Mục tiêu của đổi mới trong dạy học hóa học phổthông không chỉ dừng lại trang bị cho HS hệ thống kiến thức hóa học cơ bản mang tính hànlâm mà còn trang bị cho HS những kiến th
Trang 1THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1 Tên sáng kiến: Một số vấn đề về Dạy học hợp tác trong nhóm nhỏ
2 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Phương pháp dạy học tích cực
3 Thời gian áp dụng sáng kiến: năm học 2014 – 2015
4 Tác giả:
Họ và tên: Trần Thị Minh Nguyệt
Năm sinh: 1979
Nơi thường trú: Thôn Thị Kiều – Xã Lộc An – TP Nam Định
Trình độ chuyên môn: Đại Học
Chúc vụ công tác: Tổ trưởng tổ KH Tổng hợp
Nơi làn việc: Trường THCS Lý Tự Trọng – TP Nam Định
Điện thoại; 0973 126156
5 Đơn vị áp dụng sáng kiến:
Tên đơn vị: Trường THCS Lý Tự Trọng – TP Nam Định
Địa chỉ: Tô Hiến Thành – Tổ 35 P Trường Thi – TP Nam Định
Điện thoại: 0350 3846462
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trước đòi hỏi thực tiễn của Việt Nam trên con đường hội nhập và phát triển thì đổimới giáo dục là hết sức cần thiết Mục tiêu đối với giáo dục phổ thông là nâng cao chấtlượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống,ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn Pháttriển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời Bảo đảm cho HS có trình độTrung học cơ sở (THCS) (hết lớp 9) có tri thức phổ thông nền tảng, đáp ứng yêu cầu phânluồng mạnh sau THCS; Trung học phổ thông (THPT) phải tiếp cận nghề nghiệp và chuẩn bịcho giai đoạn học sau phổ thông có chất lượng
Trong công cuộc đổi mới toàn diện ngành giáo dục, đổi mới phương pháp dạy học có
ý nghĩa quyết định, cần được triển khai ở các môn học và cấp học Một trong những địnhhướng đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) hiện nay là vận dụng các PPDH tích cực đãđược các nền giáo dục tiên tiến trên thế giới áp dụng vào thực tiễn dạy học một cách hiệuquả Đó là những PPDH hiện đại định hướng vào người học, nhằm phát huy được năng lựcnhận thức, năng lực độc lập sáng tạo phát hiện và giải quyết vấn đề của người học Hơn nữacùng với xu thế chung của đổi mới giáo dục, dạy học hóa học cũng cần có những đổi mớinhất định về hình thức và phương pháp Mục tiêu của đổi mới trong dạy học hóa học phổthông không chỉ dừng lại trang bị cho HS hệ thống kiến thức hóa học cơ bản mang tính hànlâm mà còn trang bị cho HS những kiến thức hóa học hiện đại, mang tính thực tiễn cao;hình thành và phát triển cho HS kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức hóa học để giảiquyết các vấn đề trong thực tiễn cuộc sống Để đạt được các mục tiêu trên có lẽ không thế
thiếu được vai trò của dạy học hợp tác
Năng lực hợp tác được xem là một trong những năng lực quan trọng của con người
trong xã hội hiện nay, chính vì vậy, phát triển năng lực hợp tác từ trong trường học đã trở
thành một xu thế giáo dục trên thế giới Dạy học hợp tác trong nhóm nhỏ chính là sự phản ánh thực tiễn của xu thế đó Dạy học nhóm nếu được tổ chức tốt sẽ phát huy được tính tích
cực, tính trách nhiệm; phát triển năng lực cộng tác làm việc và năng lực giao tiếp của HS
Hóa học THCS đặt cơ sở nền tảng cho HS học tập chương trình Hóa học phổ thông.Tuy vậy phải nhìn nhận một cách khách quan rằng, hiện trạng dạy và học hóa học trong nhàtrường THCS hiện nay chưa thực sự thực hiện tốt mục tiêu dạy học đối với bộ môn Hóahọc Bên cạnh đó việc nghiên cứu áp dụng PPDH hợp tác trong dạy học hóa học phổ thông
ở nước ta còn nhiều hạn chế đặc biệt là bậc THCS
Tuy nhiên từ thực tế dạy học ở trường THCS Lý Tự Trọng - TP Nam Định cho thấyphương pháp dạy học này đã được áp dụng rộng rãi trong nhiều bộ môn tuy nhiên có thể do
Trang 3thời gian hạn hẹp, cơ sở vật chất thiếu thốn đã ảnh hưởng tới quá trình tìm hiểu thêm cácthông tin liên quan tới nội dung bài Cũng có thể do bản thân học sinh thực sự chưa xácđịnh cụ thể công việc và phương pháp làm việc nên hiệu quả làm việc cũng như kiến thứcthu được của học sinh bằng phương pháp này chưa sâu, chưa chắc dẫn tới học sinh chưathực sự được kích thích lòng say mê học tập, yêu thích bộ môn
Xuất phát từ những lí do trên, tôi lựa chọn đề tài: “ Một số vấn đề về Dạy học hợp tác trong nhóm nhỏ” góp phần đổi mới PPDH, hình thành phương pháp tự học, thói quen
tư duy sáng tạo, hiệu quả và tăng hứng thú học tập cho HS trong học tập môn Hóa học nóiriêng và các bộ môn học khác ở trường THCS nói chung
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu và vận dụng PPDH hợp tác trong dạy học Hóa học nhằm tích cực hoáhoạt động học tập của HS, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học môn Hóa học ở trườngTHCS
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu lí luận về đổi mới PPDH, các PPDH tích cực, đi sâu vào phương pháp
DH hợp tác và một số kĩ thuật dạy học hỗ trợ dạy học tích cực
- Nghiên cứu cấu trúc nội dung và chuẩn kiến thức, kĩ năng chương trình hóa học ởphổ thông, đặc biệt là nội dung môn Hóa học
- Nghiên cứu và vận dụng PPDH hợp tác để thiết kế các đề tài dự án, tổ chức hoạt
động học tập thực hiện hoạt động hợp tác các bài học như phần Hóa học hữu cơ lớp 9 hay
thiết kế kế hoạch nội dung nghiên cứu trong nghiên cứu khoa học.
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy học Hóa học ở trường THCS
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Vận dụng PPDH hợp tác trong dạy học, xây dựng dự án, nghiên cứu khoa học trongHóa học lớp 9, tập trung nghiên cứu một số vấn đề cơ bản về nhóm trong hợp tác
5 Phạm vi nghiên cứu
- Nội dung nghiên cứu: Phần Hóa học lớp 9.
- Địa bàn nghiên cứu: trường THCS Lý Tự Trọng TP Nam Định
- Thời gian: Năm học 2014 - 2015
6 Giả thuyết khoa học
Vận dụng phương pháp DH hợp tác một cách hợp lí kết hợp với một số kĩ thuật dạyhọc để thiết kế các hoạt động dạy học phần Hóa học lớp 9 thì sẽ tích cực hóa hoạt động
Trang 4nhận thức của HS, tăng hứng thú học tập, góp phần nâng cao chất lượng dạy học hóa học ởtrường THCS.
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận
- Tổng quan các tài liệu về lí luận dạy học có liên quan đến đề tài
- Sử dụng phối hợp các phương pháp phân tích, đánh giá, tổng hợp, hệ thống hóa,khái quát hóa… trong nghiên cứu các tài liệu có liên quan tới việc đổi mới PPDH, PPDH và
kĩ thuật dạy học tích cực
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Điều tra cơ bản thực trạng việc vận dụng các PPDH tích cực, PPDH hợp tác trongdạy học Hóa học
- Quan sát quá trình dạy học, trao đổi với đồng nghiệp…
- Thực nghiệm sư phạm để kiểm nghiệm giả thuyết khoa học của đề tài
7.3 Phương pháp xử lí thông tin
Sử dụng phương pháp thống kê toán học trong nghiên cứu khoa học giáo dục để xử
lí kết quả thực nghiệm sư phạm
8 Những đóng góp mới của đề tài
- Đã chỉ ra một số vấn đề cơ bản về phương pháp làm việc theo nhóm
- Đề xuất một số phương pháp nâng cao hiệu quả xử lý vấn đề khi làm việc nhóm
- Đề xuất một số kĩ năng để dạy học nhóm đạt kết quả cao
- Vận dụng phương pháp hợp tác trong dạy học dự án phần Hóa học hữu cơ lớp 9
Trang 5PHẦN I
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC VẬN DỤNG DẠY HỌC HỢP TÁC TRONG NHÓM NHO
1 Đổi mới phương pháp dạy học ở trường THCS
1.1 Sự cần thiết phải đổi mới PPDH
* Những đòi hỏi từ sự phát triển của xã hội
Hiện nay, với sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin, kiến thức không còn làtài sản riêng của trường học Công nghệ thông tin trở thành công cụ hỗ trợ tích cực trongdạy và học, là phương tiện dạy học hiện đại, hữu ích và hiệu quả Vì vậy HS có thể tiếpnhận thông tin từ nhiều nguồn khác nhau Điều đó đặt ra yêu cầu cấp bách cho giáo dục làcần đổi mới cách dạy và cách học
Vậy làm thế nào để HS có thể làm chủ, tự lực chiếm lĩnh kiến thức, tích cực, chủ động,sáng tạo, có kĩ năng giải quyết các vấn đề nảy sinh trong cuộc sống? Đây thực sự là nhữngthách thức lớn đối với ngành giáo dục nói chung, nhà trường, GV nói riêng
* Những đòi hỏi từ sự phát triển kinh tế của đất nước
Sự phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa và hòa nhập quốc
tế đòi hỏi nước ta cần có nguồn nhân lực có trình độ đáp ứng được yêu cầu này Như vậy,ngành giáo dục phải không ngừng đổi mới trong đó phải quan tâm đến đổi mới PPDH đểđào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội
* Những đòi hỏi khi tính đến đặc điểm tâm - sinh lí của người học
Mỗi HS đều có một cách học theo sở thích riêng còn gọi là phong cách học Có HS thíchhọc theo cách nghiên cứu tài liệu, có HS thích học qua trải nghiệm, khám phá, thực hành,…
Do vậy trong dạy học cần quan tâm đến đặc điểm tâm – sinh lí, hứng thú và phong cách họccủa người học, đây là yếu tố thúc đẩy sự phát triển tối đa năng lực của người học
1.2 Đổi mới phương pháp dạy học ở Việt Nam
Phương hướng chung để đổi mới PPDH hiện nay là:
- Chuyển từ mô hình dạy học một chiều sang dạy học tương tác hai chiều Chuyển từ xuhướng dạy học “GV làm trung tâm” sang “HS làm trung tâm”, “Dạy học trong hoạt động”,
“tích cực hóa người học”
- Sử dụng các phương pháp, các kĩ thuật dạy học tích cực, tăng cường tổ chức các hoạtđộng học tập, tăng cường sử dụng công nghệ thông tin và các phương tiện hiện đại mộtcách tối ưu nhất để hỗ trợ hoạt động dạy học
- Dạy HS cách tự học, cách tìm kiếm thông tin một cách nhanh chóng, chính xác, cậpnhật
Trang 61.3 Đổi mới phương pháp dạy học Hóa học ở trường trung học
* Một số xu hướng đổi mới PPDH Hóa học ở nước ta hiện nay:
- Tăng cường tính tích cực, tìm tòi sáng tạo ở người học, tiềm năng trí tuệ nói riêng vànhân cách nói chung, thích ứng năng động với thực tiễn luôn đổi mới
- Tăng cường năng lực vận dụng tri thức đã học vào cuộc sống, sản xuất luôn biến đổi
- Chuyển dần trọng tâm của PPDH từ tính chất thông báo, tái hiện đại trà chung cho
cả lớp sang tính chất phân hóa – cá thể hóa cao độ, tiến lên theo nhịp độ cá nhân
- Liên kết nhiều PPDH riêng lẻ thành tổ hợp PPDH phức hợp Liên kết PPDH với cácphương tiện kĩ thuật dạy học hiện đại tạo ra các tổ hợp PPDH có dùng phương tiện kĩ thuậtdạy học
- Chuyển hóa phương pháp khoa học thành PPDH đặc thù của môn học
- Đa dạng hóa các PPDH phù hợp với các cấp học, bậc học, các loại hình trường học
* Các yêu cầu với GV dạy Hóa học hiện nay
Để đổi mới PPDH hóa học, GV cần:
- Sử dụng các yếu tố tích cực đã có ở các PPDH hóa học như phương pháp thựcnghiệm, phương pháp nêu và giải quyết vấn đề, phương pháp trực quan,…
- Tiếp thu có chọn lọc một số quan điểm và phương pháp tích cực trong giáo dục hiệnđại của một số nước trên thế giới như dạy học kiến tạo, dạy học hợp tác theo nhóm nhỏ, dạyhọc lấy HS làm trung tâm, dạy học tương tác,…
- Lựa chọn các phương pháp phát huy tính tích cực của HS phù hợp với mục tiêu và nộidung từng loại bài hóa học nhất định, đối tượng HS cụ thể và điều kiện của từng vùng, từngđịa phương
- Phối hợp một cách hợp lí một số phương pháp khác nhau nhằm phát huy cao độ hiệuquả giờ dạy học hóa học
2 Dạy – Học tích cực
2.1 Tính tích cực học tập
Tính tích cực học tập nói đến những gì diễn ra bên trong người học Quá trình học tập
tích cực nói đến những hoạt động chủ động của chủ thể, về thực chất là tích cực nhận thức,đặc trưng ở khát vọng hiểu biết, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình chiếm lĩnhtri thức Tính tích cực học tập nhằm làm chuyển biến vị trí của người học từ đối tượng tiếpnhận tri thức sang chủ thể tìm kiếm tri thức, để nâng cao hiệu quả học tập
2.2.1.1Phương pháp dạy học tích cực trong dạy học Hóa học
2.2.2 Khái niệm phương pháp dạy học tích cực
Thuật ngữ “Phương pháp dạy và học tích cực” được dùng để chỉ những PPDH nhằmphát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học, bao gồm nhiều phương pháp, hình
Trang 7thức, kĩ thuật cụ thể khác nhau nhằm tích cực hóa, tăng cường sự tham gia của người học,tạo điều kiện cho người học phát triển tối đa khả năng học tập, năng lực sáng tạo, năng lựcgiải quyết vấn đề
2.2.3 Nét đặc trưng của PPDH tích cực
Các dấu hiệu đặc trưng của PPDH tích cực là:
- Dạy học thông qua tổ chức các hoạt động của HS và chú trọng rèn luyện phươngpháp tự học
- Tăng cường hoạt động học tập của mỗi cá nhân, phối hợp với học hợp tác
- Dạy học chú trọng đến hứng thú của HS, nhu cầu và lợi ích của xã hội
- Dạy học coi trọng hướng dẫn tìm tòi
- Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò
2.3 Dạy học hợp tác trong nhóm nhỏ – Một phương pháp dạy học tích cực.
PPDH hợp tác trong nhóm nhỏ còn được gọi bằng một số tên khác như "Phương
pháp thảo luận nhóm" hoặc PPDH hợp tác Đây là một PPDH mà "Hs được phân chia
thành từng nhóm nhỏ riêng biệt, chịu trách nghiệm về một mục tiêu duy nhất, được thực hiện thông qua nhiệm vụ riêng biệt của từng người Các hoạt động cá nhân riêng biệt được
tổ chức lại, liên kết hữu cơ với nhau nhằm thực hiện một mục tiêu chung".
Phương pháp thảo luận nhóm được sử dụng nhằm giúp cho mọi hs tham gia mộtcách chủ động vào quá trình học tập, tạo cơ hội cho các em có thể chia sẻ kiến thức, kinhnghiệm, ý kiến để giải quyết các vấn đề có liên quan đến nội dung bài học; tạo cơ hội chocác em được giao lưu, học hỏi lẫn nhau; cùng nhau hợp tác giải quyết những nhiệm vụchung
Hs được học cách cộng tác trên nhiều phương diện Hs được nêu quan điểm củamình, được nghe quan điểm của bạn khác trong nhóm, trong lớp; được trao đổi, bàn luận vềcác ý kiến khác nhau và đưa ra lời giải tối ưu cho nhiệm vụ được giao cho nhóm Qua cáchhọc đó, kiến thức của hs sẽ bớt phần chủ quan, phiến diện, làm tăng tính khách quan khoahọc, tư duy phê phán của hs được rèn luyện và phát triển
Các thành viên trong nhóm chia sẻ các suy nghĩ, băn khoăn, kinh nghiệm, hiểu biếtcủa bản thân, cùng nhau xây dựng nhận thức, thái độ mới và học hỏi lẫn nhau Kiến thức trởnên sâu sắc, bền vững, dễ nhớ và nhớ nhanh hơn do được giao lưu, học hỏi giữa các thànhviên trong nhóm, được tham gia trao đổi, trình bày vấn đề nêu ra Hs hào hứng khi có sựđóng góp của mình vào thành công chung của cả lớp
Nhờ không khí thảo luận cởi mở nên hs, đặc biệt là những em nhút nhát, trở nên bạodạn hơn; các em học được trình bày ý kiến của mình, biết lắng nghe có phê phán ý kiến củabạn; từ đó, giúp hs dễ hòa nhập vào cộng đồng nhóm, tạo cho các em sự tự tin, hứng thú
Trang 8trong học tập và sinh hoạt Vốn hiểu biết và kinh nghiệm xã hội của hs thêm phong phú; kĩnăng giao tiếp, kĩ năng hợp tác của hs được phát triển.
2.4 Chức năng của nhóm
2.4.1 Tạo môi trường làm việc thân thiện:
- Cải thiện hành vi giao tiếp:
Nhóm giúp cải thiện sự giao tiếp thông qua các hoạt động trao đổi diễn ra thường xuyên,mọi người trở nên thân thiện, từ đó giúp bầu không khí học tập, lao động trở nên sôi độnghơn Mọi người dần giảm bớt chủ nghĩa cá nhân để hướng đến tập thể, để cùng giải quyếtcác vấn đề lớn mà một người hoặc một nhóm người làm việc độc lập, riêng rẽ không thểhoàn thành được Bầu không khí làm việc của tổ chức thay đổi theo hướng tích cực, mọingười có thái độ thiện chí với nhau Chính vì vậy mà vấn đề hóc búa thường được giảiquyết dễ dàng hơn
- Xây dựng tinh thần đồng đội và hỗ trợ nhau cùng phát triển:
Sau quãng thời gian lao động và học tập, đặc biệt là những công việc lặp đi lặp lại, hoặccác vấn đề cần giải quyết quá phức tạp, áp lực công việc quá cao làm cho người thực hiệncảm thấy dễ chán nản, đơn điệu, buông xuôi Khi đó, tham gia nhóm làm họ trở nên hưngphấn, họ chờ đón các hoạt động của nhóm và khi tham gia nhóm, họ bị thu hút vào côngviệc hơn bao giờ hết, vì trong nhóm có sự hỗ trợ của đồng đội, có điều kiện thể hiện cánhân, được chia sẻ kinh nghiệm và hướng dẫn những thành viên khác và mọi việc trước đâyđược xem là nhàm chán thì giờ đây, dưới cái nhìn từ một góc độ khác từ nhóm, vấn đề trởnên mới và hấp dẫn hơn
- Mở rộng hợp tác và liên hệ giữa tất cả các thành viên:
Khi tham gia nhóm, các thành viên có xu hướng mở rộng hợp tác với nhau để tạo sựthống nhất của tổ chức, giúp xóa bỏ ngăn cách trong các mối quan hệ Nhóm là một trongnhững cách kết nối tất cả mọi người Khi mọi người cùng bắt tay cùng giải quyết các vấn đềđặt ra, lúc đó bức tường ngăn cách bị phá toang, mọi người hòa nhập lại, gần gũi nhau hơn,
hỗ trợ nhau cùng tồn tại và phát triển
2.4.2 Huy động nguồn nhân lực
- Thu hút mọi người vào công việc:
Nội dung sinh hoạt luôn đa dạng, mối quan hệ được củng cố giữa các thành viên, vấn đềmà nhóm thường giải quyết là các vấn đề liên quan trực tiếp đến công việc của mỗi thànhviên, vì vậy họ bị cuốn hút bởi sự hấp dẫn của công việc được tạo ra từ quá trình sinh hoạtnhóm
- Nâng cao tinh thần làm việc, phát triển ý thức về chất lượng và sự tiến bộ
- Tạo cơ hội thuận lợi cho các thành viên phát huy tài năng của mình
Trang 9Nhóm tạo ra cơ hội tuyệt vời để giải quyết các vấn đề công việc hàng ngày Mọi người
có dịp nhóm họp, cùng suy nghĩ và đưa ra những ý kiến của mình cho việc giải quyết cácvấn đề khó khăn Quá trình sử dụng kiến thức như để giải thích hiện tượng, nhận biết cácchất như thế nào, để tính khối lượng của chất cần phải tìm như thế nào?… luôn xảy ranhững bất trắc, khi đó vận dụng chất xám hơn nữa là chất xám tập thể là phương thức tối ưunhất để khắc phục những bất trắc Nhóm tạo ra cơ hội vô hạn cho thành viên giải quyết khókhăn, đồng thời khiến mỗi thành viên nhận thấy mình là một phần hữu cơ của tổ chức
2.4.3 Nâng cao trình độ của thành viên và hoạt động của toàn tổ chức
- Thảo luận nhóm, kích thích sáng tạo của mọi người
Nhóm tạo ra môi trường kích thích sự sáng tạo của mọi người Người ta sẽ không mạnhdạn nêu ra các ý tưởng hay ý kiến của riêng mình nếu bị cự tuyệt, hay bị chế nhạo Thườngcác giải pháp khả thi nhất lại xuất phát từ những ý tưởng có vẻ lộn xộn, không tuân theo cácqui phạm thường thấy
- Giảm lãng phí, nâng cao hiệu quả lao động và học tập.
Hiệu quả học tập hay năng suất lao động bị ảnh hưởng nhiều bởi tâm lí của người thựchiện, khi tham gia vào nhóm tâm lí của mỗi thành viên được cải thiện nhiều, do đó hiệu quảhọc tập, năng suất lao động cũng được cải thiện đáng kể Mặt khác, khi tham gia hoạt độngnhóm, các vấn đề khó khăn của mỗi thành viên được đưa ra và giải quyết bởi tập thể, do đóáp lực công việc giảm bớt, đồng thời họ nhận thấy nhiều khía cạnh chưa tích cực trong laođộng và học tập của chính mình để tự khắc phục và thay đổi cho phù hợp Nhóm giúp giảmlãng phí, lãng phí về thời gian, vật liệu, nguyên liệu…
Để dễ hình dung về nhóm và hoạt động của nhóm, bạn hãy liên tưởng đến một độibóng đá Đội bóng đá có các thành viên là các cầu thủ, khi chơi trên sân luôn có một ngườiđội trưởng chỉ đạo tức thời trên sân Các cầu thủ thi đấu trên sân cùng hướng đến mục tiêuchung là đưa bóng vào khung thành đối phương Mỗi thành viên chịu một phần trách nhiệmliên quan đến thành công của đội bóng Mỗi thành viên, hay cầu thủ, được phân công tráchnhiệm ở một vị trí mà người đó có thể đảm đương Nếu có một vị trí nào đó bị yếu đi, cầuthủ không thể hoàn thành nhiệm vụ tại vị trí đó, thì các thành viên khác cùng hỗ trợ giúpthành viên tại vị trí đó hoàn thành nhiệm vụ hoặc khắc phục sai lầm trước đó Chính vì vậy,đội bóng ổn định, không bị đổ vỡ và hình thành sức mạnh chung của toàn đội bóng Tuynhiên, mỗi thành viên trong đội bóng là sức mạnh chung của cả nhóm, nếu thiếu một thànhviên thì cả đội bóng có nguy cơ suy yếu
Trang 10PHẦN II MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ
PHƯƠNG PHÁP LÀM VIỆC THEO NHÓM
Nhóm bao gồm một nhóm nhỏ những người cùng làm một công việc, gặp gỡ đểcùng nhận dạng, phân tích và giải quyết các vấn đề được đặt ra Nhóm không phải là một cơchế, hay một tổ chức mang tính hình thức, một thứ mốt nhất thời, một chương trình, mà làmột cách làm việc, một sự thay đổi thói quen bảo thủ trong suy nghĩ của con người Nhómlàm thay đổi mối quan hệ giữa người với người trong công việc
1 Đánh giá tổng quát thực trạng học tập theo nhóm.
•
Với HS: đây là ý kiến của một số học sinh đã hoạt động nhóm:
- Khi làm việc theo nhóm emi thấy thường gặp khó khăn:
+ Thường ai cũng bảo vệ ý kiến của mình mà không thực sự xem xét thấu đáo ý kiến củangười khác
+ Không hợp thành một thể thống nhất phục vụ cho một mục đích duy nhất + Thường ít khi gặp được một người trưởng nhóm có đầu óc tổ chức, phân công việc saocho hiệu quả
+ Một số người chỉ thích làm việc độc lập mà không muốn chia sẻ suy nghĩ hay ý tưởng + Nhiều bạn không đánh giá đúng con người
- Khi làm việc theo nhóm thì cái khó khăn đầu tiên là bất đồng ý kiến, mỗi thành
viên trong nhóm đều có ý kiến của riêng mình và thường thì chỉ thấy cái thiếu sót trong ýkiến của người khác mà không tìm ra cái đúng của nó và ngược lại cũng chỉ thấy cái đúngcủa ý kiến của mình mà không thấy cái thiếu sót
Khó khăn tiếp theo là giữ sự đoàn kết trong nhóm, điều đó đôi khi không biểu hiện
ra ngoài nhưng dễ làm nhóm tan rã, mâu thuẫn giữa các thanh viên xuất phát từ bất kỳ mặtnào thường thì chỉ là những chuyện nhỏ nhặt nhưng nếu không xử lý khéo sẽ dẫn đến hậuquả khôn lường
Mặt đã làm được:
- Phần lớn học sinh đã nhận thấy được vai trò và ý nghĩa của phương pháp học tập theonhóm đối với việc học tập Nhiều học sinh rất hào hứng khi thực hiện học tập theo nhóm
- Các giảo viên đã tích cực vận dụng phương pháp học tập theo nhóm cho học sinh trongquá trình giảng dạy giúp học sinh tự tìm hiểu kiến thức và rèn luyện khả năng làm việc tậpthể
Trang 11- Qua việc học tập theo nhóm các thành viên thấy được vai trò của mình đối với tập thể,bước đầu thành thạo được nhiều kỹ năng Học tập theo nhóm đã tạo cơ hội cho các thànhviên được thể hiện mình nên các bạn trở nên mạnh dạn hơn, tự tin hơn, có trách nhiệm hơn
- So với các phương pháp học tập khác trong học sinh hiện nay thì học tập theo nhómđang đem lại nhiều lợi ích, nó đã tăng cường sự gắn kết các thành viên trong lớp hơn, giúpmỗi thành viên thu nhận và nắm vững nhiều kiến thức hơn
- Học tập theo nhóm đã tạo ra nhiều sản phẩm trí tuệ rất phong phú và chất lượng đượcthầy cô ghi nhận, đánh giá cao
Mặt còn hạn chế
- Hiệu quả của hoạt động nhóm còn chưa cao, phần lớn hoạt động nhóm còn mang tínhhình thức, chú trọng tạo ra sản phẩm để nộp thầy cô mà ít chú trọng đến quá trình hợp tácnhóm để tạo ra sản phẩm
- Hầu hết học sinh đều thiếu và yếu về các kỹ năng làm việc nhóm, đặc biệt là kỹ nănggiải quyết xung đột, kỹ năng chia sẻ trách nhiệm, kỹ năng tự kiểm tra - đánh giá hoạt độngnhóm
- Ý thức tham gia, đóng góp ý kiến của học sinh nói chung còn chưa cao, một số họcsinh còn mang tâm lý trông chờ, ỷ lại
- Đa số nhóm trưởng còn thiếu kỹ năng trong điều hành và quản lý hoạt động của nhóm
- Sự tự kiểm tra - đánh giá của nhóm còn thiếu khách quan, mới chỉ coi trọng đánh giácho điểm các thành viên chứ chưa đánh giá hoạt động của nhóm
Có thể tìm thấy vô số những ý kiến tương tự như trên về hoạt động nhóm Mọi ngườiđều biết rằng hoạt động nhóm là rất tốt, nhưng khi thực hiện thì hoàn toàn ngược lại
2 Nguyên nhân của những hạn chế trên
2.1 Nguyên nhân khách quan:
- Đối với học và thảo luận nhóm trên lớp: Phần lớn lớp học quá đông Do vậy, GVkhó lòng theo dõi, đánh giá chính xác sự đóng góp, tham gia của người học hoạt độngnhóm, gây ra tâm lý ỷ lại của HS yếu kém vào các thành viên khá, giỏi trong nhóm Ngoài
ra do điều kiện lớp học còn chật chội, cơ sở vật chất chưa đảm bảo Vì thế gây khó khănkhá lớn cho việc thảo luận nhóm
- Đối với học nhóm ngoài lớp (ngoài giờ học): rất khó khăn cho việc tìm địa điểmhọc nhóm; cùng với đó là điều kiện cơ sở vật chất (phòng học, thư viện, ) của nhà trườngcũng chưa đáp ứng được nhu cầu học theo nhiều nhóm của học sinh
- Các thầy cô giáo cũng chưa thường xuyên trao đổi, hướng dẫn, cung cấp cho họcsinh những kỹ năng và phương pháp làm việc nhóm cho HS HS chỉ biết nhận nhiệm vụ là
Trang 12hoàn thành bài tập bằng cách làm việc nhóm mà chưa biết phải làm việc nhóm như thế nào
để hoàn thành bài tập một cách tốt nhất
- Phương pháp làm việc nhóm được áp dụng ở hầu hết các môn Vì thế nhiều khisinh viên phải làm việc nhóm quá nhiều trong cùng một thời gian Điều đó gây nên tâm lýmệt mỏi, nhàm chán trong HS Điều này cũng ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả làm việcnhóm
- Cán bộ các lớp chưa thực sự phát huy vai trò của mình trong việc tham mưu cho giáo viênthiết kế nhóm, tự quản và thúc đẩy các hoạt động nhóm…
- Đa số GV ở THCS chỉ được bồi dưỡng lý thuyết chung chung về phương pháp giảng dạy,chưa được huấn luyện cụ thể kỹ năng thiết kế học phần do mình đảm nhiệm Điều này, dẫnđến sự đơn điệu trong việc thiết kế, tổ chức HĐN và ít nhiều gây nhàm chán cho HS
- Quỹ thời gian cho từng môn học quá eo hẹp, gây khó khăn, mệt mỏi cho GV lẫn HStrong tổ chức hoạt động học tập theo nhóm
2.2 Nguyên nhân chủ quan:
- Một số HS chưa hình thành cho mình ý thức tích cực và tự giác trong học tập, làm việcnhóm HS chưa chịu khó tìm hiểu để có thể tự trang bị cho mình những kĩ năng và phươngpháp học nhóm có hiệu quả Từ đó dẫn đến HS thiếu và yếu về phương pháp, kỹ năng họcnhóm: Phương pháp tiến hành hoạt động nhóm của các nhóm chưa khoa học, chưa hợp lý:Thiếu mục tiêu cụ thể, thiếu kế hoạch, thiếu nội quy- nguyên tắc nhóm, phân công nhiệmvụ chưa phù hợp v.v
- Nhiều nhóm chưa lắng nghe, chưa tạo cơ hội cho các thành viên được thể hiện, khẳngđịnh mình, được thảo luận và phát biểu ý kiến Từ đó dẫn đến tình trạng một số thành viênchán nản, buông xuôi, phó mặc chỉ tham gia một cách chiếu lệ, đối phó Vì vậy chưa thực
sự phát huy hết năng lực của mình
- Nhóm trưởng chưa thực sự phát huy được vai trò của mình Chưa có năng lực và kỹ năngtrong việc điều hành nhóm
- Chưa thật sự có sự gắn kết giữa các thành viên Không khí làm việc trong nhóm chưa thânthiện, cởi mở, ít tạo cơ hội cho các thành viên phát huy năng lực, khiến các thành viênkhông muốn tham gia hoặc tham gia một cách rất hình thức
- Hiện nay, các nhóm học tập chủ yếu do GV chỉ định với độ lớn của nhóm cao nên ảnhhưởng không nhỏ đến chất lượng hoạt động của nhóm
Trang 13PHẦN III MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ XỬ LÝ VẤN ĐỀ KHI LÀM VIỆC NHÓM
1 Với người học: Có một số trạng thái tâm lí thường xuất hiện trong các hoạt động, cần tránh phạm phải những trạng thái này để không cản trở sự sáng tạo của cá nhân và của toàn nhóm, gv có thể đưa ra là một số lời khuyên cần HS ghi nhớ và thực hiện:
- Đừng cố tìm một câu trả lời đúng: Tùy theo tầm nhìn và sự hiểu biết của mỗi người mà
mỗi vấn đề có thể có nhiều câu trả lời đúng, nên đừng cố tìm một câu trả lời đúng nhất
- Đừng tuân theo các nguyên tắc một cách cứng nhắc: Nếu muốn tìm hiểu, khám phá thì
cần biết nghi ngờ và xem xét những giới hạn không rõ ràng đối với tư duy
- Đừng quá lệ thuộc vào hiện thực: Có nhiều ý tưởng không thực tế có thể trở thành những
bàn đạp để sáng tạo
- Đừng cố tránh sự không rõ ràng: Sự sáng tạo có thể bị cản trở bởi sự quá khách quan hay
cá biệt hoá
- Đừng quá lo sợ và cố tránh thất bại: Sự lo sợ thất bại có thể làm tê liệt quyết tâm thực
hiện những ý tưởng hay
- Thêm một chút hồi tưởng: những hiện tượng, những trò chơi khôi hài thời thơ ấu sẽ có thể
là những gợi ý hay cho hiện tại, hoặc một hình tượng đã bắt gặp ở đâu đó cũng có thể làmột điểm trong ý tưởng
- Tránh tình trạng quá biệt lập: Sự kết hợp chéo giữa các môn học khác nhau thường rất
hữu hiệu trong việc xác định tìm giải pháp
- Đừng quá quan trọng hóa vấn đề: Sự hài hước, không khí thoải mái làm giảm căng thẳng
và thúc đẩy khả năng sáng tạo
- Luôn luôn sáng tạo bắt đầu bằng ý tưởng mới: bằng cách nuôi dưỡng những ý tưởng nhỏ
bé bình thường và biến những ý tưởng ấy thành hiện thực, chúng ta sẽ có thể phát triển vàthực hiện những ý tưởng lớn hơn nhiều trong tương lai
2 Tổ chức hoạt động học tập theo nhóm trong giảng dạy
Trên cơ sở thực trạng của việc học nhóm hiện nay Thông qua quá trình giảng dạy
ở nhà trường Tôi đã áp dụng một số biện pháp để việc học tập theo nhóm có hiệu quả Vìvậy tôi mạnh dạn trình bày một số kinh nghiệm tổ chức hoạt động học tập theo nhóm
2.1 Hình thành động cơ hoạt động nhóm:
Với sự tiến bộ phi thường của công nghệ thông tin và truyền thông, khốilượng thông tin và tri thức đang tăng theo hàm mũ, đòi hỏi con người phải có khả năngthích ứng nhanh chóng và liên tục, chẳng những về tri thức mà còn kỹ năng với một tốc độ
Trang 14cực kỳ cao Do đó, nếu trước đây việc tích lũy kiến thức nhớ là số 1, thì giờ đây khi cácphương tiện lưu trữ đã đầy đủ và sẳn sàng cho việc truy cập và xử lý thông tin, thì ưu tiên
số 1 lại là khả năng tiếp cận tri thức mới, vận dụng tri thức mới và khả năng “sinh” ra tri
thức mới Nhưng tri thức là vô cùng vô tận, một người không thể tự nắm bắt được tất cả, vìvậy đòi hỏi là quá trình giao lưu, trao đổi kiến thức với nhau Việc làm nhóm sẽ giúp íchcho HS rất nhiều trong việc này
Do hạn chế của nền giáo dục phổ thông ở nước ta, nhiều HS tỏ ra khá rụt rè, thụđộng, thờ ơ với sinh hoạt nhóm, sinh hoạt tập thể Do vậy, ngay từ tiết học đầu tiên của họcphần, GV cần động viên, khuyến khích HS tự tin, mạnh dạn thể hiện mình Bên cạnh đó, để
HS thực sự tự giác, tích cực tham gia hoạt động nhóm (HĐN), cần hình thành cho HS nhậnthức đúng đắn rằng mục tiêu của HĐN không phải chỉ để nâng cao điểm số mà là giúp HSnắm vững kiến thức môn học, khả năng ghi nhớ lâu hơn, hiệu quả làm việc tốt hơn, pháttriển năng lực cá nhân, rèn luyện kỹ năng thuyết trình trước đám đông, kỹ năng giao tiếp,
kĩ năng hợp tác, kĩ năng tổ chức, quản lí, kĩ năng giải quyết vấn đề, có trách nhiệm cao, tinhthần đồng đội, khuyến khích tinh thần học hỏi lẫn nhau, nhờ đó đáp ứng tốt hơn yêu cầuhiện nay của xã hội về nguồn nhân lực
2.2 Tổ chức, quản lý hoạt động nhóm
Ngay từ tiết học đầu tiên của học phần, giảng viên (GV) cần thông báo cho HS kếhoạch, phương thức tổ chức và đánh giá HĐN
2.2.1 Chia nhóm:
Việc phân nhóm cần thực hiện sao cho GV có thể theo dõi, đánh giá HĐN nhưngđồng thời cũng đảm bảo phát huy tính tích cực của mỗi HS Về lý thuyết, một nhóm lýtưởng nhất gồm 4 - 6 thành viên Trong thực tế, tùy theo quỹ thời gian môn học và quy môlớp học, GV có thể thay đổi linh hoạT Những tiết học đầu tiên, sự phân nhóm có thể mangtính ngẫu nhiên Tuy nhiên, sau đó GV cần điều chỉnh sao cho có sự cân bằng trình độ, nănglực học tập giữa HS các nhóm với nhau, nhằm thúc đẩy mối quan hệ hợp tác, giúp đỡ lẫnnhau trong học tập giữa các thành viên trong nhóm
Trang 15- Một thư ký để ghi chép nội dung, diễn biến các cuộc họp, thảo luận của nhóm, thư
ký có thể được thay đổi theo từng cuộc họp nhóm hoặc cố định từ đầu đến cuối Nhóm phảiquy định rõ trách nhiệm cụ thể của từng vị trí trong nhóm, xây dựng mối quan hệ gắn kếtgiữa các thành viên trong nhóm
Người trưởng nhóm có năng lực, nhiệt tình và có uy tín
Trong hoạt động của một nhóm, người trưởng nhóm đóng vai trò vô cùng quan trọng, làngười chịu trách nhiệm trước thầy cô, tập thể lớp về hoạt động của nhóm, là người điềuhành và tổ chức công việc của nhóm, đảm bảo cho nhóm đi đúng hướng, là người động viênthôi thúc mọi người và tháo gỡ khó khăn khi cần thiết Chính vì vậy, người trưởng nhóm
sẽ góp phần quyết định thành công của một nhóm học tập Nếu một nhóm có người trưởngnhóm có năng lực về học tập và quản lý (kỹ năng điều hành nhóm), có lòng nhiệt tình vàđược các thành viên tin tưởng, yêu mến thì chắc chắn nhóm đó sẽ hoạt động có chất lượng
2.2.2 Lựa chọn chủ đề thảo luận:
Việc lựa chọn chủ đề rất quan trọng Chủ đề quá khó hoặc quá dễ đối với HS đều ảnhhưởng đến hoạt động thảo luận Lựa chọn vấn đề thảo luận phải hấp dẫn, có tính chất kíchthích tính tích cực chủ động làm việc của HS Chủ đề thảo luận phải là vấn đề chính của bàihọc, vấn đề có thể có nhiều hướng khai thác khác nhau, nhiều cấp độ nhận thức khác nhau.Thường là loại cấp độ phát hiện và suy luận
Chủ đề thảo luận nhóm có thể là những chủ đề để cho các nhóm về nhà chuẩn bị, hoặccũng có thể là những chủ đề mà các em thảo luận ngay tại chổ, trong đó cần chú ý:
+ Phải đặt ra nhiệm vụ cụ thể của từng nhóm bằng câu hỏi Câu hỏi phải rõ ràng, khôngmập mờ, đánh đố
+ Phải có hướng dẫn cụ thể về yêu cầu và định hướng cách thức làm việc
+ Thời gian thảo luận phải tương ứng với nội dung yêu cầu của vấn đề thảo luận
2.2.3 Bố trí thời gian:
Hoạt động nhóm cần diễn ra thường xuyên và xen kẽ với hoạt động thuyết giảng
của GV (chẳng hạn, cuối một tiết giảng, sau khi kết thúc một chủ đề hay trước khi chuyểnsang một chủ đề mới) Điều này, sẽ giúp HS đỡ nhàm chán và GV kịp thời nắm bắt mức độtiếp thu của HS, từ đó định hướng điều chỉnh, bổ sung kiến thức, tài liệu tham khảo cho HS
Với những chủ đề HS về nhà chuẩn bị hay các bài theo dự án thì phải xác định thờigian cụ thể là khi nào sẽ thuyết trình, thời gian tối đa và tối thiểu dành cho mỗi chủ đề làbao nhiêu để HS có thể chủ động
Với những chủ đề mà đòi hỏi sự vận dụng kiến thức của cả môn học thì giáo viên
có thể cho HS trình bày vào những tiết cuối khi kết thúc môn học
2.2.4 Tổ chức thảo luận nhóm
Trang 16Thường có hai phương án để GV cho HS trình bày bài nhóm: thứ nhất, là gọi ngẫunhiên bất kỳ người nào trong nhóm lên thuyết trình; thứ hai, là cho HS chọn người đểthuyết trình
Để đảm bảo tất cả mọi thành viên trong nhóm đều phải làm việc, tránh tình trạng ỷlại vào người khác thì ngay từ ngày đầu tiên, khi phân công làm nhóm chúng ta thông báotrước lớp là có thể chúng ta sẽ chọn 1 trong 2 phương án
Nếu chúng ta lựa chọn phương án thứ hai thì chúng ta có thể gọi ngẫu nhiên bất kỳthành viên nào trong nhóm lên nói tóm tắt những nội dung mà nhóm đã làm Sau đó mớicho nhóm thuyết trình Việc làm này sẽ giúp tránh được tình trạng công việc chỉ tập trungtrong một số sinh viên và không phát huy được tác dụng của việc làm nhóm
Nếu nhóm nào có người không chuẩn bị bài mà nhóm trưởng không chịu báo thì cảnhóm sẽ bị trừ điểm Hãy tạo không khí lớp học sôi nổi bằng cách cho các thành viên tronglớp được thảo luận về vấn đề mà HS trình bày Giảng viên chỉ đóng một vai trò như là cầunối để các HS làm việc với nhau
Khi một nhóm thuyết trình, các nhóm còn lại chú ý theo dõi và sau đó sẽ tiến hànhnhận xét, đặt ra những câu hỏi Những nhóm có câu hỏi hay và nhận xét chính xác thì cũng
sẽ được cộng điểm Nhưng để đảm bảo cho mọi thành viên trong lớp đều chú ý lắng nghe,giảng viên có thể chỉ bất kỳ thành viên của các nhóm còn lại sẽ nhận xét và đưa ra câu hỏi
Thường thì HS sẽ đặt ra rất nhiều câu hỏi Tránh tình trạng thời gian trả lời câu hỏiquá dài GV có thể chọn ra những câu hỏi hay để nhóm thuyết trình trả lời HS nhóm trả lờicâu hỏi cũng do GV chỉ ngẫu nhiên Những câu hỏi còn lại có thể cho HS về nhà trả lời vàgửi lại cho cả lớp và giáo viên
Ngoài những vấn đề đã được chuẩn bị trước, GS có thể đặt ra những câu hỏi bất ngờ.Những câu hỏi gợi sức sáng tạo từ phía HS Trong quá trình HS thảo luận, GV đi tới từngnhóm, lắng nghe, gợi mở và thăm dò xem nhóm nào làm việc hiệu quả hơn thì có thể mờinhóm đó trình bày trước lớp, còn các nhóm khác lắng nghe rồi nhận xét Khi có được cả kỹnăng tự học và kỹ năng làm việc nhóm, các HS sẽ có thói quen chủ động và cầu tiến trongviệc học
2.2.5 Đánh giá hoạt động nhóm
Tổng kết đánh giá là khâu cuối cùng của hoạt động thảo luận Sự đánh giá và kếtluận của GV cũng tác động không nhỏ đến chất lượng làm việc nhóm Sau khi các nhómlàm việc cho ra các sản phẩm, nếu giáo viên đánh giá chi tiết mặt tốt, chưa tốt của sảnphẩm, so sánh các sản phẩm của các nhóm với nhau để HS nhận ra được những ưu, khuyếtcủa mình, sau đó giáo viên nêu lên kết luận (đưa ra chân lý khoa học) thì học sinh sẽ hiểusâu sắc và nắm vững vấn đề; đồng thời HS sẽ quyết tâm hơn trong lần làm bài tiếp theo
Trang 17Ngược lại, nếu GV không đánh giá sản phẩm và sự làm việc của HS sẽ khiến HS mất đihứng thú và động lực làm việc và như vậy hoạt động nhóm sẽ không thể có hiệu quả.
- HS tự đánh giá kết quả làm việc của nhóm:
Có một thực tế hiện nay là mặc dù GV đã chia nhóm, phân công nhiệm vụ chonhóm Nhưng nhiều HS với thói quen ỷ lại vào các HS khác đã không tham gia làm nhóm ởnhà Chỉ chờ các HS khác làm rồi ngồi hưởng lợi
Nhưng giảng viên chỉ có thể biết được sự đóng góp của các HS trong nhóm tại lớp.Còn những thảo luận tại nhà thì sẽ không nắm được Vì vậy sẽ phân công nhiệm vụ củanhóm là tự cho điểm các thành viên trong nhóm về những đóng góp của mỗi thành viên đểhoàn thành bài nhóm tại nhà Và cả những đóng góp của từng thành viên trong nhóm tạilớp
- Các nhóm đánh giá kết quả làm việc của nhau:
Hãy để các nhóm tự cho điểm lẫn nhau, đây là một kênh để đảm bảo cho HS pháthuy khả năng tổng kết đánh giá Và đồng thời cũng giúp cho GV có thể đưa ra kết quả cuốicùng phù hợp nhất
- GV đánh giá, nhận xét kết quả làm việc của các nhóm:
Công việc này có thể tiến hành song song hoặc sau khi đã có sự đánh giá giữa cácnhóm với nhau Đánh giá khả làm việc của nhóm: Các nhóm làm việc có khoa học haykhông Những ai tích cực, những ai lười biếng hay làm chuyện riêng, cần rút kinh nghiệmgì,… Giáo viên nên nhận xét cụ thể, khách quan và tốt nhất nên cho điểm để khích lệ tinhthần học tập của HS
Để tránh tình trạng ỷ lại, chây lười của một số HS trong HĐN, cần đánh giá kết quảHĐN không chỉ dựa trên thành tích chung của cả nhóm mà còn dựa trên sự đóng góp củatừng thành viên trong nhóm Điểm trung bình của cả nhóm dựa trên chất lượng HĐN (mứcđộ am hiểu vấn đề, kỹ năng diễn đạt/trình bày, trả lời câu hỏi, tinh thần hợp tác giữa cácthành viên trong nhóm) Điểm của từng HS được tính trên cơ sở điểm trung bình của nhóm
có tính đến mức độ đóng góp của từng cá nhân đóng góp vào HĐN
3.2.6 Vai trò của người giáo viên
Hãy tạo nên một không khí lớp học thật sôi nổi và thoải mái bằng cách tăng cường
sự đối thoại giữa giáo viên và học sinh Người giáo viên bên cạnh việc cung cấp những kiếnthức từ sách vở, cần cung cấp cho sinh nhiều kiến thức thực tế Trong các giờ học cần tiếnhành lồng ghép những kiến thức thực tế thu thập được từ internet, tivi, sách báo cho họcsinh Việc cung cấp những kiến thức như vậy sẽ giúp cho các em cảm thấy hứng thú hơntrong giờ học
Trang 18Trong việc làm nhóm của học sinh, giáo viên vẫn phải có một nhiệm vụ quan trọnglà tổng kết lại các vấn đề đã thảo luận, đánh giá những ý kiến đúng sai và giải quyết mọithắc mắc của học sinh xung quanh vấn đề đó Việc tổng kết này rất quan trọng vì sẽ giúpcho học sinh nắm được những kiến thức cơ bản cần thiết.
Bên cạnh đó, để học sinh có thể làm tốt được vai trò của mình thì giáo viên cần phảicung cấp đầy đủ các tài liệu tham khảo cho học sinh, để các em có thể tự học tập và nghiêncứu
Một yêu cầu nữa là giáo viên phải am hiểu sâu sắc nội dung dạy học, làm chủ kiếnthức, biết chế biến nó theo ý đồ sư phạm và biết cách truyền tải nó đến với học sinh Giáoviên phải có khả năng giảng dạy, lòng nhiệt thành Phải biết không ngừng cập nhật thôngtin mới và biết vận dụng nó vào công tác giảng dạy của mình Có như vậy, giáo viên mới cóthể giúp học sinh tích cực, chủ động, phát huy khả năng sáng tạo trong quá trình học tập.Giáo viên có nhiều kiến thức, có nhiều cách tổ chức và trình bày ngắn gọn, sáng tỏ cùng với
sự nhiệt tình trong thảo luận nhóm sẽ tạo điều kiện truyền đạt kiến thức cho học sinh mộtcách hiệu quả và thành công
PHẦN IV MỘT SỐ KĨ THUẬT DẠY HỌC TÍCH CỰC HỖ TRỢ CHO DẠY HỌC NHÓM ĐẬT KẾT QUẢ CAO 4.1 Khái niệm kĩ thuật dạy học
Kĩ thuật dạy học là những biện pháp, cách thức hành động của GV và HS trong cáctình huống nhằm giải quyết một nhiệm vụ cụ thể
4.2 Kĩ thuật khăn phủ bàn
Kĩ thuật khăn phủ bàn là kĩ thuật tổ chức hoạt động học tập mang tính hợp tác kếthợp giữa hoạt động cá nhân và nhóm
Áp dụng kĩ thuật khăn phủ bàn giúp HS:
- Học được cách tiếp cận với nhiều giải pháp và chiến lược khác nhau
- Rèn kĩ năng tư duy, quyết định và giải quyết vấn đề
- HS đạt được mục tiêu học tập cá nhân cũng như hợp tác
- Sự phối hợp làm việc cá nhân và làm việc theo nhóm nhỏ tạo cơ hội nhiều hơn chohọc tập có sự phân hóa
- Nâng cao mối quan hệ giữa HS, tăng cường sự hợp tác giao tiếp, học cách chia sẻkinh nghiệm và tôn trọng lẫn nhau
- Nâng cao hiệu quả học tập, HS có được kiến thức, kĩ năng hợp tác và cả phươngpháp nhận thức khoa học
Trang 19Kĩ thuật khăn phủ bàn được tiến hành như sau:
- Chia HS thành các nhóm và phát cho mỗi nhóm một tờ giấy A0
- Trên giấy A0 chia thành các phần, gồm phần chính giữa và các phần xung quanh.Phần xung quanh được chia theo số thành viên của nhóm, mỗi người ngồi vào vị trí tươngứng với từng phần xung quanh
- Mỗi cá nhân làm việc độc lập trong khoảng vài phút, tập trung suy nghĩ trả lời câuhỏi/nhiệm vụ theo cách nghĩ, cách hiểu riêng của mỗi cá nhân và viết vào phần giấy củamình trên tờ A0
Trên cơ sở ý kiến mỗi cá nhân, HS thảo luận nhóm, thống nhất ý kiến và viết vàophần chính giữa của tờ A0 “khăn phủ bàn
Sơ đồ kĩ thuật “khăn phủ bàn”
Như vậy, kĩ thuật khăn phủ bàn là một kĩ thuật dạy học đơn giản, dễ thực hiện, có thể
tổ chức trong các bài học, môn học, cấp học giống như học theo nhóm Kĩ thuật khăn phủbàn khắc phục được những hạn chế của học theo nhóm như: hiện tượng “ăn theo”, “táchnhóm”…
4.3 Kĩ thuật đặt câu hỏi 5W1H
Khi tiến hành xây dựng kế hoạch nhóm đặc biệt trong kế hoạch dự án, GV có thể sửdụng sơ đồ câu hỏi 5W1H để phát triển ý tưởng của HS Khi xây dựng kế hoạch dự án,nhóm HS phải nêu ra và trả lời các câu hỏi: Who (ai), What (cái gì), Where (ở đâu), When(khi nào), Why (tại sao)?, How (như thế nào)?
Trang 20Hình 1 1 Sơ đồ câu hỏi 5W1H
Trong các câu hỏi này, câu hỏi tại sao và như thế nào là quan trọng nhất
Như vậy khi lên kế hoạch nhóm phải xác định các câu trả lời cho các câu hỏi:
- Ai thực hiện nhiệm vụ này?
- Thực hiện những việc gì?
- Làm ở đâu?
- Khi nào hoàn thành?
- Tại sao cần thực hiện nhiệm vụ này?
- Thực hiện như thế nào? Bằng phương tiện gì?
Trong quá trình phát triển ý tưởng, GV cần để các ý tưởng của HS phát triển tự do,mọi ý tưởng đều được tôn trọng, không phê phán Khi không có thêm ý tưởng, cần hướngdẫn HS sắp xếp các ý tưởng và lập LĐTD
* Mục tiêu:
- Rèn cho HS kĩ năng thu thập thông tin, quản lí thông tin, tự quản lí quá trình họctập và điều chỉnh quá trình học tập của chính mình
- Tăng cường tính độc lập của HS
- Phát triển mô hình có sự tương tác giữa HS với HS.
Trang 21- Yêu cầu HS viết vào cột K những gì mà họ cho là đã biết về nội dung bài học hoặc chủ đề.
- Sau đó động viên, khuyến khích HS suy nghĩ và viết vào cột W những gì mà các em cho
là còn cần phải biết, phải học để có thể đạt được mục tiêu bài học
- Sau khi kết thúc bài học hoặc chủ đề, HS điền vào cột L của phiếu những gì vừa học
được Lúc này, HS xác nhận sự chính xác về những điều các em đã viết ở 2 cột và so sánhvới những điều các em vừa học được về bài học
* Một số lưu ý khi tổ chức dạy học theo kĩ thuật KWL:
- Nếu sử dụng kĩ thuật này đối với nhóm HS thì trước khi yêu cầu HS hoàn thành cột
K, GV có thể cho HS sử dụng kĩ thuật khăn phủ bàn để thống nhất những gì cả nhóm đã
biết về bài học Những gì được ghi vào giữa khăn phủ bàn cũng chính là nội dung ghi ở cột
K.
- Khi mới áp dụng kĩ thuật KWL, có thể dùng các câu hỏi gợi ý để HS có thể viết nhữnggì các em đã biết, muốn học và đã học được vào các cột tương ứng
Ví dụ: Khi nghiên cứu chủ đề về “Polime”, HS điền được vào bảng sau:
K (Điều đã biết) W (Điều muốn biết) L (Điều đã học được)
- Một số polime có sẵn
trong tự nhiên: tinh bột,
xenlulozơ, protein
- Một số polime do con
người tổng hợp nên như
polietilen,
poli (vinylclorua)
- Có phân tử khối rất
lớn, do nhiều mắt xích
kết hợp với nhau tạo nên
- Một số ứng dụng của
chất dẻo, tơ, cao su
- Khái niệm, cấu tạo, tínhchất của polime như thế nào?
- Polime có ứng dụng gì trongđời sống và sản xuất?
- Các sản phẩm trong thực tếđời sống có những polime nào?
- Khái niệm, thành phần,phân loại, đặc điểm của chấtdẻo, tơ, cao su?
- Cách sử dụng và bảo quảncác ứng dụng của polime rasao?
- Thế nào là hoạt động tái
- Khái niệm, cấu tạo, tínhchất của polime
- Những ứng dụng củapolime trong đời sống và sảnxuất, khái niệm, thành phần,phân loại và đặc điểm củanhững ứng dụng đó
- Phân tích được trong cácsản phẩm thực tế hay gặp cónhững polime nào, cách sửdụng và bảo quản chúng antoàn
- Tái chế là hoạt động cần
Trang 22chế, hoạt động này mang lại lợiích gì cho nền kinh tế và môitrường?
thiết và mang lại nhiều lợi íchcho nền kinh tế và môitrường
4.5 Lập lược đồ tư duy
4.5.1 Khái niệm lược đồ tư duy
Lược đồ tư duy (bản đồ tư duy, sơ đồ tư duy) là một sơ đồ nhằm trình bày một cách
rõ ràng những ý tưởng mang tính kế hoạch hay kết quả làm việc của cá nhân hay nhóm vềmột chủ đề Lược đồ tư duy (LĐTD) có thể được viết trên giấy, trên bản trong, trên bảnghay thực hiện trên máy tính
4.5.2 Cơ sở khoa học
Các yếu tố tạo nên cơ sở khoa học của LĐTD:
- Chức năng của bộ não: Các nghiên cứu về não bộ cho thấy hai bán cầu đại não cóchức năng khác nhau Nếu sử dụng được cùng nhiều chức năng và tối ưu các ưu thế của cảhai bán cầu não thì quá trình ghi nhớ và nhận thức càng có hiệu quả cao hơn
- Tâm lí học của quá trình ghi nhớ: Các nghiên cứu chỉ ra rằng não có thể nhớ đượccác thông tin, đặc biệt là các thông tin vào đầu và cuối buổi học, những thông tin liên hệ vớinhững điều đang được học, những thông tin nổi bật và độc nhất, những thông tin mà chủ thểquan tâm hay những thông tin có tác động mạnh đến một trong năm giác quan
- Cách ghi chép: Với cách ghi chép kiểu lược dòng cho ta thấy rằng hoàn toàn khôngdùng tới chức năng của bán cầu não phải, cách ghi chép này không phù hợp với tâm lí học,không sử dụng các yếu tố đặc biệt hữu hiệu trong quá trình ghi nhớ Như vậy ta mới chỉ sử dụngđược 50% khả năng của não bộ khi ghi nhận thông tin
Như vậy, việc lập LĐTD giúp chúng ta sử dụng cả hai bán cầu não phải và trái, nhờ
đó mà chúng trở nên mạnh mẽ hơn, khả năng nhận thức, tư duy sáng tạo được tăng cường
4.5.3 Sử dụng lược đồ tư duy trong dạy học
Sử dụng LĐTD trong dạy học đem đến hiệu quả cao như:
- Phát triển tư duy logic và khả năng phân tích tổng hợp , HS hiểu bài, nhớ lâu, thaycho việc học thuộc lòng
- Phù hợp với tâm lí HS: thiết lập đơn giản, HS dễ hiểu bài và ghi nhớ dưới dạnglược đồ, quá trình tư duy sử dụng các phần khác nhau của bộ não có sự kết hợp giữa ngônngữ, hình ảnh, khung cảnh, màu sắc, âm thanh, giai điệu Do vậy mà nó kích thích tư duyvà tính sáng tạo
- GV có thể sử dụng LĐTD để hệ thống kiến thức, thiết kế các hoạt động dạy họctrên lớp một cách hợp lí và trực quan thông qua khâu củng cố bài học hoặc để giúp HS ghinhớ các kiến thức trọng tâm trong chương một cách bền vững
Trang 23- Trợ giúp lập kế hoạch cho một hoạt động hoặc một dự án thông qua tổ chức tập hợpcác ý tưởng và thể hiện mối liên hệ giữa chúng.
- Trợ giúp đánh giá kinh nghiệm hoặc kiến thức thông qua quá trình suy nghĩ vềnhững yếu tố chính trong những gì đã biết hoặc đã làm
Với việc lập LĐTD, HS không chỉ là người tiếp nhận thông tin mà còn phải suy nghĩvề các thông tin đó, giải thích nó và kết nối nó với cách hiểu biết của mình Điều quan trọnghơn là HS học được một quá trình tổ chức thông tin, tổ chức các ý tưởng qua đó phát triển
tư duy hệ thống và tư duy sáng tạo
Ví dụ: LĐTD tổng kết kiến thức về Polime
LĐTD tổng kết kiến thức về Polime của nhóm “Chuông gió”
lớp 9A1- trường THCS Lý Tự Trọng.
PHẦN V VẬN DỤNG HOẠT ĐỘNG NHÓM TRONG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC THEO DỰ ÁN
PHẦN HÓA HỌC HỮU CƠ LỚP 95.1 Phân tích nội dung, cấu trúc chương trình phần Hóa học hữu cơ lớp 9
Phần hóa học hữu cơ lớp 9 được nghiên cứu sau khi HS đã học xong toàn bộ kiếnthức hóa vô cơ Trong SGK Hóa học lớp 9, phần hữu cơ được phân bố ở 2 chương: chương
4 (Hiđrocacbon Nhiên liệu) và chương 5 (Dẫn xuất của Hiđrocacbon Polime)
Việc đưa hoá học hữu cơ vào chương trình hoá học ở trường THCS góp phần pháttriển hệ thống các khái niệm cơ bản về hoá học ở THCS, phát triển khái niệm về chất, đi sâu
Trang 24nghiên cứu về cấu tạo chất, trên cơ sở nghiên cứu một số nội dung chính của thuyết cấu tạohoá học Ngoài việc làm xuất hiện khái niệm liên kết hoá học giữa các nguyên tử, còn xétđến đặc điểm của các loại liên kết, và từ đó bước đầu hình thành mối quan hệ lẫn nhau giữacấu tạo hoá học và tính chất hoá học của chất đó Khái niệm phản ứng hoá học được mởrộng: mở rộng khái niệm phản ứng thế, phản ứng cộng trong hoá hữu cơ, nghiên cứu điềukiện (cần) để xảy ra được phản ứng; hình thành khái niệm mới: Phản ứng este hoá, phảnứng thuỷ phân…
HS được nghiên cứu về hoá học hữu cơ sẽ làm cho vốn hiểu biết của họ sâu hơn, đặcbiệt là các vấn đề có liên quan đến thực tiễn sản xuất và đời sống con người Từ đó sẽ gópphần làm cho HS thêm yêu thích môn Hoá học, say mê trong học tập và nghiên cứu
Việc trang bị hệ thống kiến thức cơ bản về hoá học hữu cơ ở THCS sẽ góp phần tăngthêm hiểu biết một cách toàn diện ở HS, góp phần hướng nghiệp cho HS sau khi tốt nghiệpTHCS có thể bước vào đời với vốn kiến thức đầy đủ hơn
5.2 Mục tiêu của chương
5.2.1 Mục tiêu của chương 4 “Hiđrocacbon Nhiên liệu”
∗ Kiến thức
HS biết được:
- Định nghĩa, cách phân loại hợp chất hữu cơ
- Thành phần cơ bản của dầu mỏ, khí thiên nhiên và tầm quan trọng của chúng đốivới nền kinh tế
- Một số loại nhiên liệu thông thường và nguyên tắc sử dụng nhiên liệu một cáchhiệu quả
Tiếp tục hình thành và củng cố các kĩ năng:
- Quan sát, phân tích, tổng hợp và dự đoán tính chất của các chất
- Lập phương trình hóa học hợp chất hữu cơ
- Giải các bài tập định tính và định lượng có liên quan đến kiến thức của chương
- Bước đầu vận dụng được những hiểu biết về hiđrocacbon, dầu mỏ, khí thiên nhiên,nhiên liệu vào thực tế sản xuất và bảo vệ môi trường
∗ Tình cảm, thái độ
Trang 25- Thông qua nội dung kiến thức của chương, giáo dục cho HS tình cảm yêu thiênnhiên, có ý thức bảo vệ môi trường
- Có ý thức gắn lí thuyết với thực tiễn để nâng cao chất lượng cuộc sống
- Làm tăng hứng thú, niềm say mê với môn Hóa học của HS
∗ Năng lực
Tiếp tục hình thành và phát triển các năng lực chung và các năng lực chuyên biệt củamôn Hóa: năng lực tự học, năng lực hợp tác, năng lực sáng tạo, năng lực sử dụng ngôn ngữhóa học, năng lực vận dụng các kiến thức hóa học vào cuộc sống…
5.2.2 Mục tiêu của chương 5 “Dẫn xuất của Hiđrocacbon Polime”
∗ Kiến thức
HS biết: Những kiến thức cơ bản về :
- Hợp chất thiên nhiên có vai trò quan trọng đối với đời sống con người (gluxit,protein)
- Một số polime có nhiều ứng dụng trong thực tiễn (chất dẻo, tơ, cao su)
HS hiểu:
- Công thức phân tử, công thức cấu tạo, tính chất vật lí, tính chất hóa học vềhợp chất hữu cơ có nhóm chức quan trọng (rượu etylic, axit axetic, chất béo)
∗ Kĩ năng
Tiếp tục hình thành và củng cố các kĩ năng:
- Quan sát, tổng hợp, phân tích và dự đoán
- Viết các PTHH minh họa cho các tính chất hóa học của các chất
- Vận dụng kiến thức để giải thích một số vấn đề trong thực tiễn
- Rèn luyện kĩ năng giải một số dạng bài tập về hóa hữu cơ: nhận biết, tính chất, xácđịnh công thức, dự đoán tính chất, trắc nghiệm
- Biết cách tiến hành một số thí nghiệm hóa hữu cơ
∗ Tình cảm, thái độ
- Thông qua nội dung kiến thức của chương, giáo dục cho HS tình cảm yêu quý vàbảo vệ tài nguyên thiên nhiên, có ý thức
- Có ý thức gắn lí thuyết với thực tiễn để nâng cao chất lượng cuộc sống
- Làm tăng hứng thú, niềm say mê với môn Hóa học của HS
∗ Năng lực
Tiếp tục hình thành và phát triển các năng lực chung và các năng lực chuyên biệt củamôn Hóa: năng lực tự học, năng lực hợp tác, năng lực sáng tạo, năng lực sử dụng ngôn ngữhóa học, năng lực vận dụng các kiến thức hóa học vào cuộc sống…
Trang 265.3 Nội dung kiến thức trong chương
Nội dung kiến thức trong chương được phân phối theo các bài học như sau:
Chương 4 “Hiđrocacbon Nhiên liệu” gồm 10 bài:
- Bài 34: Khái niệm về hợp chất hữu cơ và hóa học hữu cơ
- Bài 35: Cấu tạo phân tử hợp chất hữu cơ
- Bài 36: Metan
- Bài 37: Etilen
- Bài 38: Axetilen
- Bài 39: Benzen
- Bài 40: Dầu mỏ và khí thiên nhiên
- Bài 41: Nhiên liệu
- Bài 42: Luyện tập chương 4: Hiđrocacbon – Nhiên liệu
- Bài 43: Thực hành: Tính chất của hiđrocacbon
Chương 5 “Dẫn xuất của Hiđrocacbon Polime”gồm 13 bài:
- Bài 44: Rượu etylic
- Bài 45: Axit axetic
- Bài 46: Mối liên hệ giữa etilen, rượu etylic và axit axetic
- Bài 47: Chất béo
- Bài 48: Luyện tập: Rượu etylic, axit axetic và chất béo
- Bài 49: Thực hành: Tính chất của rượu và axit
- Bài 55: Thực hành: Tính chất của gluxit
- Bài 56: Ôn tập cuối năm
5.4 Nguyên tắc lựa chọn nội dung kiến thức để xây dựng dự án học tập phần hữu cơ Hóa học lớp 9
Dựa vào các đặc điểm của DHTDA, việc lựa chọn nội dung để tổ chức DHTDA cầnđảm bảo các nguyên tắc sau:
- Nội dung lựa chọn để thực hiện phương pháp DHTDA cần đảm bảo tính khoa học,tính thực tiễn và mục tiêu dạy học
- Nội dung dạy học phải có sự liên kết chặt chẽ giữa lí thuyết và thực tiễn, gắn tư duyvới hành động, gắn nhà trường với xã hội
- Phải phù hợp với năng lực, hứng thú của HS: Chuyên đề dự án, mục tiêu, yêu cầuthực hiện cần phù hợp với trình độ, hứng thú của HS
Trang 27- Đảm bảo thời gian thực hiện dự án.
- Nội dung yêu cầu thực hiện dự án phải phù hợp với điều kiện thiết bị của nhàtrường, địa phương
5.4.1 Quy trình thiết kế bài dạy theo phương pháp DHTDA
Khi thiết kế bài dạy có sử dụng PPDH theo dự án, GV cần tiến hành theo các bước sau:
1- GV phân tích cấu trúc, nội dung bài học trong chương trình, suy nghĩ, hình thành
ý tưởng và đề xuất các hướng đề tài dự án Trên cơ sở đó hướng dẫn HS đề xuất các đề tài
dự án
2- GV xây dựng bộ câu hỏi định hướng cho đề tài dự án Xuất phát từ các nội dung,mục tiêu cần đạt được cho các hướng đề tài, GV xây dựng bộ câu hỏi định hướng gồm câuhỏi tổng quát, câu hỏi bài học, câu hỏi nội dung Bộ câu hỏi này mang tính định hướng cácvấn đề nghiên cứu để HS thực hiện tìm câu trả lời và có thể phát triển thêm các nội dungmang tính mở rộng
3- Thiết kế dự án: GV đề xuất chủ đề, ý tưởng chính của dự án cho HS lựa chọn, HScũng có thể chọn đúng đề tài do các em đề xuất Tổ chức cho HS thảo luận nhóm để lập kếhoạch thực hiện dự án (sử dụng kĩ thuật khăn phủ bàn, sử dụng lược đồ tư duy, sơ đồ5W1H, kĩ thuật “KWL”) bao gồm: Xác định các vấn đề cần nghiên cứu, quy mô, mục tiêucủa đề tài, các nhiệm vụ cần thực hiện, dự kiến thời gian, người phụ trách, sản phẩm vàhình thức trình bày…
4- Tìm kiếm thông tin: Xác định nguồn tài liệu tham khảo có liên quan, chuẩn bị cácđiều kiện thực hiện dự án
5- Thực hiện dự án, trình bày sản phẩm dự án
6- Lập kế hoạch đánh giá: GV lên kế hoạch đánh giá dựa vào những phiếu đánh giáđược sử dụng trước, trong và sau quá trình thực hiện dự án Có thể cho HS tự đánh giá,đánh giá lẫn nhau, đánh giá cùng với GV
7- Thiết kế các bước tổ chức bài học, các hoạt động cụ thể của các nhóm HS, trìnhbày các sản phẩm và đánh giá
5.4.2 Đề xuất một số dự án thực hiện trong hai chương: “Hiđrocacbon Nhiên liệu” và “Dẫn xuất của Hiđrocacbon Polime”
5.4.2.1 Dự án nhỏ
Các dự án nhỏ là những dự án có nhiệm vụ đơn giản, dễ thực hiện nên thời gian cầnthiết để thực hiện dự án ngắn (1 đến vài giờ) và có thể thực hiện trong giờ lên lớp Để thựchiện các dự án này, chỉ yêu cầu HS vận dụng được kiến thức có trong SGK, kiến thức thực
tế sẵn có, không cần quá nhiều kĩ năng và quá trình thực hiện dự án không quá phức tạp
Trang 28Các dự án nhỏ có thể xây dựng bằng cách yêu cầu HS tìm hiểu vai trò, ứng dụng haytác hại của một chất nào đó trong chương trình đang học đối với sản xuất, đời sống của conngười; hoặc tìm hiểu về tính chất, điều chế một số chất quan trọng.
Hướng dẫn thực hiện một số dự án nhỏ:
Khi dạy học 2 chương này ta có thể xây dựng dự án nhỏ theo hướng sau:
Tên dự án: Vai trò, ứng dụng của chất X trong thực tiễn (Chất X có thể là: metan,
etilen, axetilen, benzen, dầu mỏ, khí thiên nhiên, nhiên liệu, rượu etylic, axit axetic, chất béo,glucozơ, saccarozơ, tinh bột, xenlulozơ, protein, chất dẻo, tơ, cao su)
- Mục tiêu chính: Tìm hiểu các ứng dụng của chất X ở mức độ liệt kê, hiểu sơlược cơ sở lí thuyết và nội dung của các ứng dụng đơn giản
- Các câu hỏi định hướng:
+ Từ tính chất của chất X, hãy dự đoán các xu thế ứng dụng của X?
+ Những ứng dụng gì đã được trình bày trong sách giáo khoa?
+ Ngoài những ứng dụng trong SGK, em còn biết thêm ứng dụng nào khác?
+ Các ứng dụng mà em nêu ra do tính chất nào của X quyết định?
+ Các ứng dụng có thể được diễn tả bằng hình ảnh, sơ đồ hay mô hình như thế nào?
Ví dụ: Vai trò, ứng dụng của metan trong thực tiễn.
Dự án này yêu cầu HS đọc SGK kết hợp với kiến thức thực tế của bản thân để thực hiện
- Các câu hỏi định hướng:
+ Metan có những ứng dụng gì trong thực tiễn? Ngoài những ứng dụng đã nêu trongSGK, em còn biết thêm những ứng dụng nào khác nữa?
+ Các ứng dụng đó dựa trên những tính chất nào của metan?
+ Trình bày về ứng dụng của metan dưới dạng sơ đồ hoặc 1 bài thuyết trình ngắn
HS đọc SGK, thảo luận nhóm để trả lời các câu hỏi định hướng và trình bày sảnphẩm của nhóm mình theo yêu cầu (hoặc theo sự sáng tạo của nhóm)
Ví dụ: Dự án tìm hiểu tính chất vật lí của rượu etylic.
Dự án này yêu cầu HS đọc SGK kết hợp với kiến thức thực tế của bản thân để thựchiện
- Các câu hỏi định hướng:
+ Rượu etylic có những tính chất vật lí gì?
+ Từ tính chất đó hãy dự đoán xu thế ứng dụng của rượu etylic?
+ Tại sao những chai rượu hay đèn cồn dùng xong phải nút kín? Tại sao có thể ngâmrất nhiều thứ vào rượu?
+ Độ rượu là gì? Những con số ghi trên nhãn chai rượu như rượu vang 110 hay cồn
700 có ý nghĩa gì?
Trang 29+ Trình bày tính chất vật lí của rượu etylic dưới dạng sơ đồ tư duy hoặc 1 bài thuyếttrình ngắn.
Ví dụ: Dự án: Tìm hiểu quá trình sản xuất đường saccarozơ
- Câu hỏi định hướng:
+ Nguyên liệu để sản xuất đường saccarozơ là gì?
+ Quá trình sản xuất đường saccarozơ thông qua các giai đoạn nào? Mô tả quá trìnhsản xuất đó ở dạng sơ đồ?
+ Ngoài đường saccarozơ còn thu được sản phẩm nào khác trong quá trình sản xuấtnày? Sản phẩm đó có thể tận dụng để làm gì?
+ Những tên gọi như: đường mía, đường kính, đường phên, đường phèn, đường cát…
có phải là các loại đường khác nhau? Tìm hiểu ý nghĩa của các tên gọi đó?
+ Nêu tên 1 số địa điểm trồng nhiều mía và các nhà máy sản xuất đường của ViệtNam mà em biết?
GV yêu cầu HS đọc SGK, thảo luận nhóm để trình bày sản phẩm
Ngoài ra, GV có thể xây dựng các dự án nhỏ khác trong trong 2 chương như:
I Chương IV “Hiđrocacbon Nhiên liệu”
Bài 34: Khái niệm về
hợp chất hữu cơ và
hóa học hữu cơ
1 Lịch sử ra đời ngành hóa học hữu cơ
2 Hợp chất hữu cơ có ở đâu ?
3 Phân loại hợp chất hữu cơ
123Bài 35: Cấu tạo phân
tử hợp chất hữu cơ
1 Tìm hiểu về thuyết cấu tạo hợp chất hữu cơ 4
Bài 36: Metan 1 Tìm hiểu về khí biogas
2 Chất phá hủy tầng ozon
3 Thủ phạm các vụ nổ mỏ than
567Bài 37: Etilen 1 Cách làm chậm hoặc mau chín trái cây 8
Bài 40: Dầu mỏ và
khí thiên nhiên
1 Cách khai thác dầu mỏ
2 Các sản phẩm chế biến từ dầu mỏ
1112Bài 41: Nhiên liệu 1 Tìm hiểu về nhiên liệu
2 Cách sử dụng nhiên liệu hiệu quả
3 Sự phân loại nhiên liệu
131415
II Chương V “Dẫn xuất của Hiđrocacbon Polime
Bài 44: Rượu etylic 1 Tìm hiểu cách làm rượu nếp trong gia đình 16
Bài 45: Axit axetic 1 Tìm hiểu cách làm giấm ăn trong gia đình 17
Bài 47: Chất béo 1 Mẹo bảo quản dầu mỡ và xử lí dầu mỡ bị ôi trong gia
đình
18