Dưới góc độ quốc tế, nghiên cứu về các nhân tố tác động đến sự trung thành của CTNY đối với CTKT đã được thực hiện đa dạng, bao gồm: Chất lượng báo cáo kiểm toán Sự thay đổi của quy đị
Trang 1CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU
1 Sự cần thiết của đề tài
Trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ nói chung, nơi diễn ra các hoạt động
cung cấp dịch vụ giữa bên mua và bên bán, thì việc duy trì sự trung thành của
khách hàng là một trong các mục tiêu quan trọng của các doanh nghiệp (DN)
cung cấp dịch vụ Sự trung thành này sẽ giúp DN phát triển ổn định (Gwinner
và cộng sự, 1998), giảm các chi phí để thu hút các khách hàng mới (Payne và
Frow, 2005) và tạo ra thương hiệu cho công ty (Bhattacharya và Sen, 2003)
Trong lĩnh vực kiểm toán báo cáo tài chính (BCTC) nói riêng, điểm giống như
các loại hình kinh doanh dịch vụ khác là cũng diễn ra các hoạt động cung cấp
dịch vụ giữa bên mua và bên bán, thì việc duy trì một danh mục các khách hàng
trung thành với CTKT độc lập sẽ tạo nên những thuận lợi về mặt kinh tế và
cạnh tranh trên thị trường, cũng như làm tăng hiệu quả hoạt động kinh doanh
cho các CTKT (CTKT) (Yang và Peterson, 2004; Ravald và Gronroos, 1996)
Tuy nhiên, do kiểm toán là loại hình dịch vụ đặc thù, có nhiều bên liên quan
bao gồm: Chủ thể kiểm toán là các CTKT (cung cấp dịch vụ kiểm toán
BCTC), khách thể kiểm toán là các CTNY (sử dụng dịch vụ kiểm toán), và
bên thứ ba là những đối tượng sử dụng BCTC và báo cáo kiểm toán (gồm các
nhà đầu tư, đối tác, các cơ quan quản lý có thẩm quyền, chuyên gia phân tích)
Dưới góc độ quản lý vĩ mô, trong loại hình dịch vụ kiểm toán thì yếu tố chất
lượng của báo cáo kiểm toán là đặc biệt quan trọng vì tẩm ảnh hưởng rất lớn
đến việc ra quyết định của các nhà đầu tư và nhiều đối tượng khác có quan
tâm đến BCTC của DN Do sự đặc thù như vậy, nên đối với các CTKT, ngoài
việc duy trì sự trung thành của các DN cần đi đôi với việc đảm bảo chất lượng
của công tác kiểm toán
Thực tế, thị trường kiểm toán trên thế giới nói chung và Việt Nam nói
riêng đang diễn ra sự cạnh tranh giữa các CTKT trong việc tìm kiếm khách
hàng mới và duy trì khách hàng cũ Ông Bùi Văn Mai – Phó chủ tịch Hội
Kiểm toán hành nghề Việt Nam và bà Trần Thúy Ngọc – Phó tổng giám đốc
CTKT Deloitte Việt Nam đã đánh giá việc cạnh tranh bằng phí kiểm toán tại
Việt Nam đang hết sức phổ biến và sẽ làm ảnh hưởng tiêu cực tới chất lượng
kiểm toán BCTC
Việc cạnh tranh bằng giá phí tại Việt Nam như hiện nay có thực sự làm các DN khách hàng thay đổi hay tiếp tục sử dụng các dịch vụ của các CTKT chưa được kiểm chứng một cách khoa học Do vậy, xét về mặt thực tế, cần có nghiên cứu về mối quan hệ giữa CTKT và CTNY để tìm hiểu có phải vì giá phí hay vì các vấn đề khác như chất lượng dịch vụ kiểm toán, mối quan hệ quen biết và gắn bó giữa khách hàng và CTKT, hay những vấn đề khác mang tính đặc thù của thị trường kiểm toán tại Việt Nam mới quyết định việc DN tiếp tục
sử dụng các dịch vụ của CTKT?
Về khía cạnh nghiên cứu, mặc dù đã có rất nhiều các nghiên cứu thực chứng
về sự trung thành của khách hàng đối với các CTKT trên thế giới Tuy nhiên các nghiên cứu này thường đánh giá các nhân tố tác động đến sự trung thành của các doanh nghiệp niêm yết dưới góc độ khác nhau Còn tại Việt Nam thì chưa có nghiên cứu nào về sự trung thành của doanh nghiệp niêm yết với CTKT
Do vậy, về mặt khoa học, nghiên cứu được thực hiện để lấp khoảng trống trong nghiên cứu Đó là giải thích mối quan hệ giữa các nhân tố tác động đến
sự trung thành của các doanh nghiệp niêm yết đối với các CTKT tại Việt Nam
Từ đó, mang lại những đóng góp về mặt thực tiễn, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh cho thị trường kiểm toán tại Việt Nam
Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu:
Mục tiêu nghiên cứu chính của đề tài là kiểm định mối quan hệ về sự trung thành của các CTNY đối với các CTKT độc lập tại Việt nam
Từ mục tiêu nghiên cứu chính trên, tác giả xác định các mục tiêu nghiên cứu chi tiết như sau:
- Xây dựng mô hình nghiên cứu đánh giá sự ảnh hưởng của các nhân tố đến sự trung thành của các CTNY đối với các CTKT độc lập
- Tìm ra những nhân tố có ảnh hưởng và ảnh hưởng như thế nào đến sự trung thành của các CTNY đối với các CTKT độc lập
- Đánh giá sự khác biệt về sự trung thành giữa các nhóm CTNY đối với các CTKT độc lập
Câu hỏi nghiên cứu:
Trang 2Để thực hiện các mục tiêu nghiên cứu chi tiết, câu hỏi nghiên cứu của đề
tài như sau:
- Những nhân tố nào ảnh hưởng đến sự trung thành của các CTNY đối
với các CTKT độc lập tại Việt Nam?
- Những nhân tố đó ảnh hưởng như thế nào đến sự trung thành của các
CTNY đối với các CTKT độc lập tại Việt Nam?
- Có sự khác nhau như thế nào giữa các nhóm CTNY về sự trung thành
đối với các CTKT độc lập tại Việt Nam?
Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu:
Để đánh giá sự trung thành của các CTNY đối với các CTKT độc lập
tại Việt Nam, tác giả đã tham khảo các nghiên cứu trước đây và kết hợp với
điều tra phỏng vấn các chuyên gia và quản lý trong công tác kiểm toán để xác
định các nhân tố nào tác động đến sự trung thành Từ đó, tác giả xác định bốn
nhân tố quan trọng nhất mà phù hợp với điều kiện thị trường tại Việt Nam,
bao gồm: sự hài lòng của DN về chất lượng dịch vụ, sự cảm nhận của DN về
mối quan hệ lợi ích - chi phí từ dịch vụ kiểm toán, sự đánh giá của DN về
khả năng tiếp cận dịch vụ kiểm toán, và sự cảm nhận của DN về mối quan hệ
giữa DN và CTKT
Các CTNY được nghiên cứu là các DN niêm yết trên HNX và HOSE tại
thời điểm năm 2013 Tại thời điểm này, có khoảng 900 CTNY trên hai sàn
chứng khoán, và tác giả chọn ra 152 DN để tiến hành điều tra Các DN được
chọn đảm bảo tính bao phủ về yếu tố ngành nghề và địa lý
Do các CTKT cung cấp nhiều loại hình dịch vụ như kiểm toán BCTC,
kiểm toán tuân thủ, thuế, và tư vấn; cũng như mối CTNY có thể sử dụng nhiều
hơn một dịch vụ kiểm toán; Do đó, việc đánh giá sự cảm nhận của các CTNY
đối với dịch vụ kiểm toán trong nghiên cứu này được giới hạn trong dịch vụ
kiểm toán BCTC – dịch vụ được các CTNY sử dụng nhiều nhất trong các loại
dịch vụ kiểm toán
Đối tượng nghiên cứu:
Các nhân tố tác động đến sự trung thành của các CTNY đối với các CTKT độc lập là đối tượng nghiên cứu của đề tài thông qua việc gửi phiếu điều tra Trực tiếp trả lời phiếu điều tra là các cán bộ trong DN mà thường xuyên tiếp xúc
và làm việc với đoàn kiểm toán như kế toán trưởng, trưởng hay phó phòng tài chính, thành viên ban giám đốc, và thành viên phòng kiểm toán nội bộ
Trang 3CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
Sự trung thành
Khái niệm về sự trung thành của khách hàng đối với công ty công cấp
dịch vụ đã được nghiên cứu rất nhiều và đưa ra các khái niệm hay quan điểm
khác nhau Theo Baloglu (2002), sự trung thành là một cấu trúc phức tạp, và
các nghiên cứu về sự trung thành thường tập trung vào hai hướng chính, gồm
dựa trên hành vi và thái độ của khách hàng Hành vi của sự trung thành đó là
việc tiếp tục mua hàng hóa hay dịch vụ (repeat purchase) của một nhà cung cấp
Thái độ của sự trung thành đó là nói với người khác về việc nên mua hàng hóa
hay dịch vụ của một nhà cung cấp Tuy nhiên, cả hai định nghĩa phổ biến này
còn có những hạn chế
Trong lĩnh vực kiểm toán BCTC, luật kiểm toán độc lập quy định các
CTNY sau mỗi 3 năm phải thay đổi người ký báo cáo kiểm toán và trong
trường hợp là DN trong lĩnh vực tín dụng phải thay đổi CTKT Dó đó, có thể
một DN đang sử dụng dịch vụ kiểm toán của một CTKT trong nhiều năm hay
nói cách khác là trung thành với CTKT đó phải thay đổi CTKT khác nên việc
đo lường sự trung thành của DN đối với CTKT còn khó hơn so với các loại
hình mua – bán khác Trong các nghiên cứu đo lường về sự trung thành của các
DN đối với các CTKT, cả hai định nghĩa về hành vi và thái độ đều đã được áp
dụng Ví dụ như, nghiên cứu của Ismail và cộng sự (2006) tại Malaysia sử dụng
định nghĩa sự trung thành theo thái độ thông qua việc phỏng vấn DN Trong khi
đó, nghiên cứu của Hudaib và Cooke (2005) tại Anh sử dụng định nghĩa sự
trung thành theo hành vi thông qua việc sử dụng dữ liệu thứ cấp từ BCTC mà
DN đã thay đổi CTKT
Do sự phức tạp trong việc định nghĩa và đo lường về sự trung thành như
trên, cùng với những quy định chặt chẽ trong việc thay đổi CTKT, nên việc lựa
chọn định nghĩa hay phương pháp đo lường sự trung thành của các CTNY đối
với các CTKT độc lập nào cũng có những giới hạn nhất định Dó đó, để có thể
thực hiện mục tiêu nghiên cứu của đề tài một cách khả thi, tác giả sẽ lựa chọn
phương pháp đo lường sự trung thành của các DN đối với CTKT bằng định
nghĩa DN tiếp tục sử dụng dịch vụ kiểm toán BCTC của CTKT
Dưới góc độ quốc tế, nghiên cứu về các nhân tố tác động đến sự trung thành của CTNY đối với CTKT đã được thực hiện đa dạng, bao gồm:
Chất lượng báo cáo kiểm toán
Sự thay đổi của quy định, chuẩn mực kiểm toán Kết quả của báo cáo kiểm toán báo cáo tài chính Phí kiểm toán
Lợi ích – chi phí kiểm toán Quy mô CTKT
Quy mô khách hàng kiểm toán Khách hàng trong giai đoạn tài chính khó khăn hay phá sản Mối quan hệ giữa CTKT và khách hàng
Sự hài lòng của khách hàng về chất lượng dịch vụ kiểm toán Khả năng tiếp cận dịch vụ của khách hàng
Sự đa dạng này được thực hiện qua các nghiên cứu tác động của mỗi nhân
tố riêng lẻ hay sự kết hợp của một nhóm các nhân tố đến sự trung thành Các nhân tố hay nhóm nhân tố khác nhau, tại các thị trường khác nhau sẽ cho ra các kết quả khác nhau Do đó, để tập trung vào mục tiêu nghiên cứu của mình, tác giả sẽ trình bày các nghiên cứu có liên quan đến nhóm bốn nhân tố tác động đến
sự trung thành mà tác giả đã xác định trong phần phỏng vấn sâu các chuyên gia tại Việt Nam
Mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ kiểm toán, sự hài lòng và sự trung thành
Chất lượng kiểm toán, về mặt kỹ thuật được hiểu là việc thị trường đánh
giá về mức độ của kiểm toán trong việc phát hiện các sai phạm trong hệ thống
kế toán của khách hàng và báo cáo các sai phạm đó Nhiều nghiên cứu về chất lượng kế toán và kiểm toá tập trung vào chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính Chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính chủ yếu tập trung vào mối quan hệ giữa chất lượng kiểm toán, rủi ro trong việc lựa chọn khách hàng, rủi ro xung đột lợi ích (agency issue) và các yếu tố cấu thành chất lượng dịch vụ kiểm toán (Hansen và cộng sự, 2006; Beattie và cộng sự,2013)
Chất lượng kiểm toán, về mặt dịch vụ được hiểu là cảm nhận hay sự hài
lòng của khách hàng về chất lượng dịch vụ kiểm toánChất lượng kiểm toán sẽ
Trang 4tác động đến sự hài lòng của khách hàng về chất lượng dịch vụ Sự hài lòng về
chất lượng dịch vụ có tác động đến sự trung thành của khách hàng sử dụng dịch
vụ Nghiên cứu điển hình về mối quan hệ này là của Ishak Ismail và cộng sự
(2006), nhóm tác giả đã dùng phương pháp điều tra 500 công ty niêm yết trên
thị trường chứng khoán Malaysia để đánh giá mối quan hệ giữa chất lượng dịch
vụ kiểm toán đến sự hài lòng và đến sự trung thành của khách hàng Trong
nghiên cứu này, tác giả sử dụng mô hình Servqual để đo lường sự cảm nhận của
khách hàng về dịch vụ kiểm toán và sự mong đợi của khách hàng khi sử dụng
dịch vụ kiểm toán Tác giả đã đưa ra kết luận rằng khi khách hàng hài lòng với
chất lượng dịch vụ kiểm toán sẽ có xu hướng tiếp tục sử dụng các dịch vụ của
CTKT (sự trung thành) Ngoài thang đo Servqual, thang đo Servperf cũng được
sử dụng rộng rãi và được đánh giá là hiệu quả hơn thang đo Servqual
Trong phạm vi nghiên cứu của mình, tác giả sẽ nghiên cứu chất lượng
kiểm toán như một loại hình dịch vụ giữa hai bên: người bán (các CTKT) và
người mua (các DN sử dụng dịch vụ kiểm toán) Đê đo lường sự hài lòng về
chất lượng dịch vụ kiểm toán, tác giả sẽ sử dụng thang đo Servperf
Mối quan hệ giữa lợi ích - chi phí từ dịch vụ kiểm toán và sự trung thành
Phí kiểm toán báo cáo tài chính, là loại phí mà DN sử dụng dịch vụ kiểm
toán trả cho CTKT Theo nghiên cứu của McMeeking và cộng sự (2005), Oxera
(2006), Numan và Wellekens (2012), về cơ bản, phí kiểm toán được các CTKT
đưa ra dựa theo các yếu tố sau: quy mô khách hàng, sự phức tạp của công tác
kiểm toán, và rủi ro kiểm toán Lý thuyết về lợi ích - chi phítừ dịch vụ kiểm
toán chỉ ra tầm quan trọng của các dịch vụ gia tăng trong quá trình kiểm toán
báo cáo tài chính Theo Beattie và cộng sự (2000), báo cáo kiểm toán bản thân
không tạo ra giá trị cho doanh nghiệp Doanh nghiệp chỉ ghi nhận giá trị gia
tăng từ dịch vụ kiểm toán báo cáo tài chính Các giá trị gia tăng này bao gồm
nâng cao hiệu quả quản lý cho doanh nghiệp, tạo niềm tin cho đối tác và các
nhà đầu tư, dễ dàng hơn trong việc tiếp cận các nguồn vốn vay, giảm chi phí
tài chính, từ đó doanh nghiệp có thể nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất
kinh doanh
Đã có rất nhiều các nghiên cứu thực chứng về tác động của phí kiểm toán
báo cáo tài chính đến sự trung thành của khách hàng Tuy nhiên các nghiên cứu
đã đưa ra các kết quả khác nhau:
Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng phí kiểm toán là nguyên nhân chính so với các yếu tố khác dẫn đến sự thay đổi CTKT Kittsteiner và Selvaggi (2008) và Stefaniak và cộng sự (2009) thực hiện tại Anh và Mỹ để đánh giá tác động của các nhân tố đến sự thay đổi CTKT, và đưa ra kết luận rằng mức phí kiểm toán
và sự thay đổi của phí kiểm toán là yếu tố quan trọng nhất, tiếp sau đó là nhân
tố mối quan hệ giữa khách hàng và CTKT Nghiên cứu của Brazel và Bradford (2011) sau này tại Mỹ cũng cho rằng phí kiểm toán và sự hài lòng về chất lượng dịch vụ là những yếu tố quan trọng nhất tác động đến việc tiếp tục sử dụng hay thay đổi CTKT
Tuy nhiên, nghiên cứu của Fontaine và Letaifa (2012) tại Canada lại chứng minh rằng khi doanh nghiệp trả phí cho dịch vụ kiểm toán báo cáo tài chính thì họ mong đợi CTKT mang lại các lợi ích khác cho doanh nghiệp, ví dụ như nâng cao hiệu quả quản lý và cải thiện kết quả hoạt động kinh doanh cho doanh nghiệp Hay nói một cách khác, khách hàng coi trọng lợi ích thu được từ chi phí cho dịch vụ kiểm toán báo cáo tài chính
Trong nghiên cứu này, tác giả sẽ đánh giá tác động từ sự cảm nhận của
DN về lợi ích - chi phítừ dịch vụ kiểm toán BCTC đến sự trung thành của DN đối với các CTKT tại Việt Nam
Mối quan hệ giữa khả năng tiếp cận dịch vụ kiểm toán và sự trung thành
Khả năng tiếp cận là việc đánh giá các yếu tố tác động đến mức độ có thể xảy ra một hiện tượng Theo Curuana (2002), Rehual và cộng sự (2013) có mối quan hệ chặt chẽ giữa khả năng tiếp cận với sự hài lòng hay cảm nhận về dịch
vụ Khả năng tiếp cận chịu sự tác động của việc thuận tiện trong việc tiếp cận, gặp gỡ và trao đổi, sự tác động của phương tiện truyền thông đến hình ảnh của chủ thể cung cấp dịch vụ, và cách thức tiếp cận từ nhà cung cấp dịch vụ tới đối
tượng sử dụng dịch vụ
Nhiều nghiên cứu đánh giá khả năng tiếp cận dịch vụ với sự trung thành của khách hàng đối với các công ty cung cấp dịch vụ trong các lĩnh vực khác nhau Ví dụ như trong lĩnh vực bán lẻ, du lịch, vận chuyển, ngân hàng, và các dịch vụ xã hội dành cho người dân Trong lĩnh vực dịch vụ kiểm toán, khả năng tiếp cận dịch vụ được nghiên cứu dưới các góc độ khác nhau Ví dụ như, trong nghiên cứu của Rehual và cộng sự (2013) được thực hiện tại Bỉ, thì khả năng tiếp cận là khả năng mà khách hàng có thể liên hệ được với kiểm toán viên hay
Trang 5mối quan hệ giúp đỡ nhau giữa khách hàng và CTKT Hay nghiên cứu của
Cameran và cộng sự (2010) đã chỉ sự ảnh hưởng của thông tin và hình ảnh về
CTKT tới việc sử dụng các dịch vụ kiểm toán từ khách hàng
Mối quan hệ giữa DN-CTKT và sự trung thành
Peter Ohman và cộng sự (2012) cho rằng mối quan hệ giữa khách hàng và
CTKT bao gồm hai mối quan hệ: Thứ nhất là quan hệ giữa khách hàng và
người kí báo cáo kiểm toán (signing auditor); Thứ hai là giữa khách hàng và
đội kiểm toán (audit team) Về mối quan hệ giữa khách hàng và người ký báo
cáo, việc duy trì mối quan hệ liên tục là rất quan trọng để có thể giải quyết các
vấn đề phát sinh Mối quan hệ ổn định cũng sẽ giúp ích cho cả hai bên trong
quá trình đàm phán, thương lượng và các các xung đột trong toàn bộ quá trình
kiểm toán Về mối quan hệ giữa khách hàng và đội kiểm toán, thì mối quan hệ
này đòi hỏi sự phức tạp hơn vì số lượng các kiểm toán viên tham gia vào cuộc
kiểm toán, và tiếp xúc hàng ngày với khách hàng Trong nghiên cứu của
Fontaine và Letaifa (2012) tại Canada với phương pháp phỏng vấn sâu và
nghiên cứu của Magri và Baldacchino (2004) bằng phương pháp điều tra tại
Malta đã chứng minh rằng việc duy trì mối quan hệ tốt giữa hai bên sẽ giúp các
doanh nghiệp trung thành với các CTKT Những nghiên cứu này khám phá ra
rằng nếu bỏ qua mối quan hệ giữa khách hàng và CTKT thì phí kiểm toán sẽ
đóng vai trò rất quan trọng trong việc tiếp tục sử các dịch vụ của CTKT Tuy
nhiên, khi đưa vào yếu tố mối quan hệ thì tác giả kết luận rằng mối quan hệ
giữa hai bên quan trọng hơn phí kiểm toán trong việc tiếp tục sử dụng các dịch
vụ của CTKT Theo các nghiên cứu này mối quan hệ tốt giữa CTKT và khách
hàng sẽ làm cho công việc tiến triển thuận lợi, giải quyết các vấn đề gặp phải
theo hướng tích cực và tạo ra các giá trị gia tăng cho khách hàng Tuy nhiên,
nhiều nghiên cứu cũng chỉ ra rằng mối quan hệ “thân thiết” giữa hai bên sẽ ảnh
hưởng tới chất lượng của báo cáo kiểm toán Do đó, các CTKT và DN cũng chỉ
muốn duy trì mối quan hệ giữa hai bên ở mức “vừa phải”
Một số nghiên cứu tại Việt Nam
Tại Việt Nam đã có một vài nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến việc
DN tiếp tục sử dụng hay lựa chọn CTKT Các nhân tố được đề cập bao gồm:
Chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính
Các nhân tố tác động đến chất lượng kiểm toán BCTC
Phí kiểm toán Mối quan hệ giữa doanh nghiệp và CTKT
Hệ thống kiểm soát nội bộ Tuy nhiên, các nghiên cứu trong nước về sự trung thành hay tiếp tục
sử dụng dịch vụ kiểm toán của các CTNY đối với các CTKT độc lập tại Việt Nam còn hạn chế Sự hạn chế này là nhìn nhận các yếu tố tác động dưới góc độ đơn lẻ và chưa được kiểm định bằng nghiên cứu thực chứng
Tóm lại, từ nghiên cứu tổng quan, kết hợp với phỏng vấn chuyên gia tác
giả xác định bốn nhân tố tác động đến sự trung thành của các CTNY đối với các CTKT tại Việt Nam, bao gồm: chất lượng dịch vụ kiểm toán BCTC, lợi ích - chi phítừ kiểm toán BCTC, khả năng tiếp cận dịch vụ kiểm toán BCTC và mối quan hệ giữa CTNY với CTKT Thang đo đánh giá cảm nhận của DN đối với bốn nhân tố vừa đề cập mang tính kế thừa từ các nghiên cứu trước và dựa vào ý
kiến đóng góp của các chuyên gia trong quá trình phỏng vấn tại Việt Nam Cụ
thể như sau:
Nhân tố chất lượng dịch vụ được được đo bằng thang đo Servperf có điều chỉnh (do thang đo Servperf được đánh giá hiệu quả hơn thang đo Servqual)
Nhân tố lợi ích - chi phí được đo bằng nhận thức của DN về lợi ích thu được từ dịch vụ kiểm toán BCTC
Nhân tố khả năng tiếp cận dịch vụ được đo bằng nhận thức của DN về khả năng thu thập thông tin và gặp gỡ trao đổi với CTKT
Nhân tố mối quan hệ giữa DN và CTKT được đo lường bằng nhận thức của DN với hai mối quan hệ: đoàn kiểm toán và người ký báo cáo kiểm toán
Trang 6
CHƯƠNG 3 CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ TRUNG THÀNH CỦA CÁC
CTNY ĐỐI VỚI CÁC CÔNG TY KIỂM TOÁN
TẠI VIỆT NAM
Sự phát triển và lớn mạnh của các CTKT nhóm Big 4
Các CTKT có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam hay còn gọi là Big 4
bao gồm Deloitte, EY, KPMG và PwC chia nhau nắm giữ thị phần quan trọng
trong lĩnh vực kiểm toán tại Việt Nam Dựa trên thông tin của các công ty niêm
yết trên sàn chứng khoán Việt Nam, hơn 70% CTNY lựa chọn hay tiếp tục sử
dụng các dịch vụ kiểm toán của nhóm Big Four Những yếu tố tác động đến sự
lựa chọn Big 4 của các CTNY bao gồm: kiểm toán viên trong nhóm Big 4 có
tính tuân thủ chuẩn mực nghề nghiệp cao, quy trình kiểm toán được kiểm soát
chặt chẽ, và tư vấn về quản trị DN tốt Thêm nữa, nhóm Big 4 được khách hàng
đánh giá là các đơn vị có uy tín, chất lượng kiểm toán tốt, tăng khả năng minh
bạch của BCTC, và tạo dựng hình ảnh cho CTNY
Cạnh tranh giữa các CTKT tại Việt Nam
Theo Bùi Văn Mai (2011), do sự lớn mạnh của Big 4 so với các CTKT
trong nước cả vì quy mô và thị phần thị trường, thị trường kiểm toán Việt Nam
đã và đang diễn ra sự cạnh tranh quyết liệt giữa các CTKT, đặc biệt là các
CTKT trong nước Sự cạnh tranh này chủ yếu tập trung vào hai khía cạnh: phí
kiểm toán và tạo dựng mối quan hệ tốt đẹp với khách hàng Trong khi đó, việc
cạnh tranh bằng chất lượng dịch vụ thì dường như chưa được coi trọng
Như vậy có thể đánh giá rằng, về thực tế tại Việt Nam đang có sự cạnh
tranh quyết liệt giữa các CTKT tại Việt Nam về giá phí kiểm toán và mối quan
hệ giữa DN và CTKT, trong khi những yếu tố quan trọng cũng ảnh hưởng đến
khả năng cạnh tranh này chưa được các CTNY coi trọng như chất lượng của
báo cáo kiểm toán, chất lượng dịch vụ kiểm toán
Về mặt nghiên cứu khoa học, tại Việt Nam, chỉ có rất ít các nghiên cứu
thực chứng về vấn đề này Trong khi đó, trên thế giới, các nghiên cứu về việc
lựa chọn hay tiếp tục sử dụng dịch vụ (sự trung thành) của các CTNY đối với các CTKT rất phong phú và đa dạng
Từ nghiên cứu tổng quan, phỏng vấn chuyên gia và đánh giá thực trạng hoạt động kiểm toán độc lập tại Việt Nam, tác giả cho rằng việc lựa chọn bốn nhân tố nhân tố để nghiên cứu tác động của chúng đến sự trung thành của các CTNY đối với các CTKT bao gồm: chất lượng dịch vụ kiểm toán, lợi ích - chi phítừ dịch vụ kiểm toán, mối quan hệ giữa DN và CTKT, và khả năng tiếp cận của DN đối với dịch vụ kiểm toán là phù hợp trong bối cảnh nền kinh tế chuyển đổi và hội nhập tại Việt Nam
Trang 7CHƯƠNG 4 CÁC GIẢ THUYẾT KHOA HỌC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Xây dựng giả thuyết khoa học
Nghiên cứu của Ishak Ismail và cộng sự (2006) đã dùng phương pháp điều
tra 500 công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Malaysia để đánh giá mối
quan hệ giữa sự hài lòng về chất lượng dịch vụ kiểm toán đến sự trung thành của
khách hàng Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng: khi khách hàng hài lòng với chất
lượng dịch vụ kiểm toán sẽ có xu hướng tiếp tục sử dụng các dịch vụ của CTKT
(sự trung thành) Trong đó, sự hài lòng được đo lường bởi 5 yếu tố chất lượng dịch
vụ: sự hữu hình, sự tin cậy, sự sẵn lòng, sự đảm bảo và sự quan tâm Do vậy, tác
giả xây dựng giả thuyết nghiên cứu mối quan hệ giữa sự hài lòng về chất lượng
dịch vụ kiểm toán và sự trung thành (tiếp tục sử dụng dịch vụ) như sau:
H1: Chất lượng dịch vụ kiểm toán tác động cùng chiều đến sự hài lòng
của các CTNY đối với dịch vụ kiểm toán của các CTKT độc lập tại Việt Nam
Do chất lượng dịch vụ được đo lường bởi các yếu tố cấu thành chất
lượng, nên các giả thuyết mối quan hệ giữa sự hài lòng và các thành phần chất
lượng dịch vụ như sau:
H1a: Cảm nhận của CTNY về phương tiện hữu hình của CTKT có tác động
cùng chiều đến sự hài lòng của CTNY về chất lượng dịch vụ kiểm toán
H1b: Cảm nhận của CTNY về sự tin cậy đối với CTKT có tác động cùng chiều
đến sự hài lòng của CTNY về chất lượng dịch vụ kiểm toán
H1c: Cảm nhận của CTNY về sự sẵn lòng của CTKT có tác động cùng
chiều đến sự hài lòng của CTNY về chất lượng dịch vụ kiểm toán
H1d: Cảm nhận của CTNY về sự đảm bảo từ CTKT có tác động cùng chiều
đến sự hài lòng của CTNY về chất lượng dịch vụ kiểm toán
H1e: Cảm nhận của CTNY về sự quan tâm của CTKT có tác động cùng
chiều nào đến sự hài lòng của CTNY về chất lượng dịch vụ kiểm toán
H2: Sự hài lòng về chất lượng dịch vụ kiểm toán tác động cùng chiều đến
sự trung thành của các CTNY đối với các CTKT độc lập tại Việt Nam
Nghiên cứu của Fontaine và Letaifa (2012) đã khám phá khi doanh
nghiệp trả phí cho dịch vụ kiểm toán báo cáo tài chính thì họ mong đợi CTKT
mang lại các lợi ích khác cho doanh nghiệp, ví dụ như nâng cao hiệu quả quản
lý và cải thiện kết quả hoạt động kinh doanh cho doanh nghiệp Hay nói một cách khác, khách hàng coi trọng lợi ích thu được từ chi phí cho dịch vụ kiểm toán báo cáo tài chính Do vậy, giả thuyết nghiên cứu của tác giả về ảnh hưởng
từ nhận thức của khách hàng về lợi ích - chi phíđến sự trung thành như sau:
H3: Mối quan hệ lợi ích-chi phí (lợi ích gia tăng từ dịch vụ kiểm toán) có tác
động cùng chiều với sự trung thành của CTNY đối với CTKT độc lập tại Việt Nam
Nghiên cứu của Rehual và cộng sự (2013) chứng minh có mối quan hệ chặt chẽ giữa khả năng tiếp cận với sự trung thành về việc tiếp tục sử dụng dịch
vụ kiểm toán Trong đó, thông tin về CTKT có ảnh hưởng tích cực tới việc tiếp cận các dịch vụ kiểm toán từ khách hàng Do đó, tác giả xây dựng giả thuyết nghiên cứu về mối quan hệ giữa khả năng tiếp cận dịch vụ kiểm toán và sự trung thành của DN đối với CTKT như sau:
H4: Khả năng tiếp cận dịch vụ kiểm toán có tác động cùng chiều với sự
trung thành của CTNY đối với CTKT độc lập tại Việt Nam
Nghiên cứu của Fontaine và Letaifa (2012), và nghiên cứu của Magri và Baldacchino (2004) chỉ ra rằng: nếu bỏ qua mối quan hệ giữa khách hàng và CTKT thì phí kiểm toán sẽ đóng vai trò rất quan trọng trong việc tiếp tục sử các dịch vụ của CTKT Tuy nhiên, khi đưa vào yếu tố mối quan hệ thì tác giả kết luận rằng mối quan hệ giữa hai bên quan trọng hơn phí kiểm toán trong việc tiếp tục sử dụng các dịch vụ của CTKT Do đó, tác giả xây dựng giả thuyết nghiên cứu về mối quan hệ giữa CTNY với CTKT tác động đến sự trung thành như sau:
H5: Mối quan hệ giữa CTNY và CTKT có tác động cùng chiều với sự
trung thành của DN đối với CTKT độc lập tại Việt Nam
Mô hình nghiên cứu
Dựa trên tổng quan nền tảng lý thuyết, các công trình nghiên cứu trước đây, và các giả thuyết nghiên cứu, tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu để đánh giá mối quan hệ giữa sự trung thành của các CTNY đối với các CTKT độc lập tại Việt Nam theo các yếu tố sau: (1) Sự hài lòng về chất lượng dịch vụ kiểm toán BCTC; (2) Lợi ích - chi phí từ dịch vụ kiểm toán BCTC; (3) Khả năng tiếp cận dịch vụ kiểm toán BCTC; (4) Mối quan hệ giữa CTNY và CTKT
Trang 8Do đây là mô hình nghiên cứu giả thuyết ban đầu dựa vào các nghiên cứu
trước, nên trong quá trình nghiên cứu, tùy thuộc vào kết quả thực tế tại Việt
Nam, các giả thuyết nghiên cứu có thể thay đổi
Trong đó:
- Biến phụ thuộc Sự trung thành được đo bằng biến định danh (1;0)
- Các nhân tố còn lại được đo lường qua các biến quan sát sử dụng thang đo
Likert 1-5 (đều là các khái niệm bậc nhất)
Mô hình đánh giá các nhân tố tác động đến sự trung thành
Sự hài lòng về chất lượng dịch vụ kiểm toán
Sự trung thành của CTNY đối với CTKT
- Phương tiện hữu hình
- Sự tin cậy
- Sự sẵn lòng
- Sự đảm bảo
- Sự quan tâm
Lợi ích – chi phí
từ DV Kiểm toán
Khả năng tiếp cận
DV Kiểm toán
Mối quan hệ
CTNY và CTKT
Quy trình nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu, tác giả đã thực hiện các bước sau: Xác định vấn đề cần nghiên cứu -> Nghiên cứu tổng quan (tìm hiểu các nhân tố nào tác động đến sự trung thành của các DN đối với các CTKT) -> Phỏng vấn các chuyên gia tại Việt Nam (chọn các nhân tố phù hợp với thị trường kiểm toán tại Việt Nam) -> Xác định các nhân tố cần nghiên cứu trong mối quan hệ với sự trung thành của các CTNY đối với các CTKT độc lập tại Việt Nam -> Xây dựng mô hình nghiên cứu -> Điều tra và thu thập số liệu -> Phân tích số liệu bằng phần mềm SPSS 20.0-> Thảo luận kết quả thu được -> Đưa ra giải pháp và kiến nghị cho các bên liên quan
Thiết kế phiếu điều tra và chọn mẫu Thang đo được thiết kế từ hai nguồn: thang đo kế thừa từ các nghiên cứu
trước đây và thang đo từ việc phỏng vấn các chuyên gia trong lĩnh vực kiểm toán và các thành viên trong DN đã làm việc với đoàn kiểm toán Các thang đo được thể hiện bằng các câu hỏi điều tra đánh giá sự cảm nhận của người trả lời đối với các vấn đề đưa ra Từ thang đo,
Phiếu điều tra được thiết kế bao gồm ba phần chính:
Thông tin về DN được điều tra Đánh giá của người trả lời về các yếu tố tác động đến sự trung thành của DN đối với CTKT Trong đó, các biến quan sát được đo lường bằng nhận thức của DN theo thang đo linkert 1-5 Biến phụ thuộc - sự trung thành được
đo lường bằng thực tế việc DN tiếp tục (nhận giá trị 1) hoặc không tiếp tục sử dụng dịch vụ kiểm toán BCTC của CTKT (nhận giá trị 0) Việc nhận biết việc
DN tiếp tục hay không tiếp tục sử dụng dịch vụ kiểm toán BCTC dựa vào báo cáo kiểm toán của DN được điều tra, để xem liệu DN có thay đổi CTKT so với
kỳ trước hay không
Phần cuối là thông tin về người tham gia phỏng vấn
Về nguyên tắc chọn mẫu, tại thời điểm nghiên cứu trong năm 2014, có
899 CTNY trên HNX và HOSE Trong đó, 104 DN thuộc ngành vật liệu cơ bản, 370 DN thuộc ngành công nghiệp, 130 DN thuộc ngành hàng tiêu dùng, 23 DN thuộc ngành y tế, 64 DN thuộc ngành dịch vụ tiêu dùng, 46
DN thuộc ngành các dịch vụ hạ tầng, 127 DN thuộc ngành tài chính, 29
Trang 9DN thuộc ngành công nghệ, 5 DN thuộc ngành dầu khí, và 1 DN thuộc
ngành viễn thông
Trong tổng số các CTNY, tác giả chọn 152 DN để gửi phiếu điều tra Tuy
nhiên để đảm bảo tính đại diện cho tổng thể mẫu, những DN được chọn đảm
bảo tính bao phủ về những yếu tố sau: quy mô DN, ngành nghề, và địa lý
Về quy mô DN bao gồm hai nhóm: DN quy mô lớn và DN quy mô vừa
và nhỏ Các công ty quy mô khác nhau có xu hướng sử dụng các CTKT quy mô
và mức độ uy tín khác nhau Ví dụ như các tổ chức tài chính lớn hay các công
ty có vốn đầu tư nước ngoài thường sử dụng các dịch vụ từ Big 4
Về ngành nghề bao gồm 10 ngành nghề: tài chính, viễn thông, công
nghiệp, y tế, công nghệ, dịch vụ hạ tầng, hàng tiêu dùng, dầu khí, vật liệu cơ
bản, và dịch vụ tiêu dùng Việc xác định DN thuộc nhóm ngành nào phụ thuộc
vào doanh thu trung bình trong 2 năm gần nhất được tạo ra từ hoạt động kinh
doanh nào
Về yếu tố địa lý bao gồm các DN tại các thành phố lớn, bao gồm 3 miền
Bắc, Trung và Nam
Trực tiếp trả lời phiếu điều tra là những người đóng vai trò quan trọng
trong quá trình làm việc với đoàn kiểm toán như ban giám đốc, kế toán trưởng,
trưởng phó phòng tài chính, hay phòng kiểm toán nội bộ
CHƯƠNG 5 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Tác giả đã tiến hành khảo sát với 152 doanh nghiệp và thu về 124 phiếu điều tra hợp lệ để đưa vào phân tích Dữ liệu trong các phiếu hợp lệ sau đó được
mã hóa, và nhập trên phần mềm SPSS 20 Các bước phân tích xử lý dữ liệu của tác giả nhằm các mục tiêu chính sau đây:
Phân tích thống kê số liệu khảo sát nhằm có cái nhìn tổng thể về đối tượng được khảo sát
Đánh giá thực trạng các nhân tố ảnh hưởng đến sự trung thành các CTNY đối với các CTKT độc lập
Kiểm định các thang đo và phân tích nhân tố để thiết lập mô hình hồi quy đánh giá sự tác động của các nhân tố đến sự hài lòng của các CTNY đối với chất lượng dịch vụ kiểm toán BCTC của các CTKT độc lập
Kiểm định các thang đo và phân tích nhân tố để thiết lập mô hình hồi quy đánh giá sự tác động của các nhân tố đến sự trung thành của các CTNY đối với các CTKT độc lập
Kiểm định các giả thuyết nghiên cứu sau khi các nhân tố mới được hình thành
Phân tích liệu có sự khác biệt giữa các nhóm CTNY về sự trung thành đối với các CTKT độc lập
Các kết quả nghiên cứu chính
Kết quả hồi quy đánh giá sự hài lòng của CTNY về chất lượng dịch vụ kiểm toán
Sau khi phân tích nhân tố, tác giả phân tích hồi quy và kết quả được thể
hiện qua bảng dưới đây:
Bảng kết quả phân tích hồi quy cho sự hài lòng cuối cùng
Hệ số chưa chuẩn hóa
Hệ số chuẩn hóa
Thống
Thống kê đa cộng tuyến
Trang 10
Hệ số chưa
chuẩn hóa
Hệ số chuẩn hóa
Thống
Thống kê đa cộng tuyến
p-value
Kiểm định F
0.000
Từ đó, mô hình hồi quy đánh giá tác động của các nhân tố đến sự hài lòng
của CTNY về chất lượng dịch vụ kiểm toán BCTC như sau: HL= -0.939 +
0.401*SL+ 0.580*TC + 0.227*QT Với giá trị R2 hiệu chỉnh bằng 0.573, điều
này cho thấy mô hình giải thích được 57.30% sự tác động của chất lượng dịch
vụ kiểm toán đến sự hài lòng của DN thông qua 3 nhân tố là sự tin cậy (TC), sự
sẵn lòng (SL) và sự quan tâm (QT)
Kết quả hồi quy đánh giá sự trung thành của CTNY đối với các CTKT
Sau khi phân tích nhân tố, tác giả phân tích hồi quy và kết quả được thể
hiện qua bảng dưới đây:
Bảng kết quả phân tích hồi quy cho sự trung thành cuối cùng
Beta p-value Kiểm tra đa cộng tuyến VIF
Từ đó, mô hình hồi quy đánh giá tác động của các nhân tố đến sự trung
thành của các CTNY đối với các CTKT như sau: TT = -18.13 + 1.355*HL +
3.090* QHNV – 1.350*QHCN + 1.803*LICPA Với giá trị R2 bằng 0.650 cho
thấy mô hình giải thích được 65% sự thay đổi biến thiên của lòng trung thành của các CTNY đối với các CTKT độc lập được giải thích bởi mối quan hệ tuyến tính qua 4 nhân tố sự hài lòng (HL), quan hệ nghiệp vụ (QHNV); quan hệ cá nhân (QHCN) và lợi ích chi phí hiệu quả hoạt động (LICPA)
Về mức độ tác động của các nhân tố lên sự trung thành: Do các biến độc lập đều được đo cùng bằng 1 thang đo likert 5 điểm nên căn cứ vào hệ số beta
có thể xác định được mức độ tác động của các nhân tố lên sự trung thành: Nhân
tố mối quan hệ về nghiệp vụ có tác động mạnh nhất lên sự trung thành (với hệ
số beta = 3.090), nhân tố tiếp theo là nhân tố Lợi ích chi phí hiệu quả hoạt động (với hệ số beta = 1.803); tiếp theo là nhân tố sự hài lòng về chất lượng dịch vụ kiểm toán (với hệ số beta = 1.355) và nhân tố có tác động yếu nhất là quan hệ
cá nhân giữa doanh nghiệp và nhân viên CTKT (với hệ số beta = -1.350)
Thảo luận kết quả nghiên cứu
Tóm lại, từ kết quả phân tích nhân tố, mô hình hồi quy và kiểm định các giả thuyết nghiên cứu, tác giả tìm ra 4 nhân tố tác động đến sự trung thành của các CTNY đối với các CTKT độc lập tại Việt Nam Các nhân tố này bao gồm:
Sự hài lòng về chất lượng dịch vụ kiểm toán BCTC, Mối quan hệ nghiệp vụ giữa CTNY và CTKT, Mối quan hệ cá nhân giữa CTNY và CTKT, và Lợi ích chi phí hiệu quả hoạt động Trong đó:
Mối quan hệ nghiệp vụ là nhân tố tác động cùng chiều mạnh nhất đến sự trung thành Điều này chứng tỏ các CTNY quan tâm nhất đến mối quan hệ với CTKT mang tính chất nghiệp vụ công việc Mối quan hệ công việc này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho cả hai bên trong quá trình thực hiện công tác kiểm toán
và cũng giúp DN có được niềm tin vào chất lượng của báo cáo kiểm toán Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Fontaine và Letaifa (2012) tại Canada Theo đó, mối quan hệ tốt giữa CTKT và khách hàng sẽ làm cho công việc tiến triển thuận lợi, giải quyết các vấn đề gặp phải theo hướng tích cực và tạo ra các
giá trị gia tăng cho khách hàng
Lợi ích chi phí hiệu quả hoạt động là nhân tố tác động cùng chiều mạnh thứ hai đến sự trung thành Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Fontaine và Letaifa (2012) tại Canada và lý thuyết về lợi ích giá trị gia tăng từ dịch vụ kiểm toán của Beattie và cộng sự (2000) Đó là, khách hàng kiểm toán