Từ định nghĩa về hiệu quả kinh tế như đã trình bày ở trên, chúng ta có thể hiểu hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các n
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT HƯNG YÊN
KHOA KINH TẾ
BÀI GIẢNG KINH TẾ CÁC NGÀNH SẢN SUẤT KINH DOANH
(Tài liệu lưu hành nội bộ)
Hưng Yên
Trang 2Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN TRONG KINH TẾ SẢN XUẤT
1.1 Các khái niệm cơ bản liên quan
1.1.1 Kinh tế
Kinh tế là tổng thể các yếu tố sản xuất, các điều kiện sống của con người, các mối quan hệ trong quá trình sản xuất và tái sản xuất xã hội Nói đến kinh tế suy cho cùng là nói đến vấn đề sở hữu và lợi ích Nghĩa rộng của từ này chỉ "toàn bộ các hoạt động sản xuất, trao đổi, phân phối, lưu thông" của cả một cộng đồng dân cư, một quốc gia trong một khoảng thời gian, thường là một năm Khái niệm kinh tế đề cập đến các hoạt động của con người có liên quan đến sản xuất, phân phối, trao đổi, và tiêu thụhàng hóa và dịch vụ Tuy nhiên định nghĩa
về kinh tế đã thay đổi theo lịch sử các hoạt động kinh tế
1.1.2 Ngành kinh tế
Là một bộ phận của nền kinh tế chuyên tạo ra hàng hóa và dịch vụ Trong nền kinh tế phong kiến, cơ cấu ngành kinh tế còn nghèo nàn, các hoạt động kinh tế ở quy mô nhỏ, manh mún Ngành kinh tế chủ yếu khi đó là nông nghiệp và thương mại Các ngành kinh tế được đa dạng hóa và hình thành như hiện nay bắt đầu từ những năm 1800 (hơn 2 thế kỷ trước), và kể
từ đó liên tục phát triển cho đến ngày nay với sự trợ giúp của tiến bộ công nghệ Rất nhiều nước phát triển (như Hoa Kỳ, Anh quốc, Canada) phụ thuộc sâu sắc vào khu vực sản xuất Các quốc gia, các nền kinh tế và các ngành công nghiệp của các quốc gia đó đan xen, liên kết, tương tác nhau trong một mạng lưới phức tạp mà không dễ hiểu biết tường tận nếu chỉ nghiên cứu sơ sài
Một xu hướng gần đây là sự thay đổi cơ cấu ngành kinh tế khi các quốc gia công nghiệp tiến tới xã hội hậu công nghiệp Điều này thể hiện ở sự tăng trưởng của lĩnh vực dịch
vụ trong khi tỷ lệ của công nghiệp trong cơ cấu kinh tế giảm xuống, và sự phát triển của nền kinh tế thông tin, còn gọi là cuộc cách mạng thông tin Ở xã hội hậu công nghiệp, lĩnh vực chế tạo được tái cơ cấu, điều chỉnh thông qua quá trình “offshoring” (chuyển dần các giai đoạn sản xuất ít giá trị gia tăng ra nước ngoài)
1.1.3 Các ngành kinh tế cơ bản
1/ Lĩnh vực sản xuất sơ khai gồm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, khai mỏ và khai khoáng
2/ Khu vực hai của nền kinh tế bao gồm công nghiệp và xây dựng
3/ Khu vực thứ ba chính là khu vực dịch vụ: giao thông, tài chính, ăn uống, du lịch, giải trí, v.v
4/ Khu vực thứ tư - khu vực tri thức: Hiện có xu hướng tách một số ngành trong khu vực dịch vụ gồm giáo dục, nghiên cứu và phát triển, thông tin, tư vấn thành một khu vực riêng
Các ngành kinh tế tại Việt Nam Chính phủ Việt Nam áp dụng Hệ thống ngành kinh tế theo Quyết định số Quyết định số 10/2007/QĐ-TTg ngày 23 tháng 01 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ, gồm các 21 nhóm ngành, 642 hoạt động kinh tế cụ thể:
• Nhóm A: Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản
• Nhóm B: Khai khoáng
• Nhóm C: Công nghiệp chế biến, chế tạo
Trang 3• Nhóm D: Sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí
• Nhóm E: Cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải
• Nhóm F: Xây dựng
• Nhóm G: Bán buôn và bán lẻ, sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác
• Nhóm H: Vận tải kho bãi
• Nhóm I: Dịch vụ lưu trú và ăn uống
• Nhóm J: Thông tin và truyền thông
• Nhóm K: Hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm
• Nhóm U: Hoạt động của các tổ chức và cơ quan quốc tế
Ngành kinh tế quan trọng nhất của Việt Nam là sản xuất nông nghiệp Mặc dù tỷ lệ đóng góp của ngành nông nghiệp vào GDP vẫn tiếp tục giảm so với các năm trước (20,9%) nhưng vẫn hơn 60% dân số tham gia vào sản xuất nông nghiệp Việt Nam là nước xuất khẩu hạt tiêu đen lớn nhất thế giới và là nước đứng thứ hai trên thế giới về xuất khẩu gạo và cà phê Những sản phẩm nông nghiệp quan trọng là hạt tiêu, hạt điều, cao su và thủy sản
1.1.4 Cơ cấu thành phần kinh tế
Cơ cấu thành phần kinh tế phản ánh sự tồn tại của các hình thức sở hữu Hiện nay ở Việt Nam có các thành phần kinh tế sau: kinh tế trong nước (kinh tế Nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân, kinh tế cá thể, kinh tế hỗn hợp) và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
Các tiêu chí đánh giá nền kinh tế
Tổng sản phẩm trong nước
Tổng sản phẩm trong nước (GDP) là tổng sản phẩm hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng cuối cùng mà một nền kinh tế tạo ra bên trong một quốc gia, không phân biệt do người trong nước hay người nước ngoài làm ra, ở một thời kỳ nhất định, thường là một năm
GDP thường được sử dụng để phân tích cơ cấu kinh tế, tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, trình độ phát triển và mức sống của con người
Công thức chung để tính Tổng sản phẩm trong nước GDP là:
GDP = ( tiêu dùng + đầu tư + xuất khẩu ) - nhập khẩu
Biểu đồ tăng trưởng GDP của thế giới trong thời kỳ 1995 – 2004
Tổng thu nhập quốc gia Tổng thu nhập quốc gia (GNI) bằng GDP cộng chênh lệch giữa thu nhập nhân tố sản xuất từ nước ngoài với thu nhập nhân tố sản xuất cho nước ngoài, trong một thời kỳ nhất định, thường là một năm
GNI lớn hơn hay nhỏ hơn GDP tuỳ thuộc mối quan hệ kinh tế (đầu tư vốn, lao động…) giữa một nước với nhiều nước khác Nhìn chung, những nước có vốn đầu tư nước ngoài cao thì GNI lớn hơn GDP Ngược lại, những nước đang tiếp nhận đầu tư nhiều hơn là đầu tư ra nước ngoài sẽ có GDP lớn hơn GNI
Trên phạm vi toàn thế giới, GDP tăng nhanh qua các năm (tốc độ tăng trưởng bình quân năm khoảng 3,6%) và đạt tới gần 40,9 nghìn tỉ USD năm 2004, gấp 16 lần năm 1900 Trong đó các nước có nền kinh tế phát triển chiếm 2/3 tổng GDP của toàn cầu
GNI và GDP bình quân đầu người
Để so sánh mức sống của dân cư ở các nước khác nhau, người ta thường dùng các chỉ
số GDP và GNI bình quân đầu người GNI/đầu người và GDP/đầu người được tính bằng GNI
và GDP chia cho tổng số dân ở một thời điểm nhất định
Trang 4Chỉ số thu nhập theo đầu người phản ánh trình độ phát triển kinh tế của các quốc gia
và được coi là một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng cuộc sống
Cơ cấu ngành trong GDP
Để đánh giá nền kinh tế của một nước, người ta còn căn cứ vào cơ cấu ngành trong GDP Số liệu thống kê của Ngân hàng thế giới (WB) chỉ rõ sự khác nhau về cơ cấu ngành giữa các nhóm nước có trình độ phát triển kinh tế khác nhau Các nước kinh tế phát triển thường có tỉ trọng dịch vụ rất lớn Ngược lại, các nước đang phát triển có nền kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp thì phần đóng góp của dịch vụ trong cơ cấu GDP thường từ 20 – 30%
Xu thế chung khi chuyển từ một nền kinh tế kém phát triển sang một nền kinh tế phát triển là giảm nhanh tỉ trọng nông nghiệp cả trong cơ cấu lao động lẫn cơ cấu GDP, đồng thời tăng tương ứng trong cơ cấu GDP và lao động của khu vực công nghiệp ở giai đoạn đầu và tăng cơ cấu lao động, cơ cấu GDP của khu vực dịch vụ ở giai đoạn sau
1.1.5 Các ngành kinh tế chính
a Nông nghiệp
Nông nghiệp là quá trình sản xuất lương thực, thực phẩm, thức ăn gia súc, tơ, sợi và sản phẩm mong muốn khác bởi trồng trọt những cây trồng chính và chăn nuôi đàn gia súc (nuôi trong nhà) Công việc nông nghiệp cũng được biết đến bởi những người nông dân, trong khi đó các nhà khoa học, những nhà phát minh thì tìm cách cải tiến phương pháp, công nghệ
và kỹ thuật để làm tăng năng suất cây trồng và vật nuôi
• Nông nghiệp thuần nông hay nông nghiệp sinh nhai là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp
có đầu vào hạn chế, sản phẩm đầu ra chủ yếu phục vụ cho chính gia đình của mỗi người nông dân Không có sự cơ giới hóa trong nông nghiệp sinh nhai
• Nông nghiệp chuyên sâu: là lĩnh vực sản xuất NN được chuyên môn hóa trong tất cả các khâu sản xuất nông nghiệp, gồm cả việc sử dụng máy móc trong trồng trọt, chăn nuôi, hoặc trong quá trình chế biến sản phẩm nông nghiệp
Nông nghiệp chuyên sâu có nguồn đầu vào sản xuất lớn, bao gồm cả việc sử dụng hóa chất diệt sâu, diệt cỏ, phân bón, chọn lọc, lai tạo giống, nghiên cứu các giống mới và mức độ
cơ giới hóa cao Sản phẩm đầu ra chủ yếu dùng vào mục đích thương mại, làm hàng hóa bán
ra trên thị trường hay xuất khẩu Các hoạt động trên trong sản xuất nông nghiệp chuyên sâu là
sự cố gắng tìm mọi cách để có nguồn thu nhập tài chính cao nhất từ ngũ cốc, các sản phẩm được chế biến từ ngũ cốc hay vật nuôi
Năm 2004, kim ngạch xuất khẩu hàng nông sản đạt 4 tỷ USD, Việt Nam được đánh giá là nhà xuất khẩu hàng đầu về gạo, cà phê, cao su, hạt tiêu…Gạo xuất khẩu đạt 3,9 triệu tấn với kim ngạch 900 triệu USD, tăng gần 23% so với năm 2003; Xuất khẩu hạt điều đạt 100.000 tấn, với kim ngạch 400 triệu USD (mở rộng thị trường sang Mỹ, Trung Quốc, Đông
và Bắc Âu) Ngành chế biến gỗ xuất khẩu tăng mạnh nhất trong năm, đạt trên 1 tỷ đồng (chiếm 25% tổng kim ngạch xuất khẩu của ngành nông nghiệp); Cà phê xuất khẩu đạt 900.000 tấn, tăng gần 40%, với kim ngạch tăng gần 30%; Xuất khẩu chè đạt 900.000 tấn, với kim ngạch gần 90 triệu USD, (mức cao nhất từ trước tới nay); Xuất khẩu hồ tiêu đạt hơn 98.000 tấn, trị giá 133,7 triệu USD…
Tuy nhiên vẫn còn những mặt hạn chế:
Các sản phẩm nông nghiệp còn kém về chất lượng làm cho hàng hóa khó đi vào thị trường của các nước phát triển
Trang 5Việc chuyển đổi cơ cấu trong nông nghiệp, sự đa dạng hoá nông nghiệp, phát triển chế biến nông sản…tốc độ chậm
Lao động nông nghiệp tăng ở nông thôn dẫn đến tình trạng thiếu việc làm, cản trở việc tăng năng suất lao động…
Mô hình mới đã xuất hiện ở châu thổ sông Hồng: Các làng nghề đã phát triển thành
"cụm công nghiệp", vượt ra khỏi giới hạn làng trở thành các trung tâm năng động, biến những người nông dân thành các doanh nhân, chủ các xí nghiệp nhỏ, vừa và hiện đại, như: đồ gỗ Đồng Kỵ, sứ Bát tràng, lơn nạc Nam Sách, rau Gia Lộc, cây cảnh Mễ Sở, rau hoa Mê Linh-Đông Anh…
b Công nghiệp
Công nghiệp, là một bộ phận của nền kinh tế, là lĩnh vực sản xuấthàng hóavật chất mà sản phẩm được "chế tạo, chế biến" cho nhu cầu tiêu dùng hoặc phục vụ hoạt động kinh doanh tiếp theo Đây là hoạt động kinh tế, sản xuất quy mô lớn, được sự hỗ trợ thúc đẩy mạnh mẽ của các tiến bộ công nghệ, khoa học và kỹ thuật Ở một số quốc gia như Việt Nam và Nhật Bản, công nghiệp bao gồm:
• Khai thác khoáng sản, than, đá và dầu khí
• Chế biến, chế tạo (kể cả chế biến thực phẩm, gỗ)
• Sản xuất và phân phối điện, khí đốt và nước
Một nghĩa rất phổ thông khác của công nghiệp là "hoạt động kinh tế quy mô lớn, sản phẩm (có thể là phi vật thể) tạo ra trở thành hàng hóa" Theo nghĩa này, những hoạt động kinh
tế chuyên sâu khi đạt được một quy mô nhất định sẽ trở thành một ngành công nghiệp, ngành kinh tế như: công nghiệp phần mềm máy tính, công nghiệp điện ảnh, công nghiệp giải trí, công nghiệp nghiệp thời trang, công nghiệp báo chí, v.v
Bởi hoạt động công nghiệp là vô cùng đa dạng, có rất nhiều cách phân loại công nghiệp:
• Theo mức độ thâm dụngvốn và tập trung lao động: Công nghiệp nặng và công nghiệp nhẹ
• Theo sản phẩm và ngành nghề: công nghiệp dầu khí, công nghiệp ô tô, công nghiệp dệt, công nghiệp năng lượng, v.v
• Theo phân cấp quản lý: công nghiệp địa phương, công nghiệp trung ương
Công nghiệp nặng là lĩnh vực công nghiệp sử dụng nhiều tư bản, đối ngược với công nghiệp nhẹ là lĩnh vực sử dụng nhiều lao động Công nghiệp nặng không dễ dàng tái phân bố như công nghiệp nhẹ vì nhiều tác động đến môi trường và chi phí đầu tư nhiều hơn Công nghiệp nặng có thể được hiểu là ngành mà sản phẩm dùng để cung cấp cho các ngành công nghiệp khác
Ví dụ, đầu ra của các xưởng thép, nhà máy hóa chất là đầu vào của các doanh nghiệp sản xuất, dịch vụ hoặc bán buôn khác nhiều hơn là bán lẻ đến tay người tiêu dùng
Công nghiệp nhẹ là ngành công nghiệp ít tập trung tư bản hơn công nghiệp nặng, và thiên về cung cấp hàng hóa tiêu dùng hơn là phục vụ các doanh nghiệp (có nghĩa là sản phẩm được sản xuất cho người tiêu dùng cuối cùng hơn là sản xuất để làm đầu vào cho một quá trình sản xuất khác)
Các cơ sở công nghiệp nhẹ thường ít gây tác động môi trường hơn công nghiệp nặng
và vì thế chúng có thể được bố trí gần khu dân cư
Trang 6Một số định nghĩa kinh tế đưa ra rằng công nghiệp nhẹ là “hoạt động sản xuất, chế tạo
sử dụng một khối lượng vừa phải nguyên vật liệu đã được chế biến để tạo ra những sản phẩm
có giá trị khá cao so với khối lượng của chúng”
Ví dụ về các ngành công nghiệp nhẹ như: giầy dép, quần áo, đồ nội thất, thiết bị trong nhà, v.v
• Tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, môi giới chứng khoán,
• Y tế, chăm sóc sức khỏe, chăm sóc trẻ em
• Giáo dục, thư viện, bảo tàng
• Du lịch, khách sạn, cho thuê nhà
• Thông tin, bưu chính, internet
• Giao thông, vận tải
• Cung cấp năng lượng (không kể khai thác và sản xuất)
• Các công việc quản lý nhà nước
1.2 Khái niệm, bản chất của hiệu quả trong sản xuất
1.2.1 Khái niệm
“Hiệu quả kinh tế của một hiện tượng (hoặc quá trình) kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (nhân lực, tài lực, vật lực, tiền vốn) để đạt được mục tiêu xác định” Từ khái niệm khái quát này, có thể hình thành công thức biễu diễn khái quát phạm trù hiệu quả kinh tế như sau:
H = K/C (1)
H là hiệu quả kinh tế của một hiện tượng (quá trình kinh tế) nào đó;
K là kết quả thu được từ hiện tượng (quá trình) kinh tế đó
C là chi phí toàn bộ để đạt được kết quả đó
Như thế cũng có thể khái niệm ngắn gọn: hiệu quả kinh tế phản ánh chất lượng hoạt động kinh tế và được xác định bởi tỷ số giữa kết quả đạt được với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó
Quan điểm này đã đánh giá được tốt nhất trình độ sử dụng các nguồn lực ở mọi điều kiện “động” của hoạt động kinh tế Theo quan niệm như thế hoàn toàn có thể tính toán được hiệu quả kinh tế trong sự vận động và biến đổi không ngừng của các hoạt động kinh tế, không phụ thuộc vào quy mô và tốc độ biến động khác nhau của chúng
Trang 7Từ định nghĩa về hiệu quả kinh tế như đã trình bày ở trên, chúng ta có thể hiểu hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (lao động, máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu và tiền vốn) nhằm đạt được mục tiêu mà doanh nghiệp đã xác định
1.2.2 Bản chất của hiệu quả kinh tế trong sản xuất kinh doanh
Thực chất khái niệm hiệu quả kinh tế nói chung và hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh nói riêng đã khẳng định bản chất của hiệu quả kinh tế trong hoạt động sản xuất kinh doanh là phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh doanh, phản ánh trình độ
sử dụng các nguồn lực (lao động, thiết bị máy móc, nguyên nhiên vật liệu và tiền vốn) để đạt được mục tiêu cuối cùng của mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp – mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận
Để hiểu rõ bản chất của phạm trù hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh, cũng cần phân biệt ranh giới giữa hai khái niệm hiệu quả và kết quả của hoạt động sản xuất kinh doanh
Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là những gì mà doanh nghiệp đạt được sau một quá trình sản xuất kinh doanh nhất định, kết quả cần đạt cũng là mục tiêu cần thiết của doanh nghiệp Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp
có thể là những đại lượng cân đong đo đếm được như số sản phẩm tiêu thụ mỗi loại, doanh thu, lợi nhuận, thị phần, và cũng có thể là các đại lượng chỉ phản ánh mặt chất lượng hoàn toàn có tính chất định tính như uy tín của doanh nghiệp, là chất lượng sản phẩm,
Như thế, kết quả bao giờ cũng là mục tiêu của doanh nghiệp Trong khi đó, công thức (1) lại cho thấy trong khái niệm về hiệu quả sản xuất kinh doanh người ta đã sử dụng cả hai chỉ tiêu là kết quả (đầu ra) và chi phí (các nguồn lực đầu vào) để đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh Trong lý thuyết và thực tế quản trị kinh doanh cả hai chỉ tiêu kết quả và chi phí đều có thể được xác định bằng đơn vị hiện vật và đơn vị giá trị
Tuy nhiên, sử dụng đơn vị hiện vật để xác định hiệu quả kinh tế sẽ vấp phải khó khăn
là giữa “đầu vào” và “đầu ra” không có cùng một đơn vị đo lường còn việc sử dụng đơn vị giá trị luôn luôn đưa các đại lượng khác nhau về cùng một đơn vị đo lường – tiền tệ
Vấn đề được đặt ra là: hiệu quả kinh tế nói dung và hiệu quả kinh tế của sản xuất kinh doanh nói riêng là mục tiêu hay phương tiện của kinh doanh? Trong thực tế, nhiều lúc người
ta sử dụng các chỉ tiêu hiệu quả như mục tiêu cần đạt và trong nhiều trường hợp khác người ta lại sử dụng chúng như công cụ để nhận biết “khả năng” tiến tới mục tiêu cần đạt là kết quả
1.2.3 Phân biệt các loại hiệu quả
Thực tế cho thấy các loại hiệu quả là một phạm trù được sử dụng rộng rãi trong tất cả các lĩnh vực kinh tế, kỹ thuật, xã hội Ở chương này chúng ta chỉ giới hạn thuật ngữ hiệu quả
ở giác độ kinh tế - xã hội Xét trên phương diện này, có thể phân biệt giữa hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả kinh tế xã hội
Hiệu quả xã hội phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực nhằm đạt được các mục tiêu
xã hội nhất định Các mục tiêu xã hội thường thấy là : giải quyết công ăn việc làm trong phạm
vi toàn xã hội hoặc từng khu vực kinh tế ; giảm số người thất nghiệp; nâng cao trình độ và đời sống văn hóa, tinh thần cho người lao động, đảm bảo mức sống tối thiểu cho người lao động, nâng cao mức sống cho các tầng lớp nhân dân trên cơ sở giải quyết tốt các quan hệ trong phân phối, đảm bảo và nâng cao sức khỏe; đảm bảo vệ sinh môi trường;
Trang 8Nếu xem xét hiệu quả xã hội, người ta xem xét mức tương quan giữa các kết quả (mục tiêu) đạt được về mặt xã hội (cải thiện điều kiện lao động, nâng cao đời sống văn hóa và tinh thần, giải quyết công ăn việc làm ) và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó Thông thường các mục tiêu kinh tế- xã hội phải được chú ý giải quyết trên giác độ vĩ mô nên hiệu quả xã hội cũng thường được quan tâm nghiên cứu ở phạm vi quản lý vĩ mô
Hiệu quả kinh tế như đã được khái niệm ở phần trên; với bản chất của nó, hiệu quả kinh tế là phạm trù phải được quan tâm nghiên cứu ở các hai giác độ vĩ mô và vi mô Cũng vì vậy, nếu xét ở phạm vi nghiên cứu, chúng ta có hiệu quả kinh tế của toàn bộ nền kinh tế quốc dân, hiệu quả kinh tế ngành, hiệu quả kinh tế vùng lãnh thổ và hiệu quả kinh tế hoạt động sản xuất kinh doanh Muốn đạt được hiệu quả kinh tế quốc dân, hiệu quả kinh tế ngành cũng như hiệu quả kinh tế vùng lãnh thổ cao, vai trò điều tiết vĩ mô là cực kỳ quan trọng Trong phạm
vi nghiên cứu ở chương này, chúng ta chỉ quan tâm tới hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh
1.3 Kinh doanh có hiệu quả - Điều kiện sống còn của mọi doanh nghiệp
1.3.1 Hiệu quả kinh doanh là công cụ quản trị kinh doanh
Để tiến hành bất kỳ một hoạt động sản xuất kinh doanh nào cũng đều phải tập hợp các phương tiện vật chất cũng như con người và thực hiện sự kết hợp giữa lao động với các yếu
tố vật chất để tạo ra kết quả phù hợp với ý đồ của doanh nghiệp và từ đó có thể tạo ra lợi nhuận Như vậy, mục tiêu bao trùm lâu dài của kinh doanh là tạo ra lợi nhuận, tối đa hóa lợi nhuận trên cơ sở những nguồn lực sản xuất sẵn có Để đạt được mục tiêu này, quản trị doanh nghiệp phải sử dụng nhiều phương pháp khác nhau Hiệu quả kinh doanh là một trong các công cụ để các nhà quản trị thực hiện chức năng quản trị của mình Việc xem xét và tính toán hiệu quả kinh doanh không những chỉ cho biết việc sản xuất đạt được ở trình độ nào mà còn cho phép các nhà quản trị phân tích, tìm ra các nhân tố để đưa ra các biện pháp thích hợp trên
cả hai phương diện tăng kết quả và giảm chi phí kinh doanh, nhằm nâng cao hiệu quả Bản chất của phạm trù hiệu quả đã chỉ rõ trình độ sử dụng các nguồn lực sản xuất: trình độ sử dụng các nguồn lực sản xuất càng cao, doanh nghiệp càng có khả năng tạo ra kết quả cao trong cùng một nguồn lực đầu vào hoặc tốc độ tăng kết quả lớn hơn so với tốc độ tăng việc sử dụng các nguồn lực đầu vào Đây là điều kiện tiên quyết để doanh nghiệp đạt mục tiêu lợi nhuận tối đa Do đó xét trên phương diện lý luận và thực tiễn, phạm trù hiệu quả sản xuất kinh doanh đóng vai trò rất quan trọng việc đánh giá, so sánh, phân tích kinh tế nhằm tìm ra một giải pháp tối ưu nhất, đưa ra phương pháp đúng đắn nhất để đạt mục tiêu lợi nhuận tối đa Với
tư cách một công cụ đánh giá và phân tích kinh tế, phạm trù hiệu quả không chỉ được sử dụng
ở giác độ tổng hợp, đánh giá chung trình độ sử dụng tổng hợp các nguồn lực đầu vào trong phạm vi hoạt động của toàn doanh nghiệp, mà còn được sử dụng để đánh giá trình độ sử dụng từng yếu tố đầu vào ở phạm vi toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cũng như ở từng bộ phận cấu thành của doanh nghiệp Và như đã lưu ý, do phạm trù hiệu quả có tầm quan trọng đặc biệt nên trong nhiều trường hợp người ta coi nó không phải chỉ như phương tiện để đạt kết quả cao mà còn như chính mục tiêu cần đạt
1.3.2 Sự cần thiết nâng cao hiệu quả kinh doanh
Sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào, sản xuất cho ai sẽ không thành vấn đề bàn cãi nếu nguồn tài nguyên không hạn chế Người ta có thể sản xuất vô tận hàng hóa, sử dụng thiết
bị máy móc, nguyên vật liệu, lao động một cách không khôn ngoan cũng chẳng sao nếu nguồn tài nguyên là vô tận Nhưng thực tế, mọi nguồn tài nguyên trên trái đất như đất đai, khoáng
Trang 9sản, hải sản, lâm sản, là một phạm trù hữu hạn và ngày càng khan hiếm và cạn kiệt do con người khai thác và sử dụng chúng Trong khi đó một mặt, dân cử ở từng vùng, từng quốc gia
và toàn thế giới ngày càng tăng và tốc độ tăng dân số cao làm cho sự tăng dân số rất lớn và mặt khác, nhu cầu tiêu dùng vật phẩm của con người lại là phạm trù không có giới hạn: không
có giới hạn ở sự phát triển các loại cầu và ở từng loại cầu thì cũng không có giới hạn – càng nhiều, càng phong phú, càng có chất lượng cao càng tốt Do vậy, của cải đã khan hiếm lại càng khan hiếm và ngày càng khan hiếm theo cả nghĩa tuyệt đối và tương đối của nó Khan hiếm đòi hỏi và bắt buộc con người phải nghĩ đến việc lựa chọn kinh tế, khan hiếm tăng lên dẫn đến vấn đề lựa chọn kinh tế tối ưu ngày càng phải đặt ra nghiêm túc, gay gắt Thực ra, khan hiếm mới chỉ là điều kiện cần của sự lựa chọn kinh tế, nó buộc con người “phải” lựa chọn kinh tế vì lúc đó dân cư còn ít mà của cải trên trái đất lại rất phong phú, chưa bị cạn kiệt
vì khai thác, sử dụng Khi đó, loài người chỉ chú ý phát triển kinh tế theo chiều rộng: tăng trưởng kết quả sản xuất trên cơ sở gia tăng các yếu tố sản xuất: tư liệu sản xuất, đất đai, Điều kiện đủ cho sự lựa cho kinh tế là cùng với sự phát triển của kỹ thuật sản xuất thì càng ngày người ta càng tìm ra nhiều phương pháp khác nhau để chế tạo sản phẩm Kỹ thuật sản xuất phát triển cho phép với cùng những nguồn lực đầu vào nhất định người ta có thể tạo
ra rất nhiều loại sản phẩm khác nhau Điều này cho phép các doanh nghiệp có khả năng lựa chọn kinh tế: lựa chọn sản xuất kinh doanh sản phẩm (cơ cấu sản phẩm) tối ưu Sự lựa chọn đúng đắn sẽ mạng lại cho doanh nghiệp hiệu quả kinh doanh cao nhất, thu được nhiều lợi ích nhất Giai đoạn phát triển kinh tế theo chiều rộng kết thúc và nhường chỗ cho sự phát triển kinh tế theo chiều sâu: sự tăng trưởng kết quả kinh tế của sản xuất chủ yếu nhờ vào việc cải tiến các yếu tố sản xuất về mặt chất lượng, ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật mới, công nghệ mới, hoàn thiện công tác quản trị và cơ cấu kinh tế , nâng cao chất lượng các hoạt động kinh tế Nói một cách khái quát là nhờ vào sự nâng cao hiệu quả kinh doanh
Nhự vậy, nâng cao hiệu quả kinh doanh tức là đã nâng cao khả năng sử dụng các nguồn lực có hạn trong sản xuất, đạt được sự lựa chọn tối ưu Trong điều kiện khan hiếm các nguồn lực sản xuất thì nâng cao hiệu quả kinh doanh là điều kiện không thể không đặt ra đối với bất kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh nào
Tuy nhiên sự lựa chọn kinh tế của các doanh nghiệp trong các cơ chế kinh tế khác nhau là không giống nhau Trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung, việc lựa chọn kinh tế thường không đặt ra cho cấp doanh nghiệp Mọi quyết định kinh tế: sản xuất cái gì? sản xuất như thế nào? và sản xuất cho ai? đều được giải quyết từ một trung tâm duy nhất Doanh nghiệp tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh của mình theo sự chỉ đạo từ trung tâm đó và vì thế mục tiêu cao nhất của doanh nghiệp là hoàn thành kế hoạch nhà nước giao Do những hạn chế nhất định của cơ chế kế hoạch hóa tập trung mà không phải chỉ là vấn đề các doanh nghiệp ít quan tâm tới hiệu quả hoạt động kinh tế của mình mà trong nhiều trường hợp các doanh nghiệp hoàn thành kế hoạch bằng mọi giá
Hoạt động kinh doanh trong cơ chế kinh tế thị trường, môi trường cạnh tranh gay gắt, nâng cao hiệu quả kinh doanh của hoạt động sản xuất là điều kiện tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp
Trong cơ chế kinh tế thị trường, việc giải quyết ba vấn đề kinh tế cơ bản: sản xuất cái
gì, sản xuất như thế nào, sản xuất cho ai dựa trên quan hệ cung cầu, giá cả thị trường, cạnh tranh và hợp tác Các doanh nghiệp phải tự ra các quyết định kinh doanh của mình, tự hạch toán lỗ lãi, lãi nhiều hưởng nhiều, lãi ít hưởng ít, không có lại sẽ đi đến phá sản Lúc này, mục
Trang 10tiêu lợi nhuận trở thành một trong những mục tiêu quan trọng nhất, mang tính chất sống còn của sản xuất kinh doanh
Mặt khác, trong nền kinh tế thị trường thì các doanh nghiệp phải cạnh tranh để tồn tại
và phát triển Môi trường cạnh tranh này ngày càng gay gắt, trong cuộc cạnh tranh đó có nhiều doanh nghiệp trụ vững, phát triển sản xuất, nhưng không ít doanh nghiệp đã thua lỗ, giải thể, phá sản Để có thể trụ lại trong cơ chế thị trường, các doanh nghiệp luôn phải nâng cao chất lượng hàng hóa, giảm chi phí sản xuất, nâng cao uy tín nhằm tới mục tiêu tối đa lợi nhuận Các doanh nghiệp phải có được lợi nhuận và đạt được lợi nhuận càng cao càng tốt Do vậy, đạt hiệu quả kinh doanh và nâng cao hiệu quả kinh doanh luôn là vấn đề được quan tâm của doanh nghiệp và trở thành điều kiện sống còn để doanh nghiệp có thể tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị trường
1.4 Hệ thống chỉ tiêu hiệu quả kinh tế và phương pháp tính toán hiệu quả kinh tế
1.4.1 Hiệu quả kinh tế của hoạt động kinh doanh
Đã từ lâu, khi bàn tới hiệu quá kinh doanh, nhiều nhà khoa học kinh tế đã đề cập đến mức chuẩn hiệu quả (hay còn gọi lại tiêu chuẩn hiệu quả) Từ công thức định nghĩa về hiệu quả kinh tế; chúng ta thấy khi thiết lập mối quan hệ tỉ lệ giữa “đầu ra” và “đầu vào” sẽ có thể cho một dãy các giá trị khác nhau Vấn đề được đặt ra là trong các giá trị đạt được thì các giá trị nào phản ánh tính có hiệu quả (nằm trong miền có hiệu quả), các giá trị nào sẽ phản ánh tính hiệu quả cao cũng như những giá trị nào nằm trong miền không đạt hiệu quả (phi hiệu quả) Chúng ta có thể hiểu mức chuẩn hiệu quả là giới hạn, là thước đo, là căn cứ, là một cái
“mốc” xác định ranh giới có hiệu quả hay không có hiệu quả về một chỉ tiêu hiệu quả đang xem xét
Xét trên phương diện lý thuyết, mặc dù các tác giả đều thừa nhận về bản chất khái niệm hiệu quả kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các yếu tố sản xuất, song công thức khái niệm hiệu quả kinh tế cũng chưa phải là công thức mà các nhà kinh tế thống nhất thừa nhận
Vì vậy, cũng không có tiêu chuẩn chung cho mọi công thức hiệu quả kinh tế, mà tiêu chuẩn hiệu quả kinh tế còn phụ thuộc vào mỗi công thức xác định hiệu quả cụ thể Ở các doanh nghiệp, tiêu chuẩn hiệu quả phụ thuộc vào từng chỉ tiêu hiệu quả kinh tế cụ thể Chẳng hạn, với các chỉ tiêu hiệu quả liên quan đến các quyết định lựa chọn kinh tế sử dụng phương pháp cận biên người ta hay so sánh các chỉ tiêu như doanh thu biên và chi phí biên với nhau và tiêu chuẩn hiệu quả là doanh thu biên bằng với chi phí biên (tổng hợp cũng như cho từng yếu tố sản xuất) Trong phân tích kinh tế với việc sử dụng các chỉ tiêu tính toán trung bình có khi lấy mức trung bình của ngành hoặc của kỳ trước làm mức hiệu quả so sánh và kết luận tính hiệu quả của doanh nghiệp
1.4.2 Hệ thống chỉ tiêu hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh
a Các khái niệm
- Doanh số bán: Tiền thu được về bán hàng hóa và dịch vụ
- Vốn sản xuất: Vốn hiểu theo nghĩa rộng bao gồm: đất đai, nhà xưởng, bí quyết
kỹ thuật, sáng kiến phát hiện nhu cầu, thiết bị, vật tư, hàng hóa v.v… bao gồm giá trị của tài sản hữu hình và tài sản vô hình, tài sản cố định, tài sản lưu động và tiền mặt dùng cho sản xuất
Theo tính chất luân chuyển, vốn sản xuất chia ra vốn cố định và vốn lưu động
- Tổng chi phí sản xuất gồm chi phí cố định, chi phí biến đổi
- Lãi gộp: là phần còn lại của doanh số bán sau khi trừ đi chi phí biến đổi
Trang 11- Lợi nhuận trước thuế bằng lãi gộp trừ đi chi phí cố định
- Lợi nhuận sau thuế hay còn gọi là lợi nhuận thuần túy (lãi ròng) bằng lợi nhuận trước thuế trừ đi các khoản thuế
Mối quan hệ giữa doanh số bán với các chỉ tiêu chi phí, lãi gộp và lợi nhuận được trình bày trong bảng sau:
Doanh số bán
Chi phí biến đổi Chi phí cố định Lợi nhuận trước thuế
Tổng chi phí sản xuất Thuế Lợi nhuận thuần túy (lãi ròng)
b Các chỉ tiêu hiệu quá kinh tế tổng hợp
Xét trên cả phương diện lý thuyết và thực tiễn quản trị kinh doanh, các nhà kinh tế cũng như các nhà quản trị hoạt động kinh doanh thực tế ở các doanh nghiệp và các nhà tài trợ khi xem xét hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp đều quan tâm trước hết đến việc tính toán đánh giá chỉ tiêu chung phản ánh doanh lợi của doanh nghiệp Vì chỉ tiêu doanh lợi được đánh giá cho hai loại vốn kinh doanh của doanh nghiệp: toàn bộ vốn kinh doanh bao gồm cả vốn tự có và vốn đi vay và chỉ tính cho vốn tự có của doanh nghiệp, nên sẽ có hai chỉ tiêu phản ánh doanh lợi của doanh nghiệp Các chỉ tiêu này được coi là các chỉ tiêu phản ánh sức sinh lời của số vốn kinh doanh, khẳng định mức độ đạt hiệu quả kinh doanh của toàn bộ số vốn mà doanh nghiệp sử dụng nói chung cũng như hiệu quả sử dụng số vốn tự có của doanh nghiệp nói riêng Nhiều tác giả coi các chỉ tiêu này là thước đo mang tính quyết định đánh giá hiệu quả kinh doanh:
Với DVKD là doanh lợi của toàn bộ vốn kinh doanh,
пR
là lãi ròng ; пVV là lãi trả vốn vay
VKD là tổng vốn kinh doanh của doanh nghiệp
2.2.1.2 Doanh lợi của vốn tự có:
Trang 12TR là doanh thu trong thời kỳ đó
2.2.2 Các chỉ tiêu tính hiệu quả kinh tế
Do có nhiều quan niệm khác nhau về công thức tính định nghĩa hiệu quả kinh tế nên ở phương diện lý thuyết cũng như thực tế cũng có thể có nhiều cách biểu hiện cụ thể khác nhau,
có thể sử dụng hai công thức đánh giá hiệu quả phản ánh tính hiệu quả xét trên phương diện giá trị dưới đây:
Với QG là sản lượng tính bằng giá trị và CT C là chi phí tài chính
Với CT T là chi phí kinh doanh thực tế và CPĐ là chi phí kinh doanh “phải đạt”
Ở công thức trên cần phải hiểu chi phí kinh doanh( xem lại chương III) là chi phí xác định trong quản trị chi phí kinh doanh (kế toán quản trị) của doanh nghiệp Chi phí kinh doanh không phải là chi phí tài chính (chi phí được xác định trong kế toán tài chính) Chi phí kinh doanh phải đạt là chi phí kinh doanh chi ra trong điều kiện thuận lợi nhất
Công thức này được sử dụng rất nhiều trong phân tích, đánh giá tính hiệu quả của toàn bộ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nói chung và từng bộ phận kinh doanh nói riêng
c Một số chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh bộ phận
Bên cạnh các chỉ tiêu hiệu quả tổng quát phản ánh khái quát và cho phép kết luận về hiệu quả kinh tế của toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh, phản ánh trình độ sử dụng tất cả các yếu tố tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh trong một thời kỳ nhất định (tư liệu sản xuất, nguyên, nhiên vật liệu, lao động, và tất nhiên bao hàm cả tác động của yếu tố quản trị đến việc sử dụng có hiệu quả các yếu tố trên) thì người ta còn dùng các chỉ tiêu bộ phận để phân tích hiệu quả kinh tế của từng mặt hoạt động, từng yếu tố sản xuất cụ thể
Các chỉ tiêu hiệu quả bộ phận đảm nhiệm hai chức năng cơ bản sau:
- Phân tích có tính chất bổ sung cho chỉ tiêu tổng hợp để trong một số trường hợp kiểm tra và khẳng định rõ hơn kết luận được rút ra từ các chỉ tiêu tổng hợp
- Phân tích hiệu quả từng mặt hoạt động, hiệu quả sử dụng từng yếu tố sản xuất nhằm tìm biện pháp làm tối đa chỉ tiêu hiệu quả kinh tế tổng hợp Đây là chức năng chủ yếu của hệ thống chỉ tiêu này
Mối quan hệ giữa chỉ tiêu hiệu quả kinh tế tổng hợp và chỉ tiêu hiệu quả kinh tế bộ phận không phải là mối quan hệ cùng chiều, trong lúc chỉ tiêu tổng hợp tăng lên thì có thể có những chỉ tiêu bộ phận tăng lên và cũng có thể có chỉ tiêu bộ phận không đổi hoặc giảm Vì vậy, cần chú ý là:
+ Chỉ có chỉ tiêu tổng hợp đánh giá được hiệu quả toàn diện và đại diện cho hiệu quả kinh doanh, còn các chỉ tiêu bộ phận không đảm nhiệm được chức năng đó
Trang 13+ Các chỉ tiêu bộ phận phản ánh hiệu quả kinh tế của từng mặt hoạt động (bộ phận) nên thường được sử dụng trong thống kê, phân tích cụ thể chính xác mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố, từng mặt hoạt động, từng bộ phận công tác đến hiệu quả kinh tế tổng hợp
+ Hiệu quả sử dụng vốn
Thực ra, muốn có các yếu tố đầu vào doanh nghiệp cần có vốn kinh doanh, nếu thiếu vốn mọi hoạt động của doanh nghiệp hoặc đình trệ hoặc kém hiệu quả Do đó các nhà kinh tế cho rằng chỉ tiêu sử dụng vốn là một chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh tổng hợp Chỉ tiêu này đã được xác định thông qua công thức (2) và (3) Ở đây có thể đưa ra một số công thức được coi
là để đánh giá hiệu quả sử dụng đồng vốn và từng bộ phận vốn của doanh nghiệp:
cố định sau khi đã trừ đi phần hao mòn tài sản cố định tích lũy đến thời điểm lập báo cáo Ngoài ra, trong những điều kiện nhất định còn có thể được cộng thêm những chi phí xây dựng
dở dang Chỉ tiêu hiệu suất tài sản cố định biểu hiện một đồng tài sản cố định trong kỳ sản xuất ra bình quân bao nhiều đồng lãi, thể hiện trình độ sử dụng tài sản cố định trong sản xuất kinh doanh, khả năng sinh lợi của tài sản cố định
Ngoài ra hiệu quả sử dụng tài sản cố định còn có thể được đánh giá theo phương pháp ngược lại, tức là lấy nghịch đảo công thức trên và gọi là suất tài sản cố định Chỉ tiêu nghịch đảo công thức trên và gọi là suất tài sản cố định Chỉ tiêu nghịch đảo này cho biết để tạo ra một đồng lãi, doanh nghiệp cần phải sử dụng bao nhiêu đồng vốn cố định
Nghiên cứu hiệu quả sử dụng vốn cố định có thể thấy các nguyên nhân của việc sử dụng vốn cố định không có hiệu quả thường là đầu tư tài sản cố định quá mức cần thiết, tài sản cố định không sử dụng chiếm tỉ trọng lớn, sử dụng tài sản cố định với công suất thấp hơn mức cho phép
· Hiệu quả sử dụng vốn lưu động:
SVVLĐ = TR/VLĐ (10)
Trang 14
Có thể thấy rằng, chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn lưu động tính theo lợi nhuận sẽ bằng tích của tỷ suất lợi nhuận trong tổng giá trị kinh doanh nhân với số vòng luân chuyển lưu động:
Như vậy, nếu cố định chỉ tiêu tỷ trọng lợi nhuận trong vốn kinh doanh thì hiệu quả sử dụng vốn lưu động tỷ lệ thuận với số vòng quay vốn lưu động Số vòng quay vốn lưu động cao sẽ có thể đưa tới hiệu quả sử dụng vốn cao
Trong các công thức trên, vốn lưu động bình quân là số trung bình của giá trị vốn lưu động ở thời điểm đầu kỳ và ở thời điểm cuối kỳ
· Hiệu quả vốn góp trong công ty cổ phần được xác định bởi tỉ suất lợi nhuận của vốn cổ phần (DVCP
):
D VCP (%) = П R /V CP (13)
Với DVCP
là tỷ suất lợi nhuận của vốn cổ phần và VCP là vốn cổ phần bình quân trong
kỳ tính toán Chỉ tiêu này cho biết bỏ ra một đồng vốn cổ phần bình quân trong một thời kỳ thu về được bao nhiêu đồng lợi nhuận Vốn cổ phần bình quân trong kỳ được xác định theo công thức:
V CP = SCP x CP
Với SCP là số lượng bình quân cổ phiếu đang lưu thông và CP là giá trị mỗi cổ phiếu
Số lượng bình quân cổ phiếu đang lưu thông bằng số lượng cổ phiếu thường đang lưu thông tại một thời điểm bất kì trong năm, nếu năm không có cổ phiếu nào được phát hành thêm hoặc thu hồi (mua lại) trong năm Nếu có cổ phiếu được phát hành hay mua lại thì số lượng bình quân cổ phiếu phải được xác định lại:
Với ПCP là thu nhập cổ phiếu
Nếu có cả cổ phiếu ưu tiên thì:
Trang 15
Với ПCPUT là lãi trả cổ phiếu ưu tiên
· Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận cổ phiếu (DCP):
D CP (%) = П CP
.100/CP (16)
Với DCP là tỉ suất lợi nhuận cổ phiếu
+ Hiệu quả sử dụng lao động
Số lượng và chất lượng lao động là yếu tố cơ bản trong sản xuất, góp phần quan trọng trong năng lực sản xuất của doanh nghiệp Hiệu quả sử dụng lao động biểu hiện ở năng suất lao động, mức sinh lời của lao động và hiệu suất tiền lương
· Năng suất lao động
Trước hết có năng suất lao động bình quân năm (NSLĐN
) xác định theo công thức:
Với APN
là năng suất lao động bình quân năm tính bằng đơn vị hiện vật hoặc giá trị,
QHV là sản lượng tính bằng đơn vị hiện vật hoặc giá trị và AL là số lượng lao động bình quân trong năm
Năng suất lao động tính theo năm chịu ảnh hưởng rất lớn của việc sử dụng thời gian lao động trong năm: số ngày bình quân làm việc trong năm, số giờ bình quân làm việc mỗi ngày của lao động trong doanh nghiệp và năng suất lao động bình quân mỗi giờ
Năng suất lao động theo giờ (NSLĐG) được xác định từ chỉ tiêu năng suất lao động năm:
NSLĐG = NSLĐN/N.C.G (18)
Trong đó N là số ngày làm việc bình quân trong năm; C là số ca làm việc trong ngày;
G là số giờ làm việc bình quân mỗi ca lao động và NSLĐG
là năng suất lao động bình quân mỗi giờ làm việc của một lao động Chỉ tiêu này còn có thể được xác định bằng nhiều cách khác nữa, chẳng hạn xác định trực tiếp từ sản lượng tạo ra trong một ca lao động hoặc một ngày làm việc, tương tự như công thức (17)
Về bản chất, chỉ tiêu năng suất lao động được xác định phù hợp với công thức khái niệm hiệu quả kinh tế của sản xuất kinh doanh và do đó biểu hiện tính hiệu quả trong việc sử dụng lực lượng lao động trong doanh nghiệp
· Chỉ tiêu mức sinh lời bình quân của lao động
Bên cạnh chỉ tiêu năng suất lao động, chỉ tiêu mức sinh lời bình quân của một lao động cũng thường được sử dụng Mức sinh lời bình quân của một lao động cho biết mỗi lao động được sử dụng trong doanh nghiệp tao ra được bao nhiêu lợi nhuận trong một thời kỳ nhất định Chỉ tiêu này có thể được xác định theo công thức:
ПBQ
là lợi nhuận bình quân do một lao động tạo ra và L là số lao động tham gia
· Chỉ tiêu hiệu suất tiền lương (HW)
HW = ПR/TL (20)
Với HW là hiệu suất tiền lương và TL là tổng quỹ tiền lương và các khoản tiền thưởng
Trang 16có tính chất lương trong kỳ Hiệu suất tiền lương cho biết chỉ ra một đồng tiền lương đem lại bao nhiêu đồng lợi nhuận cho doanh nghiệp Hiệu suất tiền lương tăng lên khi năng suất lao động tăng với nhịp độ cao hơn nhịp độ tăng tiền lương
+ Hiệu quả sử dụng nguyên vật liệu
· Vòng luân chuyển nguyên vật liệu (SVNVL):
Với SVNVL
là số vòng luân chuyển nguyên vật liệu, NVLSD là giá vốn nguyên vật liệu
đã dùng và NVLDT
là giá trị lượng nguyên vật liệu dự trữ
· Vòng luân chuyển vật tư trong sản phẩm dở dang (SVSPDD):
Với SVSPDD là số vòng luân chuyển vật tư trong sản phẩm dở dang,
ZHHCB là tổng giá thành hàng hóa đã chế biến
VTDT là giá trị vật tư dự trữ đưa vào chế biến
Hai chỉ tiêu trên cho biết khả năng khai thác các nguồn nguyên liệu vật tư của doanh nghiệp, đánh giá chu kỳ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Hai chỉ tiêu trên mà cao cho biết doanh nghiệp giảm được chi phí cho nguyên vật liệu dự trữ, rút ngắn chu kỳ hoạt động về chuyển đổi nguyên vật liệu thành thành phẩm, giảm bớt sự ứ đọng của nguyên vật liệu tồn kho và tăng vòng quay vốn lưu động Nhược điểm là có thể doanh nghiệp thiếu nguyên vật liệu dự trữ, cạn kho, không đáp ứng kịp thời, đầy đủ các nhu cầu
Ngoài ra, để sử dụng nguyên vật liệu có hiệu quả người ta còn đánh giá mức thiệt hại, mất mát nguyên vật liệu trong quá trình dự trữ, sử dụng chúng Chỉ tiêu này được đo bằng tỉ
số giữa giá trị nguyên vật liệu hao hụt, mất mát trên tổng giá trị nguyên vật liệu sử dụng trong
kỳ Người ta so sánh chỉ tiêu này với các định mức kinh tế - kỹ thuật hiện hành hoặc đối chiếu với mức hao hụt kỳ trước, để dưa ra quyết định thích hợp nhằm sử dụng vật tư tiết kiệm, đúng mục đích, phù hợp thực tế sản xuất và có hiệu quả
+ Chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh ở từng bộ phận bên trong doanh nghiệp
Các chỉ tiêu hiệu quả hoạt động ở từng bộ phận kinh doanh của doanh nghiệp phản ánh tính hiệu quả của hoạt động chung cũng như từng mặt hoạt động kinh tế diễn ra ở từng bộ phận kinh doanh của doanh nghiệp Đó có thể là các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả đầu tư đổi mới công nghệ hoặc trang thiết bị lại ở phạm vi toàn doanh nghiệp hoặc từng bộ phận bên trong doanh nghiệp; hiệu quả ở từng bộ phận quản trị và thực hiện các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp; hiệu quả của từng quyết định sản xuất kinh doanh và thực hiện chức năng quản trị doanh nghiệp; Tùy theo từng hoạt động cụ thể có thể xây dựng hệ thống chỉ tiêu và tiến hành đánh giá hiệu quả hoạt động thích hợp.Về nguyên tắc, đối với hiệu quả của từng bộ phận công tác bên trong doanh nghiệp (từng phân xưởng, từng ngành, từng tổ sản xuất, .) có thể xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động tương tự như hệ thống chỉ tiêu đã xác định cho phạm vi toàn doanh nghiệp Riêng hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả đầu tư, do tính đặc thủ của hoạt động này đòi hỏi phải xây dựng hệ thống chỉ tiêu phù hợp
1.5 Các biện pháp nâng cao hiệu quả kinh tế của sản xuất kinh doanh
Trang 17Muốn nâng cao hiệu quả kinh doanh, bản thân các doanh nghiệp phải chủ động sáng
tạo, hạn chế những khó khăn, phát triển những thuận lợi để tạo ra môi trường hoạt động có lợi cho mình Bản thân doanh nghiệp có vai trò quyết định trong sự tồn tại, phát triển hay suy vong của hoạt động kinh doanh của mình Vai trò quyết định của doanh nghiệp thế hiện trên 2
mặt: thứ nhất, biết khai thác và tận dụng những điều kiện và yếu tố thuận lợi của môi trường bên ngoài và thứ hai, doanh nghiệp phải chủ động tạo ra những điều kiện, yếu tố cho chính
bản thân mình để phát triển Cả hai mặt này cần phải được phối hợp đồng bộ thì mới tận dụng được tối đa các nguồn lực, kinh doanh mới đạt được hiệu quả tối ưu Hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh là phạm trù tổng hợp Muốn nâng cao hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp phải sử dụng tổng hợp các biện pháp từ nâng cao năng lực quản trị, điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đến việc tăng cường và cải thiện mọi hoạt động bên trong doanh nghiệp, biết làm cho doanh nghiệp luôn luôn thích ứng với những biến động của thị trường, Tuy nhiên, dưới đây có thể đề cập đến một số biện pháp chủ yếu:
1.5.1 Tăng cường quản trị chiến lược kinh doanh và phát triển doanh nghiệp
Kinh tế thị trường luôn biến động, muốn tồn tại và phát triển đòi hỏi doanh nghiệp phải thích ứng với sự biến động đó Quản trị kinh doanh hiện đại cho rằng không thể chống
đỡ được với những thay đổi thị trường nếu doanh nghiệp không có một chiến lược kinh doanh
và phát triển thể hiện tính chất động và tấn công Chỉ có trên cơ sở đó, doanh nghiệp mới phát hiện được những thời cơ cần tận dụng hoặc những đe dọa có thể xảy ra để có đối sách thích hợp Toàn bộ tư tưởng chiến lược và quản trị chiến lược sẽ được trình bày sâu ở môn chiến lược kinh doanh và phát triển doanh nghiệp Phần này chỉ lưu ý rằng thiếu một chiến lược kinh doanh đúng đắn thể hiện tính chủ động và tấn công, thiếu sự chăm lo xây dựng và phát triển chiến lược doanh nghiệp không thể hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả kinh tế được và thậm chí trong nhiều trường hợp còn dẫn đến sự phá sản
Trong xây dựng chiến lược kinh doanh cần phải chú ý các điểm sau:
- Chiến lược kinh doanh phải gắn với thị trường:
+ Các doanh nghiệp xây dựng chiến lược kinh doanh trên cơ sở điều tra, nghiên cứu nhu cầu trị trường và khai thác tối đa các thời cơ, các thuận lợi, các nguồn lực để sản xuất ra các sản phẩm với số lượng, chất lượng, chủng loại và thời hạn thích hợp Có thể coi “chiến lược phải thể hiện tính làm chủ thị trường của doanh nghiệp” là phương châm, là nguyên tắc quản trị chiến lược của doanh nghiệp
+ Việc xây dựng chiến lược kinh doanh phải làm tăng được thế mạnh của doanh nghiệp, giành ưu thế cạnh tranh trên thị trường
+ Chiến lược phải thể hiện tính linh hoạt cao và vì thế xây dựng chiến lược chỉ đề cập những vấn đề khái quát, không cụ thể
- Khi xây dựng chiến lược kinh doanh phải tính đến vùng an toàn trong kinh doanh, hạn chế rủi ro tới mức tối thiểu
- Trong chiến lược kinh doanh cần xác định mục tiêu then chốt, vùng kinh doanh chiến lược và những điều kiện cơ bản để đạt được mục tiêu đó
- Chiến lược kinh doanh phải thể hiện sự kết hợp hài hòa giữa hai loại chiến lược: chiến lược kinh doanh chung (những vấn đề tổng quát bao trùm, có tính chất quyết định nhất)
và chiến lược kinh doanh bộ phận (những vấn đề mang tính chất bộ phận như chiến lược sản phẩm, chiến lược giá cả, chiến lược tiếp thị, chiến lược giao tiếp khuyếch trương, )
Trang 18- Chiến lược kinh doanh không phải là bản thuyết trình chung chung mà phải thể hiện bằng những mục tiêu cụ thể, có tính khả thi với mục đích đạt hiệu quả tối đa trong sản xuất kinh doanh
Một vấn đề hết sức quan trọng là nếu doanh nghiệp chỉ xây dựng chiến lược thì chưa đủ, vì dù cho chiến lược xây dựng có hoàn hảo đến đâu nếu không triển khai tốt, không biến nó thành các chương trình, chính sách kinh doanh phù hợp với từng giai đoạn phát triển cũng sẽ trở thành vô ích, hoàn toàn không có giá trị làm tăng hiệu quả kinh doanh mà vẫn phải chịu chi phí kinh doanh cho công tác này
1.5.2 Lựa chọn quyết định sản xuất kinh doanh có hiệu quả
a Quyết định sản lượng sản xuất và sự tham gia của các yếu tố đầu vào tối ưu
Đối với bất kì một doanh nghiệp sản xuất kinh doanh nào (trừ các doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích), khi tiến hành một quyết định sản xuất kinh doanh đều quan tâm đến lợi nhuận mà họ có thể đạt được từ hoạt động đó và đều quyết định tiến hành sản xuất theo mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận Quy tắc chung tối đa hóa lợi nhuận là doanh nghiệp sẽ tăng sản lượng cho tới chừng nào doanh thu cận biên (MR) còn vượt quá chi phí cận biên (MC) Trong đó, chi phí cận biên (MC) là chi phí tăng thêm khi sản xuất thêm một đơn vị sản phẩm Doanh thu biên (MR) là doanh thu tăng thêm chi bán thêm một đơn vị sản phẩm
Doanh nghiệp sẽ đạt mức lợi nhuận tối đa ở mức sản lượng mà ở đó doanh thu biên bằng chi phí cận biên (MR = MC) Tại điểm này mức sản lượng Q* đạt được đảm bảo cho hiệu quả tối đa
Mặt khác, để giảm thiểu chi phí kinh doanh nguyên tắc sử dụng các yếu tố đầu vào là doanh thu biên do một yếu tố đầu vào bất kỳ tạo ra (MRP) bằng với chi phí biên sử dụng yếu
tố đầu vào đó (MC), tức là MRP = MC Nguyên tắc này có nghĩa là còn có thể sử dụng tăng thêm các yếu tố đầu vào khi MRP > MC và hiệu quả sẽ đạt tối ta khi MRP = MC
b Xác định điểm hòa vốn của sản xuất
Kinh doanh trong cơ chế thị trường các doanh nghiệp đều rất chú ý đến hiệu quả của chi phí lao động, vật tư, tiền vốn Để sản xuất một loại sản phẩm nào đó, doanh nghiệp phải tính toán, xây dựng mối quan hệ tối ưu giữa chi phí và thu nhập Sản xuất bao nhiêu sản phẩm
và bán với giá nào thì đảm bảo hòa vốn bỏ ra, bao nhiêu sản phẩm tiêu thụ trên mức đó để mang lại lợi nhuận Điều đó đặt ra yêu cầu việc nghiên cứu điểm hòa vốn và phân tích hòa vốn
Phân tích điểm hòa vốn là xác lập và phân tích mối quan hệ tối ưu giữa chi phí doanh thu, sản lượng và giá bán Điểm mấu chốt để xác định chính xác điểm hòa vốn là phải phân biệt các loại chi phí kinh doanh thành chi phí biến đổi và chi phí cố định Cần chú ý là điểm hòa vốn được xác định cho một khoảng thời gian nào đó
1.5.3 Phát triển trình độ đội ngũ lao động và tạo động lực cho tập thể và cá nhân người lao động
Lao động sáng tạo của con người là nhân tố quyết định đến hiệu quả hoạt động kinh doanh Các doanh nghiệp cần đầu tư thỏa đáng để phát triển quy mô bồi dưỡng lại và đào tạo mới lực lượng lao động, đội ngũ trí thức có chất lượng cao trong các doanh nghiệp Nâng cao nghiệp vụ kinh doanh, trình độ tay nghề của đội ngũ cán bộ khoa học, kỹ sư, công nhân kỹ thuật để khai thác tối ưu nguyên vật liệu, năng suất máy móc, thiết bị công nghệ tiên tiến,
Đặc biệt là cán bộ quản trị, giám đốc phải được tuyển chọn kỹ càng, có trình độ hiểu biết cao Giám đốc là nhà lãnh đạo kinh doanh, đảm bảo cho hoạt động kinh doanh có hiệu
Trang 19quả nên giám đốc phải có kiến thức về công nghệ, khoa học, về giao tiếp xã hội, về tâm lý, kinh tế, tổng hợp những tri thức của cuộc sống và phải biết vận dụng kiến thức vào tổ chức,
ra quyết định những công việc trong thực tiễn hoạt động của doanh nghiệp
Về công tác quản trị nhân sự, doanh nghiệp phải hình thành nên cơ cấu lao động tối
ưu, phải bảo đảm đủ việc làm trên cơ sở phân công và bố trí lao động hợp lý, sao cho phù hợp với năng lực, sở trường và nguyện vọng của mỗi người Trước khi phân công bố trí hoặc đề bạt cán bộ đều phải qua kiểm tra tay nghề Khi giao việc cần xác định rõ chức năng, quyền hạn, nhiệm vụ, trách nhiệm Đặc biệt công tác trả lương, thưởng, khuyến khích lợi ích vật chất đối với người lao động luôn là vấn đề hết sức quan trọng
Động lực tập thể và cá nhân người lao động là yếu tố quyết định tới hiệu quả kinh tế Động lực cũng là yếu tố để tập hợp, cố kết người lao động lại Trong doanh nghiệp, động lực cho tập thể và cá nhân người lao động chính là lợi ích, là lợi nhuận thu được từ sản xuất có hiệu quả hơn Các doanh nghiệp cần phân phối lợi nhuận thỏa đáng, đảm bảo công bằng, hợp
lý, thưởng phạt nghiêm minh Đặc biệt cần có chế độ đãi ngộ thỏa đáng với những nhân viên giỏi, trình độ tay nghề cao hoặc có thành tích, có sáng kiến, Đồng thời cũng cần nghiêm khắc xử lý những trường hợp vi phạm Trong kinh doanh hiện đại, ở nhiều doanh nghiệp hình thức bán cổ phần cho người lao động và người lao động sẽ nhận được ngoài tiền lương và thưởng là số lãi chia theo cổ phần cũng là một trong những giải pháp gắn người lao động với doanh nghiệp bởi lẽ cùng với việc mua cổ phần người lao động không chỉ có thêm nguồn thu nhập từ doanh nghiệp mà còn có quyền nhiều hơn trong việc tham gia vào các công việc của doanh nghiệp
1.5.4 Công tác quản trị và tổ chức sản xuất
Tổ chức sao cho doanh nghiệp có bộ máy gọn, nhẹ, năng động, linh hoạt trước thay đổi của thị trường Cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp phải thích ứng với sự thay đổi của môi trường kinh doanh Những nội dung này đã được trình bày ở chương tổ chức bộ máy quản trị doanh nghiệp Một điều cần chú ý là cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp phải được xây dựng phù hợp với các đặc điểm của doanh nghiệp (qui mô, ngành nghề kinh doanh, đặc điểm quá trình tạo ra kết quả, ) thì mới đảm bảo cho việc quản trị doanh nghiệp có hiệu quả được
Xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, chế độ trách nhiệm, quan hệ giữa các bộ phận với nhau, đưa hoạt động của doanh nghiệp đi vào nề nếp, tránh sự chồng chéo giữa chức năng và nhiệm vụ của các bộ phận Doanh nghiệp phải thường xuyên duy trì và đảm bảo sự cân đối tăng cường quan hệ giữa các khâu, các bộ phận trong quá trình sản xuất, mới có thể nâng cao tinh thần trách nhiệm của mỗi người, nâng cao tính chủ động sáng tạo trong sản xuất
Hệ thống thông tin bao gồm những yếu tố có liên quan mật thiết với nhau, tác động qua lại với nhau trong việc thu nhập, xử lý, bảo quản và phân phối thông tin nhằm hỗ trợ cho các hoạt động phân tích và đánh giá kiểm tra thực trạng và ra quyết định về các vấn đề có liên quan đến hoạt động của một tổ chức Việc thiết lập hệ thống thông tin phải đáp ứng các yêu cầu sau:
- Hệ thống thông tin phải đáp ứng được nhu cầu sử dụng, được thiết lập với đầy đủ các nội dung, các vấn đề mà doanh nghiệp quan tâm
- Hệ thống thông tin phải là hệ thống thông tin thường xuyên được cập nhật bổ sung;
- Hệ thống cần phải được bố trí phù hợp với khả năng sử dụng, khai thác của doanh nghiệp;
Trang 20- Đảm bảo việc khai thác được thực hiện với chi phí thấp nhất
1.5.5 Đối với kỹ thuật- công nghệ
Một trong những lý do làm hiệu quả kinh tế ở các doanh nghiệp thấp là do thiếu kỹ thuật, công nghệ hiện đại Do vậy vấn đề nâng cao kỹ thuật, đổi mới công nghệ là vấn đề luôn được quan tâm ở các doanh nghiệp Tùy thuộc vào loại hình kinh doanh, đặc điểm ngành kinh doanh, mục tiêu kinh doanh mà doanh nghiệp có chính sách đầu tư công nghệ thích đáng Tuy nhiên, việc phát triển kỹ thuật công nghệ đòi hỏi phải có đầu tư lớn, phải có thời gian dài và phải được xem xét kỹ lưỡng 3 vấn đề:
- Dự đoán đúng cầu của thị trường và cầu của doanh nghiệp về loại sản phẩm doanh nghiệp có ý định đầu tư phát triển Dựa trên cầu dự đoán này doanh nghiệp mới có những mục tiêu cụ thể trong đổi mới công nghệ
- Lựa chọn công nghệ phù hợp Các doanh nghiệp trên cơ sở mục tiêu của sản xuất
đã đề ra có những biện pháp đổi mới công nghệ phù hợp Cần tránh việc nhập công nghệ lạc hậu, lỗi thời, tân trang lại, gây ô nhiễm môi trường,
- Có giải pháp đúng về huy động và sử dụng vốn hiện nay, đặc biệt là vốn cho đổi mới công nghệ, các doanh nghiệp muốn hoạt động có hiệu quả thì cần sử dụng vốn có hiệu quả, đúng mục tiêu nguồn vốn đầu tư công nghệ
Rút ngắn thời gian xây dựng để nhanh chóng đưa dự án đầu tư vào hoạt động luôn là nhân tố ảnh hưởng mạnh mẽ đến việc nâng cao hiệu quả kinh tế đầu tư kỹ thuật công nghệ Trong đổi mới công nghệ không thể không quan tâm đến nghiên cứu sử dụng vật liệu mới và vật liệu thay thế vì giá trị nguyên vật liệu thường chiếm tỷ trọng cao trong giá thành của nhiều loại sản phẩm, dịch vụ Hơn nữa, việc sử dụng nguyên vật liệu mới thay thế trong nhiều trường hợp còn có ý nghĩa rất lớn trong việc nâng cao chất lượng sản phẩm
Máy móc thiết bị luôn là nhân tố quyết định năng suất, chất lượng và hiệu quả Trong công tác quản trị kỹ thuật công nghệ, việc thường xuyên nghiên cứu, phát triển kỹ thuật đóng vai trò quyết định Bên cạnh đó, công tác bảo quản máy móc thiết bị, đảm bảo cho máy móc luôn hoạt động đúng kế hoạch và tận dụng công suất của thiết bị máy móc cũng đóng vai trò không nhỏ vào việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh nói chung Để đảm bảo đánh giá chính xác chất lượng hoạt động của máy móc thiết bị, trong tính chi phí kinh doanh và phân tích kinh tế cần sử dụng khái niệm chi phí kinh doanh “không tải” để chỉ chi phí kinh doanh
về sử dụng máy móc thiết bị bị mất đi mà không được sử dụng vào mục đích gì
Đổi mới công nghệ phải đảm bảo và nâng cao chất lượng sản phẩm, thực hiện tốt công tác kiểm tra kỹ thuật và nghiệm thu sản phẩm, tránh để cho những sản phẩm chất lượng kém
ra tiêu thụ trên thị trường
1.5.6 Tăng cường mở rộng quan hệ cầu nối giữa doanh nghiệp với xã hội
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa, sản xuất của các doanh nghiệp mở rộng theo hướng sản xuất lớn, xã hội hóa và mở cửa làm cho mối quan hệ lẫn nhau trong xã hội ngày càng chặt chẽ Doanh nghiệp nào biết sử dụng mối quan hệ sẽ khai thác được nhiều đơn hàng, tiêu thụ tốt Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp muốn đạt hiệu quả cao cần tranh thủ tận dụng các lợi thế, hạn chế khó khăn của môi trường kinh doanh bên ngoài Đó là:
- Giải quyết tốt mối quan hệ với khách hàng: là mục đích ý đồ chủ yếu trong kinh doanh, vì khách hàng là người tiếp nhận sản phẩm, người tiêu dùng sản phẩm của doanh nghiệp Khách hàng có được thỏa mãn thì sản phẩm mới được tiêu thụ
Trang 21- Tạo ra sự tín nhiệm, uy tín trên thị trường đối với doanh nghiệp về chất lượng sản phẩm, tác phong kinh doanh, tinh thần phục vụ, bất cứ doanh nghiệp nào muốn có chỗ đứng trên thị trường đều phải gây dựng sự tín nhiệm Đó là quy luật bất di bất dịch để tồn tại trong cạnh tranh trên thương trường
- Giải quyết tốt mối quan hệ với các đơn vị tiêu thụ, đơn vị cung ứng
- Giải quyết tốt mối quan hệ với các tổ chức quảng cáo, các cơ quan lãnh đạo doanh nghiệp, thông qua các tổ chức này để mở rộng ảnh hưởng của doanh nghiệp, tạo cho khách hàng, người tiêu dùng biết đến sản phẩm của doanh nghiệp nhiều hơn, đồng thời bảo vệ uy tín
và sự tín nhiệm đối với doanh nghiệp
- Phát triển thông tin liên lạc với các tổ chức, khác với thị trường
- Hoạt động kinh doanh theo đúng pháp luật
- Có ý thức bảo vệ môi trường tự nhiên sinh thái: bảo vệ rừng đầu nguồn, chống sự ô nhiễm của bầu không khí, nguồn nước, sự bạc mầu của đất đai trong phát triển sản xuất kinh doanh
1.6 Một số mô hình tuyến tính trong kinh tế
1.6.1 Mô hình cân bằng thị trường
Các mô hình kinh tế bao gồm một số đại lượng và mối quan hệ giữa các đại lượng đó Trong tóan học , các đại lượng kinh tế đựơc coi như các biến,các mối quan hệ giữa các đại lượng này được coi như các phương trình.Nếu một mô hình các quan hệ của các đại lượng kinh tế được biểu diễn bởi hệ phương trình tuyến tính thì mô hình này được gọi là mô hình tuyến tính
a Mô hình cân bằng thị trường một lọai hàng hóa
Khi phân tích thị trường, các nhà kinh tế luôn sử dụng hàm cung và hàm cầu để biểu diễn sự phụ thuộc của lượng cung và lượng cầu của hàng hóa vào giá của hàng hóa đó.Trong
mô hình này ta chỉ xét thị trường với 1 lọai hàng hóa
Ta biết hàm cầu Qs(Quantity supplied) :Lượng hàng hóa mà người bán bằng lòng bán
và hàm cung Qd(Quantity demand):Lựong hàng hóa mà người mua bằng lòng mua là các hàm theo gía p
Trong thực tế Qs là một hàm tăng theo giá, Qd là hàm giảm theo giá và thị trường ở trạng thái cân bằng khi Qs=Qd
Mô hình Qs(p)=Qd(p) được gọi là mô hình cân bằng thị trường một lọai hàng hóa
Để đơn giản và cũng phù hợp với thực tiễn ta có thể giả sử Qs(p) và Qd(p) là các hàm bậc nhất(tuyến tính): Qs(p)=-a1+a2p; Qd(p)=b1 -b2p với a1, a2, b1, b2 là những hằng số dương
Mô hình cân bằng lúc này là:
Lượng cung và lượng cầu cân bằng Qcb=(a2b1-a1b2)/(a2+b2)
Ví dụ Cho hàm cung và hàm cầu theo giá của một lọai hàng hóa như sau:
Qs=-1+p, Qd=47-3p a)Tìm giá cân bằng thị trường
Trang 22b)Tìm lượng cung và lượng cầu cân bằng
Gỉai
a)Gía cân bằng thị trường là nghiệm của phương trình:
Qs=Qd -1+p=47-3pp=12
b)Lượng cung và lượng cầu cân bằng là Qcb= Qs=Qd= 11
Hàm cung và hàm cầu theo giá của một lọai hàng hóa
b Mô hình cân bằng thị trường tổng quát (nhiều lọai hàng hóa)
Xét thị trường n lọai hàng hóa.Khi đó,giá của lọai hàng hóa này có thể ảnh hưởng đến lượng cung và lượng cầu của các lọai hàng hóa còn lại
Ta có ký hiệu các biến số như sau :
Gía hàng hóa thứ i : pi i=1,2,…,n
Lượng cung hàng hóa thứ i : Qsi ,i=1,2,…,n
Lượng cầu hàng hóa thứ i : Qdi ,i=1,2,…,n
Ta vẫn giả sử hàm cung và hàm cầu phụ thuộc tuyến tính theo giá,nghĩa là:
Qsi(p1,p2, ,pn)=ai0+ai1p1+ai2p2+ +ainpn (a)
Qdi(p1,p2, ,pn)=bi0+bi1p1+bi2p2+ +binpn (b)
Khi đó mô hình cân bằng thị trường tổng quát đối với n lọai hàng hóa được biểu diễn bởi các đẳng thức
Qsi(p1,p2, ,pn)= Qdi(p1,p2, ,pn) ( c ) i=1,2, ,n
Thay (a), (b) vào (c ) và chuyển vế rồi đặt cij= aij- bij ( i,j=1,2,…,n) ta được hệ phương trình:
Hệ này gọi là hệ phương trình tuyến tính xác định giá cân bằng thị trường Gỉai hệ này
ta tìm được giá cân bằng của từng lọai hàng hóa, từ đó tìm được lượng cung và cầu cân bằng của n lọai hàng hóa đã cho
a)Hãy tìm giá cân bằng của từng lọai hàng hóa
b)Xác định lượng cung và cầu cân bằng của mỗi lọai hàng hóa đã cho
Trang 23Vậy giá cân bằng mỗi loại là P1= 6 ;p2=3 ;p3= 8 Ta gọi bộ
( 55/34,20/51,43/68)là điểm cân bằng thị trường Từ đó ta tinh được lượng cung,lượng cầu của từng loại hàng hóa : Q s1 Q d1123/17
2 2
Q Q 75/17 ; Q s3 Q d3 60/17
1.6.2 Mô hình INPUT - OUTPUT
Phần này giới thiệu mô hình INPUT-OUPUT còn gọi là mô hình I/O hay mô hình cân đối liên ngành.Mô hình này đề cập đến việc xác định tổng cầu đối với sản phẩm của mỗi ngành sản xuất trong tổng thể nền kinh tế đa ngành của một quốc gia.Mô hình này được xét trong một vài giả thiết dưới đây:
+Một ngành kinh tế chỉ sản xuất một lọai hàng hóa
+Mỗi ngành đều sử dụng một tỷ lệ cố định của các sản phẩm của ngành khác làm đầu vào cho sản xuất đầu ra của mình
+Khi đầu vào thay đổi k lần thì đầu ra cũng thay đổi k lần
Xét nền kinh tế gồm n ngành sản xuất mà ta gọi là ngành 1,ngành 2,…ngành n
Ta có một số khái niệm sau đây
Cầu trung gian xij là giá trị hàng hóa mà ngành j cần mua của ngành i để dùng cho sản xuất của ngành j hay còn gọi là lượng cầu trung gian mà ngành j đòi hỏi ngành i cung cấp cho mình i, j=1,2,…n
Cầu cuối bi : là giá trị hàng hóa của ngành i cần cho lao động, tiêu dùng, dịch vụ và xuất khẩu của quốc gia, i=1,2,…,n
Tổng cầu của mỗi ngành xi : là tổng tất cả lượng cầu trung gian và lượng cầu cuối của ngành
Trang 24Nếu ở dạng phần trăm, aij chính là tỷ lệ của cầu trung gian mà ngành j cần mua của ngành i so với tổng cầu của ngành j
Còn để ở dạng thập phân, aij chính là tỉ phần chi phí mà ngành j phải trả cho ngành i để sản xuất ra một đơn vị giá trị hàng hóa của ngành j
Từ (*) ta có hệ phương trình tuyến tính sau:
Dùng ngôn ngữ ma trận
Đặt A = [aij] ma trận gồm các hệ số tỉ phần aij Ta gọi A là ma trận kỹ thuật hay ma trận đầu vào của nền kinh tế Mỗi phần tử aij được gọi là một hệ số đầu vào
B=[bi] được gọi là ma trân hay cột cầu cuối của nền kinh tế
X=[xi] được gọi là ma trân hay cột đầu ra của nền kinh tế
Lúc này mô hình INPUT-OUTPUT được viết lại ở dạng ma trận như sau:
Tổng các phần tử trên cột j chính là tỉ phần chi phí đầu vào mà ngành j phải trả cho việc mua hàng hóa trung gian tính trên 1 đơn vị giá trị hàng hóa của mình do đó không vượt qúa 1 Hiệu a0j = 1-
1
1
n ij i
1
n ij i
a
là tổng chi phí đầu vào để có được 1 USD giá trị hàng hóa đó
b) Tìm hệ số tỉ phần gia tăng a0j của từng ngành (j=1,2,3).Gỉai thích ý nghĩa hệ số a01
c) Tìm đầu ra cho mỗi ngành
Trang 25Gỉai
a)Gỉa sử giá trị hàng hóa đƣợc tính bằng USD.Khi đó, hệ số a32 =0,4 có nghĩa nhƣ sau:
để sản xuất ra 1USD giá trị hàng hóa của ngành 2 cần mua 0,4 USD giá trị hàng hóa của ngành 3
b)Tổng các phần tử trên mỗi cột của ma trận A đều nhỏ hơn 1.Ta có hệ tỉ phần gia tăng của các ngành là:
Ở đây X là ma trận đầu ra,B là ma trận cầu cuối
Tìm ma trận nghịch đảo của ma trận I-A ta có
x x x
CÂU HỎI ÔN TẬP
1 Khái niệm hiệu quả kinh tế? Vai trò nâng cao hiệu quả kinh tế trong doanh nghiệp?
2 Nêu hệ thống chỉ tiêu hiệu quả kinh tế tổng hợp trong doanh nghiệp? Ý nghĩa của từng chỉ tiêu ?
3 Nêu hệ thống chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh bộ phận ? Ý nghĩa của từng chỉ tiêu? Mối quan hệ giữa chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh tổng hợp và bộ phận?
Trang 264 Nêu biện pháp nâng cao hiệu quả kinh tế trong doanh nghiệp?
Trang 27Chương 2: PHÂN TÍCH SẢN XUẤT 2.1 Lý thuyết sản xuất
Sau khi đã phân tích các vấn đề về khía cạnh cầu trong chương trước, bây giờ chúng ta chuyển sang các vấn đề về cung mà đại diện cho nó là các nhà sản xuất hay các doanh nghiệp Làm thế nào mà các doanh nghiệp quyết định được phải sử dụng bao nhiêu lao động, máy móc thiết bị, nguyên vật liệu, sản xuất bao nhiêu sản phẩm và nên bán với giá bao nhiêu? Lý thuyết về cung sẽ cho ta biết về các vấn đề đó
Chương này nghiên cứu hành vi sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp nhằm giải quyết mối quan hệ giữa sản lượng, chi phí và lợi nhuận Nói cách khác, chúng ta sẽ nghiên cứu cách thức các doanh nghiệp quyết định sản lượng và tính toán các chi phí để thu được lợi nhuận tối đa
2.1.1 Sản xuất là gì
Sản xuất là hoạt động tạo ra sản phẩm của các doanh nghiệp nhằm đáp ứng nhu cầu
của người tiêu dùng Nói cách khác, sản xuất là quá trình chuyển hóa các yếu tố đầu vào
thành các yếu tố đầu ra (hay là sản phẩm)
a Yếu tố đầu vào và yếu tố đầu ra
Yếu tố đầu vào hay còn gọi là yếu tố sản xuất là bất kỳ hàng hóa hay dịch vụ nào được dùng để sản xuất ra hàng hóa, dịch vụ khác Yếu tố đầu vào bao gồm lao động, máy
móc thiết bị, nhà xưởng, nguyên vật liệu, năng lượng, v.v Hàng hóa và dịch vụ là những đầu
ra của sản xuất
Thí dụ, Công ty Coca Cola sử dụng các yếu tố đầu vào là lao động, máy móc thiết bị,
nước, gaz, đường, v.v để sản xuất ra nước giải khát Lao động ở đây có thể được hiểu là thời gian làm việc của người vận hành máy móc, nhà quản lý, công nhân v.v Các yếu tố sản xuất khác được gọi chung là vốn như: nguyên vật liệu, máy móc, thiết bị, nhà xưởng, v.v Chúng ta
có thể thấy rằng mỗi quá trình sản xuất cụ thể sẽ cần những yếu tố đầu vào riêng của chúng Chẳng hạn, yếu tố đầu vào của một buổi hòa nhạc là thời gian làm việc của người biểu diễn,
kỹ thuật viên âm thanh, nhà quản lý nhà hát và những người có liên quan, các thiết bị âm
thanh, v.v Để sản xuất ra lúa gạo, chúng ta cần có nước, phân, lao động, giống, v.v Vì vậy, để
nghiên cứu một quá trình sản xuất tổng quát, chúng ta có thể chia các đầu vào, theo tiêu thức
chung nhất của mọi quá trình sản xuất, thành lao động và vốn Chúng ta nên lưu ý rằng công
nghệ sản xuất ra một sản phẩm nào đó không thuộc phạm vi nghiên cứu của kinh tế học mà là đối tượng của các nhà kỹ thuật Các nhà kinh tế chỉ quan tâm đến hiệu quả của việc sản xuất ở một trình độ công nghệ nhất định
b Công nghệ
Mối quan hệ giữa yếu tố đầu vào và đầu ra được quyết định bởi kỹ thuật sản xuất hay
còn gọi là công nghệ Công nghệ là cách thức sản xuất ra hàng hóa, dịch vụ Công nghệ được
cải tiến khi có những phát minh khoa học mới được áp dụng trong sản xuất Công nghệ tiến
bộ sẽ dẫn đến những phương pháp sản xuất mới mà chúng có thể sử dụng tài nguyên hiệu quả hơn Điều này có nghĩa là những công nghệ mới có thể sản xuất ra nhiều sản phẩm hơn với cùng số lượng các yếu tố đầu vào như trước hay thậm chí ít hơn Với những công nghệ mới, máy móc thiết bị có năng suất cao hơn và công nhân có thể đạt năng suất cao hơn Những điều này làm tăng năng lực sản xuất của nền kinh tế
c Hàm sản xuất
Mối quan hệ giữa số lượng các yếu tố đầu vào và số lượng đầu ra (sản phẩm) làm ra
Trang 28của quá trình sản xuất được biểu diễn bằng hàm sản xuất Hàm sản xuất của một loại sản
phẩm nào đó cho biết số lượng sản phẩm tối đa của sản phẩm đó (ký hiệu là q) có thể được sản xuất ra bằng cách sử dụng các phối hợp khác nhau của vốn (K) và lao động (L), với một trình độ công nghệ nhất định Vì thế, hàm sản xuất thông thường được viết như sau:
(2.1)
Trong đó: q là số lượng sản phẩm tối đa có thể được sản xuất ra ở một trình độ công nghệ nhất định ứng với các kết hợp của các yếu tố đầu vào là lao động (L) và vốn (K) khác nhau Hàm sản xuất chỉ có ý nghĩa đối với những giá trị không âm của K và L Thông thường
hàm sản xuất được giả định là hàm số đồng biến với vốn và lao động, nghĩa là
và trong miền xác định của hàm số sản xuất vì trong một chừng mực nhất định, khi
sử dụng nhiều yếu tố đầu vào hơn, nhà sản xuất sẽ sản xuất ra nhiều sản phẩm hơn
Số lượng sản phẩm q sản xuất ra thay đổi tùy thuộc vào sự thay đổi của số lượng vốn
và lao động Hàm sản xuất trong phương trình (2.1) áp dụng cho một trình độ công nghệ nhất
định Một hàm số f cụ thể có thể đặc trưng cho một trình độ công nghệ nhất định Khi công
nghệ thay đổi thì hàm sản xuất sẽ thay đổi và số lượng sản phẩm sản xuất ra sẽ lớn hơn với cùng số lượng các yếu tố như trước hay thậm chí ít hơn
Như ta đã biết, hàm sản xuất mô tả mối quan hệ giữa số lượng của các yếu tố đầu vào (vốn và lao động) và sản lượng đầu ra Thí dụ, hàm sản xuất có thể biểu diễn sản lượng lúa
mà một nông dân có thể thu hoạch được với một số lượng lao động và diện tích đất đai, phân bón, thuốc trừ sâu nhất định; hàm sản xuất mô tả số lượng áo quần do một xưởng may sản xuất ra trong, chẳng hạn, một tuần khi sử dụng một số lượng lao động và máy móc thiết bị nào đó
2.1.2 Năng suất biên và năng suất trung bình
Để xem xét tác động của một yếu tố sản xuất nào đó đến sản lượng, chúng ta khảo sát
sự thay đổi của sản lượng khi số lượng yếu tố sản xuất đó thay đổi trong khi các yếu tố sản xuất khác giữ nguyên Bây giờ, chúng ta hãy xét ảnh hưởng của lao động (hay vốn) đến sản lượng đầu ra khi số lượng lao động (hay vốn) được sử dụng trong sản xuất thay đổi trong khi
số vốn (hay lao động) không đổi Khi xem xét tác động này, ta có các khái niệm về năng suất biên và trung bình
a Năng suất biên
Trước hết, chúng ta hãy phân tích quá trình sản xuất lúa của một nông dân Để sản xuất ra lúa, giả sử người nông dân cần hai yếu tố đầu vào chủ yếu là đất đai và lao động Giả
sử anh ta có một diện tích đất và các công cụ sản xuất cố định nhưng anh ta có thể thuê nhiều hay ít lao động tùy theo điều kiện sản xuất
Bảng 2.1 mô tả mối quan hệ giữa số lượng các yếu tố đầu vào và sản lượng lúa của quá trình sản xuất này Diện tích đất đai được giữ cố định ở một đơn vị (1 hecta chẳng hạn) và
số lượng lao động được sử dụng trong sản xuất tăng dần từ 1 đến 10 Rõ ràng, nếu không có lao động nào thì quá trình sản xuất không diễn ra và sản lượng sẽ bằng không Khi bắt đầu sử dụng một lao động, sản lượng tăng lên 3 đơn vị; ta nói năng suất biên của người lao động thứ nhất là 3 Khi tăng số lao động lên 2, sản lượng tăng từ 3 lên 7 đơn vị; ta nói năng suất biên của lao động thứ hai này là 4 Tương tự, khảo sát sự thay đổi của sản lượng khi tăng dần số
Trang 29lao động, chúng ta có thể hình thành cột năng suất biên của lao động Đó là cột 4 trong bảng 2.1
Năng suất biên của một yếu tố sản xuất nào đó (vốn hay lao động) là lượng sản phẩm tăng thêm được sản xuất ra do sử dụng thêm một đơn vị yếu tố sản xuất đó Như vậy, năng
suất biên của vốn và lao động có thể được tính lần lượt như sau:
, (2.2)
, (2.3)
trong đó: MPK và MPL lần lượt là năng suất biên của vốn và lao động
Bảng 2.1 Mối quan hệ giữa yếu tố đầu vào và đầu ra của sản xuất lúa
Như vậy, năng suất biên của một yếu tố sản xuất nào đó chính là đạo hàm của tổng
sản lượng theo số lượng yếu tố sản xuất đó Như vậy, về mặt hình học, năng suất biên là độ dốc của đường tiếp tuyến của đồ thị hàm sản xuất tại từng điểm cụ thể
b Quy luật năng suất biên giảm dần
Quan sát sự biến đổi của năng suất biên khi số lao động tăng lên, chúng ta nhận thấy năng suất biên lúc đầu tăng lên nhưng khi số lao động từ 4 trở lên năng suất biên lại có xu hướng giảm dần
Chúng ta hãy tìm hiểu xem tại sao lại có sự giảm dần này trong quá trình sản xuất Với diện tích đất đai là 1 ha, người lao động đầu tiên có cả diện tích đất và công cụ để làm việc Anh ta có rất nhiều công việc để làm và có thể diện tích đó là quá sức đối với anh ta Với sự giúp đỡ của người thứ hai hay người thứ ba, mọi người sẽ sản xuất ra nhiều hơn, năng suất biên của những người này tăng dần Với 3 lao động, diện tích đất có thể vừa đủ để mọi người làm việc hết sức mình và mỗi người chuyên tâm làm công việc theo kỹ năng của mình chẳng hạn như: cắt lúa, vận chuyển và phơi Khi số lao động tăng lên 4, diện tích đất cũng như số công cụ lao động phải được chia sẻ cho mỗi người và họ sẽ không làm việc hết khả năng của
Trang 30mình Sản lượng sẽ tăng chậm hơn và năng suất biên của người thứ tư giảm xuống Rõ ràng khi thêm nhiều lao động thì mỗi lao động chỉ có ít vốn và diện tích để làm việc, thời gian
“chết” nhiều hơn và mỗi người khó có thể làm việc theo khả năng của mình nên năng suất biên cứ giảm dần Cho đến người thứ tám, công việc của người này có thể là mang nước uống cho những người khác nên hầu như sản lượng không tăng lên nữa và năng suất biên của anh ta bằng không Ở những mức lao động cao hơn, tình trạng lãng công có thể xảy ra nên sản lượng
có thể giảm sút Năng suất biên có thể âm
Đối với hầu hết các quá trình sản xuất, năng suất biên của các yếu tố sản xuất (vốn và lao động) cũng diễn biến theo quá trình tương tự Do vậy, quy luật năng suất biên giảm dần có thể được phát biểu như sau:
"Nếu số lượng của một yếu tố sản xuất tăng dần trong khi số lượng (các) yếu tố sản xuất khác giữ nguyên thì sản lượng sẽ gia tăng nhanh dần Tuy nhiên, vượt qua một mốc nào
đó thì sản lượng sẽ gia tăng chậm hơn Nếu tiếp tục gia tăng số lượng yếu tố sản xuất đó thì tổng sản lượng đạt đến mức tối đa và sau đó sẽ sút giảm."
Trong phân tích sản xuất, chúng ta giả định rằng tất cả các yếu tố đầu vào đều có chất lượng như nhau Năng suất biên giảm dần là kết quả của những hạn chế khi sử dụng các đầu vào cố định khác (như máy móc, thiết bị chẳng hạn)
Quy luật năng suất biên giảm dần tác động đến hành vi và quyết định của doanh nghiệp trong việc lựa chọn các yếu tố đầu vào như thế nào để tăng năng suất, giảm chi phí và tối đa hóa lợi nhuận
c Năng suất trung bình
Cột thứ năm của bảng 2.1 mô tả năng suất trung bình của lao động, tức là sản lượng
tính trên mỗi đơn vị lao động Năng suất trung bình của một yếu tố sản xuất nào đó được tính
bằng cách lấy tổng sản lượng chia cho số lượng yếu tố sản xuất đó Ta có thể tính năng suất
lao động trung bình và năng suất vốn trung bình theo các công thức sau:
, (2.4)
, (2.5)
trong đó: APL và APK lần lượt là năng suất trung bình của lao động và của vốn
Trong thí dụ trên, năng suất trung bình của lao động lúc đầu cũng tăng lên nhưng sau
đó giảm đi khi số lao động từ 4 trở lên Chúng ta có thể nhận thấy năng suất trung bình của lao động giảm xuống khi năng suất biên thấp hơn năng suất trung bình Ngược lại, năng suất trung bình tăng lên khi năng suất biên lớn hơn năng suất trung bình
d Đồ thị tổng sản lượng, đường năng suất biên và đường năng suất trung bình
Từ bảng 2.1, chúng ta có thể xây dựng hình dạng của các đường tổng sản lượng, đường năng suất biên và năng suất trung bình của lao động như hình 2.1
Đường tổng sản lượng, đường năng suất biên và đường năng suất trung bình có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Vì năng suất biên là đạo hàm của tổng sản lượng nên về mặt hình học, nó là độ dốc của đường tổng sản lượng Ở những mức lao động đầu tiên, tổng sản lượng tăng rất nhanh nên độ dốc của đường này tăng và như vậy năng suất biên tăng, đường năng suất biên dốc lên Khi số lao động lớn hơn 3, tổng sản lượng tăng chậm dần, độ dốc của đường sản lượng giảm nên năng suất biên giảm Đường năng suất biên dốc xuống Sau đó,
Trang 31đường sản lượng đạt cực đại, điều này cũng có nghĩa là việc tăng thêm số lao động không làm tăng thêm sản lượng Vì vậy, lúc này, năng suất biên sẽ bằng không Đường năng suất biên cắt trục hoành Sau đó, sản lượng giảm xuống, đường tổng sản lượng có độ dốc âm nên năng suất biên âm
Đối với đường năng suất lao động trung bình: Trên đồ thị 2.1, ta thấy đường năng suất
lao động trung bình cắt đường năng suất lao động biên tại điểm có hoành độ là L 2 Tại điểm này, năng suất lao động trung bình đạt cực đại
Trên đường tổng sản lượng q, ta có thể chọn một điểm bất kỳ và kẻ một đường thẳng bất kỳ từ gốc tọa độ đến điểm này Ta có thể chứng minh được một cách dễ dàng là năng suất
lao động trung bình của số lao động ứng với điểm này sẽ chính là độ dốc của đường thẳng này Tại điểm ứng với số lượng lao động là L 2, đường kẻ từ gốc tọa độ sẽ tiếp xúc với đường tổng sản lượng Như thế, tại đây năng suất lao động trung bình sẽ bằng với năng suất lao động
biên Với số lao động thấp hơn mức L 2, độ dốc của đường thẳng kẻ từ gốc tọa độ sẽ nhỏ hơn
độ dốc của đường q nên AP < MP Khi đó, năng suất trung bình sẽ tăng lên nếu ta gia tăng số
lượng lao động Thí dụ, giả sử một lao động duy nhất của một nông trang có thể cắt được 1 công lúa một ngày, năng suất trung bình của người này cũng là 1 công/ngày/người Khi thuê thêm một lao động nữa, cả hai người cắt được 3 công lúa một ngày nên năng suất biên của người thứ hai là hai, cao hơn năng suất trung bình của người thứ nhất nên sẽ làm năng suất trung bình của cả hai người tăng lên, đó là, 1,5 công/ngày/người
Cũng giống như thế, đối với các điểm phía phải của điểm L 2 , thì AP > MP, và do vậy
năng suất trung bình giảm dần khi ta sử dụng thêm lao động Thí dụ, giả sử người chủ nông
Hình 2.1:
Trang 32trại thuê thêm người thứ 3, người này có năng suất biên là 1 công, thấp hơn năng suất trung bình của hai người ban đầu Do đó, năng suất trung bình của ba người giảm xuống còn 1,33
Như vậy, tại điểm năng suất lao động trung bình bằng với năng suất lao động biên thì
năng suất lao động trung bình là cực đại Chúng ta có thể chứng minh nhận xét này qua hàm
(3) Năng suất lao động trung bình đạt cực đại tại điểm năng suất lao động trung bình
bằng với năng suất lao động biên:
Năng suất lao động trung bình đạt tối đa khi:
đơn vị lao động
Tại điểm này, năng suất lao động trung bình là: APL = 900.000 đơn vị sản phẩm Tại
đó, năng suất lao động biên: MPL = 900.000 đơn vị sản phẩm Vậy, tại điểm năng suất trung
bình bằng với năng suất biên của lao động, năng suất trung bình đạt cực đại
e Tác động của tiến bộ công nghệ đến sản lượng
Chúng ta vừa xem xét sự thay đổi của sản lượng, năng suất biên và năng suất trung bình của lao động ứng với một trình độ công nghệ nhất định Theo thời gian, do có những phát minh, sáng chế làm cho trình độ công nghệ của một quá trình sản xuất được cải tiến Qui trình sản xuất được cải tiến sẽ sử dụng đầu vào có hiệu quả hơn, tức là với cùng số lượng đầu vào như trước hay ít hơn, sản lượng được tạo ra nhiều hơn Hình 2.2 minh họa sự tác động
của việc cải tiến công nghệ đến sản lượng Ban đầu, đường sản lượng là q1, những cải tiến
công nghệ làm đường sản lượng dịch chuyển lên trên tới đường q2 và sau đó là q3 Với cùng
số lao động L0, sản lượng tăng từ q1 lên q2 và sau đó là q3 khi có sự cải tiến công nghệ
Trang 33Trong phần này chúng ta sẽ tìm hiểu chi tiết hơn về sự tác động của tiến bộ công nghệ đối với sản lượng Giả sử ta có thể viết hàm sản xuất đối với một loại hàng hóa nào đó như sau:
Trong đó: A(t) phản ánh các nhân tố ảnh hưởng đến sản lượng khác với lao động (L)
và vốn (K) A(t) được định nghĩa là tiến bộ công nghệ theo thời gian Ta giả sử: , nghĩa là cùng một số lượng lao động và vốn nhưng sản lượng cao hơn theo thời gian
Từ phương trình trên, ta có thể viết:
Như ta biết, đối với một biến số x nào đó thì là tốc độ tăng trưởng của biến số
đó trên một đơn vị thời gian Áp dụng lý giải này vào công thức trên, ta được:
Trang 34Tương tự:
hệ số co giãn của sản lượng (q) theo lao động (L) =
Tóm lại, ta có:
Đẳng thức này cho thấy, tốc độ tăng trưởng của sản lượng được cấu thành bởi hai nhân tố: (1) tốc độ tăng trưởng của vốn và lao động; và (2) tiến bộ công nghệ
Theo các nhà kinh tế, tiến bộ công nghệ ảnh hưởng đến sản lượng qua một trong ba cách sau:
1 Tiến bộ công nghệ trung dung:
Đẳng thức này cho thấy tiến bộ công nghệ có ảnh hưởng đến cả vốn và lao động Khi công nghệ sản xuất đạt đến trình độ cao hơn, cả năng suất vốn và năng suất lao động cùng được cải thiện, làm cho sản lượng cao hơn
2 Tiến bộ công nghệ liên quan đến vốn:
Đẳng thức này cho thấy tiến bộ công nghệ chỉ ảnh hưởng đến năng suất vốn Thí dụ, máy móc thiết bị sẽ có năng suất cao hơn khi tiến bộ công nghệ được áp dụng
3 Tiến bộ công nghệ liên quan đến lao động:
Đẳng thức này cho biết tiến bộ công nghệ chỉ ảnh hưởng đến năng suất lao động
2.1.3 Đường đẳng lượng
a Đương đẳng lượng
Giả sử chúng ta có các kết hợp của các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất vải của một doanh nghiệp được cho trong bảng 4.2 như sau
Bảng 2.2 Số mét vải được sản xuất ra trong ngày
Các kết hợp đầu vào tạo ra cùng một sản lượng sẽ được biểu diễn trên một đường đẳng lượng Thí dụ, để sản xuất ra 75 mét vải trong một ngày, doanh nghiệp có thể sử dụng các kết
hợp đầu vào sau: i) 1L và 5K; ii) 2L và 3K; iii) 3L và 2K; hay 5L và 1K Nếu chúng ta xem số giờ sử dụng lao động (L) và máy móc (K) là những đại lượng liên tục, ta có thể nhận thấy sẽ
Trang 35có vô số tập hợp đầu vào giữa L và K có thể cùng tạo ra 75 mét vải ngoài bốn tập hợp như đã
nêu trên Các tập hợp này sẽ cùng nằm trên một đường gọi là đường đẳng lượng
Đường đẳng lượng cho biết các kết hợp khác nhau của vốn và lao động để sản xuất ra
đẳng lượng như sau:
(4.6)
Đường đẳng lượng tại mức sản lượng 75 mét vải có thể được vẽ như đường q0 trong
hình 2.3 Các đường q2 và q3 biểu diễn những mức sản lượng cao hơn như 90 và 100 mét vải
Những điểm trên đường q0 biểu diễn tất cả những kết hợp đầu vào có thể sản xuất ra 75 mét vải một ngày, ứng với một trình độ công nghệ nhất định Đường đẳng lượng cho thấy có rất
nhiều cách để sản xuất ra một mức đầu ra nhất định Để sản xuất ra q0, chúng ta có thể cơ giới
hóa cao độ (sử dụng nhiều vốn và ít lao động) như điểm A Tại điểm A, doanh nghiệp sử dụng
đến 5 giờ máy móc và chỉ có 1 giờ lao động Mặt khác, chúng ta cũng có thể sử dụng nhiều
lao động và ít máy móc để sản xuất ra một mức sản lượng nhất định, như điểm D Tại đây,
doanh nghiệp lại có thể sử dụng nhiều lao động (5 giờ) và ít máy móc (1 giờ)
Đường đẳng lượng có những tính chất tương tự như đường bàng quan của người tiêu dùng như đã trình bày trong Chương 3 Trong khi đường bàng quan biểu diễn những tập hợp hàng hóa tạo ra cùng một mức hữu dụng, đường đẳng lượng biểu diễn những kết hợp đầu vào khác nhau có thể tạo ra cùng một mức sản lượng Như vậy, đẳng lượng cũng có bốn đặc trưng giống như đường bàng quan
Các đường đẳng lượng này có các đặc điểm sau:
1 Tất cả những phối hợp khác nhau giữa vốn và lao động trên một đường đẳng lượng sẽ
sản xuất ra một số lượng sản phẩm như nhau Chẳng hạn, hai điểm A và B trên đường đẳng lượng q 0 (ứng với số vốn là KA và số lao động là LA; số vốn là KB và số lao động
là LB) sẽ cùng tạo ra mức sản lượng là q 0
2 Tất cả những phối hợp nằm trên đường cong phía trên (phía dưới) mang lại mức sản
lượng cao hơn (thấp hơn) Chẳng hạn, các điểm nằm trên đường sản lượng q 2 sẽ mang lại
mức sản lượng cao hơn các điểm nằm trên đường đường sản lượng q 1 hay q 0
3 Đường đẳng lượng thường dốc xuống về hướng bên phải và lồi về phía gốc tọa độ Tính chất này có thể được giải thích bằng quy luật tỷ lệ thay thế kỹ thuật biên giảm dần
4 Những đường đẳng lượng không bao giờ cắt nhau
Trên một hệ trục ta có thể vẽ ra rất nhiều đường đẳng lượng tùy theo mức sản lượng
Hình 2.3:
Trang 36mà chúng ta cần đạt tới Các nhà sản xuất sẽ linh hoạt sử dụng những kết hợp đầu vào tạo ra cùng một sản lượng nhưng họ sẽ chọn tập hợp có chi phí thấp nhất khi xét đến yếu tố giá của các đầu vào
b Tỉ lệ thay thế kỹ thuật biên
Khi dịch chuyển dọc trên một đường đẳng lượng, ta thấy có sự thay thế giữa các yếu
tố sản xuất để tạo ra một mức sản lượng không đổi Ví dụ, di chuyển từ điểm A đến điểm B trên đường q0, ta đã thay thế 2 đơn vị vốn bằng 1 đơn vị lao động để tạo ra 75 mét vải
Để đo lường mức độ thay thế giữa vốn và lao động, ta có khái niệm tỷ lệ thay thế kỹ thuật biên
Khái niệm: Tỷ lệ thay thế kỹ thuật biên của vốn cho lao động là số đơn vị vốn phải
bớt đi để tăng thêm một đơn vị lao động mà không làm thay đổi tổng sản lượng
Ta có thể viết công thức tính tỷ lệ thay thế kỹ thuật biên như sau:
(2.7)
Trong đó: MRTSK cho L là tỷ lệ thay thế kỹ thuật biên của vốn cho lao động Ký
hiệu q = q0 cho ta thấy là việc tính toán tỷ lệ thay thế kỹ thuật biên được thực hiện trên đường
đẳng lượng q0 Dấu trừ (-) trong công thức 2.7 để giữ cho tỷ lệ thay thế kỹ thuật biên có giá trị dương Vì vậy, tỷ lệ thay thế kỹ thuật biên cho biết độ lớn của sự thay thế của hai đầu vào vốn
và lao động Căn cứ vào công thức này ta có thể thấy nghịch dấu với độ dốc của đường đẳng
lượng tại một điểm nào đó chính là tỷ lệ thay thế kỹ thuật biên của vốn cho lao động tại điểm
đó
Di chuyển từ điểm A đến điểm B trên đường q0 trong hình 2.4, số lao động tăng thêm
1 đơn vị, trong khi số vốn giảm đi 2 đơn vị Vậy tỷ lệ thay thế kỹ thuật biên là 2, nghĩa là một đơn vị lao động có thể thay thế cho hai đơn vị vốn mà không làm thay đổi sản lượng Tương
tự khi di chuyển từ điểm B đến C, tỷ lệ thay thế kỹ thuật biên là 1/1 = 1, một đơn vị lao động
có thể thay thế cho 1 đơn vị vốn mà không làm thay đổi sản lượng
Như vậy, di chuyển dọc theo đường đẳng lượng về phía phải, tỷ lệ thay thế kỹ thuật biên giảm dần Rõ ràng, khi số lao động càng tăng lên thì năng suất biên của lao động giảm dần Trong khi đó, số vốn giảm dần đến những đơn vị vốn có năng suất biên cao hơn Vì vậy,
số vốn cần phải giảm đi để tăng thêm một đơn vị lao động mà không làm thay đổi sản lượng
Hình 2.4:
Trang 37sẽ giảm dần và do đó đường đẳng lượng sẽ trở nên thoải hơn Chúng ta gọi điều này là quy
luật tỷ lệ thay thế kỹ thuật biên giảm dần
c Mối quan hệ giữa tỉ lệ thay thế kỹ thuật biên với năng suất biên
Từ quy luật tỷ lệ thay thế kỹ thuật biên giảm dần, chúng ta thấy rằng tỷ lệ thay thế kỹ thuật biên có quan hệ chặt chẽ với năng suất biên của lao động và vốn
Khi giảm sử dụng một số lượng aK của đầu vào K, làm sản lượng giảm đi một
lượng Lượng giảm sút của sản lượng này sẽ được bù đắp bằng việc tăng sử dụng
đầu vào L một lượng bL để cho sản lượng không đổi Sản lượng tăng thêm từ việc tăng L là phải bù đắp vừa đủ sản lượng mất đi từ việc giảm K (là ) Do vậy:
(2.8)
Vì vậy, tỷ lệ thay thế kỹ thuật biên vốn của vốn cho lao động bằng với tỷ số giữa năng
suất lao động biên (MPL) và năng suất vốn biên (MPK)
Ta còn có thể chứng minh mối quan hệ này bằng phương pháp khác như sau:
Ta có hàm sản xuất:
Ta có thể suy ra:
Vì đi dọc theo một đường đẳng lượng, tổng sản lượng là không thay đổi Do đó:
Công thức này diễn giải bằng toán học mối quan hệ nói trên
Thí dụ: Giả sử ta có hàm số sản xuất với dạng Cobb-Douglas như sau:
Chúng ta thấy rằng tỷ lệ thay thế kỹ thuật biên của K cho L trong trường hợp này sẽ
giảm dần khi số lượng lao động được sử dụng tăng lên
2.1.4 Một số hàm sản xuất thông dụng và đường đẳng lượng tương ứng
Hình dạng của đường đẳng lượng của một quá trình sản xuất phụ thuộc vào mức độ thay thế giữa vốn và lao động Chúng ta hãy xem xét các dạng hàm sản xuất đặc biệt sau
a Hàm sản xuất tuyến tính
q = aK +bL (a, b ≠ 0)
Với hàm sản xuất này, khi vốn hay lao động tăng thêm một đơn vị thì sản lượng sẽ
Trang 38tăng thêm một lượng cố định tương ứng là a (hay b) đơn vị Do vậy, năng suất biên của vốn hay lao động cũng chính là các hệ số a hay b Như vậy, năng suất biên của vốn và lao động
không thay đổi khi số đơn vị vốn và lao động được sử dụng tăng thêm Do đó, đường biểu diễn mối quan hệ giữa sản lượng và mỗi yếu tố đầu vào (vốn và lao động) là các đường thẳng
dốc lên có độ dốc là a hay b, nếu yếu tố đầu vào kia không đổi)
Phương trình của đường đẳng lượng ứng với hàm sản xuất tuyến tính là:
chúng Tại điểm A trong hình 4.5a, để sản xuất ra mức sản lượng q1, nhà sản xuất chỉ sử dụng
vốn mà không có lao động nào Ngược lại, tại điểm B, nhà sản xuất chỉ sử dụng lao động Giữa hai điểm A và B, nhà sản xuất có thể sử dụng kết hợp giữa vốn và lao động Tuy nhiên,
hàm sản xuất này ít gặp trong thực tế vì ít nhất một máy móc nào đó cần có người nhấn nút hay người lao động cần được trang bị ít nhất một máy móc hay công cụ lao động nào đó Hàm sản xuất tuyến tính có thể thấy ở những trạm thu phí giao thông Trong việc bán vé, nhà quản lý có thể chọn cách bán vé bằng máy tự động và không sử dụng lao động hay chỉ sử dụng người bán vé mà không sử dụng máy bán vé tự động Ở các nước phát triển, do giá lao động thường đắt đỏ nên họ thường sử dụng máy bán vé tự động, trong khi ở nước ta, giá lao động thấp hơn nên chúng ta dùng người bán vé
b Hàm sản xuất tỷ lệ kết hợp cố định
q = min (aK,bL); a, b>0
Phương trình hàm sản xuất: q = min (aK,bL) cho biết rằng số lượng sản phẩm sản xuất
ra bằng với giá trị nhỏ nhất của hai giá trị trong ngoặc
Nếu aK < bL thì q = aK Trong trường hợp này, ta nói vốn là yếu tố ràng buộc đối với hàm sản xuất Việc tăng thêm lao động không làm gia tăng sản lượng nên MPL= 0 Vốn là
yếu tố quyết định
Nếu aK > bL thì q = bL Trong trường hợp này, ta nói lao động là yếu tố ràng
buộc đối với hàm sản xuất Việc tăng thêm vốn không làm gia tăng sản lượng
nên MPK= 0 Lao động là yếu tố quyết định
Khi aK = bL, cả hai yếu tố K và L được sử dụng tối đa Khi đó Đẳng thức này xảy ra tại các điểm gốc của đường đẳng lượng Ta có thể vẽ được một đường thẳng nối
các điểm gốc này (vì : đây là phương trình của một đường thẳng) Trên
hình 4.5b các điểm A, B, và C là những phương án kết hợp đầu vào có hiệu quả
Với hàm sản xuất này, vốn và lao động phải được sử dụng với một tỷ lệ nhất định, chúng không thể thay thế cho nhau Mỗi một mức sản lượng đòi hỏi một phương án kết hợp đặc biệt giữa lao động và vốn Trong trường hợp này, ta không thể tạo thêm sản lượng nếu như không đưa thêm vào cả vốn và lao động theo một tỷ lệ cụ thể Do đó các đường đẳng
Trang 39lượng hình chữ L
Một ví dụ về hàm sản xuất này là công việc xây dựng hè phố bê tông bằng cách sử dụng búa khoan Mỗi búa khoan cần một công nhân điều khiển, khối lượng công việc hoàn thành chắc chắn không tăng lên khi hai người cùng sử dụng một búa hay khi một người được trang bị hai búa Trong ngành công nghiệp may mặc, một người thợ may làm việc với một máy may Anh ta không thể sản xuất nhiều hơn với nhiều máy may hơn Để tăng sản lượng,
số thợ may và số máy may phải tăng theo tỷ lệ tương ứng: một máy/một lao động Loại hàm sản xuất này cũng có thể quan sát thấy trong dịch vụ taxi hay một số dịch vụ khác
Đối với một quá trình sản xuất được đặc trưng bởi đường đẳng lượng có dạng như thế
này, nhà sản xuất sẽ chọn các điểm dọc theo đường ứng với là cố định (hình 2.5b)
c Hàm sản xuất COBB-DOUGLAS
q = cKaLb; a,b,c > 0
Đây là trường hợp trung gian giữa hai trường hợp trên và cũng là hàm sản xuất phổ biến nhất được áp dụng để nghiên cứu mối quan hệ giữa đầu ra và đầu vào của một quá trình sản xuất Đường đẳng lượng của hàm sản xuất này là đường cong dốc xuống và lồi về phía
gốc tọa độ (hình 2.5c) Đối với đường đẳng lượng dạng này, vốn và lao động có thể thay thế
cho nhau ở một mức độ nào đó nhưng không hoàn toàn Chẳng hạn, khi di chuyển từ
điểm A đến điểm B trên đường đẳng lượng q1, ta thay thế dần lao động cho vốn Đường đẳng lượng dốc xuống về phía phải và tiệm cận với trục hoành nhưng không thể cắt trục hoành nên
số vốn sử dụng trong sản xuất không bao giờ bằng không Điều này có nghĩa là nhà sản xuất
có thể sử dụng rất nhiều lao động để thay thế cho vốn nhưng bao giờ cũng tồn tại một lượng vốn nhất định Ngược lại, vốn cũng có thể thay thế cho lao động khi di chuyển từ phải sang trái nhưng bao giờ cũng tồn tại một lượng lao động nhất định
Chúng ta có thể thấy rằng một quá trình sản xuất dù tự động hóa đến đâu cũng cần có người điều khiển dây chuyền máy móc đó hay trong một ngành nghề sản xuất thủ công, người lao động cũng cần phải được trang bị một số công cụ lao động nhất định Do vậy, đây là dạng hàm sản xuất được áp dụng phổ biến nhất trong thực tế vì nó mang những đặc điểm chung của một quá trình sản xuất
Trong điều kiện của nền kinh tế nước ta, tình trạng dư thừa lao động ở nông thôn và thành thị xảy ra rất phổ biến nên mức tiền lương chung thấp Đó là một lợi thế lớn của nước ta
Hình 2.5b:
Trang 40trong việc cạnh tranh thu hút vốn đầu tư nước ngoài Các nhà sản xuất sẽ sử dụng nhiều lao động để thay thế cho vốn mà yếu tố này thường khan hiếm và đắt đỏ đối với những nước đang phát triển như nước ta Do vậy, trong việc lựa chọn công nghệ sản xuất phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội, các nhà sản xuất thường ưu tiên cho các công nghệ sử dụng nhiều lao động Với trình độ phát triển của lực lượng lao động còn thấp, nước ta chỉ nên tập trung vào phát triển các ngành hướng về xuất khẩu và sử dụng nhiều lao động như nông nghiệp và công nghiệp hàng tiêu dùng phục vụ xuất khẩu gồm dệt may, giày dép, đồ chơi, dụng cụ sinh hoạt
gia đình, văn phòng phẩm, một số thiết bị điện sinh hoạt, v.v Đó là điều mà các nước Đông
Nam Á đã làm trong những năm 80 và Trung Quốc đang thực hiện (Chí, 2000)
2.1.5 Hiệu suất theo quy mô
Một khía cạnh khác của việc đo lường tác động của sự thay đổi của cả hai yếu tố đầu
vào đến sự thay đổi của sản lượng là nghiên cứu hiệu suất theo quy mô của một quá trình sản
xuất Chúng ta hãy xem xét sản lượng sẽ thay đổi như thế nào khi các đầu vào đồng loạt tăng lên theo cùng một tỷ lệ
Nếu một hàm sản xuất có dạng q = f(K,L) và tất cả yếu tố đầu vào được nhân với một
số nguyên dương cố định m (m > 1), ta phân loại hiệu suất theo quy mô của hàm sản xuất như
sau:
Nếu sản lượng tăng lớn hơn gấp m lần, ta gọi sản xuất có hiệu suất theo quy mô tăng Nếu sản lượng tăng đúng bằng m lần, đó là sản xuất có hiệu suất theo quy mô cố định Nếu sản lượng tăng nhỏ hơn gấp m lần, ta gọi sản xuất có hiệu suất theo quy mô giảm
Chúng ta có thể biểu diễn hiệu suất theo quy mô bằng các biểu thức như trong bảng 2.3
Bảng 2.3 Hiệu suất theo quy mô của sản xuất
3 thì : nếu ta tăng cả vốn và lao động lên gấp m lần thì sản
lượng cũng sẽ tăng nhỏ hơn m lần, ta gọi hàm Cobb-Douglas có hiệu suất quy mô giảm dần
Việc nghiên cứu hiệu suất theo quy mô của sản xuất giúp ích cho chúng ta điều gì? Một quá trình sản xuất có hiệu suất theo quy mô tăng có thể xảy ra do công nhân và các nhà