Xu hướng phát triển ngày nay của nền kinh tế là tăng cường hợp tác và hội nhập kinh tế thế giới. Việt Nam đã và đang nỗ lực rất lớn để phát triển kịp với xu hướng của thời đại, nhất là khi chính thức gia nhập WTO - một sân chơi với vô vàn cơ hội phát triển nhưng cũng chứa đựng không ít khó khăn thử thách.
Trang 1MỞ ĐẦU
Marketing là một hoạt động quan trọng không thể thiếu trong các doanhnghiệp, nhất là với các doanh nghiệp muốn phát triển bền vững Marketingkhông chỉ giúp doanh nghiệp thúc đẩy doanh thu, bán hàng nhiều hơn, nó còngiúp doanh nghiệp tạo dựng và quảng bá thương hiệu Có rất nhiều phươngpháp cũng như chiến lược marketing, nhưng hầu hết chúng đều được pháttriển và thừa kế tư tưởng, lí luận từ marketing – mix Marketing – mix là kháiniệm, phương pháp marketing đơn giãn,tổng quát và hiệu quả nhất
Đặc biệt đối với các doanh nghiệp Việt Nam, việc áp dụng marketing – mixđang rất phổ biến và hiệu quả trong giai doạn hiện nay Tuy vậy việc áp dụngmarketing – mix vẫn còn nhiều khó khăn và vẫn chưa đạt hiệu quả cao Cónhững nguyên nhân khách quan từ phía đặc điểm nền kinh tế và thị trường,nhưng cũng có những nguyên nhân chủ quan do sự không am hiểu, không cókiến thức sâu rộng về marketing – mix
Công ty cổ phần may Thăng Long là một đơn vị kinh tế kĩ thuật đặc thù, làmột trong những con chim đầu đàn của nghành dệt may Việt Nam Nhữngthành công về kinh tế và thương hiệu của doanh nghiệp có sự đóng góp khôngnhỏ của việc áp dụng thành công marketing – mix May Thăng Long đã đặcbiệt thành công với thị trường trong nước nhờ các chiến lược marketing – mixcủa mình
Thời gian thực tập tại công ty cổ phần may Thăng Long em đã được quansát, tham khảo nhiều khâu quản lý, sản xuất nhưng em thấy tâm đắc và nhiệttình nhất với công tác quản tri marketing của công ty Những thành công củacông tác marteting trong công ty May Thăng Long là không thể phủ nhận,nhưng bên cạnh đó, việc áp dụng marketing – mix của công ty vẫn còn nhữngkhó khăn và nhiều điều bất cập, chưa được hoàn thiện và đạt hiệu quả cao
Trang 2nhất Chính vì lý do đó mà em quyết định chọn đề tài về mảng marketing củacông ty để làm chuyên đề tốt nghiệp Đề tài có tên là : “giải pháp áp dụngmarketing – mix của công ty may Thăng Long cho thị trường trong nước” Nội dung chuyên đề được chia làm 3 chương
Chương I Giới thiệu chung về công ty May Thăng Long
Chương II Thực trạng áp dụng marketing- mix của công ty May Thăng Long
Chương III Một số giải pháp áp dụng marketing – mix tại công ty May Thăng Long
Do kiến thức và sự hiểu biết về vấn đề cũng như thực trạng công ty cònnhiều hạn chế nên không thể tránh khỏi những thiếu sót và sơ sài Em rấtmong được sự góp ý của thầy Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tậntình của GS.TS Nguyễn Thành Độ
Trang 3Chương 1: Giới thiệu chung về công ty cổ phần May Thăng Long 1.1.Quá trình hình thành và phát triển
1.1.1 Thông tin chung về công ty
Tên công ty : Công ty Cổ phần May Thăng Long
Tên tiếng Anh: Thăng Long Garment Joint Stock Company
Tên viết tắt : THALOGA,JSC
Trụ sở chính: 250, Minh Khai, Hai Bà Trưng, Hà Nội
Biểu tượng của công ty :
Giấy CNĐKKD: Số 0103003573 do sở Kế hoạc và Đàu tư thành phố
Hà Nội cấp lần 1 vào ngày ngày 15 tháng 01 năm 2004, sửa đổi lần 1 ngày15/02/2007 do chuyển đổi chủ sở hữu và chuyển thành công ty 100% cổ phần
do cổ đông đóng góp và sửa đổi lần 2 ngày 04/08/2007 do bổ sung ngành nghềkinh doanh của công ty Hiện nay công ty là đơn vị liên kết của Tập đoàn Dệtmay Việt Nam
Trang 41.1.2 Quá trình hình thành và phát triển
Trải qua gần 50 năm xây dựng và trưởng thành, công ty có những đónggóp đáng kể vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và an ninhtrật tự xã hội Năng lực sản xuất được mở rộng, chủng loại sản phẩm phongphú với chất lượng ngày càng cao và đáp ứng nhu cầu của khách hang trongnước và ngoaig nước góp phần tăng cao kim ngạch xuất khẩu cho ngành dệtmay Việt Nam
Mặt khác, công ty đã giải quyết công ăn việc làm cho xã hội đã gópphần đáng kể trong việc bảo vệ an ninh, chính trị, trật tự trị an của đất nước
Công ty May Thăng Long được phê duyệt bán đấu giá cổ phần theoquyết định số 600/ QĐ – TDDMVN, ngày 13 tháng 10 năm 2006 của Hộiđồng quản trị Tập đoàn Dệt may Việt Nam Là đơn vị tiên phong trong ngànhdệt may Việt Nam về việc chuyển đổi mô hình tổ chức từ doanh nghiệp Nhànước sang công ty cổ phần Mà Nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối 51% vàtrong một thời gian ngắn lại chuyển đổi thành công ty cổ phần 100% cổ phần
do các cổ đông đóng góp
1.1.3 Năng lực hoạt động của công ty
- Ngành nghề kinh doanh : Ngành nghề sản xuất kinh doanh bao gồm:
+ Sản xuất, kinh doanh và xuất khẩu các sản phẩm may mặc, các loạinguyên liệu, thiết bị, phụ tùng, phụ liệu, hóa chất, thuốc nhuộm, thiết bị tạomẫu thời trang và các sản phẩm khác của ngành Dệt May
+ Kinh doanh , xuất khẩu các mặt hàng công nghệ thực phẩm, côngnghệ tiêu dùng trang thiệt bị văn phòng, nông, lâm, hải sản, thủ công mỹ nghệ
Trang 5+ Kinh doanh các sản phẩm vật liệu điện, điện tử, cao su, xe máy, mỹphẩm, rượu,
+ Kinh doanh nhà đất, cho thuê văn phòng
+ Kinh doanh kho vận, kho ngoại quan,
+ Kinh doanh khách sạn, nhà hàng, vận tải, du lịc lữ hành trong nước.+ Xúc tiến thương mại
+ Lữ hành quốc tế và các dịch vụ du lịch khác
+ Đại lý mua, bán, ký gửi hang hóa
+ Xuất nhập khẩu các mặt hàng công ty kinh doanh: hàng dệt may, thủcông mỹ nghệ
+ Kinh doanh sắt thép, thép không gỉ, kim loại màu
+ Dịch vụ ủy thác xuất nhập khẩu
+ Sản xuất, gia công, buôn bán vật liệu điện, thiết bị điện dân dụng,điện công nghiệp;
+ Sản xuất, gia công, buôn bán thiết bị bưu chính viễn thong tin học,máy móc phục vụ cho ngành công nghiệp và ngành công nghiệp
+ Mua bán vật tư, thiết bị, nguyên liệu phục vụ ngành xi măng, ngành than;+ Buôn bán phương tiện vận tải và phụ tùng thay thế
+ Khai thác, chế biến, buôn bán khoáng sản các loại
Trang 6+ Kinh doanh xuất nhập khẩu xăng dầu, khí đốt và các sản phẩm liênquan đến săng dầu, khí đốt;
+ Kinh doanh xuất nhập khẩu gỗ
Sự đa dạng ngành nghề sản xuất kinh doanh của công ty là một hướng
đi đúng hướng với nền kinh tế thị trường, đặc biệt là sự đón đầu của nền kinh
tế hội nhập
- Năng lực vốn và kết quả hoạt động
Đây là doanh nghiệp thuộc sự quản lý của nhà nước nên số vốn kinh doanhchủ yếu là do ngân sách nhà nước cấp chiếm 100% số vốn ban đầu số vốnnay tiếp tục tăng cao do doanh nghiệp làm ăn có lãi
Từ năm 1990 khi mà các nước XHCN ở Đông Âu tan rã làm cho thị trườngtiêu thụ của công ty gặp khó khăn, trước tình hình đó để thoát khỏi tình trạngnày công ty đã chủ động vay thêm vốn để đầu tử cải tiến công nghệ nâng caonăng suất và chất lượng hàng hóa nhằm cạnh tranh với các đối thủ khác, mởrộng thị trường tiêu thụ thì số vốn do ngân sách nhà nước cấpchỉ còn chiếm70%, còn lại 30% là vốn công ty tự bổ sung do làm ăn có lãi và đi vay bênngoài Cho đến nay thì tổng số vốn kinh doanh của doanh nghiệp là khoảng
200 tỷ đồng
Trang 7Bảng 1: Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty
7 NS lao động/người/ tháng Triệu đồng 0,38 0,43 0,52
Qua bảng thống kê trên ta thấy công ty không ngừng lớn mạnh trên lĩnhvực kinh doanh, điều đó cho thấy hướng đi đúng đắn của lãnh đạo công ty vàquản lý hiệu quả đã cho ta thấy sự phát triển doanh thu của công ty như trên
Do được đầu tư đổi mới trang thiết bị , máy móc sản xuất nên sản lượngsản xuất ra tăng lên, đồng thời cũng do chất lượng sản phẩm đã được nâng lênđáng kể nên công ty cũng tiêu thụ được nhiều sản phẩm hơn vì thế mà doanhthu của công ty đều tăng lên qua các năm Năm 2007, doanh thu tăng so vớinăm 2006 là 7%, năm 2008 tăng so với năm 2007 là 20% Ngoài ra , chi phícủa công ty qua các năm cũng có xu hướng tăng lên và tăng bình quân khoảng6% gần bằng tốc độ tăng của doanh thu Lợi nhuận sau thuế năm 2007 tăng15% so với năm 2006 và năm 2008 tăng 20% so với năm 2008
Như vậy trong 3 năm gần đây, ta có thể thấy khả năng đi đúng hướngcủa công ty trong việc cải tiến công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, mởrộng thị trường tiêu thụ, Công ty đã dần đáp ứng được những đòi hỏi khắt khecủa thị trường và hướng tới sự hoàn thiện về sản phẩm Hoạt động của Công
ty đang trên đà tăng trưởng, doanh thu từ bán hàng và lợi nhuận tăng đều quacác năm
Trang 8- Qui mô nhân sự và lao động:
+ Cơ cấu về nguồn nhân lưc:
Bảng2: Cơ cấu lao động của công ty 3 năm gần đây
Phân theo giới tính
Phân theo độ tuổi
Trong nhiều năm qua, ban lãnh đạo của công ty đã tạo nên môi trườnglàm việc thỏa mãn nhu cầu của các cán bộ nhân viên nhằm đem lại hiệu quảcao cho công ty Công ty có đội ngũ cán bộ nhân viên lên tới con số 388người trong đó có 68 nam và 320 nữ
Trình độ nghiệp vụ:
Trang 9+ Đại học: 6(chiếm 1,54%)
+ Trung cấp 34(chiếm 8,76%)
+ Lao động phổ thong 348(chiếm 89,70%)
Công ty đã từng bước hoàn thiện bộ máy quản lý bằng cách tăng sốlượng lao động ở các khâu trực tiếp sản xuất và giảm biên chế ở các khâugián tiếp, quản lý để nâng cao năng xuất lao động công ty luôn coi trọngmôi trường làm việc đoàn kết, lành mạnh, tạo ra sức mạnh tổng hợp có quyhoạch
1.3 Cơ cấu tổ chức bộ máy hiện nay của công ty
Công ty Cổ phần May Thăng Long đựơc tổ chức và hoạt động theoLuật doanh nghiệp và các Luật khác có liên quan Điều lệ công ty được đại hội
cổ đông thành lập nhất trí thông qua ngày 18/12/2003
Cơ cấu tổ chức của công ty hiện tại gồm: Các phòng ban và các xínghiệp trực thuộc
Các phòng ban: Văn phòng công ty, Phòng Kế toán tài vụ, Phòng kỹthuật chất lượng; Phòng kế hoạc vật tư; Phòng cơ điện; Phòng xuất nhập khẩu,phòng kinh doanh tổng hợp
Các xí nghiệp: Có 03 xí nghiệp may tại trụ sở chính và 1 xí nghiệp maytại Nam Định
Cơ sở 1: Số 250 minh Khai, phường Minh khai, Quận Hai Bà Trưng,
Hà Nội
Cơ sở 2: Xã Thanh Châu, Thành phố Phủ Lý ( Nhà xưởng hiện đang
Trang 10Cơ sở: 189 Nguyễn Văn Trỗi Phường Năng Tĩnh, Nam Định.
Cơ sở 4: 226 Lê Lai- Ngô Quyền - Hồng Bàng - Hải Phòng ( Nhàxưởng hiện đang cho thuê, thời gian thuê 10 năm, bắt đầu từ ngày01/11/20025)
Hệ thống các cửa hàng : Trưng tâm thương mại và giới thiệu Sản phẩm:Cửa hàng kinh doanh tại số : 250 Minh Khai, Hai Bà trưng, Hà Nội
39 Ngô Quyền – Hoàn Kiếm – Hà Nội
Hệ thống bán đại lý:
- Công ty Kinh doanh thời trang Việt Nam – 25 Bà Triệu – Hà Nội
Trang 11Sơ đồ 1 : SƠ ĐỒ BỘ MÁY TỔ CHỨC
CH thời trang
TTTM
và GTSP
Phòng
kế toán
Phòng kho
Phòng thị trường
Phòng
hoạch
CH dịch vụ
Văn phòng
Hải
May HP
XN phụ trợ
Trang 12 Giải thích sơ đồ bộ máy công ty:
Đặc điểm tổ chức quản lý của Công ty
Tại Công ty cổ phần may Thăng Long , bộ máy quản lý được tổ chức theo
mô hình trực tuyến
-Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ ): Là cơ quan quyền lực cao nhất củaCông ty , quyết định các vấn đề liên quan đến chiến lược phát triển dài hạn củaCông ty Các vấn đề do ĐHĐCĐ quyết định thường được thực hiện thông quabiểu quyết.Nghị quyết được thông qua khi có trên 51% số phiếu tham gia cuộchọp ĐHĐCĐ đồng ý.ĐHĐCĐ bầu ra Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát củaCông ty
-Hội đồng quản trị (HĐQT) : Là cơ quan quản lý của Công ty, đứng đầu làChủ tịch HĐQT.Thay mặt HĐQT điều hành Công ty là Tổng giám đốc HĐQThoạt động tuân thủ theo quy định của Luật Doanh Nghiệp và điều lệ của Côngty
-Ban kiểm soát: Là cơ quan giám sát hoạt động của ĐHĐCĐ , đứng đầu làtrưởng ban kiểm soát
Khối quản lý: Là những phòng ban tham gia giám sát và tổ chức sản xuất.
Khối phục vụ sản xuất: Là những bộ phận có trách nhiệm giúp đỡ bộ phận
sản xuất trực tiếp khi cần
Khối sản xuất trực tiếp: Là bộ phận trực tiếp sản xuất tạo ra sản phẩm.
Trên thực tế , hiện nay bộ máy quản lý của công ty vẫn chia thành haicấp ,cấp công ty và cấp xí nghiệp với sự chỉ đạo của tổng giám đốc do Hội đồngquản trị cử ra
Trang 13vụ được giao.Giúp việc cho Tổng giám đốc có các Phó Tổng giám đốc doHĐQT bổ nhiệm hay bãi nhiệm theo đề nghị của Tổng giám đốc, gồm có cácPhó Tổng giám đốc sau:
Phó Tổng giám đốc điều hành về sản xuất và kỹ thuật: Có trách nhiệm giúpviệc cho Tổng giám đốc về mặt kỹ thuật sản xuất và thiết kế của Công ty
Phó Tổng giám đốc tài chính và kinh doanh: Có trách nhiệm giúp Tổnggiám đốc trực tiếp chỉ đạo hoạt động về mặt tài chính và kinh doanh trong Côngty
Phó tổng giám đốc điều hành nội chính : Có nhiệm vụ giúp Tổng giám đốc
về mặt đời sống nhân viên và điều hành các dich vụ đời sống
-Các phòng ban chức năng , gồm:
Văn phòng Công ty :Có trách nhiệm quản lý về mặt nhân sự , các mặt tổchức của công ty : Quan hệ đối ngoại , giải quyết các chế độ chính sách vớingười lao động
Phòng kỹ thuật chất lượng: Quản lý ,phác thảo ,tạo mẫu các mặt hàng theođơn đặt hàng của khách hàng và nhu cầu của Công ty ,kiểm tra chất lượng sảnphẩm trước khi đưa vào nhập kho thành phẩm
Trang 14Phòng kế hoạch:Có nhiệm vụ nghiên cứu ,khoả sát thị trường và lập kếhoạch sản xuất kinh doanh tháng ,quý ,năm.
Phòng xuất nhập khẩu: Tổ chức và quản lý công tác xuất nhập khẩu hànghoá ,đàm phán soạn thảo hợp đồng với khách hàng trong và ngoài nước
Phòng kế toán tài vụ: Tổ chức quản lý thực hiện công tác tài chính kế toántheo chính sách của Nhà nước , đảm bảo nguồn vốn có sản xuất kinh doanh vàyêu cầu phát triển của Công ty ,phân tích và tổng hợp số liệu để đánh giá kếtquả sản xuất kinh doanh, đề xuất các biện pháp đảm bảo hoạt động của Công ty
có hiệu quả
Phong kho: Tổ chức tiếp nhận ,bảo quản hàng hoá trong kho cũng như vậnchuyển ,cấp phát nguyên liệu đến từng đơn vị theo lệnh sản xuất Ngoài ra cònthực hiện kiểm tra số lượng ,chất lượng của nguyên phụ liệu phục vụ cho sảnxuất
Xí ngiệp dịch vụ đời sống :Làm công tác dịch vụ ,phục vụ thêm cho đờisống của công nhân viên: quản lý lớp mẫu giáo, trông xe , nhà ăn…
Cửa hàng thời trang: Các sản phẩm được trưng bày mang tính chất giớithiệu là chính ,ngoài ra còn có nhiệm vụ cung cấp các thông tin về nhu cầu thịtrường , thị hiếu của khách hàng để xây dựng các chiến lược tìm kiếm thị trường
Trung tâm thương mại và giới thiệu sản phẩm : Trưng bày ,giới thiệu vàbán các loại sản phẩm của Công ty , đồng thời tiếp nhận các ý kiến đóng góp ,phản hồi từ người tiêu dùng
Trang 15Phòng kinh doanh nội địa : Tổ chức tiêu thụ hàng hoá nội địa, quản lý hệthống bán hàng , các đại lý án hàng cho công ty và theo dõi tổng hợp ,báo cáotình hình kết quả kinh doanh và tiêu thụ hàng hoá của các đại lý.
Cấp xí nghiệp
-Trong các Xí nghiệp thành viên có ban giám đốc Xí nghiệp gồm:Giámđốc xí nghiệp , các phó giám đốc Xí nghiệp Giúp việc cho giám đốc xí nghiệp
có các nhân viên thống kê xí nghiệp và nhân viên thống kê phân xưởng Ngoài
ra còn có các tổ trưởng sản xuất , nhân viên tiền lương , cấp phát thống kê, cấpphát nguyên liệu
-Dưới các trung tâm và cửa hàng thời trang có cửa hàng trưởng và cácnhân viên cửa hàng
1.4 Định hướng phát triển của công ty
Trong những năm tới công ty sẽ tiếp tục đầu tư vốn để đổi mới kỹ thuậtcông nghệ Nâng cao năng lực và trình độ tay nghề của người lao động để sảnphẩm tạo ra có chất lượng ngày một tốt hơn, có uy tín không chỉ ở thị trườngtrong nước mà ở cả thị trường nước ngoài Để thực hiện được kế hoạch nàycông ty xác định rõ ba vấn đề sau cần phải giải quyết trong thời gian tới đó là:
+ Thứ nhất, phải dự đoán đúng cung-cầu thị trường, tính chất cạnh tranh,nguồn lực cần thiết liên quan đến loại sản phẩm công ty sẽ đầu tư phát triển
+ Thứ hai, phải phân tích, đánh giá và lựa chọn công nghệ phù hợp Cáctrường hợp nhập công nghệ lỗi thời, thiết bị bãi rác, gây ô nhiễm môi trường…đều đã ẩn chứa nguy cơ sử dụng không có hiệu quả chúng trong tương lai
Trang 16+ Thứ ba, phải có giải pháp huy động và sử dụng vốn đúng đắn nếu dự
án đổi mới thiết bị không được đảm bảo bởi các điều kiện huy động và sử dụngđúng đắncũng đều chứa đựng nguy cơ thất bại, không đem lại hiệu quả
Xu thế ngày nay sẽ tạo cơ hội phát triển kinh doanh cho các doanhnghiệp biết khai thác tốt thị trường cũng như các mối quan hệ bạn hàng Bởivậy, công ty đã đề ra các phương hướng đó là:
+ Giải quyết tốt các mối quan hệ với khách hàng Khách hàng là đốitượng duy nhất mà doanh nghiệp phải tận tụy phục vụ và thông qua đó, công tymới có sơ hội thu được lợi nhuận
+ Tạo sự tín nhiệm, uy tín và danh tiếng của doanh nghiệp trên thịtrường Chính uy tín danh tiếng là cái “không ai có thể mua được” nhưng lại làđiều kiện đảm bảo hiệu quả lâu dài cho mọi doanh nghiệp
+ Giải quyết tốt các mối quan hệ với các đơn vị tiêu thụ, cung ứng, cácđơn vị kinh doanh có liên quan khác…Đây là điều kiện để công ty có thể giảmđược chi phí kinh doanh sử dụng các yếu tố đầu vào
+ Giải quyết tôt các mối quan hệ với các cơ quan quản lý vĩ mô và thựchiên nghiêm chỉnh luật pháp vì chỉ trên cỏ sở này mọi hoạt động kinh doanh củacông ty mới có thể diễn ra thuận lợi, hiệu quả kinh doanh mới gắn chặt với hiệuquả xã hội
-Trong những năm tới Công ty sẽ tiếp tục xây dựng và phát triển thươnghiệu THALOGA với việc nâng cao chất lượng sản phẩm sản xuất, tạo ra nhiềukiểu dáng ,mẫu mã , chủng loại khác nhau phù hợp với từng đối tượng kháchhàng nhằm tạo lập vị thế của Công ty trên thị trường nước ngoài cũng như thịtrường trong nước
Trang 17-Mục tiêu về thị trường: Đối với thị trường gia công, công ty đặt mục tiêugiữ vững các khách hàng truyền thống như EU, Nhật, Mỹ Đồng thời phát triểnthêm các thị trường mới như Châu Á, Châu Phi, Châu Mỹ Latinh Đối với thịtrường FOB, Công ty xác định đây là thị trường phát triển lâu dài, vì vậy trongnhững năm tới công ty sẽ xây dựng mạng lưới các nhà thầu phụ nắm bắt thôngtin giá cả Công ty cũng đặt kế hoạch khai thác thị trường tại chỗ để có thể giảmbớt chi phí nhập khẩu, rút ngắn thời gian đưa sản phẩm tới tay khách hàng Đốivới thị trường nội địa, Công ty cũng xác định thành lập Trung tâm kinh doanh
và tiêu thụ hàng hoá của công ty, mở rộng hệ thống bán buôn, bán lẻ tại Hà Nội
và các tỉnh thành phố trong cả nước nhằm đảm bảo sự tăng trưởng doanh thunội địa như tăng trưởng doanh thu xuất khẩu Đồng thời Công ty cũng hy vọngtiến tới sản xuất hàng theo đơn đặt hàng của trung tâm kinh doanh tiêu thụ vàcác đại lý nhằm đáp ứng yêu cầu thị trường và hàng hoá sản xuất đến đâu tiêuthụ hết đến đó
-Mục tiêu doanh thu và lợi nhuận: Hiện nay doanh thu công nghiệp vẫnchiếm tỷ trọng rất cao trong tổng doanh thu Trong đó doanh thu xuất khẩu lớnhơn doanh thu nội địa Do vậy trong những năm tới Công ty sẽ cố gắng giữvững tốc độ tăng doanh thu xuất khẩu đồng thời đẩy mạnh tốc độ tăng doanhthu nội địa Đối với doanh thu kinh doanh khác thì cũng sẽ duy trì tốc độ tăngtrưởng như hiện nay
Như vậy trong thời gian tới Công ty sẽ tập trung mở rộng quy mô sảnxuất, đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm để xây dựng cho mìnhmột thương hiệu mạnh có uy tín trong ngành dệt may, mở rộng thị trường cảtrong và ngoài nước đưa công ty ngày càng phát triển mạnh đóng góp vào côngcuộc xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh
Trang 18Với những định hướng và chiến lược dài hạn đã được đề ra, May ThăngLong đang tập trung mọi nguồn lực và nỗ lực để đạt mục tiêu đề ra Trong đóban lãnh đạo công ty luôn tập trung cho công tác marketing
Trang 19Chương 2: Thực trạng áp dụng Marketing MIX của công ty may
Thăng Long cho thị trường trong nước
2.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng Marketing – MIX ở công
ty may Thăng Long
Việc vận dụng các chiến thuật,chiến lược của marketing mix luôn chịu sựảnh hưởng của rất nhiều yếu tố như: đặc điểm về mặt hàng,sản phẩm; thịtrường, đối thủ cạnh tranh; mục tiêu và chiến lược dài hạn của công ty Đây lànhững yếu tố ảnh hưởng lớn và sâu sắc tới sự thành công hay không của côngtác marketing Nó cũng ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến các quyết địnhmarketing của mỗi doanh nghiệp Các chính sách hay chiến lược marketingđược đưa ra trên cơ sở phân tích, và cân nhắc các đặc điểm cũng như những lợiích, cơ hội về thị trường, sản phẩm, đối thủ, mục tiêu đề ra của công ty
2.1.1 Đặc điểm mặt hàng, sản phẩm
Sản phẩm của công ty May Thăng Long là những sản phẩm thuộc ngànhmay mặc Theo quan điểm marketeting – mix , đó là những hàng hóa lâu bền:những vật phẩm thường được sử dụng nhiều lần, và là hàng hóa được sự dụnghàng ngày, là nhu cầu thiết yếu chính vì những đặc điểm đó, đã quyết định đếnnhững đặc thù của ngành cũng như công tác marketing của các công ty thuộcngành dệt may Đối với hàng hóa thựôc loại này, vì được sử dụng và mua sắmthường xuyên nên nó là nhu cầu thiết yếu, khách hàng hiểu biết về hàng hóa vàthị trường của chúng Điều này vừa là lợi thế vừa là thách thức đối với cácdoanh nghiệp trong ngành nói chung và công ty may Thăng Long nói chung.Lợi thế đó là khách hàng dễ dàng biết tới cũng như tiếp cận sản phẩm, thươnghiệu Điều này khiến cho doanh nghiệp tiết kiệm được một phần chi phí lớnmarketing cho công tác quảng cáo, truyền thông về thương hiệu cũng như sản
Trang 20phẩm Các chiến lược, quuyết định về marketing cũng được giảm nhẹ về việcgiới thiệu sản phẩm, mà tập trung hơn vào phần quản bá thương hiệu, mở rộngthị trường Điều này cũng ảnh hưởng lớn đến các chiến lược về sản phẩm củadoanh nghiệp Về sản phẩm, doanh nghiệp sẽ tập trung nhiều hơn vào công tácnghiên cứu và phát triển sản phẩm,do khách hàng luôn có rất nhiều lựa chọn.Khi khách hàng có thể tiếp cận với sản phẩm của mình dễ dàng thì đối thủ cũng
có được lợi thế đó Vì thế mà sự cạnh tranh sẽ càng gay gắt, Doanh nghiệp sẽcần có nhiều chiến lược marketing cạnh tranh hơn, tốn kém kinh phí hơn
Sản phẩm của công ty may Thăng Long là một sản phẩm có thương hiệulâu bền, được rất nhiều người biết tới, đây là một lợi thế rất lớn và cũng là áplực lớn với công ty mặc dù việc tạo dựng thương hiệu đã không phải là vấn đềlớn của công ty nhưng giữ và phát triển thương hiệu bền vững lại là những điềukhiến doanh nghiệp đau đầu các chiến lược marketing luôn nhằm mục đích làmsao nâng cao lợi thế cạnh tranh cũng như vị thế của thương hiệu trên thị trườngcũng như tâm trí người tiêu dùng
Tóm lại, với đặc điểm về sản phẩm là các sản phầm lâu bền, sử dụngnhiều lần, và là nhu cầu thiết yếu của con người cho nên các quyết định vềmarketing của công ty thường chú trọng tới việc phát triển sản phẩm mới, chấtlượng và việc quảng bá, phát triển thương hiệu
2.1.2 Đặc điểm về thị trường và đối thủ cạnh tranh
Một trong những nhân tố quan trọng của marketing đó chính là thịtrường, yếu tố thị trường có ảnh hưởng trực tiếp đến hầu hết các quyết địnhmarketing của doanh nghiệp Mỗi doanh nghiệp đều phải xác định thị trườngcho mình Thị trường chính là nơi doanh nghiệp tiêu thụ hàng hóa của mình, làđầu ra cưối cùng, là một vế không thể thiếu của phương trình lợi nhuận kinh tế.chính vì thế mà việc hiểu rõ thị trường của mình hay không có ảnh hưởng rất
Trang 21sâu sắc tới sự thành bại của doanh nghiệp, mà nhất là ảnh hưởng trước tiên đếncông tác quản trị marketing Mỗi thị trường khác nhau đương nhiên ảnh hưởngđến doanh nghiệp khác nhau, thị trường mà doanh nghiệp định vị cho mình sẽảnh hưởng hay chính xác hơn là tạo cho doanh nghiệp những quyết địnhmarketing của riêng họ Khi năng lực công ty kết hợp với thị trường sẽ cho ramột quyết định marketing, quyết định đó tối ưu hay chưa vẫn dựa nhiều vào yếu
tố chủ quan của nhà quản trị, nhưng thị trường cũng đóng vai trò quyết địnhkhách quan
Trong thị trường có thị trường mục tiêu, thị trường mục tiêu là một haymột vài bộ phận thị trường mà doanh nghiệp coi đó là trọng tâm để khai tháctiêu dùng Nếu thị trường có ảnh hưởng trực tiếp tới quyết định marketing thì thịtrường mục tiêu càng quyết định trực tiếp hơn, cụ thể hơn Vì đây là phân khúcthị trường quan trọng đối với doanh nghiệp, doanh nghiệp luôn tập trung đầutiên để khai thác triệt để thị phần này thị trường được chọn làm thị trường mụctiêu của công ty khi đã được qua sự cân nhắc, tìm hiểu, phân tích kỹ càng vềkhả năng đáp ứng của họ chính vì thế, đây sẽ là thị trường tối ưu nhất vớidoanh nghiêp, doanh nghiệp sẽ đưa ra những chiến lựơc marketing đầu tiên đểthu hút, đáp ứng nhu cầu của thị trường này Tuy nhiên, những thị trường mụctiêu này sẽ thay đổi theo giai đoạn phát triển của doanh nghiệp(mở rộng thuhẹp, cắt bỏ, them mới, ), và các chiến lược marketing đương nhiên thay đổitheo thị trường mục tiêu
Công ty may Thăng Long nằm trong thị trường ngành dệt may Việt Nam,chịu sự ảnh hưởng bởi các đặc điểm của thị trường và sự ảnh hưởng bởi cácchính sách của nhà nứơc
Ngành dệt may Việt Nam đựơc đánh giá là có rất nhiều tiềm năng, cơ hội
và cũng không ít thách thức, nhất là sau khi Việt Nam gia nhập WTO Dệt may
Trang 22được coi là một trong những ngành trọng điểm của nền công nghiệp Việt Namthời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, ngành dệt may ViệtNam hiện nay đang được xem là ngành sản xuất mũi nhọn và có tiềm lực pháttriển khá mạnh
Với những lợi thế riêng biệt như vốn đầu tư không lớn, thời gian thu hồivốn nhanh, thu hút nhiều lao động và có nhiều điều kiện mở rộng thị trườngtrong và ngoài nước với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế khác nhau.Tuy vậy, trong xu thế hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế, ngành dệt may đangphải đối mặt với nhiều thách thức lớn, phải cạnh tranh ngang bằng với cáccường quốc xuất khẩu lớn như Trung Quốc, ấn Độ, Inđônêxia, Pakixtan, HànQuốc Đặc biệt, từ 1/1/2006, thuế xuất nhập khẩu hàng dệt may từ các nướcAsean vào Việt Nam sẽ giảm từ 40-50% như hiện nay xuống tối đa còn 5% nênhàng dệt may Việt Nam phải cạnh tranh quyết liệt với hàng nhập từ các nướctrong khu vực
Việt Nam hiện có hơn 1000 nhà máy dệt may, thu hút trên 50 vạn laođộng, chiếm đến 22% tổng số lao động trong toàn ngành công nghiệp Sảnlượng sản xuất hàng năm tăng trên 10% nhưng quy mô còn nhỏ bé, thiết bị vàcông nghệ khâu kéo sợi và dệt vải lạc hậu, không cung cấp được vải cho khâumay xuất khẩu Những năm qua, tuy đã nhập bổ sung, thay thế 1.500 máy dệtkhông thoi hiện đại để nâng cấp mặt hàng dệt trên tổng số máy hiện có là10.500 máy, thì cũng chỉ đáp ứng khoảng 15% công suất dệt
Ngành may tuy liên tục đầu tư mở rộng sản xuất, đổi mới thiết bị và dâychuyền đồng bộ chuyên sản xuất một mặt hàng như dây chuyền may sơ mi, mayquần âu, quần Jean, complet, hệ thống giặt là nhưng cũng chưa đáp ứng đượcyêu cầu xuất khẩu ngày càng cao Xuất khẩu hàng dệt may tuy đạt kim ngạch
Trang 23cao, nhưng chủ yếu làm gia công, ngành dệt vẫn nhập khẩu nhiều và nguyênliệu cho sản xuất của ngành dệt hầu như hoàn toàn nhập khẩu từ nước ngoài Năm 2000, ngành dệt may Việt Nam tuy đã có nhiều yếu tố thuận lợi đểtạo đà có tiến trình hội nhập sắp tới như Quota thị trường Eu được tăng 30%,bước đầu mở được thị trường Mỹ và thị trường vùng Trung Cận Đông, châuPhi; kinh tế Nhật Bản đang hồi phục khiến cho thị trường này tiêu thụ hàng dệtmay Việt Nam tăng hơn trước Nhưng xuất khẩu hàng dệt may cũng gặp không
ít khó khăn do giá sản phẩm giảm liên tục, giá cả ở thị trường Nhật từ năm 1998giảm bình quân 12% mỗi năm do áp lực cạnh tranh của hàng Trung Quốc Bêncạnh đó, giá nguyên liệu lại tăng; đặc biệt thị trường phi quota, trong đó thịtrường Đông Âu giảm mạnh từ giữa năm Do vậy, theo đánh giá của một sốchuyên gia: chỉ tiêu xuất khẩu của toàn ngành hết năm 2000 ước chỉ đạt 1.870triệu USD, tăng 6% so với mức thực hiện năm 1999; trong đó, Tổng Công tyDệt May Việt Nam (Vinatex) ước đạt 550 triệu USD,tăng 12% so với năm
1999
Vấn đề cần quan tâm hiện nay là khoảng 70% kim ngạch xuất khẩu hàngdệt may vào Eu được thực hiện qua các khâu trung gian như Hồng Kông, ĐàiLoan, Hàn Quốc Vì vậy, làm sao Việt Nam có thể tiếp cận và bán hàng trựctiếp sản phẩm dệt may, giảm bớt phụ thuộc vào các nhà đặt hàng trung gian,nâng cao hiệu quả xuất khẩu
Trong các mặt hàng may mặc xuất khẩu vào Eu, mới chỉ tập trung vào cácmặt hàng dễ làm như áo jacket, sơ mi còn các mặt hàng có giá trị, đòi hỏi kỹthuật cao hơn như bộ complet hay các loại áo sơ mi cao cấp thì ít doanh nghiệp
có thể sản xuất được Do đó, trên thực tế, nhiều mặt hàng có hạn ngạch nhưnglại chưa có doanh nghiệp xuất khẩu
Trang 24Có nhiều ý kiến lạc quan về xuất khẩu hàng dệt may vào thị trường Mỹ sau khi có Hiệp định thương mại Việt Mỹ Năm 1999, kim ngạchxuất khẩu hàng dệt may vào thị trường này đạt 43 triệu Usd Đến năm 2000, tuyhàng dệt may Việt Nam bán vào thị trường Mỹ vẫn bị đánh thuế nhập khẩu caohơn 2-3 lần so với hàng của các nước khác nhưng vẫn đạt kim ngạch xuất khẩukhoảng 60 triệu USD Với những con số đã thực hiện khả quan này và một khithuế nhập khẩu giảm xuống, ngành dệt may có thể đạt kim ngạch xuất khẩukhoảng 300 triệu USD vào thị trường Mỹ trong năm 2001 Chúng ta có thể tintưởng rằng, trong vòng 3-4 năm kể từ khi hai nước trao cho nhau quy chếthương mại bình thường (Ntr), ngành dệt may hoàn toàn có thể đạt kim ngạchxuất khẩu vào Mỹ 1 tỷ USD Điều đó sẽ là hiện thực vì theo kinh nghiệm củaCampuchia, chỉ hai năm sau khi có Ntr với Mỹ, kim ngạch xuất khẩu hàng dệtmay của nước này vào Mỹ đã tăng từ con số 0 lên tới 600 triệu Usd vào năm
1999
Theo thống kê của báo Sài Gòn tiếp thị, mức tiêu thụ hàng dệt may ở thị trường nội địa năm 2000 đạt khoảng 2,8 tỷ USD; trong đó vừa là hàng nhập khẩu, vừa là hàng trong nước sản xuất Gần đây, xu thế sử dụng thu nhập cho nhu cầu mặc cũng tăng hơn từ 10-12% Xu thế tiêu dùng hàng may sẵn cũng có
xu hướng tăng lên do ngày càng tiện lợi cho người tiêu dùng, đáp ứng được thị hiếu và giá rẻ hơn
Vấn đề bức xúc hiện nay là hàng vải sợi, may mặc từ nước ngoài tràn vào
từ nhiều nguồn (hàng trốn lậu thuế, hàng cũ) giá rất rẻ đã làm cho sản xuất trongnước bị ảnh hưởng Mặt khác, hệ thống bán buôn, bán lẻ hàng vải sợi may mặctrong nước chưa có tổ chức, để thả nổi cho một số tư thương làm giả nhãn mácmột số công ty có uy tín Bản thân các doanh nghiệp dệt may Việt Nam lại chưatạo được các kênh tiêu thụ ngay ở thị trường trong nước Do vậy, để các nhà sảnxuất hàng dệt may Việt Nam làm chủ được thị trường nội địa không có biện
Trang 25pháp nào khác ngoài việc phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa sản xuất và lưuthông, bán buôn và bán lẻ
Trong kế hoạch năm 2001, ngành dệt may Việt Nam đặt mục tiêu phấn đấuđạt kim ngạch xuất khẩu 2,3 tỷ USD; trong đó, Vinatex phấn đấu đạt 600 triệuUsd
Trong khi chờ Chính phủ phê duyệt Chiến lược tăng tốc phát triển đến năm
2010, ngành Dệt May Việt Nam đã đề ra 4 giải pháp lớn phải đồng bộ thựchiện, đó là: đổi mới công nghệ, ổn định chất lượng sản phẩm, giảm giá thànhsản xuất để tăng sức cạnh tranh trên thị trường nội địa và xuất khẩu Đầu tư mởrộng quy mô sản xuất từ khâu may đến khâu sản xuất vải và phụ liệu may, bông
xơ sợi cho sản xuất vải; trong đó, đầu tư cho các nhà máy may hiện đại mayhàng Fob (xuất khẩu trực tiếp) ở trung tâm hai thành phố lớn Hà Nội và thànhphố Hồ Chí Minh; mở rộng mạng lưới may gia công ở tất cả các tỉnh, thànhtrong cả nước Cùng với việc quy tụ các nhà máy mới vào 10 cụm công nghiệpdệt là phát triển mạnh vùng bông ở Tây Nguyên, Nam Trung Bộ và Đông Nam
Bộ, ngành sẽ đẩy mạnh các hoạt động tiếp thị, xây dựng mạng lưới bán buônbán lẻ trong nước và các đại diện thương mại quốc tế; áp dụng ngay phươngthức kinh doanh mới như thương mại điện tử và cuối cùng là đào tạo nguồnnhân lực
Dự tính, trong 10 năm tới, số kỹ sư công nghệ cần có thêm là 50.000 người
và số cán bộ quản lý doanh nghiệp là 5.000 người cho các chương trình đầu tư
mở rộng dệt may Ngoài ra, số cán bộ công nhân viên hiện có của ngành làkhoảng 40.000 người và 3.000 cán bộ quản lý doanh nghiệp cũng cần được cậpnhật hóa kiến thức thường xuyên
Vinatex, Viện dệt, Viện Fadin, Trường đại học kinh tế quốc dân, Trườngđại học Bách khoa đã có những chương trình phối hợp đào tạo mới và đào tạo
Trang 26bổ sung cho cán bộ của ngành Hiệp hội dệt may Việt Nam với chương trìnhAsean +3 của Hiệp hội dệt may Đông Nam á (Aftex) đang xúc tiến việc thànhlập chương trình đào tạo cán bộ cho ngành dệt may Việt Nam kể cả hình thứcđào tạo trong nước và nước ngoài Đặc biệt, trong chương trình xuất khẩu vàothị trường Mỹ năm 2001, Vinatex đang rà lại năng lực, lựa chọn các xưởngchuyên môn hóa cao có khả năng xuất khẩu sang Mỹ; đầu tư một số xưởng dệtkim và xưởng may cho thị trường Mỹ; xin Chính phủ trợ giá xuất khẩu vào Mỹ;thực hiện chương trình xúc tiến liên doanh với nước ngoài để sản xuất hàngxuất khẩu vào Mỹ
Hiệp hội Dệt May Việt Nam với vai trò trao đổi và cung cấp thông tin; tưvấn và xúc tiến thương mại; thay mặt các hội viên khuyến nghị với Chính phủ
về những chính sách vĩ mô liên quan đến ngành đã và đang góp phần phát triểnnền công nghiệp dệt may Việt Nam trong tiến trình hội nhập
nguồn:http://viet.vietnamembassy.us)
Những thông tin về thị trường này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quyết địnhcủa công ty May Thăng Long trong công tác marketing Các quyết định làmsao để công ty có thể đạt được tối ưu trong lợi nhuận, thương hiệu Trên đây làmột vài nét về thị trường, môi trường ngành dệt may Còn đối với công ty cổphần may Thăng Long, ngoài sự ảnh hưởng đến công tác quản trị marketing củamôi trường vĩ mô, còn có sự tác động từ phía thị trường mục tiêu Công ty mayThăng Long đã xác định thị trường mục tiêu của mình là: Thị trường chủ yếu
mà công ty hướng tới và khai thác mạnh nhất đó chính là thị trường quốc tếnhư: Đông Âu, EU, Nhật Bản, Mỹ Đây là những thị trường mục tiêu lớn Nóivậy không có nghĩa là công ty bỏ ngõ thị trường trong nứơc,công ty vẫn chútrọng quan tâm đến thị trường nội bộ vì rằng thị trường này đang ngày càng lộ
rõ tiềm năng, nhu cầu về hàng may mặc, thời trang trong nước đang tăng lên
Trang 27chóng mặt trong bài viết này em xin được đi sâu vào thị trường trong nước.Những ảnh hưởng của thị trường mục tiêu đến việc áp dụng marketing-mix làđiều không thể phủ nhận các chiến lược được áp dụng sẽ phải hướng sự quantâm trọng điểm đến các thị trường mục tiêu, bên cạnh đó là dần mở rộng, pháttriển thị trường, thị trường mục tiêu Trong thị trường mục tiêu, những đốitượng khách hàng mục tiêu, đối tượng mà công ty hướng tới phục vụ nhiều nhất
sẽ có sự quyết định quan trọng đến việc áp dụng marketing Khách hàng mụctiêu là nam hay nữ, thuộc lứa tuổi, tầng lớp nào sẽ quyết định các chiến lượcmarketing như thế nào cho phù hợp với mỗi tầng lớp khách nhau đương nhiên
có các kiểu, phương thức quảng bá, tiếp cận riêng và mỗi lứa tuổi, giới tínhcũng vậy
Dù là bất kỳ doanh nghiệp nào cũng có những đối thủ cạnh tranh vớimình Có thể là đối thủ trực tiếp(đối thủ hiện hữu) hoặc là đối thủ tiềm năng.Trong công tác quản trị marketing, nhà quan trị luôn phả chú ý tới những độngthái, chiến lược của đối thủ Trong nền kinh tế thị trường, việc cạnh tranh là mộtyếu tố cố hữu, vì thế không thể không có, các nhà quản trị không thể khôngquan tâm Đặc biệt trong quản trị marketing,những chiến lược về đối thủ cạnhtrạnh được xem là một trong những phần quan trọng nhất của marketing.Vì aicũng muốn có được lợi nhuận tối đa, lợi ích tối ưu nên không thể không canhtranh Phương thức cạnh tranh tổng quát và hiệu quả đó là tìm hiểu kỹ càng đốithủ và đưa ra nhũng quyết định thật đúng đắn Tùy vào từng sản phẩm, thịtrường, thị trường mục tiêu, khách hàng mục tiêu mà chúng ta có những ứngphó, chiến lược cụ thể sao cho phù hợp
2.1.3 Mục tiêu và chiến lược dài hạn của công ty
Trong những năm tới công ty sẽ tiếp tục đầu tư vốn để đổi mới kỹ thuậtcông nghệ Nâng cao năng lực và trình độ tay nghề của người lao động để sản
Trang 28phẩm tạo ra có chất lượng ngày một tốt hơn, có uy tín không chỉ ở thị trườngtrong nước mà ở cả thị trường nước ngoài Để thực hiện được các mục tiêu đề
ra, ban lãnh đạo công ty mà trước hết là phòng marketing đã định hướng phảithực hiện những mục tiêu chiến lược sa:
+ Dự đoán đúng cung-cầu thị trường, tính chất cạnh tranh, nguồn lực cầnthiết liên quan đến loại sản phẩm công ty sẽ đầu tư phát triển Đây là mục tiêuquan trọng của công tác marketing
+ Từ việc nghiên cứu thị trường, đối thủ cạnh tranh và sản phẩm đưa racác quyết định về công nghệ Phân tích, đánh giá và nựa chọn công nghệ phùhợp Các trường hợp nhập công nghệ lỗi thời, thiết bị bãi rác, gây ô nhiễm môitrường…đều đã ẩn chứa nguy cơ sử dụng không có hiệu quả chúng trong tươnglai Những quyết định về việc thay đổi công gnhệ, dây truyền sản xuất khôngthuộc lĩnh vực marketing , nhưng tham mưu cho các quyết định đó chính nhữngkết quả của quá trình nghiên cứu , phân tích nghiệp vụ marketing
+ Giải pháp huy động và sử dụng vốn đúng đắn nếu dự án đổi mới thiết
bị không được đảm bảo bởi các điều kiện huy động và sử dụng đúng đắn cũngđều chứa đựng nguy cơ thất bại, không đem lại hiệu quả Những vấn đề về tàichính sẽ liên quan trực tiếp, ảnh hưởng đến các quyết định về giá Bên cạnh đó,giá cũng là một chiến lược thu hút, tiếp xúc khách hàng hiệu quả Những quyếtđịnh giá này sẽ chịu sự ảnh hưởng từ các quyế định vè tình hình tài hính, vốncủa công ty
+ Giải quyết tốt các mối quan hệ với khách hàng Khách hàng là đốitượng duy nhất mà doanh nghiệp phải tận tụy phục vụ và thông qua đó, công tymới có cơ hội thu được lợi nhuận Định hướng của công ty trong những nămtới về marketing sẽ hướng nhiều tới khách hàng hơn, đặc biệt là khách hàngtrong nước
Trang 29+ Một định hướng chiến lược của lãnh đạo công ty đó là xây dựng mớithương hiệu và phát huy thế mạnh cạnh tranh của công ty Tạo sự tín nhiệm, uytín và danh tiếng của doanh nghiệp trên thị trường Chính uy tín danh tiếng làcái “không ai có thể mua được” nhưng lại là điều kiện đảm bảo hiệu quả lâu dàicho mọi doanh nghiệp Nhận thức được điều đó, ban lãnh đạo công ty luôn luônquan tâm và dành mọi nguồn lực để làm tốt nhiệm vụ đó Chính vì vậy, phòngmarketing của công ty luôn phải cố gắng, đặc biệt chú trọng tới việc xây dựngthương hiệu, đồng thời cũng được sự hỗ trợ của các phòng ban khác trong công
ty những chiến lược về thương hiệu luôn là vấn đề quan trọng của marketing.Định hướng về thương hiệu của công ty đã ảnh hưởng và chi phối rất nhiều đếncác chiến lược marketing
+ Tiếp theo, định hướng của công ty là về vấn đề phân phối, đại lý và cácnhà cung ứng Giải quyết tốt các mối quan hệ với các đơn vị tiêu thụ, cung ứng,các đơn vị kinh doanh có liên quan khác…Đây là điều kiện để công ty có thểgiảm được chi phí kinh doanh sử dụng các yếu tố đầu vào Trong thời gian dàitrước đây, vấn đề tiêu thụ và cung ứng không được chú trọng quan tâm, mặc dùđây là một phần quan trọng của quản trị doanh nghiệp Vấn đề tiêu thụ, các đại
lý sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến các chiến lược kênh phân phối và xúc tiến bán củamarketing
Trong những năm tới Công ty sẽ tiếp tục xây dựng và phát triển thương hiệu THALOGA với việc nâng cao chất lượng sản phẩm sản xuất, tạo ra nhiều kiểu dáng ,mẫu mã , chủng loại khác nhau phù hợp với từng đối tượng khách hàng nhằm tạo lập vị thế của Công
ty trên thị trường nước ngoài cũng như thị trường trong nước.
Mục tiêu về thị trường: Đối với thị trường gia công, công ty đặt mục tiêugiữ vững các khách hàng truyền thống như EU, Nhật, Mỹ Đồng thời phát triểnthêm các thị trường mới như Châu Á, và trong nước Đối với thị trường FOB,Công ty xác định đây là thị trường phát triển lâu dài, vì vậy trong những năm tới
Trang 30công ty sẽ xây dựng mạng lưới các nhà thầu phụ nắm bắt thông tin giá cả Công
ty cũng đặt kế hoạch khai thác thị trường tại chỗ để có thể giảm bớt chi phí nhậpkhẩu, rút ngắn thời gian đưa sản phẩm tới tay khách hàng Đối với thị trườngnội địa, Công ty cũng xác định thành lập Trung tâm kinh doanh và tiêu thụ hànghoá của công ty, mở rộng hệ thống bán buôn, bán lẻ tại Hà Nội và các tỉnhthành phố trong cả nước nhằm đảm bảo sự tăng trưởng doanh thu nội địa nhưtăng trưởng doanh thu xuất khẩu Đồng thời Công ty cũng hy vọng tiến tới sảnxuất hàng theo đơn đặt hàng của trung tâm kinh doanh tiêu thụ và các đại lýnhằm đáp ứng yêu cầu thị trường và hàng hoá sản xuất đến đâu tiêu thụ hết đếnđó
Hiện nay doanh thu công nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng rất cao trong tổngdoanh thu Trong đó doanh thu xuất khẩu lớn hơn doanh thu nội địa Do vậytrong những năm tới Công ty sẽ cố gắng giữ vững tốc độ tăng doanh thu xuấtkhẩu đồng thời đẩy mạnh tốc độ tăng doanh thu nội địa Đối với doanh thu kinhdoanh khác thì cũng sẽ duy trì tốc độ tăng trưởng như hiện nay
Như vậy trong thời gian tới Công ty sẽ tập trung mở rộng quy mô sảnxuất, đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm để xây dựng cho mìnhmột thương hiệu mạnh có uy tín trong ngành dệt may, mở rộng thị trường cảtrong và ngoài nước đưa công ty ngày càng phát triển mạnh đóng góp vào côngcuộc xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh
Với những định hướng và chiến lược dài hạn đã được đề ra, May ThăngLong đang tập trung mọi nguồn lực và nỗ lực để đạt mục tiêu đề ra Trong đóban lãnh đạo công ty luôn tập trung cho công tác marketing