẩm không khí: Độ ẩm tương đối trung bình hằng năm là 85%, mùa mưa
độ ẩm cao có thể đạt tới 88%, độ ẩm thấp nhất là 24%
2.4.1.5 Thuỷ văn
Huyện chịu ảnh hưởng chủ yếu của hệ thống sông Chảy và sông Lô
Sông Lô chảy qua huyện từ xã Chí Đám tới xã Vụ Quang qua các xã: Chí Đám, thị trấn Đoan Hùng, Sóc Đăng, Hữu Đô, Đại Nghĩa, Phú Thứ, Hùng Long, Vụ quang, với chiều dài 25km
Sông Chảy có chiều dài qua huyện khoảng 22 km bát đầu từ vùng tiếp giáp Yên Bái là Đông Khê, Quế Lâm theo hướng Tây Bắc – Đông Nam qua các xã Phương Trung, Nghinh Xuyên, Phong Phú, Hùng Quan, thị trấn Đoan Hùng, Vân
Du, Chí Đám và đổ vào sông Lô tại Mom Cầy (Ngọc Trúc - Chí Đám)
Hai con sông này có lượng phù sa thấp hơn sông Hồng, nước chảy xiết, vào mùa mưa lũ hợp lại gây nên những trận lụt lớn cho vùng, lưu lượng 1.150m/s vì vậy công tác phòng hộ đê được cấp chính quyền và nhân dân trong vùng rất coi trọng
Ngòi, với 28 ngòi ( ngòi Nạp Xuyên, ngòi Quế Lâm, ngòi sống, ngòi ruỗn, ngòi Rằm …), cứ bình quân 3,36 km² lưu vực 1km ngòi dài tạo nên cho huyện một
hệ thống tưới tiêu phong phú, vùa đẻ tiêu nước khi mưa lũ, và đưa nước lên các xã
vùng thượng huyện vào mùa khô
2.4.2 Điều kiện kinh tế, xã hội
2.4.2.1 Hiện trạng dân số, lao động
a) Dân số
Năm 2010, dân số Đoan Hùng là 104.471 người; mật độ dân số bình quân 345,23 người/km2, dân số nông thôn chiếm 93,63% và dân số thành thi chiếm 6,37% Số người trong độ tuổi lao động là 57.000 người, chiếm 54,56% tổng dân số (trong đó lao động hoạt động trong khu vực kinh tế Nhà nước có 2,7 nghìn người, chiếm 0,005% tổng số lao động) Cơ cấu dân số của huyện Đoan Hùng là dân số
Trang 28trẻ, tỉ lệ người trong độ tuổi lao động và trẻ em ở độ tuổi lao động và trẻ em ở độ tuổi đi học và chưa đi học lớn, chiếm trên 80% tổng dân số toàn huyện
b) Lao động
Trong giai đoạn 2010 – 2020 huyện sẽ phấn đấu tạo công ăn việc làm cho người lao động, đưa thêm các ngành nghề mới vào sản xuất, xây dựng các Trung tâm đào tạo và hướng nghiệp, tạo thêm lực lượng lao động mới có tay nghề và trình
độ kỹ thuật cao Công tác đào tạo, dạy nghề đã được các cấp, các ngành quan tâm Các trường, lớp, trung tâm dạy nghề phát triển dưới nhiều hình thức, dạy nghề ngắn hạn phát triển mạnh Thông qua việc thực hiện các chương trình, mục tiêu và các
dự án phát triển kinh tế - xã hội, chương trình quốc gia về giải quyết việc làm; trong giai đoạn từ 2005 - 2012 huyện đã tạo việc làm mới và làm thêm cho gần 25.000 lao động với các nghề chính như may mặc, thêu ren, sửa chữa cơ khí, điện dân dụng, tin học văn phòng, dược, chăn nuôi, trồng trọt,
2.4.2.2 Tình hình kinh tế
- Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân: 8%/năm
- Cơ cấu kinh tế: 39 - 35 - 26
- Bình quân thu nhập đầu người đạt 14 triệu/năm
- Thu ngân sách hàng năm tăng 15%
- Độ che phủ rừng đạt 45% diện tích đất tự nhiên
- Tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên 1,15%
- 85% số hộ gia đình, 80% số khu dân cư đạt danh hiệu văn hóa
Trang 29- Đường thuỷ: Có 2 hệ thống đường thuỷ quan trọng trong lưu thông hàng
hoá và các lâm đặc sản trong khu vực đó là sông Lô và sông Chảy
b) Thủy lợi
Toàn huyện hiện có 70 km kênh mương; 14 trạm bơm với công suất tưới 1.400 ha và tiêu 450 ha Hệ thống mương máng dẫn nước cũng thường xuyên được đầu tư cải tạo và xây mới Tổng diện tích đất được tưới có 3.200 ha, diện tích còn lại vẫn còn phải chờ vào nước mưa nên thường xuyên ở trong tình trạng khô hạn.Do địa hình của huyện chủ yếu là đồi, các cánh đồng nhỏ lẻ, phân tán, thung lũng hẹp không bằng phẳng Vì vậy, vấn đề thuỷ lợi của huyện chủ yếu là đắp đập, làm mương, phải giữ nước phục vụ việc tưới cho sản xuất nông nghiệp theo phương thức tự chảy Đồng thời hiệu quả sử dụng của các hồ đập còn ở mức thấp, cần tiếp tục đầu tư nâng cấp và khai thác có hiệu quả hơn nữa các công trình thuỷ lợi nhằm đáp ứng tốt hơn cho sản xuất nông nghiệp
c) Hệ thống điện – nước
Hệ thống điện phục vụ đời sống và sản xuất kinh doanh của người dân trên địa bàn huyện được cung cấp từ đường dây 35KV từ Thác Bà, đường dây 10KV sau trạm trung gian Tây Cốc và trạm trung gian Thanh Ba 10KV Đến nay hệ thống lưới điện trên địa bàn huyện khá hoàn chỉnh, tất cả các xã, thị trấn trong huyện đều
có ít nhất là 1 trạm biến áp, 100% số thôn được sử dụng điện lưới quốc gia (có 98%
số hộ và 95% số dân được dùng điện lưới quốc gia để phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt)
Toàn huyện có 5 nhà máy nước phục vụ sinh hoạt cho nhân dân, số hộ gia đình được dùng nước sạch trên địa bàn huyện mới chỉ đạt khoảng 20%, số còn lại nước sinh hoạt chủ yếu là giếng đào, một số hộ vùng cao dùng nước khe, suối để phục vụ sinh hoạt và sản xuất
Trang 30d) Giáo dục
Toàn huyện có 4 trường trung học phổ thông với 112 lớp học; 56 trường trung học cơ sở và tiểu học với 549 lớp học ; có 29 nhà mẫu giáo với 144 lớp học Tổng số giáo viên các cấp học là 1.516 người, trong đó THPT là 116 người, THCS
là 544 người, tiểu học là 578 người và 278 giáo viên nhà trẻ mẫu giáo
e) Y tế
Trên địa bàn huyện có 1 bệnh viện, 28 trạm y tế cấp xã, thị trấn Toàn huyện
có 174 cán bộ y bác sĩ, 162 giường bệnh, y tế dự phòng đã được chú trọng Hàng năm thực hiện tốt các chương trình y tế quốc gia như tiêm chủng mở rộng, hiến máu nhân đạo Công tác kế hoạch hóa gia đình ngày càng được quan tâm và đạt
được những thành quả khả quan
f) Văn hoá - thông tin
Hiện nay trên địa bàn huyện có đài phát thanh, truyền hình, 100% các xã đã được phủ sóng truyền hình Hệ thống thông tin liên lạc được thông suốt, tất cả các
xã, thị trấn trong huyện đã có điểm bưu điện văn hoá xã Hàng năm vào những ngày lễ lớn của đất nước phòng văn hoá đã tổ chức thực hiện tốt hoạt động thông tin tuyên truyền
Trang 31PHẦN 3
ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, ĐỊA ĐIỂM, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tương và phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là cây Bương lông Điện Biên
- Thí nghiệm được tiến hành tại Trung Tâm Khoa Học Lâm Nghiệp Vùng
Trung Tâm Bắc Bộ Cầu Hai – Đoan Hùng – Phú Thọ
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành
- Địa điểm: Cầu Hai – Đoan Hùng – Phú Thọ
- Thời gian thực hiện: 20/09/2015 – 22/12/2015
3.3 Nội dung nghiên cứu
Đề tài đặt ra các nội dung nghiên cứu sau đây:
3.3.1 Đặc điểm hình thái cây Bương lông
3.3.1 Nghiên cứu kỹ thuật chọn cây mẹ và cành chét
3.3.2 Nghiên cứu kỹ thuật nhân giống bằng chiết cành
3.3.5 Đề xuất một số biện pháp kỹ thuật nhân giống Bương lông điện biên
Trang 323.4 Phương pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi
3.4.1 Phương pháp luận: Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu thông
dụng trong lâm nghiệp Sử dụng các chất kích thích ra rễ nhằm hỗ trợ quá trình ra
rễ, rút ngắn thời gian chiết và giâm hom Mặt khác, xác định phương pháp nhân giống tiết kiệm và hiệu quả
Nghiên cứu biện pháp kỹ thuật tạo cây con: Áp dụng phương pháp thực
nghiệm và kế thừa tài liệu, tư liệu có liên quan như: Kỹ thuật nhân giống Luồng bằng cành chiết của kỹ sư Lê Quang Liên (1994), Quy phạm trồng và khai thác măng tre Điềm trúc (QP 04TCN 69 – 2004 của Bộ NN&PTNT) Nghiên cứu chọn giống, nhân giống và kỹ thuật gây trồng một số loài tre trúc có giá trị kinh tế của
TS Hoàng Thanh Lộc (2005) Ngoài ra, nghiên cứu biện pháp kỹ thuật nhân giống
vô tính còn kế thừa kiến thức bản địa của người dân địa phương
Sử dụng các loại thuốc kích thích thông dụng như NAA, IBA có nồng độ 0,25%; 0,5%; 0,75%; 1% để sản xuất cây giống (chiết cành chét đến khi ra rễ cấp 2
sau đó giâm trong vườn ươm, tiêu chuẩn cây trồng là có mầm và rễ cấp 2)
3.4.3 Phương pháp thu thập thông tin
Kế thừa các tài liệu liên quan, báo cáo, đề tài, số liệu, bảng biểu, biểu đồ, bản
đồ, hình ảnh…
Kế thừa có chọn lọc các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về tre trúc và Bương lông điện biên
Trang 33Kế thừa tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tại khu vực nghiên cứu
Các số liệu, tài liệu, quy trình, quy phạm, tiêu chuẩn có liên quan
3.4.4 Phương pháp theo dõi
3.4.4.1 Phương pháp lựa chọn cây mẹ và cành chét
Tiêu chuẩn cây mẹ chọn làm giống: là cây bánh tẻ, thân xanh, khoảng 1 - 2 tuổi, không bị sâu bệnh, không thối mắt và không ra hoa Cành bánh tẻ tuổi 1 – 2, đường kính khoảng 1 cm, thon đều, đùi gà to
Đề tài thí nghiệm với loại hom cành bánh tẻ 240 hom từ cây mẹ 1 tuổi, 240 hom từ cây mẹ 2 tuổi cho 1 lần lặp Hom cành sinh trưởng tốt, không bị sâu bệnh
Điều tra cây mẹ xem có bao nhiêu cành chét triển vọng và mắt ngủ triển vọng trên 1 cây
Cành chét triển vọng là những cành đùi gà có đường kính từ 1cm trở lên, ở phần 2 bên cánh đùi gà mỗi bên có 3 mắt ngủ và có rễ khí sinh xung quanh đùi gà, cây mẹ không bị khuy, cành không sâu bệnh
Mắt ngủ triển vọng là những mắt ngủ nằm ở các mấu của đốt Bương mỗi một mấu có một mắt ngủ, mắt ngủ không bị thối, không sâu bệnh, còn non, khi con người tác động bằng các biện pháp cơ giới như ngả cây, đốn ngọn thì các mắt ngủ đấy mọc ra cành chét
3.4.4.2 Phương pháp chiết cành
Cành chét là vật liệu chủ yếu trong quá trình tạo cây con Bương lông điện biên bằng hom cành Bương lông Điện Biên là loài rất ít cành nhánh để tạo hom giống, vì vậy cần có các biện pháp kỹ thuật tạo cành chét, đề tài nghiên cứu đưa ra một số phương pháp tạo cành chét
Chất lượng cành chét tốt là những cành bánh tẻ ở tuổi 1 – 2 có đường kính cành chét > 1cm, hai bên cành đùi gà mỗi bên có 3 mắt ngủ, mắt ngủ không bị thui,
có rễ khí sinh, cành không bị sâu bệnh, cây mẹ không bị khuy
Trang 34Chất lượng cành chét trung bình là những cành bánh tẻ ở tuổi 1 – 2 có đường kính cành chét > 1cm, hai bên cành đùi gà mỗi bên có 2 đến 3 mắt ngủ, mắt ngủ không bị thui, không có rễ khí sinh, cành không bị sâu bệnh, cây mẹ không bị khuy
Chất lượng cành chét xấu là những cành quá non hoặc quá già có đường kính cành chét < 1cm, hai bên cành đùi gà mỗi bên có 1 hoặc mắt ngủ, mắt ngủ không bị
thui, không có rễ khí sinh, cành bị sâu bệnh, cây mẹ bị khuy
Thí nghiệm đốn ngọn cây mẹ tạo cành chét Bương lông điện biên
Từ cây mẹ Bương lông Điện Biên bằng cách đốn ngọn cây mẹ để lại phần thân cao 15 m, vị trí đốn ở giữa lóng để không ảnh hưởng đến mắt thân
Thí nghiệm ngả thân cây mẹ tạo cành chét Bương lông điện biên
Áp dụng phương pháp kỹ thuật tạo giống Luồng theo tiêu chuẩn ngành 04
TCN 21-2000 Quy phạm kỹ thuật trồng và khai thác cây Luồng (Dendrocalamus membranaceus Munro) có sử dụng phương pháp bập thân cây mẹ, chặt 2/3 đường
kính thân cây mẹ ở vị trí cách gốc 50 - 70 cm, vít cây nằm ngả và theo dõi cành
chét được tạo ra
Thí nghiệm nhân giống bằng chiết cành
Thí nghiệm nhân giống bằng chiết cành được áp dụng đối với cây Luồng Thanh Hóa và cây Bát độ rất có hiệu quả Đề tài ứng dụng phương pháp chiết cành của 2 loài cây này thử nghiệm đối với Bương lông điện biên có sử dụng hỗn hợp ruột bầu có sử dụng thuốc kích thích và không sử dụng thuốc kích thích
Kỹ thuật nhân giống bằng phương pháp chiết cành gồm 3 bước
Bước 1: Chuẩn bị vật liệu, dụng cụ
Dao, kéo cắt cành, cưa nhỏ dùng để cưa, túi nilon để bó bầu
Bước 2: Tạo hỗn hợp
Và các vật liệu để bó bầu gồm có rơm và đất bùn Tỷ lệ hỗn hợp 2 bùn + 1 rơm (rơm băm nhỏ khoảng 1 – 2 cm) Hỗn hợp này ta trộn lẫn chúng lại vào với nhau rồi cho một ít nước sạch vào để có độ ẩm nhất định
Trang 35Vật liệu để bó hom sử dụng hỗn hợp bùn ao sạch hoặc bùn ao tự tạo trộn với rơm băm nhỏ theo tỷ lệ 2 bùn : 1 rơm theo thể tích và bó bằng túi ni lông
Bước 3: Tiến hành chiết
Dùng kéo cắt cành cắt bỏ lóng để lại 2 – 3 lóng trên cành Nơi cành tiếp giáp thân bỏ bớt những cành nhỏ hai bên và phía dưới cành chiết Dùng dao, cưa tách cành chiết 2/3 thân từ trên xuống (chỗ mắt tiếp giáp) Hỗ hợp bầu gồm rơm băm nhỏ hoặc sơ dừa + đất + bùn + 1% lân
Đề tài thí nghiệm chiết cành có sử dụng loại thuốc kích thích ra rễ NAA,
IBA với các nồng độ khác nhau 0.25%; 0.5%; 0.75%; 1%;
Sau khi bó cành chiết khoảng 10 – 15 ngày, kiểm tra thấy cành nào ra rễ khi chuyển sang màu vàng có lông tơ cắt cành khỏi thân đem cấy vào bầu đất, nuôi dưỡng cây con trong vườn ươm đến khi cây ra rễ thứ cấp thì đem đi trồng Bầu đất gồm 90% đất cát pha + 9% phân chuồng hoai + 1% Super lân Đặt bầu thành luống tưới ẩm thường xuyên
Phương pháp này vừa lấy được giống vừa sử dụng được cây và không ảnh
hường đến năng suất ra măng của cả khóm
3.4.5 Phương pháp xử lý số liệu
Các phương pháp phân tích số liệu trong quá trình nghiên cứu bao gồm phương pháp thống kê mô tả, phương pháp so sánh và phương pháp đánh giá có sự tham gia, ý kiến của các nhà quản lý, nhà chuyên môn
Các số liệu, thông tin thu thập được xử lý và phân tích định lượng bằng phần mềm SPSS và Excel Kết quả được thể hiện theo dạng phân tích, mô tả, bảng và biểu đồ
Các chỉ tiêu được theo dõi là:
+ Chất lượng hom tốt = (tổng số hom tốt/ tổng số hom thí nghiệm) x 100% + Chất lượng hom trung bình = (tổng số hom trung bình/ tổng số hom thí nghiệm) x 100%
+ Chất lượng hom xấu = (tổng số hom xấu/ tổng số hom thí nghiệm) x 100%
Trang 36+ Tỷ lệ hom sống = (Tổng số hom sống/ Tổng số hom thí nghiệm) x 100%
+ Tỷ lệ hom ra rễ = (Tổng số hom ra rễ/ Tổng số hom thí nghiệm) x 100%
+ Chiều dài rễ trung bình = ∑ (Số rễ cùng chiều dài x chiều dài rễ)/ Tổng số hom thí nghiệm
Tiến hành với phần mềm SPSS
Nội dung chính của phân tích phương sai là:
Kiểm tra ảnh hưởng của các nhân tố thí nghiệm
So sánh trung bình các cấp (các mẫu) của nhân tố thí nghiệm để tìm ra công thức thí nghiệm tốt nhất
Khi phân tích phương sai được trình bày các kết quả dưới dạng một bảng
tính gọi là bảng phân tích phương sai với các kí hiệu như trong bảng dưới:
Bảng 3.1 Bảng phân tích phương sai một nhân tố (ANOVA)
Nguồn biến
động
( source)
Tổng biến động (SS)
Bậc tự do (DF)
a N
S S
Tổng VT n-1 S X2 V T / (n 1)
Giải thích:
Cột 1: Ghi các nguồn biến động
Cột 2: Ghi các tổng bình phương biến động (SS =Sum of squares)
Cột 3: Ghi bậc tự do của biến động( DF= degrees ò freedom)
Cột 4: Ghi biến động bình phương trung bình (MS= Mean square) hay phương sai ( bằng cột 2 chia cho cột 3)
Cột 5 Ghi trị số F tính toán
Trang 37Cột 6: Xác suất của F còn gọi mức ý nghĩa của F (Sig)
Có nhiều trường hợp sau khi bác bỏ giả thuyết H0 người ta tiến hành kiểm tra sai khác từng cặp của cá số trung bình ở các cấp (trung bình của các mẫu) để tìm ra những công thức thí nghiệm tốt nhất Khi chấp nhận H0 ta nói rằng nhân tố A là tác dộng một cách ngẫu nhiên lên kết quả thí nghiệm, hoặc nói cách khác các mẫu là rút từ một tổng thể duy nhất Trái lại nếu bác bỏ giả thuyết H0 ta không thể khẳng định rằng các mẫu là được rút ra từ các tổng thể khác nhau, mà chỉ có thể nói rằng chúng không được rút ra từ một tổng thể duy nhất Rất có thể có những cặp trung bình nào đó cho những sai dị không rõ rệt, nhưng ít nhất có một cặp cho sai dị rõ rệt để đưa đến việc bác bỏ giả thuyết H0
Việc kiểm tra sai dị giữa hai trung bình mẫu x ivà x j nào đó có một số tác giả thường vận dụng tiêu chuẩn t được tính toán theo công thức:
Nếu t > t0 với bậc tự do K = n-a thì sai dị giữa x i và x j là rõ rệt Nếu dung lượng mẫu quan sát bằng nhau (ni = m) thì phần mẫu của công thức có thể viết
Trang 38PHẦN 4
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Đặc điểm hình thái cây Bương lông
4.1.1 Thân khí sinh
Thân khí sinh của Bương lông Điện Biên mọc cụm, thẳng, to và có màu sắc khác nhau tùy theo độ tuổi: ở tuổi 1 thân khí sinh được phủ toàn bộ lông màu rỉ sắt; đến tuổi 2, tuổi 3 khi lông rụng dần lộ ra thân khí sinh màu xanh; khi già (≥4 tuổi) chuyển sang màu xanh thẫm, có nhiều nấm mốc trên thân Trên các vòng mo dưới
đều có nhiều rễ khí sinh
4.1.2 Cành
Cây Bương lông Điện Biên phân cành khá thấp, nhưng ở phần dưới hầu như
là các cành nhỏ, chỉ khi lên rất cao mới xuất hiện cành to (cành đùi gà), thông thường ở vào khoảng ¾ chiều cao của cây trở lên mới xuất hiện cành đùi gà, các cành tạo với thân một góc từ 30-45° so với thân khí sinh Cách bố trí này tạo cho cây có một sự cân đối cho việc tận dụng ánh sáng để quang hợp, giúp cho cây có dáng thẳng, đẹp Ở mỗi đốt phân cành có một cành lớn (cành chính) và nhiều cành nhỏ (cành phụ) Phần áp sát của cành vào thân có hình đùi gà, có mo nhỏ bao quanh và có rễ khí sinh
4.1.3 Lá
Lá quang hợp có thể mọc từ cành chính hoặc cành phụ Lá to, phiến lá thuôn dài, đầu vút nhọn hình kim, gốc lá nhọn Phiến lá non có màu xanh lá mạ, khi già màu xanh thẫm, mặt dưới lá có lông Gân lá 14-15 đôi, lưỡi lá cao đến 0,2cm; cuống lá dài 0,5cm rộng 1cm Chứng tỏ cây Bương lông cũng là loài tre có lá quang hợp to, có thể sử dụng làm nhiều việc
4.1.4 Mo
Mo thân của Bương lông Điện Biên khá to, ôm sát lấy thân khí sinh, ở những đốt chưa phân cành rụng muộn, bẹ mo chất da dày, mặt ngoài mo thân có lông dài,
Trang 39nằm, màu rỉ sắt, mặt trong nhẵn Bẹ mo lớn, đáy dưới rộng 50-56cm, cao 21-2cm, đáy trên rộng 6-8cm càng ở các đốt thân dưới sẽ càng rộng và ngắn, lên cao bẹ mo
sẽ càng hẹp và dài Phiến mo hình tam giác, có những đường gân song song nổi khá
rõ, phần giáp bẹ mo rộng 4,5-5cm, giữa rộng 3,5-4,5cm, lưỡi mo cao 0,5cm có lông
ngắn 0,1cm cứng dày
4.1.5 Thân ngầm
Thân ngầm là một trong những chỉ tiêu quan trọng để điều tra hình thái của tre trúc, nó là bộ phận đặc biệt của tre trúc, thân ngầm nằm dưới đất cũng chia đốt,
sự sinh trưởng và phát triển của thân khí sinh là do thân ngầm quyết định
Vì Bương lông Điện Biên là loài mọc cụm thân ngầm dạng củ nên thường ngắn, to và ít biến động qua các trạng thái rừng Thân ngầm phân thành 5-10 đốt, các đốt dài từ 2-8cm và đường kính từ 3-8cm, ở xung quanh mỗi đốt của lóng có rễ bao bọc Mỗi đốt có một mắt từ mắt này đâm mầm sinh ra thân ngầm mới và sinh
ra măng rồi phát triển thành thân khí sinh, tuy nhiên thông thường một thân ngầm chỉ sinh ra từ 1-2 thân ngầm khác (một cây mẹ chỉ có 1 hoặc 2 măng), rất ít trường
hợp thấy xuất hiện sinh ra 3 măng, còn từ 4 măng trở lên thì chưa thấy xuất hiện
4.1.6 Rễ
Rễ được mọc từ gốc thân khí sinh, và những đốt trên thân ngầm, những rễ này được gọi là rễ chính (rễ cái), rễ khí sinh trên các vòng mo và gốc cành thường nhỏ hơn và ngắn hơn Tại gốc của thân khí sinh rễ mọc ra rất nhiều dưới dạng chùm, phân bố thành mạng lưới dày đặc quanh gốc khí sinh và sát mặt đất Rễ mọc
ra từ các đốt thân ngầm cũng nhiều và dài như quanh gốc khí sinh