Thực chất của hướng nghiệp không phải là sự quyết định nghề mà là giúp các em có được những hiểu biết cần thiết về bản thân, về thế giới nghề nghiệp xung quanh, về những yếu tố ảnh hưở
Trang 1TẬP THỂ KHOA SƯ PHẠM KỸ THUẬT
ĐỀ CƯƠNG BÀI GIẢNG
GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP
(Lưu hành nội bộ)
Hưng Yên, 2015
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT HƯNG YÊN
KHOA SƯ PHẠM KỸ THUẬT -SampleBatch PDF Merger
Trang 21.1.1 Khái niệm hướng nghiệp
Thuật ngữ hướng nghiệp xuất hiện trên thế giới cách đây hàng trăm năm nhưng
cho đến nay vẫn còn rất nhiều người hiểu chưa đúng hoặc chưa đầy đủ Có người nghĩ đơn giản hướng nghiệp là hướng dẫn, quyết định việc chọn ngành, nghề cho HS chuẩn bị tốt nghiệp phổ thông; có người cho rằng đây là quá trình định hướng cho các
em lựa chọn những ngành, nghề có giá trị trong xã hội Có người lại cho rằng hướng nghiệp là công việc dành riêng cho nhà trường và chỉ có nhà trường mới làm được hướng nghiệp…
Vậy, nên hiểu về hướng nghiệp như thế nào cho đúng?
“Hướng nghiệp trong giáo dục là hệ thống các biện pháp tiến hành trong và ngoài nhà trường để giúp HS có kiến thức về nghề nghiệp và có khả năng lựa chọn nghề nghiệp trên cơ sở kết hợp nguyện vọng, sở trường của cá nhân với nhu cầu sử dụng lao động của xã hội
Thực chất của hướng nghiệp không phải là sự quyết định nghề mà là giúp các em
có được những hiểu biết cần thiết về bản thân, về thế giới nghề nghiệp xung quanh, về
những yếu tố ảnh hưởng/tác động tới bản thân trong việc chọn nghề để lựa chọn nghề phù hợp và giải quyết thỏa đáng mối quan hệ giữa cá nhân với nghề, giữa cá nhân với
xã hội
Hướng nghiệp là giáo dục sự lựa chọn nghề một cách có chủ đích nhằm đảm
bảo cho các em hạnh phúc trong lao động nghề nghiệp, lao động đạt hiệu suất cao và cống hiến được nhiều nhất cho xã hội
Hướng nghiệp không chỉ được thực hiện trong nhà trường bởi các thầy, cô giáo mà còn
được tiến hành tại gia đình và cộng đồng với sự tác động, hỗ trợ của các cơ quan, đoàn
thể, tổ chức xã hội, đặc biệt là cha mẹ HS
1.1.2 Mục đích của hướng nghiệp
Mục đích chính của công tác hướng nghiệp là “Phát hiện, bồi dưỡng tiềm năng sáng tạo của cá nhân, giúp họ hiểu mình và hiểu yêu cầu của nghề, chuẩn bị cho thanh niên sự sẵn sàng tâm lý đi vào những nghề mà các thành phần kinh tế trong xã hội đang cần nhân lực, trên cơ sở
đó đảm bảo sự phù hợp nghề cho mỗi cá nhân”3
Vì vậy, công tác hướng nghiệp được thực hiện với mong muốn giúp HS4: Ở bậc THCS: Các em có thể khám phá bản thân "mình là ai" Kết quả là HS có thể lựa chọn ban học phù hợp ở cấp THPT (tự nhiên, xã hội ) và có kế hoạch nghề nghiệp sau khi tốt nghiệp THPT Đối với những HS không thể tiếp tục học lên THPT, các em sẽ có tự tin và
SampleBatch PDF Merger
Trang 3năng lực để chọn các chương trình đào tạo nghề/trường nghề phù hợp sau khi tốt nghiệp THCS
Ở bậc THPT: Các em có thể hiểu biết sâu hơn "mình là ai" về năng lực/ kĩ năng/ điểm mạnh của bản thân; hiểu được các cơ sở lao động của địa phương và quốc gia, bao gồm thị trường lao động, nhu cầu của xã hội, các đặc tính của nghề, quy mô và cơ cấu nhân lực tại địa phương ; hiểu rõ các tác động từ xã hội, gia đình tới việc lập kế hoạch nghề nghiệp và ra quyết định nghề nghiệp của bản thân
1.2 Tầm quan trọng của công tác hướng nghiệp
1.2.1 Vai trò của hướng nghiệp
Công tác hướng nghiệp cho thế hệ trẻ có tầm quan trọng đặc biệt không chỉ cho tương lai của các em mà còn có tác động đến gia đình và xã hội, thể hiện như sau:
Hình 1 Vai trò của hướng nghiệp
Tuy nhiên, trong thực tế hiện nay có một vấn đề nổi cộm dễ nhận thấy, đó là: hầu hết các gia đình có con đi học đều muốn con thi vào đại học ngay cả khi khả năng học tập của các em còn chưa tốt Rất nhiều em chạy theo những ngành nghề “thời thượng” đang được đánh giá cao trong khi hiểu biết về đầu ra của thị trường lao động hầu như không có, khả năng của bản thân lại không phù hợp với ngành nghề đã chọn Hậu quả là nhiều em rất khó kiếm được việc làm sau khi tốt nghiệp trường đại học, nhiều em phải xin làm những công việc trái ngành, trái nghề hoặc không cần phải có trình độ đại học…
Từ những phân tích trên cho thấy, vấn đề cấp thiết được đặt ra lúc này là làm thế nào để nâng cao nhận thức của mọi người đối với công tác hướng nghiệp, huy động được nhiều lực lượng xã hội, đặc biệt là cha mẹ HS tham gia hướng nghiệp một cách tích cực, đúng hướng và hiệu quả
HƯỚNG NGHIỆP
Nhà trường:
- Phân luồng hợp lý HS PT sau khi tốt nghiệp
- Cung cấp nguồn nhân lực chất lượng và phù hợp
Trang 41.2.2 Một số quan niệm trong quá trình hướng nghiệp
- Xem nhẹ việc định hướng nghề, cho rằng chỉ cần định hướng nghề cho những
em HS “không có kết quả học tập tốt” và không có khả năng học lên cao hơn;
- Coi trọng con đường học vấn, xem nhẹ việc học nghề: Trong số 572 cha mẹ
HS tham gia phỏng vấn về hướng nghiệp, có đến 88,7% người muốn con học cao lên đến đại học Chỉ có 10,6% người muốn con học nghề và 0,7% muốn con tham gia lao động;
- Thường hướng người học vào những ngành học đang được coi là “thời thượng”,
dễ xin việc hoặc chọn công việc “lương cao, nhàn hạ”, tức là chỉ chú ý đến những điểm hấp dẫn của nghề, chưa chú ý tìm hiểu những khó khăn thử thách, các yêu cầu cụ thể của nghề;
- Áp đặt ý kiến của cha mẹ, thiếu tôn trọng ý kiến của con
- Bỏ qua kế hoạch để đạt được mục tiêu nghề nghiệp;
- Bất bình đẳng về giới trong khi định hướng nghề nghiệp cho con
Nguyên nhân chủ yếu là do đa số cha mẹ còn thiếu kiến thức cơ bản về hướng nghiệp Họ thường hướng nghiệp cho con theo cảm tính và kinh nghiệm, bỏ qua bước phân tích, đối chiếu xem nghề đó có phù hợp với bản thân con mình hay không ?
Để giúp học sinh hướng nghiệp, điều quan trọng nhất là cần biết được các bước cần làm và cách thực hiện từng bước đó ra sao Hình vẽ dưới đây là sơ đồ tổng quát về các bước cần làm trong quy trình hướng nghiệp:
- Thông tin nghề nghiệp
- Thông tin thị trường tuyển dụng
- Nghiên cứu nghề nghiệp
- Mục tiêu ngắn và dài
hạn
Làm sao để đi đến nơi bạn muốn đến?
Trang 51.2.3 Nguyên nhân lựa chọn nghề nghiệp sai lầm
Trong quá trình tìm và làm việc, đôi khi bạn bị chi phối bởi những quan niệm không đúng Chẳng hạn bạn cho rằng phải làm công việc liên quan đến chuyên ngành đã học mới
dễ thành công, nhưng thực tế lại không hẳn như vậy…
Dưới đây là một vài quan niệm nghề nghiệp sai lầm Nếu bạn đang giữ quan niệm đó, hãy mau mau thay đổi đi!
- Chọn nghề theo sự áp đặt của người lớn, người khác
- Chọn nghề theo chuẩn của nhóm, của bạn bè và của người yêu
- Chọn nghề may rủi
- Chọn nghề chỉ ở bậc Đại học
- Chọn nghề theo “mác”, theo “nhãn”
- Chọn nghề nổi tiếng, dễ kiếm tiền
- Chọn nghề “gấp, rút” mà không có sự kiên nhẫn, hy sinh
- Chọn nghề không nghĩ đến những điều kiện có liên quan như: điều kiện kinh tế cá nhân hoặc gia đình, thời gian học nghề, tuổi thọ của nghề, đầu ra của nghề…
* Ba nhầm lẫn cần tránh khi chọn nghề
Lựa chọn sự nghiệp là một việc không đơn giản chút nào Chỉ một nhầm lẫn nhỏ cũng có thể khiến bạn phải hối tiếc suốt đời Dưới đây là 3 nhầm lẫn phổ biến, bạn nên tham khảo để tránh xa
Nhầm lẫn giữa cái bạn giỏi và cái bạn thích
Bạn không cần phải dành cả cuộc đời để ca hát chỉ bởi vì bạn có chất giọng mượt mà như chim sơn ca Bạn cũng chẳng cần phải trở thành một đầu bếp bởi bạn có cảm nhận nhạy cảm bẩm sinh với các loại gia vị Để bắt đầu tìm kiếm việc làm, hãy lập ra hai bảng danh sách, 1 bảng liệt kê những gì bạn giỏi, và một liệt kê những gì bạn muốn làm
Nhầm lẫn giữa sở thích và sự nghiệp
Vậy là bạn đã hoàn thành bản danh sách và nhận thấy rằng mình thích chạy, yêu luật, ham đọc sách và chơi bóng rổ Giờ bạn lại đau đầu vì không biết kết hợp tất cả những yếu
tố đó vào một công việc như thế nào Đừng lo lắng Bởi bạn không cần phải làm thế
Ví dụ như, bạn có thể yêu thích khiêu vũ nhưng bạn biết rằng mình không thể sống đầy đủ bằng con đường này Do đó, khiêu vũ là sở thích lớn của bạn Bạn có thể duy trì hoạt động này để giải trí, thư giãn, nhưng hãy tách biệt nó với công việc chính của bạn
Nhầm lẫn giữa một phần và toàn bộ công việc
Cái bạn thích làm không nhất thiết phải là cái chủ đạo mà bạn làm Người ta thường
có xu hướng nghĩ rằng họ phải trở thành cái họ thích thay vì làm nó
Trang 6Ví dụ như một người có sở thích là viết Thay vì tìm kiếm cơ hội được thực hiện việc VIẾT, anh ta lại nghĩ rằng mình phải trở thành một nhà văn Anh ta chỉ theo đuổi sự nghiệp “nghiên bút” như tiểu thuyết gia, phóng viên, người viết slogan, trong khi đó anh ta
có thể hướng vào vị trí một bộ trưởng, một nhân viên PR, một biên tập viên hay một viên chức vận động hành lang cho chính phủ Ở đó, anh ta hoàn toàn có “đất” để “múa bút” thoải mái đồng thời phát huy được những khả năng khác của bản thân
1.2.4 Hậu quả của việc lựa chọn nghề nghiệp sai lầm
1.2.4.1 Bạn sẽ cảm thấy cuộc sống thật nhàm chán và bế tắc
Bạn hãy thử tưởng tượng bạn không thích làm việc gì nhưng cứ bị ép buộc làm ngày này qua ngày khác thì bạn cảm thấy ra sao Rất nhàm chán và giống như tra tấn phải không Chúng ta chỉ có một đời để sống, một ngày mai để hy vọng và một ngày hôm nay để làm những thứ mình yêu thích Và nghề nghiệp trong cuộc sống rất đa dạng và phong phú đủ
để bạn chọn được công việc mà mình yêu thích Vậy tại sao bạn không chọn?
1.2.4.2 Không phát huy thế mạnh bản thân
Bạn không yêu thích công việc thì làm sao bạn có thể đào sâu suy nghĩ, tìm hiểu về
nó được Điều đó là không thể dẫn bạn đến thăng hoa của sự nghiệp và thành công trong cuộc sống
2.4.3 Tốn thời gian và tiền bạc
Cuối cùng, một thiệt thòi rất lớn nữa chính là hao phí thời gian và tiền bạc Nếu lỡ một ngày bạn chợt nhận ra cuộc sống của mình là những chuỗi ngày nhàm chán lặp đi lặp lại, rồi bạn quyết định đi theo con đường mình thích, đó cũng là lúc bạn nhận ra mình đã đánh mất mấy năm tuổi trẻ cho những điều vô bổ mất Nếu làm một phép tính đơn giản cho
4 năm đại học thường, hay 6-7 năm đối với đại học y, rồi lại cần 2 đến 4 năm học lại nghề mình thích, ngoài số tiền rất lớn chúng ta phải bỏ ra cho việc học tập thì thời gian và cơ hội
là thứ quý giá nhất bị mất mà không bao giờ quay lại Đó là lí do tại sao bạn cần suy nghĩ
chín chắn trước khi chọn ngành chọn nghề mình theo đuổi
1.3 Nhu cầu lao động của xã hội
1.3.1 Khái niệm về thị trường lao động
Có rất nhiều khái niệm về thị trường lao động, mỗi một thị trường lao động lại có những đặc điểm riêng của mình Thị trường lao động khác biệt so với thị trường hàng hóa
ở chỗ, nó thể hiện phần lớn những biểu hiện kinh tế xã hội của cả xã hội và có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng tới sự phát triển của nó Vì vậy, thị trường lao động của Mỹ, Nhật, Tây
Âu, Nga, Trung Quốc và Việt Nam có rất nhiều khác nhau
Vậy thế nào là thị trường lao động, Các tên gọi mà chúng ta thường gặp trong các ấn
phẩm khoa học và các phương tiện thông tin đại chúng, tên nào chính xác hơn: “thị trường lao động”, “thị trường sức lao động”, “thị trường dân số tích cực kinh tế”, “thị trường
Trang 7nguồn nhân lực” ? Bản chất của chúng có gì đặc biệt và chúng khác nhau ở điểm nào? '
Theo Tổ chức lao động quốc tế (ILO) thì: “Thị trường lao động là thị trường trong đó có các dịch vụ lao động được mua và bán thông qua quá trình để xác định mức độ có việc làm của lao động, cũng như mức độ tiền công” Khái niệm này nhấn mạnh đến các dịch vụ lao động được xác định thông qua việc làm được trả công
Các nhà khoa học Mỹ cho rằng: “… Thị trường mà đảm bảo việc làm cho người lao
động và kết hợp giải quyết trong lĩnh vực việc làm, thì được gọi là thị trường lao động” ;
hoặc, “… Thị trường - đó là một cơ chế, mà với sự trợ giúp của nó hệ số giữa người lao
động và số lượng chỗ làm việc được điều tiết”
Các nhà khoa học kinh tế Nga thì lại cho rằng: “Thị trường lao động được hiểu như một hệ thống quan hệ xã hội, những định mức và thể chế xã hội (trong đó có cả pháp luật), đảm bảo cho việc tái sản xuất, trao đổi và sử dụng lao động”; hoặc: Hệ thống những quan
hệ được hình thành trên cơ sở giá trị giữa những người sử dụng lao động (sở hữu tư liệu sản xuất) và những người làm thuê (sở hữu sức lao động) về vấn đề trước nhất là thoả mãn
cầu lao động và vấn đề tiếp theo là làm thuê như nguồn phương tiện để tồn tại” “… Thị
trường lao động - đó là một dạng đặc biệt của thị trường hàng hóa, mà nội dung của nó là thực hiện vấn đề mua và bán loại hàng hóa có ý nghĩa đặc biệt - sức lao động, hay là khả năng lao động của con người Như một phạm trù kinh tế thị trường sức lao động thể hiện quan hệ kinh tế giữa một bên là người làm chủ hàng hóa này, sở hữu sức lao động - người bán nó và bên kia, với người sở hữu vốn - mua sức lao động”
Theo các nhà khoa học kinh tế Việt Nam khái niệm này còn đa dạng và phong phú hơn nhiều: “Thị trường lao động là toàn bộ các quan hệ lao động được xác lập trong lĩnh vực thuê mướn lao động (nó bao gồm các quan hệ lao động cơ bản nhất như thuê mướn và
sa thải lao động, tiền lương và tiền công, bảo hiểm xã hội, tranh chấp lao động ), ở đó
diễn ra sự trao đổi, thoả thuận giữa một bên là người lao động tự do và một bên là người sử dụng lao động” Hoặc: “Thị thường lao động được hình thành trong bối cảnh giải phóng người lao động từ trong các xí nghiệp và tăng thất nghiệp Bản thân thị trường lao động thường xuyên đồng nhất với thất nghiệp, cũng là những người không có việc làm, nhưng đang đi tìm nó, còn cầu là những chỗ làm việc trống” “Thị trường lao động (hoặc thị trường sức lao động) là nơi thực hiện các quan hệ xã hội giữa người bán sức lao động (người lao động làm thuê) và người mua sức lao động (người sử dụng sức lao động), thông qua các hình thức thoả thuận về giá cả (tiền công, tiền lương) và các điều kiện làm việc khác, trên cơ sở một hợp đồng lao động bằng văn bản, bằng miệng, hoặc thông qua các dạng hợp đồng hay thoả thuận khác” “Thị trường “sức lao động” là nơi thể hiện quan hệ
Trang 8xã hội giữa người lao động làm thuê và người thuê mướn lao động thông qua sự điều chỉnh giá cả tiền công” “Thị trường lao động biểu hiện mối quan hệ giữa một bên là người có sức lao động và bên kia là người sử dụng sức lao động nhằm xác định số lượng và chất lượng lao động sẽ đem ra trao đổi và mức thù lao tương ứng”
Bất kỳ khái niệm nào đều có những khía cạnh đúng Chúng tôi trích dẫn trên đây chỉ
một vài trong số nhiều khái niệm để nhấn mạnh tính phức tạp của chính khái niệm “thị trường lao động”, cùng với tính đa dạng và sự đặc biệt của nó Tuy nhiên, theo quan điểm
của chúng tôi, phương pháp tiếp cận của một vài tác giả trên đây sẽ dẫn đến sẽ đánh giá sai lệch một cách nghiêm trọng những tình huống đang xuất hiện trong lĩnh vực việc làm và triển vọng hình thành, phát triển của thị trường lao động trong nền kinh tế đang chuyển đổi mạnh mẽ sang quan hệ thị trường
Từ đó, trong khái niệm “thị trường lao động” chúng tôi thấy cần thiết phải bổ sung thêm, dựa vào những gì thị trường lao động tồn tại và nó hoạt động trong bối cảnh không gian nào
Theo ý kiến chúng tôi, khái niệm “thị trường lao động” mà nhà khoa học kinh tế Nga
Kostin Leonit Alecxeevich đưa ra là tương đối đầy đủ: “Thị trường lao động - đó là một cơ chế hoạt động tương hỗ giữa người sử dụng lao động và người lao động trong một không gian kinh té xác định, thể hiện những quan hệ kinh tê' và pháp lý giữa họ với nhau” Hay
nói chi tiết hơn, thị trường lao động là tập hợp những quan hệ kinh tế, pháp lý, xuất hiện giữa người sở hữu sức lao động (người lao động) và người sử dụng nó (người thuê lao động) về vấn đề chỗ làm việc cụ thể, nơi và hàng hóa và dịch vụ sẽ được làm ra Quá trình
sử dụng sức lao động, lao động sẽ được hình thành trong sản xuất chứ không phải trên thị trường Đối với người nắm giữ sức lao động sẽ được tạo ra cơ hội để nhận chỗ làm việc, nơi mà anh ta có thể làm việc, thể hiện khả năng, và nhận thụ nhập để tái sản xuất sức lao động của mình Đối với người thuê lao động sẽ có cơ hội tăng lợi nhuận kinh tế Trên thị trường sẽ hình thành những quan hệ việc làm Vì vậy, nó xác định nội dung đích thực của thị trường lao động như thị trường việc làm
1.3.2 Các yếu tố của thị trường lao động
Các yếu tố chủ yếu tạo nên thị trường lao động bao gồm bên cung sức lao động; bên cầu sức lao động; các quan hệ giao dịch giữa bên cung và bên cầu sức lao động về giá cả sức lao động Trạng thái của các yếu tố này quyết định cơ cấu và đặc điểm của thị trường lao động Trong đó, bên cung và bên cầu sức lao động là hai chủ thể của thị trường lao động, có quan hệ ràng buộc với nhau, dựa vào nhau để tồn tại Sự chuyển hóa lẫn nhau của
Trang 9hai chủ thể này quyết định tính cạnh tranh của thị trường lao động: Khi bên cung sức lao động lớn hơn nhu cầu về loại hàng hóa này, thì bên mua ở vào địa vị có lợi hơn trên thị trường lao động (thị trường của bên mua) Ngược lại, nếu cầu về sức lao động trên thị trường lớn hơn cung (thị trường của bên bán) người bán sẽ có lợi thế hơn, có nhiều cơ hội
để lựa chọn công việc, giá cả sức lao động có thể được nâng cao
1.3.2.1 Cung về sức lao động
Là tổng nguồn sức lao động do người lao động tự nguyện đem ra tham dự vào
quá trình tái sản xuất xã hội, tức tổng số nhân khẩu trong độ tuổi lao động, có năng lực lao động, và cả tổng số nhân khẩu không nằm trong độ tuổi lao động, nhưng trong thực tế chính thức tham gia vào quá trình tái sản xuất xã hội
Thông thường, khi nói đến cung trên thị trường lao động, người ta thường phân biệt
rõ thành hai phạm trù: cung thực tế và cung tiềm năng
- Cung thực tế về lao động: bao gồm tất cả những người đủ 15 tuổi trở lên đang làm
việc và những người thất nghiệp;
- Cung tiềm năng về lao động: bao gồm những người đủ 15 tuổi trở lên đang làm
việc, những người thất nghiệp, những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động nhưng đang đi học, đang làm công việc nội trợ, hoặc không có nhu cầu làm việc
Các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến cung lao động là: quy mô và tốc độ tăng dân số, quy định về độ tuổi lao động, tình trạng tự nhiên của người lao động, tỷ lệ tham gia của lực lượng lao động vào thị trường lao động và một số nhân tố khác
1.3.2.2 Cầu về sức lao động
Là nhu cầu về sức lao động của một quốc gia, một địa phương, một ngành hay
một doanh nghiệp trong một khoảng thời gian nhất định, nhu cầu này thể hiện qua khả năng thuê mướn lao động trên thị trường lao động Về mặt lý thuyết, cầu về lao động cũng
được phân chia thành hai loại: cầu thực tế và cầu tiềm năng
- Cầu thực tế về lao động: là nhu cầu thực tế về lao động cần sử dụng tại một thời điểm nhất định, thể hiện qua số lượng những chỗ làm việc trống và chỗ làm việc mới
- Cầu tiềm năng về lao động: là nhu cầu về lao động cho tổng số chỗ làm việc có thể
có được, sau khi đã tính đến các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tạo việc làm trong tương
Trang 10lai như vốn, đất đai, tư liệu sản xuất, công nghệ, và cả những điều kiện khác nữa như chính trị, xã hội, v.v
Cầu về lao động bao gồm hai mặt: thứ nhất, cầu về chất lượng lao động, và thứ hai, cầu về số lượng lao động Xét từ giác độ số lượng, trong điều kiện năng suất lao động không biến đổi, cầu về sức lao động xã hội tỷ lệ thuận với quy mô và tốc độ sản xuất Nếu quy mô sản xuất không đổi, cầu về sức lao động tỷ lệ nghịch với năng suất lao động Còn xét từ giác độ chất lượng, việc nâng cao năng suất lao động, mở rộng quy mô, tiền vốn, tri thức của doanh nghiệp ngày càng đòi hỏi nâng cao cầu về chất lượng sức lao động
Trên cơ sở hoạt động của thị trường lao động, cũng giống như các yếu tố sản xuất
khác, nó cũng có những nguyên tắc làm cơ sở cho thị trường hàng hóa tiêu thụ và dịch vụ
phân tích quan hệ cung - cầu là phương pháp cơ bản để nghiên cứu hoạt động của thị trường này hay thị trường kia Tuy nhiên, hoạt động của thị trường lao động có nhiều đặc
biệt, gắn với tính chất và những đặc thù của quá trình tái sản xuất sức lao động
- Không tách rời quyền sở hữu hàng hóa - sức lao động khỏi sở hữu chủ Trên thị trường lao động, người mua chỉ có quyền sử dụng và làm chủ từng phần khả năng lao động
- sức lao động, mà hoạt động trong một khoảng thời gian nhất định Nhưng người mua không đơn giản là mua sức lao động như những loại hàng hóa khác, mà có quan hệ với người có những quyền hạn nhất đỉnh như một cá nhân tự do, mà anh ta phải tuân thủ Nếu
vi phạm những quyền hạn đó người mua phải chịu trách nhiệm pháp lý và có thể có những tổn thất về kinh tế Người mua này, chính xác hơn, được gọi là người thuê lao động (người
sử dụng lao động);
- Có trách nhiệm phối hợp hành động tương đối dài với nhau giữa người bán và người mua nếu so sánh với thị trường hàng hóa, lương thực và thực phẩm Điểm này đặt một dấu ấn trong mối quan hệ tương hỗ hai bên và đóng một vai trò không ít quan trọng trong khả năng cạnh tranh của công ty Người lao động, như một cá thể, có thể tự kiểm soát chất lượng công việc của mình với những nỗ lực khác nhau, thể hiện mức độ trung thực khác nhau với công ty đã thuê họ Người thuê phải tính đến những yếu tố đó để quản
lý sản xuất, nghĩa là phải xây dựng một cơ chế đãi ngộ, kích thích, tạo động lực đối với người lao động một cách phù hợp như: điều kiện làm việc, tiền lương, tiền thưởng và các phúc lợi xã hội khác;
- Tồn tại số lớn cấu trúc thể chế loại đặc biệt (hệ thống pháp luật phân nhánh, những chương trình kinh tế-xã hội, dịch vụ việc làm các tổ chức công đoàn, liên hiệp hội các nhà
Trang 11doanh nghiệp, v.v ) sinh ra đặc thù quan hệ giữa các chủ thể của thị trường lao động Vì vậy, cần phải thể chế hóa thật chi tiết mọi hướng hoạt động khác nhau của họ;
- Chất lượng lao động ở từng người lao động có khác nhau theo giới tính, tuổi tác,
thể lực, trí tuệ, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ công tác, động lực làm việc v.v… Vì vậy,
mức độ cá thể hóa cao khi ký kết giao kèo, gắn với trình độ chuyên môn khác nhau của sức lao động, sự đa dạng của công nghệ và tổ chức lao động, nên việc đánh giá chất lượng lao động khi tuyển dụng, trả công phù hợp cho từng người gặp nhiều khó khăn và phức tạp;
- Nhiều điểm độc đáo trong trao đổi sức lao động so với trao đổi hàng hóa vật chất Quá trình trao đổi sức lao động so với trao đổi hàng hóa vật chất được bắt đầu trong lĩnh vực lưu thông hàng hóa - quyền sử dụng khả năng lao động được chuyển sang người mua theo những gì đã được ấn định trong hợp đồng hay thoả ước tập thể Quá trình trao đổi được tiếp tục trong sản xuất dưới hình thức trao đổi sức lao động đang hoạt động, lao động thực tế thành lương danh nghĩa và kết thúc trong lĩnh vực lưu thông của cải vật chất, có nghĩa là trên thị trường hàng hóa và dịch vụ được trao đổi lương danh nghĩa thành phương tiện sống Việc trao đổi hàng hóa vật chất được bắt đầu và kết thúc trong lĩnh vực lưu
thông hàng hóa vật chất Từ đặc điểm nói trên đưa đến 2 kết quả: thứ nhất, thị trường lao động liên kết xung quanh mình các thị trường khác nhau; thứ hai, tiền công lao động thực
tế được thực hiện tương ứng với kết quả cuối cùng, có nghĩa là với giá sản phẩm mà lao động đó làm ra Điểm này đặt cầu sức lao động phụ thuộc vào cầu hàng hóa và dịch vụ cuối cùng
- Đối với người lao động, vấn đề quan trọng không chỉ là tiền công và tiền lương, mà
còn là nội dung và điều kiện lao động, bảo đảm duy trì chỗ làm việc, tương lai công việc và triển vọng thăng tiến trong nghề nghiệp, bầu không khí làm việc trong tập thể và quan hệ
giữa người lao động với người thuê lao động v.v…
1.3.3 Thị trường lao động trong bối cảnh hội nhập
Hình thành thị trường lao động ở Việt Nam không thể diễn ra trong chốc lát, bởi vì chúng ta đang chuyển đổi từ hệ thống tổ chức lao động tập trung sang thị trường, do vậy phải cần một thời gian dài để tạo lập những bản tính của nền kinh tế thị trường tổng hợp Xây dựng thị trường lao động tự do là yếu tố quan trọng nhất cho việc chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, đồng thời cũng là điều kiện để tăng trưởng có hiệu quả của nền kinh tế
đó Tuy nhiên, thị trường lao động Việt Nam mới chỉ đạt được những bước đi ban đầu trên con đường giải phóng khỏi những tồn đọng từ hệ thống kinh tế mệnh lệnh hành chính trước đây
Trang 12Theo chúng tôi thì ở Việt Nam quan điểm có tính nguyên tắc của chính sách phát triến thị trường lao động là phải giữ nguyên sự duy trì đầy đủ vai trò lớn lao của Nhà nước đối với nhân dân trong vấn đề điều tiết việc làm Tuy nhiên, điều tiết của Nhà nước không phải là sử dụng để trấn áp cơ chế tự điều chỉnh của thị trường Điểm khác biệt của nền kinh
tế thị trường xã hội chủ nghĩa là định hướng vào việc làm có hiệu suất cao dựa trên cơ sở tổng hợp những kết quả của nền kinh tế và xã hội Trong nền kinh tế đó, việc đầu tư lớn vào con người được thực sự quan tâm để đảm bảo phát huy hết tài năng của họ và hướng tới một cuộc sống đầy đủ, ấm no và hạnh phúc Đảm bảo việc làm có hiệu suất cao chỉ có thể đạt được trên cơ sở kết hợp chặt chẽ những hoạt động tích cực của các cơ quan quản lý nhà nước với sự tự điều tiết của thị trường Điều kiện quan trọng nhất của việc thực hiện chính sách này là phải tuân theo hàng loạt những nguyên tác như: phát triển đa dạng các loại hình sở hữu và hoạt động kinh doanh với mục đích mở rộng những khả năng lựa chọn các hnh vực bổ sung lao động; không được phép cưỡng bức lao động và bất kỳ hình thức phân biệt đối xử nào - theo giới, độ tuổi, dân tộc v.v… ; tự do pháp lý và kinh tế đối với người lao động và người thuê lao động khi thuê mướn và sa thải; tự do di chuyển lao động
và vốn; phát triển hệ thống điều tiết các quan hệ lao động, đặc biệt khi giải quyết những tranh chấp lao động tập thể và cá nhân Kết hợp những nguyên tắc này có nghĩa là chuyển
sang một mô hình việc làm mới dựa trên cơ sở tổng hợp những nguyên tắc điều tiết của thị
trường và sự tham gia tích cực của Nhà nước trong việc ấn định những nguyên tắc hoạt
động cho thị trường lao động, trong đó có lĩnh vực tư doanh Chính sách việc làm phải đưa
vào và phối hợp chặt chẽ với quan niệm chung của cải cách kinh tế, phù hợp với những nguyên tắc chùng và chiến lược thực hiện nó
Tuy nhiên, sự liên kết phối hợp cần thiết giữa chính sách việc làm đã được chọn cho
mô hình thị trường lao động với khái niệm đổi mới toàn diện ở Việt Nam đến nay vẫn chưa được hình thành, thiếu hẳn quan điểm thống nhất giữa mục đích trước mắt và lâu dài trong việc quản lý các quá trình giải quyết việc làm Trong tiến trình cải cách đồng bộ nền kinh
tế phải hình thành không chậm chạp khái niệm đó, nhưng đáng tiếc rằng, hiện tại chúng ta môi chỉ quan tâm đến hậu quả, chứ không phải nguyên nhân xuất hiện thất nghiệp ở nước
ta vấn đề thất nghiệp chỉ được xem xét từ một phía - đó là từ người lao động Trong khi đó,
ở các nước phát triển, dịch vụ việc làm được trang trải tài chính tới hơn 50% từ ngân quỹ
quốc gia: Theo qui định của Bộ luật Lao động Việt Nam, tất cả các xí nghiệp, công sở, công ty không phân biệt loại hình sở hữu đều phải chuyển vào nguồn vốn bảo hiểm xã hội một tỷ lệ phần trăm xác định được trích từ Quỹ lương hưu (20% trong đó: người thuê lao động 15%, người lao động 5%) Nhưng, trong thực tế vấn đề thực hiện luôn luôn không kịp thời hoặc là hoàn toàn không được thực hiện, và mục đích sử dụng các nguồn vốn này
Trang 13cũng không rõ ràng Bên cạnh đó, trong giai đoạn hiện nay, Việt Nam vẫn còn áp dụng những biện pháp hành chính cứng nhắc trong hnh vực giải quyết việc làm Chính sách này phần lớn cản trở việc thực hiện cải cách cấu trúc nền kinh tế kìm hãm công cuộc sắp xếp lại các xí nghiệp nhà nước, gây nhiều khó khăn cho việc hiện đại hóa nền kinh tế quốc dân Thực trạng này cần phải xoá bỏ triệt để khi vận dụng những chính sách cải cách kinh tế của Nhà nước trong tương lai và lựa chọn những giải pháp tối ưu để công việc thực hiện có hiệu quả
Bên cạnh đó, các cơ quan quản lý lao động và việc làm của Việt Nam vẫn chưa được chuẩn bị chu đáo cả về mặt tổ chức và mặt kinh tế để thích ứng năng động với việc đào tạo lại số lượng lớn những người đang lao động, cùng những người thất nghiệp thuộc các ngành nghề và trình độ chuyên môn khác nhau có tính toán tới những đòi hỏi ngày càng đa dạng của người thuê lao động đối với lao động làm thuê Mất cân đối của thị trường lao động khu vực sẽ kéo theo việc giảm khối lượng đào tạo chuyên gia và công nhân lành nghề, giảm cả khối lượng và chất lượng đào tạo công nhân trực tiếp sản xuất Từ đó sẽ dẫn tới mất cân đối nghiêm trọng giữa cung và cầu, sẽ đi kèm với thất nghiệp thường xuyên Khi đó tăng việc chuyển khoản của các xí nghiệp vào nguồn vốn bảo hiểm xã hội sẽ không đem lại hiệu quả cho vấn đề đào tạo lại bởi vì nguồn vốn này thậm chí sẽ không đủ chi trả trợ cấp Việc định hướng vào sự giúp đỡ tài chính của các tổ chức thế giới sẽ đặt công cuộc cải cách kinh tế Việt Nam phụ thuộc vào các hợp đồng kinh tế đối ngoại, điều đó rất nguy hiểm trong tình thế hiện nay Sự thiếu hụt ngân quỹ của Việt Nam lại càng làm khó khăn thêm việc áp dụng những biện pháp cần thiết để hỗ trợ cho người thất nghiệp (như: trợ cấp thất nghiệp, phát triển các trung tâm đào tạo lại, những công việc xã hội và việc làm phụ cho một nhóm dân cư) Tiềm năng của các cơ quan quản lý lao động và việc làm trong lĩnh vực cung ứng sản xuất, kỹ thuật, tổ chức hiệu quả việc làm cho dân cư, mở rộng khả năng cấp phép cho các trung tâm giới thiệu việc làm ở nước ta hiện nay còn bị giới hạn rất nhiều
Chính sách giải quyết việc làm và phát triển thị trường lao động không phải công
việc của riêng một bộ, một ngành, nó chỉ đem lại hiệu quả khi những chính sách ngân quỹ,
chương trình chống lạm phát và hệ thống giáo dục, đào tạo cùng đồng bộ hoạt động có
hiệu quả toàn xã hội và từng thành viên của cộng đồng phải cùng tham gia vào giải quyết việc làm ở đây bao gồm Nhà nước mà đại diện là các cơ quan chính quyền hành pháp và lập pháp, từng cá nhân có mong muốn được đào tạo nghề nghiệp và chính bản thân người thuê mướn lao động Quá trình cải cách kinh tế xã hội sẽ không thể thực hiện có hiệu quả nếu thiếu việc soạn thảo những chính sách đồng bộ về lao động và việc thực hiện nó, trên
cơ sở thể hiện quyền lợi chính đáng của nhân dân Tuy nhiên, cùng với việc tăng khối
Trang 14lượng và sự phức tạp những công việc cần giải quyết, tất cả những bất cập giữa hiệu quả lao động và sự đảm bảo việc làm ngày càng trở lên rõ ràng và bức xúc, và cũng là động lực thúc đẩy sự quan tâm tới hiệu quả công việc và những đảm bảo xã hội
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng phát triển của thị trường lao động ở Việt Nam, có thể rút ra một số đặc điểm chủ yếu sau:
- Hệ thống quản lý lao động và việc làm ở Việt Nam được hình thành trong thời kỳ kinh tế kế hoạch hóa tập trung, đang ớ trong giai đoạn biến đổi sâu sắc;
- Bộ luật Lao động và các văn bản pháp lý khác thể hiện vai trò can thiệp tích cực của Nhà nước để đảm bảo cho việc phối hợp hoạt động của các loại thị trường nói chung
và hiệu quả hoạt động của thị trường lao động nói riêng chưa được hoàn thiện hoặc hoàn toàn chưa có Cơ sở hạ tầng xã hội và cơ sở hạ tầng của thị trường lao động đang được hình thành ở Việt Nam vẫn chưa tương thích với cơ chế thị trường Thị trường lao động vừa mới được hình thành và đang hoạt động trong điều kiện kém phát triển của thể chế điều tiết các quan hệ lao động xã hội chỉ mới vừa được sinh ra, và đến giờ vẫn chưa được bao trùm hết tất cả các cấp;
- Những bất cập ngày càng lớn giữa qui mô chung và cấu trúc “cung-cầu” sức lao động trên thị trường lao động Hiện nay ở Việt Nam cung về sức lao động đang vượt quá cầu và sẽ còn tiếp tục vượt trong tương lai, điều đó tạo ra một áp lực rất lớn về việc làm cho dân cư Hàng năm cung sức lao động tăng từ 3,2% đến 3,5%, như vậy mỗi năm chúng
ta sẽ có thêm khoảng 1,3 đến 1,5 triệu người đến độ tuổi lao động Đó là hậu quả của việc bùng nổ dân số trong những năm vừa qua Tuy nhiên, phần cơ bản của lực lượng lao động mới lại không có chuyên môn đầy đủ, vì vậy vấn đề đào tạo và đào tạo lại trở lên rất cấp bách, nó mang tính chiến lược và là vấn đề mấu chốt để tăng chất lượng và khả năng cạnh tranh của sức lao động trên thị trường lao động;
- Xoá bỏ sự mất cân đối, bất cập trong cơ cấu lao động cũ đã tồn tại từ nền kinh tế bao cấp xây dựng một cấu trúc lao động mới cho phù hợp với cơ cấu nền kinh tế mới diễn
ra rất chậm chạp Mâu thuẫn giữa lao động và việc làm ngày càng gay gắt khi chúng ta triệt
để tiến hành cải cách, cùng với việc điều chỉnh cơ cấu kinh tế phải tổ chức lại lao động trên phạm vi toàn xã hội, chuyển dịch cơ cấu lao động cho phù hợp với cơ cấu mới của nền kinh tế tất yếu dẫn đến hiện tượng và xu thế đẩy lao động tách ra khỏi việc làm, và làm cho một bộ phận lớn lao động trở nên dư thừa, trước hết là trong khu vực quốc doanh Trong quá trình dịch chuyển này chúng ta vừa thiếu đội ngũ lao động có kỹ thuật, công nhân lành nghề có khả năng làm việc trong lĩnh vực công nghệ cao, các khu chế xuất và những xí
Trang 15nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, lại vừa thừa đội ngũ lao động phổ thông không có tay nghề chuyên môn Mặc dù cải cách nền kinh tế đã diễn ra gần 20 năm, Việt Nam đã có những chuyển biến rất tích cực về cơ cấu kinh tế (tính theo GDP), nó cơ cấu lao động theo
.ngành kinh tế gần như không có chuyển biến gì đáng kể hoặc diễn ra rất chậm chạp Bởi
vì, thứ nhất, Nhà nước chưa có một chiến lược và cơ cấu đầu tư có hiệu quả; thứ hai, sự
mất cân đối giữa các nguồn lực (khan hiếm về vốn, sử đụng và quản lý đất đai kém hiệu
quả, trình độ thấp kém của nguồn nhân lực ); thứ ba, chưa có định hướng phát triển công
nghiệp một cách hợp lý, đầu tư thiên về sử dụng nhiều vốn hơn là sử dụng nhiều lao động;
- Mâu thuẫn giữa nhu cầu giải quyết việc làm rất lớn với trình độ tổ chức quản lý về mặt nhà nước trong lĩnh vực việc làm chưa phù hợp với cơ chế mới, với hệ thống sự
nghiệp giải quyết việc làm còn phôi thai, non yếu chưa đáp ứng được yêu cầu về giải quyết việc làm trong cơ chế thị trường;
Hệ thống định hướng nghề nghiệp, đào tạo và đào tạo lại không theo kịp với những đòi hỏi mới của sự phát triển kinh tế xã hội, không tương thích với quá trình cải tổ khối lượng và chất lượng chuyên gia đã đào tạo, đặc biệt đối với các ngành kinh tế như dịch vụ,
du lịch, sản xuất công nghệ cao, sản xuất hàng hóa xuất khẩu v.v Theo đó, thị trường
lao động được hình thành trong bối cảnh bất lợi vì vẫn duy trì tính tự phát đào tạo công nhân lành nghề và chuyên gia cho nền kinh tế quốc dân, lỏng lẻo trong việc ràng buộc khối lượng và nghề nghiệp của người được đào tạo với cấu trúc cầu sức lao động, phối hợp không ăn khớp công việc đào tạo với dịch vụ mối giới việc làm ở khu vực Ngoài ra, vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề bất ổn và không phối hợp chặt chẽ ở nhiều khu vực lãnh thổ trong các cấu trúc trợ giúp việc làm cho khu vực ngoài quốc doanh, và đã vượt ra ngoài tầm kiểm soát của chính quyền địa phương;
- Hệ thống dịch vụ giới thiệu việc làm (như các công ty nghiên cứu tâm lý, tư vấn, giới thiệu, thông tin… ) chỉ mới được hình thành và phân bổ chưa rộng khắp cả nước Hệ thống này chưa có một cấu trúc tổ chức thành lập rõ ràng, chưa được đảm bảo trang bị vật chất cần thiết và đội ngũ cán bộ không đồng bộ Đặc biệt, cho đến nay ở Việt Nam chưa hình thành một hệ thống thông tin về thị trường lao động một cách đầy đủ và đồng bộ, được cập nhật theo thời gian và có các dự báo làm cơ sở cho việc nghiên cứu, đánh giá các đặc trưng và biến động của quan hệ cung-cầu sức lao động để phục vụ cho công tác kế hoạch hóa đào tạo chung cho toàn bộ hệ thống cũng như từng cơ sở đào tạo) nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu nhân lực của thị trường lao động Tất cả những điều đó không
đáp ứng đầy đủ được cầu về sức lao động và về chỗ làm Đối với Việt Nam, tính cơ động
của sức lao động theo nghề nghiệp và lãnh thổ còn rất hạn chế, phần lớn cư dân chưa sẵn
Trang 16sàng cho cuộc sống và lao động trong điều kiện thị trường (người lao động chưa sẵn sàng làm việc ở những chỗ bấp bênh, chưa chủ động tìm kiếm cho mình việc làm trong điều kiện khan hiếm) ;
Cấu trúc nguồn nhân lực Việt Nam phân bổ rất bất hợp lý, có tới gần 80% lực lượng lao động ở nông thôn, mà ở đây việc làm không đầy đủ và thất nghiệp có thể lên tới 30% Những lao động này tự do đi đến các thành phố và những khu công nghiệp mới với mục đích tìm kiếm việc làm, điều đó còn làm tăng hơn nữa về cung sức lao động Nông dân là những người lao động không có chuyên môn, vì vậy phải luôn sẵn sàng chấp nhận những việc làm có thu nhập thấp, do vậy lại càng làm tăng thêm sự cạnh tranh tiêu cực trên thị trường lao động;
- Những bất cập trong chính sách và cấu trúc đầu tư, cùng với việc soạn thảo chiến lược đổi mới công nghệ không đầy đủ, và sự chậm chạp dịch chuyển cấu trúc ngành kinh
tế trong nền kinh tế đang chuyển đổi đã kéo theo sư mất cân đối nghiêm trọng trong c ấu trúc việc làm ở Việt Nam Nhiều ngành (như công nghiệp rừng, đánh bắt hải sản, du lịch và dịch vụ) có tiềm năng rất lớn trong việc tạo ra những chỗ làm việc mới, nhưng họ không thể biến khả năng đó thành hiện thực được vì thiếu vốn, cơ sở hạ tầng yếu kém, kỹ thuật và công nghệ lạc hậu v.v… Ngược lại, ở khu vực miền núi, đồng bằng sông Cửu Long lại rất thiếu hụt cán bộ, nhưng việc di dân đến đó lại rất hạn chế Đến nay Nhà nước vẫn chưa có một chính sách khuyến khích thật hợp lý cho khu vực kinh tế gia đình, lĩnh vực phi sản xuất, các xí nghiệp ngoài quốc doanh, nơi có rất nhiều lợi thế cho việc thu hút sức lao động Những chính sách hỗ trợ việc làm hầu như không đến được với các doanh nghiệp tư nhân mặc dù họ là nguồn giải quyết việc làm mới chủ yếu trong xã hội, kể cả việc thu nhận một đội ngũ lao động thất nghiệp từ khu vực doanh nghiệp nhà nước;
- Cùng với quá trình hình thành và phát triển của thị trường lao động, các loại thị trường khác như: tư liệu sản xuất, tài chính, bất động sản v.v… cũng đã và đang hình thành nhưng chưa hoàn chỉnh và đồng bộ, sự nên kết giữa chúng với nhau còn yếu, nên chưa tạo ra được động lực để phát triển;
- Sự phân hóa thu nhập của các tầng lớp dân cư ngày càng tăng giữa các vùng lãnh thổ trên cả nước theo các chỉ số phát triển kinh tế xã hội;
- Nhìn chung mức tiền công lao động rất thấp, sự lạc hậu giữa đồng lương thực tế của người lao động Việt Nam so với mức tiền công lao động ở các nước trong khu vực ngày càng tăng Mức lương trung bình hàng tháng của người lao động Việt Nam khoảng từ 25-35 USD (tức là gần 1USD/ngày), trong khi đó ở Inđônêxia khoảng 2 USD/ngày, Thái
Trang 17Lan hơn 6 USD/ngày (chứ chưa so sánh với những nước có nền kinh tế thị trường phát triển cao) Điều đó ngay từ khởi đầu đã làm biến dạng những thành phần quan trọng nhất của thị trường lao động là: cung và cầu Hậu quả là giảm vai trò của cơ chế tự điều tiết, được dựa vào những nguyên tắc giá trị hình thành tỷ lệ việc làm và cấu trúc chuyên môn
nghiệp vụ, điều chỉnh và phân bố lại sức lao động theo lĩnh vực hoạt động, ngành kinh tế,
luân chuyển cán bộ giữa các xí nghiệp và theo vùng lãnh thổ;
- Cuối cùng, Công đoàn Việt Nam, người đại diện hợp pháp cho quyền lợi của người lao động, vẫn chưa phát huy hết khả năng của mình để thích ứng được với những nguyên
tắc hoạt động trong điều kiện thị trường Việt Nam vẫn chưa hoàn thiện được quá trình
hình thành nền tảng pháp lý và tổ chức cho việc bảo vệ quyền lợi của các doanh nghiệp trong nước, cũng như hoạt động tương hỗ của họ với guồng máy Nhà nước và Công đoàn
Từ những đánh giá và kết luận trên đây chúng ta có thể nhận thấy rằng, thị trường lao động đang được hình thành ở Việt Nam, hoạt động trong điều kiện kém phát triển của thể chế điều tiết các quan hệ lao động xã hội chỉ mới vừa được sinh ra, và đến giờ vẫn chưa được bao trùm hết tất cả các cấp Đó là điều cực kỳ khó khăn khi soạn thảo những chính
sách đồng bộ và thống nhất trong các vấn đề hình thành giá cả, tiền lương, thu nhập, thuế
khoá phù hợp với việc tính toán quyền lợi cho các chủ thể khác nhau của thị trường lao động, thực sự giảm vai trò của công cụ điều tiết và tự điều tiết khi hình thành cơ chế phân chia và phân chia lại sức lao động dựa trên cơ sở những quan hệ giá trị
1.4 Định hướng nghề nghiệp trong bối cảnh hội nhập
1.4.1 Chương trình và mục tiêu hướng nghiệp
1.4.1.1 Các văn bản của Chính phủ và Bộ Giáo dục và Đào tạo
* Văn bản của Chính phủ
Trong văn kiện Đại hội lần thứ IX của Đảng có ghi “Coi trọng công tác hướng nghiệp (HN) và phân luồng học sinh trung học, chuẩn bị cho thanh niên đi vào lao động nghề nghiệp phù hợp với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong cả nước và từng địa phương”
Hướng nghiệp (HN) là một bộ phận quan trọng của giáo dục phổ thông ở nước ta Điều này đã được khẳng định trong nhiều văn bản, nghị quyết của Đảng, Nhà nước, ngành giáo dục Quyết định 126/CP của Chính phủ về “Công tác hướng nghiệp trong trường phổ thông và việc sử dụng hợp lý học sinh (HS) trung học cơ sở (THCS), trung học phổ thông
Trang 18(THPT) tốt nghiệp ra trường” kí ngày 19 tháng 3 năm 1981 chỉ rõ: “Công tác hướng
nghiệp trong nhà trường phổ thông nhằm mục đích bồi dưỡng, hướng dẫn học sinh
chọn nghề phù hợp với yêu cầu phát triển của xã hội, đồng thời phù hợp với thể lực
và năng khiếu của cá nhân” Như vậy, đòi hỏi HS phải hiểu rõ bản thân để chọn nghề
phù hợp với thể lực và năng khiếu của mình Ngoài ra, HS đã phải có các hiểu biết về
nghề nghiệp và bước đầu xác định được mục tiêu nghề nghiệp cho bản thân Nghị định
75/2006/ NĐ-CP Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Luật giáo dục: HN trong giáo dục là hệ thống các biện pháp tiến hành trong và ngoài nhà trường để giúp HS
có kiến thức về nghề nghiệp và có khả năng lựa chọn về nghề nghiệp trên cơ sở kết hợp nguyện vọng, sở trường của cá nhân và nhu cầu sử dụng lao động của xã hội
Các văn bản khác như: Thông tư số 31-TT ngày 17 tháng 11 năm 1981 về việc
„Hướng dẫn thực hiện Quyết định 126/CP; Chương trình giáo dục phổ thông ban hành theo
Quyết định số 16/ 2006/QĐ-BGDĐT 5/5/2006 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT, hoạt động
giáo dục hướng nghiệp được đưa vào kế hoạch dạy học của các lớp 9, 10, 11 và 12 và các quy định về nhiệm vụ năm học của Bộ GD&ĐT và Sở GD&ĐT đều có các hướng dẫn về việc thực hiện công tác HN trong các trường trung học
Thực chất của công tác HN trong nhà trường phổ thông không phải là sự quyết định nghề cho mỗi cá nhân mà là sự điều chỉnh động cơ, hứng thú nghề nghiệp của thế hệ trẻ nhằm giải quyết mối quan hệ giữa cá nhân với xã hội, giữa cá nhân với nghề, giáo dục sự lựa chọn nghề một cách có ý thức nhằm đảm bảo cho con người hạnh phúc trong lao động
và đạt năng suất lao động cao
* Văn bản của Bộ Giáo dục và Đào tạo
4.2 Giáo dục hướng nghiệp ở nước ta trong thời gian qua
GDHN ở nước ta đã được tiến hành nghiên cứu và triển khai khá sớm, từ đầu những năm 80 của thế kỷ XX Quyết định 126/CP ngày 19/3/1981 của Chính phủ đã tạo hành lang pháp lý cho sự phát triển của công tác HN, nhất là HN cho học sinh PT
Trong những năm 1983-1996 GDHN ở nước ta đã đạt được một số thành tựu quan trọng, được coi là thời kỳ thịnh vượng nhất Nhưng từ năm 1997 trở lại đây công tác GDHN cho học sinh PT đã bị coi nhẹ, ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển nguồn nhân lực của đất nước
Trong những năm gần đây, Nghị quyết 40 của Quốc hội khoá 10; Chiến lược phát triển GD giai đoạn 2001-2010, văn kiện đại hội IX, đại hội X của Đảng đã nhấn mạnh việc đổi mới chương trình và sách giáo khoa PT Vấn đề dạy học công nghệ và GDHN đã được nhiều trường chú trọng hơn, công tác GDHN cho học sinh PT vẫn chưa được các cấp quản
lý quan tâm đúng mức Các cấp bộ Đảng, Chính quyền và xã hội chưa nhận thức được vị
Trang 19trí và tầm quan trọng của công tác GDHN đối với sự phát triển kinh tế và xã hội Học để đi thi, học để “làm quan”, không thích làm thợ còn khá nặng nề trong nhân dân ta, đặc biệt là trong học sinh và phụ huynh Yếu tố tâm lý này có ảnh hưởng rất lớn đến sự định hướng nghề nghiệp tương lai của học sinh sắp ra trường, làm cho chủ trương phân luồng học sinh
PT không thực hiện được Có thể nói rằng, công tác HN cho học sinh PT ở nước ta còn yếu kém, còn cách xa với các nước trong khu vực; chưa đáp ứng được nhiệm vụ chuẩn bị nguồn lực cho công nghiệp hoá
Trang 20CHƯƠNG 2 THẾ GIỚI NGHỀ NGHIỆP – NHẬN THỨC BẢN THÂN
2.1 Nhận thức về thế giới nghề nghiệp
2.1.1 Khái niệm chung về nghề
Nghề là một lĩnh vực hoạt động lao động mà trong đó, nhờ được đào tạo, con người
có được những tri thức, những kỹ năng để làm ra các loại sản phẩm vật chất hay tinh thần nào đó, đáp ứng được những nhu cầu của xã hội
Để hiểu vì sao nhà nghiên cứu lại kêu lên như vậy, chúng ta hãy cùng nhau làm sáng
rõ 2 khái niệm Nghề và Chuyên môn
Nghề là một lĩnh vực hoạt động lao động mà trong đó, nhờ được đào tạo, con người
có được những tri thức, những kỹ năng để làm ra các loại sản phẩm vật chất hay tinh thần nào đó, đáp ứng được những nhu cầu của xã hội
Nghề bao gồm nhiều chuyên môn Chuyên môn là một lĩnh vực lao động sản xuất hẹp mà ở đó, con người bằng năng lực thể chất và tinh thần của mình làm ra những giá trị vật chất (thực phẩm, lương thực, công cụ lao động…) hoặc giá trị tinh thần (sách báo, phim ảnh, âm nhạc, tranh vẽ…) với tư cách là những phương tiện sinh tồn và phát triển của xã hội
Trên thế giới hiện nay có trên dưới 2000 nghề với hàng chục nghìn chuyên môn Ở Liên Xô trước đây, người ta đã thống kê được 15.000 chuyên môn, còn ở nước Mỹ, con số
đó lên tới 40.000
2.1.2 Phân loại nghề
1/ Những nghề thuộc lĩnh vực hành chính
Trong lĩnh vực này, ta gặp những cán bộ, nhân viên văn phòng, đánh máy, lưu trữ,
kế toán, kiểm tra, chấm công, soạn thảo công văn… Những nghề này đòi hỏi con người đức tính thận trọng, chu đáo, ngăn nắp, chín chắn, tỉ mỉ Mọi tác phong và thói quen không hay như cẩu thả, bừa bãi, đại khái, thiếu ngăn nắp, thờ ơ, lãnh đạm… đều không phù hợp với công việc hành chính
2/ Những nghề thuộc lĩnh vực tiếp xúc với con người
Ở đây, ta có thể kể đến những nhân viên bán hàng, những thầy thuốc, thầy giáo, những người phục vụ khách sạn, những cán bộ tổ chức v.v… Những người này luôn phải
có thái độ ứng xử hòa nhã, chân thành, tế nhị, tinh ý, mềm mỏng, linh hoạt, ân cần, cởi mở…
Thái độ và hành vi đối xử lạnh nhạt, thờ ơ, thiếu thông cảm, thiếu nâng đỡ, vụ lợi v.v… đều xa lại với các công việc nói trên