Phương pháp giáo dục phổ thông cũng đã được đổimới theo hướng “ phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS;phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phươn
Trang 1I Điều kiện hoàn cảnh tạo ra sáng kiến:
Đảng ta đã xác định con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự pháttriển xã hội Để thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóađất nước, cần phải có những người lao động mới phát triển toàn diện, do vậy cầnphải đổi mới giáo dục nói chung và đổi mới giáo dục phổ thông nói riêng.Nhiệm vụ đổi mới giáo dục đã được thể hiện rõ trong các Nghị quyết của Đảng
và Quốc hội, trong Luật Giáo dục:
Mục tiêu giáo dục phổ thông đã chuyển từ chủ yếu là trang bị kiến thức cho
HS sang trang bị những năng lực cần thiết cho các em, đặc biệt là năng lực hànhđộng, năng lực thực tiễn Phương pháp giáo dục phổ thông cũng đã được đổimới theo hướng “ phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS;phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tựhọc, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vàothực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS Giáo dục kĩ năng sống (KNS) cho HS, với bản chất là hình thành và pháttriển cho các em khả năng làm chủ bản thân, khả năng ứng xử phù hợp vớinhững người khác và với xã hội, khả năng ứng phó tích cực trước các tình huốngcủa cuộc sống - rõ ràng là phù hợp với mục tiêu giáo dục phổ thông, nhằm thựchiện mục tiêu giáo dục phổ thông Phương pháp giáo dục KNS, với các phươngpháp và kĩ thuật tích cực như: hoạt động nhóm, giải quyết vấn đề, nghiên cứutrường hợp điển hình, đóng vai, trò chơi, dự án, tranh luận, động não, hỏichuyên gia, viết tích cực, cũng là phù hợp với định hướng về đổi mới phươngpháp dạy học ở trường phổ thông
Địa lí là môn học cung cấp cho HS những hiểu biết cả về tự nhiên và xãhội Vì vậy, việc giáo dục KNS trong môn Địa lí là hết sức cần thiết, nhằm giúp
HS có những kĩ năng hành động, ứng xử phù hợp với môi trường tự nhiên, với
xã hội; có khả năng ứng phó và giải quyết một số vấn đề thường gặp trong cuộc
sống do điều kiện tự nhiên cũng như xã hội mang lại Nội dung môn Đia lí cung
cấp cho HS một số vấn đề của thế giới đương đại, cả những mặt tích cực cũngnhư những mặt tiêu cực; một số vấn đề về tự nhiên và xã hội Viêt Nam, thông
qua những nội dung này có thể giáo dục cho các em một số KNS như kĩ năng ứng phó và tự bảo vệ trước những thiên tai, những hiễm họa trong xã hội có
nguy cơ ảnh hưởng tới cuộc sống lành mạnh và an toàn của các em; đồng thời
cũng hình thành ở các em kĩ năng cảm thông, chia sẻ với những con người sống
Trang 2ở mọi nơi trên đất nước ta nói riêng cũng như trên thế giới nói chung gặp nhữngkhó khăn, bất hạnh, rủi ro trong cuộc sống bởi những thảm họa tự nhiên, những
cuộc xung đột giữa các quốc gia; kĩ năng tư duy khi phân tích, so sánh, phán
đoán; tìm kiếm và xử lí các thông tin về các sự vật, hiện tượng địa lí…
Dạy học địa lý địa phương là một nội dung trong chương trình môn địa lí.Sau khi học xong những kiến thức cơ bản về tự nhiên, dân cư – kinh tế của cảnước nói chung, học sinh sẽ thực hành vận dụng kiến thức để tìm hiểu về địa lícủa một địa phương, một đơn vị nhỏ hơn Tuy nhiên, các tài liệu cần thiết, cụ thể
về địa lí của một địa phương hiện nay vẫn còn rất ít Để dạy và học được phầnnày cả giáo viên và học sinh cần phải tích cực tìm hiểu, phân tích tư liệu và khảosát thực tế Nội dung tìm hiểu Địa lí đia phương trong chương trình Địa lí, tạođiều kiện cho HS tiếp cận với một số vấn đề cụ thể của địa phương, từ đó hìnhthành cho các em khả năng thích ứng, biết cách ứng phó trước những tình huốngkhó khăn và giải quyết những vấn đề nảy sinh trong thức tế cuộc sống của các
em, định hướng cho quá trình phát triển nhận thức và hành động của học sinh
Vì vậy, khi dạy học địa lí nói chung và kiến thức địa lí địa phương nói riênggiáo viên có nhiều cơ hội để kết hợp các kĩ năng sống cần thiết để giáo dục họcsinh, phù hợp với yêu cầu để có hiệu quả cao nhất Việc sử dụng phương phápdạy học tích cực như phương pháp dạy học theo nhóm, phương pháp giải quyếtvấn đề, tạo điều kiện thuận lợi cho việc hình thành các kĩ năng giao tiếp, làmchủ bản thân, kĩ năng giải quyết vấn đề, của học sinh Từ đó tôi lựa chọn sáng
kiến “Tích hợp giáo dục kĩ năng sống trong giảng dạy địa lí địa phương”.
II Mô tả giải pháp kĩ thuật
II.1 Mô tả giải pháp kĩ thuật trước khi tạo ra sáng kiến
II.1.1 Mục đích, nhiệm vụ của sáng kiến
II.1.1.a Mục đích
Trong môn Địa lí với đặc điểm về nội dung và PPDH đặc trưng sẽ góp phần vàoviệc giáo dục các KNS, tập trung vào các kĩ năng nòng cốt với giáo dục phổthông Việt Nam như:
- Tự nhận thức: Thể hiện sự tự tin khi được trình bày ý tưởng của cá nhân
trước bạn bè, thầy cô; có nghị lực để hoàn thành các nhiệm vụ được giao… Xác định giá trị bản thân thể hiện ở thái độ đồng tình hay phản đối trước những hành
động, hành vi tiêu cực như hành động phá hoại môi trường,…
Trang 3- Giao tiếp: Lắng nghe và phản hồi tích cực trong quá trình trao đổi nội dung
bài học trong nhóm nhỏ hoặc cả lớp; Trình bày suy nghĩ, ý tưởng của cá
nhânhoặc của nhóm trong quá trình làm việc cá nhân/ nhóm để tìm hiểu về
những vấn đề GV gợi ý, nhằm đi đến nội dung cần tiếp thu của bài học Biết cách ứng xử, giao tiếp với bạn bè, thầy cô giáo, tạo sự thân thiên và để công việc đạt được hiệu quả Hợp tác với bạn bè trong giải quyết nhiệm vụ GV giao Thể hiện sự cảm thông với con người trước những thảm họa do thiên nhiên hoặc
những cuộc xung đột gây ra
- Tư duy: Trong quá trình làm việc cá nhân hoặc nhóm, HS có điều kiện suy
ngẫm, hồi tưởng những kiến thức, kĩ năng địa lí đã tiếp nhận trước đó để giải
quyết nhiệm vụ được đặt ra, ví dục sử dụng kiến thức về các nhân tố hình thànhkhí hậu để giải thích đặc điểm khí hậu Việt Nam
Nội dung và phương pháp dạy học địa lí có điều kiện để phát triển kĩ năng tư duy phê phán khi tiếp cận những hiện tượng tác động tiêu cực đến môi trường,
tư duy kinh tế khi đánh giá những thuận lợi và khó khăn của điều kiện tự nhiên đối với việc phát triển kinh tế, tư duy không gian khi làm việc với bản đồ… Trong quá trình làm việc cá nhân và nhóm, HS luôn phải tìm kiếm và xử lí thông tin từ SGK, từ các nguồn tư liệu khác nhau để có được tri thức cần thiết gắn với nội dung bai học địa lí Vận dụng các kĩ năng phân tích, so sánh, đối chiếu các hiện tượng, sự vật địa lí giúp HS hiểu sâu vấn đề và có thể đưa tới những ý kiến sáng tạo khi đề xuất biện pháp giải quyết tình huống của thực
tiễn…
- Giải quyết vấn đề: Trong nhiều bài học Địa lí, HS có nhiệm vụ phân tích khó
khăn và thuận lợi của các điều kiện tự nhiên, xã hội, điều đó sẽ giúp cho các em
có được kĩ năng phân tích điểm mạnh, điểm yếu Những kĩ năng này giúp các
em lựa chọn cách giải quyết một số vấn đề của thực tiễn và từ đó có thể đưa ra quyết định phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện thực tiễn.
- Làm chủ bản thân: Hoạt động nhóm hoặc thực hiện những bài tập nhỏ trong
các tiết học Địa lí theo yêu cầu và nhiệm vụ mà GV giao sẽ tạo điều kiện cho HS
rèn kĩ năng đặt mục tiêu cho từng hoạt động, ví dụ phân tích lược đồ để nhận xét
sự phân bố của một số đối tượng địa lí Tham gia hoạt động nhóm, mỗi HS nhậnnhiệm vụ theo sự phân công và việc hoàn thành nhiệm vụ sẽ luyện tập cho các
em khả năng chịu trách nhiệm (đảm nhận trách nhiệm) với công việc được giao.
Biết cân nhắc công việc và tính toán thời gian để hoàn tất nhiệm vụ, qua đó các
Trang 4em có được kĩ năng lập kế hoạch và quản lí thời gian Làm việc hợp tác trong
nhóm, HS sẽ trao đổi, tranh luận,…với nhau, trong bối cảnh đó HS phải biết
kiểm soát cảm xúc, giữ bình tĩnh, biết cách ứng phó với căng thẳng, tránh gây
mâu thuẫn
Vận dụng cơ sở lí luận về giáo dục kĩ năng sống cho học sinh vào giảngdạy phần địa lí địa phương trong chương trình môn địa lí lớp 9 từ đó phát huyđược nhận thức đúng đắn của học sinh đối với việc học tập và cuộc sống Làmcho công việc giảng dạy của giáo viên cũng như việc học của học sinh khôngcòn gò bó trong việc giáo viên truyền thụ kiến thức, học sinh thụ động tiếp thu,
mà học sinh sẽ chủ động nắm bắt kiến thức, từ đó có hứng thú học tập, yêu thíchmôn học hơn
II.1.2.a Cơ sở lí luận
* Khái quát chung về kĩ năng sống
Thuật ngữ kĩ năng sống (KNS) bắt đầu xuất hiện trong các nhà trường phổ thôngViệt Nam từ những năm 1995- 1996, thông qua Dự án “Giáo dục KNS để bảo vệsức khỏe và phòng chống HIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong và ngoài nhàtrường” do UNICEF phối hợp với Bộ Giáo dục – Đào tạo và Hội Chữ thập đỏViệt Nam thực hiện Từ đó đến nay, nhiều cơ quan, tổ chức trong nước và quốc
tế đã tiến hành giáo dục KNS gắn với giáo dục các vấn đề xã hội như: phòngchống ma túy, phòng chống mại dâm, phòng chống buôn bán phụ nữ và trẻ em,phòng chống tai nạn thương tích, phòng chống tai nạn bom mìn, bảo vệ môitrường, … Giáo dục phổ thông nước ta những năm vừa qua đã được đổi mới cả
về mục tiêu, nội dung và phương pháp dạy học gắn với bốn trụ cột giáo dục củathế kỉ XXI: Học để biết, học để làm, học để tự khẳng định, học để cùng chungsống - mà thực chất là cách tiếp cận kĩ năng sống Đặc biệt, rèn luyện KNS cho
Trang 5HS đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo xác định là một trong năm nội dung củaphong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, HS tích cực” trong cáctrường phổ thông giai đoạn 2008- 2013
Thực tế cho thấy có nhiều quan niệm khác nhau về KNS :
• Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), KNS là khả năng để có hành vi thíchứng (adaptive) và tích cực (positive), giúp các cá nhân có thể ứng xử hiệu quảtrước các nhu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày
• Theo Quỹ nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF), KNS là cách tiếp cận giúpthay đổi hoặc hình thành hành vi mới Cách tiếp cận này lưu ý đến sự cân bằng
về tiếp thu kiến thức, hình thành thái độ và kĩ năng
• Theo Tổ chức văn hóa, khoa học và giáo dục Liên hợp quốc (UNESCO),
KNS gắn với 4 trụ cột của giáo dục, đó là: Học để biết (Learning to know) gồm
các kĩ năng tư duy như: tư duy phê phán, tư duy sáng tạo, ra quyết định, giải
quyết vấn đề, nhận thức được hậu quả,…; Học làm người (Learning to be) gồm
các kĩ năng cá nhân như: ứng phó với căng thẳng, kiểm soát cảm xúc, tự nhận
thức, tự tin,…; Học để sống với người khác (learning to live together) gồm các
kĩ năng xã hội như: giao tiếp, thương lượng, tự khẳng định, hợp tác, làm việc
theo nhóm, thể hiện sự cảm thông; Học để làm (Learning to do) gồm kĩ năng
thực hiện công việc và các nhiệm vụ như: kĩ năng đặt mục tiêu, đảm nhận tráchnhiệm,…
Phân tích các quan niệm trên cho thấy: Quan niệm của WHO nhấn mạnh đếnkhả năng của cá nhân có thể duy trì trạng thái tinh thần và biết thích nghi tíchcực khi tương tác với người khác và với môi trường của mình Quan niệm nàymang tính khái quát nhưng chưa thể hiện được ngay các kĩ năng cụ thể, mặc dùkhi phân tích sâu thì thấy tương đối gần với nội hàm KNS theo quan niệm củaUNESCO Quan niệm của UNESCO là quan niệm rất chi tiết, cụ thể, có nhấnmạnh thêm kĩ năng thực hiện công việc và nhiệm vụ Còn quan niệm củaUNICEF nhấn mạnh rằng kĩ năng không hình thành và tồn tại một cách độc lập
mà trong mối tương tác mật thiết và có sự cân bằng với kiến thức và thái độ Kĩ
năng mà một người có được một phần lớn cũng nhờ có được kiến thức (ví dụ: muốn có kĩ năng thương lượng phải biết nội dung thương lượng) Việc đề cập
thái độ cũng là một góc nhìn hữu ích vì thái độ có tác động mạnh mẽ đến kĩ
năng (Ví dụ, thái độ kỳ thị khó làm cho một người thực hiện tốt kĩ năng biết thể hiện sự tôn trọng với người khác)
Trang 6Từ những quan niệm trên đây, có thể thấy KNS bao gồm một loạt các kĩ năng cụ thể, cần thiết cho cuộc sống hàng ngày của con người Bản chất của KNS là
kĩ năng tự quản bản thân và kĩ năng xã hội cần thiết để cá nhân tự lực trong cuộc sống, học tập và làm việc hiệu quả Nói cách khác, KNS là khả năng làm chủ bản thân của mỗi người, khả năng ứng xử phù hợp với những người khác và với xã hội, khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống
• Có nhiều tên gọi khác nhau của KNS, ví dụ: kĩ năng tâm lý xã hội (SocialEmotional Skills), kĩ năng cá nhân, lĩnh hội và tư duy (Personal, Learning andThinking Skills)
• Một KNS có thể có những tên gọi khác nhau, ví dụ:
- Kĩ năng hợp tác còn gọi là kĩ năng làm việc theo nhóm;
- Kĩ năng kiểm soát cảm xúc còn gọi là kĩ năng xử lí cảm xúc, kĩ năng làmchủ cảm xúc,…
- Kĩ năng thương lượng còn gọi là kĩ năng đàm phán, kĩ năng thươngthuyết,…
• KNS không phải tự nhiên có được mà phải được hình thành trong quátrình học tập, lĩnh hội và rèn luyện trong cuộc sống Quá trình hình thành KNSdiễn ra cả trong và ngoài hệ thống giáo dục
• KNS vừa mang tính cá nhân, vừa mang tính xã hội KNS mang tính cánhân vì đó là khả năng của cá nhân KNS mang tính XH vì KNS phụ thuộc vàocác giai đoạn phát triển lịch sử xã hội, chịu ảnh hưởng của truyền thống và vănhóa của gia đình, cộng đồng, dân tộc
Trong giáo dục chính quy ở nước ta những năm vừa qua, KNS thường được
phân loại theo các mối quan hệ, bao gồm các nhóm sau:
a Nhóm các kĩ năng nhận biết và sống với chính mình, bao gồm các KNS
cụ thể như: tự nhận thức, xác định giá trị, ứng phó với căng thẳng, tìm kiếm sự
hỗ trợ, tự trọng, tự tin,
b Nhóm các kĩ năng nhận biết và sống với người khác, bao gồm các KNS
cụ thể như: giao tiếp có hiệu quả, giải quyết mâu thuẫn, thương lượng, từ chối,bày tỏ sự cảm thông, hợp tác,
c Nhóm các kĩ năng ra quyết định một cách có hiệu quả, bao gồm các
KNS cụ thể như: tìm kiếm và xử lí thông tin, tư duy phê phán, tư duy sáng tạo,
ra quyết định, giải quyết vấn đề,
Trang 7II.1.2.b Cơ sở thực tiễn
Giáo dục KNS càng trở nên cấp thiết đối với thế hệ trẻ, bởi vì:
- Các em chính là những chủ nhân tương lai của đất nước, là những người
sẽ quyết định sự phát triển của đất nước trong những năm tới Nếu không cóKNS, các em sẽ không thể thực hiện tốt trách nhiệm đối với bản thân, gia đình,cộng đồng và đất nước
- Lứa tuổi HS là lứa tuổi đang hình thành những giá trị nhân cách, giàuước mơ, ham hiểu biết, thích tìm tòi, khám phá song còn thiếu hiểu biết sâu sắc
về XH, còn thiếu kinh nghiệm sống, dễ bị lôi kéo, kích động … Đặc biệt là trongbối cảnh hội nhập quốc tế và cơ chế thị trường hiện nay, thế hệ trẻ thường xuyênchịu tác động đan xen của những yếu tố tích cực và tiêu cực, luôn được đặt vàohoàn cảnh phải lựa chọn những giá trị, phải đương đầu với những khó khăn,thách thức, những áp lực tiêu cực Nếu không được giáo dục KNS, nếu thiếuKNS, các em dễ bị lôi kéo vào các hành vi tiêu cực, bạo lực, vào lối sống ích kỉ,lai căng, thực dụng, dễ bị phát triển lệch lạc về nhân cách Một trong các nguyênnhân dẫn đến các hiện tượng tiêu cực của một bộ phận HS phổ thông trong thờigian vừa qua như: nghiện hút, bạo lực học đường, đua xe máy, ăn chơi sa đọa, chính là do các em thiếu những KNS cần thiết như: kĩ năng xác định giá trị, kĩnăng từ chối, kĩ năng kiên định, kĩ năng giải quyết mâu thuẫn, kĩ năng thươnglượng, kĩ năng giao tiếp,
Vì vậy, việc giáo dục KNS cho thế hệ trẻ là rất cần thiết, giúp các em rènluyện hành vi có trách nhiệm đối với bản thân, gia đình, cộng đồng và Tổ quốc;giupa các em có khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống,xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với gia đình, bạn bè và mọi người, sống tích cực,chủ động, an toàn, hài hòa và lành mạnh
Lứa tuổi học sinh trung học cơ sở bắt đầu từ 11 - 12 tuổi đến 14 – 15 tuổi.Đây là giai đoạn phát triển rất quan trọng trong cuộc đời mỗi con người cả vềmặt tâm lí và sinh lí Nó là thời kì chuyển tiếp từ tuổi thơ sang tuổi trưởng thành
và được phản ánh bằng tên gọi khác nhau như thời kì quá độ, tuổi khó bảo, tuổikhủng hoảng,…
Đối với học sinh lớp 9 các em đa phần đang bước vào tuổi dạy thì, đây làlứa tuổi có nhiều thay đổi, cần có sự quan tâm của mọi người xung quanh Khảnăng tiếp thu các nguồn kiến thức đa dạng với khối lượng tương đối lớn, cũngnhư khả năng tư duy của các em sẽ tốt hơn trước Học sinh cũng bắt đầu có ý
Trang 8thức về tương lai và trách nhiệm của bản thân với gia đình, xã hội, định hình vềhôn nhân và kế hoạch hóa gia đình Việc học tập trong trường trung học cơ sở làmột bước quan trọng trong đời sống của trẻ Ở các lớp dưới trẻ học về các hiệntượng, sự kiện, hiểu những mối quan hệ cụ thể và đơn giản giữa các sự vật vàhiện tượng đó Ở trường trung học cơ sở việc học tập của các em phức tạp hơn,chuyển sang nghiên cứu có hệ thống của các khoa học, các em học tập có phânmôn, mỗi môn học gồm những khái niệm, những quy luật được sắp xếp thànhmột hệ thống tương đối sâu sắc, điều đó đòi hỏi các em phải tự giác và độc lậpcao Như vậy, có thể nói rằng, về mặt tâm sinh lí, học sinh lớp 9 trung học cơ sở
có tương đối đủ điều kiện cần thiết để nhận biết được các vấn đề xảy ra trongcuộc sống từ đó có những hướng giải quyết tích cực với định hướng của giađình, nhà trường và xã hội
Thái độ học tập của học sinh cũng tăng lên rõ rệt, thái độ với môn học củahọc sinh không còn phụ thuộc nhiều vào điểm số mà thay vào đó là nội dungmôn học, sự đòi hỏi phải mở rộng tầm hiểu biết chi phối, thái độ đối với mônhọc đã có sự phân hóa “hay” hay “không hay” Nội dung học tập của học sinh
đã được mở rộng, nhiều học sinh đã có yếu tố tự học, có hứng thú bền vững đốivới môn học, say mê học tập Tuy nhiên, tính tò mò, ham hiểu biết có thể khiếnhứng thú của học sinh bị phân tán và không bền vững, hình thành thái độ dễ dãi,không nghiêm túc Giáo viên cần thấy được mức độ phát triển cụ thể của mỗi
em để kịp thời động viên, hướng dẫn, khắc phục những khó khăn trong học tập
và hình thành nhân cách một cách tốt nhất Mặt khác cần chú ý tới tài liệu họctập: Tài liệu học tập phải xúc tích về nội dung, gắn với cuộc sống của cácem,làm cho các em hiểu rõ ý nghĩa của tài liệu học, phải gợi cảm gây cho họcsinh hứng thú học tập và phải trình bày tài liệu gợi cho học sinh có nhu cầu tìmhiểu tài liệu đó, giúp đỡ học sinh có cách học, có phương pháp học tập phù hợp.Chương trình sách giáo khoa lớp 9 được biên soạn theo tinh thần đổi mới, vừacung cấp các tư liệu để giáo viên có thể chọn lọc, hướng dẫn học sinh học tập,đồng thời cũng là nguồn tri thức rất quan trọng giúp các em có thể tự tìm tòi,khám phá và lĩnh hội được các tri thức, kĩ năng bộ môn
Đặc biệt, cuối chương trình, học sinh được bắt đầu làm quen với việcnghiên cứu một số vấn đề địa lí của địa phương Đây là nội dung kiến thức mới,chưa có nhiều tư liệu chi tiết nghiên cứu về địa lí cụ thể của một tỉnh (thànhphố) nào Nội dung kiến thức trong sách giáo khoa đưa ra chỉ là cơ sở dàn ý
Trang 9chính khi tìm hiểu địa lí của bất kì một tỉnh (thành phố) nào Nội dung này đượcđưa vào cuối chương trình khi học sinh đã được học về địa lí tự nhiên cũng nhưkinh tế - xã hội của Việt Nam nói chung, trên cơ sở đó học sinh có thể tìm hiểuđịa lí của bất kì địa phương (tỉnh/ thành phố) nào trên phạm vi nước ta
Tiến hành giảng dạy theo phương pháp dạy học truyền thống như phươngpháp thuyết trình, phương pháp trình bày,… trong đó giáo viên truyền tải kiếnthức tới học sinh, giáo viên giữ vai trò trung tâm của quá trình dạy và học, họcsinh chỉ thụ động tiếp thu các kiến thức mà giáo viên cung cấp, quá trình dạyhọc của giáo viên và quá trình học tập của học sinh không đạt hiệu quả cao Đặcbiệt trong hoàn cảnh tài liệu học tập và giảng dạy nội dung này không nhiều, cókhi chỉ có giáo viên có tài liệu chuyên ngành liên quan còn học sinh khi họckhông có bất kì tài liệu nào trong tay Điều này gây khó khăn rất lớn cho họcsinh trong quá tình theo dõi kiến thức giáo viên truyền đạt và nắm bắt được nộidung cần thiết phải ghi nhớ Khi học sinh thụ động tiếp thu kiến thức tronghoàn cảnh đó thái độ học tập của học sinh cũng như kết quả học tập sẽ khôngđạt chất lượng cao, các kĩ năng cần thiết học sinh không được rèn luyện Khitiến hành giảng dạy thử nghiệm theo phương pháp dạy học truyền thống trongnội dung này tôi đã tổng hợp được kết quả đánh giá về thái độ cũng như kết quảhọc tập của học sinh theo bảng sau:
Bảng: Tổng hợp kết quả đánh giá thái độ của học sinh đối với tiết học khi tiến hành học theo phương pháp truyền thống
Thái độ của HS Hứng thú học tập Bình thường Không chú ý
Từ những vấn đề trên để đạt được hiệu quả học tập tốt nhất, tạo được hứngthú, say mê học tập cho học sinh nên khi tiến hành giảng dạy nội dung địa lí địaphương này tôi đã áp dụng phương pháp dạy học tích cực để khắc phục nhữngkhó khăn trên Học sinh và giáo viên đều phải chủ động tìm hiểu các kiến thứctrong cuộc sống để phục vụ cho nội dung bài học vì trong sách giáo khoa không
có các kiến thức cụ thể, chi tiết cho nội dung này Học sinh sẽ có thêm nhiềuđiều kiện tiếp xúc với kiến thức mới, chủ động nắm bắt tri thức, làm chủ trithức, rèn luyện những KNS cần thiết cho các em trong quá trình tìm hiểu kiếnthức mới, tạo hứng thú và kết quả học tập tốt nhất cho học sinh
Trang 10II.2 Mô tả giải pháp kĩ thuật sau khi có sáng kiến
II.2.1 Tích hợp KNS trong giảng dạy địa lý địa phương trong môn Địa
lí lớp 9 – THCS
Địa lí địa phương hay địa lí tỉnh (thành phố) là nội dung lớn cuối cùngđược giảng dạy trong môn địa lí của lớp 9 sau khi học sinh đã được tìm hiểu vềđịa lí chung của Việt Nam Khi học nội dung này học sinh sẽ được rèn luyện rấtnhiều kĩ năng, vận dụng kiến thức đã học và kết hợp với hiểu biết của của bảnthân để tìm hiểu, giải quyết vấn đề Trong chương trình lớp 9, học sinh sẽ có 3tiết để tìm hiểu về địa lí địa phương với nội dung tương ứng với ba bài: bài 41,bài 42, bài 43 trong sách giáo khoa Ba bài này tương ứng với ba mảng nội dunglớn khi chúng ta muốn tìm hiểu địa lí của một khu vực hay một nơi nào đó,tương ứng các nội dung là: vị trí địa lí và tài nguyên thiên nhiên, dân cư – laođộng, sự phát triển kinh tế của địa phương Lồng ghép trong các nội dung trên lànhững vấn đề về bảo vệ tài nguyên môi trường, phát triển bền vững cũng nhưphương hướng phát triển trong tương lai của địa phương đó như thế nào
Áp dụng phương pháp dạy học tích cực khi giảng dạy nội dung này vai tròcủa người học sinh sẽ là trọng tâm, các em sẽ phải chủ động tìm hiểu các kiếnthức từ nhiều nguồn tài liệu khác nhau dựa trên cơ sở các ý đã được đưa ra, saukhi tìm tài liệu xong là quá trình tổng hợp phân tích, lựa chọn các tài liệu chophù hợp với nội dung Cuối cùng là quá trình tổng kết, trình bày kết quả đã đạtđược Giáo viên trong quá trình này chỉ đóng vai trò là người hướng dẫn, địnhhướng giúp cho học sinh đi đúng hướng, đưa ra những tài liệu chính thống cóthể khai thác để học sinh tìm hiểu, tổng hợp kiến thức Trong quá trình học sinhthực hiện đề tài nếu có khó khăn trong việc tìm các số liệu thống kê giáo viên cóthể đưa ra một số bảng số liệu cần thiết để học sinh khai thác các kiến thức cầnthiết Cuối cùng khi kết thúc nội dung này học sinh được hình thành, rèn luyệnmột số kĩ năng sống cơ bản phù hợp với lứa tuổi của các em như kĩ năng hợp táclàm việc theo nhóm, kĩ năng quan sát, phân tích tìm hiểu vấn đề, kĩ năng tổnghợp, kĩ năng giao tiếp trình bày, bên cạnh đó cũng có định hướng đúng đắntrong quá trình hình thành các kĩ năng sống cần thiết sau này cho học sinh
Các bước thực hiện của một tiết học kết hợp giáo dục KNS cho học sinh:
Các bước Mục đích Mô tả quá trình
thực hiện
Vai trò của GV và HS/ Gợi ý một số KTDH
1 Khám - Kích thích học - GV (cùng với HS) - GV đóng vai trò lập
Trang 11Các bước Mục đích Mô tả quá trình
thực hiện
Vai trò của GV và HS/ Gợi ý một số KTDH phá sinh tự tìm hiểu
xem các em đãbiết gì về nhữngkhái niệm, kỹnăng, kiếnthức….sẽ đượchọc
- Giúp GV đánhgiá/xác định thựctrạng (kiến thức,
kỹ năng…) của
HS trước khigiới thiệu vấn đềmới
thiết kế hoạt động(có tính chất trảinghiệm)
- GV (cùng với HS)đặt các câu hỏinhằm gợi lại nhữnghiểu biết đã có liênquan đến bài họcmới
- GV giúp HS xửlý/phân tích các hiểubiết hoặc trảinghiệm của họcsinh, tổ chức vàphân loại chúng
kế hoạch, khởi động,đặt câu hỏi, nêu vấn đề,ghi chép…
- HS cần chia sẻ, traođổi, phản hồi, xử lýthông tin, ghi chép…
- Một số kỹ thuật dạyhọc chính: Động não,Phân loại/Xác địnhchùm vấn đề, Thảoluận, Chơi trò chơitương tác, đặt câu hỏi,
…
2 Kết nối Giới thiệu thông
tin, kiến thức và
kỹ năng mớithông qua việctạo “cầu nối”
liên kết giữa cái
“đã biết” và
“chưa biết” Cầunối này sẽ kếtnối kinh nghiệmhiện có của họcsinh với bài họcmới
- GV giới thiệu mụctiêu bài học và kếtnối chúng với cácvấn đề đã chia sẻ ởbước 1
- GV giới thiệu kiếnthức và kỹ năng mới
- Kiểm tra xem kiếnthức và kỹ năng mới
đã được cung cấptoàn diện và chínhxác chưa
- Nêu ví dụ khi cầnthiết
- GV nên đóng vai tròcủa người hướng dẫn(facilitator); HS làngười phản hồi, trìnhbày quan điểm/ý kiến,đặt câu hỏi/trả lời
- Một số kỹ thuật dạyhọc: Chia nhóm thảoluận, người học trìnhbày, khách mời, đóngvai, sử dụng phươngtiện dạy học đa chứcnăng (chiếu phim,băng, đài, đĩa… )
- GV thiết kế/chuẩn
bị hoạt động màtheo đó yêu cầu HS
- GV nên đóng vai tròcủa người hướng dẫn(facilitator), người hỗ
Trang 12Các bước Mục đích Mô tả quá trình
thực hiện
Vai trò của GV và HS/ Gợi ý một số KTDH
kiến thức và kỹnăng mới vào
cảnh/hoàncảnh/điều kiện
có ý nghĩa
- Định hướng đểhọc sinh thựchành đúng cách
- Điều chỉnhnhững hiểu biết
và kỹ năng cònsai lệch
phải sử dụng kiếnthức và kỹ năngmới
- HS làm việc theonhóm, cặp hoặc cánhân để hoàn thànhnhiệm vụ
- GV giám sát tất cảmọi hoạt động vàđiều chỉnh khi cầnthiết
- GV khuyến khíchhọc sinh thể hiệnnhững điều các emsuy nghĩ hoặc mớilĩnh hội được
trợ
- Học sinh đóng vai tròngười thực hiện, ngườikhám phá
- Một số kỹ thuật dạyhọc: Đóng kịch ngắn,viết luận, mô phỏng,hỏi-đáp, trò chơi, thảoluận nhóm/tranh luận…
4.Vận dụng - Tạo cơ hội cho
học sinh tíchhợp, mở rộng vàvận dụng kiếnthức và kỹ năng
có được vào cáctình huống/bốicảnh MỚI
- GV (cùng với HS)lập kế hoạch cáchoạt động đối vớinhiều môn học/lĩnhvực học tập đòi hỏi
HS vận dụng kiếnthức và kỹ năngmới
- HS làm việc theonhóm, cặp và cánhân để hoàn thànhnhiệm vụ
- GV và HS cùngtham gia hỏi và trảlời trong suốt quátrình tổ chức hoạt
- GV đóng vai tròngười hướng dẫn vàngười đánh giá
- HS đóng vai trò ngườilập kế hoạch, ngườisáng tạo, thành viênnhóm, người giải quyếtvấn đề, người trình bày
và người đánh giá
- Một số kỹ thuật dạyhọc: Dạy học hợp tác,làm việc nhóm, trìnhbày cá nhân, dạy học
dự án…
Trang 13Các bước Mục đích Mô tả quá trình
thực hiện
Vai trò của GV và HS/ Gợi ý một số KTDH
động
- GV có thể đánh giákết quả học tập củahọc sinh tại bướcnày
II.2.2 Thiết kế và tổ chức một tiết học cụ thể tìm hiểu về địa lí tỉnh Nam Định
Tiết 48 - Bài 42: ĐỊA LÍ TỈNH NAM ĐỊNH (tiếp theo)
Chủ đề: ĐỊA LÍ ĐỊA PHƯƠNG Lớp 9
I MỤC TIÊU: Sau bài học HS cần:
- Giáo dục lòng yêu thiên nhiên, có ý thức xây dựng kinh tế địa phương
- Năng lực chung: tự học, giao tiếp, hợp tác, sử dụng ngôn ngữ, tính toán,sáng tạo, tự quản lí, sử dụng CNTT
- Năng lực chuyên biệt: tư duy tổng hợp theo lãnh thổ, sử dụng bản đồ, sửdụng số liệu thống kê, sử dụng hình ảnh
II CÁC KNS CƠ BẢN ĐƯỢC GIÁO DỤC TRONG BÀI
- Thu thập, xử lí thông tin, phân tích
Trang 14Suy nghĩ – cặp đôi – chia sẻ, động não nhóm, thảo luận nhóm, HS làmviệc cá nhân,
IV CHUẨN BỊ CỦA GIÁO VIÊN VÀ HỌC SINH
GV nhận xét, hướng dẫn học sinh vào bài mới
b, Giới thiệu mục tiêu, cấu trúc bài học
c, Tổ chức hoạt động, kết nối
Do kiến thức về địa lí địa phương trong sách giáo khoa hầu như không có
gì nên để có tiết học hiệu quả nhất trong phần này giáo viên định hướng để họcsinh tìm hiểu, thu thập các kiến thức từ nhiều nguồn thông tin khác nhau Thờigian tìm hiểu ở nhà trước 1 tuần, trước khi đến tiết học này Trong giờ học nàyhọc sinh chủ yếu trình bày kết quả mình đã thu thập được theo hệ thống kiếnthức Giáo dục KNS cho học sinh trong nội dung địa lí địa phương được đánhgiá trong cả quá trình học sinh thu thập thông tin, tổng hợp kiến thức và báo cáokết quả
Hoạt động 1: Tìm hiểu các ngành kinh tế của địa phương (25 phút)
Bước 1: Giao nhiệm vụ, thảo luận nhóm
- HS xác định các ngành kinh tế của địa phương Nam Định: Nông nghiệp, côngnghiệp, dịch vụ
- GV chia lớp thành ba nhóm, mỗi nhóm 10 – 12 em, tìm hiểu về một ngànhkinh tế, nội dung tìm hiểu theo những gợi ý trong sách giáo khoa