1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

skkn một vài biện pháp bồi dưỡng học sinh giỏi ngữ văn THCS

19 288 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 143 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

* Những ưu, khuyết điểm của giải pháp đã – đang được áp dụng tại cơ quan, đơn vị:- Công tác bồi dưỡng học sinh giỏi Ngữ văn THCS nói chung và công tác này ở tại trường của bản thân tôi n

Trang 1

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

MÔ TẢ SÁNG KIẾN

Mã số:

1 Tên sáng kiến: Một vài biện pháp bồi dưỡng Học sinh giỏi Ngữ văn THCS

2 Lĩnh vực: Giáo dục

3 Mô tả bản chất của sáng kiến

3.1 Tình trạng giải pháp đã biết:

- Xuất phát từ yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học ở tất cả các môn học nhằm thực hiện mục tiêu đổi mới giáo dục toàn diện

- Thực hiện theo Quyết định của PGD&ĐT về việc tham gia cuộc thi: “Học sinh giỏi”

HS Văn hay chữ tốt

- Thực hiện theo kế hoạch hoạt động mỗi năm học của trường về việc bồi dưỡng học sinh giỏi các môn Trong đó có môn Ngữ văn ( học sinh giỏi văn - học sinh “ Văn hay chữ tốt” để dự thi cấp trường và chọn ra đội tuyển bồi dưỡng dự thi cấp huyện, tỉnh hàng năm đạt kết quả

- Đầu mỗi năm học, Ban giám hiệu trường tổ chức cho GV bộ môn tự lựa chọn HS vào đội tuyển trong số HS mình dạy dựa vào kết quả học tập (HS giỏi NV ở HS các lớp 6, 7, 8) Riêng

HS lớp 9 nhà trường tổ chức cho HS thi vòng trường sau mời tất cả GV bộ môn dạy bồi dưỡng họp chọn đội tuyển cho bộ môn mình phụ trách (Chọn mỗi môn 1- 6 HS đủ số lượng theo qui định )

- Sau khi chọn đội tuyển, GV tiến hành bồi dưỡng:

+ Số tiết: khối 6, 7, 8 - 3 tiết / tuần, khối 9 - 6 tiết / tuần

+ Cách thức: Ôn lí thuyết kết hợp thực hành luyện tập

+ Nội dung: Theo định hướng chung của Sở GD&ĐT, Phòng GD&ĐT

+ Phương pháp: GV cung cấp mở rộng thêm kiến thức, ra bài tập cho HS làm GV chữa bài (GV soạn giáo án lên lớp và được tổ, BGH trường phê duyệt)

Trang 2

* Những ưu, khuyết điểm của giải pháp đã – đang được áp dụng tại cơ quan, đơn vị:

- Công tác bồi dưỡng học sinh giỏi Ngữ văn THCS nói chung và công tác này ở tại trường của bản thân tôi nói riêng vẫn luôn được quan tâm đây là công tác mũi nhọn vì chất lượng của đội tuyển học sinh giỏi cấp THCS không chỉ là nền tảng của đội tuyển học sinh giỏi cấp THPT mà còn là yếu tố nâng cao chất lượng bộ môn Ngữ văn nói chung Thực tế cho thấy số học sinh đạt giải môn Ngữ văn các cấp ở mỗi năm chưa chưa cao, các giải đạt được còn chênh lệch Điều này có nguyên nhân từ phía giáo viên và học sinh Trước tiên là từ phía giáo viên Do phải bám sát việc thực hiện theo phân phối chương trình, giáo viên ít có điều kiện đầu tư về chiều sâu cho nội dung nâng cao trong giờ chính khóa; thời gian tập trung bồi dưỡng cho HSG chưa nhiều Kế hoạch và chương trình dạy bồi dưỡng, sưu tầm tài liệu là do giáo viên tự tìm tòi nghiên cứu theo kinh nghiệm của bản thân mình Về phía HS, những học sinh được chọn chưa thật sự có năng khiếu, mức học chưa giỏi, do phải học nhiều môn, các em chú trọng đến danh hiệu học sinh giỏi cuối cấp nên việc đầu tư thời gian tự bồi dưỡng môn NV không được nhiều, quyết tâm học tập để đạt giải của các em cũng chưa cao

- Bồi dưỡng học sinh giỏi Ngữ văn là công tác nhằm phát hiện tài năng, nâng cao năng lực cảm thụ văn chương cho HS Vì vậy đây là công việc diễn ra thường xuyên hàng năm, là một công tác “mũi nhọn” ở các nhà trường Bên cạnh, một khó khăn lớn đối với môn Ngữ văn các trường là đa số những HS giỏi đều thích thi các môn tự nhiên Cho nên thường có trường hợp học sinh có năng khiếu văn nhưng không chịu bồi dưỡng văn mà theo học môn khác Hiện nay tám môn học được tổ chức cho học sinh thi HSG nên học sinh có nhiều lựa chọn, do vậy mà số lượng học sinh chọn môn Ngữ văn giảm dần Điều này có ảnh hưởng không ít đến chất lượng của đội tuyển Ngữ văn

- Một khó khăn nữa của GV bồi dưỡng học sinh giỏi Ngữ văn là vấn đề định hướng bồi dưỡng, nhất là cách thức, nội dung, phương pháp bồi dưỡng Kinh nghiệm của mỗi cá nhân và những bài viết, những chuyên đề về vấn đề này cũng còn quá ít Chính từ những

lý do này mà GV rất lo lắng khi được phân công BD Giáo viên phải không ngừng nghiên cứu vận dụng kết hợp linh hoạt nhiều phương pháp dạy học để có cách hướng dẫn phù

Trang 3

hợp nhất thu hút học sinh theo học bồi dưỡng môn Ngữ văn một cách tự giác, có niềm vui

và hứng thú trong khi học Bằng tấm lòng yêu thương, sự nhiệt tình, tận tâm để từ đó học sinh cảm nhận được mà ra sức học tâp và đạt được kết quả cao

Những ưu, khuyết điểm trên là tình hình thực tế mà tôi tìm hiểu được thông qua trao đổi, gặp gỡ trực tiếp với GV bồi dưỡng học sinh giỏi Ngữ văn ở tại trường và các trường bạn

3.2 Nội dung giải pháp đề nghị công nhận là sáng kiến

3 2.1 Mục đích của giải pháp

Đề tài được thực hiện nhằm nêu lên một số biện pháp để giải quyết những khó khăn

mà GV Ngữ văn THCS thường gặp phải trong việc tuyển chọn và BD HSG Qua đó, góp phần thực hiện một số mục tiêu:

- Nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho bản thân

- Trao đổi kinh nghiệm với đồng nghiệp trong thực hiện nhiệm vụ chuyên môn

- Nâng cao chất lượng đội tuyển HSG môn NV nói riêng và chất lượng môn NV nói chung

3.2.2 Những điểm khác biệt, tính mới của giải pháp so với giải pháp đã, đang được áp dụng:

- Tổng hợp, khái quát và phân tích rõ tình hình, đặc điểm của HS có năng khiếu môn Ngữ văn để từ đó đề xuất giải pháp tuyển chọn được những HS có năng khiếu để tiến hành bồi dưỡng

- Định hướng cụ thể và có kế hoạch về nội dung, phương pháp, cách thức tiến hành tuyển chọn và BD HSG môn NV sao cho hợp lí và đạt kết quả cao trong điều kiện cho phép của tất cả các trường THCS

- Thực hiện quan điểm giáo dục hướng đến người học, đánh giá kết quả giáo dục phải hướng tới việc sau khi học, HS có thể áp dụng kiến thức, kĩ năng được học trong nhà trường vào cuộc sống chứ không chỉ đánh giá từng đơn vị kiến thức, kĩ năng riêng lẻ Do

đó phải có cách đánh giá dựa trên năng lực Như vậy, hướng ôn tập, bồi dưỡng theo hướng phát triển tư duy sáng tạo cho HS, GV soạn những câu hỏi yêu cầu tư duy sáng

Trang 4

tạo, năng lực vận dụng linh hoạt các tri thức, kĩ năng đã học để giải quyết hợp lý những vấn đề đặt ra trong thực tiễn được tăng cường

3.2.3 Mô tả chi tiết bản chất của giải pháp

3.2.3.1 Phát hiện và chọn học sinh giỏi Ngữ văn

3.2.3.1.1 Thế nào là học sinh giỏi văn?

Học sinh giỏi văn trước hết phải là những HS có niềm đam mê, yêu thích văn chương, biết phát hiện điều “ mới mẽ”, chi tiết “tâm đắc” trong tác phẩm để suy nghĩ, cảm thụ Niềm đam mê ấy thể hiện thường xuyên, liên tục bằng tinh thần tự học, tự rèn,

thông qua sự chuẩn bị bài cẩn thận chu đáo trước khi đến lớp, trong giờ học tham gia xây dựng bài, đặc biệt phải thể hiện rõ ý thức học tập để chiếm lĩnh kiến thức thông qua các bài thực hành rèn luyện kỹ năng mà GV hướng dẫn Sự đam mê sẽ giúp các em chịu khó tìm tòi học hỏi bằng cách tìm thêm tài liệu, đọc sách, báo, nghe đài, để mở mang kiến thức Và quan trọng hơn là nó giúp HS phát huy được trí tưởng tượng, sự liên tưởng

từ cái hay, cái đẹp của tác phẩm để sống sâu sắc hơn với những cái mình đã đọc, đã học

HSG NV là những HS vốn có năng khiếu, chất văn thể hiện qua cách diễn đạt, cách

nói có hình ảnh, lời nói dễ đi vào lòng người, tiếp thu nhanh, có trí nhớ bền vững, có khả

năng phát hiện vấn đề và biết sáng tạo, sắc sảo và chặt chẽ trong tư duy, tinh tế trong cảm

thụ và trong cách thể hiện

HSG NV phải có vốn tri thức phong phú và hệ thống, thuộc và cảm nhận nhiều thơ văn trong và ngoài chương trình qua sự tìm đọc, tích luỹ; phải có sự hiểu biết nhiều về con người và xã hội

Một trong những biểu hiện không thể thiếu của HSG NV là rất giàu cảm xúc và thường nhạy cảm trước mọi vấn đề, trước cuộc sống Sự nhạy cảm ở các em luôn gắn liền

sự thông minh, nhạy bén và nhất là thông minh trong lựa chọn sử dụng ngôn ngữ để diễn đạt

HSG NV là những HS có vốn từ tiếng Việt khá dồi dào, biết trau dồi sử dụng chính xác chúng trong những trường hợp khác nhau Thường những em HSG NV đều có khả năng diễn đạt mượt mà, giàu cảm xúc, giàu hình ảnh, diễn đạt hàm súc và có bản sắc riêng Học sinh giỏi văn thường có khả năng lập luận chặt chẽ, ngôn ngữ diễn đạt rõ

Trang 5

ràng, mạch lạc, nắm chắc các yêu cầu khi viết một đoạn văn, bài văn nhất là kỹ năng làm bài văn nghị luận

3.2.3.1.2 Phát hiện học sinh giỏi văn

Việc phát hiện học sinh giỏi văn có tính chất quyết định đến chất lượng đội tuyển học

sinh giỏi nên có ý nghĩa rất quan trọng Giáo viên dạy Ngữ văn cần quan sát để nắm bắt

kỹ năng nghe, nói, đọc, viết của các em Một phần, học sinh giỏi Ngữ văn bộc lộ khả năng văn học qua những kỹ năng này Các em nói năng rành mạch, diễn đạt lưu loát những ý nghĩ, quan điểm của bản thân Hoặc thông qua bài viết, dù là đoạn văn hay bài văn thì đối với học sinh có năng khiếu văn cách viết, cách diễn đạt, cách lập luận thường rõ ràng, mạch lạc, có cảm xúc riêng dễ dàng thu hút người đọc Thông qua đó, giáo viên có thể phát hiện ra những học sinh có năng khiếu để bồi dưỡng.Việc phát hiện và BD HSG NV cần được tiến hành từ đầu lớp 6 Cơ sở của việc tuyển chọn của tôi là:

Trước tiên là, tìm hiểu kết quả của HS ở cấp Tiểu học qua điểm tổng kết, điểm thi

cuối kì (chủ yếu ở lớp 5) qua kết quả cuộc thi “ Viết đúng, viết đẹp”, tìm hiểu thêm ở giáo viên đã trực tiếp giảng dạy học sinh ở tiểu học để biết được khả năng học tâp của học sinh

Tiếp theo, giáo viên xem những bài viết đầu tiên của HS (đặc biệt là hs lớp 6) như

một điểm xuất phát để bắt đầu cuộc hành trình phát hiện năng khiếu của HS Trong chấm bài, giáo viên không chỉ chú trọng những bài có bố cục chặt chẽ, mạch lạc, đầy đủ mà còn quan tâm đến những bài có thể có chỗ chưa sâu, nhưng có chỗ sáng tạo, độc đáo, sâu sắc phải sửa kỹ, phê kĩ, thật sự nghiêm túc khi đánh giá và có sổ ghi nhận Tuy nhiên, một bài viết không thể đánh giá được quá trình nhưng đó là sự khởi đầu để định hướng phát hiện, bổ sung ở những bài viết tiếp theo vì việc tuyển chọn HSG không chỉ dừng lại

ở một số bài viết mà phải theo dõi cả quá trình học tập và rèn luyện

- Sau là tổ chức cuộc thi “Văn hay chữ tốt” vòng trường Qua đó tuyển chọn nhằm chuẩn

bị lực lượng kế thừa cho những năm sau Áp dụng những biện pháp trên, hằng năm nhà trường đều có được đội tuyển học sinh năng khiếu, đội tuyển “Văn hay chữ tốt ” để dự thi các cấp

Trang 6

3.2.3.2 Bồi dưỡng học sinh giỏi văn

3 2.3.2.1 Xây dựng kế hoạch bồi dưỡng học sinh giỏi

Sau khi đã phát hiện và thành lập được đội tuyển HSG, giáo viên dạy bồi dưỡng lập

kế hoạch và tiến hành bồi dưỡng ( Củng cố kiến thức cơ bản, cung cấp kiến thức mở

rộng, hướng dẫn tự học và rèn kỹ năng) Các bước trên càng thực hiện sâu sát thì sẽ

đem lai kết quả cao Chọn đề tài “Một vài biện pháp bồi dưỡng học sinh giỏi môn Ngữ

văn”, tôi muốn trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm bồi dưỡng học sinh giỏi môn Ngữ văn với

các đồng nghiệp để cùng tìm ra biện pháp bồi dưỡng hay góp phần nâng cao và giữ vững

chất lượng học sinh giỏi môn Ngữ văn Trong phạm vi SKKN này tôi trình bày, trao đổi

một vài kinh nghiệm trong việc rèn luyện kỹ năng đọc hiểu văn bản, kĩ năng làm văn nghị

luận theo hướng phát triển năng lực giải quyết vấn đề và năng lực sáng tạo thể hiện trong

việc xác định các tình huống và những ý tưởng (đặc biệt là những ý tưởng được gửi gắm trong những tác phẩm văn học); có cách cảm nhận riêng, độc đáo về nhân vật, hình ảnh, ngôn từ của tác phẩm; có cách trình bày, diễn đạt mang đậm sắc thái cá nhân…

3.2.3.2.2 Xây dựng nội dung BD HSG

- Về kiến thức: Ôn tập và hệ thống lại các kiến thức đã học, mở rộng nâng cao để học sinh hiểu sâu hơn những vấn đề đã tiếp thu trên lớp Tăng cường thực hành để học sinh luyện kĩ năng viết Nội dung cụ thể là:

a Văn bản: Nắm lại phần đọc - hiểu văn bản để củng cố kiến thức về nội dung lẫn nghệ thuật của các văn bản đã học Nhưng chủ yếu đi sâu vào chương trình lớp 8 và 9 Bên cạnh đó còn giới thiệu mở rộng thêm các tác phẩm trong cùng giai đoạn có liên quan, nghiên cứu các bài đọc thêm trong chương trình Nắm lại toàn tác phẩm khi học các trích đoạn trong tác phẩm đó Cung cấp cho học sinh nắm vững tác giả, hoàn cảnh ra đời của từng tác phẩm để vận dụng kiến thức đã học vào một tình huống (vận dụng hiểu biết về tác giả, tác phẩm, hoàn cảnh ra đời … để phân tích, lý giải giá trị nội dung, nghệ thuật của bài thơ; cảm nhận được ý nghĩa của một số hình ảnh, chi tiết đặc sắc trong văn bản,…VD:

Viết đoạn văn phân tích khổ thơ cuối của bài thơ Đồng chí.)

Trang 7

b Tiếng Việt: Hệ thống lại kiến thức về từ vựng, nghĩa của từ, cấp độ khái quát nghĩa của từ,trường từ vựng, sự phát triển từ vựng, các biện pháp tu từ, kiến thức về câu phân theo cấu tạo và mục đích nói

c Tập làm văn: Nắm được phương pháp làm văn ở từng thể loại, từng dạng bài như:

Tự sự, miêu tả, biểu cảm, thuyết minh, nghị luận Rèn kĩ năng tạo lập văn bản, kĩ năng phân tích đề, tìm ý, lập dàn ý, cách lập luận, tìm lý lẽ, chọn dẫn chứng, phân bố cục, cách dùng từ trong từng văn bản cụ thể

- Về kĩ năng: Tập trung nhiều thời gian để HS viết bài, chủ yếu xoáy sâu vào những kiểu bài: Tự sự, thuyết minh, nghị luận dưới nhiều dạng:

+ Xây dựng những câu chuyện có đan xen các yếu tố miêu tả, biểu cảm, nghị luận, thuyết minh, sử dụng tốt các ngôn ngữ đối thoại, độc thoại và độc thoại nội tâm

+ Cảm nhận một bài ca dao, bài thơ, một đoạn trích trong truyện ngắn

+ Giới thiệu một tác phẩm văn học, một thể loại văn học, một danh lam thắng cảnh, một phương pháp(cách làm), di tích địa phương.v.v

+ Trình bày ý kiến về một hiện tượng xã hội, một quan điểm, một nhận định, v.v + Phân tích một tác phẩm văn học, một hình tượng thơ, một vấn đề trong văn bản tự sự.v.v

+ Dạng tổng hợp: Nghị luận lập luận theo cách giải thích và chứng minh, phân tích đoạn văn, đoạn thơ để chứng minh nhận định, phân tích một vấn đề trong tác phẩm văn học và nêu cảm nghĩ, thuyết minh mang yếu tố nghệ thuật và miêu tả

+ Một số dạng đề mở thuộc nhiều thể loại khác nhau như các hiện tượng xảy ra trong cuộc sống hằng ngày, những vấn đề mang tính thời sự cũng được thường xuyên cho các

em nghị luận

3.2.3.2.3 Định hướng phương pháp – cách thức bồi dưỡng HSG

Trước đây, lớp BD HSG tiến hành vào đầu năm học lớp 9 Thời gian bồi dưỡng là 4 tiết/ tuần Ngoài ra còn dành thời gian cho các em đến thư viện đọc sách, tìm tư liệu, thời gian học thuộc lòng những bài thơ, đoạn văn phục vụ cho bài làm văn

Sau mỗi phần ôn luyện thì tiến hành kiểm tra để đánh giá kết quả qua thời gian ôn tập, nắm được sự tiến bộ, điểm hạn chế của HS để điều chỉnh cách thức ôn cũng như phương

Trang 8

pháp học của HS Mỗi lần phát bài kiểm tra GV phân tích rất kĩ những ưu khuyết điểm từng bài để HS rút kinh nghiệm cho bài viết sau

Từ năm học 2008- 2009 nhà trường thống nhất với tổ chuyên môn chọn HSG từ cuối năm lớp 8 và tiến hành bồi dưỡng trong hè chuẩn bị thi chọn vào đầu năm lớp 9 Đến nay đã tiến hành tuyển chọn và bồi dưỡng từ lớp 6 Bước đầu dạy 3 tiết /tuần và riêng năm lớp 9 là 6 tiết/ tuần Sự điều chỉnh này giúp GV BD có điều kiện theo dõi sát và nắm vững tình hình học tập cũng như tổ chức được các hoạt động học tập khác nhau để kích thích sự tìm tòi học hỏi ở các em hơn Bên canh GV lập sổ theo dõi học sinh ghi nhận cụ thể từng HS về việc nắm kiến thức ở từng bài, từng phần; Kĩ năng viết của từng

em Giáo viên phải theo dõi sát từng đối tượng học sinh kịp thời củng cố kiến thức và sửa chữa cách viết cho các em

+ Giáo viên hướng dẫn HS đọc tài liệu tham khảo một cách có chọn lọc, có hệ thống theo chủ đề nhất định Khi đọc sách, đọc các bài văn tham khảo cần hướng dẫn học sinh biết rút ra những tư tưởng chính trong mỗi đoạn, ghi chép lại những câu văn hay, tóm tắt được những ý tưởng chủ đạo phù hợp với thực tiễn để có thể vận dụng trong quá trình học tập bộ môn vào sổ tay văn học Tự học, tự đọc thường xuyên có hệ thống, khoa học, hợp

lý sẽ làm tăng khả năng tư duy độc lập, sáng tạo của học sinh, giúp học sinh luôn chủ động trong lĩnh hội tri thức, biến tri thức đọc được từ sách vở thành những giá trị đích thực của bản thân để hình thành những phẩm chất, năng lực mới giúp các em đạt hiệu quả cao trong quá trình học tập bộ môn

+ Tổ chức cho các em học tập lẫn nhau: mỗi tuần / 1 tiết các em cùng thảo luận theo từng chủ đề mà GV đã cho, sau đó thống nhất trình bày cho GV sửa chữa

+ Nêu và giải đáp thắc mắc: mỗi tuần, GV dành ra một đến hai tiết để HS tao đổi và đưa ra những vấn đề chưa rõ hoặc còn vướng mắc mà nhóm không thống nhất để GV giảng giải thêm Từ đó giúp các em khắc sâu kiến thức bài học Trong buổi học này, GV cũng sẽ gợi ý để HS nêu thắc mắc nhiều hơn và khích lệ để các em tìm hướng giải quyết + Kiểm tra một bài sau 6 tiết để GV nắm được kết quả học tập của HS và kịp thời uốn nắn sửa chữa những sai sót để các em rút kinh nghiệm

3.2.3.2.4 – Định hướng bồi dưỡng, rèn kĩ năng đọc hiểu văn bản

Trang 9

- Kĩ năng cơ bản của môn Ngữ văn mà học sinh cần đạt được chính là những kĩ năng vận dụng từ ngữ để đọc hiểu và tạo lập văn bản Các kĩ năng này không chỉ hình thành trong giờ học một phân môn cụ thể mà được rèn luyện, phát triển tổng hợp trong các giờ Đọc – hiểu, Tiếng Việt và Tập làm văn Do đó, việc bồi dưỡng năng lực học tập môn Ngữ văn là GV soạn những bài tập tổng hợp, trong đó có sự kết hợp chặt chẽ giữa việc tiếp nhận và tạo lập văn bản Chẳng hạn như từ một ngữ liệu (có thể lấy ngữ liệu đã học hoặc chưa học nhưng cùng đề tài, thể loại …, hạn chế sử dụng các văn bản, các tình huống quá quen thuộc với học sinh) có thể kiểm tra năng lực đọc – hiểu, sử dụng ngôn ngữ hoặc tạo lập văn bản như sau:

- Những yếu tố ngoài văn bản (tác giả, tác phẩm, …) (theo hướng mới: không đặt nặng kiểm tra kiến thức mà cần hỏi những hiểu biết khái quát hơn)

- Từ ngữ (giải nghĩa), chi tiết (hiểu, xác định)

- Giá trị nội dung, nghệ thuật của tác phẩm

- Phân tích, cảm nhận… tác phẩm

Ví dụ 1: Đọc đoạn thơ sau và thực hiện theo yêu cầu:

“Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá

Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã Phăng mái chèo, mạnh mẽ vượt trường giang

Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng Rướn thân trắng bao la thâu góp gió…”

(Tế Hanh, Quê hương)

a Hãy giải thích nghĩa của các từ sau: “tuấn mã, trường giang, trai tráng, rướn”

b Phân tích cấu trúc ngữ pháp của hai dòng thơ sau:

Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá

c Viết đoạn văn ngắn phân tích giá trị tu từ của đoạn thơ trên

Ví dụ 1: Đọc đoạn thơ sau:

Chú bé loắt choắt Cái xắc xinh xinh Cái chân thoăn thoắt Cái đầu nghênh nghênh

Ca lô đội lệch Mồm huýt sáo vang Như con chim chích

Trang 10

Nhảy trên đường vàng Cháu làm liên lạc

Vui lắm chú à

Ở đồn Mang cá

Thích hơn ở nhà

(Lượm, Tố Hữu)

a Tìm các từ láy trong đoạn thơ Nêu hiệu quả sử dụng của các từ láy đó.

b Xác định các biện pháp tu từ và tác dụng của chúng trong đoạn thơ.

c Từ đoạn thơ trên, hãy viết đoạn văn (khoảng 10 câu) trình bày cảm nhận của em về

tuổi trẻ Việt Nam trong cuộc chiến tranh chống kẻ thù xâm lược

Ví dụ 3: Chỉ ra phép tu từ được sử dụng trong câu “Giấy đỏ buồn không thắm, mực

đọng trong nghiên sầu” Việc sử dụng phép tu từ đó có tác dụng gì trong việc thể hiện nội dung câu thơ

Giáo viên hướng dẫn cụ thể cho HS biết cách phát hiện phép tu từ, cách phân tích giá trị của biện pháp tu từ… Biện pháp tu từ là cách thức sử dụng từ, ngữ cố định một cách sáng tạo để diễn đạt nội dung một cách nghệ thuật Ngoài chức năng nhận thức, phép tu từ sẽ tạo nên hình tượng nghệ thuật làm tăng tính biểu cảm và truyền cảm cho thơ văn Những biện pháp tu từ thường gặp như so sánh, ẩn dụ, hoán dụ… Muốn xác định chính xác các biện pháp tu từ trước hết các em phải nắm vững khái niệm, đặc diểm tác dụng của các biện pháp tu từ để làm cơ sở xác định

- Yêu cầu về nội dung:

+ Xác định chính xác câu thơ, câu văn trích trong tác phẩm nào, của tác giả nào, nội dung thể hiện là gì; biện pháp tu từ được sử dụng trong câu đó là biện pháp gì

+ Phân tích hiệu quả tu từ của biện pháp tu từ trong việc thể hiện nội dung

+ Đánh giá câu thơ, câu văn đó

Yêu cầu về hình thức: như yêu cầu về hình thức chung của đoạn văn câu mở đoạn, các câu phát triển đoạn, câu kết đoạn

2.3.2.5 Định hướng rèn luyện kỹ năng làm văn.

* Cách lựa chọn hướng ra đề

Ngày đăng: 24/10/2017, 14:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w