Là một trong các Ngân hang thương mại quốc doanh lớn nhất hiện nay,Ngân hàng Ngoại thương trong thời gian qua đã có những bước phát triển lớn mạnh không ngừng.Tuy nhiên trong lĩnh vực tín dụng và đặc bịêt là tín dụng ngắn hạn Ngân hàng gặp không ít khó khăn. Bởi vậy chất lượng tín dụng ngắn hạn là vấn đề mà Ngân hàng cần đặc biệt quan tâm.
Trang 1CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG NGẮN HẠN CỦA NGÂN HÀNG XUẤT NHẬP KHẨU
VIỆT NAM - CHI NHÁNH LONG BIÊN
GVHD : Th.S HOÀNG MINH CHÂU SINH VIÊN : LÊ MINH HOÀNG
LỚP : 07CK1
NGÀNH : TÀI CHÍNH _ NGÂN HÀNG
Hà Nội, Ngày 25/03/2010
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU1.Tính cấp thiết của đề tài:
Nằm trong khu vực được coi là năng động nhất trên thế giới,Việt Nam cóđược những thuận lợi để phát triển, hội nhập cùng các nước trong khu vực và trênthế giới Điều đó đòi hỏi chúng ta phải rất linh hoạt và năng động để tiêp thu nhữngthành tựu tiên tiến cũng như kinh nghiệm phát triển của các nước trên thếgiới.Trong đó Ngân hang là một trong những ngành kinh tế tài chính quan trong bậcnhất trong việc phát triển của nền kinh tế.Tuy hoạt động Ngân hang ở nước ta gặpnhiều khó khăn và còn nhiều vấn đề tồn tại nhất là trong khâu tín dụng của cácNHTM.Tín dụng là hoạt động kinh doanh cơ bản của NHTM nhưng chất lượng tíndụng chưa cao đang là mối quan tâm của các cấp lãnh đạo,các cấp quản lí va điêuhành hệ thống Ngân hàng
Là một trong các Ngân hang thương mại quốc doanh lớn nhất hiệnnay,Ngân hàng Ngoại thương trong thời gian qua đã có những bước phát triển lớnmạnh không ngừng.Tuy nhiên trong lĩnh vực tín dụng và đặc bịêt là tín dụng ngắnhạn Ngân hàng gặp không ít khó khăn Bởi vậy chất lượng tín dụng ngắn hạn là vấn
đề mà Ngân hàng cần đặc biệt quan tâm
2 Đề tài: “Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng ngắn hạn của ngân hàng thương mại tại ngân hàng xuất nhập khẩu Việt Nam chi nhánh Long Biên”
3 Kêt cấu đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: cơ sớ lí luận về chất lượng tín dụng ngắn hạn
Chương 2: Thực trạng chất lượng tín dụng tại Ngân hang xuất nhập khẩu Việt Nam chi nhánh Long Biên.
Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng ngắn hạn tại Ngân hàng xuất nhập khẩu Việt Nam chi nhánh Long Biên.
Trang 3CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG NGẮN HẠN.
1.1 Tổng quan về tín dụng ngắn hạn.
1.1.1 Khái niệm va phân loại.
Khái niệm: Thông thường các khoản mục tín dụng chiếm khoảng 70% tổngtài sản Có của các NHTM, với quy mô như vậy tín dụng có một tầm ảnh hưởng rấtlớn đến nhiều chiến lược hoạt động của Ngân hàng như dự trữ, cho vay, đầu tư…Khi đầu tư vào việc gì hay đầu tư vào một lĩnh vực nào đó, nhà đầu tư luôn hi vọng
có thể tìm kiếm được những lợi ích từ việc đầu tư đó Tuy nhiên, chúng ta biết dếnmột nguyên tắc tài chính đó là lợi nhuận kì vọng càng cao thì rủi ro càng lớn, nênkhi ra một quyết đinh đầu tư hoặc tài trợ thì nhà đầu tư luôn luôn phải cân nhắc giữadầu tư mạo hiểm để có thể thu được lợi nhuận cao, hay dầu tư an toàn và chắc chắnthu được lợi nhuận NHTM luôn luôn đặt mục tiêu an toàn và sinh lợi lên hàng đầu,điều này lí giài tại sao hiện nay thì việc cung ứng Tín dụng ngắn hạn của Ngân hàngchiếm phần lớn tín dụng của NHTM NHTM cũng cung cấp Tín dụng trung và dàihạn cho khách hàng tuy nhiên loại hình tín dụng này tiềm ẩn nhiều rủi ro hơn VậyTín dụng ngắn hạn là gì và tại sao lại cho rằng nó lại có độ an toàn cao hơn các loạihình tín dụng khác
Như ở trên ta đã biết Tín dụng ngắn hạn là các khoản vay có thời hạn từ dưới
1 năm và được sử dụng chủ yếu để bù đắp sự thiếu hụt về vốn lưu động của doanhnghiệp, các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của các cá nhân
Trước hết, khi phân chia tín dụng thành tín dụng ngắn hạn, tín dụng trung vàdài hạn thì đây là cách phân loại theo thời gian tín dụng Như vậy nếu trong thờigian ngắn thì biến động về kinh tế, thị trường, chính sách…xảy ra sẽ ít hơn so vớithời gian dài do đó khi cung cấp tín dụng ngắn hạn Ngân hàng có thể dự kiến, kiểmsoát khoản cho vay của mình dễ dàng hơn so với việc dự kiến, kiểm soát tín dụngtrung và dài hạn
Thứ hai, qui mô tín dụng ngắn hạn thường nhỏ hơn rất nhiều so với qui môtín dụng trung và dài hạn do đó thời gian Ngân hàng thu hôì vốn sẽ nhanh hơn vốn
có thể quay vòng nhiều hơn Và giả sử có xảy ra tổn thất thì với tín dụng ngắn hạnNgân hàng thường sẽ chịu ít tổn thất hơn do qui mô của tín dụng ngắn hạn thườngkhông lớn như cho vay trung và dài hạn
Trang 4Thứ ba, thường thì cả tín dụng ngắn hạn hay tín dụng trung và dài hạn đềuphải có tài sản đảm bảo, trong thời gian ngắn thì việc quản lí tài sản đảm bảo sẽ dễdàng hơn trong thời gian dài do biến động của giá cả thị trường, hao mòn của tàisản.
Tóm lại, tín dụng ngắn hạn sẽ ít rủi ro hơn và an toàn hơn so với tín dụngtrung và dài hạn Nếu xét về tổng thể tín dụng ngắn hạn là một loại tài sản đem lạicho Ngân hàng một khoản lợi nhuận rất lớn
Phân loại:
+ Phân chia Tín dụng Ngân hàng theo hình thức tài trợ
Cho vay là việc Ngân hàng đưa tiền cho khách hàng với cam kết kháchhàng phải hoàn trả cả gốc và lãi trong khoảng thời gian xác định
Chiết khấu thương phiếu là việc Ngân hàng ứng trước tiền cho khách hàngtương ứng với giá trị của thương phiếu trừ đi phần thu nhập của Ngân hàng để sởhữu một thương phiếu chưa đến hạn (hoặc một giấy nợ)
Cho thuê là việc Ngân hàng bỏ tiền mua tài sản để cho khách hàng thuêtheo những thoả thuận nhất định và sau một thời gian nhất định khách hàng phải trả
cả gốc và lãi cho Ngân hàng
Bảo lãnh là việc Ngân hàng cam kết thực hiện các nghĩa vụ tài chính vớicác bên đối tác của khách hàng của mình thay cho khách hàng của mình
+ Phân chia Tín dụng Ngân hàng theo đảm bảo
Tín dụng có tài sản đảm bảo là loại hình tín dụng mà bên đi vay phải thếchấp, cầm cố tài sản tại Ngân hàng đảm bảo khoản tiền Ngân hàng cho vay có khảnăng thu hồi nếu khách hàng không có khả năng trả nợ khi đến hạn
Tín dụng không có tài sản đảm bảo là loại hình tín dụng mà bên đi vaykhông cần thế chấp hay cầm cố tài sản cho khoản tiền vay Ngân hàng
+ Phân chia Tín dụng Ngân hàng theo mức độ rủi ro
Gồm có các khoản tín dụng có độ an toàn cao, khá, trung bình và thấp.
+ Phân chia Tín dụng Ngân hàng theo ngành nghề kinh tế
Có thể gồm Tín dụng nông nghiệp và lâm nghiệp, thuỷ sản hoặc Tín dụng
công nghiệp khai thác, chế biến, sản xuất, xây dựng, Tín dụng thương nghiệp, tàichính, vận tải …
+ Phân chia theo đối tượng kh ách h àng
Gồm có tín dụng tài trợ cho tài sản lưu động , tín dụng tài trợ cho tài sản cốđịnh
Trang 5+ Phân chia theo mục đích sử dụng gồm tín dụng tài trợ cho mục đích
phát triển, mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh, tín dụng tài trợ cho mục đíchtiêu dùng
1.1.2 Vai trò của tín dụng ngắn hạn.
Tín dụng ngắn hạn có vai trò rất quan trọng trong đời sống kinh tế- xã hội Đây là nguồn vốn khá lớn của nền kinh tế, nguồn vốn vay ngắn hạn đã góp phầnlàm ổn định, duy trì và mở rộng sản xuất đối với doanh nghiệp, nâng cao đời sốngcủa các cá nhân, là cơ sở cho một nền kinh tế ổn định và phát triển Tín dụng ngắnhạn có vai trò quan trọng với nền kinh tế nói chung, và đối với Ngân hàng cũng nhưcác doanh nghiệp nói riêng
Đối với nền kinh tế
Là một trung gian tài chính NHTM là nơi tập trung, tích tụ ngồn vốn và phân
bổ đầu tư có hiệu quả trong nền kinh tế Cho vay là một hoạt động mang tính chấtđầu tư cho nền kinh tế của NHTM Trong khi thị trường chứng khoán, các tổ chứctài chính trung gian phi Ngân hàng như các công ty bảo hiểm, công ty tài chính,cácquỹ đầu tư có nhiệm vụ trong việc đưa vốn trung và dài hạn vào nền kinh tế, thìđối với vốn ngắn hạn lại phần lớn thuộc về vai trò của NHTM Thị trường tiền tệvới trung gian tài chính NHTM luôn luôn là nơi cung cấp nguồn vốn rất lớn cho nềnkinh tế
Đối với doanh nghiệp
Cho vay ngắn hạn là nguồn bổ sung kịp thời cho các nhu cầu về vốn ngắnhạn của doanh nghiệp Nguồn vốn này giúp các doanh nghiệp tiếp tục hoạt động sảnxuất kinh doanh hoặc giúp các doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn tạm thời về tàichính.Có nhiều trường hợp, vay vốn Ngân hàng còn là giải pháp tiết kiệm chi phícho doanh nghiệp, tạo điều kiện cho doanh nghiệp bắt kịp các cơ hội kinh doanh,tận dụng được thời cơ phát triển sản xuất
Cho vay ngắn hạn là yếu tố tác động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.Các điều kiện trong cho vay ngắn hạn tạo áp lực buộc doanh nghiệp kinh doanh cóhiệu quả
Đối với doanh nghiệp lớn, phần lớn vốn lưu động đều vay của Ngân hàngdưới hình thức cho vay ngắn hạn ứng trước để đáp ứng các cơ hội kinh doanh dotính chất của cho vay ứng trước là doanh nghiệp phải trả lãi trên toàn bộ dư nợ, kể
cả dư nợ chưa sử dụng đến, cho nên bắt buộc doanh nghiệp phải quay vòng vốnnhanh
Trang 6Đối với Ngân hàng
Hoạt động tín dụng nói chung và cho vay ngắn hạn nói riêng là nguồn thuchủ yếu cho hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Cho vay ngắn hạn luôn là hìnhthức chủ đạo của Ngân hàng, tạo nguồn thu chủ yếu để bù đắp các chi phí (chi phíhuy động vốn, chi phí cho hoạt động của Ngân hàng – chi trả lương, chi phí quảnlý) Mặt khác cho vay ngắn hạn còn là yếu tố quan trọng để đảm bảo khả năng thanhkhoản của Ngân hàng, làm tăng tính thanh khoản
1.1.3 Các hình thức tín dụng ngắn hạn.
Để phục vụ việc quản lý các khoản cho vay ngắn hạn, Ngân hàng thườngphân loại tín dụng theo các tiêu chí khác nhau như theo phương thức cho vay, theomục đích sử dụng vốn vay, tài sản đảm bảo
Theo mục đích sử dụng vốn vay, các khoản vay ngắn hạn được sử dụng vớicác mục đích:
Cho vay mua hàng dự trữ : Đây là một trong những mục đích sử dụng vốn vay đầu tiên khi tín dụng ra đời, các thương nhân trước đây vì chưa thu đượctiền bán hàng cho nên họ cần có vốn để mua hàng mới, do đó phải vay vốn Ngânhàng Kỳ hạn của các khoản vay này thường được tính từ lúc doanh nghiệp cần vốn
để mua hàng cho đến khi thu được tiền bán hàng và trả nợ cho Ngân hàng Đây làcác khoản cho vay truyền thống của Ngân hàng, giờ đây những khoản cho vay nàychiếm hơn 50% giá trị của doanh mục cho vay của Ngân hàng thương mại
Cho vay vốn lưu động : Những khoản vay ngắn hạn này thường đượcdoanh nghiệp sử dụng để đáp ứng mức sử dụng và nhu cầu tín dụng trong thời kỳcao điểm của chu kỳ dự trữ, các khoản này cũng thường được dùng để mua hàng dựtrữ ngoài ra còn được dùng để trả lương công nhân nộp thuế Kỳ hạn của nhữngkhoản vay này thông thường được tính toán tương đương với chu kỳ kinh doanh củadoanh nghiệp, đảm bảo có thể cung cấp vốn cho khách hàng ở thời kỳ cao điểm củachu kỳ kinh doanh
Cho vay ngắn hạn các công trình xây dựng: Để tài trợ các công trình xâydựng lớn người vay vốn thường vay vốn trung và dài hạn, tuy nhiên trong quá trìnhchờ giải ngân vốn, doanh nghiệp thường phải đi vay vốn ngắn hạn để phục vụ cáchoạt động xây dựng, thuê nhân công, mua thiết bị xây dựng, nguyên vật liêu Khigiai đoạn xây dựng kết thúc, doanh nghiệp sử dụng vốn được giải ngân để trả chocác khoản vay ngắn hạn hoặc sử dụng công trình để vay thế chấp dài hạn Kỳ hạn
Trang 7của những khoản vay này được tính toán theo các giải đoạn thi công khác nhau, cóthể dài hơn 1 năm.
Cho vay để kinh doanh chứng khoán: Người vay kinh doanh chứng khoánchính phủ và chứng khoán tư nhân thường cần có sự giúp đỡ của vốn ngắn hạn đểmua chứng khoán mới và duy trì doanh mục chứng khoán hiện có cho tới khi bánhoặc tới kì hạn phải thanh toán Những khoản vay kinh doanh chứng khoán chínhphủ thường được các Ngân hàng sẵn sàng cho vay bởi đây là khoản cho vay có chấtlượng cao, được đảm bảo bằng chính các chứng khoán chính phủ mà các nhà kinhdoanh đang nắm giữ Thời hạn của các khoản vay này rất ngắn hạn có khi chỉ là vayqua đêm hoặc trong vài ngày
Cho vay kinh doanh bán lẻ: Những đối tượng khách hàng của loại vaykinh doanh bán lẻ này là những người kinh doanh hàng hoá lâu bền như ô tô, đồdùng gia đình Ngân hàng có thể cho vay thông qua việc hỗ trợ người tiêu dùngmua trả góp hàng hoá các hợp đồng trả góp sẽ được Ngân hàng mua lại Ngoài raNgân hàng cho những người bán lẻ vay để mua hàng và sử dụng ngay những hànghoá này để làm vật thế chấp, khi những loại hàng hoá này bán thu được tiền sẽ trả lại cho Ngân hàng
Theo phương thức cho vay trong giai đoạn đầu hình thành, Ngân hàngthương mại thực hiện cho vay ngắn hạn dưới hình thức đơn giản như cho vay trựctiếp để mua hàng, do yêu cầu phát triển của nền kinh tế đã hình thành nên cácnghiệp vụ khác như chiết khấu thương phiếu, cho vay theo hạn mức ngày nay cácnghiệp vụ tín dụng ngắn hạn càng trở nên đa dạng và phong phú hơn nhằm đắp ứngmọi nhu cầu của khách hàng tuy vậy tại các Ngân hàng thương mại vẫn luôn duy trìmột số phương thức tín dụng ngắn hạn cơ bản:
Chiết khấu thương phiếu: Là nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn trong đó kháchhàng chuyển nhượng lại thương phiếu chưa đáo hạn cho Ngân hàng để đổi lấy một
số tiền bằng mệnh giá của thương phiếu trừ lãi chiết khấu và phí hoa hồng, đây làhình thức cho vay gián tiếp trong khâu thanh toán trong quá trình kinh doanh củadoanh nghiệp Trong nền kinh tế thị trường, mua bán chịu hàng hoá là hành vithương mại phổ biến xuất phát từ nhiều mục đích khác nhau như cung cầu tín dụng,mục đích khuyến mại hay để cạnh tranh thâm nhập và chiếm lĩnh thị trường Trongmua, bán chịu hàng hoá bên bán giao hàng và chuyển quyền sở hữu cho bên muanhưng chưa nhận được tiền mà chỉ nhận được một giấy nợ chờ thanh toán Giấy nợ
có thể là một hoá đơn hàng hoá trả chậm hoặc là một thương phiếu, trong trường
Trang 8hợp giấy nợ chưa đến hạn thanh toán nhưng người bán lại cần tiền để đáp ứng nhucầu kinh doanh của mình họ có thể nhường lại cho các Ngân hàng mà không cầnđợi đến lúc đáo hạn.
Cho vay trực tiếp: gồm một số nghiệp vụ như cho vay theo hạn mức, thấuchi , cho vay từng lần
Cho vay theo hạn mức : Ngân hàng sẽ căn cứ vào nhu cầu sử dụng vốn, chu
kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp để xác định hạn mức tín dụng Trongnhiệp vụ này Ngân hàng không xác định trước kỳ hạn nợ và thời hạn tín dụng,doanh nghiệp có thể yêu cầu Ngân hàng chi trả liên tục nhưng cũng luôn phải cótiền vào để đảm bảo cuối quý dự nợ bằng hạn mức tín dụng quy định
Cho vay thấu chi: Ngân hàng cho khách hàng vay để khắc phục khó khăn
tạm thời về tài chính trong những trường hợp nhất định như khi doanh nghiệp đãbán hàng nhưng chưa có tiền để trả lương cho nhân viên hoặc nộp thuế Ngânhàng cho phép khách hàng có mức chi vượt số dư nợ cuối quý, thu được trong thờigian nhất định Nghiệp vụ này thường chỉ được thực hiện đối với những khách hàngđặc biệt, đáng tin cậy và có uy tín
Cho vay luân chuyển: Là nghiệp vụ cho vay dựa trên quá trình luân chuyển
của hàng hoá Khi mua hàng doanh nghiệp có thể bị thiếu vốn, Ngân hàng có thểcho vay để mua hàng và sẽ thu nợ khi doanh nghiệp thu được tiền bán hàng, giữaNgân hàng và khách hàng có thoả thuận với nhau về phương thức vay, hạn mức tíndụng, và các nguồn cung cấp hàng hoá và khả năng tiêu thụ Cho vay luân chuyểnthường được áp dụng đối với các doanh nghiệp thương nghiệp hặc doanh nghiệpsản xuất có chu kỳ tiêu thụ ngắn ngày, có quan hệ vay trả thường xuyên với Ngânhàng
Cho vay từng lần: Là tiến trình cấp tín dụng dựa trên cơ sở nhu cầu tín dụng
của từng đố tượng vay cụ thể Căn cứ trên cơ sở hợp đồng thực tế đơn đặt hàng, thưtín dụng Ngân hàng xác định quy mô, thời hạn trả nợ, lãi suất và yêu cầu đảmbảo khoản vay Trong nghiệp vụ này thông thường chi có một kỳ hạn trả nợ vàocuối thời hạn cho vay và lãi vay được tính theo phương pháp lãi đơn
1.2 Chất lượng tín dụng.
1.2.1 Khái niêm.
Trang 9Trong hoạt động kinh doanh của các tổ chức tín dụng chất lượng tín dụngvẫn là một nội dung đuợc các nhà quản lý đặc biệt quan tâm hơn cả Một doanhnghiệp muốn tồn tại và phát triển phải nâng cao chất lượng hoạt động của mình.Chất lượng là năng lực của một sản phẩm hoặc một dịch vụ nhằm thoả mãn nhu cầucủa người sử dụng Như vậy có thể hiểu chất lượng tín dụng là sự đáp ứng yêu cầucủa khách hàng là người gửi tiền và vay tiền, phù hợp với sự phát triển kinh tế và
xã hội và nó đảm bảo sự tồn tại và phát triển của tổ chức tín dụng Có thể hiểu chấtlượng tín dụng ngắn hạn cũng vậy, thể hiện qua các khía cạnh sau:
Đối với công ty tài chính
Việc cho vay với khối lượng là bao nhiêu, lãi suất vay, thời hạn vay đều phảiđược tính toán cẩn thận sao cho phù hợp với năng lực bản thân công ty tài chính,đảm bảo được tính cạnh tranh trên thị trường của công ty, phản ánh được sức mạnhcủa công ty trong quá trình cạnh tranh trên thị trường để tồn tại
Đối với khách hàng
Chất lượng tín dụng thể hiện qua việc công ty có đáp ứng được đúng nhu cầucủa khách hàng hay không, có tạo điều kiện cho hoạt động đi vay của khách hàngkhông: về lãi suất kỳ hạn hợp lý, thủ tục vay đơn giản thuận tiện, thu hút đượcnhững khách hàng tốt, đảm bảo được nguyên tắc tín dụng
Đối với sự phát triển kinh tế xã hội
Tín dụng là mạch máu lưu thông của nền kinh tế, khi tín dụng góp phần làm tăng trưởng kinh tế xã hội góp phần phục vụ qúa trình sản xuất phát triển đượcthuận tiện hơn, giải quyết công ăn việc làm, khai thác những khả năng phát triển củanền kinh tế, giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng tín dụng và tăng trưởngkinh tế, như vậy nó đã thể hiện đây là một khoản tín dụng tốt
Như vậy, chúng ta có thể hiểu chất lượng tín dụng ngắn hạn vừa là một kháiniệm cụ thể được thể hiện qua các chỉ tiêu hoạt động của công ty tài chính như: nợquá hạn, lãi thu được từ hoạt động tín dụng ngắn hạn… Tuy nhiên nó lại vừa mangtính trừu tượng như: việc hấp dẫn lôi cuốn khách hàng đến với công ty, việc thúcđẩy nền kinh tế phát triển như thế nào… Chất lượng tín dụng ngắn hạn cũng chịu sựảnh hưởng của các nhân tố chủ quan như: trình độ quản lý, quy trình tín dụng củacông ty, định hướng phát triển của công ty, trình độ của cán bộ công nhân viêntrong công ty… Chịu ảnh hưởng của các nhân tố khách quan như: môi trường pháp
Trang 10lý, môi trường hoạt động kinh doanh, chính sách phát triển của chính phủ, thái độcủa khách hàng…
Việc thoả mãn nhu cầu của khách hàng, thực hiện tốt mục tiêu phát triển củacông ty, góp phần thúc đẩy xã hội phát triển, dung hoà được 3 yếu tố trên là một sựkết hợp giữa hoạt động của một con người với tổ chức, giữa các tổ chức với nhau
1.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá.
Nhóm các chỉ tiêu định tính
Đây là nhóm chỉ tiêu đánh giá chất lượng cho vay trên cơ sở pháp lý, việctuân thủ các quy chế, quy trình nghiệp vụ, việc thực hiện theo đúng cam kết tronghợp đồng cho vay
Trên cơ sở pháp lý hoạt động tín dụng có chất lượng phải chấp hành pháp luậtcủa nhà nước, trực tiếp là luật của các tổ chức tín dụng , các quy chế cho vay, cácvăn bản chỉ đạo của chính phủ và Ngân hàng nhà nước
Trên cơ sở quy chế cho vay của Ngân hàng thương mại, hoạt động cho vay
có chất lượng luôn phải tuân thủ quy chế và quy trình nghiệp vụ tín dụng Các quyđịnh trong quy trình tín dụng được áp dụng cụ thể cho tùng trường hợp xin vay ởmỗi Ngân hàng thương mại là nhằm thực hiện cho vay có chất lượng Cho nên việctuân thủ quy trình này là tiền đề của chất lượng tín dụng
Trên cơ sở hợp đồng tín dụng, hoạt động tín dụng có chất lượng khi nó manglại khoản vay có chất lượng Khoản vay có chất lượng phải là khoản vay được thựchiện theo đúng cam kết đã thoả thuận trong hợp đồng Đó là các cam kết về mụcđích sử dụng vốn vay, cam kết về thời hạn, phương thức trả nợ và trả lãi, các điềukiện ràng buộc khác Nếu một khoản vay mà ngay từ mục đích vay vốn đã khôngđược thực hiện đúng như cam kết thì koản vay đó không thể có chất lượng Hoặckhoản vay mà vốn nguồn thu nợ không phải từ doanh thu bán hàng của doanhnghiệp mà từ nguồn vay nợ khác thì cũng không đạt được chất lượng
Trên đây là nhóm các chỉ tiêu đánh giá chất lượng của cho vay trên cơ sở định tính
Có thể nói đây là các chỉ tiêu đầu tiên của một khoản vay cũng như hoạt động cho
Trang 11vay muốn đạt chất lượng phải đáp ứng được Tuy nhiên để đánh giá cụ thể về chấtlượng tín dụng, phải phân tích các chỉ tiêu định lượng
Nhóm các chỉ tiêu định lượng
Nhóm các chỉ tiêu định lượng đánh giá chất lượng tín dụng thông qua việcphân tích các chỉ tiêu về lượng, tính toán các tỷ lệ Nhóm chỉ tiêu định lượng baogồm các mức sau đây :
Dư nợ cho vay năm nay
a, Mức tăng trưởng tương đối =
Dư nợ cho vay Dư nợ cho vay năm trước
Mức tăng trưởng tuyệt đối = Dư nợ cho vay – Dư nợ cho vay
dư nợ cho vay năm nay năm trước
Chỉ tiêu về tăng trưởng tín dụng tuyệt đối và tương đối phản ánh mức tăngtrưởng trong hoạt động tín dụng của Ngân hàng thể hiện chất lượng hoạt động tíndụng trong năm
b, Chỉ tiêu vòng quay vốn cho vay:
Doanh số thu nợ
Vòng quay vốn tín dụng =
Dư nợ cho vay bình quân
Người vay có thường xuyên đúng kỳ hạn và nhanh chóng hay không Vòngquay vốn cho vay lớn với mức dư nợ bình quân không đổi, doanh số trả nợ lớnchứng tỏ chất lượng tín dụng cao hơn so với vòng quay nhỏ, doanh số trả nợ thấp.Tuy nhiên, vòng quay vốn tín dụng còn tuỳ thuộc vào khách hàng vay vốn Nếukhách hàng vay vốn là các doanh nghiệp thương mại, dịch vụ, có đặc điểm quayvòng vốn nhanh thì vòng quay vốn cho vay của NHTM cũng lớn Còn nếu kháchhàng là doanh nghiệp sản xuất thị trường, vốn quay vòng chậm hơn, dẫn đến vòngquay vốn cho vay cũng nhỏ hơn
Trang 12Chỉ tiêu này phản ánh tỷ lệ dư nợ quá hạn trong tổng dư nợ Chỉ tiêu này càngcao chứng tỏ số dư nợ quá hạn càng lớn trong tương quan với tổng dư nợ, chấtlượng tín dụng càng thấp.
Ngoài ra, để đánh giá đầy đủ hơn về chất lượng tín dụng, người ta còn xemxét mức tăng giảm tương đối, tuyệt đối cơ cấu nợ quá hạn qua các năm để thấy mứchiệu quả của công tác và các biện pháp giảm nợ quá hạn nâng cao chất lượng tíndụng
d, Chỉ tiêu tỉ lệ nợ khó đòi:
Chỉ tiêu nợ khó đòi = x 100%
Tỉ lệ nợ khó đòi trong tổng dư nợ quá hạn càng cao, rủi ro mất vốn càng lớn,thì chất lượng tín dụng càng thấp Nó cũng thể thể hiện công tác xử lý nợ quá hạncủa Ngân hàng còn thiếu hiệu quả việc thu hồi nợ còn yếu kém
e, Chỉ tiêu mức sinh lời của tín dụng
Thu nhập từ tín dụng Mức sinh lời của tín dụng = x100%
Dư nợ cho vay bình quân
Chỉ tiêu này đánh giá hoạt động tín dụng ở chổ đó là hoạt động kinh doanhcủa Ngân hàng Chỉ tiêu này phản ánh mức lợi nhuận thu được trên một đồng tíndụng Mức sinh lời cao cho thấy hoạt động kinh doanh có hiệu quả cao Nhất là đốivới các NHTM ở nước ta hiện nay Khoảng 60-70% thu thập là từ hoạt động tíndụng, mà phần lớn là tín dụng ngắn hạn, thì chỉ tiêu mức sinh lời này thể hiện phầnlớn hiệu quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Mức sinh lời cao cũng chứng tỏhoạt động cho vay có chất lượng
Ngoài ra, người ta còn tính tỉ lệ thu nhập
Tỉ lệ thu nhập = Thu nhập từ cho vay/ Tổng thu nhập x 100%
Tỉ lệ này cho biết thu nhập từ tín dụng đóng góp bao nhiêu phần trăm vào thunhập của Ngân hàng Từ đó, có thể nhận xét được vai trò của hoạt động tín dụng vàchất lượng tín dụng đối với hoạt động kinh doanh của Ngân hàng
1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng.
Kinh doanh tín dụng Ngân hàng là nghề kinh doanh tiền tệ , liên quan đếnhầu hết mọi ngành, mọi lĩnh vực, mọi yếu tố kinh tế xã hội và luôn chứa đựng nhiềurủi ro Chất lượng và hiệu quả tín dụng ngắn hạn bị ảnh hưởng bởi nhiều nhân tốnhư các nhân tố thuộc về phía Ngân hàng , các nhân tố thuộc về khách hàng, cácnhân tố thuộc về môi trường
Trang 13a Các nhân tố thuộc về NHTM
Chiến lược kinh doanh của NHTM
Bất cứ một doanh nghiệp nào muốn kinh doanh có hiệu qủa thì phải đưa rađược một chiến lược kinh doanh đúng đắn, kinh doanh tín dụng ngắn hạn của Ngânhàng cũng không nằm ngoài quy luật đó Trong chiến lược kinh doanh các nhàquản lý đề ra các định hướng, nguyên tắc hoạt động, các mục tiêu cần đạt vàphương pháp tiến hành, nó được cụ thể hoá bằng các kế hoạch hoạt động Nếukhông có chiến lược các Ngân hàng sẽ luôn rơi vào tình thế bị động, không biết giảiquyết như thế nào với những tình huống bất ngờ xảy ra Một chiến lược kinh doanhhiệu qủa sẽ giúp Ngân hàng có một phương hướng phát triển nhất quán, giúp choNgân hàng khai thác tốt nhất năng lực hiện có của Ngân hàng và đồng thời nó cũnggiúp cho Ngân hàng có thể thích ứng một cách nhanh chóng với những biến đổi củamôi trường kinh doanh Trên cơ sở chiến lược kinh doanh đúng đắn, Ngân hàng mới có những kế hoạch đúng đắn cho cá bộ phận trong từng thời kỳ để đảm bảothực hiện mục tiêu đề ra, trong đó có bộ phận tín dụng Một chất lượng tín dụngđúng đắn trên cơ sở là một chiến lược kinh doanh phù hợp sẽ góp phần nâng caochất lượng tín dụng
Chính sách tín dụng của NHTM
Chính sách tín dụng của các NHTM là một hệ thống các chỉ tiêu mà Ngânhàng đặt ra và các biện pháp cụ thể để thực hiện các chỉ tiêu đó Trong chính sáchtín dụng tát cả những vấn đề liên quan đến việc cấp tín dụng cho các khách hàngđều được đưa ra và xem xét hết sức cụ thể Các nội dung và chính sách tín dụngbao gồm: Quy mô, kỳ hạn, đảm bảo, phạm vi, Cá khoản tín dụng có vấn đề và cácnội dung khác, nó có tác dụng trực tiếp hay gián tiếp tới chất lượng tín dụng ngắnhạn của các NHTM
Chính sách tín dụng sẽ cung cấp cho cán bộ tín dụng và các nhà quản lýNgân hàng đường lối chỉ đạo cụ thể trong việc ra quyết định tín dụng và xây dựngdanh mục tín dụng : Cấu trúc thực tế của danh mục tín dụng sẽ phản ánh những gì
mà chính sách tín dụng của Ngân hàng đặt ra Nó cho biết trong một thời kỳ Ngânhàng chú trọng vào loại hình tín dụng ngắn hạn Nếu chính sách tín dụng củaNgân hàng trong một thời kỳ nào đó cho thấy quy mô tín dụng ngắn hạn bị thuhẹp, nó có thể là dấu hiệu thể hiện chất lượng tín dụng ngắn hạn của Ngân hàng đóđang có vấn đề hay ít ra là không tốt Như vậy, việc xây dựng và thực hiện chính
Trang 14sách tín dụng hợp lý, khoa học sẽ giúp cho Ngân hàng hoạt động hiệu quả hơn,giúp nâng cao chất lượng tín dụng của Ngân hàng
Thẩm định tín dụng
Để nâng cao hiệu quả và đảm bảo an toàn cho hoạt động của Ngân hàng, mộtnhiệm vụ cấp thiết đặt ra cho NHTM là phải thực hiện tốt công tác thẩm định dự ánđầu tư
Thẩm định dự án đầu tư là việc tổ chức, xem xét một cách khái quát toàndiện các nội dung cơ bản ảnh hưởng trực tiếp đến tính khả thi của dự án Thẩmđịnh dự án đầu tư là khâu cuối cùng trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư nhưng lại làkhâu then chốt để quyết định đầu tư và do đó quyết định đến sự thành công hay thấtbại của dự án đầu tư
Thẩm định dự án đầu tư giúp Ngân hàng phần nào dự báo được hiệu quả tàichính và tính khả thi của từng dự án để có thể chọn lọc đuợc các cơ hội đầu tư tốt,
có hiệu quả , có khả năng thu hồi vốn và do đó có thể hạn chế được rủi ro phát sinh.Cũng từ việc thẩm định, Ngân hàng có thể tham gia góp ý cho chủ đầu tư, đồngthời làm cơ sở để xác định số tiền vay vốn , thời gian cho vay, mức thu lợi hợp lý,tạo điều kiện cho các doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả, trái lại, việc thẩm địnhkém có thể dẫn đến một quyết định cho vay sai lầm, ảnh hưởng rất lớn đến cả Ngânhàng, chủ đầu tư, thậm chí toàn xã hội Đặc biệt là các khoản tín dụng ngắn hạnthường có quy mô đầu tư lớn, diễn ra trong một thời gian dài luôn chứa đựng nhữngrủi ro tiềm ẩn không lường trước được, việc thẩm định kém sẽ gây ra những hậu quả
vô cùng nghiêm trọng Do vậy, làm tốt công tác thẩm định tín dụng , Ngân hàng sẽlựa chọn được những khách hàng tốt và dự án đầu tư có hiệu quả cao Là điều kiện
để nâng cao chất lượng tín dụng của Ngân hàng
Quy trình tín dụng ngắn hạn
Như đã nêu ở trên
Nhân tố con người
Cũng như trong bất kỳ lĩnh vực nào, con ngừoi trong hoạt động tín dụng ngắnhạn cũng là nhân tố quyết định đến chất lượng của hoạt dộng này
Nhân tố con người ở đây bao gồm nhận thức, trình độ, kinh nghiệm, năng lực
và tư cách đạo đức của lãnh đạo, nhân viên Ngân hàng
Nhận thức đúng về vai trò của tín dụng ngắn hạn, mới có thể cso chính sáchtín dụng phù hợp tạo điều kiện nâng cao chất lượng tín dụng Con người với trình
độ, kiến thức, kinh nghiệm có thể thu nhận các thông tin về khách hàng và dự án
Trang 15đầu tư từ đó mới có thể phẩn tích, đánh giá rồi đưa ra quyết định có cho vay haykhông Nếu trình độ, kinh nghiệm, năng lực của con người hạn chế thì không thể cókết quả phân tích, đánh giá đáng tin cậy, Hơn nữa nhiều dự án đầu tư thất bạikhông phải do trình độ mà do tư cách đạo đức của cán bộ Ngân hàng, đặc biệt là cán
bộ tín dụng Qua đó có thể thấy được vai trò vô cùng quan trọng của nhân tố conngười trong việc nâng cao chất lượng tín dụng
Thông tin tín dụng
Trong thời đại ngày nay, với tình hình thị trường , công nghệm kỹ thuật biến động nhanh chóng thì thông tin càng trở nên vô cùng quan trọng và là yếu tốkhông thể thiếu được trong bất kỳ một ngành nào Người nắm được thông tin chính
là người chiến thắng trong mọi cuộc ganh đua
Trong công tác tín dụng , thông tin là cơ sở cho quá trình thẩm định dự án là
cơ sở cho quá trình phân tích, đánh giá của cán bộ thẩm định Bên cạnh các thôngtin do chủ đầu tư cung cấp, khả năng tiếp cận, chủ động thu thập các nguồn thôngtin khác và khả năng xử lý, sử dụng các thông tin của Ngân hàng đóng vai trò quantrọng trong việc đảm bảo kết quả đánh giá là khách quan chính xác Nếu sử dụngmột nguồn thông tin không đáng tin đầy đủ toàn diện, chính xác, cập nhật là mộtnhân tố quan trọng đảm bảo chất lượng hoạt động tín dụng nói chung và hoạt độngngắn hạn nói riêng
b Các nhân tố thuộc về khách hàng
Khách hàng là người trực tiếp nhận các khoản tín dụng của Ngân hàng, do đótrong các yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng ngắn hạn của Ngân hàng khôngthể không tính đến các yếu tố thuộc về phía khách hàng kinh doanh tín dụng Ngân hàng luôn đi liền với hoạt động kinh doanh cuả khách hàng, yếu kém củakhách hàng sẽ tác dụng trực tiếp ngay vào chất lượng, hiệu qủa của tín dụng Ngânhàng chất lượng tín dụng ngắn hạn ít nhiều phụ thuộc vào các nhân tố thuộc về phíakhách hàng như sau :
Năng lực thị trường của doanh nghiệp
Năng lực thị trường của doanh nghiệp biểu hiện ở khối lượng sản phẩm tiêuthụ, vị trí của doanh nghiệp trên thị trường, khả năng phát triển của lĩnh vực màdoanh nghiệp đang hoạt động , mối quan hệ với các bạn hàng đối tác Năng lực thịtruờng cho biết khả năng thích ứng của doanh nghiệp với thị trường, thể hiện mức
độ chấp nhận thị trường đối với sản phẩm của doanh nghiệp Năng lực thị trường
Trang 16của doanh nghiệp càng cao,nhu cầu đầu tư càng lớn, rủi ro của doanh nghiệp càngnhỏ là nhân tố nâng cao chất lượng tín dụng
Năng lực tài chính của doanh nghiệp
Năng lực tài chính của doanh nghiệp thể hiện ở khối lượng vốn tự
có và tỷ trọng vốn tự có trong tổng nguồn vốn của doanh nghiệp đang sử dụng Quy
mô và tỷ trọng vốn tự có càng cao cho thấy tiềm lực tài chính của doanh nghiệpcàng mạnh Năng lực tài chính của doanh nghiệp trong tín dụng ngắn hạn đòi hỏidoanh nghiệp phải có số vốn lưu động tối thiểu cho việc duy trì hoạt động thườngxuyên của tài sản cố định
Điều kiện tín dụng ngắn hạn thường quy định một tỷ lệ cụ thể, tối thiểu củavốn tự có trong tổng nguồn vốn hoạt động hay tỷ lệ vốn tự có so với khối lượngvốn vay, tỷ lệ vốn tự có tham gia vào dự án vay vốn Do vậy năng lực tài chính củadoanh nghiệp càng cao, Khả năng đáp ứng các điều kiện tín dụng càng lớn cànggóp phần vào việ nâng cao chất lượng tín dụng
Năng lực quản lý của doanh nghiệp
Sự thành bại trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp phụ thuộc rấtnhiều vào năng lực quản lý Năng lực quản lý thể hiện ở việc tổ chức hệ thống hạchtoán kế toán và quản lý tài chính phù hợp với những quy định của pháp luật Mộtdoanh nghiệp có nguồn vốn dồi dào nhưng năng lực quản lý kém có thể gây ra thấtthoát vốn, sử dụng vốn không có hiệu quả tức là khoản tín dụng mà Ngân hàng
đã cung cấp cho doanh nghiệp có chất lượng kém Do vậy khi đưa ra quyết định chovay Ngân hàng phải xem xét tới năng lực quản lý của doanh nghiệp
Năng lực sản xuất của doanh nghiệp
Năng lực sản xuất của doanh nghiệp thể hiện ở quy mô, năng suất, quy trìnhsản xuất, tổ chức bán hàng nghiên cứu năng lực sản xuất của doanh nghiệp giúpNgân hàng đánh giá được khả năng đáp ứng nhu cầu thị truờng về chất lượng, giá
cả, khả năng sinh lời và khả năng mở rộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.Biểu hiện cụ thể và rõ nét nhất của năng lực sản xuất là doanh nghiệp phải sản xuất
ổn định và có lãi điều đó tạo điều kiện cho doanh nghiệp trả nợ gốc và lãi ngắn hạncho Ngân hàng theo đúng quy định trong hợp đồng tín dụng, đảm bảo chất lượngtín dụng
Quyền sở hữu tài sản và khả năng đáp úng các biện pháp đảm bảo
Khả năng đáp ứng các điều kiện tín dụng của doanh nghiệp sẽ ảnh hưởngtrực tiếp đến chất lượng tín dụng của Ngân hàng Bởi vì nếu khách hàng không đáp
Trang 17ứng được các điều kiện của Ngân hàng thì Ngân hàng không thể cho vay, điều đólàm giảm khối lượng tín dụng ngắn hạn của Ngân hàng nhưng không ảnh hưởng gìtới chất lượng của khoản tín dụng Mặt khác khi khách hàng gặp rủi ro thì Ngânhàng có thể thu hồi được phần nào vốn nhờ thanh lý tài sản đảm bảo Tuy nhiên đóchỉ là tình thế bắt buộc, không Ngân hàng nào muốn thu hồi nợ thông qua tài sảnđảm bảo Nhờ có tài sản đảm bảo mà Ngân hàng có thể hạn chế bớt rủi ro nâng caochất lượng tín dụng
Từ những yếu tố trên đặt ra cho các Ngân hàng thương mại phải lựa chọnkhách hàng để đầu tư, phải kiểm tra, thẩm định trước khi cho vay giám sát chặt chẽquá trình sử dụng vốn vay, có vậy mới đảm bảo được chất lượng tín dụng
c Các nhân tố khác
Ngoài các nhân tố thuộc về Ngân hàng, khách hàng còn có rất nhiều nhữngnhân tố khác ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng ngắn hạn của NHTM
Môi trường kinh tế xã hội
Cơ chế, chính sách và đường lối của nhà nước, chính phủ trong phát triển nền kinh
tế, tạo môi trường đầu tư, ổn định tiền tệ và lạm phát là những yếu tố tác động trựctiếp đến việc nâng cao chất lượng tín dụng ngắn hạn của NHTM Hoạt động tíndụng ngắn hạn đạt hiệu quả cao hay thấp, rủi ro nhiều hay ít đều có quan hệ chặtchẽ với môi trưòng kinh tế xã hội và sự phát triển của nền kinh tế Một môi trườngkinh tế xã hội lành mạnh sẽ thúc đẩy việc mở rộng quy mô tín dụng , chất lượnghoạt động tín dụng cũng sẽ được nâng lên
Không chỉ môi trường kinh tế trong nước thay đổi sẽ tác động đến chất lượngtín dụng mà sự thay đổi của môi trường kinh tế thế giới cũng gây ra những ảnhhưởng không nhỏ, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp hoạt dộng xuất nhập khẩu
Sự thay đổi ấy thể hiện trực tiếp qua sự biến động về nhu cầu thị truờng, sự biếnđộng về tỷ giá khiến cho các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu bị thua lỗ,ảnh hưởng tới việc trả nợ Ngân hàng
Môi trường pháp luật : Nhân tố luật pháp có vị trí hết sức quan trọng đốivới hoạt động Ngân hàng cũng như các hoạt động kinh tế khác, nó chi phối cáchoạt động kinh tế phải tuân thủ theo pháp luât
Nhân tố luật pháp ở đây bao gồm hệ thống các văn bản pháp luật tạo môi trường,hành lang pháp lý cho hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Cơ chế chính sách rõràng , đồng bộ, nhất quán sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các Ngân hàng chủ động thực hiện hoạt động kinh doanh nói chung và hoạt động tín dụng ngắn hạn nói riêng
Trang 18trong khuôn khổ quy định của pháp luật Môi trường luật pháp không ổn định làmột bất lợi lớn đối với các doanh nghiệp vì doanh nghiệp không thể dự đoán chínhxác được cơ hội kinh doanh , các hoạt động sản xuất kinh doanh sẽ không diễn ratheo đúng kế hoạch làm doanh nghiệp không có khả năng trả nợ cho Ngân hàng đúng hạn làm chất lượng tín dụng của Ngân hàng giảm Mặt khác khi môi trườngluật pháp không ổn định sẽ làm các nhà đầu tư mất lòng tin vào thị trường Khôngdám đầu tư do đó khối lượng tín dụng ngắn hạn của các NHTM sẽ bị giảm sút đểđảm bảo cho vịêc mở rộng và nâng cao chất lượng tín dụng ngắn hạn, đòi hỏi hệthống luật pháp phải đồng bộ, đầy đủ, hướng dẫn của hệ thống văn bản dưới luậtphải thống nhất, đồng thời cũgn phải đảm bảo được tính hiệu lực của luật pháp.
Trang 19CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG XUẤT
NHẬP KHẨU VIỆT NAM CHI NHÁNH LONG BIÊN.
2.1 Khái quát về chi nhánh ngân hàng xuất nhập khẩu chi nhánh Long Biên
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Ngân hàng xuất nhập khẩu chi nhánh Long Biên
Vào ngày 24/5/1989, Ngân hàng Thương mại cổ phần xuất nhập khẩu ViêtNam (Eximbank Việt Nam) được thành lập với tư cách một pháp nhân ngân hàngthương mại cổ phần giao dịch trên thị trường
Ngân hàng đã chính thức đi vào hoạt động ngày 17/01/1990 Ngày 06/04/1992,Thống Đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ký giấy phép số 11/NH-GP cho phépNgân hàng hoạt động trong thời hạn 50 năm với số vốn điều lệ đăng ký là 50 tỷđồng VN tương đương 12,5 triệu USD với tên mới là Ngân hàng Thương Mại CổPhần Xuất Nhập Khẩu Việt Nam (Vietnam Export Import Commercial Joint - StockBank), gọi tắt là Vietnam Eximbank Đến nay vốn điều lệ của Eximbank đạt 7.220 tỷđồng Vốn chủ sở hữu của Eximbank đạt 13.627 tỷ đồng Eximbank hiện là một trongnhững Ngân hàng có vốn chủ sở hữu lớn nhất trong khối Ngân hàng TMCP tại ViệtNam Ngân hàng TMCP Xuất Nhập Khẩu Việt Nam có địa bàn hoạt động rộng khắp cảnước với Trụ sở chính đặt tại số 7 Lê Thị Hồng Gấm, quận I, TP Hồ Chí Minh và 122Chi nhánh, phòng giao dịch được đặt tại Hà Nội, Đà Nẵng, Nha Trang, Cần Thơ, QuảngNgãi, Vinh, Hải Phòng, Quảng Ninh, Đồng Nai, Bình Dương, Tiền Giang, An Giang, BàRịa- Vũng Tàu, Đắc Lắc, Lâm Đồng và TP.HCM Đã thiết lập quan hệ đại lý với hơn
750 Ngân hàng ở tại 72 quốc gia trên thế giới
Eximbank Long Biên được thành lập từ ngày 13/8/2004
Thông tin về Eximbank Việt Nam
Tên đầy đủ: Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Xuất Nhập Khẩu Việt Nam
Tên viết tắt: Chi nhánh Eximbank Long Biên
Tên giao dịch quốc tế : Vietnam Export Import Commercial Joint - Stock Bank Viết tắt : Vietnam Eximbank
Trang 202.1.2 Tổ chức bộ máy.
Cơ cấu tổ chức của chi nhánh hiện nay
Biên chế lúc đầu là 11 người, bao gồm: 01 Giám đốc, 01 Phó giám đốc; Phòng Kếtoán thanh toán: 03 nhân viên; Phòng Kinh doanh dịch vụ: 03 nhân viên; PhòngNgân quỹ hành chính: 03 nhân viên
Hiện nay Eximbank Long Biên đã có biên chế là 54 người Trong đó trình độhọc vấn trên đại học là 04 người, trình độ đại học là 45 người, cao đẳng là 01 người,trung cấp 01 người và trung học phổ thông là 03 người
Sơ đồ cơ cấu tổ chức của chi nhánh Long Biên
GIÁM ĐỐC
PHÓ GIÁM ĐỐC
P TD - TH P DV - KH P NQ - HC ĐỒNG XUÂNPGD PGD NGUYỄN THÁI HỌC
Phó Phòng Trưởng Phòng Trưởng Phòng Trưởng Phòng Phó Phòng
KSV(1)
Nhân viên(3)
Nhân viên(4)
Nhân viên(14)Nhân viên
(10)
Trang 212.1.3 Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh năm 2009 của ngân hàng xuất nhập khẩu Việt nam chi nhánh Long Biên.
* Đánh gía các mặt hoạt động kinh doanh của ngân hàng xuất nhập khẩu chinhánh Long Biên
* Huy động vốn
Công tác huy động vốn của Chi nhánh trong năm 2009 đã duy trì kết quả tốt.Phát huy thế mạnh về uy tín, thương hiệu của Eximbank và với các phương pháphuy động hiệu quả, thực hiện công việc đưa các sản phẩm mới về huy động vào thịtrường theo chủ trương của Ngân hàng Thương mại cổ phần xuất nhập khẩu Viêt Nam, tổng nguồn vốn của Chi nhánh tính đến 31/12/2009 đạt 7.088 tỷ đồng, tăng5% so với năm 2008, trong đó nguồn vốn huy động đạt 6.270 tỷ, tăng 12% so vớicuối năm 2008, đạt kế hoạch ngân hàng Ngoại thương Việt Nam giao cho Chinhánh
- Huy động VND đạt 3.433 tỷ đồng, chiếm 54,7% tổng nguồn vốn huy động
- Huy động ngoại tệ đạt 2.837 tỷ quy đồng, chiếm 45,3% tổng nguồn vốn huyđộng
Cơ cấu nguồn vốn huy động giữa tiền đồng và ngoại tệ đang có chuyển dịchtheo hướng vốn huy động ngoại tệ giảm dần, đây cũng là xu hướng chung của cácngân hàng thương mại trong thời gian gần đây Mặt khác là do xu hướng cạnh tranh
về huy động vốn giữa các ngân hàng, đặc biệt là sự xuất hiện ngày càng nhiều cácngân hàng thương mại cổ phần mới
- Huy động từ Tổ chức kinh tế đạt: 2.134 tỷ đồng, chiếm 34% nguồn vốn huyđộng
- Huy động từ dân cư đạt: 4.136 tỷ đồng, chiếm 66% nguồn vốn huy động *Tín dụng
Công tác tín dụng của Chi nhánh trong năm 2009 tiếp tục thực hiện với phươngchâm“ Hiệu quả & an toàn „ Với nỗ lực của các cán bộ Ngân hàng Thương mại cổ phần xuất nhập khẩu Viêt Nam, dư nợ tính đến 31/12/2009 đạt 2.553 tỷ đồng,tăng 6% so với cuối năm 2008, đạt 88% kế hoạch năm 2009, chiếm 1,49% thị phầntrên địa bàn Số lượng khách hàng là các doanh nghiệp có vay vốn tại Chi nhánhhiện là 133 khách hàng Đến 31/12/2009, dư nợ quá hạn chiếm 0,78% tổng dư nọ
- Cho vay trung dài hạn: chiếm 22,3% tổng dư nọ
- Cho vay ngắn hạn: chiếm 77,7% tổng dư nọ
Trang 22Bên cạnh đội ngũ khách hàng truyền thống về xuất nhập khẩu, mở cácchương trình hỗ trợ về vốn khách hàng vừa và nhỏ để phát triển kinh doanh, Chinhánh đang mở rộng thêm loại hình cho vay thể nhân với nhiều hình thức cho vay
ưu đãi, hấp dẫn: mua ôtô mới, sửa chữa nhà, phát triển kinh tế tư nhân – gia đình,
du học, mua biệt thự tại khu biệt thự, đầu tư xây dựng văn phòng, Đến31/12/2009, dư nợ tại bộ phận tín dụng thể nhân đạt 145 tỷ đồng, chiếm 5,7% tổng
dư nợ Nhìn chung, các khoản vay cá nhân có chất lượng tốt, đảm bảo khả năng trả
nợ ngân hàng
*Dịch vụ
* Thanh toán xuất nhập khẩu và bảo lãnh: Từ đầu năm 2009 đến nay, hoạtđộng xuất nhập khẩu có những thách thức mới do môi trường cạnh tranh ngày cànggay gắt, các quy định rào cản về xuất khẩu ngày càng chặt chẽ, giá một số vật tư vàdịch vụ đầu vào tăng làm hạn chế sức cạnh tranh của hàng hóa trên thị trường quốc tế
- Nhập khẩu đạt 246 triệu USD, vượt 8% kế hoạch đặt ra cho năm 2009, chủyếu là các mặt hàng nhập khẩu nguyên vật liệu, máy móc
- Xuất khẩu đạt 189 triệu USD, vượt 69% kế hoạch đặt ra từ đầu năm, chủyếu là các sản phẩm nông, lâm sản
Dư nợ bảo lãnh đến 31/12/2009 đạt 113 tỷ đồng
* Hoạt động thẻ và dịch vụ ngân hàng: Ngân hàng Ngoại thương đã liên
minh với các ngân hàng cổ phần để phát triển mạng lưới ngân hàng đại lý, mạng lướidịch vụ thẻ và thúc đẩy hợp tác dịch vụ thẻ giữa ngân hàng và doanh nghiệp với cácchương trình hợp tác như thanh toán cước điện thoại, Internet, phí bảo hiểm,
Với mạng lưới ATM và các đơn vị chấp nhận thẻ rộng khắp trên toàn quốc,
số lượng thẻ do Eximbank phát hành ngày càng tăng Số lượng thẻ ATM phát hànhmới trong năm 2009 của Eximbanh đạt 27.155 thẻ, nâng tổng số thẻ ATM của Chinhánh lên 73.029 thẻ Tổng số thẻ debit năm 2007 đạt 31.629 thẻ, vượt 63% kếhoạch năm 2009
Số lượng phát hành thẻ tín dụng mới đạt 728 thẻ, nâng tổng số thẻ tín dụngcủa Chi nhánh đạt 3.254 thẻ Thẻ ghi nợ quốc tế MTV phát hành mới trong năm
2009 đạt 2.317 thẻ, nâng tổng số thẻ MTV lên 3.599 thẻ Thẻ ghi nợ visa đạt 1.399thẻ, thẻ ghi nợ SGH24 đạt 758 thẻ
Sau khi chuyển một số máy ATM cho các Chi nhánh cấp 2 nâng cấp trựcthuộc Ngân hàng Thương mại cổ phần xuất nhập khẩu Viêt Nam, Chi nhánh ngânhàng xuất nhập khẩu Long Biên hiện có 34 máy ATM, 86 đơn vị chấp nhận thẻ
Trang 23Với chính sách đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ ngân hàng và từng bướcđưa các sản phẩm ngân hàng hiện đại vào tiếp cận cuộc sống Ban giám đốc Chinhánh đã tạo điều kiện cho công tác khuếch trương các tiện ích dịch vụ ngân hàng,nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng nhằm thu hút được đông đảo khách hàngThủ đô và các tỉnh lân cận đến sử dụng các dịch vụ của ngân hàng Eximbank Côngtác dịch vụ ngân hàng phát triển là một trong những yếu tố quan trọng tác động đếntốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy động của Chi nhánh.
Không ngừng mở rộng dịch vụ và nâng cao chất lượng dịch vụ nhằm nângcao doanh thu từ dịch vụ là mục tiêu được Chi nhánh đặt lên hàng đầu
- Số lượng tài khoản cá nhân mở mới đạt: 29.291 tài khoản, nâng tổng số tàikhoản cá nhân mở tại Chi nhánh là 72.653 tài khoản, đạt 120% kế hoạch năm 2009
- Chuyển tiền trong nước đạt 322,6 tỷ đồng, tăng 26% so với năm 2008
- Chuyển tiền nước ngoài đi đạt 1,3 triệu USD
- Chi trả kiều hối đạt 61,7 triệu USD, tăng 5% so với năm 2008 Trong đó,chuyển tiền qua hệ thống Money Gram đạt hơn 300.000 USD Mặc dù con số nàychưa cao so với lượng tiền nước ngoài chuyển đến qua tài khoản hoặc CMT, tuynhiên sự mở rộng dịch vụ chuyển tiền sẽ góp phần nâng cao thương hiệu choEximbank
- Doanh số bán ngoại tệ tại các bàn thu đổi đạt 6,4 triệu USD, tăng 201% sovới năm 2008
Với nỗ lực của các cán bộ, Chi nhánh hiện có 40 đơn vị đăng ký tham gia sửdụng dịch vụ ngân hàng điện tử VCB Money và 450 đơn vị, 3.000 lượt đăng kýtruy vấn thông tin qua Internet i-b@nking, sử dụng dịch vụ sms-banking
* Kinh doanh ngoại tệ: Doanh số mua bán ngoại tệ của Eximbank Long Biên
năm 2009 đạt 725 triệu USD, tăng 3% so với năm 2008 Lãi kinh doanh ngoại tệnăm 2009 đạt gần 6 tỷ đồng
Ngoại tệ mua được phần lớn từ nguồn các Tổ chức kinh tế đáp ứng cho nhucầu thanh toán nhập khẩu và trả nợ tại Chi nhánh Đồng thời, để tránh rủi ro về tỷgiá cũng như xác định rõ nguồn ngoại tệ đảm bảo thanh toán cho khách hàng,Eximbank Long Biên đã sử dụng công cụ phái sinh là hợp đồng có kỳ hạn đối vớicác doanh nghiệp có nhu cầu nhập khẩu hàng hóa
* Ngân quỹ: Năm 2009, khối lượng giao dịch thu chi tiền mặt của Eximbank
tăng nhiều, gồm cả ngoại tệ cũng như Việt Nam đồng: Tổng thu chi VND đạt
Trang 2428.450 tỷ đồng, tăng 33% so với kế hoạch năm 2009, thu chi ngoại tệ quy USD đạt790,56 triệu USD, tăng 32% so với kế hoạch năm 2009.
Công tác ngân quỹ luôn đảm bảo an toàn Lãnh đạo và Phòng Kiểm tra nội bộthường xuyên kiểm tra, đôn đốc thực hiện đúng quy trình thu chi tiền mặt, ngoại tệ,
tổ chức tốt công tác thu chi và điều hòa tiền mặt, đáp ứng đầy đủ nhu cầu tiền mặtcho sản xuất và đời sống, tạo được lòng tin với khách hàng Bên cạnh đó, cùng với
sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của Ban giám đốc cũng như sự nỗ lực của từng giaodịch viên (teller) nên mặc dù luôn có sự thay đổi về mặt nhân sự, các nghiệp vụ đadạng hơn, khối lượng công việc nhiều hơn, nhưng trong giao dịch tiền mặt vẫn luônđảm bảo chi đủ, đúng, thực hiện trả lại tiền thừa cho khách, thu được nhiều tiều giảđảm bảo giải phóng khách hàng nhanh, thái độ phục vụ nhiệt tình
* Kế toán: Công tác thanh toán của ngân hàng luôn đảm bảo chính xác, kịp
thời cho các giao dịch chuyển vốn của khách hàng với thời gian ngắn nhất và chất lượng tốt nhất, tạo điều kiện tăng nhanh tốc độ chu chuyển của đồng vốn qua ngânhàng Doanh số thanh toán điện tử liên ngân hàng và thanh toán IBT ONLINE đạtkết quả cao
- Doanh số thanh toán bù trừ đạt 10.973 tỷ đồng, tăng 57% so với năm 2008
- Doanh số thanh toán IBPS đạt 82.540 tỷ đồng, tăng 106% so với năm 2008
- Doanh số thanh toán IBT online đạt 83.673 tỷ đồng, tăng 144% so với năm2008
Kết quả kinh doanh năm 2009: Lợi nhuận đạt 111 tỷ đồng
2.2 Thực trạng chất lượng tín dụng ngắn hạn tại ngân hàng xuất nhập khẩu chi nhánh Long biên.
2.2.1 Thực trạng chất lượng tín dụng ngắn hạn tại chi nhánh.
Tình hình chung về kinh tế xã hội
Năm 2009, nền kinh tế nước ta đang trên đà tăng truởng GDP năm đạt 8,5%.Các hoạt động kinh tế càng về tháng cuối năm càng sôi động, lãi suất của các ngânhàng sau một thời gian liên tục điều chỉnh hiện đang duy trì ở mức ổn định sau việccắt giảm lãi suất cua Fed Gần đây, các Ngân hàng TMCP đang nâng lãi suất huyđộng để có đủ vốn cho hoạt động cuối năm Giá vàng tăng đột biến ở mức 1,6 vàlên tới 1,7 triệu đồng?chỉ,thị trường chứng khoán với nhiều diễn biến quanh mốcVn-Index đạt 1.000 điểm,thị trường bất động sản phục hồi với nhiều dấu hiệu mới Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) năm 2009 tăng 12,63% so với tháng 12/2008 tác độngmạnh tới nền kinh tế và đời sống, đặc biệt trong mấy tháng cuối năm
Trang 25Về cơ chế chính sách
Có chế chính sách và pháp luật của nhà nước tiếp tục được hoàn thiện tạomôi trương pháp lý hoàn chỉnh đã tác động đến quá trình sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp và hoạt động Ngân hàng Trong đó các luật đất đai luật các tổ chức tíndụng sửa đổi, luật doanh nghiệp, bộ luật dân sự sửa đổi có tác động mạnh mẽ
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã ban hành QĐ 127 sửa đổi, bổ sung QĐ
1627 nhăm tiếp tục đổi mới chính sách tín dụng theo hướng thông lệ Quốc tế, các
tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động Ngân hàng QĐ 457, phân loại nợ QĐ 493 chỉ thị về nâng cao chất lượng tín dụng vảo đảm an toàn hoạt động chỉ thị 02 nhằm nâng cao quyền tự chủ tự chịu trách nhiệm của các tổ chức tín dụng Nhữngqui định trên đây đã và đang tác động rất mạnh đến hoạt động Ngân hàng nóichung và hoạt động tín dụng nói riêng
Từ ngày chi nhanh Eximbank Long Biên đã được triển khai và đi vào hoạtđộng, có thể nói ngay từ buổi ban đầu chi nhánh đã có một nền tảng tương đối tốtvới một đội ngũ cán bộ có trình độ học vấn tương đối đồng đều,sự hăng hái và nhiệttình của lớp trẻ,sự đoàn kết gắn bó của các cán bộ của chi nhánh.Tuy nhiên Chinhánh cũng gặp phải không ít khó khăn trong công tác xây dựng thị phần trên địabàn thủ đô đã có nhiều Ngân hàng cạnh tranh, đội ngũ cán bộ trẻ chưa có nhiều kinhnghiệm Phòng tín dụng cũng không nằm ngoài những thuận lợi khó khăn đó, độingũ cán bộ phòng tín dụng- chi nhánh Eximbank Long Biên đã nổ lực phấn đấu, đã
cố găng hoàn thành nhiệm vụ kế hoạch được giao năm 2009
2.2.2 Quy trình tín dụng ngắn hạn của chi nhánh Long Biên
Để chuẩn hoá quá trình tiếp xúc, phân tích, cho vay và thu nợ đối với cáckhách hàng các Ngân hàng thường đặt ra quy trình phân tích tín dụng Khi cho vaythì đều phải tuân thủ theo quy trình phân tích tín dụng này Quy trình phân tích tíndụng ngắn hạn là các bước (hay nội dung các công việc) mà cán bộ tín dụng, cácphòng ban có liên quan trong NHTM phải thực hiện khi cho khách hàng vay vốnngắn hạn Quy trình phân tích tín dụng ngắn hạn bao gồm có 4 bước sau:
Phân tích trước khi cấp tín dụng ngắn hạn cho khách hàng
Đây là bước đầu tiên cũng là bước quan trọng nhất quyết định chất lượng củaphân tích tín dụng Công việc chủ yếu là tìm kiếm, thu thập và xử lý các thông tinliên quan đến khách hàng bao gồm năng lực sử dụng vốn vay và uy tín, khả năngtạo ra lợi nhuận và nguồn ngân quỹ, quyền sở hữu các tài sản và các điều kiện kinh
tế khác có liên quan đến người vay