Sự cần thiết của kiểm toán còn thể hiện ở tác dụng của kiểm toán đối với nền kinh tế: Thứ nhất:Kiểm toán tạo niềm tin cho những người quan tâm Thứ hai: kiểm toán góp phần hướng dẫn nghi
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT HƯNG YÊN
ĐỀ CƯƠNG BÀI GIẢNG
KIỂM TOÁN CĂN BẢN
TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO: ĐẠI HỌC CHÍNH QUY NGÀNH ĐÀO TẠO: KẾ TOÁN DOANH NGHIỆP
Hưng Yên, năm 2016
Trang 2================================================================
Bộ môn Kế toán – Khoa kinh tế - Đại học SPKT Hưng Yên 1
MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA KIỂM TOÁN 5
1.1 Khái niệm kiểm toán 5
1.2.1 Mối quan hệ giữa khoa học kinh tế và quản lý với kiểm toán 5
1.2.1.1 Khái niệm quản lý 5
1.2.1.2 Kiểm tra, kiểm soát trong hoạt động tài chính 7
1.2.1.3 Lịch sử phát triển của kiểm tra tài chính 8
1.2.2 Sự cần thiết khách quan của kiểm toán trong nền kinh tế thị trường 9
CHƯƠNG 2: BẢN CHẤT VÀ CHỨC NĂNG CỦA KIỂM TOÁN 10
2.1 Bản chất của kiểm toán 10
2.2 Chức năng của kiểm toán 15
2.2.1 Chức năng xác minh 15
2.2.2 Chức năng bày tỏ ý kiến 16
2.3 Ý nghĩa và tác dụng của kiểm toán trong quản lý 18
CHƯƠNG 3: PHÂN LOẠI KIỂM TOÁN 21
3.1 Khái quát các cách phân loại kiểm toán: 21
3.2 Phân loại kiểm toán theo đối tượng cụ thể: 22
3.2.1 Kiểm toán tài chính: 22
3.2.2 Kiểm toán hoạt động 24
3.2.3 Kiểm toán tuân thủ 25
3.2.4 Kiểm toán liên kết: 26
3.3 Phân loại kiểm toán theo hệ thống bộ máy tổ chức 26
3.3.1 Kiểm toán nhà nước 26
3.3.2 Kiểm toán độc lập 28
3.3.3 Kiểm toán nội bộ 29
CHƯƠNG 4: ĐỐI TƯỢNG KIỂM TOÁN 30
4.1 Khái quát chung về đối tượng và khách thể kiểm toán 30
4.1.1 Đối tượng kiểm toán 30
4.1.2 Khách thể kiểm toán 30
4.1.2.1 Khái niệm 30
4.1.2.2 Phân loại khách thể kiểm toán 30
4.1.3 Cuộc kiểm toán 31
4.2 Các yếu tố cấu thành đối tượng kiểm toán 31
4.2.1 Thực trạng hoạt động tài chính- đối tượng chung của kiểm toán 31
4.2.2 Tài liệu kế toán- đối tượng cụ thể của kiểm toán 32
4.2.3 Thực trạng tài sản và nghiệp vụ tài chính- đối tượng cụ thể của kiểm toán 33 4.2.4 Hiệu quả và hiệu năng- Đối tượng cụ thể của kiểm toán 34
CHƯƠNG 5: NHỮNG KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ KIỂM TOÁN 35
5.1 Gian lận và sai sót 35
5.1.1 Gian lận 35
Trang 3================================================================
Bộ môn Kế toán – Khoa kinh tế - Đại học SPKT Hưng Yên 2
5.1.2 Sai sót 35
5.1.3 Phân biệt giữa gian lận và sai sót 36
5.1.4 Các yếu tố làm tăng hành vi gian lận và sai sót 36
5.1.5 Trách nhiệm đối với gian lận và sai sót 36
5.2 Trọng yếu và rủi ro 37
5.2.1 Trọng yếu 37
5.2.2 Rủi ro kiểm toán (AR) 38
5.3 Chứng từ kiểm toán, cơ sở dẫn liệu, bằng chứng kiểm toán, hồ sơ kiểm toán 40
5.3.1 Chứng từ kiểm toán 40
5.3.2 Cơ sở dẫn liệu 40
5.3.3 Bằng chứng kiểm toán 41
5.3.4 Hồ sơ kiểm toán 43
CHƯƠNG 6: HỆ THỐNG PHƯƠNG PHÁP KIỂM TOÁN 44
6.1 Khái quát chung về hệ thống phương pháp kiểm toán 44
6.1.1 Cơ sở xây dựng hệ thống phương pháp kiểm toán 44
6.1.2 Hệ thống phương pháp kiểm toán 45
6.2.1.1 Cân đối tổng quát 45
6.2.1.2 Kiểm toán cân đối cụ thể 45
6.2.1.3 Điều kiện áp dụng 46
6.2.3 Đối chiếu lôgic 47
6.3 Các phương pháp kiểm toán ngoài chứng từ 47
6.3.1 Kiểm kê 47
6.3.2 Thực nghiệm: 47
6.3.3 Điều tra 48
6.4 Các phương pháp kỹ thuật để phân tích hoạt động tài chính của DN 49
6.4.1 Phân tích ngang (phân tích xu hướng) 49
6.4.2 Phân tích dọc (phân tích tỷ suất tài chính) 49
CHƯƠNG 7: CHỌN MẪU ĐỐI TƯỢNG KIỂM TOÁN CỤ THỂ 51
7.1 Các Khái niệm cơ bản về chọn mẫu kiểm toán 51
7.2 Các phương pháp chọn mẫu 51
7.2.1 Chọn mẫu ngẫu nhiên ( chọn mẫu xác suất) 51
7.2.1.1 Chọn mẫu ngẫu nhiên theo bảng số ngẫu nhiên 52
7.2.1.2 Chọn mẫu ngẫu nhiên theo hệ thống ( khoảng cách) 53
7.2.1.3 Chọn mẫu ngẫu nhiên theo trương trình máy tính 54
7.2.2 Chọn mẫu phi ngẫu nhiên ( chọn mẫu phi xác suất) 54
7.2.2.1 Chọn mẫu theo lô (khối) 55
7.2.2.2 Chọn mẫu theo xét đoán nghề nghiệp của KTV 55
7.3 Kỹ thuật phân tầng ( phân tổ) trong chọn mẫu kiểm toán 55
7.4 Chọn mẫu theo đơn vị tiền tệ 56
7.4.1 Chọn mẫu theo đơn vị tiền tệ theo BSNN ( chọn mẫu dựa trên BSNN) 56
7.4.2 Chọn mẫu theo đơn vị tiền tệ theo hệ thống ( khoảng cách) 58
Trang 4================================================================
Bộ môn Kế toán – Khoa kinh tế - Đại học SPKT Hưng Yên 3
CHƯƠNG 8: TỔ CHỨC CÔNG TÁC KIỂM TOÁN 60
8.1 Khái quát về tổ chức công tác kiểm toán 60
8.2 Chuẩn bị kiểm toán 61
8.2.1 Xác định mục tiêu và phạm vi kiểm toán 61
8.2.2 Chỉ định người phụ trách công việc kiểm toán và chuẩn bị điều kệin vật chất cơ bản 62
8.2.3 Thu thập thông tin: 62
8.2.4 Lập kế hoạch kiểm toán 62
8.2.5 Xây dựng chương trình kiểm toán 63
8.3 Thực hành kiểm toán 63
8.4 Kết thúc kiểm toán 64
CHƯƠNG 9: TỔ CHỨC BỘ MÁY KIỂM TOÁN 67
9.1 Khái quát chung về tổ chức bộ máy kiểm toán 67
9.2 Các nguyên tắc tổ chức bộ máy kiểm toán: 67
9.3 Kiểm toán viên và tổ chức hiệp hội kiểm toán viên 68
9.3.1 Kiểm toán viên 68
9.3.2 Các tổ chức hiệp hội kiểm toán viên 69
9.4 Tổ chức bộ máy kiểm toán 69
9.4.1 Tổ chức bộ máy kiểm toán nội bộ 69
9.4.2 Tổ chức bộ máy kiểm toán độc lập 70
9.4.3 Tổ chức bộ máy kiểm toán nhà nước 70
9.5 Kiểm toán nhà nước VN 71
CHƯƠNG 10: CHUẨN MỰC KIỂM TOÁN 72
10.1 Khái quát chung về chuẩn mực kiểm toán 72
10.2 Chuẩn mực kiểm toán được chấp nhận phổ biến (GAAS) 72
10.3 Đặc điểm của hệ thống chuẩn mực kiểm toán cụ thể trong các bộ máy kiểm toán 73
10.4 Các nguyên tắc cơ bản khi xây dựng chuẩn mực kiểm toán 74
Trang 5================================================================
Bộ môn Kế toán – Khoa kinh tế - Đại học SPKT Hưng Yên 4
Trang 6================================================================
Bộ môn Kế toán – Khoa kinh tế - Đại học SPKT Hưng Yên 5
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA KIỂM TOÁN
1.1 Khái niệm kiểm toán
Nhiều nhà nghiên cứu lịch sử cho rằng kiểm toán ra đời từ thời La Mã cổ đại vào thế kỷ thứ III trước Công Nguyên Chính vì vậy, kiểm toán có gốc từ La tinh “Audit”, nguyên bản là
“Audire”, gắn liền với nề văn minh của Ai Cập và La Mã cổ đại Tuy kiểm toán ra đời đã hơn
2000 năm qua, nhưng nó cuang chỉ phát triển mạnh mẽ từ giữa thế kỷ XIX Từ “Audire” có nghĩa là nghe Hình ảnh kiểm toán cổ điển thường được tiến hành bằng cách người ghi chép về tài sản đọc to lên cho một bên độc lập “nghe” rồi sau đó chấp nhận thông qua việc chứng thực
Ở Việt Nam, thuật ngữ “Kiểm toán” xuất hiện trở lại và được sử dụng từ nhiều năm đầu thập
kỷ 90 Trước năm 1975, ở miền Nam Việt Nam đã có hoạt động của các công ty kiểm toán nước ngoài Cho đến nay ở Việt Nam cũng như trên thế giới còn tồn tại nhiều cách hiểu khách nhau về kiểm toán Tuy nhiên quan niệm về kiểm toán được chấp nhận phổ biến hiện nay là:
“Kiểm toán là quá trình các kiểm toán viên (KTV) độc lập và có năng lực tiến hành thu thập và đánh giá bằng chứng về các thông tin được kiểm toán nhằm xác định và báo cáo
về mực độ phù hợp giữa các thông tin này với các chuẩn mực đã được thiết lập”
1.2 Quá trình ra đời, phát triển và sự cần thiệt khách quan của Kiểm toán trong nền kinh tế thị trường
1.2.1 Mối quan hệ giữa khoa học kinh tế và quản lý với kiểm toán
1.2.1.1 Khái niệm quản lý
Quản lý là một quá trình định hướng và tổ chức thực hiện các hướng đã định trên cơ sở các nguồn lực xác định nhằm đạt được hiệu quả cao nhất
Các giai đoạn của quá trình quản lý
- Giai đoạn định hướng
+ Dự báo các nguồn lực: vốn, lao động và tài nguyên
+ Đề ra các mục tiêu cần và có thể thực hiện, xây dựng các chương trình, kế hoạch
Kết luận: Trong giai đoạn này cần tiến hành kiểm tra các thông tin về nguồn lực, mục tiêu, chương trình, kế hoạch để có thể đưa ra các quyết định cụ thể
- Giai đoạn tổ chức thực hiện
Phối hợp các nguồn lực theo các phương án tối ưu nhằm hoàn thành các mục tiêu đã đề ra
Trang 7================================================================
Bộ môn Kế toán – Khoa kinh tế - Đại học SPKT Hưng Yên 6
KL: Trong giai đoạn này cần điều tra quá trình thực hiện để có thể điều chỉnh các định mức, mục tiêu chương trình kế hoạch
Như vậy, kiểm tra không phải là 1 giai đoạn của quá trình quản lý mà nó được thực hiện trong tất cả các giai đoạn của quá trình quản lý do vậy, kiểm tra là một chức năng của quản lý
Các yếu tố ảnh hưởng đến kiểm tra, kiểm soát trong quản lý
* Cấp quản lý
- Cấp quản lý vĩ mô ( cấp quản lý Nhà nước): Nhà nước thực hiện chức năng kiểm ra thông qua hình thức kiểm tra trực tiếp và kiểm tra gián tiếp
+ Kiểm tra trực tiếp:
Nhà nước với tư cách là chủ sở hữu, nhà nước tiến hành kiểm tra các mục tiêu chương trình, kế hoạch, nguồn lực, quá trình và kết quả thực hiện, tính trung thực của các thông tin, tính pháp lý trong việc thực hiện các nghiệp vụ
Trong hình thức kiểm tra trực tiếp của Nhà nước thường có ngay các kết luận làm rõ các vụ việc thậm trí có ngay các quyết định để điều chỉnh xử lý gắn với kết luận kiểm tra được gọi là Thanh tra
Nhà nước tiến hành kiểm tra trực tiếp đối với các xi nghiệp công, đơn vị sử dụng ngân sách Nhà nước khi nhà nước giao cho các đơn vị này thực hiện các mục tiêu, chương trình, kế hoạch
+ Kiểm tra gián tiếp:
Nhà nước có thể sử dụng kết quả kiểm tra của các chuyên gia tổ chức kiểm tra độc lập như thanh tra thuế, để thực hiện điều tiết vĩ mô nền kinh tế thông qua các chính sách của mình
Trường hợp kiểm tra của các tổ chức chuyên gia bên ngoài gọi là ngoại kiểm Trong khi
đó các đơn vị tự tiến hành kiểm tra kiểm soát các hoạt động của mình được gọi là nội kiểm
- Cấp quản lý vi mô ( cấp đơn vị cơ sở)
Cấp đơn vị cơ sở vừa là khách thể của sự kiểm tra, kiểm soát của các cơ quan cấp trên đồng thời tự tiến hành kiểm tra, kiểm soát để phục vụ mục đích quản lý nội bộ trong DN
* Loại hình hoạt động
- Hoạt động kinh doanh:
Khi đó lợi nhuận được coi là mục tiêu và thước đo chất lượng Do đó, kiểm tra hướng tới hiệu quả của việc sử dụng các nguồn lực như: vốn, lao động và tài nguyên
- Hoạt động sự nghiệp:
Trang 8================================================================
Bộ môn Kế toán – Khoa kinh tế - Đại học SPKT Hưng Yên 7
Loại hình này có mục tiêu chủ yếu là thực hiện tốt các nhiệm vụ cụ thể về xã hội về quản lý trên cơ sở tiết kiệm kinh phí Do đo, kiểm tra thường hướng tới hiệu năng của quản lý
* Hình thức sở hữu:
- Các đơn vị hoạt động từ vốn và kinh phí của ngân sách Nhà nước như: Quốc hội, Chính phủ các đơn vị hành chính sự nghiệp, các xi nghiệp công, DN nhà nước, chương trình dự án có nguồn đầu tư từ ngân sách Nhà nước
Các đơn vị này là khách thể bắt buộc của kiểm toán nhà nước
- Các đơn vị hoạt động bằng ngân sách riêng như: Công ty TNHH, Công ty có vốn đầu tư nước ngoài,
Các đơn vị này chịu sự kiểm tra tài chính của các cơ quan quản lý tài chính và có thể trở thành khách thể của kiểm toán độc lập
*Truyền thống văn hoá, điều kiện kinh tế xã hội:
Trình độ dân trí, trình độ quản lý, tính kỷ cương truyền thống luật pháp có ảnh hưởng đến cách thức và tổ chức hoạt động kiểm tra, kiểm soát
- Các phương pháp của kế toán:
+ Phương pháp chứng từ: là phương pháp thông tin và kiểm tra về sự hình thành của các nghiệp vụ kinh tế
Trang 9================================================================
Bộ môn Kế toán – Khoa kinh tế - Đại học SPKT Hưng Yên 8
+ Phương pháp đối ứng tài khoản: là phương pháp thông tin và kiểm tra quá trình vận động của vốn kinh doanh theo từng loại hoặc từng bộ phận của vốn
+ Phương pháp tính giá: là phương pháp thông tin và kiểm tra về chi phí trực tiếp và gián tiếp cho từng loại hoạt động, từng loại hàng hoá
+ Phương pháp tổng hợp và cân đối kế toán: Là phương pháp khái quát tình hình vốn kinh doanh và kết quả kinh doanh của đơn vị hạch toán qua từng thời kỳ nhất định
Kết luận:
Kiểm tra kế toán là một trong những chức năng cơ bản của kế toán hoạt động kế toán gắn liền với hai chức năng: thông tin và kiểm tra kế toán không chỉ trên cả chu trình mà ngay trên từng yếu tố, từng bước của chu trình này
Kiểm tra kế toán dù có nhiều ưu việt nhưng chỉ cung cấp thông tin cho những người có
am hiểu về kế toán hoặc những người trực tiếp làm kế toán Tuy nhiên, không phải bất kỳ thông tin tài chính nào cũng được phản ánh trên các tài liệu kế toán Vì vậy, ngoài hoạt động
tự kiểm tra của kế toán thì phải tiến hành kiểm tra ngoài kế toán
1.2.1.3 Lịch sử phát triển của kiểm tra tài chính
- Thời kỳ cổ đại:
+ Giai đoạn đầu: kế toán đơn giản Kiểm tra kế toán chưa phát triển
+ Cuối thời kỳ này: tách biệt giữa chủ sở hữu và người quản lý tài sản kiểm tra độc lập
đã phát sinh
- Thời kỳ trung đại:
+ Xuất hiện kế toán đối chiếu: chủ sở hữu và người quản lý tài sản
+ Từ thế kỷ XVI: xuất hiện kế toán kép
Kiểm tra độc lập gần như không còn tồn tại
- Từ những năm 30 của thế kỷ XX:
Khủng hoảng tài chính - tiền tệ từ năm 1929 – 1933 đặc biệt là sự phá sản của các tổ chức tài chính do các bảng khai tài chính không phản ánh trung thực và hợp lý tình hình tài chính và kết quả kinh doanh của DN Đây là dấu hiệu chứng minh yếu điểm của kế toán và kiểm tra kế toán so với yêu cầu của quản lý
Do đó thúc đẩy sự ra đời của hoạt động kiểm toán do hoạt động kế toán và kiểm tra kế toán không đáp ứng được yếu cầu trong tình hình quản lý mới theo đố hoạt động kiểm toán sâm nhập vào các nước Bắc Mỹ từ những nămg 1930 và các nước Tây Âu từ những nămg
1960 và hoạt động đó xuất hiện chính thức tại VN vào ngày 13.5.1991
- Tại Việt Nam
Trang 10================================================================
Bộ môn Kế toán – Khoa kinh tế - Đại học SPKT Hưng Yên 9
+ Trước năm 1975: đã có văn phòng kiểm toán tại Miền Nam Việt Nam (nhưng chưa được công nhận chính thức)
+ Từ năm 1975 đến năm 1986: với cơ chế kế hoạch hoá tập trung, kiểm toán độc lập đã không còn tồn tại
+ Sau năm 1986:
Kiểm toán độc lập: năm 1991 ( Vaco, AASC)
Kiểm toán Nhà nước: 1994
Kiểm toán nội bộ: 1997
1.2.2 Sự cần thiết khách quan của kiểm toán trong nền kinh tế thị trường
Kiểm toán ra đời, phát triển do yêu cầu quản lý và phục vụ cho quản lý Kiểm
toán là một công cụ quản lý phát triển từ thấp đến cao, gắn liền với hoạt động kinh tế của con người Từ khi kế toán ra đời, con người đã biết khái thác công cụ kế toán vào quản lý kinh tế Kế toán là một công cụ quả lý tất yếu khách quan trong hệ thống công
cụ quản lý của con người
Kế toán cung cấp thông tin kinh tế phục vụ quản lý Xã hội càng phát triển, thông tin kế toán ngày càng được mở rộng, đa dạng, phức tạp và chứa đựng nhiều rủi ro
Đồng thời xuất hiện ngày càng nhiều đối tượng quan tâm và sử dụng các thông tin kế toán Các đối tượng quan tâm và sử dụng các thông tin kế toán Các đối tượng quan tâm đén thông tin kinh tế ngày càng mở rộng phong phú và đa dạng Xã hội càng phát triển, nền kinh tế thị trường càng phức tạp, thông tin kinh tế càng có nguy cơ chứa đựng
nhiều rủi ro, sai lệch, thiếu tin cậy Thực trạng này xuất phát từ những nguyên nhân sau:
Thứ nhất: khoảng cách lớn giữa người sử dụng thông tin cà người cung cấp
thông tin và sự điều chỉnh thông tin có lợi cho người cung cấp thông tin Xã hội càng phát triển sẽ kéo theo hoạt động kinh tế ngày càng phát triển, mở rộng và đa dạng Sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng tài sản ngày càng tăng, các thông tin
được cung cấp có nguy cơ ngày càng bị hợp pháp hóa có lợi cho người cung cấp thông tin
Thứ hai: Khối lượng thông tin quá nhiều Xã hội càng phát triển, thông tin càng
phong phú, đa dạng với khối lượn càng nhiều, khả năng chứa đựng những thông tin sai lệch ngày càng tăng
Thứ ba: Tính phức tạp của thông tin và ngiệp vụ kinh tế ngày càng tăng, nguy cơ
chứa đựng những thông tin sai lệch là không thể tránh khỏi
Trang 11================================================================
Bộ môn Kế toán – Khoa kinh tế - Đại học SPKT Hưng Yên 10
Thứ tư: Khả năng thông đồng trong xử lý thông tin có lợi cho người cung cấp
thông tin ngày càng lớn
Sự cần thiết của kiểm toán còn thể hiện ở tác dụng của kiểm toán đối với nền
kinh tế:
Thứ nhất:Kiểm toán tạo niềm tin cho những người quan tâm
Thứ hai: kiểm toán góp phần hướng dẫn nghiệp vụ và ổn định củng cố hoạt động
tài chính, kế toán nói riêng và hoạt động của đơn vị được kiểm toán nói riêng
Thứ ba: Kiểm toán góp phần nâng cao hiệu quả và năng lực quản lý
Kiểm toán nội bộ cung cấp thông tin phục vụ cho việc quản lý điều hành của chủ doanh nghiệp, giúp chủ doanh nghiệp kinh doanh hiệu quả, thắng lợi trong cạnh tranh, khai thác và sử dụng hiệu quả các nguồn lực của doanh nghiệp
Kiểm toán Nhà nước phục vụ việc quản lý vĩ mô của nhà nhà nước, đảm bảo duy trì kỷ cương, thực hiện nghiêm chỉnh và thông nhất luật pháp, chính sách, chế độ, đồng thời sử dụng tiết kiệm và hiệu quả vốn, tài sản và kinh phí của nhà nước
Kiểm toán độc lập bảo vệ quyền lợi cho những người có liên quan và sử dụng
thông tin của đơn vị được kiểm toán
Qua những vấn đề trên, có thể thấy rất rõ kiểm toán có vị trí vai trò và tác dụng to lớn trên nhiều mặt của đời sống kinh tế xã hội
CHƯƠNG 2: BẢN CHẤT VÀ CHỨC NĂNG CỦA KIỂM TOÁN
2.1 Bản chất của kiểm toán
Thuật ngữ kiểm toán mới thực sự xuất hiện ở nước ta hơn chục năm cuối thế kỷ XX Trong quá trình đó, cách hiểu và cách dùng khái niệm này chưa được thống nhất Có 3 loại quan niệm chính như sau:
Theo quan niệm thứ nhất: theo quan điểm này người ta đồng nhất kiểm toán với kiểm tra
kế toán, một chức năng của bản thân kế toán, một thuộc tính cố hữu của kế toán
- Nội dung của hoạt động kiểm toán: rà soát các thông tin từ chứng từ kế toán cho đến tổng hợp cân đối kế toán
Cụ thể: kiểm tra, xác minh tính trung thực, hợp lý của các chứng từ kế toán, sổ sách kế toán cho đến các bảng tổng hợp, cân đối kế toán
Trang 12================================================================
Bộ môn Kế toán – Khoa kinh tế - Đại học SPKT Hưng Yên 11
- Đây là quan điểm mang tính truyền thống và trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung, điều kiện kiểm tra chưa phát triển
- Trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung, nhà nước vừa là chủ sở hữu, vừa thực hiện lãnh đạo nền kinh tế Chức năng kiểm tra của nhà nước được thực hiện với mọi thực thể kinh tế thông qua các giám sát viên của nhà nước được đặt ngay tại các xí nghiệp (kế toán trưởng) Nhà nước kiểm tra các thực thể kinh tế thông qua các khâu: kiểm tra kế hoạch, kiểm tra việc thực hiện kế hoạch, xét duyệt kết quả, kiểm tra tài chính, xét duyệt quyết toán, thanh tra các vụ việc cụ thể
- Khi nền kinh tế chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang chủ trương đa phương hóa đầu tư, đa dạng các thành phần kinh tế thì khi đó nhà nước không còn là chủ sở hữu duy nhất trong nền kinh tế Do vậy nhà nước không thể can thiệp trực tiếp các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh (ngoài sở hữu của nhà nước) Do vậy trong giai đoạn này, người quan tâm đến thông tin kế toán không chỉ có nhà nước mà còn có tất cả các nhà đầu tư, nhà quản lý, khách hàng,…trong khi đó các nhà đầu tư, khách hàng, người lao động,… lại không thể tự xác minh được độ chính xác, tin cậy của tất cả các tài liệu kế toán vì họ không có đội ngũ chuyên gia kế toán đông đảo như nhà nước trong điều kiện đó công tác kiểm tra kế toán cần được thực hiện rộng rãi, đa dạng, có sức thuyết phục hơn nữa, do vậy việc tách kiểm toán
ra khỏi những hoạt động kế toán và hình thành kiểm toán độc lập là một tất yếu
Kết luận: quan điểm đồng nhất kiểm toán với kiểm tra kế toán hợp lý, chưa thể hiện được
hết chức năng, vai trò của kiểm toán Quan điểm này chỉ thích hợp trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung
Theo quan điểm thứ hai: Cho rằng kiểm toán phát sinh cùng với cơ chế thị trường Kiểm
toán là hoạt động xác minh và bày tỏ ý kiến về các bảng khai tài chính của các xí nghiệp do các kiểm toán viên độc lập tiến hành trên cơ sở hệ thống pháp lý đang có hiệu lực theo quan niệm này, có một số định nghĩa về kiểm toán như sau:
- Theo Vương quốc Anh: “Kiểm toán là sự kiểm tra độc lập và là sự bày tỏ ý kiến về những bản khai tài chính của một xí nghiệp do một kiểm toán viên được bổ nhiệm để thực hiện những công việc theo đúng với bất cứ nghĩa vụ pháp định có liên quan”
Trang 13================================================================
Bộ môn Kế toán – Khoa kinh tế - Đại học SPKT Hưng Yên 12
- Theo các chuyên gia kiểm toán Hoa Kỳ: “Kiểm toán là một quá trình mà qua đó một người độc lập có nghiệp vụ tập hợp và đánh giá rõ ràng về thông tin có thể lượng hóa có liên quan đến một thực thể kinh tế riêng biệt nhằm mục đích xác định và báo cáo mức độ phù hợp giữa thông tin có thể lượng hóa được với những tiêu chuẩn cụ thể đã được thiết lập.”
- Theo quan niệm trong giáo dục và đào tạo của Cộng hòa Pháp: “ Kiểm toán là việc nghiên cứu và kiểm tra các tài khoản niên độ của một tổ chức do một người độc lập, đủ danh nghĩa tiến hành để khẳng định rẳng những tài khoản đó phản ánh đúng đắn tình hình tài chính thực tế, không che dấu sự gian lận và chúng được trình bày theo mẫu chính thức của luật định.”
Các định nghĩa trên tuy có khác nhau về từ ngữ với ý nghĩa cụ thể xác định, song chúng đều bao hàm vào khái niệm kiểm toán các yếu tố cơ bản sau:
- Chức năng của kiểm toán: Là xác minh và bày tỏ ý kiến Xác minh là tìm hiểu, nghiên cứu, kiểm tra các thông tin trên các tài liệu kế toán và việc trình bày các thông tin theo quy định của các thực thể kinh tế Bày tỏ ý kiến là việc đánh giá xem các thông tinn đó có trung thực, hợp lý hay không, có phản ánh đúng tình hình tài chính của xí nghiệp không, có che giấu gian lận và có được trình bày đúng quy định không?
- Đối tượng trực tiếp của kiểm toán: Chủ yếu là các bảng khai tài chính của các tổ chức hay một thực thể kinh tế Ngoài ra đối tượng kiểm toán còn là thực trạng việc chấp hành luật pháp, chính sách, chế độ và những quy định của kiểm toán hoặc là tính hiệu lực, hiệu quả và tính kinh tế của hoạt động
- Khách thể kiểm toán: Được xác định là thực thể kinh tế hoặc một tổ chức được kiểm toán
- Chủ thể kiểm toán: Là những kiểm toán viên độc lập, có nghiệp vụ
- Cơ sở thực hiện kiểm toán: Là những luật định, tiêu chuẩn hay chuẩn mực chung
Kết luận: quan điểm kiểm toán được trình bày ở trên đã phản ánh khá đầy đủ các mặt đặc
trưng cơ bản của kiểm toán Tuy nhiên, quan điểm này chủ yếu phù hợp với kiểm toán tài chính bởi đối tượng chủ yếu là các bảng khai tài chính và do các kiểm toán viên độc lập tiến hành trên cơ sở các chuẩn mực chung
Trang 14================================================================
Bộ môn Kế toán – Khoa kinh tế - Đại học SPKT Hưng Yên 13
Theo quan điểm thứ ba- quan điểm hiện đại về kiểm toán: theo quan điểm này, đối tượng
của kiểm toán không chỉ là những bảng khai tài chính hay những tài liệu kế toán mà kiểm toán còn thâm nhập vào nhiều lĩnh vựa khác nhau như hiệu quả của hoạt động kinh tế, hiệu năng của quản lý xã hội, hiệu lực của hệ thống pháp lý trong từng loại hoạt động,… vì vậy, theo quan điểm hiện đại, kiểm toán bao gồm 4 lĩnh vực chủ yếu sau:
1 Kiểm toán thông tin: hướng vào việc đánh giá tính trung thực, hợp pháp của các tài liệu làm cơ sở pháp lý cho việc giải quyết các mối quan hệ về kinh tế và tạo niềm tin cho những người quan tâm đến tài liệu kế toán
Ví dụ: kiểm toán hóa đơn đầu vào của doanh nghiệp là nghiệp vụ phát sinh thực tế hay không, có hợp đồng mua bán/ đơn đặt hàng hay không?
2 Kiểm toán tính quy tắc (kiểm toán tuân thủ): đánh giá tình hình thực hiện các chế độ, thể lệ , luật pháp của đơn vị được kiểm toán trong quá trình hoạt động
Ví dụ: kiểm toán hồ sơ hoàn thuế của công ty có phù hợp với những quy định về thuế hay không? Kiểm toán các hóa đơn tự in của doanh nghiệp lập có đúng với mẫu biểu quy định của
bộ Tài chính hay không?, …
3 Kiểm toán hiệu quả:
Hiệu quả là gì? Tính hiệu quả được hiểu là việc sử dụng tối thiểu các nguồn lực nhưng vẫn đảm bảo được các mục tiêu của đơn vị Có hiệu quả có nghĩa là kết quả đạt được nhiều hơn so với mục tiêu, mục đích hoặc kế hoạch nhưng nguồn lực sử dụng lại ít
Như vậy, kiểm toán hiệu quả là việc xem xét kết quả đầu ra trong tương quan với đầu vào
Ví dụ: kiểm toán về khả năng sản xuất ra sản phẩm của dây chuyền máy móc trong công ty sản xuất thức ăn chăn nuôi (sản xuất ra nhiều sản phẩm trên khoảng thời gian ít, tốn ít nhiên liệu là
có hiệu quả)
Đối tượng trực tiếp của kiểm toán hiệu quả là các yếu tố, các nguồn lực trong từng loại nghiệp
vụ kinh doanh như: mua bán, sản xuất, dịch vụ,…
Kiểm toán hiệu quả thường thực hiện ở các khách thể thuộc khu vực kinh doanh
Kiểm toán hiệu quả giúp cho việc hoạch định chính sách và phương hướng, giải pháp cho việc hoàn thiện hoặc cải tổ hoạt động kinh doanh của đơn vị được kiểm toán
Trang 15================================================================
Bộ môn Kế toán – Khoa kinh tế - Đại học SPKT Hưng Yên 14
4 Kiểm toán hiệu năng: là việc đánh giá việc hoàn thành mục tiêu của một hoạt động xem xét kết quả đầu ra có đạt được như dự kiến hay không, nếu đạt được thì các yếu tố đầu vào như thế nào
Ví dụ: dự án xây dựng công trình đường giao thông liên xã của một công ty xây dựng Mục tiêu của dự án là hoàn thành trong tháng 12/2010 Kiểm toán viên sẽ xem xét công trình có hoàn thành kế hoạch hay không, nếu hoàn thành thì chi phí của dự án (nhân công, nguyên vật liệu, máy thi công) là tiết kiệm hay lãng phí Nếu công ty hoàn thành mục tiêu với chi phí thấp thì đánh giá dự án có tính hiệu năng cao và ngược lại
Kiểm toán hiệu năng được đặc biệt quan tâm ở khu vực công cộng
Kết luận: quan điểm hiện đại về kiểm toán đã phản ánh đầy đủ bản chất của kiểm toán
Từ các quan điểm trên ta có thể rút ra một số kết luận về bản chất của kiểm toán như sau:
- Kiểm toán là một hoạt động độc lập Chức năng cơ bản của kiểm toán là xác minh và bày tỏ ý kiến
Xác minh, thuyết phục để tạo niềm tin cho những người quan tâm vào những kết luận kiểm toán cho dù các kết luận này có hướng vào các mục tiêu cụ thể khác nhau Thông qua việc xác minh thông tin, kiểm toán viên bày tỏ ý kiến của mình về những lĩnh vực tương ứng (thông tin, tuân thủ, hiệu quả, hiệu năng)
- Nội dung chủ yếu và trực tiếp của kiểm toán là thực trạng hoạt động tài chính
Thực trạng hoạt động tài chính một phần đã được thể hiện trên các bảng khai tài chính và các tài liệu kế toán nói chung Ngoài ra còn có những thông tin về thực trạng hoạt động tài chính của đơn vị chưa được phản ánh đầy đủ trong các tài liệu kế toán Do vậy, kiểm toán có hệ thống các phương pháp kỹ thuật riêng, bao gồm cả kiểm toán chứng từ (đối tượng là các tài liệu kế toán đã có sẵn) và kiểm toán ngoài chứng từ (các thông tin không có trong chứng từ kế toán, phải thu thập bằng chứng bằng các phương pháp kỹ thuật như điều tra, quan sát, thực nghiệm,…)
- Kiểm toán thực hiện kiểm tra, kiểm soát những vấn đề liên quan đến thực trạng tài sản, các nghiệp vụ tài chính và sự phản ánh của nó trên sổ sách kế toán cùng hiệu quả đạt được:
Trang 16================================================================
Bộ môn Kế toán – Khoa kinh tế - Đại học SPKT Hưng Yên 15
kiểm tra sự tồn tại của tài sản, các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong thực tế so với sổ sách, đồng thời đánh giá tính hiệu quả của các hoạt động
- Kiểm toán là hoạt động chuyên sâu, một khoa học chuyên ngành nên hoạt động này phải được thực hiện bởi những người có trình độ, nghiệp vụ chuyên sâu về kiểm toán Ngoài nghiệp vụ chuyên sâu, kiểm toán viên phải là những chuyên gia độc lập về kinh tế và tình cảm đối với đơn vị được kiểm toán
Độc lập về kinh tế: không có quan hệ về tài chính đối với đơn vi được kiểm toán: không có cổ phần, không mua cổ phiếu, không cho vay,…
Độc lập về tình cảm: không có bố, mẹ, vợ, chồng, con, anh chị em ruột là thành viên trong ban lãnh đạo hoặc là kế toán trưởng các đơn vị được kiểm toán
2.2 Chức năng của kiểm toán
Từ bản chất của kiểm toán có thể thấy kiểm toán có hai chức năng cơ bản: xác minh và bày tỏ
Nội dung của chức năng
- Chức năng xác minh là chức năng được hình thành đầu tiên, gắn liền với sự ra đời, hình thành và phát triển của kiểm toán: ngay từ thời kỳ đầu khi kiểm toán ra đời, chức năng kiểm tra và xác nhận được thể hiện dưới dạng chứng thực báo cáo kiểm toán Về sau khi chức năng này phát triển mạnh mẽ và thể hiện cao hơn dưới dạng báo cáo kiểm toán
- Chức năng xác minh của kiểm toán thể hiện khác nhau tùy thuộc vào đối tượng cụ thể của kiểm toán:
+ Nếu đối tượng của kiểm toán là các bảng khai tài chính: việc thực hiện chức năng xác minh sẽ do các kiểm toán viên bên ngoài thực hiện và hướng tới hai mặt là kiểm toán thông tin
và kiểm toán tuân thủ
Trang 17================================================================
Bộ môn Kế toán – Khoa kinh tế - Đại học SPKT Hưng Yên 16
Kiểm toán thông tin: xác nhận tính trung thực của các con số trên các bảng khai tài chính Kiểm toán tuân thủ: xác min tính hợp thức của các biểu mẫu phản ánh tình hình tài chính trong các bảng khai tài chính
+ Nếu đối tượng của kiểm toán là các nghiệp vụ kinh tế cụ thể: chức năng xác minh được thực hiện bởi các kiểm toán viên nội bộ và hướng tới kiểm toán hiệu quả và kiểm toán hiệu năng của các hoạt động kinh tế
- Vấn đề nổi bật trong chức năng xác minh đó là việc phát hiện ra các gian lận, sai sót trong tài chính Vấn đề này được đặt ra như những “khác biệt về kỳ vọng” giữa kiểm toán và quản lý Sự khác biệt này là do:
+ Có khoảng cách giữa mong muốn (phát hiện ra tất cả các gian lận và vi phạm) với khả năng thực tế của các tổ chức kiểm toán cũng như quan hệ giữa chi phí và hiệu quả kiểm toán + Sự chưa thống nhất về nhận thức: có những quan điểm cho rằng, kiểm toán là tạo niềm tin cho những người quan tâm do đó không cho phép có sai sót trọng yếu nên kiểm toán không thể không phát hiện ra các gian lận và vi phạm mặt khác, có quan điểm lại cho rằng kiểm toán viên không có trách nhiệm phát hiện sai sót mà đó là trách nhiệm của quản lý
2.2.2 Chức năng bày tỏ ý kiến
Khái niệm
Chức năng bày tỏ ý kiến hay còn gọi là chức năng tư vấn là việc các kiểm toán viên đưa ra các
ý kiến nhận xét của mình về đối tượng kiểm toán trên cơ sở các bằng chứng kiểm toán đã thu thập được trong quá trình kiểm toán
Cụ thể: chỉ ra các sai lệch, vi phạm và bằng chứng chứng minh từ đó đưa ra những kiến nghị, biện pháp để sửa chữa, khắc phục
Nội dung
- Chức năng bày tỏ ý kiến phát sinh và hình thành sau chức năng xác minh Cùng với sự phát triển của kiểm toán, nếu chỉ có chức năng xác minh, kiểm toán không đáp ứng đươc yêu cầu của quản lý (vì xác minh mới chỉ chỉ ra được các sai sót,…mà chưa chỉ ra được cách khắc phục) do vậy đã xuất hiện chức năng bày tỏ ý kiến Ở thời kỳ mới hình thành, chức năng này biểu hiện dưới dạng thư quản lý, sau kiểm toán phát triển chức năng này được biểu hiện trên báo cáo kiểm toán
Trang 18================================================================
Bộ môn Kế toán – Khoa kinh tế - Đại học SPKT Hưng Yên 17
- Cách thức thể hiện chức năng này có sự khác biệt giữa các khách thể kiểm toán và giữa các nước có cơ sở kinh tế và pháp lý khác nhau:
+ Ở khu vực công cộng: chức năng bày tỏ ý kiến được biểu hiện dưới hai hình thức
Thứ nhất, hình thức phán quyết như các quan tòa: đây là biểu hiện cao nhất của chức năng bày tỏ ý kiến Ở đây cơ quan kiểm toán nhà nước có quyền kiểm tra các tài liệu và tình hình quản lý của các tổ chức sử dụng ngân sách nhà nước để xác minh tính chính xác và hợp lệ của các tài liệu thu chi và quản lý ngân sách, đồng thời có quyền xét xử như một quan tòa bằng các phán quyết của mình (hình thức này thường có ở các nước Tây Âu: Pháp, Đức)
Thứ hai, hình thức tư vấn: kiểm toán nhà nước tiến hành kiểm tra nguồn thu và công quỹ sau đó đưa ra các lời khuyên cụ thể trong việc sử dụng và quản lý công quỹ Ngoài ra, chức năng tư vấn còn bao hàm cả việc phác thảo và xem xét những dự kiến về luật trước khi đưa ra quốc hội (hình thức này thường có ở các nước Bắc Mỹ, Châu Á- Thái Bình Dương)
+ Ở khu vực kinh doanh hoặc các dự án ngoài ngân sách nhà nước: chức năng bày tỏ ý kiến được thực hiện thông qua phương thức tư vấn Do khách thể chủ yếu là các doanh nghiệp nên chức năng tư vấn chủ yếu biểu hiện dưới hình thức các lời khuyên hoặc các đề án thông qua các thư quản lý
Qua hai chức năng của kiểm toán ta thấy kiểm toán nhìn nhận đánh giá một cách toàn diện cả về quá khứ và tương lai:
Về quá khứ, đối với các sự kiện đã nảy sinh, kiểm toán với tư cách là người kiểm tra xác minh sự việc đã hoàn thành nhằm đáp ứng yêu cầu của người sử dụng thông tin Như vậy, chức năng kiểm toán xác nhận hay xác minh là là chức năng hướng về quá khứ
Mặt khác, để đáp ứng yêu cầu của người sử dụng thông tin trong tương lai, kiểm toán
có thêm chức năng thứ hai đó là chức năng bày tỏ ý kiến, chức năng này hướng về tương lai Hai chức năng của kiểm toán hoàn hình thành và phát triển hoàn toàn khác nhau tùy theo từng giai đoạn lịch sử nhất định Ở thời kỳ đầu, người ta thường chỉ quan tâm đến chức năng kiểm tra xác nhận Nhưng khi xã hội càng phát triển, người ta càng quan tâm nhiều hơn đến chức năng tư vấn của kiểm toán, đó là việc nhìn nhận, định hướng cho một tương lai đúng đắn để có những quyết định tối ưu và giành thắng lợi trong cạnh tranh Chính vì vậy trong giai đoạn hiện nay, nhằm đáp ứng yêu cầu cung cấp thông tin trong tương lai không phải chỉ riêng có chức
Trang 19================================================================
Bộ môn Kế toán – Khoa kinh tế - Đại học SPKT Hưng Yên 18
năng của kiểm toán mà có hàng loạt các tổ chức khác nhau cùng thực hiện chức năng này như: các tổ chức tư vấn về thuế, tư vấn về pháp luật kinh doanh,…
2.3 Ý nghĩa và tác dụng của kiểm toán trong quản lý
Thứ nhất, kiểm toán tạo niềm tin cho những “người quan tâm”
Trong cơ chế thị trường, có nhiều người quan tâm tới tình hình tài chính và sự phản ánh của nó trong các tài liệu kế toán, kiểm toán với chức năng xác minh giúp cho những người quan tâm
đó có niềm tin vào các thông tin, số liệu trên các tài liệu kế toán, cụ thể:
+ Các cơ quan nhà nước: cần có thông tin trung thực để điều tiết vĩ mô nền kinh tế bằng
hệ thống pháp luật và các chính sách kinh tế Đặc biệt các khoản thu chi của ngân sách nhà nước và các khoản vốn và kinh phí nhà nước đầu tư trong các doanh nghiệp càng cần được giám sát chặt chẽ Như vậy chỉ có hoạt động kiểm toán trên cơ sở khoa học thực sự mới đáp ứng được những yêu cầu thông tin cho những quyết sách của Nhà nước và kế toán mới thực sự trở thành cái nền vững chắc cho cả sự can thiệp trực tiếp lẫn quản lý gián tiếp của Nhà nước
+ Các nhà đầu tư: trong cơ chế thị trường, do tính đa phương hóa đầu tư nên trong nền kinh tế có đông đảo các nhà đầu tư bao gồm: nhà đầu tư trong nước (nhà nước, tư nhân, cổ đông, xã viên, nhà đầu tư khác) và nhà đầu tư nước ngoài Những đối tượng này cần có tài liệu tin cậy để trước hết có hướng đầu tư đúng đắn, sau đó có điều hành sử dụng vốn đầu tư và cuối cùng có tài liệu trung thực về phân phối kết quả đầu tư Vì vậy để thu hút đầu tư, cần có những thông tin trung thực và khách quan về tình hình tài chính Trước hết và chủ yếu là các thông tin trên các bảng khai tài chính về tình hình tài sản, thu nhập của các doanh nghiệp, tổ chức và bản thuyết minh kèm theo Và chỉ có kiểm toán mới đáp ứng được yêu cầu này
+ Các nhà quản trị doanh nghiệp và các nhà quản lý khác: Cần có thông tin trung thực
để ra quyết định trong mọi giai đoạn quản lý kể cả tiếp nhận vốn liếng, chỉ đạo và điều chỉnh các hoạt động kinh doanh và hoạt động quản lý
+ Người lao động: Cần có thông tin chính xác về kết quả kinh doanh, về phân phối, về thực hiện chính sách tiền lương và bảo hiểm,… Nhu cầu đó chỉ có thể đáp ứng được thông qua
hệ thống kiểm toán hoàn chỉnh
+ Khách hàng, nhà cung cấp, những người quan tâm khác: cần hiểu rõ thực chất về kinh doanh và về tài chính của các đơn vị được kiểm toán về nhiều mặt: số lượng và chất lượng của
Trang 20================================================================
Bộ môn Kế toán – Khoa kinh tế - Đại học SPKT Hưng Yên 19
hàng hóa, cơ cấu tài sản và khả năng thanh toán, hiệu năng và hiệu quả của các bộ phận cung ứng, tiêu thụ hoặc sản xuất ở các đơn vị được kiểm toán
Những người quan tâm đến tình hình tài chính ở trên không phải ai cũng có kiến thức sâu rộng
về tài chính để tự mình nắm bắt được thực trạng tài chính của các đơn vị quan tâm Do vậy cần
có kiểm toán, và chỉ có kiểm toán với đội ngũ kiểm toán viên độc lập, có nghiệp vụ mới có thể mang lại cho họ niềm tin vào những xác minh độc lập và khách quan Có thể nói tạo niềm tin cho những người quan tâm là yếu tố quyết định sự ra đời và phát triển của kiểm toán với tư cách là một hoạt động độc lập Không đảm bảo được yếu tố này, kiểm toán không thể tồn tại được
Thứ hai, kiểm toán góp phần hướng dẫn nghiệp vụ và củng cố nền nếp hoạt động tài chính
kế toán nói riêng và hoạt động của các đơn vị được kiểm toán nói chung
- Hoạt động tài chính bao gồm những mối quan hệ đa dạng, phức tạp Để hướng các nghiệp vụ của hoạt động tài chính vào mục tiêu giải quyết tốt các mối quan hệ đó thì không những cần có định hướng đúng đắn và thực hiện tốt mà còn cần thường xuyên soát xét việc thực hiện để hướng các nghiệp vụ vào quỹ đạo mong muốn
- Nhu cầu hướng dẫn nghiệp vụ và củng cố nền nếp hoạt động tài chính ngày càng đòi hỏi thường xuyên và ở mức độ cao hơn, vì: thông tin kế toán chính là sự phản ánh của hoạt động tài chính, nên ngoài việc chứa đựng các thông tin phức tạp của các quan hệ tài chính mà
nó còn là sản phẩm của quá trình xử lý thông tin bằng phương pháp kỹ thuật đặc thù
Với những nhu cầu trên, chỉ có kiểm toán mới có thể giải quyết được bởi thông qua kiểm toán, khi phát hiện các gian lận và sai sót, kiểm toán viên uốn nắn, chỉ dẫn và đề nghị doanh nghiệp sửa chữa, tư vấn giúp doanh nghiệp ổn định và kinh doanh hiệu quả Hoạt động kiểm toán không những củng cố hoạt động tài chính kế toán cho doanh nghiệp nói riêng mà còn làm lành mạnh hóa nền tài chính quốc gia, đồng thời thúc đẩy kinh tế phát triển, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực tài chính
Thứ ba, kiểm toán góp phần nâng cao hiệu quả và năng lực quản lý:
- Kiểm toán ngoài chức năng xác nhận thông tin tài chính còn có chức năng tư vấn cho các doanh nghệp, đơn vị được kiểm toán nhằm kinh doanh hiệu quả, hạn chế rủi ro Chức năng
Trang 21================================================================
Bộ môn Kế toán – Khoa kinh tế - Đại học SPKT Hưng Yên 20
này phát huy tác dụng rất lớn ở các đơn vị được kiểm toán thường xuyên bởi việc tích lũy kinh nghiệm qua thực tiễn sẽ là cơ sở cho những bài học trong tương lai
- Trong điều kiện hiện nay, hệ thống pháp lý chưa hoàn chỉnh, kinh nghiệm và chuyên gia quản lý giỏi theo cơ chế thị trường chưa nhiều, các doanh nghiệp đứng trước một cơ chế thị trường đầy phức tạp và cạnh tranh gay gắt vì lợi nhuận Tính chất xã hội, môi trường, hiện tại, tương lai, xu hướng đa phương hóa đầu tư và mở rộng quan hệ có lợi ích về kinh tế,…ngày càng phức tạp và mở rộng Trong những điều kiện đó, để ổn định, duy trì kỷ cương, kinh doanh hiệu quả, phát triểm đúng hướng chỉ có thể tiến hành trên cơ sở sử dụng đồng bộ và hiệu quả các công cụ quản lý, đặc biệt là kiểm toán
- Kiểm toán nội bộ cung cấp thông tin phục vụ việc quản lý điều hành của chủ doanh nghiệp, giúp chủ doanh nghiệp kinh doanh hiệu quả, thắng lợi trong cạnh tranh, khai thác triệt
để và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực trong doanh nghiệp
- Kiểm toán nhà nước phục vụ việc quản lý vĩ mô của nhà nước, đảm bảo duy trì kỷ cương, thực hiện nghiêm chỉnh và thống nhất luật pháp, chính sách, chế độ, đồng thời sử dụng tiết kiệm, hiệu quả vốn, tài sản, kinh phí của nhà nước
- Kiểm toán độc lập bảo vệ quyền lợi cho những người có liên quan và sử dụng thông tin của đơn vị của vị như: chính phủ, cổ đông, ngân hàng, nhà đầu tư,… và cũng rất hữu ích cho chính các nhà quản lý đơn vị được kiểm toán Trong nền kinh tế thị trường, sự chi phối, ràng buộc lẫn nhau giữa các chủ thể làm cho các bên liên quan rất quan tâm đến thông tin của đối tác, đặc biệt là thông tin tài chính Các thông tin này cần được thẩm định và sự thẩm định của kiểm toán độc lập tạo niềm tin cho mọi người
Kết luận: từ những điều trình bày ở trên ta thấy rằng kiểm toán có ý nghĩa và tác dụng to lớn
trên nhiều mặt của đời sống xã hội Đó là “quan tòa công minh của quá khứ”, “người dẫn dắt cho hiện tại” và “người cố vấn sáng suốt cho tương lai”
Trang 22================================================================
Bộ môn Kế toán – Khoa kinh tế - Đại học SPKT Hưng Yên 21
CHƯƠNG 3: PHÂN LOẠI KIỂM TOÁN
3.1 Khái quát các cách phân loại kiểm toán:
Cũng như các hoạt động khác, kiểm toán cũng cần và có thể phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau:
a Theo đối tượng cụ thể của kiểm toán:
Đối tượng kiểm toán là gì? Đối tượng kiểm toán là đối tượng mà các kiểm toán viên sẽ tiến hành kiểm toán trong cuộc kiểm toán
Đối tượng kiểm toán bao gồm:
- Các báo cáo tài chính và thực trạng về tài sản, nghiệp vụ kinh tế phát sinh
- Tính hiệu lực, hiệu quả và tính kinh tế của hoạt động
- Thực trạng việc chấp hành luật pháp, chính sách, chế độ và những quy định của kiểm toán
Phân loại theo đối tượng, kiểm toán bao gồm: kiểm toán tài chính, kiểm toán hoạt động, kiểm toán tuân thủ Ngoài ra trong thực tế còn có kiểm toán liên kết (là sự sáp nhập giữa kiểm toán tài chính và kiểm toán hoạt động)
b Theo tổ chức bộ máy kiểm toán:
- Kiểm toán nhà nước
- Kiểm toán nội bộ
- Kiểm toán độc lập
c Theo lĩnh vực cụ thể của kiểm toán
- Kiểm toán thông tin
- Kiểm toán tuân thủ
- Kiểm toán hiệu năng
- Kiểm toán hiệu quả
d Theo phương pháp áp dụng trong kiểm toán:
- Kiểm toán chứng từ
- Kiểm toán ngoài chứng từ
Trang 23================================================================
Bộ môn Kế toán – Khoa kinh tế - Đại học SPKT Hưng Yên 22
e Theo phạm vi tiến hành kiểm toán:
- Kiểm toán toàn diện
- Kiểm toán chọn điểm
f Theo mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể kiểm toán:
- Nội kiểm: những người trong đơn vị thực hiện
- Ngoại kiểm: những người bên ngoài đơn vị thực hiện
g Theo quan hệ pháp lý của kiểm toán:
- Kiểm toán bắt buộc
- Kiểm toán tự nguyện
……
3.2 Phân loại kiểm toán theo đối tượng cụ thể:
3.2.1 Kiểm toán tài chính:
a Khái niệm:
Kiểm toán tài chính là hoạt động xác minh và bày tỏ ý kiến về các bảng khai tài chính
do các kiểm toán viên độc lập và có nghiệp vụ tiến hành
b Đối tượng kiểm toán:
- Đối tượng trực tiếp và thường xuyên của kiểm toán tài chính là các bảng khai tài chính: báo cáo kết quả kinh doanh, bảng cân đối kế toán, báo cáo lưu chuyển tiền tệ và các bảng thuyết minh kèm theo, các bảng kê khai tài chính khác (kê khai hàng tồn kho, tài sản cố định,…)
- Tuy nhiên, bảng khai tài chính không phải là đối tượng duy nhất của kiểm toán tài chính Trong một số trường hợp cần thiết, để xác minh và bày tỏ ý kiến, kiểm toán viên cần thu thập bằng chứng qua nhiều cách thức khác nhau, có thể là điều tra, phỏng vấn, đối chiếu với các tài liệu khác
c Mục tiêu kiểm toán:
- Nhằm xác minh tính trung thực, hợp lý, hợp pháp của các thông tin trên các bảng khai tài chính
d Khách thể kiểm toán:
Là các đơn vị, cá nhân có bảng khai tài chính cần được kiểm toán (bắt buộc hoặc tự nguyện)
Trang 24================================================================
Bộ môn Kế toán – Khoa kinh tế - Đại học SPKT Hưng Yên 23
e Đối tượng sử dụng thông tin kiểm toán:
Tùy thuộc vào từng loại hình kiểm toán mà đối tượng sử dụng thông tin kiểm toán sẽ khác nhau:
- Đối với kiểm toán nhà nước: đối tượng chính sử dụng kết quả kiểm toán là quốc hội hoặc các cơ quan quản lý nhà nước
- Kiểm toán nội bộ: đối tượng chính sử dụng thông tin kiểm toán là các nhà quản lý của chính đơn vị được kiểm toán
- Kiểm toán độc lập: đối tượng chính sử dụng kết quả kiểm toán là các nhà đầu tư, cổ đông, khách hàng, nhà cung cấp
- Các doanh nghiệp còn lại do các công ty kiểm toán độc lập thực hiện kiểm toán (bởi người quan tâm đến thông tin của các doanh nghiệp này có nhiều phía khác nhau)
- Nếu thông tin kiểm toán chỉ phục vụ cho chính các nhà quản lý của đơn vị được kiểm toán thì cuộc kiểm toán sẽ do các kiểm toán viên nội bộ tiến hành Và các công ty kiểm toán độc lập cũng có thể thực hiện cuộc kiểm toán nếu nhận được lời mời của các đơn vị này
g Cơ sở thực hiện cuộc cuộc kiểm toán:
- Các chuẩn mực kiểm toán
- Các quy định về kế toán khác của pháp luật (ví dụ: quy định về tính thuế, quy định về hợp đồng kinh tế,…)
h Thước đo độ đúng sai của các bảng khai tài chính:
- Chuẩn mực kế toán (kiểm toán viên phải xác minh toàn bộ các bảng khai tài chính đã lập so với các chuẩn mực chung của kế toán để kết luận tính trung thực của thông tin trong các bảng khai tài chính cùng tính pháp lý của các biểu mẫu chứa đựng trong các thông tin đó Kết quả xác minh này được trình bày trên báo cáo kiểm toán Đồng thời với kết luận về độ tin cậy
Trang 25================================================================
Bộ môn Kế toán – Khoa kinh tế - Đại học SPKT Hưng Yên 24
của thông tin trong bảng khai tài chính, kiểm toán viên còn có thể đưa ra những phán quyết hoặc những lời khuyên cho các nhà quản lý bẳng thư quản lý)
i Báo cáo kiểm toán:
Nhằm thông báo kết quả xác minh về tính trung thực, hợp lý, hợp pháp của các thông tin và sự phù hợp của các thông tin trên bảng khai tài chính với các chuẩn mực, quy định về kế toán hiện hành
3.2.2 Kiểm toán hoạt động
b Mục tiêu kiểm toán:
Nhằm xem xét và đánh giá về tính kinh tế, tính hiệu lực và hiệu quả của các hoạt động được kiểm toán
Tính kinh tế: là sự tiết kiệm các nguồn lực Hay đây còn gọi là nguyên tắc tối thiểu, nghĩa là để đạt được mục tiêu nhất định cần dùng một lượng nguồn lực ít nhất
Tính hiệu quả: việc đạt được kết quả cao nhất với một lượng nguồn lực nhất định, hay đây còn gọi là nguyên tắc tối đa
Tính hiệu lực: là khả năng về mức độ hoàn thành các nhiệm vụ và các mục tiêu đã xác định của đơn vị
c Đối tượng kiểm toán:
Là bất kỳ loại hình nghiệp vụ nào của đơn vị hay tổ chức được kiểm toán
d Khách thể kiểm toán:
là bất kỳ đơn vị, tổ chức cần kiểm toán: bắt buộc (kiểm toán nhà nước, kiểm toán nội bộ) tự nguyện (kiểm toán độc lập)
e Đối tượng sử dụng thông tin kiểm toán:
Như kiểm toán tài chính
f Chủ thể kiểm toán:
Trang 26================================================================
Bộ môn Kế toán – Khoa kinh tế - Đại học SPKT Hưng Yên 25
Thường là kiểm toán nội bộ hoặc kiểm toán nhà nước Tuy nhiên kiểm toán độc lập cũng có thể thực hiện nếu được yêu cầu
g Cơ sở thực hiện cuộc cuộc kiểm toán:
Không có hệ thống chuẩn mực riêng cho kiểm toán hoạt động bởi hiệu năng và hiệu quả là lĩnh vực khó có thể đánh giá một cách cụ thể
h Cơ sở để đánh giá hiệu quả và hiệu năng của hoạt động:
Hiệu quả và hiệu năng của hoạt động được đánh giá một cách chủ quan, và không có thước đo chính xác về tính hiệu quả và hiệu năng
i Báo cáo kiểm toán:
Cung cấp thông tin về thực trạng các hoạt động được kiểm toán từ đó có những đề xuất
để cải thiện hoạt động được kiểm toán, đồng thời đưa ra các giải pháp để nâng cao hiệu năng, hiệu quả của hoạt động quản lý và củng cố nền nếp hoạt động tài chính kế toán
3.2.3 Kiểm toán tuân thủ
a Khái niệm:
Là loại kiểm toán nhằm để xem xét các đơn vị được kiểm toán có tuân thủ các quy định
mà các cơ quan có thẩm quyền cấp trên hoặc cơ quan chức năng của nhà nước hoặc cơ quan chuyên môn đề ra hay không
b Mục tiêu kiểm toán:
Như khái niệm đã trình bày: Đánh giá mức độ tuân thủ các quy định của cấp trên, nhà nước, cơ quan chuyên môn của đơn vị được kiểm toán
c Đối tượng kiểm toán: khá linh hoạt
- Việc tuân thủ các quy tắc do nhà nước, cơ quan cấp trên đề ra: quy định về thuế GTGT, quy định về bảo vệ môi trường, quy định về luật lao động,…
- Việc tuân thủ các quy định do người quản lý cấp trên trong đơn vị đề ra
- Việc tuân thủ các quy định của cơ quan chuyên môn đề ra: thủ tục vay vốn nhà nước, thủ tục giải ngân của của kho bạc nhà nước
d Khách thể kiểm toán:
Thường là các khách thể bắt buộc
e Đối tượng sử dụng thông tin kiểm toán:
Trang 27================================================================
Bộ môn Kế toán – Khoa kinh tế - Đại học SPKT Hưng Yên 26
- Bản thân nhà quản lý các đơn vị được kiểm toán
- Cơ quan quản lý cấp trên
- Cơ quan chuyên môn
h Cơ sở để đánh giá mức độ tuân thủ:
Luật, chế độ, quy định đối với các hoạt động của khách thể kiểm toán
i Báo cáo kiểm toán:
Thông báo về mức độ tuân thủ luật pháp, các chế độ, quy định của khách thể kiểm toán
3.2.4 Kiểm toán liên kết:
Kiểm toán liên kết là sự kết hợp giữa kiểm toán tài chính và kiểm toán hoạt động
Là việc thẩm định, soát xét công việc quản lý các nguồn tài chính, nhân lực, vật lưc đã ủy quyền cho người sử dụng theo mục tiêu đặt ra
Ví dụ: kiểm toán báo cáo quyết toán dự án công trình hoàn thành là kiểm toán liên kết Bởi trong báo cáo kiểm toán này, kiểm toán viên vừa đánh giá tính trung thực của các thông tin (mục tiêu của kiểm toán tài chính) trong báo cáo quyết toán vừa đánh giá tính hiệu lực của
dự án (mục tiêu của dự án có đạt được hay không, đạt được thì tiết kiệm hay lãng phí nguồn lực)
3.3 Phân loại kiểm toán theo hệ thống bộ máy tổ chức
3.3.1 Kiểm toán nhà nước
- Khái niệm: kiểm toán nhà nước là hệ thống bộ máy chuyên môn của nhà nước thực hiện chức năng kiểm toán tài sản công
- Chủ thể tiến hành kiểm toán: là các kiểm toán viên nhà nước, họ là công chức nhà nước
và họ được hưởng lương từ ngân sách nhà nước do đó khi tiến hành cuộc kiểm toán, kiểm toán viên không thu phí kiểm toán Kiểm toán viên nhà nước không cần có chứng chỉ CPA
Trang 28================================================================
Bộ môn Kế toán – Khoa kinh tế - Đại học SPKT Hưng Yên 27
- Đặc trưng của kiểm toán nhà nước:
+ Lĩnh vự kiểm toán chủ yếu là kiểm toán tài chính và kiểm toán tuân thủ
+ Tính pháp lý: là mang tính cưỡng chế và bắt buộc thông qua lệnh kiểm toán
- Khách thể kiểm toán: là các đơn vị, cá nhân có sử dụng vốn hoặc kinh phí từ ngân sách nhà nước (trên 51% từ NSNN), tài sản của một số cá nhân như tổng thống, thủ tướng…
- Mối quan hệ giữa chủ thể kiểm toán và khách thể kiểm toán: là mối quan hệ ngoại kiểm
- Giá trị pháp lý của kết luận kiểm toán: có giá trị pháp lý cao vì kết quả kiểm toán không những cung cấp cho cơ quan có thẩm quyền mà con cung cấp cho công chúng
- Mô hình tổ chức: 3 mô hình
+ Kiểm toán NN độc lập với quốc hội và chính phủ:
Quốc hội ban hành luật pháp cho hoạt động của cơ quan kiểm toán quốc gia
Chủ tịch cơ quan kiểm toán quốc gia trình trước quốc hội về việc sử dụng các nguồn lực thông qua hoạt động kiểm toán độc lập của cơ quan kiểm toán quốc gia
Với các ban, bộ của chính phủ thì cơ quan kiểm toán quốc gia là cơ quan ngoại kiểm (tức là thành viên của cơ quan kiểm toán quốc gia không liên quan đến các ban, bộ của chính phủ) Do vậy, chính phủ không có tác động nào tới việc tổ chức thực hiện của cơ quan kiểm toán quốc gia Mô hình này tồn tại ở Australia
+ Kiểm toán NN trực thuộc chính phủ:
Cơ quan kiểm toán có nghĩa vụ xác định tính đúng đắn, hợp pháp của các tài liệu
kế toán, báo cáo quyết toán của các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, đơn vị kinh tế nhà nước và các tổ chức có sử dụng kinh phí nhà nước để trình Chính phủ
Mô hình kiểm toán nhà nước này tồn tại ở Việt Nam từ 11/7/1994 cho đến 13/6/2005
+ Mô hình kiểm toán trực thuộc quốc hội: như KTNN VN từ 2006 đến nay và một số nước như Bắc Mỹ, Canada trực thuộc quốc hội
Cơ quan kiểm toán tách biệt khỏi chính phủ Trưởng cơ quan kiểm toán do Chủ tịch Quốc hội bổ nhiệm
Cơ quan kiểm toán tập trung vào kiểm toán tình hình tài chính, kiểm toán tuân thủ, kiểm toán về việc điều hành hoạt động của các tổ chức Chính phủ và trình trước Quốc hội
Trang 29================================================================
Bộ môn Kế toán – Khoa kinh tế - Đại học SPKT Hưng Yên 28
Mô hình này tồn tại ở Mỹ, Canada và Việt Nam (từ 14/6/2005)
3.3.2 Kiểm toán độc lập
- Khái niệm: kiểm toán độc lập là các tổ chức kinh doanh dịch vụ kiểm toán và tư vấn theo yêu cầu của khách hàng
- Chủ thể tiến hành kiểm toán:
+ Là các kiểm toán viên độc lập, có nghiệp vụ: họ là những kiểm toán viên chuyên nghiệp do đó họ nhất thiết phải có chứng chỉ kiểm toán viên (CPA), ngoài ra kiểm toán viên còn phải có phẩm chất đạo đức:trung thực, liêm khiết, tuyệt đối bí mật thông tin của khách hàng…
+ Các kiểm toán viên có thu phí kiểm toán
- Đặc trưng cuả kiểm toán độc lập:
+ Là hoạt động đặc trưng của cơ chế thị trường
+ Lĩnh vực kiểm toán chủ yếu: kiểm toán tài chính, đôi khi thực hiện kiểm toán nghiệp vụ (nếu được ủy quyền)
+ Tính pháp lý: mang tính tự nguyện thông qua hợp đồng kiểm toán + Khách thể kiểm toán gồm 2 loại:
Khách thể bắt buộc: theo quy định của pháp luật là BCTC hàng năm của những công ty sau được kiểm toán bồi thường 1 công ty kiểm toán độc lập
VD: các công ty đang liêm yết trên TTCK, các công ty đang cổ phần hóa, BCTC (hay gọi báo cáo Bạch)
Các quỹ hỗ trợ đầu tư phát triển, các tổ chức kinh doanh tiền tệ: NHTM…
Khách thể tự nguyện: là các tổ chức cá nhân có nhu cầu kiểm toán
- Mối quan hệ giữ chủ thể kiểm toán và khách thể kiểm toán: ngoại kiểm
- Giá trị pháp lý của kết quả kiểm toán: có giá trị pháp lý cao vì kết quả kiểm toán được cung cấp cho những người quan tâm
- Mô hình tổ chức: 2 mô hình
+ Văn phòng kiểm toán (ở Việt Nam chưa được phép hoạt động dưới hình thức này nhưng ở một số nước phát triển mạnh như Trung Quốc, Mỹ có khoảng 60-90 nghìn văn phòng): quy mô nhỏ, tính pháp lý không cao
Trang 30================================================================
Bộ môn Kế toán – Khoa kinh tế - Đại học SPKT Hưng Yên 29
+ Công ty kiểm toán: quy mô lớn, tính pháp lý cao
Công ty kiểm toán đa quốc gia:KPMG, E&y, DTT, PWC Là các hãng kinh tế lớn trên thế giới, có mặt trên….quốc gia trên thế giới
Công ty kiểm toán quốc gia: Vaco, ASSC
3.3.3 Kiểm toán nội bộ
- Khái niệm: KTNB là bộ máy thực hiện chức năng kiểm toán trong phạm vi đơn vị, phục vụ cho yêu cầu quản lý nội bộ đơn vị
- Chủ thể tiến hành kiểm toán:
+ Là kiểm toán viên nội bộ, họ là những kiểm toán viên không chuyên nghiệp, họ có thể là kế toán viên giỏi hoặc lâu năm hoặc những nhà quản lý có kinh nghiệm hoặc những kỹ
sƣ có am hiểu trong lĩnh vực kiểm toán
+ Khi tiến hành kiểm toán họ không thu phí kiểm toán
- Đặc trƣng:
+ Lĩnh vực kiểm toán chủ yếu: kiểm toán nghiệp vụ và kiểm toán tuân thủ
+ Tính pháp lý của kiểm toán: mang tính cƣỡng chế và bắt buộc thông qua yêu cầu của ban giám đốc hoặc hội đồng quản trị
+ Khách thể kiểm toán: là bộ phận trong đơn vị hoặc cá nhân
+ Mối quan hệ giữa chủ thể kiểm toán và khách thể kiểm toán: nội kiểm
+ Giá trị pháp lý của kết quả kiểm toán: có giá trị pháp lý thấp vì kết quả của kiểm toán chỉ sử dụng cho nội bộ của đơn vị
Trang 31================================================================
Bộ môn Kế toán – Khoa kinh tế - Đại học SPKT Hưng Yên 30
CHƯƠNG 4: ĐỐI TƯỢNG KIỂM TOÁN
4.1 Khái quát chung về đối tượng và khách thể kiểm toán
4.1.1 Đối tượng kiểm toán
- Khái niệm: đối tượng kiểm toán là các thực trạng hoạt động cần được kiểm toán
- Các yếu tố cấu thành đối tượng kiểm toán:
Kiểm toán nảy sinh từ kế toán và nhu cầu của quản lý Trong thời kỳ đầu mới hình thành, đối tượng kiểm toán là các tài liệu kế toán
Tuy nhiên, với mọi người quan tâm, các con số và tài liệu kế toán không có ý nghĩa nếu như
nó không gắn với thực trạng tài sản hoặc thực trạng tài chính Do vậy kiểm toán không chỉ giới hạn đối tượng ở tài liệu kế toán mà còn mở rộng ra thực trạng hoạt động tài chính (phần được phản ánh trên tài liệu kế toán và phần chưa được phản ánh trên tài liệu kế toán)
Đến cuối thế kỷ XX, khi kiểm toán đã phát triển mạnh mẽ hơn, ngoài lĩnh vực tài chính kế toán, kiểm toán còn quan tâm tới các lĩnh vực khác của quản lý như hiệu quả sử dụng nguồn lực và hiệu năng của các chương trình, mục tiêu, dự án
Như vậy, ngày nay đối tượng của kiểm toán bao gồm:
- Tài liệu kế toán
- Thực trạng hoạt động tài chính
- Thực trạng tài sản và nghiệp vụ tài chính
- Hiệu quả và hiệu năng
4.1.2 Khách thể kiểm toán
4.1.2.1 Khái niệm
Khách thể kiểm toán là các đơn vị/ tổ chức/ cá nhân cần được kiểm toán
4.1.2.2 Phân loại khách thể kiểm toán
- Phân loại theo tính pháp lý của cuộc kiểm toán:
+ Khách thể tự nguyện
+ Khách thể bắt buộc
- Phân loại theo mối quan hệ với chủ thể kiểm toán:
Trang 32================================================================
Bộ môn Kế toán – Khoa kinh tế - Đại học SPKT Hưng Yên 31
+ Khách thể của kiểm toán nhà nước: các doanh nghiệp/ đơn vị/ tổ chức/ cá nhân có
4.1.3 Cuộc kiểm toán
Ví dụ về cuộc kiểm toán: Công ty kiểm toán VACO tiến hành kiểm toán BCTC của công ty May 10
Trong ví dụ trên, chủ thể kiểm toán là công ty kiểm toán VACO, khách thể kiểm toán là công ty May 10, nhiệm vụ của công ty VACO là kiểm toán BCTC của công ty May 10
Như vậy, một chủ thể kiểm toán gắn liền với một khách thể kiểm toán để thực hiện một nhiệm
vụ xác định được gọi là một cuộc kiểm toán
Một cuộc kiểm toán bao gồm các yếu tố cụ thể:
- Đối tượng kiểm toán cụ thể
- Chủ thể kiểm toán cụ thể
- Khách thể kiểm toán cụ thể
- Thời hạn kiểm toán cụ thể
- Cơ sở pháp lý thực hiện kiểm toán
4.2 Các yếu tố cấu thành đối tượng kiểm toán
4.2.1 Thực trạng hoạt động tài chính- đối tượng chung của kiểm toán
a Khái niệm hoạt động tài chính:
Hoạt động tài chính là việc dùng tiền để giải quyết các mối quan hệ kinh tế trong đầu
tư, kinh doanh, phân phối, thanh toán nhằm đạt được lợi ích kinh tế nhất định
Ví dụ: thanh toán tiền hàng cho nhà cung cấp; chia cổ tức cho cổ đông
b Các nguyên tắc của hoạt động tài chính:
- Hoạt động tài chính phải có kế hoạch:
Hoạt động tài chính chứa đựng nhiều mối quan hệ kinh tế phức tạp, để giải quyết tốt các mối quan hệ đó thì trong hoạt động tài chính phải có định hướng cho từng thời kỳ cụ thể, cho từng
Trang 33================================================================
Bộ môn Kế toán – Khoa kinh tế - Đại học SPKT Hưng Yên 32
công việc cụ thể Trong định hướng cần đưa ra các phương án cụ thể và cân nhắc, lựa chọn phương án tốt nhất
- Hoạt động tài chính phải đảm bảo tiết kiệm và có lợi:
Lợi ích là mục tiêu của hoạt động tài chính
Trong kinh doanh: lợi ích chính là lợi nhuận thực hiện
Trong lĩnh vực xã hội: lợi ích là việc thực hiện tốt các mục tiêu của chương trình, dự án cụ thể Trong mọi trường hợp, việc tiết kiệm cần thực hiện trên từng công việc, từng khoản chi trên quan điểm hướng tới lợi ích cuối cùng
- Hoạt động tài chính phải đảm bảo tuân thủ pháp luật và thể lệ tài chính:
4.2.2 Tài liệu kế toán- đối tượng cụ thể của kiểm toán
a Tài liệu kế toán:
- Tài liệu kế toán bao gồm: chứng từ kế toán, sổ sách kế toán, báo cáo kế toán,… đó là những
b Tài liệu kế toán- đối tượng cụ thể của kiểm toán
- Tài liệu kế toán là cơ sở để tổng kết các chỉ tiêu ở phạm vi rộng hơn Là cơ sở để kiểm tra, lưu trữ các tài liệu và bảo vệ tài sản Đồng thời tài liệu kế toán còn là cơ sở để những người quan tâm ra các quyết định về quản lý, đầu tư, thanh toán, phân phối
- Trong cơ chế thị trường, cạnh tranh gay gắt, rủi ro trong kinh doanh và đầu tư ngày càng cao Trong khi đó, số lượng người quan tâm đến tài liệu kế toán cũng ngày càng tăng, song quan trọng hơn là họ đòi hỏi chất lượng tài liệu kế toán cũng cao hơn
- Quá trình xử lý thông tin kế toán là quá trình phức tạp (thông tin kế toán là sự phản ánh hoạt động tài chính, hoạt động tài chính chứa đựng nhiều mối quan hệ phức tạp về thanh toán, đầu tư, phân phối,…) Trong khi đó rất nhiều người quan tâm đến thông tin kế toán lại không am hiểu hoặc hiểu chưa sâu về lĩnh vực này Ngay cả bản thân những kế toán viên đôi khi cũng gặp khó khăn trong việc xử lý các thông tin kế toán
- Giữa chuẩn mực kế toán với các điều kiện thực hiện nó ở các nước, các thời kỳ có sự cách biệt Chuẩn mực kế toán cũng thay đổi theo thời gian
Từ những yếu tố trên đòi hỏi kiểm toán phải thực hiện trước tiên đối với các tài liệu kế toán để tạo niềm tin cho người quan tâm, đồng thời cũng là hướng dẫn nghiệp vụ, củng cố nền
Trang 34================================================================
Bộ môn Kế toán – Khoa kinh tế - Đại học SPKT Hưng Yên 33
nếp hoạt động tài chính và cải tiến tổ chức để nâng cao chất lượng kế toán (ý nghĩa và tác dụng của kiểm toán: góp phần hướng dẫn nghiệp vụ và củng cố nền nếp hoạt động tài chính kế toán nói riêng và hoạt động của các doanh nghiệp được kiểm toán nói chung)
c Đối tượng cụ thể của kiểm toán thuộc phạm vi tài liệu kế toán:
- Tính hiện thực của các thông tin kế toán: tính có thật của tài sản và tính có thật của các nghiệp vụ kinh tế phát sinh (tài sản tồn tại thực tế, thuộc quyền sở hữu của đơn vị và nghiệp vụ kinh tế thực tế phải phát sinh)
Ví dụ: tài liệu kế toán phản ánh tăng công cụ dụng cụ do mua sắm thì công cụ dụng cụ ghi tăng đó phải có thực, đang có trong doanh nghiệp và thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp, đồng thời nghiệp vụ mua công cụ dụng cụ đó phải thực sự phát sinh
- Tính hợp pháp của các biểu mẫu, của trình tự lập và luân chuyển các tài liệu này
- Tính hợp lý của các đối tượng kế toán phù hợp với nội dung của các nghiệp vụ kinh tế phát sinh Đây chính là sự phù hợp giữa tài liệu kế toán với thực trạng hoạt động của đơn vị
- Tính pháp lý trong việc thực hiện các luật pháp, chuẩn mực và chế độ kinh tế tài chính: điều này thể hiện độ tin cậy của các tài liệu kế toán Độ tin cậy càng cao, càng nhiều người sử dụng thì tính pháp lý càng cao
4.2.3 Thực trạng tài sản và nghiệp vụ tài chính- đối tượng cụ thể của kiểm toán
- Tài sản được biểu hiện dưới nhiều hình thái vật chất khác nhau Yêu cầu về quy cách, phẩm chất, bảo quản, bảo dưỡng khác nhau Đồng thời lưu trữ trên nhiều kho bãi khác nhau, thuộc quản lý của những người khác nhau Do vậy, có sự cách biệt giữa người sở hữu và người bảo quản và sử dụng tài sản
- Khi sản xuất phát triển, quy mô tài sản cũng tăng lên, quy mô kinh doanh mở rộng, các mối liên kết kinh tế ngày càng đa dạng phức tạp Khái niệm tài sản ngày càng phong phú hơn, đặc biệt là sự xuất hiện của tài sản vô hình Các quan hệ vay- mua, thuê- mua cũng ngày càng nhiều hơn, các rủi ro dẫn đến những tổn thất bất thường của tài sản cũng cao hơn trong nền kinh tế thị trường Những điều này dẫn đến cách biệt giữa tài sản với sự phản ánh của nó trong thông tin kế toán
Từ thực tế trên đã thúc đẩy sự ra đời của kiểm toán cùng tính tất yếu phải đặt thực trạng tài sản vào đối tượng kiểm toán
Trang 35================================================================
Bộ môn Kế toán – Khoa kinh tế - Đại học SPKT Hưng Yên 34
- Tài sản thường xuyên vận động, quá trình vận động này được cấu thành từ các nghiệp
vụ tài chính cụ thể (nhập, xuất, mua, bán, thuê, …) Chính vì vậy các nghiệp vụ tài chính cũng
là đối tượng của kiểm toán
- Do đặc tính của từng loại tài sản cũng như mối quan hệ kinh tế giữa mỗi loại tài sản Mặt khác, thực trạng tài sản và các nghiệp vụ tài chính có mối liên hệ chặt chẽ với nhau nên các chủng loại nghiệp vụ tài chính cũng đa dạng Thực tế này đòi hỏi công tác kiểm toán các nghiệp vụ này phải chia ra thành các phần hành kiểm toán khác nhau:
4.2.4 Hiệu quả và hiệu năng- Đối tượng cụ thể của kiểm toán
- Theo lịch sử hình thành và phát triển của kiểm toán, hiệu quả và hiệu năng là đối tượng mới của kiểm toán Khi nền kinh tế phát triển, các mối quan hệ kinh tế nhiều và phức tạp hơn, xuất phát từ nhu cầu của quản lý, kiểm toán đã hình thành đối tượng mới là hiệu quả
và hiệu năng của từng nghiệp vụ hay của từng hoạt động cụ thể
- Hiệu quả và hiệu năng là những khái niệm mà khó có thể lượng hóa một cách chính xác, khi đánh giá hiệu hiệu quả và hiệu năng của từng nghiệp vụ/ hoạt động cụ thể còn mang nặng tính chủ quan Hiện tại, chưa có một hệ thống chuẩn mực hay thước đo về tính hiệu quả, hiệu năng Chính vì vậy, việc xây dựng những chuẩn mực cụ thể để đánh giá hiệu quả và hiệu năng là rất cần thiết
- Hiệu quả và hiệu năng là một bộ phận của kiểm toán hoạt động, gắn liền với 1 nghiệp vụ hay một dự án hay một chương trình cụ thể
Trang 36================================================================
Bộ môn Kế toán – Khoa kinh tế - Đại học SPKT Hưng Yên 35
CHƯƠNG 5: NHỮNG KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ KIỂM TOÁN
5.1 Gian lận và sai sót
5.1.1 Gian lận
- Khái niệm: là hành vi cố ý lừa dối, giấu diếm xuyên tạc sự thật có liên quan tới việc tham ô biển thủ tài sản hoặc che dấu thông tin
- Theo VSA 240: Gian lận là những hành vi cố ý làm sai lệch thông tin kinh tế, tài chính do 1
hay nhiều người trong hội đồng quản trị, ban giảm đốc, các nhân viên, hoặc bên thứ 3 thực hiện làm ảnh hưởng đến báo cáo tài chính
- Các hình thức biểu hiện:
+ Xử lý chứng từ tài liệu kế toán mang tính chủ quan
+ Biển thủ tài sản
+ Che dấu hoặc cố ý bỏ sót các thông tin, các nghiệp vụ kinh tế
+ Ghi chép các nghiệp vụ kinh tế không đúng sự thật
+ Áp dụng sai các chuẩn mực nguyên tắc, phương phá chế độ kế toán, chính sách tài chính cố
ý, cố ý tính toàn sai về mặt số học
- Các yếu tố ảnh hưởng đến việc xảy ra gian lận:
+ Sự xúi giục: xúi giục được coi là 1 loại áp lực có thể gây ra hành vi gian lận
+ Cơ hội là thời cơ để thực hiện hành vi gian lận khi chức vụ càng cao thì càng có nhiều cơ hội + Thiếu liêm khiết: yếu tố này làm nảy sinh hành vi gian lận như thực hiện các hành vi gian lận nhưng biện minh cho các lý do khác nhau
+ Lỗi tính toán về mặt số học: ghi chép sai trong hồ sơ số liệu kế toán
+ Bỏ sót hoặc hiểu sai các khoản mục, các nghiệp vụ kinh tế
+ Áp dụng sai các chuẩn mực nguyên tắc phương pháp chế độ kế toán chính sách tài chính không cố ý
Trang 37================================================================
Bộ môn Kế toán – Khoa kinh tế - Đại học SPKT Hưng Yên 36
- Các yếu tố ảnh hưởng đến việc xảy ra sai sót:
+ Năng lực: năng lực yếu kém dẫn đến thực hiện công việc tài chính không cố ý
+ Sức ép: do áp lực về thời gian hoặc căng thẳng về tâm lý có thể dẫn đến nhiều sai sót
+ lề lối làm việc: làm việc cẩu thả, thiếu thậng trọng, thiếu ý thức trách nhiệm có thể có nhiều sai sót
5.1.3 Phân biệt giữa gian lận và sai sót
- Giống nhau: đều là hành vi sai phạm do người mắc lỗi tạo ra đều làm sai lệch thông tin phản ánh sai thực tế
Mức tính vi Gian lận được che dấu rất
tinh vi
Sai sót thiếu sự che đậy
Tính nghiêm trọng Gian lận luôn là hành vi
+ Quản lý mang tính độc đoán, chuyên quyền
+ Quyết định quản lý bị độc quyền bởi cá nhân hay một nhóm người
+ Thái độc hiếu thắng của bán quản lý
+ Môi trường kiểm soát yếu
- Nhóm yếu tố về kinh doanh:
Môi trường kinh doanh gặp nhiều rủi ro, khó khăn trong ngành nghề hoặc sản phẩm đương thời
- Nhóm yếu tố bất thường
Các nghiệp vụ bất thường dễ có khả năng gian lận và sai sót
5.1.5 Trách nhiệm đối với gian lận và sai sót
- Ban lãnh đạo doanh nghiệp: trách nhiệm ngăn ngừa, phát hiện và sửa chữa kịp thời các gian lận và sai sót
Trang 38================================================================
Bộ môn Kế toán – Khoa kinh tế - Đại học SPKT Hưng Yên 37
- Kiểm toán viên: Trách nhiệm phát hiện các sai phạm trọng yếu
5.2 Trọng yếu và rủi ro
5.2.1 Trọng yếu
* Khái niệm:
- Trọng yếu là khái niệm chỉ tầm cỡ và tính hệ trọng của sai phạm
- Theo VSA 320: Trọng yếu là thuật ngữ dùng để thể hiện tầm quan trọng của 1 thông tin hoặc
1 số liệu kế toán trên báo cáo tài chính Thông tin được coi là trọng yếu có nghĩa là nếu thiếu thông tin đó hoặc thiếu chính xác của thông tin đó sẽ ảnh hưởng đến các quyết định kinh tế của những người sử dụng báo cáo tài chính
* Đánh giá trọng yếu
+ Về quy mô:
- Đánh giá theo quy mô tuyệt đối:
Sử dụng con số tuyệt đối để đánh giá tính trọng yếu Con số tuyệt đối là con số thể hiện mức quan trọng mà không cần cân nhắc thêm bất cứ một yếu tố nào khác
- Đánh giá theo quy mô tương đối:
Quy mô tương đối là mối quan hệ tương quan giữa đối tượng cần đánh giá với một số gốc Trọng yếu là một khái niệm tượng đối hơn là 1 khái niệm tuyệt đối 1 sai phạm có quy mô nhất định có thể trọng yếu đối với công ty này nhưng có thể không trọng yếu đối với công ty khác Khi xác định mức trọng yếu kiểm toán viên cần xác định quy mô của trọng yếu Thông thường các hãng kiểm toán xác định mức trọng yếu như sau:
Đối tượng kiểm
toán
Chắc chắn không trọng yếu
Có thể trọng yếu Chắc chắn trọng
yếu BCĐKT SF<= 10%TS 10%<SF<15% SF>= 15% TS
BCKQKD SF<= 5% 5%<SF<10% SF>= 10% LNTT
Hàng tốn kho SF<= 2% HTK 2%< SF<3% SF>= 3% HTK
+ Về tính chất:
Khái niệm trọng yếu gắn với tính hệ trọng của vấn đề xem xét
Các khoản mục, nghiệp vụ sau đây thường được xem là trọng yếu:
- Các khoản mục nghiệp vụ có gian lận hoặc chứa đựng khả năng gian lận
- Các khoản mục, nghiệp vụ có sai sót hệ trọng như:
Các khoản mục có sai sót lặp đi lặp lại
Các khoản mục nghiệp vụ có ảnh hưởng nghiêm trọng đến kỳ kế toán sau