1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đề cương bài giảng quản lý bảo trì công nghiệp

157 490 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 157
Dung lượng 1,7 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những kỹ thuật bảo trì ngày càng thay đổi và được thể hiên ở hình 1.3 - Sử dụng máy tính lớn, chậm Thế hệ thứ ba - Giám sát tình trạng - Thiết kế đảm bảo độ tin cậy và khả năng bảo trì -

Trang 1

Chương 1 : MỞ ĐẦU VỀ BẢO TRÌ

1.1 Sù ph¸t triÓn cña b¶o tr×

1.1.1- Lịch sử bảo trì

Bảo trì đã xuất hiện kể từ khi con người biết sử dụng các loại dụng cụ, đặc biệt là khi bánh xe được phát minh Nhưng chỉ từ vài thập niên qua bảo trì mới được coi trọng đúng mức khi có sự tăng khổng lồ về số lượng và chủng loại của các tài sản cố định như máy móc, thiết bị, nhà xưởng trong sản xuất công nghiệp

Ở bất kỳ nơi nào trên thế giới người ta cũng đã tính trung bình rằng khoảng từ 4 đến 40 lần chi phí mua sắm sản phẩm và thiết bị được dùng để duy trì chúng vận hành đạt yêu cầu bằng các hoạt động bảo trì phòng ngừa và phục hồi trong suốt tuổi đời của

chúng

1.1.2- Bảo trì đã trải qua ba thế hệ như sau

Thế hệ thứ nhất: Bắt đầu từ xa mãi chiến tranh thế giới thứ II Trong giai đoạn

này công nghiệp chưa được phát triển, việc chế tạo và sản xuất được thực hiện bằng các thiết bị máy móc còn đơn giản, thời gian ngừng máy ít ảnh hưởng đến sản xuất, do đó công việc bảo trì cũng rất đơn giản Bảo trì không ảnh hưởng lớn về chất lượng và năng xuất Vì vậy, ý thức ngăn ngừa các thiết bị hư hỏng chưa được phổ biến trong đội ngũ quản lý, nên lúc đó cũng chưa thấy cần thiết phải có các phương pháp bảo trì hợp lý cho các máy móc Bảo trì lúc bấy giờ chủ yếu là sửa chữa các máy móc và thiết bị khi có hư hỏng xảy ra

Thế hệ thứ hai: Mọi thứ đã được thay đổi do chiến tranh thế giới thứ hai xáy ra,

áp lực của chiến tranh đã làm tăng nhu cầu cần nhiều loại hang hóa, trong khi nguồn nhân lực cung cấp cho công nghiệp lại sút giảm đáng kể Do đó, cơ khí hóa được phát triển mạnh mẽ để bù đắp lại nguồn nhân lực bị thiếu hụt Vào những năm 1950, máy móc các loại đã được đưa vào sản xuất nhiều hơn và phúc tạp hơn Công nghiệp chở nên phụ thuộc nhiều hơn vào máy móc, thiết bị

Do sự phụ thuộc này ngày càng tăng, thời gian ngừng máy đã ngày càng được quan tâm nhiều hợn Đôi khi có một câu hỏi nêu ra la ”con người kiểm soát máy móc hay máy móc điều khiển con người? ”.Nếu công tác bảo trì được thực hiện tốt trong nhà máy thì con người sễ kiểm soát được máy móc, ngược lại máy móc sễ gây khó khăn cho con người

Vì vậy, đã có ý kiến cho rằng những hư hỏng của thiết bị có thể và nên được phong ngừa để tránh làm mát thời gian khi có sự cố hay co tình huống khẩn cấp xảy ra

Từ đó đã bắt đầu xuất hiện khái niệm bảo trì phòng ngừa, mọi mục tiêu chủ yếu la giữ

Trang 2

Trong nhừng năm 1960 giải pháp bảo trì chủ yếu là đại tu thiết bị vào những khoảng thời gian nhất định

Chi phí bảo trì cũng đã bắt đầu gia tăng đáng kể so với những chi phí vận hành khác Điều này dẫn đến viếc phát triển những hệ thống kiểm soát và lập kế hoạch bảo trì

Cuối cùng tổng vốn đầu tư cho tài sản cố định đã gia tăng đág kể do đó người ta

đã bát đầu tìm kiếm những giải pháp để có thể tăng tối đa tuôi thọ của những tài sản này

Thế hệ thứ ba: Từ giữa những năm 1980, công nghiệp thế giới đã có những thay

đổi lớn lao, những thay đổi này đòi hỏi và mong đợi ở bảo trì ngày càng nhiều hơn, xem hình 1.1

1.1.3-Những mong đợi về bảo trì

Thời gian ngừng máy luôn luôn ảnh hưởng đến khả năng sản xuất của thiết bị do làm giảm năng suất của thiết bị, do làm giảm năng lượng, tăng chi phí vận hành và gây trở ngại cho dịch vụ khách hàng Vào những năm 1960và 1970 điều này đã là một mối quan tâm chủ yếu trong một số ngành công nghiệp lớn như chế tạo, khai thác mỏ, giao thông vận tải Những hậu quả của thời gian ngừng máy lại trầm trọng thêm do công nghiệp chế tạo thế giới có su hướng thực hiện các hệ thống sản xuất đúng lúc (Just – In - Time), trong đó lượng tồn tại kho nguyên vật liệu, bán thành phẩm giảm rất nhiều nên chỉ những hư hỏng nhỏ của một thiết bị nào đó cũng đủ làm ngừng toàn bộ một nhà máy.Trong những năm gần đây,sự phát triển của cơ khí hoá và tự động hoá đã làm tăng

độ tin cậy, và khả năng sẵn sằng trở thành những yếu tố quan trọng hàng đầu trong các ngành công nghiệp và dịch vụ như y tế, xử lý dữ liệu, viễn thông, tin học, xây dựng.Vào tháng 6 năm 2000,chỉ một giờ cúp điện đã làm các công ty tin học ở Silicon Valley (Mỹ) thiệt hại hơn 100 triêu đô la

- Tuổi thọ thiết bị dài

hơn

- Chi phí thấp hơn

Thế hệ thứ ba

- Khả năng sẵn sang và độ tin cậy

cao hơn

- An toàn cao hơn

- Chất lượng sản phẩm tốt hơn

- Không gây tác hại môi trường

- Tuổi thọ thiết bị dài

Trang 3

Tự động hoá nhiều hơn cũng có nghĩa rằng những hư hỏng ngày càng ảnh hưởng lớn hơn đến các tiêu chuẩn chất lượng và dịch vụ Ví dụ, các bộ phận điều khiển bị hư hỏng, có thể ảnh hưởng đến hệ thống điều hoà nhiệt độ trong các toà nhà cũng như trong dây chuyền sản xuất tự động, nếu như một khâu nào đó mà thiêt bị xử lý không tốt, thì sẽ làm ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm của toàn bộ dây chuyền

Những hư hỏng ngày càng gây ra các hậu quả nghiệm trọng về an toàn và môi trường, trong khi những tiêu chuẩn chất lượng và dịch vụ ở nhiều lĩnh vực đang ngày càng tăng nhanh chóng Tại nhiều nước trên thế giới, đã có những công ty, nhà máy bị đóng cửa vì không đảm bảo các tiêu chuẩn về an toàn và môi trường Điển hình là những tai nạn như tại nhà máy điện nguyên tử Chernobyl (Ucraina) vào năm 1986, một thời là mối quan tâm lớn của toàn nhân loại Vì thế, một số nước như Thụy điển, Đức đã có kế hoạch đóng cửa toàn bộ những nhà máy điện nguyên tử trên lãnh thổ của mình trong những năm tới

Sự phụ thuộc của con người vào tài sản cố định, máy móc, thiết bị, ngày càng tăng thì đồng thời chi phí vận hành và sở hữu chúng cũng ngày càng tăng Để thu hồi tối đa vốn đầu tư cho tài sản cố định, thiết bị phải được duy trì hoạt động với hiệu suất cao và

có tuổi thọ càng lâu càng tốt

Cuối cùng chính chi phí bảo trì cũng đang tăng lên, tính theo giá trị tuyệt đối và tính như là một thành phần của tổng chi phí Trong một số ngành công nghiệp, chi phí bảo trì cao thứ nhì hoặc thậm chí cao nhất trong số các chi phí vận hành Kết quả là, trong vòng 30 năm gần đây, chi phí bảo trì từ chỗ không được ai quan tâm, đến chỗ đã vượt lên đứng đầu trong số các chi phí mà người ta ưu tiên kiểm soát

Tình trạng hiện nay thường là hơn 90% các chi phí bảo đảm chất lượng, khả năng bảo trì và độ tin cậy trong công nghiệp được dùng để phục hồi lại những sai sót, khuyết tật do thiết kế và chế tạo sản phẩm, trong khi chỉ gần 10% được chi để làm đúng sản phẩm ngay từ đầu Những nỗ lực của bảo trì trong tương lai là phải đảo ngược hiện trạng này

1.1.4-Những nghiên cứu mới về bảo trì

Những nghiên cứu mới về bảo trì đã làm thay đổi các quan niệm cơ bản nhất về tuổi thọ thiết bị và hư hỏng Hiển nhiên là có mối quan hệ giữa mức độ hư hỏng và tuổi thọ của thiết bị Hình 1.2 cho thấy trước kia người ta nghĩ rằng hư hỏng là do thiết bị

“già” đi Sau đó ở thế hệ thứ hai đã có thêm quan niệm cho rằng giai đoạn “làm nóng máy” ban đầu cũng ảnh hưởng đến hư hỏng, từ đó đã xuất hiện quan niệm mới được thể hiện qua “đường cong dạng bồn tắm”

Tuy nhiên các công trình nghiên cứu ở thế hệ thứ ba đã chứng tỏ rằng trong thực tế

Trang 4

1.1 5-Những kỹ thuật bảo trì mới

Đã có sự phát triển bùng nổ về những khái niệm và kỹ thuật bảo trì mới Hàng trăm kỹ thuật bảo trì mới đã được triển khai vào sản xuất trong hai mươi năm qua và hiện nay hàng tuần lại xuất hiện một vài kỹ thuật mới Những kỹ thuật bảo trì ngày càng thay đổi và được thể hiên ở hình 1.3

- Sử dụng máy tính lớn, chậm

Thế hệ thứ ba

- Giám sát tình trạng

- Thiết kế đảm bảo

độ tin cậy và khả năng bảo trì

- Nghiên cứu rủi do

- Sử dụng máy tính nhỏ, nhanh

- Phân tích các dạng và tác động của hư hỏng

- Các hệ thống chuyên gia

- Đa kỹ năng và làm việc theo nhóm

Trang 5

1.1.6-Những phát triển mới về bảo trì

-Các công cụ hỗ trợ quyết định: nghiên cứu rủi ro, phân tích dạng và hậu quả hư hỏng

-Những kỹ thuật bảo trì mới:giám sát tình trạng,…

-Thiết kế thiết bị với sự quan tâm đặc biệt đến độ tin cậy và khả năng bảo trì -Một nhận thức mới về mặt tổ chức công tác bảo trì theo hướng thúc đẩy sự tham gia của mọi người, làm việc theo nhóm và tính linh hoạt khi thực hiện

1.1.7- Vai trò của bảo trì ngày nay

Ngày nay, bảo trì đóng một vai trò rất quan trọng trong mọi hoạt động sản xuất, có thể so sánh như một đội cứu hoả Đám cháy một khi đã xảy ra phải được dập tắt càng nhanh càng tốt để tránh những thiệt hại lớn Tuy nhiên, dập tắt lửa không phải là nhiệm

vụ chính của đội cứu hoả, công việc chính của họ là phòng ngừa không cho đám cháy xảy ra Cho nên vai trò chính của bảo trì là:

- Phòng ngừa để tránh cho máy móc không bị hư hỏng

- Cực đại hoá năng suất

 Nhờ đảm bảo hoạt động dung yêu cầu và liên tục tương ứng với tuổi thọ của máy dài hơn

 Nhờ chỉ số khả năng sẵn sàng của máy cao nhất và thời gian ngừng máy để bảo trì nhỏ nhất

Nhờ cải tiến liên tục quá trình sản xuất

- Tối ưu hoá hiệu suất của máy

 Máy móc vận hành có hiệu quả và ổn định hơn, chi phí vận hành ít hơn đồng thời làm ra sản phẩm đạt chất lượng hơn

 Tạo ra môi trường làm việc an toàn hơn

Hiện nay, bảo trì ngày càng trở nên quan trọng ở những nước đang phát triển, có nhiều máy móc cũ đang hoạt động, vấn đề phụ tùng là yếu tố cần quan tâm, bởi vì khó tìm được phụ tùng thay thế cho thiết bị, nếu có tìm thấy thường giá cũng rất cao và phải trả bằng ngoại tệ Nếu công tác bảo trì tốt, hậu quả của các hư hỏng đã được đề phòng thì vấn đề này phần nào đã được giải quyết

1.1.8 Những thách thức đối với bảo trì

Kỹ thuật càng phát triển, máy móc và thiết bị sẽ càng đa dạng và phức tạp hơn Những thách thức chủ yếu đối với những nhà quản lý bảo trì hiện đại bao gồm:

- Lựa chọn kỹ thuật bảo trì thích hợp nhất

Trang 6

- Đáp ứng mọi mong đợi của người chủ thiết bị, người sử dụng thiêt bị và của toàn

xã hội

- Thực hiện công tác bảo trì có hiệu quả nhất

- Hoạt động bảo trì với sự hỗ trợ và hợp tác tích cực của mọi người có liên quan

1.2 Nh÷ng môc tiªu cña b¶o tr×

Ở thế hệ thứ nhất bảo trì không ảnh hưởng nhiều đến hiệu quả sản xuất nên ít được quan tâm Trong bảo trì hiện đại, không thể tập trung nguồn lực quá nhiều vào việc sửa chữa thiêt bị khi chúng bi hư hỏng Mỗi lần xảy ra ngừng máy thì rõ ràng là chiến lược bảo trì không hiệu quả Quản lý bảo trì hiện đại là giữ cho thiết bị bảo trì luôn ổn định theo lịch trình mà bộ phận sản xuất đã lên kế hoạch Thiết bị phải sẵn sàng hoạt động để tao ra các sản phẩm đạt chất lượng Nhà quản lý bảo trì và sản xuất cần phải xác định được chỉ số khả năng sẵn sàng để từ đó đề ra chỉ tiêu sản xuất hợp lý nhất Những mục tiêu của bảo trì bao gồm:

-Thực hiện một trương trình kỹ thuật bảo trì tổng hợp trong mua bán, kỹ thuật, nghiên cứu, phát triển sản xuất, kiểm soát chất lượng,kiểm tra, bao gói, vận chuyển, lắp đặt, vận hành, dịch vụ tại chỗ, thực hiện công tác khắc phục bất cứ nơi nào và bầt cứ nơi đâu khi cần,đưa những đặc trưng của độ tin cậy và khả năng bảo trì toàn diện và đúng đắn vào trong tất cả các hoạt động của công ty tiếp xúc với sản phẩm từ đầu đến cuối

-Xác định độ tin cậy và khả năng bảo trì tối ưu, các yếu tố này nên được thiết kế vào trong sản phẩm để chi phí chu kỳ sống là nhỏ nhất

-Thu nhận các dữ liệu thời gian vận hành đến khi hư hỏng và xây dựng đường cong dạng bồn tắm để ghi nhận tỷ lệ hư hỏng của một bộ phận hoặc thiết bị tương ứng với tuổi đời của nó.Đường cong này giúp xác định những yếu tố sau:

 Thời gian chạy rà và thời gian làm nóng máy tối ưu

 Thời gian bảo hành tối ưu và chi phí tương ứng

 Thời gian thay thế phòng ngừa tối ưu của các bộ phận quan trọng

 Các nhu cầu phụ tùng tối ưu

- Thực hiện phân tich các dạng, tác động và khả năng tới hạn của hư hỏng để xác định những bộ phận nên tập trung thiết kế lại, nghiên cứu và phát triển từ quan điểm bảo trì

- Nghiên cứu hậu quả của các hư hỏng để xác định thiệt hại của những bộ phận và thiết bị lân cận, thiệt hại về sản xuất, lợi nhuận và sinh mạng, cũng như tổn hại đến thiện chí và uy tín của công ty

- Nghiên cứu các kiểu hư hỏng của các chi tiết, các bộ phận, sản phẩm, hệ thống

và tỷ lệ hư hỏng tương quan để đề nghị thiết kế, nghiên cứu và phát triển nhằm cực tiểu hoá hư hỏng

Trang 7

- Xác định sự phân bố các thời gian vận hành đến khi hư hỏng của các chi tiết các

bộ phận, các sản phẩm và các hệ thống để hỗ trợ cho sự tính toán tỷ lệ hư hỏng và độ tin cậy

- Xác định phân bố các thời gian phục hồi thiết bị hư hỏng Các thời gian này nên bao gồm mọi thành phần của thời gian ngừng máy và những phân bố của mối thành phần thời gian ngừng máy như thời gian ngừng máy để phục hồi chẩn đoán, hậu cần và hành chính…

- Xác định thời gian trung bình và khả năng thay đổi của tất cả các thành phần, thời gian ngừng máy với các phân bố đã được xác định ở mục trước để nhận biết các khu vực có vấn đề cần quan tâm, đồng thời làm giảm thời gian trung bình và khả năng thay đổi của những hành động bảo trì làm tiêu tốn một phần lớn tổng thời gian ngừng máy

- Giảm số bộ phận trong thiết kế của thiết bị

- Sử dụng các giải pháp sắp xếp những bộ phận và cấu hình thiết bị tốt hơn về mặt

độ tin cậy

- Xác định nhu cầu dự phòng để đạt mục tiêu độ tin cậy mong muốn nếu các phương pháp khác đều thất bại

- Lựa chọn các vật liệu tốt hơn và thích hợp hơn

- Lựa chọn các mối quan hệ đúng đắn giữa ứng suất, biến dạng, sức bền và thời gian trong thiết kế các chi tiết và bộ phận để đạt được mục tiêu độ tin cậy thiết kế tối ưu

- Sử dụng các phiếu kiểm tra kỹ thuật bảo trì trong tất cả các giai đoạn hoạt động của thiết bị

- Xây dựng một hệ thống báo cáo về hư hỏng và bảo trì để thu thập một cách khoa học những dữ liệu về độ tin cậy và khả năng bảo trì cần thiết

- Xác định tính trách nhiệm hư hỏng do ai về mặt kỹ thuật, chế tạo, mua sắm, kiểm soát chất lượng, kiểm tra, thử nghiệm, đóng gói, vận chuyển, bán hàng, dịch vụ tại chỗ, khởi động, vận hành sử dụng

- Hướng dẫn ra quyết định hoạt động phục hồi để cực tiêu hoá các hư hỏng, giảm thời gian bảo trì và sửa chữa, loại bỏ việc thiết kế thừa cũng như thiếu

- Thông qua thử nghiệm để xác định có cần những thay đổi để cải thiện tuổi thọ,

độ tin cậy và khả năng bảo trì của thiết bị nhằm đạt đến mức độ mong muốn hay không

- Thực hiện việc xem xet thiết kế độ tin cậy, khả năng bảo trì và cải thiện thiết kế

kỹ thuật, mua sắm, chế tạo, kiểm soát chất lượng, thử nghiệm làm nóng máy, bao gói, vận chuyển, lắp đặt, khởi động sao cho thiết bị được thiết kế và chế tạo đúng đắn ngay từ đầu

- Làm giảm đến mức thấp nhất những sai sót thiết kế thông qua danh sách kiểm tra khả năng bảo trì của bản thiết kế

Trang 8

- Làm giảm đến mức thấp nhất những sai sót chế tạo thông qua danh sách kiểm tra

độ tin cậy và khả năng bảo trì

- Giảm đến mức thấp nhất những sai sót trong lắp ráp, kiểm soát chất lượng và kiểm tra thông qua danh sách kiểm tra và đào tạo thích hợp

- Đảm bảo các chi tiết, các bộ phận, các thiết bị khởi động được nhờ lắp đặt đúng đắn, có các sổ tay vận hành và bảo trì tố, ngoài ra người bảo trì cần phải có kinh nghiệm thực tiễn về bảo trì phục hồi và phòng ngừa tốt

- Xác định quy mô và trình độ chuyên môn của đội ngũ bảo trì và trình độ chuyên môn cần thiết cho mỗi loại thiết bị

- Xác định phân phối các thời gian bảo trì phòng ngừa, giá trị trung bình và khả năng thay đổi của chúng

- Đưa ra các bản cảnh báo về thiết bị kiểm soát để người vận hành tránh lạm dụng khả năng tải và tốc độ giới hạn

- Giảm đến mức thấp nhất việc sử dụng sai tính năng của thiết bị bằng cách cung cấp các thông số, đặc tính kỹ thuật chính xác và đào tạo các kỹ sư, nhân viên bán hàng và dịch vụ

- Thực hiên một hệ thống bảo hành, bảo trì có hiệu quả bao gồm thu thập các dữ liệu tại hiện trường về độ tin cậy và khả năng bảo trì, phân tich và thực hiên các công việc cải tiến

- Giám sát hiệu quả sử dụng thực tế của thiết bị, tính toán các khả năng bảo trì và

tỷ lệ sửa chữa những chi tiết và bộ phận hư hỏng Nếu những khả năng bảo trì và tỷ lệ sửa chữa này thấp hơn mục tiêu thiết kế thì phải thực hiện ngay những hành động khắc phục trước khi phải đương đầu với những sự cố nghiêm trọng của thiết bị

- Tiến hành những nghiên cứu mới liên quan giữa độ tin cậy, khả năng bảo trì, chi phí, trọng lượng, thể tích, khả năng vận hành và an toàn để xác định giải pháp có hiệu quả kinh tế cao nhất

- Xác định kế hoạch thử nghiệm tốt nhất và kiểm tra kích thước mẫu để sử dụng cho việc đánh giá, kiểm tra khả năng bảo tri và thời gian trung bình để sửa chũa của thiết

Trang 9

- Xúc tiến thương mại bằng cách quảng cáo rằng khả năng sẵn sàng rất cao của thiết bị để sản xuất hoặc sử dụng vì vậy làm giảm chi phí sản xuất và chi phí vận hành thiết bị

- Làm tăng sự thoả mãn và thiện cảm của khách hàng bằng cách giới thiệu sản phẩm dễ bảo trì hơn và khả năng sản xuất cao hơn để phục vụ sản xuất

- Làm tăng doanh thu nhờ khách hàng được thoả mãn và có thiện cảm hơn

- Làm tăng lợi nhuận hoặc với cùng lơi nhuận thì có thể cung cấp cho khách hàng những sản phẩm tin cậy hơn và dễ bảo trì hơn

- Làm đảo ngược xu thế hiện nay là chi hơn 90% cho các chi phí về độ tin cậy, khả năng bảo trì và chất lương trong công nghiệp để khắc phục những sai sót và khuyết tật về

độ tin cậy, khả năng bảo trì và thiết kế sản phẩm sau khi chúng xảy ra trong khi chỉ chi ít hơn 10% để thiết kế và chế tạo sản phẩm đúng ngay từ đầu

1.3 Nh÷ng lîi Ých mang l¹i tõ c«ng t¸c b¶o tr×

Qua kết quả điều tra người ta nhận thấy rằng trong một năm nếu tăng chỉ số khả năng sẵn sàng của máy móc thiết bị lên 1% thì hiệu quả kinh tế mang lại cho các đơn vị sản xuất sẽ rất lớn:

 Nhà máy thép : khoảng 10 tỷ đồng

 Nhà máy giấy : khoảng 11 tỷ đồng

 Nhà máy hoá chất : khoảng 1 tỷ đồng

 Nhà máy điện : khoảng 10 tỷ đồng

 Nhà máy xi măng : khoảng 21 tỷ đồng

- Một cuộc điều tra của nhiều nước trên thế giới cho thấy rằng:cứ 1 USD chi cho chương trình giám sát tình trạng sẽ tiết kiệm 5USD, nói chung là tiết kiệm từ 10 đến 22USD nói riêng cho ngành nhựa

- Lực lượng hải quan Mỹ ước lượng rằng chương trình bảo trì giám sát tình trạng máy có tỷ lệ giữa lợi ích so với chi phí khoảng 18/10

- Vào cuối năm 1999, khảo sát tại một công ty bao bì nhựa ở Tp Hồ Chí Minh trong 6 tháng từ 1/7/98 đến 01/01/99 cho thấy, máy đùn ép màng nhựa có tổng số giờ ngừng máy là 155 giờ, gây tổn thất cho nhá máy 1,6 tỷ đống Nếu công ty được hỗ trợ để triển khai tốt bảo trì phòng ngừa giám sát tình trạng cho các máy móc thiết bị hiện có thì

có thể tăng doanh thu ít nhất 11 tỷ đồng và phần lớn giá trị này là lợi nhuận, nghĩa là đạt gấp 5 lần lợi nhuận của công ty trong năm đó Tương tự tại một công ty nhựa khác có thể tăng doanh thu ít nhất là 7 tỷ đồng (thêm 20% doanh thu) và chủ yếu trong đó cũng là lợi nhuận

- Viện nghiên cứu điện năng ở Mỹ đã thưc hiện một chương trình bảo trì dự đoán

Trang 10

năm1987 Trong một báo cáo hội nghị năm 1992, lợi nhuận mang lại trong vòng 5 năm nhờ giám sát rung động lên đến hơn 5 triệu USD

- Vào năm 1989, công ty điện và khí San Diego đã báo cáo tiết kiệm được 700.000 USD trong vòng 2 năm

- Nhà máy giấy cổ nhất ở Mỹ mất mỗi ngày 2,3 giờ sản xuất với chi phí mất mát 10.000 USD/giờ Khi đưa vào chương trình bảo trì giám sát tình trạng, thời gian sản xuất

bị mất giảm xuống còn 2,0 giờ/ngày Khi ứng dụng một chương trình bảo trì chính xác, thời gian bị mất giảm hơn nữa, xuống còn 1,2 giờ/ngày Tổng chi phí tiết kiệm được hàng năm lên đến 61 triệu USD

- Tại công ty Busan (Hàn quốc) nhờ sử dụng hệ thống giám sát tình trạng nên tránh được 80 giờ ngừng máy một năm và tiết kiệm được 1,5 triệu USD

- Một nghiên cứu mới đây của chính phủ Anh tiết lộ rằng công nghiệp của nước này đã tiết kiệm được 1,3 tỷ USD hàng năm nhờ áp dụng bảo trì phòng ngừa Chỉ cần tăng khả năng sãn sàng của máy 5% thì có thể nâng cao năng suất 30%

- Hải quân Canađa đã báo cáo: nhờ áp dụng chiến lược bảo trì trên cơ sở tình trạng máy nên các hư hỏng của thiết bị trên một đội tàu khu trục (gồm 20 chiếc) đã giảm được 45% và tiết kiệm được chi phí 2 triệu USD một năm

- Năm 1958 có 28% lần phóng vệ tinh của Mỹ thành công trong khi ngày nay hơn 92% là thành công và độ tin cậy này không ngừng gia tăng hàng năm

- Nhờ áp dụng kỹ thuật bảo trì và độ tin cậy, một nhà sản xuất dụng cụ điện tử đã giảm được 70% chi phí bảo hành mặc dù doanh thu tăng 25%

- Bơm thuỷ lực của một máy bay có thời gian trung bình để đại tu là 1200 giờ Nhờ áp dụng kỹ thuật giám sát thực tế những hư hỏng và dạng hư hỏng, thay đổi thiết kế

để cải thiện độ tin cậy và khả năng bảo trì, thời gian nói trên đã tăng lên 4000 giờ và trong đó một số trường hợp đến 5800 giờ

- Một công ty hàng không đã áp dụng một chương trình cải thiện độ tin cậy nhằm khẳng định rằng độ tin cậy có thể làm tăng chi phí ban đầu nhưng lại làm giảm đáng kể các chi phí bảo trì Một chương trình độ tin cậy toàn diện đã được áp dụng cho hệ thống

vũ khí F-105 với kết quả là độ tin cậy tăng từ 0,7263 lên 0,8986 Các chi phí cho chương trình này là 25.500.000 USD trong khi các chi phí bảo trì tiết kiệm được mỗi năm là 54.000.000 USD

- Trong công nghiệp dầu khí cứ mỗi lần sửa chữa hư hỏng bơm phải chi trung bình

4000 USD, thời gian hoạt động trung bình giữa các lần hư hỏng (MTBF) của bơm là 18 tháng Hãng Exxon, vì có nhiều loại bơm này nên đã phải chi cho việc sửa chữa khoảng 3.000.000 USD hàng năm Hãng này đã áp dụng một chương trình giảm thiểu hư hỏng bơm và đã nhận được những kết quả đáng kể, giảm 29% số hư hỏng ngay trong năm đầu tiên thực hiện

Trang 11

- Độ tin cậy và khả năng bảo trì của một hệ thống điều khiển bay của máy bay trực thăng, có thể được cải thiện đáng kể bằng cách sử dụng một hệ thống điều khiển quang

kỹ thuật số thay vì một hệ thống điều khiển cơ khí So sánh giữa hai hệ thống này cho thấy an toàn bay tăng 600% độ tin cậy tăng 400% và khả năng bảo trì tăng 250%

- Người phụ trách về kỹ thuật bảo trì của công ty Tapco đã phát biểu rằng kỹ thuật bảo trì và độ tin cậy mang lại lợi nhuận dưới nhiều dạng và hình thức:

lượng 50 bộ cho một thành phẩm và được nhóm tiêu chuẩn bảo trì kiểm tra Nhóm này đề nghị thay thế một bộ phận khác với cùng chức năng nhưng giá thành rẻ hơn Bằng cách tìm tòi, áp dụng những nguyên tắc của kỹ thuật giá trị và tiêu chuẩn hoá, nhóm này đã giảm được một phần ba chi phí của thiết bị

Nghiên cứu các bản thiết kế: công việc phối hợp giữa các nhóm tiêu chuẩn bảo trì

và các nhà thiết kế mang lại hiệu quả và lợi nhuận nhất Các bản thiết kế cần được xem xét lại và kiểm tra kỹ trong giai đoạn đầu tiên của chương trình phát triển sản phẩm Nếu

có sai sót thiết kế thì chi phí sẽ là 1USD để sửa lại bản thiết kế sơ bộ, là 10USD sau khi hoàn thành bản thiết kế, 100 USD ở giai đoạn tạo mẫu đầu tiên, 1.000 USD ở giai đoạn tiền sản xuất và là 10.000 USD ở giai đoạn sản xuất

Công việc với nhà cung cấp: Tapco tiến hành các quá trình thử nghiệm, kiểm tra

bằng thống kê chất lượng,độ tin cậy các nguyên vật liệu, bán thành phẩm của những nhà cung cấp Từ đó họ không chỉ nâng cao chất lượng sản phẩm làm ra mà còn cải thiện được mối quan hệ với nhà cung cấp

Bảo trì: Tapco đã áp dụng những công cụ, kỹ thuật độ tin cậy và khả năng bảo trì

cho chương trình bảo trì phòng ngừa Nhờ vậy thời gian hoạt động trung bình giữa hai lần hư hỏng đã tăng lên và do đó tuổi đời của thiết bị cũng dài hơn

Giám sát tình trạng/bảo trì: Dự đoán đã được thực hiện nhằm làm giảm các chi

Dự đoán

Phòng ngừa

Vận hành đến khi

Trang 12

phí bảo trì toàn bộ Hình 1.4 thể hiện các chi phí bảo trì thực tế khi sử dụng các kỹ thuật

dự đoán so với các giải pháp vận hành đến khi hư hỏng hoặc phòng ngừa Các chương trình thế hệ tiếp theo không chỉ tập trung vào việc giảm các chi phí bảo trì mà còn sẽ cải thiện đáng kể năng suất của nhà máy và hỗ trợ cao chất lượng sản phẩm

1.4 Nh÷ng thiÖt h¹i do h- háng m¸y, thiÕt bÞ

Qua điều tra, tổn thất trong một giờ ngừng sản xuất do máy bị hư hỏng ở một số ngành công nghiệp như sau:

- Dầu khí:vài triệu USD - Thép :10.000 USD

- Giấy:10.000-20.000 USD - Gia công kim loại:5.000 USD

- Hoá chất:2.000 USD - Điện:10.000 USD

- Sản xuất lon bia:9.000 USD - Ươm tơ(1 máy):500 USD

- Nhựa(1 máy):200 USD

- Nếu ngừng máy do hư hỏng trong một ngày một nhà máy đường Việt Nam có sản lượng 6.000 tấn/ngày bị thiệt hại trung bình là 2,4 tỷ đồng

- Một nhà máy hoá dầu ở Hàn Quốc phải ngừng hoạt động do một cơn bão Khi nhà máy hoạt động trở lại, theo dõi và giám sát tình trạng máy người ta nhận thấy có rung động trong những quạt gió Sau khi kiểm tra quạt gió người ta nhận thấy nguyên nhân chính là do hư hỏng nghiêm trọng trong các ổ lăn Nếu hư hỏng đó không được phát hiện kịp thời thì thiệt hại của nhà máy có thể lên đến 0,5 triệu USD

- Nhờ theo dõi thường xuyên một nhà máy xử lý khí ở Trung Đông người ta nhận thấy có rung động ở một rô to máy nén và so sánh với một hiện tượng tương tự trước đây

Từ đó đã rút ra kết luận rằng rung động đó là do sự mất cân bằng của rô to Vậy cần phải thay thế rô to đó, nhưng nhà máy lại không có phụ tùng để thay ngay lập tức Nhờ hiểu

rõ tình trạng của máy mà các kỹ sư của nhà máy đã kiểm soát được mức độ nghiêm trọng của sự cố đó bằng cách giảm tải đặt lên ro to đó trong khi chế tạo một ro to mới Nếu không phát hiện sớm và chính xác để điều chỉnh sản xuất thì khi máy bị hư hỏng, ngừng sản xuất hoàn toàn sẽ gây thiệt hại ước tính khoảng 2 triệu USD mỗi ngày

- Một nhà máy lọc dầu của Pháp đã phát hiện thấy có một trục của máy trộn chất xúc tác bị đảo nhiều hơn so với trước đây trong khi khởi động Người ta nhận thấy trục máy này có ma sát với vỏ và những vòng chặn Chất xúc tác khi thoát ra gần những vòng chặn sẽ dần dần tích tụ bên trong vỏ Nhờ công tác theo dõi tình trạng máy thường xuyên

mà quyết định loại bỏ chất xúc tác bằng cách phun nước trong khi vẫn vận hành máy Kết quả là rung động đó đã trở lại bình thường Bằng cách giải quyết tình trạng một cách trực tiếp, nhà máy đã tránh được thiệt hại ước tính khoảng 1 triệu quan Pháp mỗi ngày

-“Cứ một lần ngừng máy ngoài kế hoạch thì tương ứng với khoảng 10 giờ ngừng sản xuất và bị thiệt hại 65.000 USD trong một nhà máy cán thép Một năm thường có khoảng 5 trường hợp như vậy Tất cả trường hợp này có thể phòng tránh bằng các kỹ

Trang 13

thuật bảo trì là giám sát rung động ”(TS.Don Mahadevan,Hội nghị quốc tế lần thứ 3 về bảo trì dự án)

1.5 Nh÷ng øng dông thùc tÕ cña kü thuËt b¶o tr×

Kỹ thuật bảo trì cung cấp những tính toán và ứng dụng thưc tế để:

- Dự đoán độ tin cậy của các bộ phận máy từ các dữ liệu về hư hỏng

- Cung cấp các giải pháp để đạt độ tin cậy của các hệ thống

- Đánh giá số lượng máy dự phòng trong thiết kế và xác định số lượng máy dự phòng cần thêm

- Dự đoán số lượng máy dự phòng cần thiết để đạt được độ tin cậy mong mu

ốn

- Xác định những phần, bộ phận mà thay đổi thiết kế sẽ có lợi nhất về mặt độ tin cậy và giảm thiểu độ chi phí

- Tạo cơ sở để so sánh hai hay nhiều thiết kế

- Phân tích mối quan hệ giữa khả năng độ tin cậy, chi phí, trọng lượng khả năng vận hành và độ an toàn

- Cung cấp dữ liệu cần thiết để xây dựng các đường cong dạng bồn tắm, trong đó tốc độ hư hỏng của thiết bị đươc thể hiện theo thời gian hoạt động Những đường cong này giúp xác định:

 Thời gian thử nghiệm chạy rà và làm nóng máy tối ưu

 Thời gian và chi phí bảo hành tối ưu

 Nhu cầu về phụ tùng tối ưu

 Giai đoạn bắt đầu mài mòn mãnh liệt

- Xác định khi nào thay thế một bộ phận trước khi bộ phận này bị mài mòn mãnh liệt hoặc hư hỏng hoàn toàn

- Xác định trách nhiệm về hư hỏng là do thiết kế, chế tạo, mua sắm, kiểm soát chất lượng, thử nghiệm, bán hàng hay dịch vụ

- Chỉ dẫn ra quyết định thực hiện hành động phục hồi để giảm đến mức thấp nhất các hư hỏng và loại trừ khả năng thiết kế thừa hoặc thiếu

- Xác định những khu vực có thể đầu tư tài chính tốt nhất để nghiên cứu và phát triển về độ tin cậy và khả năng bảo trì

- Xác định những hư hỏng xảy ra ở những thời điểm nào đó trong thời gian hoạt động của máy và chuẩn bị để đối phó với chúng

- Cung cấp những chỉ dẫn cho các quá trình và kỹ thuật chế tạo để đạt đươc những mục tiêu về độ tin cậy chế tạo

- Cung cấp những chỉ dẫn để xem xét lại khả năng bảo trì và độ tin cậy tới hạn

Trang 14

- Hỗ trợ cung cấp những chỉ dẫn cho quá trình kiểm soát chất lượng

- Cung cấp những tài liệu chính xác để quảng cáo và bán hàng có hiệu quả

- Thiết lập những khu vực cần giảm thiểu chi phí do vô trách nhiệm (sản xuất bị nhiều phế phẩm, sản xuất ra những sản phẩm bị sửa đi sửa lại nhiều lần, sản phẩm bị trả lại,…)

- Cung cấp một kỹ thuật phân tích chi phí, trong đó độ tin cậy và khả năng bảo trì tối ưu của sản phẩm có thể được xác định tương ứng với chi phí toàn bộ của sản phẩm tính cho khách hàng là tối thiểu Chi phí toàn bộ, còn gọi là chu kỳ sống, là tổng chi phí ban đầu hay giá mua, cộng với các loại chi phí hỗ trợ, dịch vụ, vận hành và bảo trì thiết bị

và chi phí do thời gian ngừng máy trong suốt tuổi đời được thiết kế của sản phẩm

- Giảm các chi phí tồn kho nhờ cung ứng đúng phụ tùng một cách kịp thời

- Hỗ trợ xúc tiến buôn bán trên cơ sở độ tin cậy và khả năng bảo trì của các sản phẩm đã chế tạo

- Tính số lượng mẫu cần thiết để thử nghiệm nhằm xác định tuổi thọ, độ tin cậy và khả năng bảo trì của sản phẩm

- Giảm chi phí bảo hành hoặc là với cùng chi phí thì tăng thời gian bảo hành

- Thiết lập để sửa chữa hệ thống đúng định kỳ:

- Cung cấp các kết quả phân tích những báo cáo về hư hỏng để nhận biết được các

hư hỏng có cùng loại hay không, các phương pháp bao bì và vận chuyển, có quan hệ gì giữa số lần hư hỏng và thời gian phục vụ của thiết bị, có đủ người bảo trì không, thời gian ngừng máy và thời gian sửa chữa có như dự kiến không và có những thay đổi gì ảnh hưởng đến tuổi thọ và khả năng bảo trì của thiết bị so với mong muốn

- Xác định thời gian cần thiết để thử nghiệm tuổi thọ, độ tin cậy và khả năng bảo trì

- Hỗ trợ cung cấp những chỉ dẫn để đánh giá các nhà cung cấp tiềm năng trên cơ

sở độ tin cậy và khả năng bảo trì sản phẩm của họ

- Hỗ trợ để cung cấp những chỉ dẫn để xác định khả năng bảo trì của hệ thống, khả năng cung ứng phụ tùng và các bộ phụ tùng với chi phí tối thiểu

- Xác định thời gian cần thiết để sửa chữa đinh kỳ hệ thống

- Xác định khả năng sẵn sàng của hệ thống và giá trị cần đạt

- Xác định năng lực của hệ thống và giá tri cần đạt

- Xác định các yếu tố sử dụng của hệ thống và giá trị cần đạt

- Xác định khả năng bảo trì của hệ thống và giá trị cần đạt

- Xác định tổng giờ lao động cần thiết cho toàn bộ các công việc bảo trì

- Thực hiện phân tích các dạng, tác động và khả năng tới hạn của hư hỏng để xác định các bộ phận cần tập trung thiết kế lại, nghiên cứu phát triển và thử nghiệm hệ thống nhằm nâng cao không ngừng độ tin cậy và khả năng bảo trì của sản phẩm

Trang 15

- Nõng cao sự thoả món và thiện cảm của khỏch hàng

- Nõng cao doanh thu và thị phần

- Nõng cao lợi nhuận

- Tỏi đầu tư một phần lợi nhuận vào việc đổi mới phõn xưởng sản xuất nhằm nõng cao năng suất phõn xưởng và vỡ vậy làm giảm chi phớ sản xuất

- Tỏi đầu tư một phần lợi nhuận để nghiờn cứu và phỏt triển hơn nữa nhằm đứng đầu trong mụi trường cạnh tranh toàn cầu

- Cải thiện chất lượng sống của cụng nhõn, những người tạo ra những sản phẩm bằng cỏch chia sẻ

Một trong những kỹ thuật bảo trỡ quan trọng nhất hiện nay chớnh là kỹ thuật giỏm sỏt tỡnh trạng Hỡnh 1.5 giới thiệu một vớ dụ điển hỡnh về những kỹ thuật giỏm sỏt hiện đại nhằm cung cấp dữ liệu đỏng tin cậy để bỏo trước hư hỏng của ổ bi nhằm cú hành động kịp thời ngăn ngừa hư hỏng mỏy ngoài kế hoạch

1.6 So sánh giữa bảo trì và y tế

Mặc dự bảo trỡ và y tế thuộc hai ngành khỏc nhau một bờn là phục vụ cho con người cũn một bờn là phục vụ cho mỏy múc, thiết bị nhưng lại cú một số tương quan được thể hiện ở bảng 1.1

H- hỏng bắt

đầu

Kiểm tra bằng giác quan Kiểm tra bằng rung động

Thời gian báo

hỏng hoàn toàn (ổ bi)

Thời gian

Kiểm tra bằng sóng âm

Rung

động

Hỡnh 1.5 Kỹ thuật giỏm sỏt tỡnh trạng

Trang 16

- Kiểm tra các cơ quan - Kiểm tra các bộ phận

- Theo dõi tình trạng - Giám sát tình trạng

- Thay thế một số cơ quan - Thay thế một số bộ phận

- Máy đo điện tâm đồ - Oscilloscope

- Kiểm tra siêu âm - Kiểm tra siêu âm

- Tuổi thọ của con người - Tuổi thọ của máy

- Phòng bệnh hơn chữa bệnh - Phòng hư hơn chữa hỏng

Trang 17

Chương 2: ĐỊNH NGHĨA VÀ NỘI DUNG BẢO TRÌ

2.1 Các định nghĩa về bảo trì

Trong thời đại hiện nay, máy móc và thiết bị đang ngày càng đóng vai trò quan trọng trong hầu hết mọi lĩnh vực: sản xuất, kinh doanh, dịch vụ,… Vì vậy bảo trì các loại máy móc thiết bị cũng ngày được quan tâm nhiều hơn

Bảo trì là một thuật ngữ quen thuộc, tuy nhiên để hiể rõ vai trò, chức năng và các hoạt động liên quan đến bảo trì lại không dễ dàng Tuỳ theo quan điểm của mỗi tổ chức, mỗi cơ quan mà thuật ngữ bảo trì được định nghĩa khác nhau, nhưng về cơ bản có nhiều điểm tương đồng Sau đây là một số định nghĩa tiêu biểu:

2.1.1- Định nghĩa của Afnor (pháp)

Bảo trì là tập hợp các hoạt động nhằm duy trì hoặc phục hồi một tài sản ở tình trạng nhất định hoặc bảo đảm một dịch vụ nhất định

- Ý nghĩa của một số khái niệm từ định nghĩa này là: Tập hợp các hoạt động, tập hợp các phương tiện, các biện pháp kỹ thuật để thực hiện công tác bảo trì

- Duy trì: phòng ngừa các hư hỏng có thể xẩy ra để duy trì tình trạng hoạt động của

tài sản

- Phục hồi: Sửa chữa hay phục hồi trở lại trạng thái ban đầu của tài sản

- Tài sản: Bao gồm tất cả các thiết bị, dụng cụ sản xuất, dịch vụ,…

- Tình trạng nhất định hoặc tình trạng xác định: Các mục tiêu được xác định và định lượng

2.1.2- Định nghĩa của BS 3811: 1984 (Anh)

Bảo trì là tập hợp tất cả các hoạt động kỹ thuật và quản trị, nhằm giữ cho thiết bị luôn ở, (hoặc phục hồi nó về) một tình trạng mà trong đó nó có thể thực hiện chức năng yêu cầu chức năng yêu cầu này có thể được định nghĩa như là một tình trạng xác định

nào đó

2.1.3- Định nghĩa của Total productivity development AB (Thụy Điển)

Bảo trì bao gồm tất cảc các hoạt động được thực hiện nhằm giữ cho thiết bị ở một tình trạng nhất định hoặc phục hồi cho thiết bị về tình trạng này

4- Định nghĩa của Dimitri kececioglu (Mỹ)

Bảo trì là bất kỳ hành động nào nhằm duy trì các thiết bị không bị hư hỏng ở một tình trạng vận hành đạt yêu cầu về mặt độ tin cậy và an toàn và nếu chúng bị hư hỏng thì phục hồi chúng về tình trạng này

Trang 18

18

2.2 Phân loại bảo trì

Các loại chiến lược, giải pháp, kỹ thuật, phương pháp, thiết bị bảo trì đang phổ biến hiện nay được trình bầy ở hình 2.1

Bảo trì chính

sở tình trạng)

bảo trì thiết kế lại

bảo trì kéo dài tuổi thọ

Bảo trì

dự phòng

Bảo trì phục hồi

và khẩn cấp

Bảo trì

dự phòng

Giám sát tình trạng chủ quan

( dùng năm giác quan của con người )

Giám sát tình trạng khách quan ( dùng các thiết bị, dụng cụ )

Giám sát tình trạng chất lỏng

Giám sát nhiệt

độ

Giám sát tốc độ vòng quay

Giám sát khuyết tật

Giám sát tiếng

ồn

Thiết

bị giám sát tình trạng chất lỏng

Phương

pháp phổ

Dụng

cụ cầm tay

Phân tích hạt từ chất lỏng bôi trơn

Máy kiểm tra khuyế

t tật bằng siêu

âm

Thiết

bị giám sát nhiệt

độ

Tốc

kế

Thiết

bị giám sát tiếng

ồn

Trang 19

2.3 Bảo trì không kế hoạch

Chiến lược bảo trì này được xem như là “vận hành cho tới khi hư hỏng” Nghĩa là không hề có bất kỳ một kế hoạch hay hoạt động bảo trì nào trong khi thiết bị đang hoạt động cho tới khi hư hỏng Bảo trì không kế hoạch được xem là công tác bảo trì được thực hiện không có kế hoạch hoặc không có thông tin trong lúc thiết bị đang hoạt động cho tới khi hư hỏng Nếu có một hư hỏng nào đó xảy ra thì thiết bị đó sẽ được sửa chữa hoặc thay thế

Hai loại giải pháp phổ biến trong chiến lược bảo trì này là

2.3.1- Bảo trì phục hồi

Bảo trì phục hồi không kế hoạch là loại bảo trì không thể lập được kế hoạch Một công việc được xếp vào loại bảo trì phục hồi không kế hoạch khi mà thời gian dùng cho công việc ít hơn 8 giờ Trong trường hợp này không thể lập kế hoạch làm việc một cách hợp lý Nhân lực, phụ tùng và các tài liệu kỹ thuật cần thiết đối với công việc bảo trì này

là không thể lập kế hoạch và chuẩn bị trước khi công việc bắt đầu mà phải thực hiện đồng thời với công việc

Bảo trì phục hồi không kế hoạch là tất cả các hoạt động của bảo trì được thực hiện sau khi xảy ra đột xuất một hư hỏng nào đó để phục hồi thiết bị về tình trạng hoạt động bình thường nhằm thực hiện các chức năng yêu cầu

Bảo trì phục hồi không kế hoạch thường chi phí cao và các lần ngừng sản xuất không biết trước được, do đó sẽ làm cho chi phí bảo trì trực tiếp và chi phí bảo trì gián tiếp cao Vì vậy bảo trì không kế hoạch chỉ thích hợp trong những trường hợp ngừng máy đột xuất chỉ gây ra thiệt hại tối thiểu Đối với những thiết bị quan trọng trong các dây chuyền sản xuất, những lần ngừng máy đó có thể gây ra tổn thất, do đó giải pháp bảo trì này phải được giảm đến mức tối thiểu trong bất kỳ một tổ chức bảo trì nảo

2.4 Bảo trì có kế hoạch

Bảo trì có kế hoạch là bảo trì được tổ chức và thực hiện theo một chương trình đã được hoạch định và kiểm soát

Trang 20

2.4.1 Bảo trì phòng ngừa

Bảo trì phòng ngừa là hoạt động bảo trì được lập kế hoạch trước và thực hiện theo một trình tự nhất định để ngăn ngừa các hư hỏng xảy ra hoặc phát hiện các hư hỏng trước khi chúng phát triển đến mức làm ngừng máy và gián đoạn sản xuất

Như đã thấy từ định nghĩa, bảo trì phòng ngừa được chia thành hai bộ phận khác nhau: bảo trì phòng ngừa được thực hiện để ngăn ngừa các hư hỏng xảy ra và bảo trì phòng ngừa được thực hiện để phát hiện các hư hỏng trước khi chúng phát triển đến mức làm ngừng máy hoặc các bất ổn trong sản xuất

Có hai giải pháp thực hiện chiến lược bảo trì phòng ngừa:

2.4 1.1 Bảo trì phòng ngừa trực tiếp

Bảo trì trực tiếp được thực hiện định kỳ nhằm ngăn ngừa hư hỏng xảy ra bằng cách tác động và cải thiện một cách trực tiếp trạng thái vật lý của máy móc, thiết bị Những công việc bảo trì phòng ngừa trực tiếp thường là thay thế các chi tiết, phụ tùng, kiểm tra các bộ phận, bôi trơn, thay dầu mỡ, lau chùi, làm sạch máy móc,…theo kế hoạch chương trình định sẵn

Các hoạt động bảo trì phòng ngừa trực tiếp thường mang tính định kỳ theo thời gian hoạt động, theo kilômet di chuyển, Nên còn gọi là bảo trì định kì( fixed- time maintence-FTM)

2.4 1.2 Bảo trì phòng ngừa gián tiếp

Bảo trì phòng ngừa gián tiếp được thực hiện để tìm ra các hư hỏng ngay trong giai đoạn ban đầu trước khi các hư hỏng có thể xảy ra Trong giải pháp này, các công việc bảo trì không tác động đến trạng thái vật lý của thiết bị mà thay thế vào đó là những kỹ thuật giám sát tình trạng khách quan và giám sát tình trạng chủ quan được áp dụng để tìm ra hoặc dự đoán các hư hỏng của máy móc, thiết bị nên còn được gọi là bảo trì trên cớ sở

tình trạng.(CBM-condition Based Maintenance) hay bảo trì dự đoán (Predictive

Maintenance) hoặc bảo trì tích cực(proactive M ainance) Bảo trì trên cơ sở tình trạng

máy đã khắc phục được các nhược điểm của bảo trì phòng ngừa và bảo trì định kì bằng cách giám sát liên tục tình trạng máy Để xác định chính xác tình trạng và điều kiện hoạt động của thiết bị ở mọi thời điểm người ta sử dụng những kĩ thuật giám sát tình trạng

2.4 1.3 Kỹ thuật giám sát tình trạng

Nếu trong quá trình hoạt động máy móc, thiết bị có vấn đề thì thiết bị giám sát tình trạng sẽ cung cấp thông tin để xác định xem đó là vấn đề gì và quan trọng hơn là nguyên nhân gây ra vấn đề đó Nhờ vậy, có thể lập trình sửa chữa hiệu quả từng vấn đề cụ thể trước khi máy móc bị hư hỏng Giám sát tình trạng có thể được chia thành:

 Giám sát tình trạng chủ quan: là giám sát được thực hiện bằng các giác quan của con người như: nghe, nhìn, sờ, nếm, ngửi, để đánh giá tình trạng của thiết bị

Trang 21

 Giám sát tình trạng khách quan: được thực hiện khi tình trạng của thiết bị trong một số trượng hợp không thể nhận biết được bằng các giác quan của con người

Nó được thực hiện thông qua việc đo đạc và giám sát bằng nhiều thiết bị khác nhau, từ những thiết bị đơn giản cho đến những thiết bị chẩn đoán hiện đại nhất Giám sát tình trạng khách quan có thể thực hiện bằng hai cách:

Giám sát tình trạng không liên tục: là giám sát tình trạng mà trong đó một

người đi quanh các máy và đo những thông số cần thiết bằng một dụng cụ cầm tay Các số liệu hiển thị được ghi lại hoặc được lưu trữ trong dụng cụ để phân tích về sau Phương pháp này đòi hỏi một người có tay nghề cao để thực hiện việc đo lường Bởi vì, người đó phải có kiến thức vận hành dụng cụ, có thể diễn đạt thông tin từ dụng cụ và phân tích tình trạng máy hiện tại là tốt hay xấu

Giám sát liên tục: được thực hiện khi thời gian phát triển hư hỏng qúa

ngắn Phương pháp này cần ít người hơn nhưng thiết bị thì đắt tiền hơn và bản thân thiết bị cũng cần được bảo trì

Trong hệ thống bảo trì phòng ngừa dựa trên giám sát tình trạng thường 70%

các hoạt động là chủ quan và 30% là khách quan lý do là vì có những hư hỏng xảy

ra và không thể phát hiện bằng dung cụ

2.4.2 Bảo trì cải tiến

Bảo trì cải tiến được tiến hành khi cần thay đổi thiết bị cũng như tình trạng bảo trì Mục tiêu của bảo trì cải tiến là thiết kế lại một số chi tiết, bộ phận để khắc phục một số hư hỏng để kéo dài thời gian sử dụng của các chi tiết, bộ phận và toàn bộ thiết bị Chiến lược bảo trì cải tiến được thực hiện bởi hai giải pháp sau:

 Bảo trì thiết kế lại (design – out maintence, DOM): giải pháp bảo trì này thường là đưa ra thiết kế cải tiến nhằm khắc phục hoàn toàn những hư hỏng, khuyết tật hiện có của máy móc, thiết bị

 Bảo trì kéo dài tuổi thọ ( life- time extension, LTE): là một giải pháp nhằm kéo dài tuổi thọ của máy móc, thiết bị bằng cách đổi mới vật liệu hoặc kết cấu

2.4.3- Bảo trì chính xác

Bảo trì chính xác được thực hiện bằng cách thu thập các dữ liệu của bảo trì dự đoán để hiệu chỉnh môi trường và các thông số vận hành của máy, từ đó cực đại hoá năng suất, hiệu suất và tuổi thọ của máy

2.4.4- Bảo trì dự phòng(redundancy, RED).

Bảo trì dự phòng được thực hiện bằng cách bố trí máy hoặc chi tiết, phụ tùng thay thế

Trang 22

thể được khởi động và liên kết với dây chuyền sản xuất, nếu cái đang được sử dụng bị ngừng bất ngờ

2.4.5-Bảo trì năng suất toàn bộ (total productive maintence- TPM)

Bảo trì năng suất toàn bộ được thực hiện bởi tất cả các nhân viên thông qua các nhóm hoạt động nhỏ nhằm đạt tối đa hiệu suất sử dụng máy móc, thiết bị

TPM tạo ra những hệ thống ngăn ngừa tổn thất xảy ra trong quá trình sản xuất nhằm đạt được mục tiêu “ không tai nạn, không khuyết tật, không hư hỏng” TPM được

áp dụng trong toàn bộ phòng, ban và toàn bộ các thành viên từ người lãnh đạo cao nhất đến những nhân viên trực tiếp sản xuất

2.4 6-Bảo trì tập trung vào độ tin cậy(reliability maintence –RCM)

Bảo trì tập trung vào độ tin cậy là một quá trình mang tính hệ thống được áp dụng

để đạt được các yêu cầu về bảo trì và khả năng sẵn sàng của máy móc, thiết bị nhằm đánh giá một cách định lượng nhu cầu thực hiện hoặc xem xét lại các công việc và kế hoạch bảo trì phòng ngừa

2.4.7-Bảo trì phục hồi

Bảo trì phục hồi có kế hoạch là hoạt động bảo trì phục hồi phù hợp với kế hoạch sản xuất, các phụ tùng, tài liệu kĩ thuật và nhân viên bảo trì đã được chuẩn bị trước khi tiến hành công việc

Trong giải pháp bảo trì này chi phí bảo trì gián tiếp sẽ thấp hơn và chi phí bảo trì trực tiếp cũng giảm đi so với bảo trì phục hồi không kế hoạch

Khi đã hình thành một chiến lựơc bảo trì, có thể lựa chọn nhiều phương pháp bảo

trì khác nhau từ đơn giản đến phức tạp Trong thực tế có sự hoà lẫn những phương pháp khác nhau do tính đa dạng của thiết bị trong nhà máy và bị tổn thất kinh tế do thiết bị gây ra nếu xuất hiện ngừng máy ngoài kế hoạch Các giải pháp bảo trì gồm:

2.5.1 Vận hành đến khi hư hỏng ( operation to break down, OTBD),(Bảo trì phục hồi không kế hoạch)

Nếu như tất cả công việc bảo trì được thực hiện trong nhà máy là OTBD thì bảo trì sẽ làm cho chỉ số khả năng sẵn sàng thấp và chi phí bảo trì cao Chi phí do ngừng máy

Trang 23

sẽ rất cao, tính hiệu quả của bảo trì thấp, công việc của bảo trì bị thúc ép và đôi khi nguy hiểm do các giải pháp về an toàn thường không được coi trọng

Đôi khi giải pháp bảo trì này phải được thực hiện vì các lí do kinh tế hoặc kĩ thuật, nhưng chỉ áp dụng đối với một số thiết bị được lựa chọn Nếu tất cả công việc bảo trì là sửa chữa máy khi bị hư hỏng thì chiến lược bảo trì hoàn toàn sai

2.5.2 Bảo trì định kì (fixed – time maintence, FTM)

Bảo trì sẽ làm cho chi phí bảo trì ít đắt tiền hơn và giảm được thời gian ngừng máy so với giải pháp vận hành cho đến khi hư hỏng Bảo trì định kì có nghĩa là một số lần ngừng máy để bảo trì được hoạch định trước đối với các máy móc quan trọng Những chi tiết, bộ phận có tuổi thọ dự đoán được thay thế hoặc tân trang

Bảo trì phòng ngừa chỉ dựa trên giải pháp bảo trì định kì sẽ không cho kết quả như mong đợi vì mỗi chi tiết có tuổi thọ riêng Một vài chi tiết được thay thế quá thường xuyên làm phát sinh những chi phí không cần thiết Một số chi tiết được dùng cho đến khi hư hỏng mà chưa kịp thay thế gây ra chi phí ngừng máy cao

2.5.3 Bảo trì trên cơ sở tình trạng (condition –based maintence, CBM)

Bảo trì dựa trên giám sát tình trạng thiết bị sẽ tạo điều kiện đạt được khả năng sẵn sàng và chi phí bảo trì tối ưu và khả năng sinh lợi cao nhất Giải pháp bảo trì này có thể được xem như bảo trì đúng lúc Giám sát tình trạng thiết bị trong lúc vận hành sẽ tạo ra điều kiện phục hồi có kế hoạch và lập kế hoạch bảo trì phối hợp linh hoạt với lập kế hoạch sản xuất Thời gian ngừng sản xuất do thay đổi dụng cụ, sản phẩm… chẳng hạn sẽ được sử dụng để thực hiện công việc bảo trì Giải pháp bảo trì này làm giảm rất nhiều thời gian ngừng máy và nâng cao khả năng sẵn sàng của thiết bị

2.5.4 Bảo trì thiết kế lại (design – out maintence, DOM)

Giải pháp bảo trì thiết kế lại làm giảm nhu cầu bảo trì và làm tăng chỉ số khả năng sẵn sàng Khi thiết kế hoặc mua máy cần quan tâm hơn những nhu cầu bảo trì sau này Mua thiết bị rẻ nhất thì thường sẽ phát sinh chi phí bảo trì cao, chỉ số khả năng sẵn sàng thấp và tuổi thọ ngắn Thiết bị có chất lượng cao thì thường đắt tiền hơn nhưng sẽ có chi phí bảo trì thấp hơn, chỉ số khả năng sẵn sàng tốt hơn và tuổi thọ dài hơn

2.5.5 Bảo trì kéo dài tuổi thọ (life time extension, LTE)

Kéo dài tuổi thọ vẫn luôn trong tâm trí người bảo trì Nếu như tuổi thọ của một chi tiết nào đó có thể được kéo dài bằng cách sửa đổi, đổi mới vật liệu ,…thì nhu cầu có thể được kéo dài bằng cách sửa đổi, đổi mới vật liệu,… thì nhu cầu đối với bảo trì phòng

ngừa và bảo trì phục hồi sẽ giảm

Trang 24

2.5.6 Bảo trì dự phòng (redundancy, RED)

Giải pháp này rất đắt tiền, áp dụng khi có đòi hỏi thời gian ngừng máy ở mức tối thiểu Nếu một lần ngừng máy không có kế hoạch gây ra những tổn thất lớn hoặc những hậu quả nghiêm trọng khác và điều đó không thể tránh được, thì giải pháp này phải được thực hiện Hình 2.2 thể hiện các thời gian ngừng máy và ngừng sản xuất tương ứng với các giải pháp bảo trì khác nhau

2.6 Lựa chọn giải pháp bảo trì

Mọi người trong tổ chức quản lý cao nhất đến công nhân đang làm việc tại nhà

máy đều phải biết chiến lược bảo trì Người sản xuất và người bảo trì phải có thể phân tích những vấn đề bảo trì nảy sinh Nếu một sự cố xuất hiện, trước tiên người vận hành, người bảo trì hay bất cứ người nào khác phải biết đặt câu hỏi: “có thể tránh sự cố này xảy

ra một lần nữa bằng cách sửa đổi, thiết kế lại hoặc bất kì giải pháp nào khác?”

Như vậy có thể lựa chọn giải pháp bảo trì bằng cách nêu một loạt câu hỏi và trả lời theo trình tự sau đây:

Có thể thiết kế lại để tránh hư hỏng hay không?

Nếu không thể kéo dài được tuổi thọ của chi tiết thì bước kế tiếp là phải cố gắng

áp dụng giám sát tình trạng thiết bị trong suốt thời gian vận hành để sớm tìm ra những sai

sót trong thời kì phát triển hư hỏng và có thể lập kế hoạch để giảm hậu quả hư hỏng

Có thể áp dụng giám sát tình trạng thiết bị trong quá trình vận hành không?

Thời gian sản xuất

Thời gian ngừng máy

Thời gian sản xuất

Thời gian ngừng máy

Bảo trì trên cơ

Trang 25

Đôi khi giám sát tình trạng không thể thực hiện trong quá trình vận hành, khi đó giám sát tình trạng phải đựơc tiến hành trong thời gian ngừng máy có kế hoạch

Có thể giám sát tình trạng trong khi ngừng máy có kế hoạch không?

Nếu không thể áp dụng giám sát tình trạng do không phát hiện được hư hỏng nào đang phát triển thì phải nghĩ đến thay thế định kì

Có thể áp dụng thay thế định kì hay không?

Nếu khó xác định được khoảng thời gian giữa những lần hư hỏng xảy ra thì hư hỏng là ngẫu nhiên và phải nghĩ tiếp đến giải pháp dự phòng

Có thể áp dụng dự ph òng được không?

Nếu không có giải pháp bảo trì nào nêu trên được áp dụng thì giải pháp dự phòng

phải được xem xét trước khi quyết định đi đến giải pháp bảo trì khi đã bị ngừng máy Giải

pháp này phải được xem xét cẩn thận về mặt kinh tế

Vận hành đến khi hư hỏng

Chỉ cho phép sử dụng giải pháp bảo trì này khi những giải pháp bảo trì khác không thể áp dụng được, ví dụ khi hư hỏng mang tính ngẫu nhiên và không có thời gian phát triển hư hỏng Tuy nhiên thường thì phải xem xét vấn đề hậu quả kinh tế phát sinh Đôi khi giải pháp bảo trì này là kinh tế nhất do giá thiết bị thấp và không tác động đến tổn thất sản xuất

2.7 Bảo trì phòng ngừa

2.7.1 Giới thiệu

Bảo trì phòng ngừa được thực hiện để kéo dài tuổi thọ của thiết bị và tránh những

hư hỏng trước thời hạn dự kiến Bảo trì phòng ngừa bao gồm các hoạt động như: kiểm tra thiết bị bôi trơn, điều chỉnh, làm vệ sinh máy, kiểm tra không phá huỷ ( bảo trì dự đoán )

và bảo trì định kỳ thường là thay thế chi tiết Phục hồi và đại tu thường không được coi là bảo trì phòng ngừa Những hành động này là cần thiết khi thiết bị đã bị hư hỏng nặng ngoài khả năng thực hiện bảo trì phòng ngừa Phục hồi và đại tu nhằm đưa thiết bị về tình trạng hoạt động có hiệu quả, chỉ khi đó bảo trì phòng ngừa mới có hiệu quả

Bảo trì phòng ngừa nhằm duy trì tuổi thọ có ích của thiết bị và tránh những hư hỏng xảy ra không lường trước Ngoài những công việc thường lệ như: làm vệ sinh, điều chỉnh, bôi trơn và kiểm nghiệm, xu hướng phát hiện hư hỏng nhờ kiểm tra và giám sát thiết bị thường xuyên là một giải pháp sống còn để cải tiến toàn bộ chương trình bảo trì Phát hiện sớm các nguy cơ là nhằm tránh hư hỏng vựot quá giới hạn cho phép sau này Nhờ đó người ta có thể lập kế hoạch và thực hiện việc phục hồi thiết bị một cách có hiệu quả hơn Vì vậy các công việc kiểm tra trong bảo trì phòng ngừa là giải pháp chủ yếu để nâng cao các hoạt động bảo trì có kế hoạch, làm tăng hiệu quả bảo trì và giảm đáng kể

Trang 26

quyển sách này giới thiệu một số thiết bị có thể được sử dụng để đạt được những mục tiêu trên

2.7.2 Những lợi ích của một chương trình bảo trì phòng ngừa

Thực hiện công tác bảo trì phòng ngừa sẽ mang lại một số lợi ích sau:

- Số lần hư hỏng it hơn: chương trình bảo trì phòng ngừa giám sát tình trạng phát

hiện kịp thời những vấn đề nảy sinh trước khi chúng trở thành nghiêm trọng đủ để gây ra những hư hỏng cho thiết bị Nhờ vậy chỉ cần một số thao tác điều chỉnh thường xuyên và sửa chữa nhỏ để tránh hư hỏng xảy ra thời gian ngừng máy có thể giảm xuống 50%

- Công việc bảo trì có kế hoạch nhiều hơn

- Số lần bảo trì khẩn cấp ít hơn: để thực hiện công tác bảo trì phòng ngừa hiệu quả

phải có đủ nhân viên kiểm tra tình trạng máy móc thiết bị Nhờ vậy những trường hợp khẩn cấp mà không bị phát hiện sẽ ít hơn Số lần bảo trì khẩn cấp có thể giảm còn một nửa

- Thời gian bảo trì không có kế hoạch ít hơn: một trong những yếu tố quan trọng

làm tăng bảo trì không có kế hoạch là bảo trì khẩn cấp Giảm bảo trì khẩn cấp sẽ làm giảm thời gian bảo trì không kế hoạch, có khi phải làm ngoài giờ

Tuổi thọ thiết bị được kéo dài hơn: bảo trì phòng ngừa làm hài lòng người sử dụng nhờ kéo dài tuổi thọ của thiết bị có thể thêm đến 20% và tăng độ tin cậy

- Nhân lực bảo trì đựơc sử dụng có hiệu quả hơn: một công việc bảo trì khẩn cấp

thường tốn 15% chi phí so với công việc tương tự có kế hoạch Phòng bảo trì có chương trình phòng ngừa tốt thường đảm bảo các nhân viên tham gia chủ yếu là các công việc bảo trì có kế hoạch Do đó nhân lực đủ, có hiệu quả và năng suất cao hơn

- Việc vận hành thiết bị được cải thiện: vì chương trình bảo trì phòng ngừa có thể

làm giảm số công việc bảo trì khẩn cấp nên cũng làm giảm thời gian ngừng máy Trong môi trường sản xuất, điều quan trọng là làm sao cho máy ngừng có kế hoạch để bảo trì phòng ngừa, như vậy sẽ tốt hơn là ngừng máy không kế hoạch do phải bảo trì khẩn cấp Thời gian ngừng máy được giảm dẫn đến sản lượng được gia tăng

- Chi phí bảo trì giảm: nhân viên bảo trì có xu hướng làm việc có hiệu quả hơn

trong môi trường công việc được lập kế hoạch tốt Nhờ vậy chi Nhân lực bảo trì được sử

dụng có hiệu quả hơn: một công việc bảo trì khẩn cấp phí bảo trì có thể giảm 15%

Chi phí bảo trì thường bằng khoảng 8% công lao động của một phòng bảo trì và cũng bằng 8% tổng chi phí bảo trì Chi phí tổng cộng cho một chương trình bảo trì phòng ngừa bằng khoảng 4% tổng giá trị của thiết bị Thông thường chi phí triển khai một chương trình bảo trì phòng ngừa tốt bằng khoảng 10% tổng chi phí tiết kiệm được nhờ chương trình này

Trang 27

Chương trình bảo trì phòng ngừa có hiệu quả là kết quả của những nỗ lực được tổ chức tốt và thực hiện chu đáo Nói tóm lại người ta sẽ hăng hái đầu tư cho chương trình bảo trì phòng ngừa nếu nhận được những lợi ích do chương trình này mang lại

2.7.3 Kiểm tra trong bảo trì phòng ngừa

Hoạt động quan trọng nhất của chương trình bảo trì phòng ngừa là kiểm tra thiết bị Nhờ đó người ta có những thông tin cần thiết về tình trạng máy móc, thiết bị và lập kế hoạch cho các công việc phục hồi, sửa chữa cần thiết

Chương trình bảo trì phòng ngừa nên định hướng vào việc phát hiện nhằm ngăn ngừa ngay từ đầu những vấn đề của máy móc, thiết bị trước khi bị hư hỏng hoặc ngừng hoạt động Càng phát triển sớm những vấn đề nảy sinh càng có cơ hội tốt để lập kế hoạch tập hợp vật tư, phụ tùng, phối hợp với bộ phận sản xuất để ngừng máy có kế hoạch, dự toán và bố trí nhân sự

2.7.4 Thực hiện bảo trì phòng ngừa

Có hai nhóm công việc chính để khởi động một chương trình bảo trì phòng ngừa: tổ chức và vận hành

Các bước tổ chức để khởi động một chương trình bảo trì phòng ngừa bao gồm:

Liệt kê tất cả các thiết bị cần kiểm tra: thiết bị cần kiểm tra nên được liệt kê trong

phạm vi một kế hoạch chung

Hoạch định đường đi để kiểm tra các thiết bị di động: nằm trong bảng kế hoạch

chung

Xây dựng định mức cho việc kiểm tra: Xác định cần bao nhiêu thời gian để hoàn

thành việc kiểm tra các thiết bị

Xây dựng các khoảng thời gian đinh kỳ: Xác định thời gian giữa hai lần kiểm tra Xác đinh nhu cầu nhân lực: Nhu cầu nhân lực hàng năm được tính theo số giờ công

mỗi việc, số lần lập lại cần làm việc này mỗi năm

Các bước vận hành để vận hành một chương trình bảo trì phòng ngừa bảo gồm:

Chuẩn bị và ban hành điều độ công việc bảo trì phòng ngừa:

Xác định nhu cầu

nhân lực

Xây dựng các khoảng thời gian định

kỳ giữa 2 lần kiểm tra Xây dựng định mức thời

gian cho việc kiểm tra

Liệt kê các thiết bị

cần kiểm tra Hoạch định đường đi để kiểm tra các thiết bị cố định Hoạch định đường đi để kiểm tra các thiết bị di động

Trang 28

Xây dựng bảng điều độ tổng thể bảo trì phòng ngừa Khi một công việc được điều độ, nhân viên bảo trì dùng một danh sách kiểm tra được chuẩn bị trước để thực hiện một công việc này

Thực hiện công việc: Công việc được thực hiện theo kế hoạch kết quả Kết quả sẽ

được so sánh với phiếu yêu cầu để xác định xem có việc gì chưa được thực hiện hay không

Giám sát các lần sửa chữa trong chương trình bảo trì phòng ngừa: thời gian thực

hiện trong thực tế phòng ngừa thể hiện tính hiệu quả Số công việc có kế hoạch nên tăng lên và số lần bảo trì khẩn cấp nên giảm xuống

Giám sát thời gian thực hiện so với thời gian kế hoạch: Thường xuyên theo dõi và

điều khiển kịp thời các khoảng thời gian định kỳ kiểm tra máy móc thiết bị theo tình hình thực tế

Kiểm soát các phương pháp kiểm tra: Xác định xem việc kiểm tra được thực hiện ra

sao Các thiết bị mất nhiều thời gian đi lại hay không?

Thêm hoặc bớt một số mục kiểm tra: Các thông tin trong những danh sách kiểm tra

cần được cập nhật, thêm bớt để ngày càng hoàn thiện hơn

Cân đối nhu cầu nhân lực: Điều chỉnh thường xuyên nhu cầu nhân lực để đảm bảo

yêu cầu công tác bảo trì phòng ngừa

2.7.5 Kỹ thuật giám sát tình trạng:

Giám sát tình trạng là một quá trình xác định tình trạng của máy móc đang lúc hoạt động hay đang lúc ngừng hoạt động Nếu một vấn đề nào đó được phát hiện thì thiết bị giám sát tình trạng sẽ cung cấp cho ta thông tin để xác đinh xem đó là vấn đề gì và quan trọng hơn, cái gì đã gây ra vấn đề đó Nhờ vậy chúng ta có thể lập trình sửa chữa có hiệu quả từng vấn đề cụ thể trước khi máy bị hư hỏng

Điều chỉnh khoảng thời gian định kỳ theo thực tế

Thực hiện công việc theo

kế hoạch

Báo cáo kết quả:so sánh kết quả với yêu cầu

Giám sát các lần sửa chữa: số lần sửa chữa phát sinh thể hiện tính hiệu quả của chương trình

Chuẩn bị và ban hành

điều độ: danh mục

kiểm tra, bảng biểu

Giám sát thời gian thực tế

so với thời gian kế hoạch

Kiểm soát các phương pháp kiểm tra

Thêm hoặc bớt số mục kiểm tra

Cân đối

nhu cầu

nhân lực

Điều chỉnh khoảng thời gian đinh kỳ theo thực tế

Trang 29

Ngày nay, giám sát tình trạng không chỉ giúp nhân viên nhà máy giảm tối đa khả năng hư hỏng của máy và cho phép họ đặt hàng trước các bộ phận thay thế, điều độ nhân lực, giảm chi phí tồn kho, lập kế hoạch sửa chữa trong suốt thời gian ngừng máy theo lịch trinh, đồng thời cải thiện tình trạng hoạt động của máy đạt mức tối ưu thường vượt trội hơn so với các đặc điểm kỹ thuật của thiết bị ban đầu

Một trong những cách tốt nhất để

đạt được điều này là áp dụng chiến

lược bảo trì trên cơ sở tình trạng máy

Chiến lược này là một phương pháp tốt

nhất để tiến hành bảo trì phòng ngừa

nhờ luôn xác định tình trạng thực của

máy móc Chức năng chủ yếu của

chiến lược này là cung cấp thông tin về

tình trạng máy móc và tốc độ thay đổi

tình trạng này để thực hiện công việc

phục hồi có kế hoạch nhằm tránh tổn

thất, phế phẩm, vận hành máy đúng kỹ

thuật, không an toàn và dễ gây tai nạn

Một nghiên cứu gần đây của chính phủ Anh đã cho thấy rằng nền công nghiệp tiết kiệm khoảng 1,3 tỷ đô la mỗi năm nhờ áp dụng chiến lược bảo trì tình trạng máy Ngưòi

ta xác định rằng cứ tăng 5% khả năng sẵn sàng của máy thì có thể tăng 30% năng suất Hải quân Canađa đã báo cáo rằng toàn bộ chi phí bảo trì của toàn bộ 20 chiếc tầu khu trục đã giảm được 45% (trung bình mỗi tàu đã tiết kiệm được 10.000 đô la mỗi năm) nhờ

áp dụng bảo trì giám sát tình trạng Một nghiên cứu khác của Anh trên một tàu chở dầu cho thấy kết quả trong vòng 12 tháng kể từ khi bắt đầu áp dụng chương trình giám sát tình trạng đã giảm 37% chi phí trong công tác bảo trì Trong ngành công nghiệp hoả đầu

ở đây, chi phí bảo trì cũng giảm xuống 9 – 10 đô la/ HP/ năm nhờ thay đổi chiến lược bảo trì từ hoạt động cho tới khi hư hỏng sang bảo trì tình trạng

Chi phí bảo trì trực tiểp trong các ngành công nghiệp khác nhau trung bình là 4% của các tài sản cố đinh, thay đổi từ 2,6% đối với ngành công nghiệp dầu mỏ đến 8,6% đối với ngành công nghiệp luyện thép Nếu công thêm ước lượng khoảng 4% chi phí tổn thất sản xuất do ngừng máy, thì tổng cộng 8% gía tri tài sản cố định bị mất đi mỗi năm Vì vậy một điều chắc chắn rằng một chiến lược bảo trì tối ưu được áp dụng trong công nghiệp sẽ có thể tiết kiệm được khoảng tiền rất lớn

Hình 2.3 Giám sát tiếng ồn ổ trục

Trang 30

Chiến lược bảo trì tối ưu là phải tiếp cận đến chiến lược bảo trì trên cơ sở tình trạng máy, ở đó công việc giám sát tình trạng được dùng để xác định tình trạng của máy móc

và nhờ vậy ngừng máy để sửa chữa trước khi hư hỏng xảy ra

Khi các hư hỏng xảy ra sẽ làm thay đổi tình trạng vật lý của thiết bị Vì vậy cần phải thu thập và phân tích các thông số kỹ thuật của máy móc, thiết bị để có thể dự đoán các

hư hỏng của các bộ phận trước khi chúng xảy ra Những thông số này được gọi là các thông số dự đoán và hình thành trên cơ sở bảo trì dự đoán, cũng còn được gọi là bảo trì

phòng ngừa dự đoán (preventive maintenance ), hoặc bảo trì tình trạng (proactive

maintenance) hay thường hơn là bảo trì trên cơ sở tình trạng Những thông số này cung

cấp thông tin về tình trạng của máy móc để dự đoán được các hư hỏng ở giai đoạn đầu và

từ đó có thể lập kế hoạch bảo trì đúng đắn Điều này giúp cho việc giảm tối thiểu tốn thất

về năng suất, giảm chi phí đầu tư, chi phí bảo trì trực tiếp và cho phép các chức năng của bảo trì được tiến hành một cách hiệu quả Tuy nhiên, để đạt kết quả tốt nhất thì ta phải lựa chọn thích hợp các phương pháp giám sát tổn thất cho các máy đã chọn là những vấn

đề hàng đầu cần quan tâm

Hiện nay người ta có thể chọn máy đêt giám sát tình trạng theo một số tiêu chí sau đây:

1- Chọn máy theo tổn thất năng suất

Quy mô của quá trình sản xuất của nhà máy hay phân xưởng lớn hay nhỏ cũng cần lập một lưu đồ về quá trình sản xuất để cho biết cách thức của các máy khác nhau đựơc liên kết với nhau trong quá trình chuyển đổi sản phẩm Các máy gây nên tổn thất cao thường là các loại máy:

- Đang hoạt động liên tục

- Liên quan với một quá trình sản xuất

- Có thiết bị lắp đặt song song hay dự phòng nhỏ nhất

- Có năng lực dự trữ sản phẩm chung gian tối ưu

- Có chức năng vận chuyển sản phẩm mang tính quyết định tới năng suất

2- Chọn máy trên cơ sở thiệt hại gây ra do hư hỏng

Cần phải áp dụng kỹ thuật giám sát tình trạng đối với những máy khi hư hỏng gây ra tổn thất sản lượng đáng kể, hay rất đắt tiền hoặc khó thay thế, những máy móc có độ hư hỏng trực tiếp cao thường:

- Hoạt động ở áp suất, nhiệt độ hoặc hiệu điện thế cao

- Điều khiển các lưu chất truyền lực nguy hiểm

- Có những bộ phận có quán tính và tốc độ cao

3- Chọn máy trên cơ sở an toàn

Ngoài những yếu tố kinh tế, những máy nào có liên quan đến an toàn cũng cần được giám sát Mất an toàn có thể phát sinh do:

Trang 31

- Máy phát nổ

- Các vật liệu nguy hiểm văng ra do hư hỏng

- Máy dùng cho vận chuyển sản phẩm bị sự cố

- Ngoài yếu tố thứ 3, máy nào có rủi ro đặc biệt về an toàn thường cùng loại với các máy có chi phí trực tiếp cao về tổn thất do hư hỏng

4- Nên chọn những bộ phận nào để giám sát trong các máy đã được chọn

Nếu không có kinh nghiệm về các dạng hư hỏng của một máy và nếu các máy này ảnh hưởng nghiêm trọng đến quá trình sản xuất thì phải giám sát tình trạng của tất cả các

bộ phận chủ yếu đang chuyển động và thậm chí một hay hai bộ phận đang đứng yên, trong một vài trương hợp, các bộ phận giám sát thường có hiệu quả nhất thường là:

- Có tính quan trọng về độ tin cậy của máy móc

- Có chế độ làm việc cao

- Có thời gian bảo trì dài

- Những máy có tuổi thọ thấp hơn tất cả các máy còn lại

2.7.6 Tổng quan về tất cả các phương pháp giám sát

Mục tiêu của giám sát tình trạng là nhận biết tình trạng của máy sao cho có thể được bảo trì đúng lúc và hợp lý Nhận biết tình trạng của máy có thể ở hai cấp:

- Nhận biết có tồn tại một vấn đề

- Xác đinh vấn đề đó là gì

Những kỹ thuật giám sát tình trạng đơn giản nhất là giám sát tình trạng chủ quan của thiết bị bằng các giác quạ như sau:

Nhìn: Dùng để giám sát lỗ thủng, khe hở, khói, thay đổi mầu sắc

Ngửi: Nhận biết các tình trạng quá nhiệt hoặc rò rỉ

Nghe: Giám sát tiếng ồn không bình thường

Sờ: Giám sát rung động, nhiệt độ không bình thường

Tổng hợp các giác quan: Được dùng để dự đoán hiệu suất máy móc Một cải thiện

lớn lao trong việc xác định sự tồn tại của một vấn đề nào đó trong máy móc, thiết bị nhờ

sử dụng những dụng cụ chỉ thị số đơn giản Những dụng cụ này đã loại được các sai lầm

về ý kiến cá nhân và có thể so sánh với các dữ liệu khi các máy hoạt động ở trạng thái bình thường do các nhà sản xuất máy đưa ra và cũng có thể so sánh với các chỉ số trước đây của cùng một dụng cụ đo Các dụng cụ đơn giản này phù hợp cho hầu hết các máy móc, thiết bị và có thể cho ta những chỉ số để nhận biết tình trạng cũng như một vấn đề nào đó đang tồn tại trong máy móc, thiết bị, ví dụ: áp kế, nhiệt kế, ampe kế, tốc kế hay các đèn hoặc chuông báo động được đặt ở một chế độ nhất định cũng có thể cho ta nhận biết một vấn đề đang tồn tại

Trang 32

thiết bị Các ví dụ điển hình về những dụng cụ đặc biệt mà có thể nhận biết được những

hư hỏng bên trong máy móc, thiết bị đựơc đinh nghĩa là:

- Các máy đo vị trí đường ống

- Các dụng cụ đo rung động gắn vào vỏ máy

- Các máy gắn vảo bình dầu của máy để dò các hạt tróc ra từ bề mặt chi tiết do mòn

- Máy phổ để giám sát các thiết bị không tiếp xúc được

- Các máy ghi tốc độ để cho ta một bản đồ nhiệt

Mặc dù có rất nhiều kỹ thuật và dụng cụ được sử dụng nhưng thực sự chỉ có 4 phương pháp của giám sát cơ bản đó là:

- Giám sát bằng mắt

Các bộ phận máy móc được kiểm tra bằng mắt để xác định tình trạng của chúng

- Giám sát hiệu năng

Tình trạng của một chi tiết hoặc một máy có thể được đánh giá bằng cách đo lường hiệu năng thực hiện công việc đã định

2.7.7 Lựa chọn các phương pháp giám sát

Kiểm tra các máy móc có sự cố, chúng do một hoặc nhiều bộ phận hư hỏng nghiêm trọng gây nên Do đó phải tìm ra các bộ phận sắp hư hỏng mà chúng có thể gây nên ngừng máy là rất cần thiết Kết quả là cần phải có các phương pháp, thiết bị đáng tin cậy của giám sát tình trạng để tìm ra nguyên nhân hư hỏng của các thiết bị để:

- Có thời gian dài nhận biết các thiết bị sắp hư hỏng

- Hiệu chỉnh có hiệu quả biến thiên giữa các số đọc liên tục

- Giảm tối thiểu bất kỳ yếu tố bên ngoài nào có thể gây nhiễu vào trong các hoạt động của phương pháp giám sát

Lựa chọn phương pháp thích hợp để giám sát tình trạng của máy móc cần phải xét đến những bộ phận nào dễ hư hỏng hơn cả và hư hỏng đó là gì Phương pháp khả thi về giám sát hư hỏng của các bộ phận đựơc chọn một phương pháp duy nhất mà có thể tìm ra mọi hư hỏng tương tự nhau trong máy với một hiệu suất có thể chấp nhận được

Trang 33

2.7.8 Các khuynh hướng trong giám sát tình trạng

Ngoài những phương pháp giám sát tình trạng như đã biết, ngày nay và trong tương lai giám sát tình trạng sẽ có các khuynh hướng phát triển xa hơn để đáp ứng ngày càng cao của các yêu cầu kỹ thuật Một số phương pháp có thể được biết đến như sau:

Phân tích quang phổ rung động: để chẩn đoán các hư hỏng có thật trên một máy

ngay trước khi dừng máy

Phân tích mảnh vụn do mòn: một trong những phương pháp đó là đo tỷ lệ mảnh vụn

trong thùng chứa dầu bôi trơn của động cơ

Giám sát hiệu năng: Ngày nay phương pháp này là một phương pháp giám sát tình

trạng có triển vọng lớn nhất Trong thực tế phương pháp giám sát này liên hệ đến việc khảo sát các chức năng là gì mà một bộ phận của hệ thống yêu cầu

Phát triển trí tuệ nhân tạo: Đã cung cấp các dụng cụ và tìm ra các kỹ thuật giám sát

có tính chuyên môn cao, luôn trong một tình trạng sẵn sàng để phát hiện những nguyên nhân hư hỏng trước khi chúng gây nên ngừng máy

2.7.9 Những vấn đề cần quan tâm ở các nước đang phát triển

Dủ giám sát trên cơ sở tình trạng đã được phổ biến ở các nước đang phát triển và lợi ích của kỹ thuật này cũng đã được trình bày Tuy nhiên kỹ thuật này vẫn còn có những khó khăn như:

- Sử dụng chưa đúng các dụng cụ dùng trong kỹ thuật giám sát tình trạng, công việc đào tạo người sử dụng chưa tốt, những dụng cụ này bảo trì không đúng cách

- Hầu hết các nhà sản xuất dụng cụ nước ngoài chỉ có những đại lý bán dụng cụ ở các nước này Khả năng sử dụng các dụng cụ dịch vụ kỹ thuật và các tiện ích dụng cụ còn rất kém Điều này gây khó khăn cho các nước đang phát triển trong việc bắt kịp công nghệ giám sát tình trạng

2.7.10 Những lợi ích của giám sát tình trạng

Trong sản xuất thời gian ngừng máy có thể gây thiệt hại hàng triệu đồng mỗi giờ Kình nghiệm cho thấy rằng, những nhà máy áp dụng một chương trình giám sát tình trạng thì có thể:

- Kéo dài tuổi thọ ổ trục

- Cực đại hoá năng suất của máy

- Cực tiểu hoá thời gian ngừng máy không theo lịch trình

- Kéo dài một cách an toàn khoảng thời gian đại tu

- Cải thiện thời gian sửa chữa

- Tăng tuổi thọ cho máy

Trang 34

- Tiết kiệm một lượng chi phí đáng kể chi phí bảo trì

- Giảm giá thành sản phẩm

- Tăng mức độ an toàn của nhà máy

Hình 2.4 đo và thu lại âm thanh

Trang 35

Chương 3 : ĐỘ TIN CẬY VÀ KHẢ NĂNG SẴN SÀNG

3.1 Định nghĩa độ tin cậy

Độ tin cậy là xác suất của một thiết bị hoạt động theo chức năng đạt yêu cầu trong

khoảng thời gian xác định và dưới một điều kiện hoạt động cụ thể

Độ tin cậy có thể coi như là thước đo hiệu quả hoạt động của một hoặc một hệ

thống thiết bị

3.2 Tầm quan trọng của độ tin cậy

- Năm 1985 , tai nạn công nghiệp tồi tệ nhất trong lịch sử xảy ra ở nhà máy Union

Carbide ở Bhopal , Ấn Độ gây ra hàng ngàn người thiệt mạng và di chứng cho hàng trăm

người

- Phi thuyền con thoi Chellenger nổ giữa không trung vào tháng giêng năm 1986

- Tháng tư năm 1986, tai nạn lò phản ứng hạt nhân khủng khiếp nhất trong lịch sử

xảy ra tại Chernobyl, Liên Xô Hậu quả là sự dò gỉ phóng xạ vào bầu khí quyển của

Liên Xô và nhiều nước ở Châu Âu Cuối năm 2001, chính phủ Ucraina đã quyết định

đóng cửa vĩnh viễn ba lò phản ứng còn lại

- Năm 2000 tai nạn tàu ngầm nguyên tử Kursk do một quả ngư lôi bị nổ bên trong

tàu ngay sau khi bắn

- Năm 2000 tai nạn máy bay Concorde do bánh của máy bay bị vỡ sau khi va vào

một mảnh kim loại trên đường băng , làm nổ tung bình xăng và toàn bộ máy bay

Đối với những hệ thống lớn máy bay, phi thuyền, dây chuyền sản xuất công nghiệp

, độ tin cậy đóng vai trò quan trọng Những hệ thống này được hình thành từ nhiều hệ

thống phụ và thành phần Tất cả những thành phần phải được thiết kế đảm bảo độ tin cậy

riêng nhằm đảm bảo độ tin cậy của toàn hệ thống Thế giới đã có những kinh nghiệm

tương tự như: Một điện trở trị giá 10 cent có thể làm hỏng chuyến bay của một tên lửa trị

giá 300.000 USD

Trong thực tế nhiều tổn thất về độ tin cậy không nhất thiết vì sự hư hỏng của những bộ

phận phức tạp có khi chỉ do làm sai chức năng của những bộ phận đơn giản như lắp ráp

sai linh kiện điện, thuỷ lực trong máy móc

3.3 Độ tin cậy là một đặc tính chất lượng

Tuổi thọ của mỗi sản phẩm không thể được xác định ngoại trừ bằng cách chạy

vận hành trong thời gian mong muốn hoặc đến khi hư hỏng Rõ ràng, không thể thí

nghiệm mài mòn tất cả sản phẩm để chứng minh chúng đã đạt tiêu chuẩn và đảm bảo chất

lượng Thường người ta dựa vào dữ liệu bằng cách kiểm tra những sản phẩm Độ tin cậy

của sản phẩm phải thể hiện khả năng sản phẩm hoạt động hoàn hảo trong một thời gian

xác định cụ thể

Trang 36

MTTF (Meam Time To Failures) : Thời gian hoạt động trung bình đến khi hư hỏng , nếu sản phẩm chỉ sử dụng một lần rồi bỏ

MTBF(Mean Time Between Failures): Thời gian hoạt động trung bình giữa những lần hư hỏng, nếu sản phẩm có thể sử dụng nhiều lần sau khi phục hồi

Như vậy chỉ số tin cậy là thời gian trung bình của một thiết bị hoạt động giữa các lần ngừng máybảo trì

3.4 Độ tin cậy của hệ thống

Rs = R1 R2 R3 R4 ….Ri (3.1)

trong đó : Rs - độ tin cậy của hệ thống

Ri - Độ tin cậy của thành phần thứ i

3.5 Chỉ số khả năng sẵn sàng

Chỉ số khả năng sẵn sàng là số đo hiệu quả bảo trì và có thể xem là số đo khả năng hoạt động của thiết bị mà không xảy ra vấn đề gì Chỉ số này phụ thuộc một phần vào các đặc tính của hệ thống kỹ thuật và một phần vào hiệu quả của công tác bảo trì

Chỉ số khả năng sẵn sàng thể hiện khả năng của thiết bị hoạt động đúng cách bất

chấp các hư hỏng và hạn chế xảy ra trong các nguồn lực bảo trì

Chỉ số hỗ trợ bảo trì thể hiện khả năng của một tổ chức bảo trì, trong những điều kiện nhất định, cung cấp các nguồn lực theo yêu cầu để bảo trì một thiết bị

3.7 Chỉ số khả năng bảo trì

Chỉ số khả năng bảo trì được đo bằng thời gian sửa chữa trung bình (Mean Time to Repair – MTTR) Thời gian sửa chữa trung bình chịu ảnh hưởng rất lớn bởi các bản thiết

kế thiết bị , nghĩa là nó được xác định tuỳ thuộc vào giai đoạn thiết kế

Chỉ số khả năng bảo trì thể hiện khả năng của một thiết bị, trong những điều kiện

sử dụng nhất định được duy trì hoặc phục hồi lại tình trạng mà nó thể hiện trong những điều kiện nhất định và sử dụng các trình tự và các nguồn lực nhất định

Trang 37

Để gia tăng chỉ số khả năng sẵn sàng phải có khả năng gia tăng chỉ số độ tin cậy, giảm chỉ số hỗ trợ bảo trì và trỉ số khả năng bảo trì

3.8 Thời gian ngừng máy trung bình

Thời gian ngừng máy trung bình (Mean Down Time – MDT) là tổng của chỉ số hỗ trợ bảo trì (MWT) và chỉ số khả năng bảo trì (MTTR) Trong thực tế khó xác định được thời gian chờ đợi và thời gian sửa chữa Trong trường hợp này người ta sử dụng MDT

(thời gian hoạt động

máy trung bình)

Trung bình) chữa trung bình)

Hình : 3.1 Các thành phần của chỉ số khả năng sẵn sàng

A=

dm up

up

T T

T

 hay

A=

MWT MTTR

MTBF

MTBF MDT

Tup- Tổng thời gian máy hoạt động

Tdm -Tổng thời gian máy ngừng để bảo trì

Chỉ số khả năng sẵn sàng

Chỉ số độ tin cậy Thời gian ngừng máy

Chỉ số hỗ trợ bảo trì

Chỉ số khả năng bảo trì

Trang 38

3.9 Năng suất và khả năng sẵn sàng

Nếu bộ phận bảo trì quản lý đúng phương pháp sẽ giúp năng suất trong quá trình sản xuất gia tăng nhanh chóng Sản xuất phụ thuộc phần lớn vào năng lực các thiết bị lắp đặt, tuy nhiên chúng còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như: các tổn thất do bảo trì, các tổn thất chất lượng, chạy không máy, làm ảnh hưởng đến sản xuất và năng suất Để sử dụng 100% năng lực, thiết bị phải hoạt động liên tục và không được ngừng tại bất kì thời điểm nào khi nó đã được lên kế hoạch hoạt động, nghĩa là chỉ số sẵn sàng là 100% Chỉ

số khả năng sẵn sàng càng thấp thì sản lượng càng thấp

Công tác bảo trì sẽ ảnh hưởng đến chỉ số khả năng sẵn sàng với một mức độ cao nên năng suất cũng bị ảnh hưởng trực tiếp Khi đầu tư vào bảo trì, thời gian hoàn vốn để tăng năng suất phải được tính toán Năng suất tăng làm tăng sản lượng, tăng chất lượng,

tăng vốn đầu tư, …

Khi lập kế hoạch vào công tác bảo trì thì yếu tố đầu tiên phải tính toán là tìm ra chỉ

số khả năng sẵn sàng sau khi dựa án đã thông qua Yếu tố thứ hai là phải tính toán có bao nhiêu chỉ số khả năng sẵn sàng mới sẽ ảnh hưởng đến năng suất và sản lượng

Hình 3.2 Ảnh hưởng của bảo trì đến năng suất và hiệu quả tron sản suất

Các hoạt động từ công tác bảo trì sẽ làm tăng số % của chỉ số khả năng sẵn sàng, nhờ vậy năng suất sẽ gia tăng và lợi nhuận cao hơn

Ví dụ: chỉ số khả năng sẵn sàng tăng 1% sẽ cho

750.000 USD đối với một nhà máy thép (A = 85 – 90%) 90.000 USD đối với một nhà máy giấy (A = 90 – 95%) 30.000 USD đối với một xưởng gia công kim loại (A = 80%) 50.000 USD đối vpí mộtnhà máy hoá chất (A = 85 – 90%)

NĂNG SUẤT VÀ HIỆU QUẢ SẢN XUẤT

Kết quả của hệ quả bảo trì

- Tăng khả năng sẵn sàng

- Tăng năng suất

- Giảm chi phí bảo trì

BẢO TRÌ

Trang 39

50.000 USD đối với nhà máy điện (A = 95 – 99%) Một câu hỏi thường gặp là: “Trong nhà máy chúng ta chỉ số khả năng sẵn sàng là bao nhiêu ?”

Câu hỏi này dĩ nhiên không thể trả lời được do yêu cầu về khả năng sẵn sàng của mỗi doanh nghiệp khác nhau Các số liệu ở bảng 3.1 thể hiện mỗi quan hệ giữ chỉ số khả năng sẵn sàng, thời gian không sẵn sàng và khả năng không sẵn sàng mỗi năm, tháng

ngày

Các con số được tính toán cho việc sản xuất 24 giờ một ngày Nếu sử dụng các

thời gian sản xuất khác phải nhân các con số trong bảng với chỉ số sử dụng:

3.10.1 Các công thức

- A: Chỉ số khả năng sẵn sàng

- MTBF: (Thời gian trung bình giữa các lầ hư hỏng) =Độ tin cậy

- MWT (Thời gian chờ đợi trung bình )= chỉ số hỗ trợ bảo trì

- MTTR (Thời gian sử chữa trung bình )= chỉ số khả năng bảo trì

Trang 40

(3.4) Trong đó: Tup - Tổng thời gian máy hoạt động(time up for production)

Tdm - Tổng thời gian ngừng máy để bảo trì

MTBF=

a

T up

(giờ/lần hư hỏng) Trong đó a là số lần ngừng máy để bảo trì

Trong thực tế khó thấy sự khác nhau giữa thời gian chờ và thời gian sửa chữa Trong trường hợp đó thì sử dụng thời gian ngừng máy, thời gian sửa chữa Trong trường hợp đó thì sử dụng thời gian ngừng máy, có nghĩa là thời gian ngừng máy = thời gian chờ + thời gian sửa chữa

dm3 up3

dm2 up2

dm1 up1

T= thời gian sản xuất

T T

T T

T T

T T

Ngày đăng: 24/10/2017, 13:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w