Nghiên cứu những hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng diễn ra tại chùaVẽ (Hải Phòng) và những hoạt động xã hội, từ thiện của ngôi chùa trong đời sống văn hóa hiện nay. Trên cơ sở nội dung nghiên cứu, luận văn đi đến việc đánh giá vai trò, chức năng của chùa Vẽ trong đời sống tôn giáo,tín ngưỡng của người dân trên địa bàn thành phố Hải Phòng, cũng như vai trò của ngôi chùa đối với việc tham gia các hoạt động văn hóa xã hội hiện nay.
Trang 1MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
Trang 2DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
Trang 3MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Tôn giáo là một trong những thành tố của văn hóa Việt Nam Trong suốtquá trình phát triển của lịch sử, tôn giáo luôn có một vị trí và vai trò nhất địnhđối với xã hội Tuy nhiên, việc nhìn nhận vai trò của tôn giáo ở mỗi giai đoạnlại có sự khác nhau Thời kỳ trước đổi mới, chúng ta có sự nhìn nhận chưa đầy
đủ vai trò của tôn giáo, gắn tôn giáo với những yếu tố mê tín dị đoan Songnhững năm trở lại đây, nhất là sau nghị quyết số 24/NQ-TW ngày 16/10/1990của Bộ chính trị (khóa VI) về “Tằng cường công tác tôn giáo trong tình hìnhmới”, nghị quyết trên được coi là dấu mốc mở đầu cho bước ngoặt phát triển vềnhận thức tôn giáo của Đảng ta Từ sau Nghị quyết 24/NQ-TW nói trên, Đảng
ta còn có nhiều văn kiện khác khẳng định và phát triển tư duy đổi mới về tôn
giáo Đặc biệt, tháng 7/2004, Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo do Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua và được ban hành, cũng như Nghị định số
22/2005/NĐ-CP “Hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh tín ngưỡng,
tôn giáo” của Chính phủ ban hành (3/2005) Như vậy, với những văn bản vềtôn giáo được ban hành cho thấy Đảng và Nhà nước ta đã có cái nhìn toàn diệnhơn về tôn giáo, nhất là việc nhận định vai trò của nó đối với đời sống văn hóa
xã hội hiện nay
Với quan điểm mới của Đảng và Nhà nước về vấn đề tôn giáo, là cơ sởcho việc chúng ta nhìn nhận, đánh giá đầy đủ hơn về vai trò của các tôn giáohiện có ở Việt Nam thông qua những hoạt động và sự tồn tại của các cơ sở tôngiáo gắn liền với nó Trong các tôn giáo du nhập vào Việt Nam, Phật giáo làtôn giáo luôn có vai trò quan trọng đối với đời sống tâm linh của người dânViệt Chính vì vậy, ở đâu trên đất nước Việt Nam chúng ta cũng bắt gặp hìnhảnh ngôi chùa Chùa không chỉ là nơi tiến hành những hoạt động tôn giáo, tín
Trang 4ngưỡng của người Việt, màkhông gian ấy còn diễn ra nhiều hoạt động hướngđến xã hội, hay nói cách khác đó chính là sự nhập thế của Phật giáo trong giaiđoạn hiện nay.Do đó, vấn đề đặt ra cho việc nghiên cứu ngôi chùa không chỉdừng lại ở sự đánh giá những giá trị về kiến trúc, nghệ thuật, điêu khắc màcần phải đánh giá cảvai trò, chức năng của cơ sở tôn giáo đó trong đời sốngvăn hóa xã hội nói chung.
Nằm trong không gian văn hóa của thành phố Cảng, chùa Vẽ là mộttrong những ngôi chùa nổi tiếng của Hải Phòng,không chỉ vì đây là nơi diễn
ra các hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng của người dân đất Cảng như: các nghi lễgắn liền với Phật giáo, các nghi lễ thế tục của người dân địa phương diễn ratại chùa… mà trong những năm trở lại đây, chùa Vẽ còn là địa chỉ tham giatích cực các hoạt động hướng đến xã hội như:hoạt động hướng đến giáo dụcthanh thiếu niên với khóa tu mùa hè, hoạt động công tác từ thiện trên địa bàn
và ngoài địa bàn thành phố Như vậy, với vai trò mà ngôi chùa mang lại trongđời sống văn hóa xã hội hiện nay, thiết nghĩ vấn đề trên cần được đi vàonghiên cứu và tìm hiểu sâu Tuy nhiên, trên thực tế chưa có nhiều công trìnhkhoa học, tài liệu nghiên cứu về chùa Vẽ ở phương diện này, mà hầu hết cáccông trình chỉ tiếp cận ở góc độ kiến trúc, nghệ thuật và lịch sử ngôi chùa.Như vậy, từ sự định hướng mới của Đảng và Nhà nước về vấn đề tôn giáo, từvai trò của chùa Vẽ đối với đời sống văn hóa hiện nay và từ thực tế nghiên
cứu về ngôi chùa, người viết lựa chọn đề tài “Chùa Vẽ (Hải Phòng) trong đời sống văn hóa hiện nay” để thực hiện trong khuôn khổ một luận văn thạc
sĩ chuyên ngành văn hóa học
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Phật giáo là một trong những vấn đề thu hút được nhiều người nghiêncứu trên nhiều phương diện khác nhau Chính vì vậy, những công trình khoa
Trang 5học, tài liệu tìm hiểu về vấn đề này là tương đối phong phú Tác giả Nguyễn
Lang với “Việt Nam phật giáo sử luận”[21] Cuốn sách đi vào nghiên cứu Phậtgiáo dưới góc độ tiếp cận lịch sử hình thành và phát triển của Phật giáo nóichung cũng như phật giáo Việt Nam nói riêng
Nguyễn Duy Hinh với“Phật giáotrong văn hóa Việt Nam”[16] Cuốn
sách đi vào giới thiệu vấn đề lịch sử tư tưởng Phật giáo Việt Nam qua kinhsách, một số vấn đề về Phật giáo trong văn hóa Việt Nam, nhìn nhận vềPhật giáo và vấn đề hiện đại hóa Phật giáo, tức là đặt Phật giáo trong bốicảnh hiện nay
Trần Lâm Biền với “Chùa Việt” [3].Cuốn sách cho chúng ta cái nhìn tổng
thể về diện mạo chung của ngôi chùa Việt trong lịch sử như: kiến trúc, đối tượngthờ tự Bên cạnh đó tác giả cuốn sách cũng đi vào khảo tả một số ngôi chùa tiêubiểu của Việt Nam trên phương diện giá trị kiến trúc nghệ thuật
Hà Văn Tấn với “Chùa Việt Nam”[30] Cuốn sách đi vào giới thiệu diện
mạo ngôi chùa Việt trong quá trình lịch sử, khảo tả các ngôi chùa tiêu biểucủa Việt Nam, bên cạnh đó tác giả cũng đi vào đánh giá vị trí và vai trò củangôi chùa trong đời sống văn hóa cộng đồng
Những công trình kể trên mặc dù không đi vào nghiên cứu về chùa Vẽ(Hải Phòng), song nó là cơ sở lý luận để người viết tiếp cận và tìm hiểu sâuhơn đối tượng mà mình nghiên cứu
Các công trình, tài liệu nghiên cứu đã viết về chùa Vẽ:
Việc tìm hiểu, nghiên cứu về chùa Hải Phòng nói chung cũng như đốivới ngôi chùa Vẽ (Hoa Linh Tự) nói riêng hiện nay chưa có nhiều công trìnhkhoa học, tài liệu sách báo viết Các tài liệu đã nghiên cứu về chùa Vẽ mới chỉdừng lại ở việc tiếp cận về lịch sử, cũng như việc giới thiệu chung về tổngquan ngôi chùa, còn đối với vấn đề hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng, hoạt động
Trang 6hướng đến xã hội tại chùa hiện nay vẫn chưa được tìm hiểu dưới góc độ làmột công trình nghiên cứu khoa học thực sự.
“Một số di sản văn hóa tiêu biểu của Hải Phòng”[43].Cuốn sách đi vàogiới thiệu nhiều kiến trúc đình chùa trên địa bàn thành phố Hải Phòng trong
đó chùa Vẽ được giới thiệu khái quát về lịch sử hình thành, thông qua việc lýgiải tên gọi chùa Vẽ, lịch sử chùa Vẽ gắn liền với những chiến thắng trêndòng sông Bạch Đằng Bên cạnh đó cuốn sách còn nêu khái quát về kiến trúccủa ngôi chùa bao gồm:tòa nhà Phật điện hình chữ Đinh, 5 gian tiền đường
và 4 gian chuôi vồ, kèm theo hai bên hậu cung là hai ngôi nhà chè nhỏ, nghệthuật trang trí và hệ thống tượng thờ trên Phật điện
“Hải Phòng di tích- danh thắng xếp hạng quốc gia”[41] Cuốn sách đivào giới thiệu khái quát về những di tích- danh thắng trên địa bàn thành phốđược xếp hạng cấp quốc gia, trong đó ngôi chùa Vẽ được giới thiệu sơ lược
về hệ thống kiến trúc chung, đồng thời cuốn sách còn đi vào giới thiệu các lễtiết diễn ra trong năm tại chùa Vẽ như: lễ Đức Ông vào ngày 4 tháng giêng, lễThượng Nguyên, ngày 1/4 lễ vào hè cầu mát Tuy nhiên, việc đề cập nhữngnội dung trên chỉ mang tính khái quát mà chưa đi vào phân tích chi tiết
Vũ Thị Thơm với đề tài“Một vài nét nghệ thuật kiến trúc điêu khắc dângian Hải Phòng” [35].Trong nội dung nghiên cứu, tác giả đề cập đến chùa Vẽ,cùng với một số ngôi chùa khác trên địa bàn Hải Phòng vẫn còn lưu giữ được
số lượng các pho tượng lớn
Bên cạnh đó còn có các trang Web:wwwDulichhaiphong.gor.vn, trangweb này giới thiệu về các chùa ở Hải Phòng phân theo địa bàn hành chính ởcác quận, huyện, trong đó chùa Vẽ thuộc quận Hải An được giới thiệu kháiquát về lịch sử, không gian kiến trúc
Trang Vuonhoaphatgiao, trang Web này đi vào giới thiệu một số chùatiêu biểu của Hải Phòng như chùa Vẽ…Tài liệu về ngôi chùa được khái quát
về mặt kiến trúc và lịch sử
Trang 7Như vậy, những công trình, tài liệu nghiên cứu về chùa Hải Phòng baogồm chùa Vẽ mới chỉ dừng lại ở việc đánh giá khái quát giá trị kiến trúc, lịch
sử mà chưa đi sâu vào việc nghiên cứu những hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng,hoạt động hướng đến xã hội của ngôi chùa Do đó, luận văn sẽ hướng đếnnhững vấn đề đã nêu ra đó là việc nghiên cứu chùa Vẽ (Hải Phòng) trong đờisống văn hóa hiện nay
3.Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu những hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng diễn ra tại chùaVẽ(Hải Phòng) và những hoạt động xã hội, từ thiện của ngôi chùa trong đời sốngvăn hóa hiện nay Trên cơ sở nội dung nghiên cứu, luận văn đi đến việc đánhgiá vai trò, chức năng của chùa Vẽtrong đời sống tôn giáo,tín ngưỡng củangười dân trên địa bàn thành phố Hải Phòng, cũng như vai trò của ngôi chùađối với việc tham gia các hoạt động văn hóa xã hội hiện nay
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Khái quát đặc điểm vềthành phố Hải Phòng, đặc điểm chùa Vẽ, trên cơsởđó giúp người đọc có cài nhìn toàn diện về ngôi chùa cũng như không giannơi ngôi chùa tọa lạc
Nghiên cứu các nghi lễ phật giáo, tín ngưỡng diễn ra tại chùa Trên cơ
sở đó khái quát những ảnh hưởng của hoạt động nghi lễ đối với đời sống vănhóa cộng đồng
Nghiên cứu các hoạt động hướng đến xã hội của ngôi chùa bao gồm:hoạt động giáo dục thanh thiếu niên, hoạt động công tác từ thiện trong vàngoài địa bàn thành phố Hải Phòng, thông qua những hoạt động trênnhằmkhái quát vai trò cuả ngôi chùa đối với xã hội hiện nay
Trang 84 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu chùa Vẽ trong đời sống văn hóa hiện nay: đó là việc nghiêncứu những hoạt động nghi lễ tôn giáo, tín ngưỡng và các hoạt độngxã hội,từthiện của ngôi chùa
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Không gian:
Đề tài tập trung nghiên cứu những nghi lễ tôn giáo, tín ngưỡng và cáchoạt động xã hội, từ thiện của chùa Vẽ thuộc phường Đông Hải, quận Hải An,thành phố Hải Phòng
Phương pháp nghiên cứu:
Ngoài phương pháp luận nói trên, tôi còn sử dụng các phương phápkhác góp phần đưa ra những luận điểm mang tính khoa học, tránh sự chủquan của người viết bao gồm: phương pháp điền dã, khảo sát thực địa,phương pháp xã hội học với quan sát, phỏng vấn sâu, phương pháp phân tích,tổng hợp
Trang 9Nguồn tài liệu:
Để thực hiện đề tài này, tôi đã tập hợp các tư liệu từ các chuyến khảosát, thực địa, tìm hiểu các ấn phẩm sách, tạp chí liên quan đến Phật giáo
6.Đóng góp của luận văn
Với những kết quả nghiên cứu, nội dung trong luận văn là cơ sở chochúng ta nhìn nhận sâu hơn và toàn diện hơn về vai trò của ngôi chùa, cụ thể
là vai trò của chùa Vẽ (Hải Phòng) trong đời sống văn hóa hiện nay
Việc tìm hiểu, nghiên cứu những hoạt động xã hội mà chùa Vẽ hướngđến không chỉ khẳng định sự nhập thế của Phật giáo, mà những hoạt động xãhội hướng đến xã hội của chùa Vẽ còn là mô hình cho các ngôi chùa khác trênđịa bàn thành phố và các tỉnh lân cận học hỏi, phát huy hơn nữa vai trò củamình đối với vấn đề công tác xã hội hiện nay
Luận văn cung cấp tài liệu về chùa Hải Phòng cho những ai muốn tìmhiểu sâu về chùa Hải Phòng, cùng với các hoạt động tôn giáo, cũng như côngtác xã hội của ngôi chùa trong giai đoạn hiện nay
Luận văn góp phần làm phong phú nguồn tài liệu viết về các công trìnhkiến trúc của địa phương, nhất là việc gắn cơ sở tôn giáo đó với chức năng xãhội của nó
Từ kết quả nghiên cứu triển khai trong các chương của luận văn sẽ giúpcho các nhà quản lý, các cơ quan quản lý văn hóa của địa phương tham khảo và
có biện pháp quản lý phù hợp trước những sự biến đổi về đối tượng quản lý
Luận văn là cơ sở giúp cho các cơ quan chuyên trách về du lịch, cácdoanh nghiệp hoạt động kinh doanh du lịch trên địa bàn thành phố Hải Phòng
và cả những doanh nghiệp ngoài địa bàn thành phố nhìn nhận, khai thácnhững giá trị văn hóa của ngôi chùa góp phần phát triển loại hình du lịch nhânvăn của địa phương
Trang 107 Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn có
bố cục gồm 03 chương:
Chương 1: Khái quát chungvề chùa Vẽ- Hải Phòng
Chương 2: Chùa Vẽvới các nghi lễ phật giáo, tín ngưỡng
Chương 3: Chùa Vẽ với các hoạt động xã hội, từ thiện
Trang 11Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CHÙA VẼ- HẢI PHÒNG
1.1 Tổng quan về thành phố Hải Phòng
1.1.1 Vị trí địa lý
Hải Phòng là một trong ba thành phố Cảng của cả nước Trong nhữngnăm vừa qua, Hải Phòng không ngừng phát triển về nhiều mặt, trên nhiềuphương diện Để có được sự thay đổi trên, cần phải kể những lợi thế mà HảiPhòng có được so với các tỉnh thành phố khác Trước tiên chính là lợi thế vềmặt vị trí địa lý
Hải Phòng nằm trong hệ tọa độ 20030, 39,,- 21001,15,, vĩ độ Bắc và 1060
23, 39,, - 1070 08, 39,, kinh tuyến Đông với các điểm:
Cực Bắc (210 01,15,,B) qua thôn Phi Liệt, xã Lại Xuân, huyện ThủyNguyên; cực Nam (200 30, 39,,B) qua thôn Quán Khái, xã Vĩnh Phong, huyệnVĩnh Bảo; cực Đông (1070 08, 39,,Đ) qua ranh giới trên biển giữa Hải Phòng
và Quảng Ninh đi qua vịnh Lan Hạ và phía đông Cát Bà; cực Tây (1060 23, 39,,
Đ) đi qua thôn Oai Nỗ, xã Hiệp Hòa, huyện Vĩnh Bảo
Trên đất liền, Hải Phòng có chung ranh giới hành chính với 3 tỉnhthuộc miền núi Đông Bắc, Bắc Bộ và châu thổ sông Hồng Về phía Bắc vàĐông Bắc dọc theo dòng Đá Bạch- Bạch Đằng là ranh giới tự nhiên giữa HảiPhòng và Quảng Ninh
Về phía Tây Bắc, Hải Phòng giáp với Hải Dương trên gần 100km vàphía Tây Nam với Thái Bình gần 40km theo sông Hóa là một nhánh cửa sôngLuộc, dẫn nước và phù sa sông Hồng tưới mát cho đồng đất vùng Tây Namthành phố
Phía Đông thành phố Hải Phòng với 125km bờ biển chạy dài theohướng Đông Bắc- Tây Nam, từ cửa Lạch Huyền đến nam của Thái Bình
Trang 12Ngoài khơi, Hải Phòng có nhiều quần đảo lớn nhỏ rải rác trên một vùngbiển rộng nối liền với vùng đảo và quần đảo nổi tiếng Hạ Long- Quảng Ninh,trong đó lớn nhất có đảo Cát Bà, một khối đá vôi đồ sộ, chắc nịch trấn giữ biểnkhơi và xa nhất có đảo Bạch Long Vĩ, một vị trí tiền tiêu, nơi đầu sóng ngọn giótrong vịnh Bắc Bộ, cách thành phố 136 km về phía Tây Bắc [19, tr.7].
Như vậy, vị trí địa lý của Hải Phòng thuận lợi cho hoạt động giao thônggiữa Hải Phòng với các tỉnh thành phố khác của cả nước cũng như với khuvực bên ngoài bằng đường biển, đường bộ và cả đường hàng không Với lợithế về mặt vị trí địa lý, Hải Phòng có điều kiện phát triển về kinh tế, vănhóa.Như trong lĩnh vực văn hóa, Hải Phòng là nơi mà quá trình giao lưu vănhóa diễn ra mạnh mẽ, đặc biệt là việc du nhập văn hóa từ bên ngoài vào.Trong những thành tố văn hóa được du nhập vào Hải Phòng, phải kể đếnthành tố tôn giáo Đối với những tôn giáo du nhập vào Việt Nam thì Phật giáo
là một trong những tôn giáo du nhập khá sớm vào Hải Phòng Trong bài viết
Di sản văn hóa Phật giáo và thiền phái tiêu biểu ở Hải Phòng của Thượng tọaThích Thanh Giác- Trần Phương - tạp chí Khuông Việt- số 23 tháng 8 năm
2013 có viết “Dựa vào sách Giao Châu ký của Lưu Kỳ Hân, sách Thủy Kinhchú của Lê Đạo Nguyên và các sách Lĩnh Nam trích quái, Thuyền uyển tậpanh thời Trần…Lịch sử Phật giáo Việt Nam (Viện Triết học Việt Nam 1988)cho biết đạo Phật được truyền vào Nê Lê (tức Đồ Sơn ngày nay) từ những thế
kỷ III- II TCN Chứng cứ được viện dẫn chính là phế tích chùa Hang (CốcTự- Đồ Sơn- Hải Phòng)” Như vậy, Phật giáo đã tồn tại khá lâu trong đờisống văn hóa của người dân Hải Phòng thông qua cơ sở tôn giáo của nó làhình ảnh những ngôi chùa
1.1.2 Lịch sử hình thành và quá trình tồn tại
Hải Phòng là một trong những vùng đất có lịch sử lâu đời, đồng thờicũng là mảnh đất có nhiều biến cố thăng trầm trong lịch sử Theo kết quả của
Trang 13các nhà khảo cổ học khi nghiên cứu về di chỉ Cái Bèo (Cát Bà- thuộc văn hóa
Hạ Long), di chỉ Tràng Kênh (Thủy Nguyên), Núi Voi (An Lão) chứng tỏvùng đất này là nơi có người Việt cổ sinh sống Theo thư tịch cũ, toàn địa bàn
xứ Đông (Hải Dương) xưa bao gồm cả Hải Phòng ngày nay- thời HùngVương thuộc bộ Dương Tuyền, là một trong 15 bộ của nước Văn Lang thời
kỳ bấy giờ
Dưới thời Bắc thuộc, những năm đầu công nguyên vùng đất Hải Phòngnằm trong quá trình khai phá của nữ tưỡng Lê Chân, thành lập trang An Biênxưa (còn được biết đến là trấn Hải Tần Phòng Thủ)- chính là tiền thân củathành phố Hải Phòng hiện nay
Vào thời kỳ độc lập tự chủ, dưới các triều đại phong kiến Việt Nam,Hải Phòng là một trong những nơi địa thế hiểm trở, là cửa ngõ để vào Đại La-Thăng Long Hải Phòng là nơi ghi dấu những chiến thắng lẫy lừng trên dòngsông Bạch Đằng của Ngô Quyền (938), Lê Hoàn (981), Trần Hưng Đạo(1288) Vào thời kỳ nhà Lê, toàn bộ địa bàn Hải Phòng ngày nay thuộc vàotrấn Hải Dương (một trong tứ trấn) hay còn gọi là xứ Đông, là miền DuyênHải cực đông của xứ này Năm 1527 khi Mạc Đăng Dung lên ngôi, lập ravương triều nhà Mạc với trung tâm quyền lực đặt tại Thăng Long Năm 1529,Mạc Thái Tổ (Mạc Đăng Dung) nhường ngôi cho con trai của mình là MạcĐăng Doanh để lui về quê hương Cổ Trai làm Thái Thượng Hoàng Ông đãcho xây dựng làng Cổ Trai từ một làng chài ven biển thuộc huyện NghiDương, phủ Kinh Môn của trấn Hải Dương khi đó (ngày nay chính là xã NgũĐoan- huyện Kiến Thụy- Hải Phòng) trở thành kinh đô thứ hai của vươngtriều Mạc, tồn tại đồng thời cùng với Thăng Long Cùng với những biến cốthăng trầm trong lịch sử, khi nhà Mạc bị thất thủ ở Thăng Long (1592), nhàMạc đã rút chạy lên Cao Bằng, tất cả những công trình kiến trúc của nhà Mạcxây dựng trong đó có cả Dương Kinh đều bị nhà Lê- Trịnh phá hủy Trong
Trang 14suốt quá trình dài của lịch sử, từ triều đại Lê Trung Hưng (Lê- Trịnh) đến triềuđại nhà Tây Sơn và cuối cùng là triều đại nhà Nguyễn, địa bàn Hải Phòng lúcbấy giờ thuộc địa bàn trấn Hải Dương, rồi đến tỉnh Hải Dương (1831) về sau.
Nằm ở vị trí khá thuận lợi cho hoạt động thông thương bằng đườngbiển, nên dưới triều Nguyễn, Tự Đức đã cho xây dựng một bến cảng bên cửasông Cấm mang tên Ninh Hải và một căn cứ phòng ngự bờ biển ở liền kế bên,gọi là nha Hải Phòng sứ Dưới sự thống trị của triều đại nhà Nguyễn, đất nước
có những bước đi xuống trên nhiều mặt, điều này cũng báo hiệu cho việcchính sách của nhà Nguyễn đã không còn phù hợp với sự phát triển chung củathời đại Chính vì vậy, khi Pháp xâm lược Việt Nam, chính quyền nhà Nguyễntừng bước phải ký các hiệp ước thể hiện sự nhượng bộ đối với Pháp Phápđánh chiếm Bắc Kỳ lần thứ nhất (1873-1874), nhà Nguyễn phải ký hiệp ướcGiáp Tuất, nội dung của bản hiệp ước có phần quy định nhà Nguyễn phải mởcửa thông thương các cảng Ninh Hải (tức Hải Phòng) thuộc tỉnh Hải Dương
và Thị Nại tỉnh Bình Định, đổi lại Pháp sẽ rút lui khỏi Bắc Kỳ Từ cảng NinhHải này nhà Nguyễn cùng với Pháp đã lập nên một cơ quan thuế vụ chungnhằm quản lý việc hoạt động thương mại ở vùng này với tên gọi Hải Dươngthương chính quan phòng Như vậy, từ đây tên gọi Hải Phòng chính thứcđược nhắc đến về mặt địa lý Năm 1887, thực dân Pháp đã tiến hành tách một
số huyện ven biển của tỉnh Hải Dương nằm lân cận ởcảng Ninh Hải ra đểthành lập tỉnh Hải Phòng Ngày 19 tháng 7 năm 1888, tổng thống PhápSadicarnot đã ký sắc lệnh thành lập thành phố Hải Phòng Với sắc lệnh này,thành phố Hải Phòng chính thức có tên trên bản đồ Liên bang Đông Dương
Dưới thời Pháp thuộc cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, Hải Phòng đứngngang hàng với Hà Nội, Sài Gòn, đồng thời được xếp là thành phố cấp I, làhải cảng lớn nhất của xứ Bắc Kỳ lúc bấy giờ Với vị trí lợi thế về giao thông
Trang 15đường biển, Hải Phòng nhanh chóng phát triển và khẳng định vai trò củamình trong tiến trình phát triển lịch sử của dân tộc Hải Phòng đã đóng gópsức lực nhỏ bé của mình cho công cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và
đế quốc Mỹ xâm lược [52]
Cùng với xu hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Hải Phòngkhông ngừng ra sức thi đua để nhanh chóng xây dựng thành phố trở thànhthành phố phát triển năng động của cả nước Với nhiều lần thay đổi về mặthành chính, cho đến nay Hải Phòng bao gồm 7 quận nội thành: quận DươngKinh, quận Đồ Sơn, quận Hải An, quận Kiến An, quận Hồng Bàng, quận NgôQuyền, quận Lê Chân; cùng với 6 huyện ngoại thành và 2 huyện đảo: huyện
An Dương, huyện An Lão, huyện đảo Bạch Long Vĩ, huyện đảo Cát Hải,huyện Kiến Thụy, huyện Tiên Lãng, huyện Vĩnh Bảo, huyện Thủy Nguyên
1.1.3.Đời sống kinh tế
Hải Phòng là một trong những tỉnh thuộc vùng văn hóa châu thổ Bắc
Bộ, đây là một trong những vùng văn hóa theo như nhận định của GS TSNgô Đức Thịnh “Trong các sắc thái phong phú đa dạng của văn hóa ViệtNam, đồng bằng Bắc Bộ là vùng văn hóa độc đáo và đặc sắc” Quá trìnhhình thành vùng đất này, gắn liền với công cuộc khai phá của người dân nơiđây trong việc đối chọi với con sông Hồng Khi đến vùng đất này, người dânđào mương đắp đê hình thành ra những xóm làng sống định cư bằng nghềnông nghiệp là chủ yếu Trong cuốn giáo trình cơ sở văn hóa Việt Nam do
Cố giáo sư Trần Quốc Vượng chủ biên có nhận định “Cư dân vùng văn hóachâu thổ Bắc Bộ là cư dân sống với nghề trồng lúa nước, làm nông nghiệpmột cách thuần túy” Nằm trong sự ảnh hưởng của vùng văn hóa châu thổBắc Bộ, xưa kia Hải Phòng là tỉnh hoạt động nông nghiệp chủ yếu Tuynhiên, cùng với lợi thế về cảng biển, trong những năm qua Hải Phòng còn
Trang 16phát triển cả vềkhai thác, nuôi trồng, đánh bắt thủy hải sản Song cùng vớitiến trình phát triển của lịch sử, với xu hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa,kinh tế Hải Phòng đã có những bước thay đổi đáng kể Từ hoạt đông kinh tếnông nghiêp là chủ yếu bởi 2/3 dân số ở Hải Phòng sống ở nông thôn, vànằm trong ảnh hưởng của vùng văn hóa châu thổ Bắc Bộ Nhưng hiện nay,khi nhìn nhận về bức tranh kinh tế Hải Phòng, chúng ta lại có những nhậnđịnh mới.Từ năm 1990 – 2000, cơ cấu kinh tế đã và đang chuyển dịch tíchcực Tỷ trọng GDP khu vực công nghiệp và xây dựng tăng từ 21,5% lên33,6%; dịch vụ giảm từ 56,4% xuống 48,6% và nông, lâm, ngư nghiệp giảm
từ 22,1% xuống 17,8% Quy mô kinh tế của thành phố đạt ở mức khá lớn,tạo cho Hải Phòng có điểm xuất phát thuận lợi hơn nhiều địa phươngkhác.Tổng GDP của Hải Phòng sơ bộ năm 2008 đạt 43.096.000.000.Tỷtrọng GDP khu vực công nghiệp và xây dựng đạt 16.247.900.000đ chiếm37,70%; dịch vụ tăng từ 48,6% lên 51,80% đạt (hơn 22,3 tỷ đồng); nông,lâm, ngư nghiệp từ 17,8% giảm xuống còn 10,49% đạt (hơn 4,5 tỷđồng).Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đạt 10,23% trong thời kỳ 1996 –
2005, riêng giai đoạn 1996 – 2000 là 9,37%, giai đoạn 2001 – 2005 là11,10% Tăng trưởng bình quân giai đoạn 2001 – 2005 cao hơn 1,5 lần sovới mức tăng chung của cả nước tương đương với mức tăng chung của cácthành phố lớn, cao hơn mức tăng của các tỉnh lân cận[27]
Sự chuyển dich về cơ cấu kinh tế của Hải Phòng nằm trong xu hướngphát triển kinh tế chung của đất nước Hoạt động kinh tế phát triển kéo theođời sống của người dân ngày càng nâng lên Một thực tế đặt ra là khi nhu cầuvật chất được đáp ứng, thì con người lại quan tâm đến đời sống tinh thầntrong đó có nhu cầu cân bằng đời sống tâm linh, đây chính là nguyên nhâncho các hình thức tôn giáo tín ngưỡng được tồn tại và phát triển ở Hải Phòng
Trang 17Hiện nay, nói đến người dân Hải Phòng ta thấy dấu ấn đậm nét của cư dânmiền biển, bởi Hải Phòng có lợi thế về cảng biển Vì vậy, khi nhắc đến HảiPhòng người ta thường nói người Hải Phòng là những con người “ăn sóng nóigió” Nói đến dân cư Hải Phòng, đây là vùng đất hội tụ các luồng dân cư khácnhau Bởi vậy, dân cư Hải Phòng mang nét khác biệt với các vùng khác Giảithích cho sự hội tụ này đó là vào cuối thể kỷ 19 đầu thế kỷ 20 dưới thời kỳ Phápthuộc, Hải Phòng cùng với Sài Gòn đảm nhận vai trò là cửa ngõ kinh tế của LiênBang Đông Dương, bởi lẽ hai thành phố này có những lợi thế về biển Vì thế,vàothời điểm đó ở Hải Phòng tập trung nhiều thành phần dân di cư đến đây sinhsống lập nghiệp Cộng đồng người Việt lúc đó ngoài dân cư địa phương, cònđón nhận nhiều dân di cư tới từ nhiều tỉnh thành của miền Bắc như: Hà Nội- HàTây (cũ), Hải Dương, Nam Định, Ninh Bình, Thái Bình [52].
Như vậy, dân cư của Hải Phòng phần nhiều không phải là cư dân gốc ởđây Chính vì vậy, khi đến lập nghiệp ở vùng đất mới, những người dân họ đãmang theo cả những phong tục, tập quán của địa phương mình trong đó khôngthể thiếu thói quen sinh hoạt tôn giáo tín ngưỡng Đây là một trong nhữngnguyên nhân dẫn đến đời sống tôn giáo tín ngưỡng ở Hải Phòng phong phú.Trong những tôn giáo tồn tại ở đây, Phật giáo là tôn giáo vẫn ảnh hưởng mạnh
mẽ hơn cả đến đời sống của người dân
Trang 181.2.Chùa Vẽ
1.2.1 Lịch sử hình thành và quá trình tồn tại
Di tích là một trong những minh chứng cho sự tồn tại và phát triển vềđời sống văn hóa của cộng đồng dân cư Bởi với sự định cư của con người,con người không chỉ có nhu cầu về mặt vật chất mà còn có nhu cầu về mặttinh thần, trong đời sống văn hóa tinh thần không thể thiếu nhu cầu cân bằngđời sống tâm linh Để phục vụ cho nhu cầu tâm linh, nhiều công trình kiếntrúc tôn giáo, tín ngưỡng được xây dựng, trong những công trình kiến trúc đóphải kể đến hình ảnh những ngôi chùa Trong tiềm thức người dân Việt “đấtvua, chùa làng”, chùa được xem là công trình kiến trúc cộng đồng của nhữngngười dân trong làng, đồng thời nó còn là nơi để người dân cùng tham gia tiếnhành các nghi thức tôn giáo tín ngưỡng
Là một ngôi chùa có lịch sử lâu đời, chùa Vẽ từ lâu trở thành địa chỉ đểngười dân trong và ngoài địa bàn thành phố đến hành hương lễ phật Theo bản
tự của ngôi chùa ghi chép “chùa có tự bao giờ cho đến nay không ai nhớ, chỉbiết rằng năm 938 khi Ngô Quyền chuẩn bị cho cuộc chiến trên dòng sôngBạch Đằng chống quân Nam Hán, ông đã lựa chọn ngôi chùa làm nơi lập đồnbinh chuẩn bị cho thế trận” Như vậy, theo mốc lịch sử này ít nhất là chùa Vẽcũng được xây dựng từ lâu đời Chùa Vẽ xưa kia có tên gọi là Bà Ni Tự, sauđổi thành Hoa Linh Tự thuộc làng Đoạn Xá, huyện An Dương, xứ Hải Dươngxưa kia, nay thuộc phường Đông Hải I, Quận Hải An, thành phố HảiPhòng.Theo truyền ngôn, khởi thủy chùa Vẽ là một thảo am nhỏ bằng tranhtre, nứa, lá thờ Phật của những bà con sống bằng nghề chài lưới, trồng hạtvùng cửa sông Cấm
Lịch sử hình thành và phát triển của chùa Vẽ còn gắn liền với mốc lịch
sử vang dội của dân tộc, đó là chiến thắng trên dòng sông Bạch Đằng năm
Trang 191287-1288 của quân và dân ta thời Trần Tương truyền quá trình chuẩn bị chotrận đánh trên sông Bạch Đằng trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên lầnthứ ba (năm 1288), Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đã trực tiếp chọn chùaĐoạn Xá (tức chùa Vẽ hiện nay) làm mật cứ chỉ đạo các thám binh vẽ địa hìnhvùng cửa sông Bạch Đằng để xây dựng thế trận Với sự giúp đỡ của sư trụ trì
và người dân địa phương, sơ đồ tác chiến trên sông Bạch Đằng chống quânMông Nguyên được hoàn thành, đồng thời nó cũng là nguyên nhân góp phầnvào thắng lợi của quân dân nhà Trần thời đó Sau này Hưng Đạo Vương nhiềulần trở về thăm mảnh đất và con người nới đây, một lần về thăm Đoạn Xá, Ông
đã bỏ tiền bạc giúp dân làng trùng tu, tôn tạo lại ngôi chùa, Ông đã trực tiếpchọn cho ngôi chùa hướng mới và đặt tên chữ cho ngôi chùa là Hoa Linh Tự,còn nhân dân địa phương quen gọi là chùa Vẽ
Với những tư liệu đã nêu ra cho ta thấy, chùa Vẽ thực sự là ngôi chùa
cổ được xây dựng từ lâu đời.Song ngôi cổ tự đó hiện nay không còn nguyênvẹn kiến trúc ban đầu do nhiều nguyên nhân khác nhau, đó là những ảnhhưởng của môi truờng tự nhiên và xã hội Hiện nay, chùa Vẽ được trùng tutôn tạo nhiều lần Căn cứ vào những tấm bia được dựng ở chùa cho ta thấynhững mốc thời gian chùa được trùng tu tôn tạo, như bia “Tu tạo Hoa Linh tựbi” dựng năm Kỷ Sửu, niên hiệu Thành Thái sơ niên cung cấp: “Năm Kỷ Sửuniên hiệu Thành Thái sơ niên, thân hào xã Đoạn Xá, tổng Hạ Đoạn, thấy chùa
đổ nát, họp bàn với sư trụ tri, nội bộ phát động người có hằng tâm giúp việccông ích, mặt ngoài đẩy mạnh việc quyên giáo, chỗ nào hỏng thì sửa chữa,chỗ nào chưa có thì xây dựng cái mới, thế là quả phúccho nhà chùa được viênmãn ” Năm Thành Thái thứ tư tức là vào năm (1902) chùa cũng được tôntạo lại, rồi năm 1916 chùa lại được trùng tu, thông qua tấm bia “Trùng tu HoaLinh tự chi bi” khắc năm 1924 ghi “Ngày mồng 1 tháng 10 năm Giáp Tý niênhiệu Khải Định thứ 9 (1924), xã Đoạn Xá, tổng Hạ Đoạn, huyện An Dương,
Trang 20các hương hào, chức dịch họp cùng với cụ Trần Quảng Trân là sư trụ trì nhàchùa để làm bài ký khắc vào bia như sau:Nguyên địa phương có một thắngcảnh là ngôi chùa có tên Hoa Linh Tự; nơi danh lam cổ kính, khí tốt của nonsông hun đúc thành, nhân dân phụng sự từ triều trước tới nay thực sự đã lâungày, cung trong chùa ngoài gồm 6 gian Mùa hè năm Tân Dậu (1921), nhà sưTrần Quảng Trân về tru trì, đến năm Nhâm Tuất sư trụ trì thấy cách thức xâydựng của chùa cổ theo mẫu mực chật hẹp, hơn nữa trải đã lâu đời, núi sôngđổi sắc, mộng tuột, cột nghiêng, bèn bàn với dân hợp sức xây dựng, mở mangchùa cảnh Nhân đó tạo thành thượng điện, tiền đường, hai bên cung cấm, tất
cả 1 gian đều dùng gỗ lim, ngói tốt; xây dựng nhà sau, đắp đường, đào ào,trồng cây, việc trùng tu hai năm mới hoàn thành Lần tu sửa mới nhất vàonăm 1995 khi nhà chùa có sư trụ trì mới về, cùng với nhân dân địa phương,chùa đã tiến hành trùng tu ngôi chính điện, nhà thờ tổ, sửa sang hệ thốngtượng phật, các đồ thờ tự, xây mới nhà khách, khu giảng đường, nhà traiđường, phòng tăng và toàn bộ hệ thống khuôn viên cảnh quan của ngôi chùa
Hiện nay chùa Vẽ là công trình kiến trúc nghệ thuật có quy mô lớn, tọalạc trong một khuôn viên rộng, thoáng mát Chùa là địa chỉ để các phật tửtrong và ngoài địa bàn thành phố đến hành hương lễ phật
1.2.2 Đặc điểm kiến trúc
1.2.2.1.Không gian cảnh quan
Trong tiềm thức của những cư dân nông nghiệp, yếu tố âm dương hàihòa bao giờ cũng được chú ý Bởi lẽ, âm dương hài hòa thì cây cối mới sinh sôi
và phát triển và con người mới tồn tại Yếu tố này dường như đã ăn sâu vàotrong tiềm thức của người Việt, chúng ảnh hưởng nhiều mặt trong đời sống củangười Việt trong đó phải kể đến tập quán làm nhà Ngươi Việt làm nhà luôntuân theo thuật phong thủy Phong là gió, gió động nên thuộc về dương, thủy là
Trang 21nước, nước tĩnh nên thuộc về âm Như vậy, tuân theo luật phong thủy cũngchính là một phần của việc ảnh hưởng quan niệm âm dương hài hòa Nếu nhưlàm nhà ở người Việt chú ý đến phong thủy thì đến các công trình kiến trúc lớn,nhất là những công trình kiến trúc gắn liền với yếu tố tâm linh thì người Việtcàng thận trọng và chú ý Trong những công trình gắn liền với yếu tố tâm linh,cần phải kể đến công trình kiến trúc Phật giáo đó là ngôi chùa.
Ở mỗi làng quê Việt chúng ta đều bắt gặp hình ảnh những ngôi chùa.Xây dựng chùa được xem là công việc chung và trọng đại của dân làng Côngviệc đầu tiên của việc xây chùa chính là việc chọn đất để xây, việc chọn đấtxây chùa cũng bị chi phối bởi quan niệm phong thủy, bởi họ cho rằng vị trícủa chỗ ở, thế đất có một ảnh hưởng to lớn đối với con người sống trên đó,bên cạnh việc lựa chọn thế đất để xây dựng chùa, người Việt còn chú ý đếnyếu tố dân cư.Trong cuốn chùa Việt có ghi “Lại cũng nên biết cảnh không gầnnhân gian mà cũng không xa nhân gian, vì gần thì ồn ào, xa thì không ai giúp
đỡ cho Cảnh có thể trú là chỗ yên nghiệp, dễ dưỡng thân, nuôi tính, tâm linhsáng suốt, trường dưỡng tánh thai, để được chứng đạo, ấy là cứu cánh” Nhưvậy, việc xây dựng ngôi chùa ngoài thế đất, người Việt còn quan tâm cả yếu tốcon người, cũng như không gian xây dựng công trình kiến trúc đó
Không nằm ngoài những kinh nghiệm của người dân trong việc xâydựng, chùa Vẽ là ngôi chùa được tọa lạc ở khu vực ngoại vi phía Đông cáchtrung tâm thành phố Hải Phòng khoảng 10km Nằm trên đường Đà Nẵng nơidân cư tập trung đông đúc Cửa chính của chùa nhìn ra đường Đà Nẵng,cửaphụ nằm trên trục đường của cảng chùa Vẽ nơi hàng hóa ngày ngày đượcluân chuyển từ nhiều nơi Có lẽ, chính vì sự nổi tiếng của ngôi chùa cho nêntên cảng sầm uất này cũng được lấy tên gọi của ngôi chùa Đi từ xa du kháchnhìn thấy cổng ngoài của ngôi chùa nằm ngay mặt đườngtrục chính.Từ cồngngoài đi thẳng vào con ngõ chính là tam quan chùa,phía bên trong chùa trồng
Trang 22nhiều cây xanh Với vị trí trên, nên dẫu có nằm ở trục đường lớn nhưng cảnhchùa không quá ồn ào bởi phố phường tấp nập Bước qua tam quan,chúng tacảm nhận vềmột không gian tĩnh mịch, yên ả, nhẹ nhàng khi đến với chùa Vẽ.
Nói tới không gian của di tích ngoài đặc điểm về địa thế chúng ta cầnphải chú ý đến hướng xây dựng ngôi chùa Chùa Vẽ xây theo hướng ĐôngNam Giải thích cho việc lựa chọn hướng để xây dựng công trình kiến trúc,trong cuốn Mỹ thuật đình làng Bắc Bộ của tác giả Nguyễn Văn Cương có giảithích các hướng làm, trong đó hướng Đông được lý giải đây là hướng mặt trờimọc (thuộc dương), theo quan niệm của tâm linh, hướng trên chính là nơi ởcủa thần Còn hướng Nam theo quan điểm của nhà Phật, hướng Nam là hướngcủa trí tuệ, trong sáng, bên cạnh đó hướng Nam được người Trung Hoa quanniệm đó là hướng của thánh nhân, của bậc đế vương Còn xét trong điều kiệnkhí hậu của Việt Nam, hướng Nam được xem là hướng tối ưu nhất, phù hợpvới khí hậu nóng ẩm mưa nhiều Với ngôi chùa, đó còn là sự thể hiện các đứcPhật và Bồ Tát quay hướng Nam để nghe lời kêu cứu của chúng sinh trongkiếp đời tục lụy, đặng mà dùng pháp lực vô biên cứu vớt chúng sinh
Từ tam quan đi vào đến sân chùa chúng ta cảm nhận không gian trongchùa như một bức tranh thu nhỏ với sơn thủy hữu tình Phía trước nhà tổ là hònnon bộ, xung quanh bao phủ cây xanh, phía dưới là nước tạo ra thế đăng đối âmdương hài hòa Bên cạnh là vườn “Lâm Tỳ Ni” thu nhỏ, diễn tả lại cảnh đức Phậtkhi sinh ra đời bước bảy bước trên đài sen, tay phải chỉ lên trời, tay trái chỉ dướiđất Vườn “Lâm Tỳ Ni” rợp bóng mát bởi ở dưới là thảm cỏ xanh, cùng với rấtnhiều cây tỏa bóng mát cho khu vườn Khu vườn vừa là nơi nhắc nhở cho phật
tử về sự tích đức Phật ra đời, đồng thời vừa là nơi nghỉ chân hóng mát cho phật
tử và khách thập phương khi đến chùa Từ vườn Lâm Tỳ Ni rẽ phải là đến Phậtđiện, có lẽ do nằm trên địa bàn là phố phường chật hẹp nên diện tích của chùakhông lớn bằng những ngôi chùa làng với không gian thoáng đãng hơn Vì vậy,
Trang 23việc xây dựng, cũng như bố trí giữa kiến trúc với cảnh quan dường như có phần
bị bó hẹp Tận dụng không gian trật hẹp,trước sân nhà Phật điện, nhà chùa xâydựng một vườn thiền với hồ nước nhỏ hình tròn, cùng với nhóm tượng diễn lại
sự tích Đức Phật thuyết pháp cho anh em ông Kiều Trân Như, rồi các đại đệ tửcủa Phật cùng với tượng ngọc Phật Quan Âm
Điểm xuyến cho công trình kiến trúc thêm hài hòa phải kể đến sự gópmặt của cây cỏ Cây cỏ trong di tích được ví như một bộ quần áo để tranghoàng cho di tích, chúng làm cho di tích thêm hài hòa với thiên nhiên vàmang lại cho con người một cảm giác nhẹ nhàng, gần gũi khi bước chân vào.Bên cạnh đó, chúng còn là minh chứng cho vùng đất này là vùng đất tươi tốt,đất thiêng, đất lành của muôn loài Với ngôi chùa sự có mặt của cây cỏ khiếncho Phật tửkhi đến chùa cảm nhận được sự trong lành, nhẹ nhàng, mọi âu locủa thế giới trần tục bỏ lại sau lưng, để con người bước vào thế giới của nhàPhật Phía trước cửa nhà tổ là cây hoa đại, cây đại được trồng ở chùatừ lâu,thường thì cây đại ít khi được trồng phía sau của chùa Cây Đại, người miềnNam gọi là cây sứ, ở Lào người ta gọi là cây Chămpa, nó được xem là câythiêng trong hệ cây “thiên mệnh”, do đó nó được trồng nhiều trong di tích.Trong nhà Phật theo tiếng Phạn cây đại được dịch là Maha có nghĩa là rộngkhắp, bao trùm tất cả, nổi trội hẳn lên, có ở mọi thể, mọi vật, là đức tính và trítuệ của Phật, là sự mầu nhiệm diệu kỳ đồng thời đây là cây có thế đẹp, từcuối mùa xuân đến đầu thu, cây luôn nở hoa hương thơm lan tỏa, dịu dàng.Mùa đông, đại rụng hết lá chỉ còn trơ lại cành giống như những cánh tayhướng lên trời để hút lấy những tinh túy của đất trời tích cóp lại đến mùaxuân, mùa thu chúng lại lan tỏa tinh túy ấy bằng hương thơm dịu nhẹ Câyhoa đại được trồng ở chùa như một biểu tượng cho ý chí và sự vị tha, cứu độcủa nhà Phật đến với mọi chúng sinh Đại luôn tỏa hương thơm giống nhưgiáo lý của nhà Phật luôn cứu vớt chúng sinh Cây đại mỗi năm mỗi lần thay
Trang 24lá, thay hoa, thiêng liêng như cuộc đời luân hồi, hóa kiếp theo quan niệm củanhà Phật.Từ tam quan đi vào nhìn sang phải chúng ta bắt gặp hình ảnh cây Bồ
Đề được trồng trong khu vườn thiền.Cây Bồ Đề thường được trồng nhiều ởchùa nó nhắc nhở cho các phật tử nhớ về sự tích Đức Phật đã tu luyện khổ cựcbốn mươi chín ngày, tái hiện laị sự tích này nhiều chùa trong hệ thống tượngthờ có tượng Thích Ca Tuyết Sơn với thân hình gầy guộc Các cây chủ yếuđược trồng ở vườn Lâm Tỳ Ni, phía trước nhà tổ và khu vườn thiền Bên cạnhhai loại cây được trồng phổ biến ở nhiều chùa thì ở chùa Vẽ còn trồng nhiềuloại cây khác: cây hoa lộc vừng được trồng nhiều ở chùa tạo cho khuôn viênchùa rợp mát bóng cây, hàng cau được trồng xung quanh khu vườn thiền, hìnhảnh cây đa được trồng trước tam quan, cây vạn tuế, cây xanh, hoa dâm bụt
Không gian xanh xen lẫn cùng các công trình kiến trúc khiến cho cảnhchùa Vẽ thêm thoáng mát, xua đi cái trật trội của phố phường tấp nập, để conngười bước chân vào cõi phật tĩnh tâm
1.2.2.2.Bố cục mặt bằng tổng thể
Chùa Vẽ hiện nay không còn kiến trúc ban đầu, bởi nó đã được trùng tutôn tạo nhiều lần Chính vì vậy, mặt bằng tổng thể của ngôi chùa không theoquy thức nhất định như những ngôi chùa cổ khác ở vùng châu thổ Bắc Bộ,đây cũng là vấn đề mà chúng ta bắt gặp ở nhiều ngôi chùa khi được trùng tutôn tạo lại
Toàn bộ khuôn viên của chùa tọa lạc trên một khu đất rộng 9300m2.Từcổng chính nằm trên đường Đà Nẵng đi vào trong ngõ cuối cùng chính làchùa Vẽ Công trình kiến trúc đầu tiên ta bắt gặp là tam quan, qua tam quan
là đến nhà bia, tại đây có nhiều bia nói về quá trình trùng tu tôn tạo chùatheo thời gian Từ nhà bia thẳng đến nhà tổ được xây theo kiểu chồng diênhai mái tạo ra sự uy nghi, đồ sộ cho công trình kiến trúc Lối giữa nhà thờ tổ
Trang 25bên trái là Phật điện theo lối kiến trúc hồi văn (hay còn gọi là tường hồi bítđốc), kết cấu hình chữ đinh, với 5 gian tiền đường, bốn gian hậu cung, kếbên Phật điện là nhà học nó được xem như thư viện nhỏ của chùa Bên phảinhà tổ là nhà khách, nhà ni được xây theo kết cấu trùng thềm điệp ốc, phíasau nhà khách là vườn tháp nơi an nghỉ của các vị sư trụ trì tại chùa, bên tráivườn tháp là hồ nước hình chữ nhật với lầu bát giác bên trong lầu là tượng
Bồ Tát, bên phải vườn tháp lối thông ra là nhà ăn, khu giảng đường nơi cácbạn khóa sinh học tập, trước khu giảng đường là một cái sân nhỏ nhìn ra làkhu vườn trồng cây của chùa
1.2.2.3 Kết cấu kiến trúc
Trong nội dung nghiên cứu luận văn đi sâu vào chương hai và chương
ba, tức là tìm hiểu hoạt động tôn giáo tín ngưỡng, cũng như các hoạt độnghướng đến xã hội của chùa Vẽ Do đó, phần kiến trúc chùa tác giả không đivào miêu tả toàn bộ các công trình kiến trúc, mà chỉ xin trình bày một số hạngmục kiến trúc trong chùa nhằm giúp cho người đọc có cái nhìn toàn diện vềngôi chùa
Tam quan
Tam quan, được xem là ranh giới đầu tiên khi bước vào chùa, nó đượcxem là ranh giới ngăn cách giữa đạo và đời Bước qua tam quan mọi âu lo củacuộc sống dường như tiêu tan, bởi lúc này con nguời đã bước chân vào chốnthiền môn tĩnh tâm Tam quan hiểu đơn thuần tức là ba cửa, nhưng giải thíchtheo quan niệm nhà Phật tam quan bao gồm: không quan, giả quan và trungquan Tam quan là cách nhìn về bản thể, về quy luật của trời đất, về cách ứng
xử của con người để hướng đến sự giải thoát Không quan, theo nhà Phật
“không tức thị sắc”, không quan là cái nhìn về bản thể, về cốt lõi nguyên sơchung của muôn loài, muôn vật Khởi đầu từ cái “không” do duyên giác hợp lại
Trang 26mà thành muôn loài, muôn vật để thấy được quy luật phát sinh, phát triển của
sự vật Giả quan là cái nhìn về sự vận động của tạo hóa (vô thường), là sự biếnđổi của muôn loài, muôn vật, không có sự vật, hiện tượng nào tồn tại vĩnh viễncho nên những cái ta nhìn thấy bây giờ chỉ là giả tạo, chính trong nó đang diễn
ra sự vận động biến đổi để phát triển theo đúng quy luật Trung quan là conđường trí tuệ bao gồm sự hiểu thấu về mọi mặt để đi tới sự giải thoát
Chùa Vẽ hiện nay, không phải là ngôi chùa cổ được xây dựng từ lâu đời,bởi phần nhiều các công trình kiến trúc đã được xây dựng lại Hiện nay, tamquan của ngôi chùa cũng được xây dựng mới, chất liệu chủ yếu là xi măng cốtthép với hai tầng, tám mái, ba cửa Dạng hai tầng, tám mái của Tam quan gợicho ta nhớ đến sự cầu phúc sinh sôi, nảy nở trong tâm thức của người Việt: máitrên nhẹ là dương, mái dưới nặng là âm, âm dương hài hòa thì con người pháttriển Trong Tam quan phần trung quan được tập trung hơn cả, tầng hai củatrung quan là nơi đặt chuông theo kiểu tam quan kiêm luôn gác chuông Haibên không quan và giả quan được xây liền vào tường Phía giữa tầng trên củatrung quan đắp biểu tượng bánh xe luân hồi của nhà phật, hai bên là hàng cộ
có đôi rồng trầu Hàng cột được đắp nổi hình rồng uấn quanh hướng từ dướilên trên, ở tầng hai phần chính giữa là hình lưỡng long trầu nhật Mặt trước cổdiêm đắp nổi hàng chữ Hoa Linh cổ tự, hai hàng cột trụ làm theo hình chữ nhật,phần ngoài là kẻ đường diêm, ở giữa đắp hàng câu đối:
“Hàm giác bối thần đáo cảnh đương sinh hoan hỉ đứcTòng chân xả vọng nhập thiền nghị khởi từ bi tâm”
(Nghĩa là: hiểu được sự giác ngộ, từ bỏ chốn bụi trần nên sinh đức hoan
hỉ, theo điều chân, bỏ điều tà, vào cửa thiền hãy mở rộng từ bi).Phía trên mái
là các đầu đao uốn lượn cong vút, các đầu đao được đắp hình rồng, đầu rồngđược làm theo phong cách triều Nguyễn thế kỷ XIX, với mắt quỷ, miệng leongậm đầu bờ nóc, tai thú, trán lạc đà, mũi sư tử Có thể nói, trung quan là
Trang 27phần được trang trí nhiều hơn chủ yếu là hình rồng, hình hoa sen Hai bênkhông quan và giả quan làm hai tầng thấp, mô típ trang trí chủ yếu là hình hoadây cách điệu.
Tiền đường
Tiền đường gồm có 5 gian với tường hồi bít đốc Mái nhà được lợpbằng hai lớp ngói, trên là ngói mũi hài, phía dưới là lớp ngói lót Bờ nóc đượcđắp hình chữ nhật nằm ngang bằng vôi vữa, trang trí là những dải hoa chanh,
ở giữa bờ nóc đắp tịnh bình, trên tịnh bình đắp hàng chữ nổi Hoa Linh Tự, haibên có hai con phượng Hai đầu bờ nóc là hình ảnh hai con kìm, nó vừa cóchức năng giữ mái, vừa có chức năng trang trí Đầu kìm được đắp bằng vôivữa hình rồng, con rồng với khối mũi lớn, mắt to, miệng rộng, chân rồng bamóng có nhiều vảy đạp tì vào bờ dải, phần đuôi nhiều dải chạy ra phía sauuốn lượn giống như hình bông hoa, trên mình là những mảnh ghép bằng gốm
sứ Hai đầu của bờ nóc là hai đấu tạo bởi nhiều cấp khác nhau, hay còn gọi làđấu “nắm cơm” Bờ dải chạy thẳng xuống, phía trên bờ dải xây các trụvuông,trụ trên cùng trang trí tịnh bình gồm năm chiếc tịnh bình, một chiếc lớnđược đặt giữa, bốn chiếc nhỏ đặt xung quanh đăng đối với nhau Trụ thứ haitrang trí hình tháp, dưới đế là hình hoa sen Trụ thứ ba trang trí bằng hình lưhương được đặt trên đế hình hoa sen, tiếp dưới là hình con lân Từ bờ dảichạy thẳng xuống dưới mái là hai trụ biểu, cột trụ biểu gồm có ba phần: châncột, thân cột, đỉnh cột Trên đỉnh của cột tháp có đắp hình tứ linh (long, ly,quy, phượng) Dưới hình tứ linh là hình vuông trang trí giống lồng đèn
Nền tiền đường được lát bằng gạch đỏ vuông, cửa ra vào được làm theokiểu cửa bức bàn ở ba gian giữa, còn hai gian đầu hồi được xây tường bao, nátgạch đỏ có cửa sổ hình ô vuông
Tiền đường với các hàng cột, trong đó hàng cột cái được làm bằng gỗlim hình tròn Hệ thống vì kèo kết cấu theo lối giá chiêng chồng rường trụ
Trang 28trốn, cốn ván mé, bảy hiên Trên cùng là thanh Thượng lương được đặt lêntrên chiếc đấu, đấu này nằm trên một chiếc rường, tì lên trên hai đấu hai trụtrốn, hai trụ trồn được đặt trên quá giang Quá giang là một thân gỗ lớn, mỗiđầu của quá giang ăn mộng suốt qua thân với cột cái Các đầu dư trang tríhình rồng cách điệu.
Xà nách là một thanh gỗ, một đầu ăn mộng vào cột cái, còn một đầugối lên cột quân, riêng ở xà gian giữa được trang trí tập trung với nhiều hìnhhoa văn cách điệu, trên xà nách là những bộ vì làm theo kiểu chồng rường tạothành các bức cốn Các cốn này là những thanh gỗ xếp chồng lên nhau thôngqua những đấu vuông ngăn cách, một đầu của thanh rường ăn mộng vào cộtcái, đầu còn lại đỡ hoành mái
Bảy hiên ăn thông qua cột quân, đầu phía ngoài tác dụng gánh máinặng đè xuống, phần trong đội xà nách tạo ra thế cân bằng Bên ngoài cột hiênđược làm bằng chất liệu đá hình vuông để đỡ lấy kẻ hiên và bờ hiên Bờ hiênvới hai diềm mái tạc hình lá đề
Thượng điện
Có kết cấu hình chữ đinh với bốn gian thượng điện bao gồm hai hàngcột cái, hai hàng cột quân, năm bộ vì nóc theo thể thức giá chiêng Ở hai hàngcột cái trên đỉnh cột là chiếc câu đầu tì lên thông qua một chiếc đấu vuông,trên lưng của câu đầu đội hai trụ trốn, hai trụ này đội hai đầu của một rườnggọi là rường con cung hay bụng lợn Lồng giữa hai trụ trốn là ván lá đề.Hoành nóc tì lên rường bụng lợn, từ hoành nócđến đầu cột cái có nhiều hoànhkhác kê lên đầu của rường Nối giữa cột cái với cột quân là các cốn Các cốnnày được đặt theo kiểu chồng rường với các xà ngắn ăn mộng vào cột cáitrong tư thế chồng lên nhau, càng lên cao thì các xà ngắn hơn tạo thành hìnhtam giác vuông theo độ dốc của mái Kết thúc bộ vì là các bảy ăn mộng vàođầu cột quân Riêng ở thượng điện các đầu dư trang trí chủ yếu là hình đầu
Trang 29rồng Mái của thượng điện bao gồm hai mái trước và sau, lợp ngói mũi hàidưới là hàng ngói lót, đầu hồi bít đốc Với lối kiến trúc này nó khiến cho việcbài trí tượng dễ dàng hơn, bởi diện tích rộng nhưng lại không tạo ra sư uynghi như kiến trúc bên nhà tổ chồng diên hai tầng tám mái.
Hai bên thượng điện là hai gian chè nhỏ, nó được làm giống như hìnhchiếc tủ chè Gian bên phải là ban thờ mẫu, bên trái là ban thờ đức ông, đứcthánh Trần Hưng Đạo và tượng Ngô Quyền
Thượng điện được xây dựng trên nền cao, rộng nên việc bài trí tượngthờ dễ dàng phô được vẻ đẹp của các bức tượng
1.2.3 Điêu khắc
1.2.3.1.Điêu khắc trang trí
Với bàn tay tài hoa của những nghệ nhân những vật vô tri như: gỗ, đátrở thành những vật có hồn, chúng khiến cho những kết cấu kiến trúc khôcứng cũng trở nên mềm mại và uyển chuyển hơn Chùa Vẽ không phải là ngôichùa cổ kính, bởi cùng với thời gian ngôi chùa đã được trùng tu và tôn tạonhiều lần và đến nay mô típ xây dựng của chùa mang phong cách kiến trúctriều Nguyễn thế kỷ XIX Nhắc đến trang trí thì các mảng trang trí, các chủ đềtrang trí tập trung chủ yếu ở tiền đường và thượng điện Nhìn chung đề tàitrang trí của chùa là các mô típ chúng ta bắt gặp ở nhiều ngôi chùa Việt kháckhu vực phía Bắc, đó là chủ đề cây cỏ, tứ linh
Trang trí trên tiền đường
Tiền đường của Chùa Vẽ được trang trí chủ yếu trên các xà nách, đầu
dư, các rường, Đề tài được chạm khắc nhiều nhất vẫn là hình tượng con rồng,hình hoa lá cách điệu rồng Hình tượng rồng trang trí mang phong cách mỹthuật triều Nguyễn thế kỷXIX Nhắc đến con Rồng, trong tiềm thức của ngườiViệt đây thật sự không phải là con vật có thật, mà nó tồn tại bằng trí tưởng
Trang 30tượng của con người Trong dân gian, con rồng là biểu tượng cho mưa Vớingười dân nông nghiệp, nước là yếu tố không thể thiếu bởi không có nước câycối không thể sinh sôi và phát triển Còn trong truyền thuyết, khi nói về cộinguồn của dân tộc, chúng ta tự hào mình là Con Lạc Cháu Hồng, con rồng tiên.
Có thể nói, con rồng đã đi sâu vào trong tiền thức của người dân Việt và cảtrong nghệ thuật tạo hình, nó có mặt ở hầu khắp các công trình kiến trúc củangười Việt, nó được sinh ra ở vùng Trung Cận Đông, khởi thủy là con rắn Mutxhutx- con rắn bóng loáng, biểu hiện cho sự thiêng liêng Con rắn này đi về phíaTây thì biến thành con rồng lửa- biểu hiện cho cái ác, về phía Đông nhập thânvới con rắn thiêng của địa phương để trở thành loại rồng có sức mạnh vô biênmang nhiều điều tốt lành Ở Việt Nam rồng được khắc họa với những nét khácnhau trong từng giai đoạn lịch sử, còn rồng được chạm khắc ở chùa Vẽ mangphong cách rồng nhà Nguyễn thế kỷ XIX Ở thời kỳ này, nghệ nhân khôngđược tự do sáng tác theo phong cách riêng của mình mà phải theo khuôn khổchung của nhà nước Do đó, hình tượng con rồng được tạo tác cũng theo quycách mà triều đình đặt ra Đặc điểm rồng thời Nguyễn là mặt hung dữ như rồngTrung Quốc, rồng không còn trang trí riêng lẻ nữa mà thường đi với phượng,rùa và long mã để hợp thành bộ tứ linh Rồng mũi to, mắt lồi, ở sau hai mắt cóhai đao như râu cá trê chạy vòng ra sau Trên đầu có nhiều gai sắc nhọn, cónăm đuôi tóc bay ngược ra sau Thân mập mạp, vảy lớn, động tác của chân nhưđang bò, chân cao, nổi rõ bốn móng như móng chim, vây lưng lớn Rồng đượcchạm khắc ở chùa Vẽ chủ yếu là chạm nổi trên các đầu dư, trên các xà nhất làgian giữa, còn hai bên trang trí hoa văn cách điệu
Phượng
Phượng cũng được xếp vào hàng tứ linh, theo quan niệm của người
Á Đông trong số 360 loài chim thì phượng được coi là chúa tể của cácloài chim Xét về tạo tác chúng ta thường thấy phượng được thể hiện với
Trang 31thân hình quyến rũ, nó kết tinh được vẻ đẹp, sự mềm mại, thanh lịch vàduyên dáng của tất cả các loài chim Phượng còn được mô tả với nhữngđặc điểm: mỏ vẹt, tóc trĩ, mắt giọt lệ, cổ rắn, vẩy cá chép, đuôi công, cánhbồcâu, chân đà điểu, móng chim ưng Phượng có chín phẩm chất là: màusắc (ưa nhìn), mào (sự ngay thẳng), lưỡi (thật thà), giọng (lời ca), tai (âmnhạc), trái tim (quy pháp), ngực (chứa báu vật của văn học), cựa (chống
kẻ phạm pháp) Đầu phượng đội công lý và đức hạnh, mắt là mặt trăng,lưng cõng bầu trời, đuôi là tinh tú, cánh là gió, lông là cây cỏ, chân là mặtđất [5, tr.158,159].Phượng thường cất tiếng hót du dương, tiếng hót lànăm nốt nhạc, khi thiên hạ thái bính thì tiếng hót của chim phượng giốngnhư tiếng chuông chùa.Việc miêu tả chung về Phượng cho ta thấy nhiềuđiểm tương đồng về con vật này cũng giống như đạo phật Do vậy, hìnhảnh về Phượng chúng ta thường bắt gặp nhiều ở trong chùa Ở chùa Vẽ,phượng được thể hiện trong tư thế đang bay sải cánh, hai cánh tay dangrộng để lộ những chiếc lông, phía trên đầu là bờm tóc chải về phía sau,mắt được tạo tác giống như những giọt lệ, chân giống chân cò dài và nhỏ.Bên cạnh đó, Phượng còn được cách điệu bởi bàn tay của nghệ nhân vớihình hài mới, đầu là hình con phượng nhưng mình được cách điệu là hìnhcây cỏ hoa văn Hình ảnh con phượng được trang trí chủ yếu ở cửa võngtrong tư thế đôi cánh dang rộng, mỏ chìa, sau là bờm lửa, ức nở, cổ caođang hướng về phía trước
Long mã
Long mã là hiện thân của con Lân, nói đến con Lân trong nhà Phật
nó là hiện thân của bát nhã tức là trí tuệ minh triết, thiêng liêng, trong sáng,đẹp đầy chất huyền linh Nó cũng là hiện thân của sức mạnh tầng trên, là sựhội tụ của dòng siêu lực tiềm ẩn, là hiện thân của sự vận động và tĩnh tịch[5,tr.162].Con lân lại được hóa thân thành con long mã Long mã xuất hiện
Trang 32ở nước ta trên kiến trúc và đồ thờ từ thế kỷ XVI, phát triển vào thế kỷ XVII
và phổ biến vào thế kỷ XVIII, XIX Long mã là một linh vật vốn gốc từTrung Hoa Về tạo tác con long mã có đầu như đầu rồng với các chi tiếtmắt quỷ, miệng lang, sừng nai, tai thú, trán lạc đà, cổ rắn, thân thú, chânhươu, móng ngựa, đuôi bò Ở chùa Vẽ con long mã trong tư thế cuộn trònđang vờn quả cầu lửa
Hoa văn cây cỏ
Ở tiền đường, hoa văn cây cỏ chủ yếu trang trí ở các xà hai bên, vớihình hoa văn cách điệu thành những dải mây, đặc biệt là những hồi văn hìnhchữ S trong tư thế úp xuống, ở các viền, các cạnh của chữ S được trang trí vớinhững tua dây leo, dải mây đơn Nhìn chung dải dây này chỉ cách điệu uốnlượn đơn giản chứ không cầu kỳ đi vào những tiểu tiết nhỏ
Trang trí trên Thượng Điện
Đề tài trang trí trên thượng điện được tập trung nhiều hơn so các đơnnguyên kiến trúc khác ở trong chùa Trang trí chủ yếu trên các xà, cốn, cộttrốn và ở các bức cửa võng
Hình tượng con rồng trang trí ở thượng điện mang phong cách rồngtriều Nguyễn thế kỷ XIX Đó là hình đầu rồng trêncác đầu dư, và hình tượngquần long ở các bức cửa võng trên kiến trúc của phật điện
Ở gian thứ nhất của tòa Đại Hùng Bảo Điện có một khám nhỏ, trongkhám có nhiều nhóm tượng, có nhóm tượng diễn tả lại cảnh thầy trò ĐườngTăng đi Tây Trúc thỉnh kinh Tượng Phạm Thiên, Đế Thích, tượng Bồ Tát.Tượng được tạc dưới dạng tượng tròn, được bố trí cân xứng hài hòa với nhau,với lối chạm lộng nó làm cho bức khám có chiều sâu chia thành các tầng, cáclớp Bao phía ngoài khám là hình bức cuốn thư ở giữa, còn hai bên khámlàhai ô hình tròn Ô giữa bức cuốn thư là đường diềm,phía trên trang trí hình
Trang 33hoa sen chính giữa, hai bên là hai con chim Phượng trong tư thế đôi cánhdang rộng, đầu ngẩng cao, quay về hai hướng Xen giữa bức cuốn thư là hìnhcây trúc được chạm lộng để lối với hai ô nhỏ tạo sự cân xứng hai bên Phíadưới của bức khám được trang trí chùm nho dưới dạng dây leo và hình nhữngbông cúc mãn khai Tất cả đều được sơn son thếp vàng Khám trang trí nàyđược làm theo mô típ khám trang trí trên phật điện của chùa Dư Hàng.
Ở bức cửa võng thứ hai trang trí hình quần long, bảy con rồng đang uốnlượn với nhau Bức cửa võng thứ ba là hình lưỡng long chầu nhật Hàng cuốicùng là hình hoa dây Các bức cửa võng hai bên Thượng điện chủ yếu là hìnhhoa lá cách điệu như hoa sen, chùm nho, hoa cúc, hoa sen, hình ảnh chú chuột
Đề tài lá đề
Lá đề: hình ảnh cây bồ đề gắn liền với quá trình tu khổ hạnh của ĐứcPhật Cây Bồ Đề, lá bồ đề là đề tài quen thuộc được các chùa sử dụng trongphần trang trí, đồng thời nó mang ý nhĩa triết lý sâu xa, là sự quy y phật pháp,
sự giác ngộ Lá đề trang trí trên thượng điện mang tính cách điệu, bên trong lá
đề như các quầng lửa đang bốc lên
Hình tượng hoa sen
Sen thường được trang trí nhiều ở các công trình kiến trúc dưới nhiềuhình thức khác nhau Với người Ai Cập, hoa sen biểu hiện cho dương khí tứcmặt trời, nhưng ở Nam Á và phương Đông thì hoa sen chứa nhiều yếu tố âm
là bóng dáng của phái đẹp Trong đạo Phật hoa sen gắn liền với triết lý nhânquả, nhắc nhở con người nhân nào thì quả đấy, do đó nó giúp con người tránhlàm những điều ác Sen còn biểu thị cho sự thanh cao “gần bùn mà chẳng hôitanh mùi bùn” Lá sen tượng trưng cho muôn đường phật pháp, nhưng cuốicùng chảy về một gốc là sự giải thoát [5, tr.206,208].Ở chùa Vẽ sen đượctrang trí nhiều trên các bức cửa võng, ở các đầu cột
Trang 341.2.3.2.Điêu khắctượng thờ
Cùng với thời gian, những pho tượng cổ của chùa Vẽ hiện nay khôngcòn nhiều ngoài sáu pho tượng hậu đã được sơn lại Hệ thống tượng trênthượng điện hầu hết được làm mới với quá trình trùng tu tôn tạo của ngôichùa, nhất là trong lần trùng tu năm 1995 Hệ thống tượng thờ ở chùa Vẽ kháphong phú, tuy nhiên trong khuôn khổ của luận văn người tác giả đi vào miêu
tả khái quát hệ thống tượng thờ trên tòa Tam Bảo trong phật điện
Tượng Tam thế
Hàng trên cùng là tượng “Tam thế” hay còn gọi là “Tam thế thường trụdiệu pháp thân” bao gồm: Quá khứ thế (hay còn gọi là Trang Nghiêm Kiếp);Hiện tại thế (Hiền kiếp); Vị lai thế (Tinh tú kiếp) Ba pho tượng này được thểhiện trong tư thế ngồi trên đài sen ba lớp cách ngửa, tay đặt trên lòng đùitrong thế ấn nhập định, tóc xoắn ốc, tượng mặc áo cà sa phủ kín đến chân,ngực để lộ yếmthanh y, khuôn mặt được tạo tác bầu bĩnh, mắt khép hờ hơinhìn xuống, thần thái toát lên vẻ từ bi
Bộ tượng Di đà Tam Tôn
Hàng thứ hai từ trên xuống là bộ tượng Di Đà Tam Tôn gồm: A Di Đàngồi giữa, hai bên là Đại Thế Chí Bồ Tát và Quan Thế Âm Bồ Tát Tronghàng thứ hai, tượng A Di Đà được làm cao hơn hai pho tượng còn lại Tượngđược thể hiện ngồi trong tư thế nhập thiền trên đài sen, đầu tóc kết theo kiểu
“Bụt ốc”, trên đỉnh đầu có tướng vô kiến, đôi mắt kép hờ nhìn xuống dưới,mũi lớn, miệng cười, cổ cao ba ngấn, hai tai to dài đến gần vai, giữa ngực cóchữ vạn tượng trưng cho “pháp lượng vô biên” Hai pho tượng Đại Thế Chí
Bồ Tát và Quan Thế Âm Bồ Tát cũng được tạo tác giống như vậy có điều haipho tượng trên không được ngồi trên đài sen, mà trong tư thế đứng
Trang 35Tượng Thích Ca, Văn Thù, Phổ Hiền Bồ tát
Hàng thứ ba bao gồm: Thích Ca Mầu Ni phật ngồi giữa, hai bên là VănThù và Phổ Hiền Tượng Thích Ca được thể hiện trong tư thế ngồi thuyếtpháp trên đài sen, để lộ bàn chân phải Tượng mặc áo cà sa, để hở vai bênphải, tay trái đặt trên đùi, lòng bàn tay ngửa, tay phải giơ ngang vai, lòng bàntay hướng ra ngoài, cánh tay để trần, hai ngón giữa co lại, bàn tay khum lại.Đứng chầu về phía bên trái là Văn Thù Bồ tát giúp về phần trí tuệ, ngài ngồitrên lưng con sư tử màu xanh, đầu đội mũ phật tay phải cầm giống hình lưỡicâu, tay trái đặt trên đùi trong tư thế ngửa, tượng mặc áo rủ xuống phía dưới.Đứng chầu bên phải Thích Ca là Phổ Hiền Bồ tát, giúp về phần sự lý, ngàicưỡi trên một con voi trắng Đầu đội mũ phật, sắc da mặt màu trắng, tay tráiđặt trên đùi trong tư thế ngửa, tay phải cầm hoa sen Áo mặc được tạc dàibuông xuống dưới chân
Tượng Cửu Long (Thích Ca Sơ Sinh)
Tượng là hình tiểu nhi với tư thế một tay chỉ lên trời, một tay chỉ xuốngđất Phía trên có chín con rồng vây trên đầu và sau lưng, trên là hình nhữngđám mây có hình chư phật, chư thiên, thiên nữ, nhã nhạc, phướn, bát bộ KimCương Hình tượng này minh họa cho cảnh khi Đức Phật ra đời có chín conrồng xuống phun nước cho ngài tắm Tắm xong, ngài tự đi bảy bước về phíatrước, một tay chỉ lên trời, một tay chỉ dưới đất và nói: “Thiên thượng, địa hạ,duy ngã độc tôn” Ở phía dưới tòa Cửu Long này lại có thêm pho tượng Thích
Ca sơ sinh đứng một mình Đây là tượng do các Phật tử cúng tiến nên đượcđặt luôn trên phật điện Tượng được tạc với khuôn mặt bầu bĩnh, mắt một mí
Tượng Thích Ca nhập niết bàn
Hàng cuối cùng từ trên xuống là tượng Thích Ca nhập Niết Bàn.Thường thì nhiều chùa đặt pho tượng này ở hàng cuối cùng nhưng ở chùa Vẽ
Trang 36tượng Thích Ca nhập Niết Bàn được đặt trên cùng Tượng được thể hiện vớiphong thái khoan thai, khuôn mặt hiền từ Tượng tạc trong tư thế nằmnghiêng, một tay gối đầu, một tay đặt xuôi xuống chân Tượng mặc áo để lộtay, bên trong để lộ thanh y Tượng toát lên vẻ thư thái, bình thản để bước vàocõi Niết Bàn, đến với miền Tây Phương cực lạc nơi đó không có khổ đau, conngười được hưởng hạnh phúc.
Như vậy, hệ thống tượng thờ trên tòa tam bảo của chùa Vẽ cũng đượcsắp đặt và bố trí giống như bao nhiêu ngôi chùa Đại thừa khu vực phía bắc.Tuy không phải là những pho tượng cổ có từ thời kỳ xa xưa, nhưng sự hiệndiện của hệ thống tượng thờ trên thể hiện bàn tay tài hoa của người nghệ nhâncùng với sự sắp đặt hợp lý, cân đối, hài hòa đã giúp cho việc phô diễn toàn bộđường nét hài hòa của các pho tượng nói riêng và tổng thể tượng nói chung.Tuy nhiên, tượng trên Phật điện của chùa Vẽ chủ yếu là tượng mới được tạotác,chứ không phải là pho tượng cổ có từ lâu đời
Trong khuôn khổ của luận văn tác giả không đi miêu tả chi tiết toàn bộ
hệ thống tượng thờ trong chùa Vẽ, mà chỉ đi miêu tả hệ thống tượng trên tòaTam Bảo Đến với chùa Vẽ chúng ta còn bắt gặp tượng Hộ pháp đặt tại tiềnđường, tượng Đức Ông, tượng Ngô Quyền và Trần Hưng Đạo cùng với hệthống tượng Mẫu đặt bên gian trái của tòa tiền đường cũng như hệ thốngtượng các vị Tổ bên gian thờ tổ, nhóm tượng Hậu được xem là nhóm tượng cổcủa chùa được đặt tại gian nhà hậu đã được sơn lại
Trang 37Tiểu kết chương 1
Chùa Vẽ là ngôi chùa nằm trên địa bàn của phường Đông Hải- quậnHải An-thành phố Hải Phòng Nhắc đến Hải Phòng đây là thành phốCảngphát triển năng động của cả nước, với những lợi thế về biển đã tạo điều kiệncho Hải Phòng phát triển kinh tế, giao lưu văn hóa với các tỉnh thành phốtrong và ngoài nước.Theo dòng chảy của lịch sử, Hải Phòng còn là nơi sớm
có con người đến đây sinh sống bằng chứng là di chỉ Cái Bèo, Tràng Kênh,Núi Voi Hải Phòng là nơi có nhiều luồng dân cư khác nhau đến đây khaihoang, phát triển Quá trình cộng cư của những luồng dân cư đã khiến chobức tranh văn hóa Hải Phòng thêm phong phú và đa dạng, trong đó cần phải
kể đến bức tranh văn hóa tôn giáo tín ngưỡng Trong những tôn giáo hiện có ởHải Phòng thì Phật giáo vẫn là tôn giáo ảnh hưởng nhiều đến đời sống củangười dân đất Cảng
Là một ngôi chùa nằm ở ngoại vi thành phố, gần với cảng biển, chùa Vẽ
là hiện thân cho những mốc lịch sử vang dội của đất nước, đó là những trậnchiến thắng trên dòng sông Bạch Đằng năm 938 và năm 1228 Từ một ngôichùa nhỏ nằm giữa cảng biển mênh mông được ít người biết đến, đến nay chùa
Vẽ đã là ngôi chùa có kiến trúc bề thế, quy mô bao gồm nhiều hạng mục côngtrình: năm gian tiền đường, bốn gian thượng điện, năm gian nhà tổ, nhà học,nhà khách, khu giảng đường, hệ thống các tháp, lầu quan Âm Chùa Vẽ hiệnnay được làm theo phong cách kiến trúc triều Nguyễn thế kỷ XIX Tuy nhiên,cùng với quá trình trùng tu tôn tạo, quy mô kết cấu của chùa hiện nay vẫn cònnhiều bất cập, thực tế trên thuộc về trách nhiệm của nhà quản lý văn hóa, ngườitrụ trì khi xây dựng lại chùa đã không có một quy hoạch tổng thể và hợp lý.Song cùng với sự rộng rãi và khang trang, ngôi chùa trở thành nơi sinh hoạt tôngiáo tín ngưỡng của người dân trong và ngoài địa bàn thành phố
Trang 38Chương 2 CHÙA VẼ VỚI CÁC NGHI LỄ PHẬT GIÁO, TÍN NGƯỠNG
2.1 Các nghi lễ Phật giáo diễn ra tại chùa
Mỗi một tôn giáo bên cạnh những giáo lý, tổ chức, tín đồ… thì còn baogồm cả những nghi lễ nhất định Do đó, tìm hiểu về một tôn giáo chúng takhông thể bỏ qua việc tìm hiểu nghi lễ của tôn giáo đó, bởi mỗi một tôn giáo
sẽ có những nghi lễ mang tính riêng Nghi lễ, cũng là đối tượng cho nhiều nhànhân học tôn giáo quan tâm tìm hiểu, bởi việc tìm hiểu nghi lễ còn cho ta thấycon người thể hiện cuộc sống tôn giáo của mình, không những vậy nghi lễ còn
là những nghi thức được tiến hành theo những quy tắc, luật tục nhất địnhmang tính biểu trưng, để kỷ niệm, cảm tạ, tôn vinh về một sự kiện, nhân vậtnào đó, bên cạnh đó nó còn thể hiện ước nguyện nhận được những điều maymắn, tốt lành và sự giúp đỡ từ một đối tượng siêu hình nào đó nằm trong sựtưởng tượng của con người Nghi lễ còn là những sinh hoạt mang tính tínngưỡng thờ phụng của một tôn giáo, nghi lễ có tác dụng rất lớn đối với tôngiáo nó làm tăng yếu tố thần bí và tâm linh trong mỗi một tôn giáo
Cũng giống bao tôn giáo khác, nghi lễ trong phật giáo là yếu tố khôngthể thiếu trong quá trình tồn tại của tôn giáo này Trong bài viết “Công tácnghi lễ của giáo hội phật giáo Việt Nam”, tạp chí nghiên cứu tôn giáo, tác giảNguyễn Tấn Đạt đã nhận định:“Nghi lễ có vai trò đặc biệt quan trọng nhằmduy trì niềm tin của Phật tử đối với Phật giáo, với Thích Ca Mầu Ni, cũng nhưnhằm thống nhất Phật tử thành một khối trong niềm tin thiêng liêng” Nhưvậy, việc tìm hiểu những nghi lễ Phật giáo là rất quan trọng, bởi nó không chỉcho chúng ta hiểu sâu về những nghi thức tâm linh của tôn giáo đó, mà nó còncho ta thấy bức tranh sinh hoạt văn hóa tinh thần của người dân gắn liền với
Trang 39tôn giáo thông qua các cơ sở tôn giáo của nó là hình ảnh những ngôi chùa.Chính vì vậy, trong luận văn này để hiểu về các hoạt động tôn giáo tín ngưỡngdiễn ra tại chùa Vẽ, tác giả tập trung nghiên cứu những nghi lễ phật giáo, cũngnhư những nghi lễ đã được dân gian hóa của người dân gắn với ngôi chùa.
2.2.1 Lễ Thượng Nguyên (ngày Rằm tháng Giêng)
Lễ Thượng Nguyên (Rằm tháng Giêng) là ngày trăng tròn đầu tiên củamột năm mới, đây cũng được xem là một ngày đại lễ đầu năm Tên gọi củangày lễ này theo tiếng Phạn là Maghapuja có nghĩa là ngày Rằm thángMagha- tương đương với tháng Giêng theo Âm lịch, còn trong dân gian người
ta gọi ngày này là Thượng Nguyên tức là tết hướng thiên cầu phúc
Mỗi một ngày lễ trong nhà Phật thường mang theo một ý nghĩa nhấtđịnh, do đó ngày lễ Thượng Nguyên này theo quan niệm truyền thống Phậtgiáo mang ý nghĩa:Thứ nhất, ngày này chính là ngày kỷ niệm đức Phật thuyếtkinh Giải Thoát Giáo tại Thánh Hội Tăng Già, vì đây là bài kinh mang tính côđọng nhất về giáo pháp của chư phật, căn bản của đời sống tu tập và tôn chỉhoằng pháp; thứ hai nó đánh dấu ngày đức Phật công bố giáo Pháp đã đượcthiết lập vững vàng và Ngài sẽ viên tịch trong ba tháng nữa Vì vậy, ngày nàycũng được xem là cột mốc hoàn tất ngôi nhà giáo pháp của đức Phật.Theoquan niệm dân gian người ta thường nhắn nhủ nhau rằng: “Lễ Phậtquanh năm không bằng ngày Rằm tháng Giêng” Xuất phát từ quan điểm dângian cho rằng ngày Rằm tháng Giêng là ngày linh thiêng đầu năm, ngày màđức Phật sẽ giáng lâm tại các chùa Do đó, trong ngày này người dân đến chùarất đông, bên cạnh những mâm cúng gia tiên được chuẩn bị ở nhà, khi đếnchùa người ta còn chuẩn bị những mâm cúng Phật, đó là những đồ chay nhằmbày tỏ tấm lòng của mình đến với đức Phật và cầu mong đức Phật phù hộ chogia đình một năm sức khỏe, hạnh phúc, bình an
Trang 40Chùa Vẽ từ trong tết không khí chùa đã tấp nập bởi người dân sinhsống quanh khu vực chùa như: quận Hải An, Ngô Quyền, Lê Chân và khách
thập phương đến lễ Phật Theo như ni sư trụ trì cho biết: “Càng ngày phật tử
và khách thập phương đến chùa tham gia vào các nghi lễ nói chung và nghi
lễ Thượng Nguyên nói riêng càng đông ví như: năm 2013 là gần 200 người thì đến năm nay là gần 300 người”.Đầu năm là dịp con người có thời gian
rảnh rỗi nên họ thường đi chơi xuân và địa điểm được người dân lựa chọnnhiều chính là việc đi chùa lễ phật Đối với người dân, đi chùa đầu năm đã trởthành thói quen đối với họ Đầu năm đi chùa người dân thường cầu sức khỏe,bình an cho gia đình Do đó, lễ Rằm tháng Giêng tổ chức tại chùa Vẽ đượcđông đảo các phật tử, khách thập phương đến tham dự Đối với những ngườidân sinh sống gần khu vực chùa tuy không thực hiện lễ quy y nhưng họ vẫnđến tham dự và thường đến trước ngày lễ nhờ nhà chùa viết sớđể làm lễ cầu
an cho gia đình Còn đối với các Phật tử tu tại chùa thì đó là điều hiển nhiên.Thầy trụ trì giao việc viết sớ và tập hợp các gia đình làm lễ ngày hôm đó cho
ni sư Thích Giới Định phụ trách, các phật tử và tăng ni trong chùa chuẩn bị đồ
lễ cho ngày hôm sau Đồ lễ chủ yếu làđồ chay tịnh, hương đăng, hoa quả,bánh, oản, xôi Nhà chùa cũng hướng các phật tử đến chùa không nên đốtnhiều vàng mã Vì vậy, trong các ngày lễ tổ chức ở chùa, nhà chùa cũng giảmthiểu việc đốt vàng mã Riêng phần lễ hoa quả, bánh phẩm, oản xôi trongngày lễ Thượng Nguyên chùa chuẩn bị nhiều hơn, bởi sau khi làm lễ xong nhàchùa phát lộc cho mọi người mang về nhà lấy may mắn cho cả năm
Vào buổi sáng mọi người tập trung trên Phật điện để làm lễ từ 7h30đến 11h, lễ thức gồm có:lễ dâng hương, pháp thoại của thầy trụ trì, cúngphật, niệm phật Lễ dâng hương được các bạn khóa sinh tu tại chùa Vẽ thựchiện dưới sự hướng dẫn của thầy trụ trì Sau phần lễ dâng hương là phápthoại của ni sư Thích Tâm Chính tức thầy trụ trì Nội dung pháp thoại chủ