Chính vì vậy, trong các giờ dạy học vật lýnói riêng và môn khoa học thực nghiệm nói chung cần phải có thiết bị, đồ dùngdạy học để giúp học sinh khơi dậy và nuôi dỡng khát vọng tự tìm ra
Trang 1MỤC LỤC
I MỞ ĐẦU 3
II NỘI DUNG 7
1 Cơ sở lý luận 7
1.1 Phõn loại thớ nghiệm vật lý 7
1.1.1.Thớ nghiệm biểu diễn 7
1.1.2 Thớ nghiệm thực hành vật lý 8
1.2 Thiết bị, đồ dựng dạy học Vật lý 10
1.2.1.Khỏi niệm về thiết bị dạy học: 10
1.2.2 Vài trũ của thiết bị, đồ dựng dạy học vật lý 11
2 Thực trạng việc sử dụng thiết bị, đồ dựng dạy học trong mụn Vật lý tại trường THCS ……… 14
3 Đề xuất biện phỏp nõng cao hiệu quả sử dụng thiết bị, đồ dựng dạy học trong mụn Vật lý tại trường THCS…… 15
3.1 Giáo viên cần hiểu đợc mục đích việc sử dụng thiết bị dạy học là gì? .15 3.2 Yêu cầu về sự chuẩn bị của giáo viên 15
3.3 Giáo viên cần hiểu và phân loại thiết bị, đồ dùng dạy học và phân loại thí nghiệm 16
3.3.1 Đối với thí nghiệm biểu diễn: 16
3.3.2 Đối với loại bài trong đó có thí nghiệm thực hành của học sinh 20
3.4 Yêu cầu đối với ngời phụ trách thiết bị, đồ dùng dạy học: 25
4 Thực nghiệm sư phạm ỏp dụng cỏc biện phỏp đó nờu vào tiến trỡnh dạy đổi mới phương phỏp dạy học 25
4.1.Vớ dụ khối 6: Sự nở vỡ nhiệt của chất rắn, sự nở vỡ nhiệt của chất khớ 26
4.1.1 Mục tiờu dạy học: 26
4.1.2 Thời lượng dự kiến: 27
4.1.4 Tiến trỡnh dạy học: 27
4.2.Vớ dụ khối 8: Sử dụng cỏc thiết bị, đồ dựng để phục vụ tiết dạy sử dụng phương phỏp dạy học theo chủ đề 35
4.2.1 Mục tiờu: 35
4.2.2 Chuẩn bị: 36
Trang 24.2.3 Tiến trình: 36
4.3.Ví dụ khối 7: Sử dụng thiết bị, đồ dùng dạy học phục vụ cho các thí nghiệm do học sinh đề xuất trong phương pháp bàn tay nặn bột 45
4.3.1.Mục tiêu: 45
4.3.2 Chuẩn bị: 46
4.3.3 Tiến trình dạy 46
5 Đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm 52
5.1 Phương pháp tiến hành: 52
5.3 Đánh giá: 53
5.3.1.Đánh giá tiến trình dạy học thực nghiệm sư phạm khối 6 53
5.1.2 Đánh giá chung kết quả thực nghiệm sư phạm cả khối 6,7,8,9 58
III KẾT LUẬN 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO 63
Trang 3I MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Học tập chủ động không tự nhiên mà có Niềm tin vào khoa học, ý thứcsáng tạo, tình yêu môn học phải đợc gieo trồng và vun đắp ngay từ những ngày
đầu bớc vào ngỡng cửa nhà trờng
Xó hội ngày càng phỏt triển cựng sự đổi mới khụng ngừng của nền khoahọc kĩ thuật đũi hỏi những con người lao động năng động, tự tin, linh hoạt, sỏngtạo, sẵn sàng thớch ứng với những đổi mới diễn ra hàng ngày Đú cũng là yờucầu mà xó hội đặt ra cho giỏo dục Thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 và Nghịquyết 29 về đổi mới căn bản, toàn diện giỏo dục và đào tạo, nền giỏo dục nước
ta đang từng bước đổi mới căn bản để cú thể đào tạo được những con người laođộng đạt được mục tiờu cụng nghiệp húa hiện đại húa đất nước Mục đớch giỏodục hiện nay khụng chỉ dừng lại ở việc truyền thụ những tri thức kĩ năng mà conngười tớch lũy được từ trước tới nay mà phải đào tạo con người cú năng lực sỏngtạo, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực tự chủ
Để đạt được điều đú nền giỏo dục phải đổi mới toàn diện và quan trọngnhất phải đổi mới chiến lược đào tạo con người, những con người mới đỏp ứngyờu cầu của thời đại mới Đổi mới giỏo dục cần phải đổi mới phương phỏp dạyhọc, trong đú cần vận dụng những phương phỏp dạy học tớch cực đó tổ chứcthành cụng ở cỏc nước tiờn tiến trờn thế giới vào điều kiện thực tiễn ở ViệtNam Phương phỏp dạy học ở cỏc cấp học núi chung và ở cấp trung học cơ sởnúi riờng phải hướng tới hoạt động học tập tớch cực, chủ động, sỏng tạo, nuụidưỡng cỏc ý tưởng khoa học của người học, làm cho học sinh cú nhu cầu khaokhỏt muốn bộc lộ ý tưởng, biết cỏch làm việc độc lập và làm việc hợp tỏc
Đối với tất cả cỏc mụn học núi chung và mụn Vật lý núi riờng, việc dạyhọc theo lối truyền thụ một chiều đó buộc học sinh chấp nhận kiến thức mộtcỏch lý thuyết suụng, thụ động, khụng gắn kết được với thực tiễn, học sinhkhụng hỡnh thành kỹ năng thỡ cỏc kiến thức đú sẽ thật khụ cứng và nhàm chỏn
Học sinh khụng nhỡn thấy mối liờn hệ mật thiết giữa khoa học và thế giới xung quanh, khụng vận dụng được cỏc kiến thức vào trong cuộc sống hàng ngày
Trang 4Trong những năm trở lại đây thì phơng pháp bàn tay nặn bột đã đợc sửdụng đại trà trong dạy học môn Vật lí cấp trung học cơ sở và đã giúp học sinhkhông những mở rộng vốn tri thức nào đó mà còn giúp họ hình thành năng lực tduy, khả năng phán đoán và giải quyết vấn đề Trong năm học 2014 - 2015, năm
đầu tiên áp dụng phơng pháp dạy học chủ đề trong giảng dạy cũng đã góp phầnnâng cao hơn nữa chất lợng dạy và học Nhng cho dù là áp dụng phơng pháp dạyhọc nào thì đối với môn Vật lí, kiến thức đều rút ra đợc bằng thực tiễn và kiểmchứng bằng quan sát và thí nghiệm Chính vì vậy, trong các giờ dạy học vật lýnói riêng và môn khoa học thực nghiệm nói chung cần phải có thiết bị, đồ dùngdạy học để giúp học sinh khơi dậy và nuôi dỡng khát vọng tự tìm ra câu trả lờicho một vấn đề đã nêu, cảm giác hài lòng khi đã nỗ lực khám phá để giải quyếtthành công vấn đề nảy sinh để rồi từ đó kích thích sự phát triển năng lực t duy,lòng say mê khám phá khoa học của học sinh
Đối với trờng trung học cơ sở Hạ Đình, thực tế của việc đổi mới phơngpháp dạy học và thay sách giáo khoa cho các lớp 6,7,8,9 với bộ môn vật lý: Số l-ợng thiết bị, đồ dùng có thể phục vụ tốt cho nhu cầu giảng dạy của giáo viên vàtiếp thu kiến thức của học sinh Sau mỗi năm học, nhà trờng đều có kế hoạchmua bổ sung thiết bị, đồ dùng tiêu hao nhằm đáp ứng tốt nhu cầu dạy và họctrong cả một năm học Nhng vấn đề đặt ra là sử dụng các thiết bị đó nh thế nàocho hiệu quả và làm thế nào để các em có thể tự tiến hành các thí nghiệm, từ đócác em tự tìm ra kiến thức của bài học và áp dụng kiến thức đó vào cuộc sống,
đó chính là vấn đề mà mỗi giáo viên dạy vật lý đều phải quan tâm
Để giải quyết vấn đề trên, trong giảng dạy đòi hỏi ở giáo viên phải có khảnăng sử dụng hiệu quả các thiết bị, đồ dùng dạy học để tạo điều kiện cho họcsinh tiếp thu kiến thức của bài học một cách tốt nhất
Có rất nhiều yếu tố để tạo ra một giờ dạy học thực nghiệm hiệu quả nh:Chất lợng đồ dùng thiết bị dạy học, các phơng tiện hỗ trợ (máy chiếu dùng chocác giờ dạy, bằng bài giảng điện tử, bảng phụ…) Nhng trong phạm vi bài viếtnày tôi chỉ muốn đề cập đến vấn đề là sử dụng các thiết bị, đồ dùng dạy học hiện
có sao cho hiệu quả, phù hợp với điều kiện và trình độ học sinh trờng trung họccơ sở Hạ Đình
Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Các biện pháp
nâng cao hiệu quả sử dụng thiết bị, đồ dùng dạy học trong môn Vật lí của ờng trung học cơ sở Hạ Đình ”.
tr-2 Mục đích nghiên cứu.
quả sử dụng thiết bị, đồ dùng trong môn Vật lý trung học cơ sở để tiếp tục
Trang 5góp phần đổi mới phơng pháp dạy học theo hớng hiện đại, nhằm phỏt huytớnh tớch cực, tự lực và phỏt triển năng lực sỏng tạo của học sinh trong họctập.
3 Đối tợng, phạm vi nghiên cứu.
và hoạt động học của học sinh trờng trung học cơ sở Hạ Đình
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đớch nghiờn cứu ở trờn, tụi đề ra cỏc nhiệm vụ nghiờn cứu cụthể như sau:
- Nghiờn cứu về dạy học cú sử dụng thiết bị, đồ dựng trong thớ nghiệm
- Phõn tớch lớ do thực hiện đề tài “nõng cao hiệu quả sử dụng thiết bị, đồdựng dạy học trong mụn Vật lớ của trường trung học cơ sở Hạ Đỡnh ”
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm theo nội dung và tiến trỡnh đó soạnthảo Phõn tớch kết quả thực nghiệm để đỏnh giỏ tớnh hiệu quả của việc sử dụngthiết bị, đồ dựng dạy học trong mụn Vật lớ của trường trung học cơ sở Hạ Đỡnhnhằm phỏt huy tớnh tớch cực, tự lực và phỏt triển năng lực sỏng tạo của học sinh
5 Phơng pháp nghiên cứu.
Để thực hiện cỏc nhiệm vụ trờn, tụi sử dụng phối hợp cỏc phương phỏpsau:
- Nghiờn cứu lớ luận:
+ Nghiờn cứu tài liệu về thiết bị, đồ dựng dạy học của trường trung học cơsở
+ Sỏch giỏo khoa mụn Vật lớ và một số mụn khỏc cú liờn quan
- Nghiờn cứu thực tiễn:
+ Tỡm hiểu tỡnh hỡnh dạy học Vật lớ 6
(sử dụng phiếu điều tra, trao đổi trực tiếp với giỏo viờn, học sinh; dự giờmụn Vật lớ để quan sỏt hoạt động dạy của giỏo viờn, hoạt động học của học sinh
để thu thập những làm rừ cơ sở lớ luận của đề tài)
- Vận dụng lớ luận vào tổ chức hoạt động dạy học Vật lớ 6
Trang 6ii N ỘI DUNG
1 Cơ sở lý luận
1.1 Phân loại thí nghiệm vật lý
Trong dạy học Vật lí, mỗi thí nghiệm tiến hành trong tiết học đều được quy về một trong hai dạng thí nghiệm sau:
1.1.1.Thí nghiệm biểu diễn
Thí nghiệm biểu diễn là thí nghiệm do giáo viên trình bày ởtrên lớp
Căn cứ vào mục đích, có thể chia thí nghiệm biểu diễnthành 3 loại:
1.1.1.1 Thí nghiệm nêu vấn đề
- Thí nghiệm này nhằm nêu lên vấn đề cần nghiên cứu tạo
ra tình huống có vấn đề làm tăng hiệu quả của dạy học
+ Ví dụ: Trước khi dạy bài áp suất khí quyển giáo viên cóthể làm thí nghiệm: Đổ đầy một cốc nước rồi đậy lên miệng cốcmột mảnh giấy, giữ và lật ngược cốc lại rồi buông tay ra sẽ thấy
tờ giấy không rơi Giáo viên nêu vấn đề cho bài học: “Tại sao lại
có hiện tượng đó? Để giải thích được, chúng ta đi vào nghiêncứu bài mới.”
1.1.1.2 Thí nghiệm giải quyết vấn đề:
- Thí nghiệm thuộc bài này được thực hiện giải quyết vấn
Trang 7- Là thí nghiệm dùng để kiểm tra lại những kết luận đượcsuy ra từ lí thuyết.
1.1.1.3 Thí nghiệm củng cố:
- Thí nghiệm thuộc loại này dùng để củng cố kiến thức đãnghiên cứu bao gồm cả những thí nghiệm nói lên ứng dụng củakiến thức Vật lí trong đời sống và trong kỹ thuật
+ Ví dụ: Khi học về chương âm học (Vật lí 7) có thể chohọc sinh làm những chiếc đàn bằng những kiến thức đã học
Trang 8- Loại thí nghiệm này học sinh chưa biết kết quả thí nghiệm, phải thôngqua thí
nghiệm mới tìm ra được các kết luận cần thiết Loại thí nghiệm này đượctiến hành trong khi nghiên cứu kiến thức mới
- Ví dụ: Các thí nghiệm nghiên cứu về đặc điểm chung của nguồn âm củabài
“nguồn âm” - Vật lí 7
*
Thí nghiệm kiểm nghiệm.
- Loại thí nghiệm này được tiến hành kiểm nghiệm lại những kết luận đãđược
khẳng định cả về lí thuyết và thực nghiệm nhằm đào sâu vấn đề hơn
+ Trong khi làm thí nghiệm các nhóm trao đổi giúp đỡ nhau và kết quảtrung bình đáng tin cậy hơn
+ Việc chỉ đạo của giáo viên tương đối đơn giản vì mọi việc uốn nắnhướng dẫn, sai sót, tổng kết thí nghiệm đều được hướng dẫn đến tất cả học sinh
Bên cạnh những ưu điểm, còn một số hạn chế:
+ Do trình độ các nhóm không đồng đều nên có nhóm vội vàng trong khithao tác dẫn đến hạn chế kết quả
+ Đòi hỏi nhiều bộ thí nghiệm giống nhau gây khó khăn về thiết bị
* Thí nghiệm thực hành loại phối hợp:
-Trong hình thức tổ chức này học sinh được chia thành nhiều nhóm khácnhau, mỗi nhóm chỉ làm thí nghiệm một phần đề tài trong thời gian như nhau,
Trang 9sau đó phối hợp các kết quả của các nhóm lại sẽ được kết quả cuối cùng của đềtài.
-Ví dụ: Trong bài “Sự bay hơi” - Vật lí 6 theo phương pháp nặn bột thínghiệm kiểm tra tốc độ bay hơi phụ thuộc vào những yếu tố nào?
+ Hai nhóm tiến hành kiểm tra cùng một yếu tố để đối chứng Tổng hợpkết quả của 6 nhóm sẽ đưa ra một kết luận: Sự bay hơi nhanh hay chậm của mộtchất lỏng phụ thuộc vào nhiệt độ, gió, diện tích mặt thoáng chất lỏng
*Thí nghiệm thực hành cá thể:
Trong hình thức tổ chức này các nhóm học sinh làm thí nghiệm trongcùng thời gian hoặc cùng đề tài nhưng dụng cụ và phương pháp khác nhau
Ví dụ: Thí nghiệm nghiên cứu sự nhiễm điện do cọ xát - Vật lí 7
-Ưu điểm của loại thí nghiệm này:
+ Giảm được khó khăn về bộ thí nghiệm
-Một số hạn chế của loại thí nghiệm này:
+ Việc hướng dẫn của giáo viên rất phức tạp Vì vậy hình thức này đòi hỏitính tự lực cao nên chỉ thích hợp cho các lớp trên
1.2 Thiết bị, đồ dùng dạy học Vật lý.
1.2.1.Khái niệm về thiết bị dạy học:
Hiện nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về thiết bị dạy học Trongmột số giáo trình giáo dục học và lý luận dạy học, nhiều tác giả cho rằng: Thiết
bị dạy học là những thiết bị vật chất, giúp cho giáo viên tổ chức quá trình dạyhọc có hiệu quả nhằm đạt được mục tiêu và nhiệm vụ dạy học đã đề ra
Tùy theo mục đích sử dụng mà người ta dùng nhiều thuật ngữ thiết bị dạyhọc với những nội hàm khác nhau
Theo PGS TS Vũ Trọng Rỹ, “thiết bị dạy học hay phương tiện dạy học,
đồ dùng dạy học là thuật ngữ chỉ một vật thể hoặc một tập hợp những đối tượngvật chất được giáo viên sử dụng với tư cách là phương tiện để điều khiển hoạtđộng nhận thức của học sinh Còn đối với học sinh thì đây là nguồn tri thức, làcác phương tiện giúp học sinh lĩnh hội các khái niệm, định nghĩa, lý thuyết khoa
Trang 10học, hình thành ở họ những kỹ năng, kỹ xảo, đảm bảo cho việc giáo dục, phục
vụ các mục đích dạy học và giáo dục” [9]
GS.TS Đặng Vũ Hoạt và GS TS Hà Thế Ngữ cho rằng “thiết bị dạy học
là một tập hợp các đối tượng vật chất được giáo viên và học sinh sử dụng với tưcách là những phương tiện điều khiển học tập nhận thức của học sinh Đối vớihọc sinh đó là nguồn tri thức phong phú, đa dạng, sinh động, là các phương tiệngiúp cho các em lĩnh hội và rèn luyện kỹ năng, hình thành kỹ xảo”
Từ những khái niệm của các nhà khoa học, có thể hiểu: Thiết bị dạy học
là hệ thống đối tượng vật chất, phương tiện dạy học được giáo viên, học sinh sử dụng trong quá trình dạy học nhằm đạt được mục tiêu dạy học đề ra.
1.2.2 Vài trò của thiết bị, đồ dùng dạy học vật lý
1.2.2.1 Các giá trị giáo dục của thiết bị, đồ dùng dạy học:
Thúc đẩy sự giao tiếp, trao đổi thông tin, do đó giúp học sinh học tập cóhiệu quả
Giúp học sinh tăng cường trí nhớ, làm cho việc học tập được lâu bền.Cung cấp thêm kiến thức, kinh nghiệm trực tiếp liên quan đến thực tiễn xãhội và môi trường sống
Giúp khắc phục những hạn chế của lớp học bằng cách biến cái không thểtiếp cận thành cái có thể tiếp cận được Điều này thực sự đúng khi sử dụng phim
mô phỏng và các phương tiện tương tự
Cung cấp kiến thức chung, qua đó học sinh có thể phát triển các hoạt độnghọc tập khác
Giúp phát triển mối quan tâm về các lĩnh vực học tập khác và khuyếnkhích học sinh tham gia chủ động vào quá trình học tập, say mê nghiên cứukhoa học
1.2.2.2 Vai trò và tác dụng của thiết bị, đồ dùng dạy học vật lý trong quá trình dạy học:
Vật lý là môn khoa học thực nghiệm, vì vậy thí nghiệm vật lý và các đồdùng, thiết bị,đồ dùng dạy học có rất nhiều vai trò rất quan trọng trong công tácgiáo dục học sinh ở các trường trung học cơ sở
Trang 11+ Thiết bị, đồ dùng dạy học là một bộ phận của nội dung và phương pháp dạy học
Lý luận dạy học đã khẳng định quá trình dạy học là một quá trình
mà trong đó hoạt động dạy và hoạt động học phải là những hoạt động gắn bókhăng khít giữa các đối tượng xác định và có mục đích nhất định
Trang 12Sơ đồ: Mối quan hệ giữa các thành tố trong quá trình dạy học
Đứng về nội dung và phương pháp dạy học thì thiết bị, đồ dùng dạy họcmông vật lý đóng vai trò hỗ trợ tích cực, vì có thiết bị dạy học tốt thì mới tổchức được quá trình dạy học khoa học, đưa người học tham gia vào quá trìnhnày, tự khai thác và tiếp cận tri thức dưới sự hướng dẫn của người dạy
Thiết bị, đồ dùng dạy học môn vật lý là phương tiện duy nhất giúp hìnhthành ở học sinh kĩ năng, kĩ xảo thực hành và tư duy kĩ thuật
+ Thiết bị, đồ dùng dạy học vật lý góp phần vào việc đổi mới phương
pháp dạy học
Ngoài mối quan hệ với mục tiêu, nội dung, phương pháp, thiết bị và đồdùng dạy học còn có quan hệ chặt chẽ với các yếu tố giáo viên(người tổ chức,điều khiển) và học sinh (chủ thể nhận thức), quá trình dạy học tạo nên “vùnghợp tác sinh động” giữa những người tham gia quá trình sư phạm với các yếu tốkhác của quá trình dạy học vật lý Thiết bị, đồ dùng dạy học có vai trò vô cùngquan trọng khi sử dụng phương pháp bàn tay nặn bột Thiết bị, đồ dùng dạy họcgóp phần tích cực hoá hoạt động của học sinh trong dạy học, giúp học sinh tiếpthu kiến thức một cách hứng thú, vững chắc
+ Thiết bị, đồ dùng dạy học vật lý làm tăng thêm việc đa dạng hóa
các hình thức dạy học
Thiết bị, đồ dùng dạy học đầy đủ, đúng quy cách sẽ cho phép tổ chức cáchình thức dạy học, giáo dục đa dạng, linh hoạt, phong phú và có hiệu quả
THIẾT BỊ, ĐỒ DÙNG DẠY HỌC
PHƯƠNG PHÁP NỘI DUNG
MỤC TIÊU
Trang 13+ Thiết bị, đồ dùng dạy học vật lý góp phần đảm bảo chất lượng dạy - học
Thông qua những thiết bị, đồ dùng dạy học mà cung cấp cho học sinhnhững kiến thức, những thông tin về các sự vật, hiện tượng một cách sinh động,
sống thực tiễn Đồng thời còn có tác dụng kích thích hứng thú học tập, phát triển
tư duy và trí thông minh sáng tạo của học sinh
+ Thiết bị, đồ dùng dạy học vật lý rèn luyện kĩ năng thực hành cho học sinh
Vật lý là một môn khoa học thực nghiệm, nên các kĩ năng thực hành đóngvai trò rất quan trọng, thí nghiệm hoá học cùng với công tác tự lập lí thuyết vàthực hành của học sinh sẽ làm phát triển ở các em hứng thú nhận thức, tính tíchcực tự giác, phát triển tư duy và trí thông minh sáng tạo của học sinh
Thiết bị, đồ dùng dạy học góp phần xây dựng, hình thành, củng cố, hệthống hoá, vận dụng kiến thức vào thực tiễn
Thông qua các thiết bị, đồ dùng dạy học mà đa dạng hoá các hình thứcdạy học, tiết kiệm thời gian trên lớp, cải tiến các hình thức lao động sư phạm,tạo khả năng tổ chức một cách khoa học và điều khiển hoạt động giáo dục
Nghiên cứu về vai trò của thiết bị, đồ dùng dạy học, người ta còn dựa trênvai trò của các giác quan trong quá trình nhận thức và chỉ ra rằng:
+ Kiến thức thu nhận được qua giác quan theo tỉ lệ: 1,5% qua sờ; 3,5%qua ngửi; 11% qua nghe; 83% qua nhìn
+ Tỉ lệ kiến thức nhớ được sau khi học: 20% những gì mà ta nghe được,30% qua những gì mà người ta nhìn; 50% qua những gì mà người ta nghe vànhìn được; 80% qua những gì mà ta nói được; 90% qua những gì ta nói vàlàm được
Những số liệu trên cho thấy để quá trình nhận thức đạt hiệu quả cao cầnphải thông qua quá trình nghe – nhìn và thực hành, muốn vậy phải sử dụng thiết
bị, đồ dùng dạy học để tác động hỗ trợ quá trình dạy học
Trang 142 Thực trạng việc sử dụng thiết bị, đồ dùng dạy học trong môn Vật lý tại trường THCS Hạ Đình.
- Môn Vật lý được trang bị các phương tiện đồ dùng dạy học ở cả 4 khốilớp theo danh mục các thiết bị đồ dùng dạy học tối thiểu được cung cấp đầy đủ,phục vụ tốt cho hoạt động nhóm của học sinh Bên cạnh đó, còn có phòng chuẩn
bị với đầy đủ đồ dùng thí nghiệm và phòng thực hành vật lý được trang bị đầy
đủ các phương tiện hiện đại ( máy chiếu vật thể, máy chiếu projecter, màn
chiếu), có hệ thống điện và đồng hồ đo điện đến từng bàn thực hành Nhưng
việc khai thác và sử dụng các trang thiết bị dạy học chưa thực sự triệt để và pháthuy hết hiệu quả
- Trong thực tế khi giảng dạy, một số đồ dùng( đặc biệt đồ điện tử) thì
đồ dùng cũng đã hỏng hoặc bị sai số nên cũng một phần ảnh hưởng đến kết quảthí nghiệm Tuy nhiên, Ban giám hiệu nhà trường đã luôn quan tâm, chỉ đạo vàyêu cầu nhân viên thiết bị và giáo viên môn Vật lý thường xuyên rà soát, kiểmtra, sửa chữa và mua bổ sung thiết bị, đồ dùng bị tiêu hao hoặc hỏng ngay từ đầunăm học để phục vụ tốt cho nhu cầu dạy và học của nhà trường
- Trong các tiết học lý thuyết, học sinh chưa thật chủ động: một số họcsinh lười suy nghĩ, lười hoạt động, chỉ ngồi nghe thầy cô giảng rồi chép lại, íthứng thú; không mạnh dạn đặt câu hỏi cho giáo viên về vấn đề đã được học,thậm chí cả vấn đề mà các em chưa hiểu Do vậy, những kiến thức đã tiếp thuđược về điện học thường rất nhanh quên khi học sinh chuyển sang học phầnkhác và không áp dụng được vào thực tế cuộc sống hàng ngày Nhưng bên cạnh
đó, đa số học sinh rất thích tiết thực hành
- Kĩ năng vận dụng kiến thức Vật lí đã học vào giải thích hiện tượng Vật
lí trong đời sống và ứng dụng kĩ thuật còn chưa tốt như:
Ví dụ:
+ Học sinh còn vận dụng máy móc bản chất của dòng điện như: Bìnhthường theo suy nghĩ dòng điện là dòng chuyển dời có hướng của các hạt mangđiện thì khi ngắt công tắc điện, thì vẫn phải mất một thời gian để điện tích dịch
Trang 15chuyển đến cỏc thiết bị điện Nhưng điều đú là trỏi với thực tế vỡ trong thực tếkhi ngắt điện thỡ toàn bộ hệ thống điện ngay lập tức ngừng hoạt động.
+ Khả năng tư duy hỡnh thức cũn kộm như: Nhận dạng mạch điện nối tiếp
và song song sau
Cỏc em thường cho đõy là mạch song song
+ HS thường khú khăn trong việc nờu phương ỏn thớ nghiệm và cũn
lỳng tỳng trong thao tỏc tiến hành thớ nghiệm( Khi yờu cầu học sinh mắc mạch
theo sơ đồ đó cho thỡ khả năng thực hiện cũn chưa nhanh)
3 Đề xuất biện phỏp nõng cao hiệu quả sử dụng thiết bị, đồ dựng dạy học trong mụn Vật lý tại trường THCS Hạ Đỡnh.
Trong giảng dạy môn Vật lý ở trờng trung học cơ sở, để sử dụng thiết bị dạy học hiệu quả, theo tôi thấygiáo viên cần xác định rõ những nội dung sau:
3.1 Giáo viên cần hiểu đợc mục đích việc sử dụng thiết bị dạy học là gì?
Sử dụng thiết bị dạy học cho thí nghiệm vật lý có hiệu quả chính là việclàm sống lại trớc mắt học sinh các hiện tợng vật lý cần nghiên cứu một cách sinh
động Từ đó học sinh có hứng thú say mê nghiên cứu khoa học, thích khám phátìm tòi để dẫn đến hình thành khái niệm và giúp học sinh lĩnh hội kiến thức mớisâu sắc hơn, bền vững hơn
3.2 Yêu cầu về sự chuẩn bị của giáo viên.
- Xác định chuẩn kiến thức, kỹ năng, thái độ cần đạt trong bài, từ đó giáo
viên xây dựng mục tiêu cụ thể cần đạt trong tiết dạy là gì?
- Đọc nội dung bài dạy trong chơng trình sách giáo khoa, xác định kiếnthức, kĩ năng cần đạt của từng phần để nắm đợc mục tiêu của thí nghiệm phần
đó là gì? Thí nghiệm này là do giáo viên biểu diễn hay học sinh tự tiến hành thínghiệm?
Phân loại đợc thí nghiệm của học sinh( thí nghiệm kiểm tra, thí nghiệmchứng minh… ) Nếu sử dụng phơng pháp bàn tay nặn bột thì cần chuẩn bị đồdùng cho nhiều phơng án thí nghiệm khác nhau Từ đó kết hợp với nhân viêntrách thiết bị chuẩn bị đầy đủ thiết bị phù hợp cho tiết học
Trang 16- Giáo viên phải làm thử trớc các thí nghiệm đó (đây là bớc bắt buộc) đểxem mức độ thành công của từng thí nghiệm từ đó điều chỉnh kịp thời (nếu cần)
đảm bảo thí nghiệm phải chắc chắn thành công, có nh vậy mới đem lại cho họcsinh niềm tin vào khoa học
3.3 Giáo viên cần hiểu và phân loại thiết bị, đồ dùng dạy học và phân loại thí nghiệm.
3.3.1 Đối với thí nghiệm biểu diễn:
Trớc hết giáo viên phải nắm bắt đợc cấu trúc của thí nghiệm biểu diễn gồm:
đề để gây hứng thú học tập cho học sinh cả lớp Sau đây là một ví dụ:
Với bài "Sự khúc xạ ánh sáng" ở lớp 9 giáo viên có thể làm thí nghiệm đặtvấn đề nh sau: Một chiếc đũa đặt trong bỡnh không cú nước:
- Đặt mắt nhìn dọc theo chiếc đũa từ đầu trên xem có nhỡn thấy đầu dướicủa đũa khụng ?
(Học sinh: Phát hiện đợc, ta không nhìn thấy đầu dới của chiếc đũa)
- Giữ nguyên vị trí đặt mắt, đổ nớc vào bình, liệu có nhìn thấy đầu dới của
đũa hay không?
(Học sinh: Phát hiện đợc, bây giờ ta nhìn thấy đầu dới của chiếc đũa)Giáo viên: Vậy để giải thích đợc hiện tợng trên ta cùng nghiên cứu bài học hômnay
Nhìn chung với tất cả các thí nghiệm: Đặt vấn đề, thí nghiệm kiểmchứng, thí nghiệm chứng minh Để tiến hành thớ nghiệm đạt đợc hiệu quả caogiáo viên phải tiến hành theo những bớc sau:
Bớc 1: Giáo viên chia nhóm, giao nhiệm vụ cho các thành viên trong nhóm.
Chú ý: Mỗi nhóm nên có đủ cả ba đối tợng học sinh và số thành viên trong
các nhóm không đợc quá nhiều nhằm tạo điều kiện cho các em có thời gian tranhluận với nhau về kết quả thí nghiệm
Bớc 2: Xác định mục tiêu của thí nghiệm
- Với các thí nghiệm đơn giản giáo viên có thể cho học sinh đọc sách giáokhoa sau đó các em thảo luận và nêu ra mục tiêu của thí nghiệm đó song giáoviên nhấn mạnh lại
Trang 17- Nếu các thí nghiệm khó và phức tạp thì giáo viên nên chia thành nhiều
b-ớc nhỏ và nêu mục tiêu của từng bb-ớc trong thí nghiệm
Lu ý: Giáo viên cần phải xác định đúng và đủ mục tiêu của thí nghiệm vì
nó có liên quan trực tiếp đến nội dung của bài học
Bớc 3: Giới thiệu dụng cụ
- Phần giới thiệu dụng cụ thí nghiệm
Yêu cầu giáo viên cần giới thiệu đầy đủ thông tin về các dụng cụ có trongthí nghiệm Cụ thể là: Tên gọi, đặc điểm mềm, dẻo, đàn hồi, chịu nhiệt, chịulực nhằm giúp các em hiểu đợc tác dụng của mỗi đồ dùng và sử dụng các thiết
bị trên đợc hiệu quả và an toàn
Ví dụ nh: Với các cốc đốt thì trớc hết phải hớng dẫn các em là trước khi
đốt cần phải hơ lửa xung quanh để tránh vỡ, hoặc nhẹ tay với các đồ dùng bằng
sứ, thủy tinh hoặc cần thực hiện các biện pháp an toàn khi học phần điện học và
điện từ học ở lớp 9
- Đối với phần cách tiến hành thí nghiệm: Giáo viên phải nêu rõ từng bớccủa thí nghiệm để học sinh tiện quan sát và thực hành, nhng đôi khi với một số thínghiệm đơn giản thì có thể cho học sinh đọc cách tiến hành thí nghiệm trong sáchgiáo khoa sau đó thảo luận nêu lên cách tiến hành thí nghiệm Cuối cùng giáo viênnhấn mạnh cách tiến hành thí nghiệm trớc khi cho học sinh thực hành
Bớc 4: Đề xuất phơng án thí nghiệm
- Nếu các thiết bị của phũng thớ nghiệm của trờng mà phù hợp với thiết bịnêu ra trong sách giáo khoa thì giáo viên có thể tiến hành theo phơng án nặn bộtcủa học sinh
- Nếu các thiết bị trong phòng thí nghiệm không có hoặc còn thiếu so vớicác đồ dùng bố trí ở sách giáo khoa thì giáo viên tìm cách thay thế các đồ dùngkhác nh chúng ta có thể lợi dụng các thiết bị của môn công nghệ (ở phần điện)
để phục vụ môn Vật lý Ví dụ: Máy biến thế xoay chiều, các loại bóng đèn có
nh thế mới thực hiện tốt mục tiêu bài học
Bớc 5: Tiến hành thí nghiệm.
- Trớc khi bắt tay vào làm thí nghiệm giáo viên phát cho các nhóm phiếuhọc tập để các em ghi lại các hiện tợng, số liệu, kết quả mà các em quan sát đợcqua thí nghiệm đó nhằm giúp cho quá trình thảo luận nhóm và từ đó xử lớ kết quảthí nghiệm đợc tốt hơn
- Giáo viên thao tác khi tiến hành thí nghiệm phải thật rõ ràng, không lúngtúng để hoc sinh tiện theo dõi.( Nếu là thí nghiệm biểu diễn)
- Để đạt đợc hiệu quả cao, trong khi tiến hành thí nghiệm giáo viên có thể
đặt các câu hỏi khắc sâu về các tình huống trong thí nghiệm nhằm tạo cho học
Trang 18sinh những tình huống có vấn đề để các em cùng suy nghĩ tháo gỡ từ đó các emhiểu sâu hơn về thí nghiệm đang làm.
Ví dụ: ở bài "Tính chất ảnh tạo bởi gơng phẳng" ở lớp 7 giáo viên sau khilàm xong thí nghiệm thì có thể đặt câu hỏi nh sau: Tại sao phải chọn hai quả pinhoặc hai viên phấn giống nhau? Liệu có thể chọn hai viên phấn hoặc hai quả pinkhác nhau đợc không?
- Tùy theo từng bài mà giáo viên có thể nêu thêm thí nghiệm thay thếhoặc cho học sinh tự nghĩ ra thí nghiệm thay thế khác để cho bài học phong phú
đa dạng nhằm phát triển đợc vốn hiểu biết của học sinh Nhng các thí nghiệmthay thế đó đòi hỏi phải đảm bảo đúng và chính xác mục tiêu của thí nghiệm
Vớ dụ: với bài "Sự khúc xạ ánh sáng" ở lớp 9
Có thể làm thí nghiệm dùng tia sáng chiếu từ nớc sang không khí để thaythế cho thí nghiệm cắm các đinh ghim ở sách giáo khoa Càng tạo ra đợc nhiềucác thí nghiệm thay thế tốt thì càng làm cho giờ học sôi động và phát triển đợc
óc tởng tợng và t duy cho học sinh
- Với các thí nghiệm thay thế giáo viên có thể hỏi học sinh tại sao thínghiệm này có thể thay thế đợc? Nhằm khắc sâu hơn cho các em về tính chặtchẽ, đúng đắn của thí nghiệm thay thế đó
- Nếu cần thì trên các dụng cụ phải có các vật chỉ thị để làm nổi bật lên các bộphận đặc biệt cần quan sát hoặc dùng các vật, chất khác hỗ trợ cho vấn đề cần nghiêncứu
Ví dụ: Ở thí nghiệm quan sát các tia sáng truyền qua thấu kính hội tụ vàthấu kính phân kỡ để quan sát rõ hơn các tia sáng thì giáo viên có thể cho thêm ítkhói hơng vào sẽ có kết quả tốt hơn
+ Chỉ bày ra trớc mắt học sinh những dụng cụ cần thiết để minh họa hoặclàm thí nghiệm, không đợc bày la liệt trớc mắt học sinh những dụng cụ đã dùngxong hoặc cha dùng tới nhằm tránh trờng hợp học sinh không tập chung vào thínghiệm của giáo viên
+ Các thiết bị dùng để tiến hành trong bài yêu cầu cần phải đợc kiểm tra
và làm trớc để đảm bảo giờ thực hành thành công và gây đợc niềm tin vào khoahọc ở học sinh
+ Khi các thí nghiệm xảy ra nhanh cần hớng dẫn học quan sát hoặc lặp lạithí nghiệm để học sinh có thể theo dõi đợc
Ví dụ nh: Thí nghiệm phần nhiệt học ở lớp 6 với bài sự nở vì nhiệt của
học sinh có thể quan sát tốt hiện tợng nở vì nhiệt của chất lỏng có nh vậy mới
Trang 19tạo điều kiện cho học sinh quan sát tốt hiện tợng cần nghiên cứu nhằm giúp các
Chú ý: Trong phần này nếu kết quả thí nghiệm có sự sai số nhỏ thì giáo viên
phải giải thích thật rõ cho các em để gây đợc niềm tin của học sinh vào thí nghiệm
Có thể đa ra một số gợi ý về việc giải thích kết quả thí nghiệm có sự sai sốtrong thí nghiệm biểu diễn của giáo viên cho học sinh nh sau:
- Thứ nhất giáo viên phải nắm chắc bản chất của hiện tợng trong thínghiệm để dựa vào đó mà giải thích vấn đề
Ví dụ nh: Phần nhiệt học ở lớp 6 và lớp 8 có yêu cầu trong các thí nghiệm
thí nghiệm phần nhiệt có sai số về kết quả một phần là do nguyên nhân này.Hoặc do trong quá trình làm thí nghiệm ta đã bỏ qua nhiệt lợng truyền qua cácmôi trờng bên ngoài
- Thứ hai có thể giải thích kết quả thí nghiệm có sai số là do cách đặt mắtquan sát đọc kết quả và các thiết bị đo chỉ mang tính chất tơng đối đó cũng lànguyên nhân thờng hay gặp ở các thí nghiệm
Ví dụ: ở chơng quang học lớp 9 phần đo độ lớn các góc tới, góc khúc xạhoặc phần nhiệt học lớp 6, lớp 8 chúng ta rất hay gặp hiện tợng sai số nh nguyênnhân đã nêu
- Thứ ba: Có thể là do các thiết bị thí nghiệm lâu không dùng đến dẫn đếncác tính chất lý, hóa của nó bị ảnh hởng
Ví dụ nh: các điện trở nếu lâu không sử dụng đến thì giá trị của nó khôngcòn đúng giá trị đã ghi trên nhãn mác nữa Hoặc các vôn kế, ampe kế ở vật lý 7,
9 nếu lâu không dùng đến kết quả đo cũng không còn chính xác
- Giáo viên gọi 2 đến 3 học sinh đọc lại nội dung kết luận vừa tìm ra ởtrên Giáo viên nhấn mạnh lại kết luận đó(có thể chốt kiến thức bằng sơ đồ t duy)
- Học sinh liên hệ thực tế các vấn đề có liên quan đến kiến thức vừa rút ra
để khắc sâu,vừa làm cho bài dạy thêm sinh động
3.3.2 Đối với loại bài trong đó có thí nghiệm thực hành của học sinh.
Trang 20Để dạy tốt đợc loại bài này thì trớc hết giáo viên phải hiểu đợc thế nào làthí nghiệm thực hành của học sinh, cách tổ chức nh thế nào và tác dụng của nó rasao?
- Thí nghiệm thực hành: Là thí nghiệm do học sinh tiến hành dới sự chỉdẫn của giáo viên để từ đó các em tự khám phá kiến thức của bài và nắm bắt kiếnthức bài đó
- Thí nghiệm thực hành có tác dụng: Giúp học sinh nắm vững hơn nộidung bài học vì học sinh đợc tự tay gây ra hiện tợng vật lý, đo lường các đại l-ợng, tìm ra quy luật, hiện tợng hoặc kiểm tra lại định luật, hiện tợng, do đó họcsinh sẽ chú ý hơn, tin tởng hơn và hiểu vấn đề một cách cụ thể và sâu sắc hơn
- Thí nghiệm thực hành rèn luyện cho học sinh kỹ năng, kỹ xảo sử dụngnhững dụng cụ đo lờng cơ bản nh thớc, cân, lực kế, ampe kế, vôn kế do đó cótác dụng rất lớn trong việc giáo dục kỹ thuật tổng hợp đối với học sinh
- Thí nghiệm thực hành tạo điều kiện cho học sinh tự lực quan sát, phântích, phán đoán để đi đến kết luận, do đó có tác dụng lớn trong việc phát triểnnăng lực t duy của học sinh và giúp các em làm quen với phơng pháp nghiên cứukhoa học vật lý
- Thí nghiệm thực hành còn kích thích ở học sinh óc tò mò khoa học, lòngham muốn học vật lý, lòng ham muốn vận dụng kiến thức vật lý vào đời sống vàrèn luyện cho học sinh ý thức tổ chức, ý thức làm việc có kế hoạch, ý thức bảo vệcủa công
Vì thí nghiệm thực hành có tác dụng rất lớn nh đã phân tích ở trên nên vớigiáo viên dạy vật lý để tổ chức thành công đợc loại bài này thông qua các thiết bịdạy học thì cần phải thực hiện các công việc sau:
- Việc chuẩn bị cho bài dạy: Trớc hết giáo viên phải đọc trớc nội dung bàidạy xác định đợc đỳng và đủ mục tiêu của bài học Từ đó kết hợp với đồng chíphụ trách thiết bị lập ra kế hoạch về số lợng các thiết bị để dùng cho bài học đợctốt và cũng nh các thí nghiệm biểu diễn của giáo viên thì với thí nghiệm thựchành, giáo viên cũng phải tiến hành trớc tất cả các thí nghiệm để kiểm tra khảnăng thành công của các thí nghiệm đó nhằm gây đợc niềm tin vào thí nghiệmcho các em
- Đặc biệt với loại bài này giáo viên cần dùng bảng phụ và phiếu học tập
để cho các em thảo luận nhận xét và báo cáo kết quả của nhóm mình
- Với những thí nghiệm nào phức tạp, khó thì giáo viên kết hợp với đồngchí phụ trách thiết bị sẽ bố trí trớc cho các nhóm, còn những thí nghiệm nào đơngiản thì có thể cho học sinh tự bố trí thí nghiệm và giáo viên đi kiểm tra uốn nắnkịp thời nếu cần
Trang 21- Những thí nghiệm khó và có thể gây nguy hiểm mà giáo viên cần bố trítrớc cho các em đó là các thí nghiệm có liên quan đến các chất gây bỏng (ví dụnớc nóng phần nhiệt học) hoặc các thí nghiệm có sử dụng tia laze (nh phầnquang học lớp 9) cũng nh các thí nghiệm có sử dụng đến dòng điện xoay chiều220V có nh vậy thì mới đảm bảo giờ học đạt hiệu quả cao và an toàn Trongphần này cũng đặc biệt chú ý giáo viên cũng cần có một bộ thí nghiệm của riêngmình để có thể làm mẫu các thí nghiệm khi học sinh bắt gặp khó khăn.
Sau khi làm xong công tác chuẩn bị thì giáo viên tiến hành các bớc dạy nhsau:
Giáo viên chia nhóm, giao nhiệm vụ cho từng thành viên trong nhóm, chú
ý số em trong một nhóm không quá đông để đảm bảo đủ thời gian cho tất cả cácthành viên đều đợc tiến hành thí nghiệm
- Các nhóm nờn có cả ba đối tợng học sinh để các em giúp đỡ lẫn nhautrong quá trình tiến hành thí nghiệm, thảo luận đa ra nhận xét
Vớ dụ: Tiến trỡnh dạy học sử dụng đồ dựng trong phương phỏp bàn tay nặn bột.
Bước 1: Làm nảy sinh vấn đề
Trong pha này, giỏo viờn lựa chọn một nhiệm vụ, một dự ỏn, một thớnghiệm hay miờu tả một tỡnh huống xuất phỏt nhằm khai thỏc cỏc quan niệm cútrước hoặc ý tưởng của người học Núi cỏch khỏc những tỡnh huống này phảithỏch thức cỏc kiến thức đó cú của người học, kớch thớch hoạt động sao cho nảysinh vấn đề, học sinh tiếp nhận vấn đề cần giải quyết và bắt tay vào giải quyết
Như vậy việc tổ chức tỡnh huống sao cho huy động được vốn kiến thức,kinh nghiệm đó cú của người học
Vớ dụ: Khi cho học sinh tỡm hiểu về hoạt động của Nhiệt kế, tỡnh huốngxuất phỏt cú thể như: Hóy tỡm hiểu xem người ta làm như thế nào để chất lỏngdõng lờn trong nhiệt kế và hóy thiết kế phương ỏn thớ nghiệm để làm chất lỏngdõng lờn trong nhiệt kế
Pha 2: Đề xuất cỏc dự đoỏn – giả thuyết
“Đặc điểm chủ yếu của khoa học là tớnh khỏch quan, cỏi cốt lừi của nú là
sự suy luận, thường được xõy dựng từ trực giỏc hay giả thuyết: sự chứng minh
đú cần được kiểm tra bằng thớ nghiệm” Ở giai đoạn này, học sinh làm việc cỏnhõn, làm việc nhúm, sau đú làm việc cả lớp để trao đổi, tranh luận về những giả
Trang 22thuyết của mình và của bạn nhằm cùng nhau tìm kiếm câu trả lời cho vấn đề cầngiải quyết.
Như vậy trong pha này, khuyến khích học sinh suy nghĩ, phát vấn, giáoviêncần chú ý tới những kinh nghiệm của học sinh, trong đó có thể kể tiềm ẩn nhữngmâu thuẫn với dự đoán hoặc giả thuyết và giáo viên khuyến khích học sinh thể hiện.Việc trao đổi, tranh luận đi đến những thách thức các dự đoán, giả thuyết của họcsinh
Ví dụ: Trong tình huống tìm hiểu về hoạt động của nhiệt kế học sinh cóthể đưa ra các đề nghị khác nhau dựa trên kinh nghiệm vốn có, có thể là:
- Kẹp nhiệt kế vào nách
- Đặt nhiệt kế dưới mặt trời
- Xoa hai bàn tay vào nhiệt kế
- Thả nhiệt kế vào nước nóng
- Bọc nhiệt kế trong khăn, áo…
Pha 3: Thực hiện nghiên cứu
Học sinh đề xuất các phương án thí nghiệm, tiến hành thực nghiệm hoặc cũng
có thể tìm kiếm các thông tin, xây dựng mô hình… Từ việc phân tích dữ liệu, họcsinh kiểm chứng được những giả thuyết của mình là đúng hay sai và tìm cách lí giải
Pha 4: Lập luận, trao đổi xung quanh các kết quả thu được Hợp thức hóa kiến thức
Trong pha này học sinh làm việc chung cả lớp, trao đổi ý kiến đi đến kếtquả chung dưới sự hướng dẫn của giáo viên
Học sinh tiếp nhận và tái cấu trúc kiến thức, học sinh vận hành nhữngkiến thức thu được để làm chủ kiến thức và kĩ năng mới, đồng thời, qua đó lạo
có thể nảy sinh vấn đề mới, bắt đầu cho tiến trình nghiên cứu mới
Tiến trình này không phải là độc quyền đối với một môn học cụ thể mà cóthể sử dụng cho nhiều môn khoa học (thực nghiệm) nói chung Một cách hìnhthức, có thể nhiều người cho rằng không có gì khác biệt với các tiến trình giảiquyết vấn đề trong dạy học các môn khoa học (thực nghiệm) như đã biết Tuynhiên, việc tiếp nhận vấn đề trong tình huống, việc đề xuất dự đoán - giả thuyết,
Trang 23nghiờn cứu giải quyết vấn đề là cỏc quỏ trỡnh nghiờn cứu thực của chớnh ngườihọc, khụng phải những tiến trỡnh đó chuẩn bị một kịch bản quỏ “mẫu” như vậy.
Khi dấn thõn vào cỏc hoạt động nghiờn cứu, học sinh sẽ tiếp nhận kiếnthức một cỏch cú cấu trỳc – khụng phải là những vấn đề rời rạc, qua đú, phỏttriển năng lực về phương phỏp và cỏc kĩ năng, trong đú phải kể đến năng lựcgiải quyết vấn đề
*
L u ý : Trong phần này để xử lý sai số trong các thí nghiệm giỏo
viờn cần lu ý học sinh sai là do ở những nguyên nhân sau:
- Cách đặt mắt đọc kết quả cha đúng, hoặc cách đặt các thiết bị đocha đúng
Ví dụ: Cách đặt mắt và bình chia độ ở vật lý lớp 6 hoặc ở bài “hiện ợng khúc xạ ánh sáng" các học sinh thờng đặt mắt nhìn ở các góc độ khácnhau nên có thể dẫn đến các kết quả không theo mong đợi
t Do cách bố trí thí nghiệm cha đúng, cẩu thả cũng là nguyên nhândẫn đến kết quả có sai số lớn hoặc không thành công
- Do cha chú ý nghe hớng dẫn tiến hành thí nghiệm của giáo viênhoặc ở sách giáo khoa cũng nh cha nắm bắt đợc mục tiêu của thí nghiệmhoặc cha hiẻu rõ tính chất lý, hóa của các thiết bị
- Với các nguyên nhân dẫn đến kết quả thí nghiệm có sai số nh đã nêuthì giáo viên phải bám sát vào đó để giúp đỡ các em sửa chữa có nh vậy mớigiúp học sinh tin tởng vào khoa học và có ý thức, kinh nghiệm hơn khi xử lýcác kết quả thí nghiệm
3.4 Yêu cầu đối với ngời phụ trách thiết bị, đồ dùng dạy học:
- Sắp xếp các dụng cụ thí nghiệm một cách hợp lý, khoa học, tiện sửdụng
- Cần kết hợp chặt chẽ với giáo viên vật lý để lập kế hoạch sử dụngthiết bị dạy học và cùng làm trớc các thí nghiệm theo từng bài của chơngtrình
- Cùng giáo viên dạy vận chuyển đồ dùng lên lớp khi cha có phònghọc bộ môn Có thể trực tiếp hớng dẫn học sinh cùng với giáo viên dạy đểquản lý học sinh một cách chặt chẽ hơn
- Đồng chí phụ trách phải thờng xuyên kiểm tra lại các thiết bị saumỗi giờ dạy để có thể đa ra phơng án kịp thời mua bổ sung cho các năm
học tiếp theo
Trang 24Tóm lại, khi được sử dụng thiết bị, đồ dùng trong hoạt động học thì người học luôn được đặt vào những tình huống rất thật trong đời sống khiến cho họ luôn khao khát tìm hiểu và giải quyết Và như vậy sự tiếp nhận kiến thức cũng diễn ra hết sức tự nhiên.Bên cạnh mục tiêu về kiến thức thì mục tiêu về rèn luyện kĩ năng khác cũng đồng thời được tiếp nhận.
4 Thực nghiệm sư phạm áp dụng các biện pháp đã nêu vào tiến trình dạy đổi mới phương pháp dạy học.
Đối tượng thực nghiệm sư phạm: Học sinh trường trung học cơ sở HạĐình thuộc phường Hạ Đình, quận Thanh Xuân, Hà Nội, gồm các lớp:
Sau đây là ví dụ tiến trình dạy học sử dụng phương pháp bàn tay nặn bột và dạy học theo chủ đề với các thiết bị, đồ dùng đủ cho các phương án do học sinh đề xuất.
Trang 254.1.Ví dụ khối 6: Sự nở vì nhiệt của chất rắn, sự nở vì nhiệt của chất khí.
4.1.1 Mục tiêu dạy học:
* Về kiến thức:
- Mô tả được hiện tượng nở vì nhiệt của chất rắn
- Nêu lên được nhận xét về sự nở vì nhiệt của các chất rắn khác nhau
- Trả lời được câu hỏi giữa chất rắn và chất lỏng, chất nào nở vì nhiệt nhiềuhơn
- Mô tả được hiện tượng nở vì nhiệt của chất khí
- Nêu được nhận xét về sự nở vì nhiệt của các chất khí khác nhau
- Trả lời được câu hỏi giữa chất khí và chất lỏng, chất nào nở vì nhiệt nhiềuhơn
* Về kĩ năng:
- Biết đề xuất các giả thuyết, dự đoán, giải thích.
-Tự tiến hành thí nghiệm kiểm chứng giả thuyết
- Biết khai thác, sử dụng những kiến thức, kinh nghiệm từ bài học trước
để phát triển những kiến thức, kĩ năng mới
*Về thái độ:
- Hợp tác trong trao đổi, thảo luận theo nhóm.
- Cẩn thận, tỉ mỉ khi tiến hành các thí nghiệm cũng như khi quan sát hiệntượng xảy ra
4.1.2 Thời lượng dự kiến:
90 phút (2 tiết)
4.1.3 Chuẩn bị:
Đối với mỗi nhóm:
- một số chai thủy tinh có nút bị kẹt
- phích nước nóng, đèn cồn, các bình và ống thủy tinh, các loại “nút”:bóng cao su, nước xà phòng, chun vòng, đồng xu hoặc miếng kim loại mỏng
4.1.4 Tiến trình dạy học:
Trang 264.1.4.1 Sự nở vì nhiệt của chất rắn So sánh sự nở vì nhiệt của chất rắn với chất lỏng
Pha 1: Làm nảy sinh vấn đề
Ở bài học trước ta đã biết rằng, khi làm nóng bình chứa của nhiệt kế thìchất lỏng dâng lên trong ống do sự nở vì nhiệt của chất lỏng.Vậy liệu cái bìnhchứa có sự nở vì nhiệt không?Có thí nghiệm nào chứng tỏ điều đó?
*Học sinh có thể gặp khó khăn khi đưa ra phương án thí nghiệm Giáoviên tiếp tục “Để có thể đưa ra câu trả lời cho vấn đề trên, các em hãy giúp côgiải quyết vấn đề sau”: Một chai thủy tinh có nút bần bị kẹt, vặn mãi không mởđược Hãy nêu các cách lấy nút bần ra khỏi cổ chai mà không dùng các dụng cụnhư dao hoặc kéo hay những vật sắc nhọn
Hình 2.6
Pha 2: Đề xuất các dự đoán – giả thuyết
Làm việc cá nhân: Học sinh hoạt động cá nhân viết ra cách mà mình cho
Các phương án học sinh có thể đưa ra là:
- Dùng miệng cắn vào nút và dứt mạnh ra
- Ngâm cổ chai trong nước nóng
- Hơ nóng cổ chai
Qua trao đổi, thảo luận học sinh có thể loại bỏ phương án không khả thi làdùng miệng hay dùng tay để lấy nút ra, những phương án này dù có thực hiện được
Trang 27cũng không dễ dàng Còn lại sẽ là các phương án liên quan đến việc làm nóng cổchai.
Giáo viên giúp học sinh phân tích thêm:
+ Với phương án ngâm cổ chai trong nước nóng (nếu học sinh đề xuất)cũng được coi là khả thi trong mục đích lấy được nút bần ra nhưng nó có rủi ro
là nếu lấy được nút bần ra thì nước cũng có thể tràn vào trong chai nên thực tếphương án này cũng không còn khả thi
+ Vậy chỉ có phương án hơ nóng cổ chai là khả thi nhất
Pha 3: Thực hiện các nghiên cứu
Làm việc nhóm: Học sinh trong các nhóm tiến hành theo phương án đã
thống nhất: dùng đèn cồn hơ nóng cổ chai
Làm việc chung toàn lớp: Các nhóm báo cáo kết quả thí nghiệm
Kết quả có thể cho thấy rằng: hơ nóng cổ chai có thể dễ dàng lấy nút bần
ra khỏi cổ chai
Giáo viên yêu cầu trả lời câu hỏi:
- Vì sao khi hơ nóng cổ chai lại có thể lấy được nút ra dễ dàng?
- Qua thực hiện thí nghiệm có thể rút ra kết luận gì?
- Có so sánh gì về sự nở vì nhiệt của chất rắn và chất lỏng ( Giáo viên gợiý: sự nở vì nhiệt của chất rắn có dễ dàng quan sát như sự nở vì nhiệt của chấtlỏng không nếu thực hiện ở cùng nhiệt độ? Thực tế là việc nhúng bình chứa củanhiệt kế vào nước nóng thì mắt ta quan sát thấy điều gì rõ?)
Pha 4: Lập luận, trao đổi xung quanh các kết quả thu được Hợp thức hóa kiến thức
Trao đổi chung dẫn đến kết luận:
- Chất rắn cũng nở ra khi nhiệt độ tăng lên và co lại khi nhiệt độ giảm đi,
đó là hiện tượng nở vì nhiệt của chất rắn
Như vậy ta đã có câu trả lời cho vấn đề đặt ra ban đầu: Không chỉ có chấtlỏng trong ống nhiệt kế dãn nở vì nhiệt mà cả bình chứa, ống nhiệt kế cũng nở vìnhiệt Tuy nhiên, thực tế cột chất lỏng trong ống dâng lên cho biết chất lỏng nở
vì nhiệt nhiều hơn chất rắn
Trang 28Giáo viên thông báo: thí nghiệm chứng tỏ rằng các chất rắn khác nhau nở
vì nhiệt khác nhau, chất càng cứng thì sự nở vì nhiệt càng ít
Giáo viên giao nhiệm vụ về nhà: Làm thí nghiệm về sự nở vì nhiệt của 1thanh đồng và 1 thanh thép có chiều dài ban đầu bằng nhau Ghi lại kết quả vàbáo cáo vào giờ học sau
4.1.4.2 Sự nở vì nhiệt của chất khí So sánh sự nở vì nhiệt của chất khí với chất lỏng.
Pha 1: Làm nảy sinh vấn đề
Giáo viên: Chất lỏng và chất rắn nở ra khi nhiệt độ tăng lên Vậy chất khí
có nở vì nhiệt không? Các ví dụ nào hoặc các thí nghiệm nào chứng tỏ điều đó?
Hãy đề ra phương án thí nghiệm kiểm tra xem không khí trong một bình
có nở ra khi nhiệt độ tăng lên
Pha 2: Đề xuất các dự đoán – giả thuyết
Làm việc cá nhân: Học sinh hoạt động cá nhân, ghi các phương án của
mình vào vở thực hành
Làm việc nhóm: Trao đổi, thảo luận với các bạn cùng nhóm để lựa chọn
phương án thích hợp nhất
Làm việc chung toàn lớp:
- Các nhóm báo cáo phương án của nhóm mình
- Cả lớp thảo luận lựa chọn những phương án khả thi (chỉ loại bỏ cácphương án không thể thực hiện vì không có dụng cụ)
Do ảnh hưởng của thí nghiệm về sự nở vì nhiệt của chất lỏng, hoặc có thểnhìn vào thí nghiệm có trong sách giáo khoa có thể học sinh sẽ đề nghị phương
án tương tự dùng ống thủy tinh cắm qua nút nhưng chưa biết đến tác dụng củagiọt nước màu có trong ống hay nói cách khác là không biết cần phải “nhốt” mộtlượng khí trong bình và tìm cách hiển thị được thể tích khí Trong trường hợpnày, giáo viên cần cho cả lớp thảo luận để làm rõ sự cần thiết phải có biện pháp
để có thể “nhìn thấy thể tích chất khí” hoặc “nhìn thấy sự tăng thể tích” tức làtạo ra dấu hiệu chỉ thị thể tích chất khí (đây là điểm đặc biệt của chất khí, khônggiống với chất lỏng hay chất rắn)
Trang 29Giáo viên cũng sẽ căn cứ vào điều này để gợi ý cho học sinh tìm ra nhiềuphương án hơn khả thi hơn ngoài phương án là dùng ống thủy tinh cắm quanút,bên trong ống có giọt nước.
Hướng gợi ý có thể như sau: Giáo viên nói rõ rằng: giọt nước trong thínghiệm đóng vai trò như chiếc nút bình, nó không cho không khí bên ngoài vàobên trong bình và không cho không khí trong bình thoát ra bên ngoài Nếu có sự
nở vì nhiệt của khí trong bình thì có sự dịch chuyển của giọt nước Vậy mộtcách tương tự, có thể có phương án thí nghiệm nào khác cho ta thấy được sự nở
vì nhiệt của một lượng khí trong một cái bình
Khi đó, học sinh có thể đề nghị thêm được một số phương án như:
+ Buộc bóng vào miệng bình
+ Tạo màng xà phòng trên miệng bình
+ Đặt một đồng xukim loại mỏng lên miệng bình
+……
Còn để làm thay đổi nhiệt độ của khí trong bình, học sinh có thể đưa racác phương án:
+ Đem bình nhúng vào nước nóng hoặc nước lạnh
+ Đem hơ trên ngọn lửa đèn cồn
+ Đem phơi ra ngoài trời nắng
+ …
+ Cũng có thể có học sinh đưa ra phương án áp hai bàn tay vào bình.(Có thể đa số học sinh sẽ chọn phương án nhúng bình vào nước nóng)Giáo viên loại trừ những phương án không thực hiện được trong lớp, còncác phương án khác đều khả thi
Pha 3: Thực hiện các nghiên cứu
Giáo viên giới thiệu các dụng cụ đã chuẩn bị sẵn, cho các nhóm lên chọndụng cụ tùy theo phương án của mình.(nếu có hai nhóm cùng chọn một phương
án, giáo viên đề nghị một trong hai nhóm thực hiện một phương án khác trong
số các phương án khả thi đã thảo luận ở trên)
Trang 30Làm việc nhóm: Các nhóm tự tiến hành thí nghiệm theo phương án của nhóm
mình
Làm việc chung toàn lớp: Các nhóm báo cáo kết quả thí nghiệm của nhóm mình.
Các thí nghiệm học sinh tiến hành theo các phương án nêu trên sẽ cho cáckết quả như sau:
- Bình có bóng buộc vào miệng, khi được làm nóng bóng sẽ căng ra nhưđược thổi
- Bong bóng xà phòng trên miệng bình cũng xảy ra hiện tượng tương tự,nếu bình được làm nóng nhiều có thể làm vỡ bong bóng trên miệng
- Đồng xu kim loại mỏng đặt lên miệng bình như nhảy nhót khi bình được
làm nóng (Lưu ý: để thí nghiệm thành công thì trước khi đặt đồng xu lên miệng
bình, đồng xu và miệng bình phải được làm ướt, cũng không dùng bình có thành quá dày yêu cầu học sinh giải thích tại sao phải làm vậy? )
Trang 31- Giọt nước màu trong ống thủy tinh cắm qua nút của bình sẽ bị dịchchuyển vị trí khi bình được làm nóng hoặc làm lạnh.
Giáo viên có thể lưu ý thêm (hoặc biểu diễn nhanh và yêu cầu học sinhchú ý quan sát để nhận xét) đối với thí nghiệm dùng ống thủy tinh cắm qua nútcủa bình:
+ Dùng đèn cồn hơ nóng bình thủy tinh hay nhúng bình trong nước nóngthì sự dịch chuyển của giọt nước xảy ra rất nhanh, thậm chí nó trào nhanh rakhỏi ống
+ Cũng có thể xảy ra tương tự khi nhúng bình vào nước lạnh (nước đá),giọt nước nhanh chóng bị tụt xuốngphía dưới ống
+ Còn phương án áp hai bàn tay vào bình thì có thể quan sát sự dịchchuyển của giọt nước trong ống thủy tinh dễ dàng hơn Giáo viên cũng đề nghịhọc sinh quan sát giọt nước sau khi ta buông tay ra
Như vậy qua kết quả thí nghiệm học sinh dễ dàng nêu ra được kết luận về
sự nở vì nhiệt của chất khí cũng như so sánh được sự nở vì nhiệt của chất khí sovới chất lỏng
Pha 4: Lập luận, trao đổi xung quanh các kết quả thu được Hợp thức hóa kiến thức
Yêu cầu học sinh thảo luận, trả lời các câu hỏi:
- Với kết quả thí nghiệm thu được có nhận xét gì về sự nở vì nhiệt củachất khí?
- So sánh sự nở vì nhiệt của chất khí so với chất lỏng?
Thảo luận chung để đi đến kết luận Giáo viên hợp thức hóa kiến thức: