-Sự tồn tại và phát triển của kinh tế hàng hoá - tiền tệ: Lịch sử phát triển của tài chính cho thấy rằng, khi những hình thức tài chính đầu tiên xuất hiện theo sự xuất hiện của Nhà nước
Trang 1KHOA KINH TẾ
ĐỀ CƯƠNG BÀI GIẢNG TÀI CHÍNH TIỀN TỆ (Tài liệu lưu hành nội bộ)
Hưng Yên
Trang 2MỤC LỤC
CHƯƠNG I: ĐẠI CƯƠNG VỀ TÀI CHÍNH VÀ TIỀN TỆ 5
1.1 Sự ra đời, định nghĩa và bản chất của tiền tệ 5
1.1.1.Sự ra đời của tiền tệ 5
1.1.2 Định nghĩa 6
1.1.3 Bản chất của tiền tệ 7
1.2 Chức năng của tiền tệ 8
1.2.1 Chức năng đo lường giá trị 8
1.2.2 Chức năng trung gian trao đổi 9
1.2.3 Chức năng dự trữ giá trị 10
1.2.4 Chức năng thanh toán 10
1.3 Sự phát triển các hình thái tiền tệ 10
1.3.1 Hóa tệ 10
1.3.2 Tín tệ 12
1.3.3 Bút tệ (Tiền ghi sổ) 13
1.3.4 Tiền điện tử 14
1.4 Khối tiền tệ 14
1.4.1 Khối tiền M1 14
1.4.2 Khối tiền tệ M2 14
1.4.3 Khối tiền tệ M3 15
1.4.4 Khối tiền tệ L 15
1.5 Chế độ tiền tệ 15
1.5.1 Chế độ song bản vị 15
1.5.2 Chế độ bản vị tiền vàng 16
1.5.3 Chế độ bản vị vàng hối đoái 16
1.5.4.Chế độ bản vị ngoại tệ 16
1.6 Bản chất của tài chính 16
1.6.1 Sự ra đời của phạm trù tài chính 16
1.6.2 Bản chất của tài chính 18
1.7 Chức năng của tài chính 19
1.7.1 Chức năng phân phối 19
1.7.2 Chức năng giám đốc 20
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG TÀI CHÍNH 22
2.1 Vai trò của hệ thống tài chính 22
2.2 Cấu trúc của hệ thống tài chính 22
2.2.1 Ngân sách nhà nước 23
2.2.2.Tài chính Doanh nghiệp 24
2.2.3.Bảo hiểm 24
2.2.4.Tín dụng 25
2 2.5 Tài chính các tổ chức xã hội và Tài chính hộ gia đình (dân cư) 25
2.3 Chính sách tài chính quốc gia 27
2.3.1 Mục tiêu của chính sách tài chính quốc gia 28
2.3.2 Những quan điểm cơ bản 29
2.3.3 Nội dung của chính sách tài chính quốc gia 30
CHƯƠNG 3: NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 36
3.1 Vai trò của ngân sách nhà nước 36
3.2.Thu và chi của ngân sách nhà nước 37
3.2.1 Thu ngân sách nhà nước 37
3.2.2.Chi ngân sách nhà nước 41
Trang 33.2.3 Thâm hụt ngân sách 45
3.3 Tổ chức hệ thống ngân sách và phân cấp hệ thống ngân sách nhà nước 46
3.3.1 Tổ chức hệ thống ngân sách nhà nước 46
3.3.2 Phân cấp ngân sách nhà nước 47
3.4 Năm ngân sách và chu trình ngân sách 47
CHƯƠNG 4: TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 49
4.1 Nguồn vốn và phương thức huy động vốn của doanh nghiệp 49
4.1.1 Nguồn vốn tự có của doanh nghiệp 49
4.1.2 Vốn tín dụng ngân hàng và tín dụng thương mại 50
4.1.3 Nguồn vốn phát hành cổ phiếu 51
4.1.4 Phát hành trái phiếu công ty 54
4.1.5 Nguồn vốn nội bộ 56
4.2 Quản lý vốn cố định của doanh nghiệp 57
4.2.1 Tổng quan về vốn cố định 57
4.2.2.Khấu hao tài sản cố định 58
4.3 Quản lý vốn lưu động 65
4.3.1 Tổng quan về Vốn lưu động 65
4.3.2 Cơ cấu và phân loại tài sản lưu động 66
4.3.3 Quản lý hàng hoá vật tư tồn kho 69
CHƯƠNG 5: THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH 72
5.1 Chức năng của thị trường tài chính 72
5.2 Chủ thể của thị trường tài chính 73
5.2.1 Chủ thể đi vay 73
5.2.2 Chủ thể cho vay hay đầu tư 73
5.3 Cấu trúc của thị trường tài chính 74
5.3.1 Thị trường nợ và thị trường vốn cổ phần 74
5.3.2.Thị trường cấp một và thị trường cấp hai 74
5.3.3 Thị trường tiền tệ và thị trường vốn 75
5.4 Các công cụ của thị trường tài chính 76
5.4.1 Các công cụ của thị trường tiền tệ 76
5.5 Điều hành thị trường tài chính 80
5.5.1 Ban hành quy định bắt buộc các công ty phải cung cấp đầy đủ thông tin cho các nhà đầu tư 80
5.5.2 Đảm bảo sự lành mạnh của các trung gian tài chính 81
5.6 Quốc tế hoá thị trường tài chính 81
5.6.1 Thị trường trái khoán quốc tế và Châu Âu 81
5.6.2 Thị trường cổ phiếu thế giới 81
5.7 Thị trường tài chính Việt Nam 81
5.7.1 Sự hình thành thị trường tài chính ở Việt Nam 81
5.7.2 Các công cụ của thị trường tài chính Việt Nam 82
5.7.3 Điều kiện để phát triển thị trường tài chính Việt Nam 82
CHƯƠNG 6: CÁC TỔ CHỨC TÀI CHÍNH TRUNG GIAN 83
6.1 Phân tích kinh tế về cấu trúc tài chính 83
6.1.1 Những vấn đề cơ bản về cấu trúc tài chính 83
6.1.2 Phí giao dịch và cấu trúc tài chính 85
6.1.3 Rủi ro và cấu trúc tài chính 86
6.2 Chức năng và vai trò của các tổ chức tài chính trung gian 89
6.2.1 Chức năng của các tài chính trung gian 89
6.2.2 Vai trò của các tổ chức tài chính trung gian 90
6.3 Các loại hình tổ chức tài chính trung gian 90
6.3.1 Các tổ chức nhận tiền gửi 91
6.3.2 Công ty bảo hiểm 91
Trang 46.3.3 Công ty tài chính 92
6.3.4 Các công ty chứng khoán 93
6.4 Các trung gian tài chính ở Việt Nam 94
6.4.1 Các ngân hàng 94
6.4.2 Các tổ chức tài chính phi ngân hàng 96
CHƯƠNG 7: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LÃI SUẤT 97
7.1 Các lãi suất cơ bản và phương pháp đo lường 98
7.2.Một số phân biệt lãi suất 103
7.2.1 Lãi suất thực và lãi suất danh nghĩa 103
7.2.2 Lãi suất và tỷ suất lợi tức 104
7.2.3 Lãi suất cơ bản của ngân hàng 104
7.3 Cấu trúc kì hạn và cấu trúc rủi ro của lãi suất 105
7.3.1 Cấu trúc rủi ro của lãi suất 105
7.3.2.Cấu trúc của thời hạn lãi suất 105
7.4 Các nhân tổ ảnh hưởng tới lãi suất 105
7.4.1 Ảnh hưởng của cung cầu của quỹ cho vay 106
7.4.2 Ảnh hưởng của lạm phát kì vọng 106
7.4.3 Ảnh hưởng của bội chi ngân sách 106
7.4.4 Những thay đổi về thuế 107
7.4.5 Những thay đổi trong đời sống xã hội 107
7.5 Lãi suất ở Việt Nam 107
CHƯƠNG 8: NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 109
8.1 Sự ra đời và phát triển của hệ thống ngân hàng thương mại 109
8.1.1 Sự ra đời và phát triển của hệ thống ngân hàng trên thế giới 109
8.1.2 Sự ra đời và phát triển của hệ thống ngân hàng Việt Nam 111
8.2 Hoạt động kinh doanh cơ bản của ngân hàng thương mại 113
8.2.1 Hoạt động tạo lập nguồn vốn 113
8.2.2 Hoạt động sử dụng vốn 116
8.2.3 Hoạt động dịch vụ của ngân hàng 117
8.3 Những nguyên lý chung của việc quản lý tài sản và nguồn vốn của ngân hàng thương mại 117
8.3.1 Quản lý tài sản 117
8.3.2 Quản lý nguồn vốn 118
8.3.3 Những nguyên tắc quản lý tiền cho vay 118
8.4 Quá trình tạo tiền gửi của hệ thống ngân hàng thương mại 119
8.4.1 Việc tạo ra tiền gửi của hệ thống ngân hàng thương mại 119
8.4.2 Hệ số nhân tiền 123
8.4.3 Quá trình thu hẹp bội số tiền gửi 124
CHƯƠNG 9 : NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG VÀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ QUỐC GIA 129 9.1 Quá trình hình thành ngân hàng trung ương 129
9.1.1 Quá trình hình thành 129
9.1.2 Đặc thù của ngân hàng trung ương 129
9.2 Chức năng của ngân hàng trung ương 131
9.2.1 Ngân hàng phát hành tiền và điều tiết lượng tiền tương ứng 131
9.2.2 Ngân hàng của các ngân hàng 131
9.2.3 Ngân hàng trung ương là ngân hàng của nhà nước 133
9.3 Vị trí và nhiệm vụ của chính sách tiền tệ 134
9.3.1 Vị trí 134
9.3.2.Nhiệm vụ 134
9.4 Mục tiêu của chính sách tiền tệ 135
9.4.1 Kiểm soát lạm phát, ổn định giá trị đồng bản tệ 135
9.4.2.Tạo việc làm 136
Trang 59.4.3 Tăng trưởng kinh tế 136
9.5 Các công cụ của chính sách tiền tệ 137
9.5.1.Nghiệp vụ thị trường mở (Open market operations) 137
9.5.2 Chính sách chiết khấu 140
9.5.3 Dự trữ bắt buộc (Reserve requirements) 141
9.5.4 Hạn mức tín dụng 142
9.6 Ngân hàng nhà nước Việt Nam 143
9.6.1 Quá trình hình thành và phát triển 143
9.6.2 Tổ chức bộ máy Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 143
9.6.3.Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của ngân hàng nhà Nước Việt Nam 143
9.6.4 Hoạt động chủ yếu của ngân hàng Nhà nước Việt Nam 143
CHƯƠNG10: TÀI CHÍNH QUỐC TẾ 145
10.1.Cán cân thanh toán 145
10.1.1 Khái niệm 145
10.1.2 Nội dung của cán cân thanh toán 145
10.2 Thị trương ngoại hối và tỷ giá hối đoái 146
10.2.1 Thị trường ngoại hối 146
10.2.2 Tỉ giá hối đoái 147
10.2.3 Thanh toán quốc tế 148
10.2.4 Tín dụng quốc tế 150
Trang 6ĐỀ CƯƠNG BÀI GIẢNG MÔN
LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH - TIỀN TỆ CHƯƠNG I: ĐẠI CƯƠNG VỀ TÀI CHÍNH VÀ TIỀN TỆ
(Số tiết: 06) 1.1 Sự ra đời, định nghĩa và bản chất của tiền tệ
1.1.1.Sự ra đời của tiền tệ
Khi loài người mới bắt đầu xuất hiện, họ phải tự tìm kiếm hoặc làm ra tất
cả những vật mình cần mà không phải dựa vào người khác Cộng đồng này sống độc lập với cộng đồng khác, họ tự lo chỗ ở, tự tìm kiếm thức ăn khi đói và tự tạo quần áo để tránh rét
Khi loài người phát triển hơn, họ không những có thể kiếm đủ cho nhu cầu hàng ngày mà còn có vật phẩm dư thừa, hoạt động trao đổi những vật phẩm dư thừa này bắt đầu xuất hiện giữa các cộng đồng người Việc trao đổi này mang tính chất trực tiếp, một hàng hóa này lấy một hàng hóa khác mà không cần có vật môi giới trung gian Cách thức trao đổi này đòi hỏi mỗi người phải tìmcho được một người khác muốn cái anh ta đang thừa và có cái anh ta muốn Khi trao đổi phát triển hơn, việc tìm kiếm một người như vậy trở nên khó khăn, bên cạnh đó còn tốn kém nhiều thời gian Những hạn chế của trao đổi trực tiếp đã làm xuất hiện những tập đoàn người với đủ thứ hàng hóa khác nhau, đi từ nơi này đến nơi khác để tiến hành trao đổi với nhiều cộng đồng người khác nhau
Cùng với sự phát triển của các hoạt động thương mại, sự ra đời của các quốc gia đã kéo theo nhiệm vụ quản lý của cải dư thừa bởi việc bóc lột nô lệ, nông
nô, nông dân; bởi việc trao đổi giữa các vùng xa cách nhau hoặc từ việc cướp bóc của các dân tộc láng giềng Nó đòi hỏi phải xác định giá trị các cống vật, thuế khóa
và tiêu chuẩn hóa các phương thức và phương tiện thanh toán tại những nơi họp chợ và các thương cảng Những vật làm trung gian trong trao đổi xuất hiện, được mọi người chấp nhận làm phương tiện để trao đổi với các hàng hóa khác
Ở thời kỳ này, đã có nhiều đồ vật được sử dụng với mục đích này, chẳng hạn như vải dệt, hạt cacao, ốc, vàng, sắt thỏi, đại mạch, lúa mì, đồng, kê, lụa,… trong đó kim loại có vị trí đặc biệt khiến nó dần trở thành công cụ được ưa thích nhất trong các hoạt động buôn bán và đóng thuế
Đầu tiên kim loại được sử dụng làm phương tiện trao đổi dưới dạng thỏi, sau
đó nó được đúc dưới dạng tiền đúc Ban đầu các kim loại sắt, thiếc, kẽm, đồng được
sử dụng để đúc tiền, sau đó là những đồng tiền đúc bằng bạc và vàng Đến đầu thế
kỷ 19, vàng được sử dụng phổ biến để đúc tiền ở các nước
Với sự xuất hiện của hệ thống ngân hàng vào đầu thế kỷ 14, các chứng chỉ
Trang 7tiền gửi do ngân hàng phát hành nhằm huy động vốn được sử dụng làm phương tiện thanh toán ở Châu âu, sau đó nó được thay thế bằng giấy bạc được đảm bảo bằng vàng của ngân hàng phát hành và lưu hành song song với tiền đúc của nhà nước Đến đầu thế kỷ 20, giấy bạc ngân hàng thay thế hoàn toàn các loại tiền đúc bằng kim loại quý như vàng, bạc Sau khi chế độ tiền tệ Bretton Woods sụp đổ, giấy bạc ngân hàng không còn mối liên hệ chính thức với vàng như trước nữa
Như vậy, sự phát triển của sản xuất và trao đổi hàng hóa đã đòi hỏi phải có một vật nào đó làm môi giới trung gian trong trao đổi, đóng vai trò vật ngang giá chung khi trao đổi chuyển từ trực tiếp sang gián tiếp Cũng chính sự phát triển của sản xuất và trao đổi hàng hóa cùng với sự can thiệp của nhà nước đã dẫn tới sự thanh thế phương tiện trao đổi này bằng phương tiện trao đổi khác
Kinh tế học đã chỉ ra rằng, tiền tệ là một phạm trù kinh tế khách quan, gắn liền với sự ra đời và phát triển của nền kinh tế hang hoá Trong khi nghiên cứu sự ra đời của tiền tệ, Karl Max kết luận “Trình bày nguồn gốc phát sinh của tiền tệ, nghĩa là phải khai triển cái biểu hiện của giá trị, biểu hiện bao hàm trong quan hệ giá trị của hàng hoá, từ hình thái ban đầu giản đơn nhất và ít thấy rõ nhất cho đến hình thái tiền tệ
là hình thái mà ai nấy đều thấy”
Trong quan hệ trao đổi, hình thức giá trị được biểu hiện qua 4 hình thái:
- Hình thái giá trị giản đơn hay ngẫu nhiên
- Hình thái giá trị toàn bộ hay mở rộng
- Hình thái giá trị chung
- Hình thái tiền tệ
Từ hình thái giản đơn hay ngẫu nhiên đến hình thái tiền tệ là một quá trình lịch sử lâu dài, nhằm giải quyết các mâu thuẫn vốn có trong bản thân hang hoá Nghiên cứu
về lịch sử tiền tệ, giáo sư PAUL A.SAMUELSON cũng kết luận rằng “ Do các xã hội
có sự mua bán rộng rãi không thể vượt qua được các cản trở quá lớn của các hình thức trao đổi hiện vật, nên việc sử dụng một vật trung gian làm phương tiện trao đổi được mọi người chấp nhận đó là tiền tệ”
1.1.2 Định nghĩa
Tiền là sản phẩm của quan hệ trao đổi hàng hoá Từ lúc xuất hiện cho đến khi phát triển thành một thực thể hoàn chỉnh, bản chất của tiền đã được hiểu không đồng nhất Tuỳ theo cách tiếp cận, nhìn ở những góc độ khác nhau về công dụng của tiền, mà có nhiều nhà kinh tế học từ cổ điển đến hiện đại, đã đưa ra những định nghĩa về tiền theo quan điểm riêng của mình
Định nghĩa 1: Tiền là một loại hàng hoá đặc biệt, đóng vai trò là vật ngang giá chung để đo giá trị của các loại hàng hoá khác
Trang 8- Giải thích từ ngữ: + Hàng hoá đặc biệt
+ Vật ngang giá chung
+ Đo giá trị hàng hoá khác
Theo định nghĩa này công dụng của tiền mới dừng ở tiềm năng, chưa phải tiền hiện thực Vì vậy sau khi “đo giá trị” quan hệ trao đổi được xác định và để thực hiện quan
hệ này, thì bắt buộc phải xuất hiện một phương tiện hiện thực Nhưng không phải tất
cả các quan hệ trao đổi, mặc dù đã được xác định đều thực hiện được mà chúng còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó yếu tố quan trọng nhất là số lượng giá trị cần thiết mà người mua tích luỹ được Vì vậy một định nghĩa về tiền được đưa ra:
Định nghĩa 2: Tiền là một loại hàng hoá đặc biệt, đóng vai trò là vật ngang giá chung để đo giá trị của các loại hàng hoá khác và là phương tiện cần thiết để thực hiện mọi quan hệ trao đổi Tiền có thể thoả mãn được một số nhu cầu của người sở hữu nó, tương ứng với số lượng giá trị mà người đó tích luỹ được
- Giải thích từ ngữ: + Phương tiện cần thiết
+ Trung gian trao đổi
Định nghĩa mới về tiền càng làm phong phú thêm bản chất của nó, đồng thời mở ra hướng phát triển trong tương lai của các phương tiện trao đổi trong nền kinh tế thị trường
1.1.3 Bản chất của tiền tệ
Tiền tệ thực chất là vật trung gian môi giới trong trao đổi hàng hoá, dịch vụ, là phương tiện giúp cho quá trình trao đổi được thực hiện dễ dàng hơn Bản chất của tiền
tệ được thể hiện rõ hơn qua hai thuộc tính sau của nó:
• Giá trị sử dụng của tiền tệ là khả năng thoả mãn nhu cầu trao đổi của xã hội, nhu cầu sử dụng làm vật trung gian trong trao đổi Như vậy người ta sẽ chỉ cần nắm giữ tiền khi có nhu cầu trao đổi Giá trị sử dụng của một loại tiền tệ là do xã hội qui định: chừng nào xã hội còn thừa nhận nó thực hiện tốt vai trò tiền tệ (tức là vai trò vật trung gian môi giới trong trao đổi) thì chừng đó giá trị sử dụng của nó với tư cách là tiền tệ còn tồn tại Đây chính là lời giải thích cho sự xuất hiện cũng như biến mất của các dạng tiền tệ trong lịch sử
Trang 9• Giá trị của tiền được thể hiện qua khái niệm “sức mua tiền tệ”, Như vậy khác với giá trị sử dụng của hàng hoá thông thường (giá trị sử dụng của hàng hoá thông thường là do đặc tính tự nhiên của nó qui định và tồn tại vĩnh viễn cùng với những đặc tính tự nhiên đó), giá trị sử dụng của một loại tiền tệ mang tính lịch sử, nó chỉ tồn tại trong những giai đoạn nhất định và hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của xã hội Tuy nhiên khái niệm sức mua tiền tệ không được xem xét dưới góc độ sức mua đối với từng hàng hoá nhất định mà xét trên phương diện toàn thể các hàng hoá trên thị trường
1.2 Chức năng của tiền tệ
Hầu hết các nhà nghiên cứu về tiền tệ đều thống nhất rằng tiền tệ có bốn chức năng Các chức năng này giúp chúng ta có thể phân biệt hàng hóa thông thường với hàng hóa tiền tệ
1.2.1 Chức năng đo lường giá trị
Đo lường giá trị là yêu cầu trước tiên và không thể thiếu được của trao đổi hàng hóa Trong mua bán hay trao đổi hàng hóa, người ta thực hiện theo nguyên tắc ngang giá Muốn đảm bảo được nguyên tắc trao đổi ngang giá thì điều kiện tiên quyết là phải
đo lường và xác định được giá trị hàng hóa Với chức năng đo lường giá trị, tiền tệ có thể giải quyết được yêu cầu này Ngoài việc trao đổi ra, trong một số hoạt động khác như kế toán, kế hoạch, tài chính,…người ta cũng cần đo lường giá trị và sử dụng tiền
tệ như những đơn vị tính toán
Qua việc thực hiện chức năng này, giá trị của các hàng hóa và dịch vụ được biểu hiện ra bằng tiền, như việc đo khối lượng bằng kilogram, đo độ dài bằng mét,… nhờ
đó mà việc trao đổi hàng hóa được diễn ra thuận tiện hơn
Nếu giá trị hàng hóa không có một đơn vị đo chung là tiền, mỗi hàng hóa sẽ được định giá bằng tất cả các hàng hóa còn lại, và như vậy số lượng giá các mặt hàng trong nền kinh tế sẽ nhiều đến mức người ta không còn thời gian cho việc tiêu dùng hàng hóa, do phần lớn thời gian đã được dành cho việc đọc giá hàng hóa Khi giá của các hàng hóa và dịch vụ được thể hiện bằng tiền, không những thuận lợi cho người bán hàng hóa mà việc đọc bảng giá cũng đơn giản hơn rất nhiều với chi phí thời gian ít hơn sử dụng cho các giao dịch
Muốn đo lường giá trị, trước hết người ta phải gán cho tiền tệ một giá trị để nó thể hiện được giá trị Kế đến người ta phải tiêu chuẩn hóa giá trị của nó thông qua việc định nghĩa đơn vị tiền tệ quốc gia Đơn vị tiền tệ của một quốc gia được xác định thông qua hai yếu tố:
_Tên gọi của đơn vị tiền tệ
Trang 10Ví dụ: dollar là tên gọi đơn vị tiền tệ của Mỹ, đồng là tên gọi đơn vị tiền tệ của Việt nam
_ Hàm lượng kim loại quy định trong đơn vị tiền tệ đó
Ví dụ: hàm lượng kim loại quy định trong 1 dollar Mỹ là 0,7366412 gram vàng nguyên
Đơn vị tiền tệ của một quốc gia nào đó muốn làm tốt chức năng đo lường giá trị thì đòi hỏi nó phải có:
không thay đổi nhiều qua thời gian
1.2.2 Chức năng trung gian trao đổi
Một khi người ta chấp nhận tiền tệ như là một thước đo giá trị thì người ta có khuynh hướng quy đổi tất cả giá trị của những hàng hóa khác ra tiền Từ đó, việc trao đổi hai hàng hóa có công dụng hay giá trị sử dụng khác nhau, nhưng có giá trị như nhau được thực hiện thông qua trung gian tiền tệ Công thức chung cho quá trình trao đổi hàng hóa với tiền tệ làm trung gian như sau: H – T – H’ thay vì H – H’ như trong trao đổi hàng hóa trực tiếp
Sự xuất hiện tiền tệ như là trung gian xuất phát từ nhu cầu tiện lợi trong trao đổi,
và sở dĩ tiền tệ có thể làm được điều này là vì nó là biểu hiện của giá trị và dễ dàng được người ta ưa chuộng và chấp nhận trong trao đổi Sự xuất hiện của tiền tệ với tư cách là trung gian trao đổi khiến cho hai quá trình mua và bán có thể tách rời nhau về mặt không gian và thời gian Người ta có thể bán một hàng hóa ở nơi này, lúc này để rồi mua lại hàng hóa khác ở nơi khác, lúc khác
Để thực hiện chức năng phương tiện trao đổi, tiền phải có những tiêu chuẩn nhất định:
_ Được chấp nhận rộng rãi
Nó phải được con người chấp nhận rộng rãi trong lưu thông, bởi vì chỉ khi mọi người cùng chấp nhận nó thì người có hàng hóa mới đồng ý đổi hàng của mình lấy tiền
Trang 11Tiền tệ phải đủ gọn nhẹ để dễ dàng trong việc trao đổi hàng hóa ở những khoảng cách xa
Việc cất trữ như vậy có thể thực hiện bằng nhiều phương tiện như cổ phiếu, trái phiếu, đất đai, nhà cửa,…, một số loại tài sản như vậy đem lại một mức lãi cao hơn cho người giữ Tuy nhiên người ta vẫn giữ tiền với mục đích dự trữ giá trị bởi vì tiền
có thể chuyển đổi một cách nhanh chóng ra các tài sản khác, còn các tài sản khác nhiều khi đòi hỏi một chi phí giao dịch cao khi người ta muốn chuyển đổi nó sang tiền Những điều đó cho thấy, tiền là một phương tiện dự trữ giá trị bên cạnh các loại tài sản khác
1.2.4 Chức năng thanh toán
Nhờ có tiền tệ thực hiện chức năng thanh toán, quan hệ tín dụng có thể thực hiện dưới hình thái tiền tệ, do đó dễ dàng thỏa thuận giao dịch dưới hình thái hiện vật
1.3 Sự phát triển các hình thái tiền tệ
Qua quá trình phát triển, tiền tệ đã tiến hóa qua rất nhiều hình thái: từ những hình thái thô sơ ban đầu cho đến những hình thái hiện đại như ngày nay Đó là các hình thái: hóa tệ, tín tệ, bút tệ (tiền ghi sổ) và tiền điện tử
1.3.1 Hóa tệ
Hóa tệ là hình thái cổ xưa và sơ khai nhất của tiền tệ theo đó một loại hàng hóa nào đó do được nhiều người ưa chuộng nên có thể tách ra khỏi thế giới hàng hóa nói chung để thực hiện các chức năng của tiền tệ, tức là thực hiện các chức năng mà các hàng hóa thông thường khác không có được Hàng hóa này dần dần trở thành loại hàng hóa đặc biệt đóng vai trò vật ngang giá chung và được sử dụng thường xuyên để trao đổi với những hàng hóa khác
Hóa tệ có thể chia thành 2 loại: hóa tệ không phải kim loại và hóa tệ kim loại
_ Hóa tệ không phải kim loại
Trang 12Là loại hàng hóa xuất phát từ hàng hóa không phải là kim loại Loại hóa tệ này khác nhau tùy theo tập quán từng địa phương, chẳng hạn như súc vật, vòng đá, lông
da thú, ngọc trai, muối, mè khô,…
Hóa tệ rất bất tiện khi lưu thông với tư cách là tiền tệ vì những thuộc tính kém thuận lợi như dễ hư hỏng, không bền theo thời gian, khó bảo quản và vận chuyển, khó chia nhỏ thành đơn vị, và không có tính đồng nhất
Những thuộc tính kém thuận lợi này khiến cho hóa tệ không thể tồn tại lâu dài
và dần dần bị đào thải khỏi lưu thông khi con người phát hiện ra kim loại
_ Hóa tệ kim loại
Là tiền xuất phát từ hàng hóa nhưng ở đây hàng hóa là kim loại
Khi phát hiện ra kim loại, người ta nhận thấy kim loại có thể khắc phục được những nhược điểm của hóa tệ không kim loại, chẳng hạn như bền hơn, dễ bảo quản hơn, dễ vận chuyển hơn, có thể chia nhỏ thành đơn vị Với những thuộc tính
ưu việt này, người ta có khuynh hướng nhanh chóng chuyển sang sử dụng kim loại làm tiền tệ
Lúc đầu là những kim loại rẻ như đồng, kẽm, chì được sử dụng làm tiền tệ, về sau người ta nhận thấy trong số những loại kim loại tìm thấy có bạc và vàng là hai thứ kim loại ưu việt hơn hết nếu sử dụng làm tiền tệ Ngoài tính chất bền, dễ bảo quản, dễ vận chuyển, dễ chia nhỏ, vàng và bạc là những kim loại quý nên chỉ cần một lượng nhỏ cũng đủ đại diện cho một hàng hóa có giá trị tương đối lớn Do vậy nếu dùng chúng làm tiền tệ thì rất tiện lợi cho lưu thông, không cần khối lượng lớn nhưng có thể trao đổi được với những hàng hóa có giá trị cao Ngoài ra việc chia nhỏ thành đơn vị và nhập những đơn vị nhỏ thành đơn vị lớn hơn rất dễ dàng và hầu như vẫn bảo tồn được giá trị của chúng Từ đó, bạc và sau này là vàng độc chiếm ngôi vị tiền tệ lâu dài cho đến khi nhân loại phát minh ra tiền giấy
Hóa tệ kim loại trong quá trình sử dụng bộc lộ một số nhược điểm khiến nó không còn được tiếp tục sử dụng lâu dài hơn nữa trong vai trò tiền tệ, đặc biệt là khi nền kinh tế phát triển khiến hàng hóa sản xuất ra ngày càng nhiều, thương mại phát triển khiến giao lưu hàng hóa ngày càng rộng thì những nhược điểm của lưu thông tiền vàng, tiền bạc càng bộc lộ rõ nét:
Những thương nhân mua bán khối lượng hàng hóa lớn nếu thanh toán bằng tiền vàng thì việc vận chuyển vàng trở nên rất nặng nề chứ không còn nhẹ nhàng và dễ dàng như trước đây
Những thương nhân mua bán ở phạm vi rộng, thậm chí xuyên quốc gia, nếu sử dụng tiền vàng trong thanh toán thì việc bảo quản và vận chuyển tiền, tránh nạn cướp bóc trên đường đi, trở thành một nỗi lo nặng nề
Trang 13Những nhược điểm này đòi hỏi phải có hình thái tiền tệ nào khác ưu việt hơn
để thay thế cho tiền vàng và bạc
1.3.2 Tín tệ
Tín tệ là loại tiền tệ được đưa vào lưu thông nhờ vào sự tín nhiệm của công chúng, chứ bản thân nó không có hoặc có giá trị không đáng kể Nó được sử dụng thay thế cho tiền vàng và tiền bạc (là những loại tiền thực) Tín tệ có hai loại: tín tệ kim loại và tiền giấy
(1) tiết kiệm vàng bạc của quốc gia
(2) giảm bớt sự căng thẳng do thiếu vàng bạc làm phương tiện lưu thông khi
nền kinh tế ngày càng phát triển
b Tiền giấy
Từ đầu thế kỷ 17, ở Hà Lan, ngân hàng Amsterdam đã cấp cho những thân chủ gửi vàng bạc vào ngân hàng những giấy chứng nhận bao gồm nhiều từ nhỏ Khi cần, có thể đem những giấy từ nhỏ này đổi lấy vàng hoặc bạc tại ngân hàng Trong thanh toán cho người khác, các giấy tờ nhỏ này cũng được chấp nhận Sau đó một chủ ngân hàng người Thụy Điển tên Palmstruch đã mạnh dạn phát hành tiền giấy để cho vay Từ đó ngân hàng Palmstruch có khả năng cho vay nhiều hơn vốn tự có
Từ khi ra đời cho đến nay, tiền giấy nói chung có hai loại: tiền giấy khả hoán
và tiền giấy bất khả hoán
_ Tiền giấy khả hoán
Là thứ tiền giấy được lưu hành thay cho tiền vàng hay tiền bạc ký thác ở ngân hàng Bất cứ lúc nào mọi người cũng có thể đem tiền giấy khả hoán đó đổi lấy
Trang 14vàng hoặc bạc có giá trị tương đương với giá trị được ghi trên tiền giấy khả hoán đó _ Tiền giấy bất khả hoán
Là thứ tiền giấy được lưu hành nhưng khi cần vàng hoặc bạc người ta không thể chuyển đổi nó ra vàng hay bạc theo hàm lượng đã quy định mà phải mua vàng hay bạc theo giá thị trường
Xét về mặt lịch sử, lúc đầu tiền giấy ra đời dưới hình thức khả hoán nhưng dần dần về sau do lạm phát, chiến tranh khiến cho dự trữ vàng của quốc gia dùng để hoán đổi tiền ra vàng bị hao hụt không còn đủ vàng để cho dân chúng có thể hoán đổi Khi ấy nhà nước phải phá giá đồng tiền Nếu sau khi phá giá, nhu cầu chuyển đổi
ra vàng của dân chúng vẫn ở mức cao và nếu tiếp tục chính sách hoán đổi thì có nguy cơ dự trữ vàng sẽ cạn kiệt, khi ấy nhà nước tuyên bố ngừng hoán đổi tiền ra vàng, đồng tiền trở thành bất khả hoán
Thời đại ngày nay, việc sử dụng tiền giấy được trở thành phổ biến, do tính thuận lợi của nó trong việc làm phương tiện trao đổi hàng hóa Đó là:
Dễ mang theo để làm phương tiện trao đổi hàng hóa, thanh toán nợ
Thuận lợi khi thực hiện chức năng dự trữ giá trị
Bằng cách thay đổi các con số trên mặt đồng tiền, một lượng giá trị lớn hay nhỏ được biểu hiện
1.3.3 Bút tệ (Tiền ghi sổ)
Bút tệ ra đời vào giữa thế kỷ 19 khi ngân hàng Anh quốc tìm cách né tránh các thể lệ phát hành tiền giấy quá cứng nhắc nên đã sáng chế ra hệ thống thanh toán bằng cách ghi trên sổ sách ngân hàng Ngày nay bút tệ được sử dụng rộng rãi ở hầu hết các nước, nhưng ở các nước phát triển dân chúng có thói quen sử dụng bút tệ hơn ở các nước kém phát triển
Bút tệ là những khoản tiền gửi không kỳ hạn ở ngân hàng Đó là tiền do hệ thống ngân hàng thương mại tạo ra trong quá trình thực hiện nghiệp vụ tín dụng Việc sử dụng bút tệ được thực hiện bằng các bút toán ghi Nợ và Có trên các tài khoản tiền gửi không kỳ hạn ở ngân hàng Cùng với trình độ ngân hàng ngày càng hiện đại, bút tệ đã giữ vị trí chủ yếu trong tổng mức cung ứng tiền tệ cho nền kinh tế Hiện nay là thời đại của bút tệ (tiền ghi sổ) bởi lẽ nó có những ưu việt vốn có:
Giảm bớt một cách đáng kể các chi phí về lưu thông tiền mặt: in tiền, bảo quản, vận chuyển, đếm, đóng gói,…
Nhanh chóng và thuận tiện cho các chủ nhân tham gia thanh toán qua ngân hàng
Bảo đảm an toàn trong việc sử dụng đồng tiền, hạn chế được những hiện
Trang 15tượng tiêu cực
Bút tệ tạo ra điều kiện thuận lợi cho Ngân hàng trung ương trong việc
quản lý và điều tiết lượng tiền cung ứng
1.3.4 Tiền điện tử
Trong những năm gần đây nhờ sự phát triển của công nghệ thông tin và công nghệ ngân hàng nên các loại thẻ tín dụng và thẻ thanh toán ngày càng được sử dụng rộng rãi, kể cả trong và ngoài nước Những loại thẻ này có thể thực hiện được các chức năng của tiền tệ và ngày càng thay thế tiền giấy trong đời sống kinh tế Do vậy chúng cũng được xem như là một hình thái tiền tệ mới - tiền điện tử
1.4 Khối tiền tệ
Việc định nghĩa tiền tệ là một phương tiện trao đổi mới chỉ đưa ra một cách hiểu khái quát về tiền, nó không cho chúng ta biết rõ trong nền kinh tế hiện tại những phương tiện cụ thể nào được coi là tiền, số lượng của nó là nhiều hay ít Vì vậy người
ta phải định nghĩa tiền một cách cụ thể hơn bằng việc đưa ra các phép đo về các khối tiền tệ trong lưu thông Các khối tiền tệ trong lưu thông tập hợp các phương tiện được
sử dụng chung làm phương tiện trao đổi, được phân chia tuỳ theo “độ lỏng” hay tính thanh khoản của các phương tiện đó trong những khoảng thời gian nhất định của một quốc gia Độ “lỏng” hay tính thanh khoản của một phương tiện trao đổi được hiểu là khả năng chuyển đổi từ phương tiện đó ra hàng hoá, dịch vụ - tức là phạm vi và mức
độ có thể sử dụng những phương tiện đó trong việc thanh toán chi trả Các phép đo khối tiền tệ được đưa ra tuỳ thuộc vào các phương tiện được hệ thống tài chính cung cấp và thường xuyên có sự thay đổi cho phù hợp, nhưng nhìn chung các khối tiền tệ trong lưu thông bao gồm:
1.4.1 Khối tiền M1
- Khối tiền giao dịch (M 1 ) gồm những phương tiện được sử dụng rộng rãi trong
thanh toán chi trả về hàng hoá dịch vụ, bộ phận này có tính lỏng cao nhất:
+ Tiền mặt trong lưu hành: Bộ phận tiền mặt (giấy bạc ngân hàng và tiền
Trang 16chóng và với phí tổn thấp Bộ phận này còn có thể đƣợc chia ra theo kỳ hạn hoặc số lƣợng
- Bản vị tiền tệ : Tức là cái gì đƣợc dung làm cơ sở định giá đồng tiền quốc gia
- Đơn vị tiền tệ: Mỗi quốc gia đều có đơn vị tiền tệ của riêng mình và đƣợc quy định bởi pháp luật
- Công cụ trao đổi: Tức là những công cụ đƣợc thực hiện để mua bán hàng hoá, dịch vụ, thanh toán các khoản nợ
Trang 17vàng Do giá thị trường của vàng và bạc thường xuyên thay đổi, đã dẫn đến hiện tượng tiền có giá trị thấp đuổi tiền có giá trị cao khỏi lưu thong Bởi vì kim loại rẻ tiền hơn trên thị trường sẽ được đưa tới sở đúc tiền để đúc thành tiền, kim loại đắt hơn trên thị trường được đưa ra khỏi lưu thông để cất trữ hay đúc thành thỏi để bán
1.5.2 Chế độ bản vị tiền vàng
Bản vị tiền vàng là đồng tiền của một nước được đảm bảo bằng một trọng lượng vàng nhất định theo pháp luật Những nhân tố cần thiết của bản vị tiền vàng gồm:
- Nhà nước không hạn chế việc đúc tiền vàng
- Tiền giấy quốc gia được nhà nước xác định bằng một trọng lượng vàng nhất định và được tự do chuyển đổi ra vàng đã được pháp luật quy định
- Tiền vàng được lưu thông không hạn chế
- Vào cuối chiến tranh thế giới lần thứ hai, Mỹ chiếm hữu phần lớn vàng của thế giới Do đó bộ tài chính Mỹ theo hiệp địng quốc tế đã làm cho vàng và đô la mỹ có thể chuyển hoá được cho nhau, theo tỷ lệ 35 đô la cho một auxo vàng
- Theo đó các nước khác theo hiệp định quốc tế, ngân hàng trung ương các nước đó duy trì một tỷ giá cố định đồng tiền của họ so với đồng đôla Mỹ
1.6 Bản chất của tài chính
1.6.1 Sự ra đời của phạm trù tài chính
Tài chính là một phạm trù kinh tế - lịch sử Sự ra đời, tồn tại và phát triển của
nó gắn liền với sự phát triển của xã hội loài người Từ toàn bộ lịch sử phát sinh, phát triển của tài chính chúng ta thấy: Tài chính chỉ ra đời và tồn tại trong những điều kiện lịch sử nhất định, khi mà ở đó có những hiện tượng kinh tế - xã hội khách quan nhất định xuất hiện và tồn tại Có thể xem những hiện tượng kinh tế - xã hội khách quan đó
là những tiền đề khách quan quyết định sự ra đời, tồn tại và phát triển của tài chính Karl Marx trong tác phẩm nghiên cứu Kinh tế chính trị học đã chỉ ra hai tiềnđề ra đời của tài chính, đó là sự ra đời, tồn tại của Nhà nước và sự xuất hiện, phát triển của nền
Trang 18sản xuất hàng hoá - tiền tệ
- Sự ra đời và tồn tại của Nhà nước: Trong các hình thái xã hội có Nhà nước,
tài chính đã từng tồn tại với tư cách là một công cụ trong tay Nhà nước để phân phối sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân, đảm bảo cho sự tồn tại và hoạt động của Nhà nước Nhà nước đầu tiên trong xã hội loài người là Nhà nước chủ nô, cùng với sự xuất hiện và tồn tại của nó, những hình thức sớm của tài chính như thuế cũng bắt đầu xuất hiện Khi một hình thái xã hội mới thay thế một hình thái xã hội cũ, thì một nền tài chính mới ra đời phù hợp với hình thái Nhà nước mới F Ănghen viết : “Để duy trì quyền lực công cộng đó, cần phải có những sự đóng góp của những người công dân của Nhà nước, đó là thuế má Với những bước tiến của văn minh thì bản thân thuế má cũng không đủ nữa; Nhà nước còn phát hành hối phiếu vay nợ, tức là phát hànhcông trái” Trong các chế độ xã hội phát triển, các Nhà nước với chức năng quản lý xã ội trong mọi lĩnh vực kinh tế, văn hoá, giáo dục, quốc phòng… đều tăng cường tài hính của mình hư vậy, có thể nói rằng trong điều kiện lịch sử nhấtđịnh khi có sự xuất iện, tồn tại và hoạt động của Nhà nước thì có sự xuất hiện, tồn tại và hoạt động của tài chính
-Sự tồn tại và phát triển của kinh tế hàng hoá - tiền tệ: Lịch sử phát triển
của tài chính cho thấy rằng, khi những hình thức tài chính đầu tiên xuất hiện theo sự xuất hiện của Nhà nước (thuế) thì đã có sự xuất hiện và tồn tại của sản xuất hàng hoá - tiền tệ, và hình thức tiền tệ đã được sử dụng trong lĩnh vực của các quan hệ tài chính như một tất yếu Trong chế độ chiếm hữu nô lệ, thuế bằng tiền đã được áp dụng (như thuế quan, thuế gián thu, thuế chợ, thuế tài sản…) Trong chế độ phong kiến, theo với
sự mở rộng các quan hệ thị trường, sản xuất hàng hoá và tiền tệ, lĩnh vực của các quan
hệ thuế bằng tiền đã mở rộng và tiến hành thường xuyên hơn (như thuế đất, thuế gián thu với vật phẩm tiêu dùng, thuế hộ gia đình…), tín dụng Nhà nước cũng bắt đầu phát triển
Với sự phát triển vượt bậc của kinh tế hàng hoá - tiền tệ thu nhập bằng tiền qua thuế và công trái đã trở thành nguồn thu chủ yếu của Nhà nước Theo với thu nhập bằng tiền, chi tiêu bằng tiền đã làm phong phú các hình thức chi tiêu và linh hoạt trong khi sử dụng vốn Chính trong thời kỳ phát triển kinh tế tư bản, ngân sách Nhà nước - một loại quỹ tiền tệ tập trung đã được hình thành và ngày càng có tính hệ thống chặt chẽ, ngày càng đóng vai trò quan trọng phân phối của cải xã hội dưới hình thức giá trị Kinh tế hàng hoá tiền tệ càng phát triển, thì hình thức giá trị tiền tệ càng trở thành hình thức chủ yếu của thu nhập và chi tiêu của Nhà nước Kinh tế hàng hoá -tiền tệ đã
mở rộng lĩnh vực của các quan hệ tài chính Nền kinh tế tư bản ra đời và phát triển, thì hình thức giá trị tiền tệ của các quan hệ tài chính đã là một yếu tố bản chất của tài chính Như vậy, sự tồn tại và phát triển của kinh tế hàng hoá - tiền tệ là một tiền đề
Trang 19hách quan quyết định sự ra đời và phát triển của tài chính Khi nói đến tiền đề của tài chính, một số nhà lý luận kinh tế nhấn mạnh đến tiền đề thứ nhất - tức là nhấn mạnh đến sự tồn tại của Nhà nước; nhưng một số nhà Nhà nước Khơ-me không thừa nhận nền kinh tế hàng hoá tiền tệ, do đó không có nền tài chính Nhiều nhà lý luận kinh tế nhất trí nhấn mạnh đến tiền đề thứ hai Theo các nhà kinh tế học này, đặc biệt nhấn mạnh đến sự ra đời và tồn tại của tiền tệ và cho rằng đây là tiền đề có tính chất quyết định sự ra đời và tồn tại của tài chính Các nhà lý luận này dẫn chứng bằng thời kỳ kinh tế xã hội chủ nghĩa, khi đó Nhà nước XHCN không thừa nhận nền kinh tế hàng hoá, nhưng tồn tại tiền tệ nên vẫn tồn tại một nền tài chính
1.6.2 Bản chất của tài chính
Hiện tượng tài chính - sự vận động của các quỹ tiền tệ là biểu hiện bên ngoài của tài chính, bên trong - bản chất của nó là mối quan hệ giữa người chi trả và người thu nhận vốn tiền tệ, đây là mối quan hệ giữa hai chủ sở hữu - mối quan hệ xã hội
a Đặc điểm của quan hệ tài chính
Các quan hệ tài chính phát sinh về sự vận động của vốn tiền tệ - biểu hiện mặt giá trị của sản phẩm xã hội, là kết quả của hoạt động sản xuất thuộc lĩnh vực kinh tế
Vì vậy các quan hệ tài chính là các quan hệ kinh tế
Các khoản thu chi của Ngân sách Nhà nước, các doanh nghiệp… biểu hiện vận động của vốn tiền tệ, đều thể hiện việc của cải xã hội được phân chia thành những bộ phận khác nhau, mỗi bộ phận được phân phối cho những chủ thể khác nhau, chứng tỏ tài chính là các quan hệ về phân phối sản phẩm
Các hiện tượng tài chính thể hiện ra thành sự vận động của vốn tiền tệ, nhất là
sự phân phối sản phẩm dưới hình thức tiền tệ, vì vậy quan hệ tài chính là các quan hệ phân phối của cải xã hội dưới hình thức tiền tệ
Các quan hệ phân phối dưới hình thức tiền tệ thuộc về tài chính có những đặc điểm sau:
Thứ nhất: Các quan hệ phân phối đó luôn gắn liền với việc thực hiện những nhiệm vụ của Nhà nước và đáp ứng nhu cầu chung của xã hôi
Thứ hai: Các quan hệ phân phối luôn gắn liền với việc hình thành, phân phối và
sử dụng các quỹ tiền tệ tập trung và không tập trung, được sử dụng trên phạm vi toàn
xã hội hoặc trong từng doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế và dân cư Đây là đặc điểm đặc trưng của phân phối tài chính
b Đặc điểm của các quỹ tiền tệ tài chính
Các quỹ tiền tệ trong quá trình hình thành và sử dụng có những đặc điểm cơ bản sau:
- Các quỹ tiền tệ luôn luôn biểu hiện quyền sở hữu của chủ sở hữu Sự vận
Trang 20động của các quỹ tiền tệ có thể biểu hiện trong phạm vi một hình thức sở hữu hoặc nhiều hình thức sở hữu
- Các quỹ tiền tệ bao giờ cũng thể hiện tính mục đích của tiền vốn Đây là tiêu thức chính của các quỹ tiền tệ tài chính
- Tất cả các quỹ tiền tệ điều vận động thường xuyên, tức là luôn luôn được sử dụng (chỉ tiêu) và bổ sung (thu vào)
-Các quỹ tiền tệ trong việc hình thành và sử dụng, điều thể hiện tính pháp lý và được thể thức hoá bằng các văn bản chính quy
Như vậy các quỹ tiền tệ, trong sự vận động của chúng, là phản ánh thể hiện những quan hệ giữa con người với nhau trong phân phối của cải xã hội dưới hình thái tiền tệ
Từ những điều phân tích trên, có thể khái quát về bản chất của tài chính như
sau: Tài chính là một mặt của quan hệ phân phối biểu hiện dưới hình thái tiền tệ, được
sử dụng để phân phối của cải xã hội, xây dựng và hình thành lên những quỹ tiền tệ tập trung và không tập trung, và sử dụng các quỹ tiền tệ đó nhằm bảo đảm cho quá trình tái sản xuất và nâng cao đời sống cho mọi thành viên trong xã hội
Có thể nói tài chính là một phạm trù trừu tượng được khái quát từ sự vận động của tiền tệ gắn liền với hoạt động của con người
1.7 Chức năng của tài chính
Chức năng của tài chính là sự cụ thể hoá bản chất của tài chính, nó mở ra nội dung của tài chính và vạch rõ tác dụng xã hội của tài chính Chức năng của tài chính là khả năng bên trong, biểu lộ tác dụng xã hội của nó và tác dụng đó chỉ có thể có được với sự tham gia nhất thiết của con người
Tài chính vốn có hai chức năng cơ bản, chức năng phân phối tổng sản phẩm xã hội dưới dạng hình thái gía trị (tiền tệ)(gọi tắt là chức năng phân phối) và chức năng giám đốc bằng tiền đối với toàn bộ hoạt động kinh tế xã hội (gọi tắt là chức năng giám đốc)
1.7.1 Chức năng phân phối
Phân phối của cải xã hội, trải qua quá trình phân phối lần đầu và nhiều lần phân phối lại
- Phân phối lần đầu là phân phối tiến hành trong lĩnh vực sản xuất vật chất, hình thành nên quỹ bù đắp tư liệu sản xuất, những khoản thu nhập ban đầu cho người lao động và thu nhập thuần tuý của xã hội (thu nhập thuần tuý của các doanh nghiệp,
tổ chức kinh tế, dân cư và thu nhập thuần tuý tập trung của Nhà nước) Trong các tổ chức kinh tế, sản phẩm làm ra sau khi tiêu thụ và thu được tiền, được tiến hành phân
Trang 21phần trả lương cho người lao động Một phần nộp cho Nhà nước dưới hình thức các loại thuế Một phần nộp quỹ bảo hiểm xã hội Phần còn lại để hình thành nên các quỹ của doanh nghiệp, tổ chức kinh tế và phân chia lợi tức cho người góp vốn
Phân phối lần đầu, mới chỉ tạo ra những khoản thu nhập cơ bản, chưa thể đáp ứng nhu cầu của xã hội Do đó phải trải qua quá trình phân phối lại Phân phối lại thu nhập là tiếp tục phân phối những phần thu nhập cơ bản được hình thành qua phân phối lần đầu, để đáp ứng nhu cầu tích luỹ và tiêu dùng của toàn xã hội (các ngành không sản xuất: Quân đội, Giáo dục, Y tế…) Mục đích của phân phối lại là:
Bổ sung thêm vào Ngân sách Nhà nước để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho toàn
xã hội
Tạo ra nguồn thu nhập cho các lĩnh vực không sản xuất vật chất và những
người làm việc trong các lĩnh vực đó
Điều hoà thu nhập giữa các ngành, giữa các doanh nghiệp và các tổ chức kinh
tế, các tầng lớp dân cư
Điều tiết các hoạt động kinh tế trên phạm vi vĩ mô
Phân phối lại được tiến hành thông qua ba biện pháp: Biện pháp tài chính –tín dụng, biện pháp giá cả và hoạt động phục vụ Trong đó, biện pháp tài chính – tín dụng giữa vai trò trung tâm
1.7.2 Chức năng giám đốc
Chức năng giám đốc của tài chính là chức năng mà nhờ vào đó việc kiểm tra bằng đồng tiền được thực hiện đối với quá trình phân phối của cải xã hội thành các
quỹ tiền tệ và sử dụng chúng theo các mục đích đã định
Như vậy, đối tượng giám đốc của tài chính là quá trình phân phối của cải xã hội dưới hình thái tiền tệ - quá trình hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ tập trung và không tập trung theo các mục tiêu đã định
Cùng với việc xác định đối tượng, cần thiết phải chỉ ra những đặc điểm của giám đốc tài chính
- Thứ nhất: Giám đốc của tài chính là sự giám đốc bằng tiền thông qua sử dụng
chức năng thước đo giá trị và chức năng phương tiện thanh toán của tiền tệ trong vận động của tiền vốn để tiến hành giám đốc
- Thứ hai: Giám đốc bằng tiền của tài chính là sự giám đốc bằng tiền thông qua
phân tích các chỉ tiêu tài chính – các chỉ tiêu phản ánh tổng hợp toàn bộ các hoạt động của xã hội và của các doanh nghiệp
- Thứ ba: Giám đốc bằng tiền của tài chính còn được thực hiện đối với sự vận
động của tài nguyên trong xã hội
Trang 22Thực hiện chức năng giám đốc, tài chính nhằm mục đích sau:
- Bảo đảm cho các cơ sở kinh tế cũng như toàn bộ nền kinh tế phát triển theo những mục tiêu định hướng của Nhà nước
- Đảm bảo việc sử dụng các nguồn lực khan hiếm môt cách có hiệu quả, tiết kiệm tới mức tối đa các yếu tố sản xuất trong xã hội
- Bảo đảm sử dụng vốn đạt hiệu quả cao
- Bảo đảm việc chấp hành pháp luật trong mọi hoạt động sản xuất kinh doanh Nội dung Giám đốc tài chính, gồm có những nội dung chính sau:
- Giám đốc tài chính trong quá trình thành lập và thực hiện kế hoạch Ngân sách Nhà nước
- Giám đốc tài chính trong các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế dựa trên cơ sở chế độ hạch toán kinh tế và hợp đồng kinh tế
- Giám đốc tài chính trong quá trình cấp phát, cho vay và thanh toán vốn đầu tư XDCB
Ngoài ra, Giám đốc tài chính còn được thực hiện trong các hộ kinh tế dân cư Giám đốc tài chính dù thực hiện ở đâu, cũng đều là sự giám đốc toàn diện mặt giá trị đối với quá trình hình thành phân phối và sử dụng các nguồn vốn trong quá trình hoạt động của từng khâu và trong toàn xã hội
Hai chức năng của tài chính có mối quan hệ hữu cơ, bổ sung cho nhau, trong đó việc thực hiện chức năng phân phối là tiền đề để thực hiện chức năng giám đốc, và ngược lại việc thực hiện tốt chức năng giám đốc sẽ tạo điều kiện để thực hiện chức năng phân phối tốt hơn.Trên cơ sở nhận thức được bản chất, chức năng của tài chính, hoạt động của tài chính mới phát huy được vai trò của nó trong nền kinh tế
Trang 23CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG TÀI CHÍNH
(Số tiết: 06) 2.1 Vai trò của hệ thống tài chính
Trong chương I chúng ta đã nghiên cứu về bản chất của tài chính và khẳng định rằng: tài chính là hệ thống các quan hệ kinh tế trong phân phối, gắn liền với quá trình hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ Trong thực tế, các quan hệ tài chính diễn ra rất phức tạp và đa dạng, chúng đan xen nhau trong một tập hợp hàng loạt các hoạt động khác nhau của nền kinh tế Tuy nhiên, đó không phải là những hoạt động hỗn loạn mà ngược lại, chúng tuân thủ những nguyên tắc, những quy luật nhất định, trong đó những quan hệ tài chính có tính chất đặc thù giống nhau nhóm lại thành một bộ phận riêng Giữa các bộ phận này luôn có mối liên hệ, tác động ràng buộc lẫn nhau và tạo thành hệ thống tài chính
Do vậy, hệ thống tài chính là tổng thể của các bộ phận khác nhau trong một cơ cấu tài chính, mà ở đó các quan hệ tài chính hoạt động trên các lĩnh vực khác nhau nhưng có mối liên hệ tác động lẫn nhau theo những quy luật nhất định
Các bộ phận trong hệ thống tài chính hoạt động trên các lĩnh vực: tạo ra các nguồn lực tài chính, thu hút các nguồn tài chính và chu chuyển các nguồn tài chính (dẫn vốn) Với các lĩnh vực hoạt động này, toàn bộ hệ thống tài chính thực hiện vai trò đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế quốc dân là đảm bảo nhu cầu về vốn cho phát triển kinh tế - xã hội
2.2 Cấu trúc của hệ thống tài chính
Hoặc:
Trang 24Hệ thống tài chính nước ta hiện nay bao gồm các khâu:
2.2.1 Ngân sách nhà nước
Ngân sách nhà nước là khâu chủ đạo trong hệ thống tài chính quốc gia Đây là một “ tụ điểm “ của các nguồn tài chính gắn với việc tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước với mục đích phục vụ cho sự hoạt động của bộ máy Nhà nước các cấp và thực hiện các chức năng của Nhà nước trong quản lý kinh tế - xã hội
_ Ngân sách Nhà nước có các nhiệm vụ sau:
+ Thứ nhất, động viên tập trung các nguồn tài chính cho việc tạo lập quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất của Nhà nước - quỹ Ngân sách - từ các khoản huy động mang tính bắt buộc (thuế, phí, lệ phí) hoặc mang tính chất tự nguyện (viện trợ, vay nợ trong và ngoài nước)
+ Thứ hai, phân phối và sử dụng quỹ Ngân sách cho việc thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội như duy trì bộ máy Nhà nước, củng cố an ninh quốc phòng, phát triển văn hoá xã hội, phát triển kết cấu hạ tầng, đầu tư kinh tế
+ Thứ ba, giám đốc và kiểm tra đối với các khâu tài chính khác và với mọi hoạt động khác nhau của xã hội, với tất cả các khâu khác trong hệ thống tài chính; do đó nó
có khả năng và cần phải thực hiện việc kiểm tra đối với quá trình vận động của các nguồn tài chính có quan hệ với
việc tạo lập và sử dụng quỹ Ngân sách ở mọi khâu tài chính và mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế -xã hội
Trang 252.2.2.Tài chính Doanh nghiệp
Tài chính Doanh nghiệp là khâu cơ sở trong hệ thống tài chính quốc gia Đây là một “ tụ điểm “ của các nguồn tài chính gắn với hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hoá hay dịch vụ Hoạt động Tài chính Doanh nghiệp luôn gắn liền với các chủ thể của
nó là các doanh nghiệp (pháp nhân hay thể nhân)
Sự tạo lập vốn ban đầu có thể và trước hết là dựa vào thị trường tài chính, thu hút vốn qua góp vốn cổ phần (phát hành cổ phiếu) hay đi vay (phát hành trái phiếu, vay ngân hàng ) Sau đó, do gắn liền với sản xuất kinh doanh, vốn và các quỹ tiền tệ khác được bổ sung, tái tạo thông qua việc phân phối doanh thu tiêu thụ sản phẩm, lập các quỹ bù đắp (như quỹ khấu hao tài sản cố định, quỹ bù đắp vốn lưu động) và tạo lập các quỹ từ lợi nhuận Mỗi quỹ tiền tệ trong doanh nghiệp đều có mục đích nhất định, nhưng tính chất chung của chúng là gắn liền với sản xuất kinh doanh, chi dùng cho mục đích sản xuất kinh doanh và phần tiêu dùng để hình thành thu nhập của những người tham gia sản xuất kinh doanh ở doanh nghiệp
Tài chính Doanh nghiệp có các nhiệm vụ sau đây:
+ Một là, Bảo đảm vốn và phân phối vốn hợp lý cho các nhu cầu của sản xuất kinh doanh
+ Hai là, Tổ chức cho vốn chu chuyển một cách liên tục và có hiệu quả
+ Ba là, Phân phối doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp theo đúng các quy định của nhà nước
+ Bốn là, Kiểm tra mọi quá trình vận động của các nguồn tài chính trong doanh nghiệp; đồng thời, kiểm tra mọi hoạt động sản xuất kinh doanh gắn liền với các quá trình đó
Tài chính Doanh nghiệp có quan hệ với các khâu khác của hệ thống tài chính như quan hệ với Tài chính hộ gia đình thông qua trả lương, thưởng, lợi tức cổ phần, trái phiếu; quan hệ với Ngân sách thông qua nộp thuế; quan hệ với các tổ chức tín dụng thông qua việc thu hút nguồn tài chính để tạo vốn hoặc trả nợ gốc và lãi vay Quan hệ giữa Tài chính Doanh nghiệp với các khâu tài chính khác có thể là trực tiếp với nhau, cũng có thể thông qua thị trường tài chính
2.2.3.Bảo hiểm
Bảo hiểm là một khâu trong hệ thống tài chính nước ta Bảo hiểm có nhiều hình thức và nhiều quỹ tiền tệ khác nhau, nhưng tính chất chung và đặc biệt của các quỹ bảo hiểm là được tạo lập và sử dụng để bồi thường tổn thất nhiều dạng cho những chủ thể tham gia bảo hiểm tuỳ theo mục đích của quỹ
Theo tính chất của hoạt động bảo hiểm, bảo hiểm được chia thành hai nhóm:
Trang 26- Bảo hiểm kinh doanh: (bao gồm bảo hiểm tài sản, bảo hiểm con người và các nghiệp vụ bảo hiểm khác) được hình thành từ sự đóng góp của những người (thể nhân hoặc pháp nhân) tham gia bảo hiểm và chủ yếu được sử dụng để bồi thường tổn thất cho họ khi họ gặp rủi ro bất ngờ, bị thiệt hại vật chất theo nguyên tắc đặc thù là “ lấy
số đông bù số ít ” Phần lớn các quỹ bảo
hiểm kinh doanh được tạo lập và sử dụng có tính chất thương mại, vì mục đích kinh doanh lấy lợi nhuận
- Bảo hiểm xã hội: (bao gồm bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế) được hình thành
và sử dụng không vì mục đích kinh doanh lấy lãi
Trong quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ Bảo hiểm, Bảo hiểm có quan hệ trực tiếp với các khâu khác qua việc thu phí Bảo hiểm và chi bồi thường Đồng thời do khả năng tạm thời nhàn rỗi của các nguồn tài chính trong các quỹ Bảo hiểm, các quỹ này
có thể được sử dụng tạm thời như các quỹ tín dụng Như vậy, Bảo hiểm cũng có thể có quan hệ với các khâu khác thông qua thị trường tài chính Do vậy Bảo hiểm được xem như là một khâu tài chính trung gian trong hệ thống tài chính
2.2.4.Tín dụng
Tín dụng là một khâu quan trọng của hệ thống tài chính Đặc trưng cơ bản của tín dụng là gắn liền với các quỹ tiền tệ được tạo lập bằng việc thu hút các nguồn tài chính tạm thời nhàn rỗi và sử dụng để cho vay theo nguyên tắc hoàn trả có thời hạn và có lợi tức
Ở nước ta, các tổ chức tín dụng bao gồm các ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng phi ngân hàng (như các công ty tài chính, các công ty cho thuê tài chính ), các tổ chức tín dụng hợp tác (quỹ tín dụng nhân dân) , tuy nhiên phổ biến nhất vẫn là các ngân hàng thương mại Các ngân hàng thương mại là các trung gian tài chính với chức năng chủ yếu là huy động vốn và cho vay; hoạt động với các nghiệp vụ nợ, nghiệp vụ có, nghiệp vụ môi giới trung gian
Thông qua hoạt động của các tổ chức tín dụng, khâu tín dụng có quan hệ chặt chẽ và trực tiếp với các khâu khác của hệ thống tài chính Bên cạnh đó, các tổ chức tín dụng cũng là các tổ chức hoạt động trên thị trường tài chính, là cầu nối giữa người có khả năng cung ứng và người có nhu cầu sử dụng tạm thời các nguồn tài chính Do đó, tín dụng không những có quan hệ với các khâu khác thông qua thị trường tài chính mà còn trở thành khâu tài chính trung gian quan trọng của hệ thống tài chính
2 2.5 Tài chính các tổ chức xã hội và Tài chính hộ gia đình (dân cư)
_ Các tổ chức xã hội là khái niệm chung để chỉ các tổ chức chính trị - xã hội, các đoàn thể xã hội, các hội nghề nghiệp Các tổ chức này còn được gọi là các tổ chức phi chính phủ
Trang 27Các tổ chức xã hội có quỹ tiền tệ riêng để đảm bảo hoạt động của mình, và được hình thành từ nhiều nguồn rất đa dạng: hội phí đóng góp từ các thành viên tham gia tổ chức; quyên góp, ủng hộ, biếu tặng của các tập thể, cá nhân; tài trợ từ nước ngoài; tài trợ của Chính phủ và nguồn từ những hoạt động có thu của các tổ chức này Các quỹ tiền tệ của các tổ chức xã hội chủ yếu được sử dụng cho mục đích tiêu dùng trong hoạt động của các tổ chức đó Khi quỹ chưa được sử dụng, số dư ổn định của chúng có thể tham gia thị trường tài chính thông qua các quỹ tín dụng hoặc các hình thức khác (mua tín phiếu, trái phiếu )
_Các quỹ tiền tệ của các hộ gia đình được hình thành từ quỹ tiền lương, tiền công, thu nhập của các thành viên trong gia đình do lao động trong sản xuất kinh doanh; từ nguồn thừa kế tài sản; từ nguồn biếu tặng lẫn nhau trong quan hệ gia đình hay quan hệ xã hội ở trong hay từ ngoài nước; từ các nguồn khác như lãi suất gửi ngân hàng, lợi tức từ những khoản góp vốn, mua trái phiếu, cổ phiếu
Quỹ tiền tệ của các hộ gia đình chủ yếu được sử dụng cho mục đích tiêu dùng của gia đình Một phần nguồn tài chính của các quỹ này có thể tham gia vào quỹ Ngân sách nhà nước dưới hình thức nộp thuế, phí, lệ phí; tham gia vào các quỹ Bảo hiểm theo các mục đích bảo hiểm khác nhau; tham gia vào các quỹ tín dụng dưới hình thức tiền gửi tiết kiệm Nguồn tài chính tạm thời nhàn rỗi của các hộ gia đình cũng có thể được sử dụng để đầu tư vào sản xuất kinh doanh trong phạm vi kinh tế hộ gia đình, hoặc tham gia vào thị trường tài chính qua việc góp cổ phần, mua cố phiếu, trái phiếu, tín phiếu
*CHÚ Ý
Trong điều kiện kinh tế thị trường, các khâu của hệ thống tài chính vừa có quan
hệ trực tiếp với nhau, vừa có quan hệ với nhau thông qua thị trường tài chính Thị trường tài chính không phải là một khâu tài chính mà nó là môi trường cho sự hoạt động của các khâu tài chính và cho sự vận động của các nguồn tài chính
Thị trường tài chính là nơi diễn ra mua bán trong lĩnh vực tài chính Đối tượng mua bán ở đây là quyền sử dụng các nguồn tài chính ngắn hạn hoặc dài hạn Giá cả của sự mua bán là số lợi tức mà người mua quyền sử dụng vốn trả cho người nhượng (bán) quyền sử dụng vốn Người mua và người bán có thể là tất cả các chủ thể đại diện cho các khâu của hệ thống tài chính
Trên thị trường tài chính, các tổ chức tài chính trung gian (Ngân hàng thương mại, công ty tài chính, công ty bảo hiểm ) giữ vai trò rất quan trọng, hoạt động từ những “ cầu nối “ giữa người mua và người bán quyền sử dụng các nguồn tài chính, giúp cho việc lựa chọn lĩnh vực bỏ vốn, giảm chi phí tìm kiếm và giao dịch cũng như
Trang 28rủi ro đầu tư; từ đó cho phép huy động tối đa các nguồn tài chính hiện có trong nền kinh tế cũng như một số nguồn lực từ nước ngoài
Do điều kiện, tính chất, thời gian sử dụng và hình thức vận động của các nguồn tài chính, trên thị trường đã nảy sinh sự chuyên môn hoá và có sự phân biệt giữa các
bộ phận chuyên môn hoá của thị trường tài chính: Thị trường tiền tệ, Thị trường vốn
và Thị trường chứng khoán
- Thị trường tiền tệ: là bộ phận của thị trường tài chính được chuyên môn hoá đối với các nguồn tài chính được trao quyền sử dụng ngắn hạn Thời gian trao quyền sử dụng các nguồn tài chính ở đây thường là dưới một năm Do thời hạn đó, các nguồn tài chính ở đây chủ yếu được sử dụng làm phương tiện thanh toán Giá cả mua bán trên thị trường này - lợi tức tiền vay ngắn hạn - là một trong những công cụ quan trọng để điều hoà lưu thông tiền tệ trong nền kinh tế
- Thị trường vốn: là bộ phận của thị trường tài chính được chuyên môn hoá đối với các nguồn tài chính được trao quyền sử dụng dài hạn Do thời hạn đó, các nguồn tài chính ở đây chủ yếu được sử dụng để đầu tư dài hạn vào sản xuất kinh doanh (đầu
tư vốn cố định, đầu tư vốn lưu động của các doanh nghiệp)
- Thị trường chứng khoán: là một bộ phận của thị trường tài chính được chuyên môn hoá về việc mua bán các giấy chứng nhận chuyển quyền sử dụng các nguồn tài chính cả ngắn hạn và dài hạn và quyền nhận lợi tức do có sự thay đổi chủ thể có quyền nhận lợi tức đó Giấy chứng nhận chuyển quyền sử dụng các nguồn tài chính được gọi
là chứng khoán Chứng khoán được mua bán ở đây bao gồm tất cả các giấy chứng nhận quyền sử dụng các nguồn tài chính dài hạn (cổ phiếu, trái phiếu các loại) cũng như ngắn hạn (tín phiếu, giấy nhận nợ các loại)
Xét theo sự luân chuyển các chứng khoán, sự luân chuyển các nguồn tài chính; thị trường chứng khoán bao gồm thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp Thị trường sơ cấp là thị trường mua bán chứng khoán lần đầu kèm theo việc làm tăng quy mô tài chính được đưa vào thị trường Thị trường thứ cấp là thị trường mua bán chứng khoán
từ lần hai trở đi và không làm tăng quy mô nguồn tài chính được đưa vào thị trường Các bộ phận chuyên môn hoá của thị trường tài chính có liên quan chặt chẽ với nhau; ranh giới giữa thị trường tiền tệ, thị trường vốn, thị trường chứng khoán có vùng giao nhau lớn nhưng chúng không hoàn toàn trùng nhau
2.3 Chính sách tài chính quốc gia
Nghiên cứu về hệ thống tài chính, chúng ta thấy rằng các quan hệ tài chính có tác động phức tạp và đa dạng Hoạt động tài chính tác động đến mọi lĩnh vực kinh tế,
xã hội; mọi phạm vi vĩ mô và vi mô Tài chính có tác động trực tiếp và ảnh hưởng mạnh mẽ đối với sự phát triển của nền kinh tế quốc dân Vì lẽ đó để điều hành sự hoạt
Trang 29động thống nhất và có hiệu quả của toàn bộ hệ thống tài chính ở mỗi quốc gia, chính phủ cần phải đề ra các chủ trương chính sách, đường lối và biện pháp về tài chính trong một thời kỳ tương đối lâu dài, tức là cần phải hoạch định và thực thi chính sách tài chính quốc gia
Khác với chính sách tài chính quốc gia ở các nước đã được định hình cơ bản về mục tiêu, phương tiện thực hiện và phạm vi tác động, chính sách tài chính quốc gia của nước ta ra đời trong điều kiện đổi mới cơ chế kinh tế, có đặc trưng cơ bản là vừa xác định cho được mục tiêu chủ yếu vừa thiết kế xây dựng hệ thống công cụ để thực hiện mục tiêu Vì vậy vai trò của việc đổi mới tư duy Tài chính đổi mới cơ chế tổ chức hoạt động là rất quan trọng và phạm vi của nó cũng vì thế không chỉ dừng lại ở các chính sách vĩ mô (thuế và chi tiêu ngân sách như ở nhiều nước phát triển) mà còn bao gồm cả các lĩnh vực vi mô Không chỉ dừng lại ở vấn đề tài chính đơn thuần mà cùng chuyển động với một loạt chính sách khác có liên quan (chính sách tiền tệ tín dụng, chính sách ngoại hối, chính sách thu nhập…) đều đang trong quá trình đổi mới, chưa định hình cơ bản Vì vậy, phạm vi của chính sách tài chính quốc gia ở nước ta hiện nay và trong thập kỷ tới phải bao gồm các lĩnh vực: Tài chính nhà nước, tài chính doanh nghiệp, tài chính dân cư Mặt khác, gắn với chính sách tài chính để phục vụ thực hiện các mục tiêu của nó, phải đồng thời xử lý các vấn đề khác như tiền tệ, tín dụng, ngoại hối, cán cân thanh toán, giá cả và thu nhập… Đối với một nước đang phát triển như nước ta, chính sách tài chính quốc gia có vai trò quyết định đến quy mô và tốc độ phát triển kinh tế, đến cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu tư thông qua việc phân phối và
sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên, tài sản xã hội, các nguồn vốn trong nước, ngoài nước cho từng ngành, từng thành phần kinh tế, từng vùng lãnh thổ, nhằm thực hiện các mục tiêu phát triển đã được xác định trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội
2.3.1 Mục tiêu của chính sách tài chính quốc gia
Thực hiện chính sách tài chính quốc gia ở nước ta nhằm đạt được những mục tiêu cơ bản sau đây:
Thứ nhất: Xây dựng chính sách tài chính quốc gia nhằm tăng cường tiềm lực tài chính đất nước, đặc biệt, tăng cường tiềm lực tài chính nhà nước và tài chính doanh
nghiệp Đảm bảo các nhu cầu vốn đi đôi với nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong nước cũng như vốn vay nước ngoài Phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế cao từ 7%
- 10%/năm với cơ cấu kinh tế hợp lý, thúc đẩy mạnh mẽ tiến bộ khoa học kỹ thuật, tăng tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế quốc dân, cải thiện rõ rệt cán cân thanh toán quốc
tế
Thứ hai: Kiểm soát lạm phát: Bằng việc cải tổ cơ bản chính sách tài chính, đặc
biệt là chính sách thuế và cơ cấu thu chi ngân sách, loại bỏ nguy cơ tái lạm phát tiến
Trang 30tới kiểm soát được lạm phát, ổn định giá cả và sức mua đồng tiền, tạo điều kiện, môi
trường cho sản xuất phát triển, ổn định tình hình kinh tế xã hội, cải thiện từng bước đời sống nhân dân
Thứ ba: tạo công ăn việc làm cho người dân, mở rộng ngành nghề, giải quyết
thoả đáng nạn thất nghiệp, nâng cao đời sống vật chất văn hoá của nhân dân để vượt qua ngưỡng cửa đói nghèo, thực hiện công bằng xã hội đảm bảo an ninh quốc phòng
2.3.2 Những quan điểm cơ bản
Hiện nay, tiến trình đổi mới kinh tế ở nước ta diễn ra khá nhanh, trong bối cảnh nền kinh tế còn nhiều khó khăn, nguồn tài chính còn hạn hẹp nhưng lại còn phải gánh chịu những thách thức lớn và tất yếu của các yếu tố thời đại, nên chính sách tài chính quốc gia cần được xây dựng trên nền tảng của những nhận thức mới về kinh tế học, xã hội học và những tri thức mới về quản lý tài chính, tiền tệ của loài người Sự thận trọng trong việc lựa chọn các hình thức tài chính thích hợp, các bước đi vững chắc là rất cần thiết, nhưng phải kiên quyết chống mọi chủ trương bảo thủ, trì trệ hoặc tự do
vô chính phủ, buông tôi quản lý tài chính Trên cơ sở đó, việc xây dựng và thực hiện chính sách tài chính quốc gia phải quán triệt những quan điểm cơ bản sau đây:
Thứ nhất: Tập trung sức chuyển hướng cơ chế quản lý chính sách tài chính - tiền tệ kiểu “động viên tập trung” sang chính sách tài chính phân quyền tự chủ, tự chịu
trách nhiệm về tài chính của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, theo cơ chế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa, đảm bảo bình đẳng về lợi ích giữa các thành phần kinh tế theo nguyên tắc hiệu quả kinh tế
Thứ hai: Phân biệt rõ chức năng, nhiệm vụ của tài chính nhà nước và tài chính doanh nghiệp, trong đó, tài chính nhà nước thực hiện chức năng xã hội, an ninh quốc
phòng là chủ yếu và thông qua các hoạt động thu chi của mình, mà điều tiết lợi ích, định hướng và thúc đẩy phát triển kinh tế Tài chính doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm hoàn toàn về việc duy trì, mở rộng và phát triển sản xuất theo yêu cầu của thị trường và định hướng của nhà nước trên nguyên tắc tối đa hoá lợi nhuận của sản xuất kinh doanh
Thứ ba: Phân biệt rõ chức năng, nhiệm vụ của tài chính nhà nước và ngân hàng, trong đó tài chính nhà nước (ngân khố quốc gia) là khách hàng của ngân hàng;
đồng thời ngân hàng là đối tượng quản lý về mặt tài chính của tài chính nhà nước trong khuôn khổ các luật lệ về tài chính
Thứ tư: thực hiện cơ chế tài chính mở lành mạnh, không đơn thuần coi cân
bằng ngân sách là mục tiêu của chính sách tài chính Một ngân sách thiếu hụt hay dư thừa không phải là kém quan trọng so với ngân sách cân bằng và đều là những công cụ tài chính thích ứng với từng hoàn cảnh cụ thể mà nhà nước có thể sử dụng để tác động
Trang 31đến qui mô và phương pháp phát triển kinh tế - xã hội (kích thích hay hạn chế tăng trưởng…) Chẳng hạn như việc duy trì một ngân sách thiếu hụt “vừa phải” có thể là nguy cơ lạm phát, nhưng lại tạo điều kiện tăng tích tụ cho các cơ sở kinh tế, tăng cầu cho người tiêu dùng, trên cơ sở đó, kích thích đầu tư phát triển sản xuất, tăng công ăn việc làm, mở rộng thị trường tiêu thụ và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Thứ năm: chính sách tài chính phải giải phóng triệt để mọi nguồn vốn trong
nước, của các thành phần kinh tế và của toàn dân để phát triển kinh doanh, hình thành thị trường vốn trong nước để bảo đảm huy động nhanh, sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn đồng thời, mở rộng hoạt động kinh tế tài chính đối ngoại để thu hút mạnh các nguồn vốn nước ngoài, vừa tranh thủ kĩ thuật tiên tiến vừa gắn thị trường vốn trong nước với thị trường vốn quốc tế, trên cơ sở đó, tham gia ngày càng sâu vào phân công lao động quốc tế
Thứ sáu: Để phân phối và sử dụng các nguồn tài chính đảm bảo tạo ra cơ cấu
kinh tế hợp lý và có hiệu quả, chính sách tài chính của nhà nước cần xác định rõ các mục tiêu ưu tiên phát triển, nhằm vào các khu vực cho phép tăng thu ngoại tệ, đảm bảo khả năng trả nợ, thu hút nhiều nhân lực (vốn là một thế mạnh của nước ta) và thúc đẩy phát triển công nghệ mới và kỹ thuật tiên tiến
Thứ bảy: Việc xây dựng và thực hiện chính sách tài chính cần đứng trên quan
điểm hệ thống, đặt trong mối quan hệ với việc đổi mới các chính sách, công cụ khác như: chính sách tiền tệ - tín dụng, chính sách giá cả và thu nhập, chính sách ngoại hối,… nhằm tạo sức mạnh tổng hợp và chuyển biến đồng bộ trong các hoạt động kinh
tế, tránh tình trạng chồng chéo, triệt tiêu lẫn nhau
Thứ tám: Việc xây dựng và thực hiện chính sách tài chính quốc gia ở nước ta
trong điều kiện còn thiếu kiến thức đầy đủ và thiếu kinh nghiệm về quản lý tài chính, vốn là lĩnh vực hết sức phức tạp trong cơ chế kinh tế thị trường vì vậy, phải chú trọng nghiên cứu khảo sát, đúc kết các kinh nghiệm, tổ chức đào tạo và thử nghiệm các phương thức phù hợp; tránh tình trạng bảo thủ, do dự hoặc chủ quan nóng vội, gây trở ngại đến nền tài chính đất nước
Thứ chín: Coi trọng việc củng cố và nâng cao tính pháp lệnh của hoạt động tài
chính, hoàn chỉnh hệ thống văn bản pháp qui về tài chính, khuyến khích các thể nhân, pháp nhân tham gia vào các hoạt động kinh tế trong khuân khổ pháp luật Tăng cường vai trò kiểm soát và thanh tra tài chính, giám đốc việc thu chi là nội dung quan trọng của chính sách tài chính quốc gia
2.3.3 Nội dung của chính sách tài chính quốc gia
Với những phạm vi và mục tiêu đã nêu trên, chính sách tài chính quốc gia ở nước ta có những nội dung chủ yếu sau:
Trang 322.3.3.1 Chính sách về vốn
Trước hết, vốn là điều kiện tiên quyết để duy trì và phát triển sản xuất, đồng thời là cơ sở để phân phối lợi nhuận và đánh giá hiệu quả các hoạt động kinh tế, nó bao gồm những nguồn vật tư và tài sản trong các doanh nghiệp, nguồn tiền mặt hoặc các tài sản khác dự trữ trong dân Vì vậy, chính sách tạo vốn cơ bản phải tuân thủ nguyên tắc lợi ích của người có vốn và do đó, việc sử dụng vốn nhất thiết phải tuân thủ nguyên tắc hiệu quả kinh tế Nói cách khác, chính sách tạo vốn và sử dụng vốn phải được xây dựng và thực hiện theo những quy luật tất yếu của nền kinh tế thị trường và góp phần đắc lực vào việc hình thành thị trường vốn, thị trường tiền tệ
Mục tiêu của chính sách tạo vốn trước hết và chủ yếu là tạo ra môi trường kinh
tế và tiền đề pháp lý để biến mọi nguồn tiền tệ thành tư bản sinh lợi và tăng trưởng trong quá trình tái sản xuất xã hội Các nguồn chủ yếu bao gồm: vốn đầu tư kinh tế của nhà nước, vốn tự có của các doanh nghiệp, vốn bằng tiền và tiền nhàn rỗi của dân cư
và vốn của các doanh nghiệp và tổ chức tài chính quốc tế
Để huy động được mọi nguồn vốn của xã hội phục vụ phát triển kinh tế đòi hỏi phải thực hiện các chủ trương, biện pháp lớn sau đây:
Trách nhiệm tạo nguồn vốn để phát triển sản xuất kinh doanh trước hết thuộc
về các doanh nghiệp Vì vậy, phải kiên quyết khắc phục tình trạng cấp phát vốn tràn
lan; buộc các xí nghiệp phải tích tụ vốn hoặc tìm các nguồn vốn, các phương thức huy động thích hợp tạo nên sức mạnh tài chính cần thiết (mà thông thường một xí nghiệp không thể có được) cho phát triển, mở rộng sản xuất kinh doanh và tự chịu trách nhiệm theo pháp luật đối với chủ nhân của các nguồn huy động và lợi ích của họ Đồng thời, các doanh nghiệp cũng có quyền đầu tư vốn của mình vào các doanh nghiệp khác với mục đích tìm kiếm lợi nhuận và phân tán rủi ro trong kinh doanh
Phát triển kinh tế nhiều thành phần nhất quán và được thể chế hoá (Luật đầu tư
trong nước, luật thừa kế, luật phá sản…) nhằm giải phóng mọi tiềm năng về vốn của các thành phần kinh tế và dân cư, tiết kiệm tiêu dùng xa xỉ, tập trung hướng vào đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ
Nhà nước từng bước cổ phần hoá một bộ phận các doanh nghiệp Nhà nước mà trước hết là lĩnh vực thương mại, dịch vụ và một bộ phận xí nghiệp sản xuất, hình thành các công ty cổ phần, công ty hợp doanh Đây là vấn đề vừa có ý nghĩa chiến
lược quan trọng nhằm đảm bảo cho Nhà nước nắm các ngành kinh tế then chốt, vừa có
ý nghĩa tạo vốn, bảo tồn và tăng hiệu quả sử dụng vốn trong các doanh nghiệp nhà nước
Phát triển thị trường tài chính Các hình thức tạo vốn dù là sơ khai, dù là qua
hệ thống ngân hàng (tín dụng thương mại, tín dụng hùn vốn đầu tư cổ phần…) đều
Trang 33được tạo điều kiện phát triển, đặc biệt là các luật lệ đảm bảo an toàn cho hoạt động đầu tư tài chính và hoạt động tín dụng ngân hàng Trên cơ sở đó, cho phép các công ty,
xí nghiệp phát hành các loại trái phiếu, hối phiếu, cổ phiếu và được mua bán, chuyển nhượng trên thị trường Việc làm đầu tiên, có ý nghĩa thúc đẩy các hoạt động của thị trường vốn là việc phát hành chứng khoán nhà nước, đảm bảo uy tín của nhà nước Cho phép các ngân hàng thương mại và toàn dân mua bán, chuyển nhượng các chứng khoán, tạo nên sự tin cậy trong các hoạt động kinh doanh tiền tệ, từng bước hình thành các thị trường chứng khoán thứ cấp (dạng sơ khai, đơn giản) nhằm đáp ứng nhanh, nhạy với khối lượng lớn vốn đầu tư cho các doanh nghiệp
Có chiến lược kinh tế đối ngoại đúng đắn để thu hút vốn đầu tư nước ngoài có
tầm quan trọng đặc biệt cho việc phát triển kinh tế với phần lớn các nước đang phát triển và là điêu kiện để nhanh chóng thiết lập các quan hệ kinh tế quốc tế, gắn thị trường nội địa với thị trường thế giới trên cả bốn mặt: thị trường hàng hoá, thị trường tài chính, thị trường lao động và thị trường thông tin Vì vậy, phải xây dựng một chiến lược kinh doanh đối ngoại đúng đắn, phù hợp với những chuyển biến to lớn về kinh tế, chính trị - xã hội và khoa học hiện nay Tư tưởng chỉ đạo chiến lược của chính sách kinh tế đối ngoại là dân tộc, dân chủ, phát triển kinh tế theo định hướng xã hội chủ nghĩa, với phương châm chủ đạo là quan hệ kinh tế đa phương, mở cửa và cùng có lợi Cần có chính sách tài chính thích hợp để khuyến khích đầu tư nước ngoài dưới hình thức vay nợ, đầu tư tài chính, đầu tư trực tiếp, mở chi nhánh kinh doanh, thuê chuyên gia… Thực hiện chế độ tài chính ưu tiên như thuế nhập khẩu vật tư kỹ thuật, dịch vụ thông tin, thuế xuất khẩu thành phẩm, thuế thu nhập, quyền được đảm bảo tài sản, điều kiện chuyển lợi nhuận và vốn về nước và các dịch vụ đầu tư ưu đãi khác Khuyến khích đặc biệt đối với đầu tư nước ngoài cho các công trình cơ sở hạ tầng, thông tin liên lạc, công nghệ mũi nhọn, các ngành sử dụng nhiều lao động và các dự án khai thác tài nguyên có số vốn khổng lồ Cho phép mọi đơn vị kinh tế thuộc các thành phần kinh tế có tư cách pháp nhân, đủ điều kiện về nghiệp vụ kinh doanh được trực tiếp liên doanh, gọi vốn của nước ngoài và chịu trách nhiệm về trả nợ và các khoản thanh toán khác, tự thoả thuận lựa chọn ngân hàng bảo lãnh theo luật pháp các nhà nước Mở rộng thị trường hối đoái bằng cách cho phép nhiều ngân hàng thương mại có đủ điều kiện về vốn và nghiệp vụ, được kinh doanh ngoại hối và thực hiện dịch vụ thanh toán quốc tế nhằm đảm bảo bằng luật pháp các điều kiện di chuyển vốn, lợi nhuận, thanh toán ngoại thương nhanh chóng, thuận lợi cho các doanh nghiệp trong và ngoài nước Tạo điều kiện ổn định về kinh tế - chính trị - xã hội, đặc biệt là hệ thống pháp lý kinh
tế đầy đủ, nghiêm chỉnh, giá cả ổn định, chính sách tiền lương và điều tiết thu nhập hợp lý
Trang 34Bảo tồn và sử dụng vốn có hiệu quả là mục tiêu cuối cùng của chính sách đầu
tư và là nhiệm vụ chủ yếu của quản trị kinh doanh Tuy nhiên, chính sách của nhà nước có vai trò quan trọng đối với quá trình này, thể hiện ở chỗ:
Nguồn vốn cấp phát từ ngân sách nhà nước cho lĩnh vực kinh tế (vốn can thiệp kinh tế) Trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hoá ở nhiều nước trên thế giới, nhà nước có một nguồn vốn tập trung khá lớn nhằm đầu tư có tính chất khởi động phát triển và định hướng cơ cấu kinh tế cho một số ngành then chốt Nguồn vốn này bao gồm vốn huy động từ các khoản thu ngân sách, vốn do bán cổ phiếu các công
ty quốc doanh, vốn vay hoặc viện trợ vủa nước ngoài và các tổ chức tài chính quốc tế
Ở nước ta hiện nay, nguồn vốn này chiếm tỷ trọng khá lớn trong tổng số vốn đầu tư của nền kinh tế đang được sử dụng cho các công trình trọng điểm nhà nước, trong đó, phần lớn là các công trình thuộc kết cấu hạ tầng và một số ngành công nghiệp nặng
Cơ chế sử dụng nguồn vốn này vẫn còn mang nặng hình thức cấp phát một chiều và việc sử dụng còn hết sức lãng phí, ngay trong quá trình đầu tư cũng như khi đưa vào
sử dụng Xét về mặt kinh tế, đầu tư kiểu này giống như khoản tài trợ cho không và không đúng nghĩa của đồng vốn (vốn thực thụ phải quay về nơi chủ sở hữu nó và quay nhiều vòng) Vì vậy, để phát huy hiệu quả của nguồn vốn nhà nước, thì phương thức
sử dụng vốn cần theo hướng sau:
Chuyển vốn xây dựng cơ bản của nhà nước sang dạng tín dụng ngân hàng dài hạn Có quy định thời gian thu hồi vốn và lãi suất phù hợp đối với từng loại công trình trọng điểm khác (dễ thu hồi lại) có thể áp dụng hình thức hùn vốn với các công ty quốc doanh hoặc tư nhân (trong nước và nước ngoài) theo cơ chế công ty cổ phần kinh doanh thu hồi vốn hiệu quả hơn, không nhất thiết nhà nước phải đầu tư hoàn toàn như hiện nay
Cần xác định trọng điểm đầu tư của nhà nước phù hợp với cơ chế kinh tế thị trường và chiến lược thương mại mở cửa “sản xuất để xuất khẩu, xuất khẩu để nhập khẩu” Như vậy, phải dành 1 phần thích đáng vốn xây dựng cơ bản của nhà nước để đầu tư phát triển công nghiệp xuất khẩu, tăng nhanh thu nhập ngoại tệ như dầu khí, nhôm,… đồng thời sẵn sàng gọi thêm vốn của các thành phần kinh tế xây dựng kết cấu hạ tầng và thông tin, thu hồi lại bằng lệ phí dịch
vụ thoả đáng
Phần vốn thu được do bán cổ phiếu các xí nghiệp, công ty quốc doanh có thể dùng để đầu tư mở rộng một số ngành có mức doanh lợi cao và công nghiệp mũi nhọn, nhưng hình thức đầu tư hiệu quả hơn cả là hình thành các công ty cổ phần công tư hợp doanh Ngoài ra, nhà nước giành một phần vốn tập trung từ ngân sách để tài trợ cho một số hoạt động kinh doanh và thương mại với mục
Trang 35đích định hướng vĩ mô kinh tế, hoặc điều hoà thị trường (bảo hộ sản xuất, tài trợ các xí nghiệp dịch vụ công cộng…)
Tóm lại, việc kết hợp giữa “khơi trong” và “hút ngoài”; giữa vốn tập trung của nhà nước và vốn doanh nghiệp (có được từ mọi nguồn) theo một định hướng đầu tư đúng đắn trong một cơ chế hoạt động tài chính thích hợp với từng giai đoạn phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở nước ta là yếu tố có ý nghĩa quyết định đối với việc củng cố và làm lành mạnh nền tài chính quốc gia, đồng thời cũng là nhân tố tạo nên bước chuyển biến có ý nghĩa cơ bản của công cuộc đổi mới cơ chế kinh tế
2.3.3.2 Chính sách tài chính đối với doanh nghiệp
Phát triển doanh nghiệp sẽ tập hợp có hiệu quả các nguồn vốn phân tán nhưng rất to lớn, phù hợp với đường lối phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa.Vì vậy đây là chính sách có tầm quan trọng chiến lược lâu dài Về chính sách đầu tư, nguồn vốn đầu tư của nhà nước tập trung chủ yếu vào phát triển cơ sở hạ tầng, cải thiện các yêu cầu công cộng Về chính sách ưu đãi về thuế và các chi phí, ngoài việc thực hiện chính sách theo luật khuyến khích đầu tư trong nước, cần áp dụng chế độ ưu đãi hơn
về giá điện nước, và thuế đất cho các doanh nghiệp.Cần hoàn thiện hơn chính sách đối với từng loại hình doanh nghiệp, tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng cho các doanh nghiệp
2.3.3.3 Chính sách đối với ngân sách nhà nước
Từng bước giảm chi kinh tế và tăng chi ngoài kinh tế mà bố trí nguồn thu, rà soát lại các khoản chi Để kiểm soát lạm phát có hiệu quả và làm lành mạnh nền tài chính quốc gia,cần chấm dứt việc cho vay trực tiếp từ Ngân hàng trung ương đối với ngân sách nhà nước dưới mọi hình thức
Các chính sách về ngân sách nhằm huy động vốn dài hạn cho phát triển kinh tế-xã hội cần thường xuyên đổi mới cải tiến các hình thức huy động, đặc biệt là hệ thống thuế.Thuế không những là nguồn thu ngân cách chính mà còn là công cụ điều tiết vĩ
mô quan trọng của nhà nước.Do vậy,cùng với việc thực hiện đường lối đổi mới,chuyển từ nền kinh tế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiết vĩ mô của nhà nước, Đảng và chinh phủ đã dành nhiều sự quan tâm chú ý lớn cho công tác đổi mới hệ thống thuế
2.3.3.4.Chính sách về tài chính đối ngoại
Quan triệt quan điểm đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, đặc biệt trong việc phát triển kinh tế đối ngoại, chính sách tài chính cần huy động tối đa nguồn vốn nước ngoài cho đầu tư phát triển kinh tế, đồng thời tạo ra và tận dụng các nguồn thu ngoại tệ.Trong hoàn cảnh nước ta hiện nay,cơ sở vật chất kỹ thuật còn nghèo nàn,sản xuất chậm phát triển, tích lũy từ nội bộ chưa đáng kể thì phải triệt để thu hút các nguồn vốn từ bên
Trang 36ngoài,coi đó là nguồn thu quan trọng,không thể thiếu được và có ý nghĩa quyết định đến khả năng và tốc độ phát triển của nền kinh tế nước nhà;nâng cao hiệu quả các hoạt động kinh tế đối ngoại thể hiện ở mức độ đóng góp của nó vào việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội trong nước.Nhà nước phải quản lý tốt việc sử dụng ngoại
tệ, nhất là ngoại tệ mạnh.Xoá bỏ độc quyền trong việc tham gia các hoạt động kinh tế đối ngoại, đảm bảo quyền tự chủ sản xuất, kinh doanh và quyền tự chủ tài chính cho các đơn vị kinh tế cơ sở.Nâng cao vai trò quản lý tài chính trên cơ sở phân định rõ về quyền lợi và trách nhiệm thông qua các luật lệ tài chính
2.3.3.5 Các chính sách về tiền tệ và tín dụng
Điều hành khối lượng tiền cung ứng.Tổng hợp phương tiện thanh toán trong nền kinh tế cần được kiểm soát và điều hành có hiệu lực,bám sát các tín hiệu thị trường để vừa đảm bảo cung ứng đủ phương tiện thanh toán cho nhu cầu đầu tư tăng trưởng kinh
tế, đối ứng với luồng đầu tư từ nước ngoài vào,vừa không gây cầu quá mức về hàng hoá,kích thích tăng giá trong nước,Khi cần thiết,ngân hàng nhà nước phải áp dụng những biện pháp hữu hiệu để rút tiền lưu thong về,như phát hành tín phiếu ngân hàng nhà nước,mua ngoại tệ…
Chính sách tín dụng Để tạo nguồn vốn phục vụ đầu tư phát triển,công nghiệp hoá,hiện đại hoá nền kinh tế, hệ thống ngân hàng Việt Nam cần tiếp tục hoàn chỉnh đưa vào hoạt động có chất lượng các thị trường tiền tệ(như thị trường lien ngân hàng;thị trường đấu giá tín phiếu kho bạc);và cùng với các ngành đưa vào hoạt động thị trường chứng khoán trong thập kỷ này
Trang 37CHƯƠNG 3: NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
(Số tiết: 06) 3.1 Vai trò của ngân sách nhà nước
Trong nền kinh tế thị trường vai trò của Ngân sách nhà nước được thay đổi và trở nên hết sức quan trọng.Trong quản lý vĩ mô nền kinh tế quốc gia Ngân sách nhà nước có các vai trò như sau :
a Vai trò huy động các nguồn Tài chính để đảm bảo nhu cầu chi tiêu của Nhà nước
Vai trò này xuất phát từ bản chất kinh tế của Ngân sách nhà nước, để đảm bảo cho hoạt động của nhà nước trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội đòi hỏi phải có những nguồn tài chính nhất định Những nguồn tài chính này được hình thành từ các khoản thu thuế và các khoản thu ngoài thuế Đây là vai trò lịch sử của Ngân sách nhà nước mà trong bất kỳ chế độ xã hội nào, cơ chế kinh tế nào ngân sách nhà nước đều phải thực hiện
b Ngân sách Nhà nước là công cụ điều tiết thị trường, bình ổn giá cả và kiềm chế lạm phát
Đặc điểm nổi bật của nền kinh tế thị trường là sự cạnh tranh giữa các nhà doanh nghiệp nhằm đạt được lợi nhuận tối đa, các yếu tố cơ bản của thị trường là cung cầu và giá cả thường xuyên tác động lẫn nhau và chi phối hoạt động của thị trường Sự mất cân đối giữa cung và cầu sẽ làm cho giá cả tăng lên hoặc giảm đột biến và gây ra biến động trên thị trường, dẫn đến sự dịch chuyển vốn của các doanh nghiệp từ ngành này sang ngành khác, từ địa phương này sang địa phương khác.Việc dịch chuyển vốn hàng loạt sẽ tác động tiêu cực đến cơ cấu kinh tế, nền kinh tế phát triển không cân đối Do
đó, để đảm bảo lợi ích cho nhà sản xuất cũng như người tiêu dùng nhà nước phải sử dụng ngân sách để can thiệp vào thị trường nhằm bình ổn giá cả thông qua công cụ thuế và các khoản chi từ ngân sách nhà nước dưới các hình thức tài trợ vốn, trợ giá và
sử dụng các quỹ dự trữ hàng hoá và dự trữ tài chính Đồng thời, trong quá trình điều tiết thị trường ngân sách nhà nước còn tác động đến thị trường tiền tệ và thị trường vốn thông qua việc sử dụng các công cụ tài chính như: phát hành trái phiếu chính phủ, thu hút viện trợ nước ngoài, tham gia mua bán chứng khoán trên thị trường vốn… qua
đó góp phần kiểm soát lạm phát
c Ngân sách Nhà nước là công cụ định huớng phát triển sản xuất
Để định hướng và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhà nước sử dụng công cụ thuế
và chi ngân sách Bằng công cụ thuế một mặt tạo nguồn thu cho ngân sách, mặt khác nhà nước sử dụng thuế với các loại thuế, các mức thuế suất khác nhau sẽ góp phần kích thích sản xuất phát triển và hướng dẫn các nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư vào những
Trang 38vùng những lĩnh vực cần thiết để hình thành cơ cấu kinh tế theo hướng đã định Đồng thời, với các khoản chi phát triển kinh tế, đầu tư vào cơ sở hạ tầng, vào các ngành kinh
tế mũi nhọn… nhà nước có thể tạo điều kiện và hướng dẫn các nguồn vốn đầu tư của
xã hội vào những vùng, lĩnh vực cần thiết để hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý
d Ngân sách Nhà nước là công cụ điều chỉnh thu nhập giữa các tầng lớp dân cư
Nền kinh tế thị trường với những khuyết tật của nó sẽ dẫn đến sự phân hoá giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư, nhà nước phải có một chính sách phân phối lại thu nhập hợp lý nhằm giảm bớt khoảng cách chênh lệch về thu nhập trong dân cư.Ngân sách nhà nước là công cụ tài chính hữu hiệu được nhà nước sử dụng để điều tiết thu nhập, với các sắc thuế như thuế thu nhập luỹ tiến, thuế tiêu thụ đặc biệt … một mặt tạo nguồn thu cho ngân sách mặt khác lại điều tiết một phần thu nhập của tầng lớp dân cư
có thu nhập cao Bên cạnh công cụ thuế, với các khoản chi của ngân sách nhà nước như chi trợ cấp, chi phúc lợi cho các chương trình phát triển xã hội: phòng chống dịch bệnh, phổ cập giáo dục tiểu học, dân số và kế hoạch hoá gia đình… là nguồn bổ sung thu nhập cho tầng lớp dân cư có thu nhập thấp Các vai trò trên của Ngân sách nhà nước cho thấy tính chất quan trọng của Ngân sách nhà nước, với các công cụ của nó
có thể quản lý toàn diện và có hiệu quả đối với toàn bộ nền kinh tế
3.2.Thu và chi của ngân sách nhà nước
3.2.1 Thu ngân sách nhà nước
Thu Ngân sách nhà nước phản ảnh các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình nhà nước sử dụng quyền lực chính trị để phân phối các nguồn tài chính của xã hội dưới hình thức giá trị nhằm hình thành quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước Như vậy, thu ngân sách nhà nước bao gồm toàn bộ các khoản tiền được tập trung vào tay nhà nước để hình thành quỹ ngân sách nhà nước đáp ứng cho các nhu cầu chi tiêu của nhà nước Thu ngân sách nhà nước bao gồm: thu trong cân đối ngân sách và thu bù đắp thiếu hụt của ngân sách
a Thu trong cân đối ngân sách: gồm các khoản thu mang tính chất Thuế (Thuế, Phí, Lệ phí) và thu từ hoạt động kinh tế của nhà nước
a1 Thu Thuế
a11 Khái niệm về thuế
Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc cho nhà nước do luật pháp qui định đối với các pháp nhân và thể nhân thuộc đối tượng chịu thuế nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của nhà nước Thuế là hình thức phân phối lại bộ phận nguồn tài chính của xã hội, không mang tính hoàn trả trực tiếp cho người nộp Do đó, tại thời điểm nộp thuế, người nộp thuế không được hưởng bất kỳ một lợi ích nào mà xem như đó là trách
Trang 39nhiệm và nghĩa vụ đối với nhà nước Như vậy, thuế mang tính cưỡng chế và được thiết lập theo nguyên tắc luật định
Bằng quyền lực chính trị của mình, nhà nước đã ban hành các loại thuế để tạo lập nguồn thu cho Ngân sách nhà nước, các khoản thu này được bố trí sử dụng theo dự toán ngân sách nhà nước đã được phê duyệt cho tiêu dùng công cộng và đầu tư phát triển nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của nhà nước Như vậy, thuế phản ảnh các quá trình phân phối lại thu nhập trong xã hội, thể hiện các mối quan hệ tài chính giữa nhà nước và các chủ thể khác trong xã hội
a12 Phân loại thuế
Để phục vụ cho công tác nghiên cứu, đánh giá phân tích quá trình vận dụng và quản lý các loại thuế đòi hỏi phải phân loại thuế
* Phân loại thuế theo tính chất: Với cách phân loại này thuế được chia thành hai nhóm lớn:
- Nhóm thuế trực thu: là những loại thuế mà nhà nước thu trực tiếp vào các pháp nhân hay thể nhân khi có tài sản hoặc thu nhập được qui định nộp thuế Đây là loại thuế mà người nộp thuế chính là người chịu thuế và họ không có khả thu hồi lại tiền thuế bằng cách chuyển gánh nặng thuế sang một người khác Ví dụ như: thuế thu nhập cá nhân, thuế nhà đất …
- Nhóm thuế gián thu: là những loại thuế đánh vào giá trị hàng hoá khi nó lưu chuyển trên thị trường, là loại thuế mà người trực tiếp nộp thuế không phải là người chịu thuế, nó được cấu thành trong giá cả hàng hoá dịch vụ và người tiêu dùng là người chịu thuế Người nộp thuế gián thu chẳng qua là nộp hộ người tiêu dùng Ví dụ như: V.A.T, thuế tiêu thụ đặc biệt…
Cách phân loại thuế theo tính chất cho thấy được vai trò của từng loại thuế trong phân phối và điều tiết thu nhập của các chủ thể trong xã hội, phản ảnh mối tương quan giữa thuế trực thu và thuế gián thu trong tổng thu nhập về thuế của ngân sách nhà nước và
có ý nghĩa trong việc hệ thống hóa một cách khoa học các sắc thuế phục vụ cho việc nghiên cứu và thiết kế các chính sách thuế
* Phân loại thuế theo đối tượng đánh thuế: theo cách phân lọai này hệ thống thuế được chia thành:
- Thuế đánh vào các hoạt động sản xuất kinh doanh Ví dụ: thuế giá trị gia tăng (V.A.T)
- Thuế đánh vào sản phẩm Ví dụ: thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu
- - Thuế đánh vào thu nhập Ví dụ: thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân
- Thuế đánh vào tài sản Ví dụ: thuế nhà đất, thuế trước bạ
Trang 40- Thuế đánh vào các tài sản thuộc sở hữu nhà nước Ví dụ: thuế tài nguyên
Việc phân loại thuế theo đối tượng như trên vừa phát huy tác dụng riêng của từng loại thuế, vừa hỗ trợ cho nhau để bảo đảm thực hiện chức năng toàn diện của cả
hệ thống thuế
a2.Thu lệ phí và phí
Lệ phí và phí là các khoản thu tuy chiếm tỷ trọng không lớn trong tổng nguồn thu của ngân sách nhà nước nhưng có ý nghĩa quan trọng vì nó liên quan đến tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội
* Lệ phí: là khoản thu mang tính chất thuế vì nó vừa mang tính cưỡng bách được qui định trong những văn bản pháp luật của nhà nước nhưng đồng thời nó lại mang tính chất phục vụ cho người nộp lệ phí về việc nhà nước thực hiện một số thủ tục hành chính nào đó Ví dụ: lệ phí trước bạ, lệ phí tòa án, lệ phí cấp giấy phép xây dựng, lệ phí cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, lệ phí công chứng…
* Phí: là khoản thu mang tính chất thuế, là khoản thu mang tính bù đắp một phần chi phí thường xuyên và không thường xuyên về các dịch vụ công cộng hạ tầng kinh tế xã hội phục vụ cho người nộp phí Phí có hai loại: thứ nhất, các loại phí mang tính phổ biến do chính phủ qui định thứ hai, các loại phí mang tính địa phương Ví dụ: học phí, viện phí, phí giao thông, phí cầu đường…
Phân biệt thuế, phí và lệ phí
Là số tiền tổ chức, cá nhân phải nộp khi được
UBTV quốc hội, các bộ, các cấp chính quyền địa phương
Tính
pháp lý
Cao nhất Thấp hơn thuế, vì chỉ khi tổ
chức cá nhân làm các thủ tục hành chính mới phải nộp
Thấp nhất
Tính chất Là khoản đóng góp bắt
buộc và không hoàn trả
trực tiếp cho người nộp
Mang tính chất là một khoản thù lao nhằm hoàn trả trực tiếp các chi phí phát sinh
Chỉ khi được các tổ chức cung cấp dịch vụ mới phải nộp
a3 Thu từ hoạt động kinh tế của nhà nước
Trong nền kinh tế thị trường nhà nước tham gia các hoạt động kinh tế bằng việc