Giải pháp tăng cường thuế xuất nhập khẩu xăng dầu ở Việt Nam.
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Trong xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế thì hoạt động xuất nhập khẩu ngày càng giữ vai trò quan trọng đối với nền kinh tế của mỗi quốc gia Việt Nam đang bước qua hai thập kỷ của công cuộc đổi mới chính sách và cơ chế kinh tế, trong đó hội nhập kinh tế với khu vực và quốc tế đã trở thành một yêu cầu tất yếu, một trong những nguồn lực để thưc hiện công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước Hội nhập kinh tế đang được coi là trào lưu mới thúc đẩy quan hệ kinh tế đối ngoại của các nước đang phát triển tiếp cận với thị trường tiềm năng về tiền của, về công nghệ của các nước tiến nhằm đảm bảo mục tiêu cùng đạt tới lợi ích tối đa cho mỗi quốc gia, phù hợp với quyền lợi và nghĩa vụ của mình Tham gia hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay không chỉ diễn ra ở Việt Nam, châu Á mà còn ở khắp các châu lục và bao gồm cả các nước kém phát triển Tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam được bắt đầu từ hội nhập kinh tế với các tổ chức khu vực đến tổ chức toàn cầu Nước ta đã trở thành viên chính thức của ASEAN, của Diễn đàn Châu á – Thái Bình Dương (APEC) và bắt đầu gia nhập tổ chức thương mại quốc tế (WTO) Mục tiêu của các tổ chức kinh tế là nhằm xây dựng một nền kinh tế đạt hiệu quả tối ưu về đầu tư, thương mại để tận dụng tối đa lợi thế so sánh của từng nước thành viên Cơ hội có thể thu được khi tham gia hội nhập kinh
tế quốc tế là rất lớn Song những thách thức trên con đường hội nhập sẽ không đơn giản
Thuế luôn là một vấn đề quan trọng trong các hoạt động của WTO và có ảnh hưởng trực tiếp đến việc đàm phán của các quốc gia trong quá trình hội nhập cũng như khi đã trở thành viên chính thức của tổ chức này Trước tình hình mới khi Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng hơn vào nền kinh tế thế giới đã đặt ra yêu cầu phải thực hiện cải cách chính sách thuế Một trong
Trang 2những vấn đề rất quan tâm của chính phủ là cải cách thuế xuất nhập khẩu, vì thuế xuất nhập khẩu là loại thuế chịu tác động mạnh nhất trong quá trình hội nhập Chính sách thuế quan tốt sẽ tạo điều kiện cho hoạt động thương mại và đầu tư phát triển, góp phần bảo hộ có hiệu quả, nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế cũng như giảm thiểu các tác động bất lợi đối với nền kinh tế trước sự biến động của thị trường thế giới.
Để nhìn nhận rõ hơn về chính sách thuế xuất nhập khẩu tại Việt Nam trong thời kì gia nhập WTO, tôi đã chọn xăng dầu là mặt hàng để tìm hiểu về thuế xuất nhập khẩu từ đó tìm ra những bất ổn và các giải pháp để giải quyết những bất ổn đó
Đề án gồm 3 chương
Chương 1: những lý luận cơ bản về thuế xuất nhập khẩu xăng dầu
Chương 2 : thực trạng thực hiện thuế xuất nhập khẩu xăng dầu ở Việt Nam
Chương 3 : đề xuất phương hướng và giải pháp tăng cường thuế xất nhập khẩu xăng dầu ở Việt Nam
Tôi xin trân trọng cảm ơn PGS.TS.Nguyễn Văn Tuấn đã tạo điều kiên thuân lợi và đóng góp những ý kiến quý báu giúp tôi hoàn thành đề án này
Trang 3CHƯƠNG 1- NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THUẾ XUẤT NHẬP
KHẨU XĂNG DẦU.
1.1.Quan niệm về thuế xuất nhập khẩu.
1.1.1.Khái niệm thuế xuất nhập khẩu.
Thuế xuất khẩu thuế nhập khẩu hàng hóa thường được gọi chung là thuế quan, là loại thuế mà các nước dung để đánh vào hàng hóa xuất nhập khẩu tại cửa khẩu nhằm huy động nguồn thu cho ngân sách nhà nước, bảo hộ sản xuất
và can thiệp vào quá trình hoạt động buôn bán, trao đổi hàng hóa giữa các quốc gia
Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là một loại thuế gián thu, do các tổ chức, cá nhân xuất nhập khẩu hàng hóa thuộc đối tượng chịu thuế, thực hiện nghĩa vụ và quyền lợi đóng góp theo luật định của nhà nước Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là một bộ phận quan trọng trong hệ thống chính sách kinh tế tài chính, thương mại, gắn liền với cơ chế quản lý xuất nhập khẩu và chính sách đối ngoại của một quốc gia
Thuế xuất nhập khẩu hàng hóa là loại thuế gián thu, chỉ thu vào hàng hóa xuất nhập khẩu, không thu vào hàng hóa sản xuất trong nước
Thuế xuất nhập khẩu hàng hóa gắn chặt với hoạt động trao đổi thương mại quốc tế của mỗi nước trong từng thời kỳ
Thuế xuất nhập khẩu hàng hóa do cơ quan hải quan quản lý thu, cơ quan thuế các cấp không thu, nhằm gắn công tác quản lý thu thuế xuất nhập khẩu với công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa
1.1.2.Đặc trưng cơ bản của thuế xuất nhập khẩu.
Thứ nhất, thuế xuất nhập khẩu có đối tượng chịu thuế là các hàng hóa được phép vận chuyển qua biên giới Trong xã hội hiện nay, xuất hiện càng nhiều loại hàng hóa vô hình được chuyển vào hoặc ra khỏi biên giới một nước
Trang 4nhưng không phải bằng phương thức thông thường mà cơ quan hải quan có thể kiểm soát được.
Thứ hai, thuế xuất nhập khẩu không hoàn toàn là thuế trực thu hay gián thu,nghĩa là khi một nhà nhập khẩu nộp thuế nhập khẩu và tự tiêu dùng số hàng hóa nhập khẩu đó chứ không bán ra bên ngoài thì khi đó khoản thuế nhập khẩu đã nộp có tính chất là thuế trực thu vì chính người nhập khẩu là người nộp thuế đồng thời cũng là người chịu thuế Ngược lại khi nhà nhập khẩu đã nộp xong thuế nhập khẩu và bán lại hàng hóa đó cho người thì khác thì số tiền thuế nhập khẩu đã nộp có xu hướng chuyển sang cho người mua hàng chịu do đó khoản thuế nhập khẩu này có tính chất là khoản thuế gián thu bởi người nộp thuế và người chịu thuế không phải là một
Thứ ba, thuế xuất nhập khẩu có đặc trưng là bảo hộ sản xuất trong nước
và điều tiết hoạt động xuất nhập khẩu Chức năng này thể hiện sự khác biệt căn bản giữa thuế xuất nhập khẩu và các thuế nội địa khác Tuy nhiên, do súc
ép của trào lưu hội nhập kinh tế quốc tế và tự do hóa thương mại, chức năng bảo hộ thuế nền sản xuất trong nước của thuế xuất nhập khẩu có xu hướng ngày càng giảm cắt giảm dần các mức thuế suất nhằm đáp ứng nhu cầu tự do hóa thương mại quốc tế nên ranh giới phân biệt giữa thuế xuất nhập khẩu và thuế nội địa là rất mong manh thậm chí có thể bị xóa nhòa hoàn toàn khi mà
tự do hóa thương mại trở thành xu hướng tất yếu và mang tính hiện thực trên toàn thế giới
1.1.3 Mục đích thuế xuất nhập khẩu.
Thuế xuất nhập khẩu chủ yếu là để huy động nguồn thu cho ngân sách nhà nước tùy thuộc vào từng thời kỳ, từng giai đoạn lịch sử, sự phát triển thương mại quốc tế và quan điểm sử dụng mà thuế xuất nhập khẩu có vai trò khác nhau ở các quốc gia khác nhau trong việc tạo ra nguồn thu cho ngân sách nhà nước
Trang 5Thuế xuất nhập khẩu là công cụ của chính sách thương mại Thuế xuất nhập khẩu bảo hộ sản xuất trong nước khuyến khích xuất khẩu kiểm soát hoạt động thương mại quốc tế.
Thuế xuất nhập khẩu là công cụ thu hút đầu tư nước ngoài, góp phần giải quyết việc làm và thực hiện chính sách hội nhập kinh tế quốc tế của các quốc gia…
Thuế nhập khẩu làm giảm nhập khẩu bằng cách làm cho chúng trở nên đắt hơn so với các mặt hàng thay thế có trong nước và điều này làm giảm thâm hụt trong cán cân thương mại
Chống lại các hành vi bán phá giá bằng cách tăng giá hàng nhập khẩu của mặt hàng phá giá lên tới mức giá chung của thị trường
Trả đũa trước các hành vi dựng hàng rào thuế quan do quốc gia khác đánh thuế đối với hàng hóa xuất khẩu của mình nhất là trong cuộc chiến tranh thương mại
Bảo hộ cho các lĩnh vực sản xuất then chốt
Bảo vệ ngành công nghiệp non trẻ cho đến khi chúng đủ vững mạnh để
có thể cạnh tranh sòng phẳng trên thị trường quốc tế
Không khuyến khích nhập khẩu các mặt hàng có thể bị coi là hàng hóa
xa xỉ phẩm hay đi ngược lại các truyền thống văn hóa của dân tộc
1.1.4.Vai trò của thuế xuất nhập khẩu.
Giống như bất kỳ một loại thuế nào, thuế xuất nhập khẩu cũng thể hiện
ba vai trò cơ bản: một là nguồn thu cho ngân sách nhà nước, thứ hai là điều tiết nền kinh tế, ba là hướng dẫn tiêu dùng trong xã hội Tuy nhiên, xuất phát
từ đặc trưng cơ bản của thuế xuất nhập khẩu là đánh vào hàng hóa xuất nhập khẩu và sau đó dược cấu thành trong giá cả của hàng hóa xuất nhập khẩu nên loại thuế này còn có một vai trò hết sức đặc thù, đó là bảo hộ nền sản xuất trong nước và chống lại xu hướng cạnh tranh không cân sức giữa hàng hóa
Trang 6trong nước và hàng hóa ngoại nhập.
Vai trò này của thuế xuất nhập khẩu được thể hiện trên hai khía cạnh chủ yếu: Một là, đối với hàng hóa nhập khẩu do bị đánh thuế nhập khẩu nên giá cả của loại hàng hóa này trên thị trường nhập khẩu sẽ tăng lên, trong khi đó các hàng hóa sản xuất trong nước, do không chịu thuế nhập khẩu hoặc chỉ phải chịu thuế cho phần nguyên liệu hay máy móc nhập khẩu nên giá thành sản phẩm của loại hàng hóa này có xu hướng rẻ hơn và do đó có sức cạnh tranh lớn hơn đối với hàng ngoại nhập điều này cho thấy việc đánh thuế nhập khẩu thực chất là một biện pháp để bảo hộ sản xuất trong nước khi chính phủ nhận thấy những bất lợi nghiêng về phía hàng hóa được sản xuất từ các doanh nghiệp trong nước
Hai là, đối với hàng xuất khẩu do bị dánh thuế xuất khẩu nên việc tiêu thụ các hàng hóa này ở thị trường nước ngoài trở nên khó nhăn hơn so với thị trường nội địa và khi đó các hàng hóa này có xu hướng sẽ được tiêu thụ trong nước Bằng cách này, Nhà nước đã bảo hộ một cách hữu hiệu cho thị trường tiêu thụ trong nước Mặt khác, khi Nhà nước muốn khuyến khích xuất khẩu nhằm tăng khả năng cạnh tranh cho hàng hóa do nước mình sản xuất khi chúng được tiêu thụ trên thị trường nước ngoài thì thuế suất đối với hàng hóa xuất khẩu sẽ được quy định giảm đi, thậm chí là bằng không Việc nhà nước giảm thuế xuất khẩu đối với hàng hóa xuất khẩu sẽ tạo ra khả năng cạnh tranh tốt hơn cho loại hàng hoá này trên thị trường quốc tế, so với hàng hóa cùng loại của những nước khác đang lưu thông trên thị trường
1.2.Tình hình xuất nhập khẩu chung của nước ta những tháng đầu năm 2010.
1.2.1.Đánh giá chung
Theo báo cáo của Bộ Công Thương, tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam trong quý I/2010 là 32,3 tỷ USD tăng 19,8%so với cùng kỳ
Trang 7năm trước, trong đó xuất khẩu là 14,46% tỷ USD tăng 1,6%và nhập khẩu là 17,86 tỷ USD tăng 40,2% Cán cân thương mại hàng hóa thâm hụt 3,4 tỷ USD, bằng 23,5% xuất khẩu.
Tổng kim ngạch xuất khẩu nửa tháng đầu tháng 5/2010 đạt 6,26 tỷ USD, tăng 8,4% so với kỳ 2 tháng 4/2010.trong đó xuất khẩu đạt 2,89 tỷ USD tăng 6,8%và nhập khẩu 3,37 tỷ USD tăng 9,8% so với kỳ 2 tháng 4/2010.Như vậy tính từ đầu năm đến hết ngày 15/05/2010, tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam đạt 50,42 tỷ USD, tăng 7,3%so với cùng kỳ năm 2009.Cán cân thương mại hàng hóa Việt Nam trong nửa đầu tháng 5/2010 vẫn tiếp tục ở trạng thái nhập siêu với mức thâm hụt là 486 triệu USD Đến hết kỳ 1 tháng 5/2010 nhập siêu của cả nước là gần 5,1 tỷ USD bằng 22,5% tổng kim ngạch xuất khẩu
Diễn biến xuất nhập khẩu 5 tháng đầu năm 2010
1.2.2.Quy mô và tốc độ xuất nhập khẩu.
Về xuất khẩu
Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng 2 ước đạt 3,9 tỷ USD, giản 23,2%
so với tháng 2/2009 trong đó xuất khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư
Trang 8nước ngoài (không kể dầu thô) đạt 1,85 tỷ USD, tắng 16,5%; doanh nghiệp trong nước đạt 1,74 tỷ USd, giảm 42,2% Tính chung 2 tháng đạt 8,91 tỷ USD, tăng 0,1%so với cùng kỳ, trong đó xuất khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) ước đạt 4,42 tỷ USD, tăng 49,3%, doing nghiệp trong nước đạt 3,88 tỷ USD, giảm 24,3%.
Tuy nghỉ Tết Nguyên đán kéo dài nhưng kim ngạch xuất khẩu 2 tháng đầu năm có sự tăng trưởng nhẹ do giá cả nhiều mặt hàng xuất khẩu được cải thiện như than đá tăng 44,7%, dầu thô tăng 74,0% /như vậy riêng yếu tố tăng giá các mặt hàng này đã làm cho kim ngạch xuất khẩu tăng khoảng 604 triệu USD
Sự phục hồi của nền kinh tế một số nước trong khối EU chậm nên xuất khẩu tháng 2 vào một số thị trường chính giảm nhẹ 2,2% so với cung kỳ 2/2009 Tuy nhiên, với thị trường Châu Á tăng 4,6%; Hoa Kỳ tăng 23,8%; Trung Quốc tăng 26,3% Tính chung 2 tháng , xuất khẩu vào một số thị trường chính so với cùng kỳ như sau: Châu Á tăng 31,9%; EU tăng 0,5%; Hoa Kỳ tăng 25,8%; Trung Quốc tăng 54,4% Thị phần kim ngạch xuất khẩu
2 tháng của các khu vực như sau: Châu Á chiếm 48,7%; Châu Âu chiếm 19,0%; Châu Mỹ chiếm 23,5%; Châu Phi chiếm 1,3%; Châu Đại Dương chiếm 4,5%; thị trường khác chiếm 2,9%
Tháng 3/2010, tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước là 5,59 tỷ USD, tăng 49,5% so với tháng 2 Trong đó, khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là 2,58 tỷ USD, tăng 42,6% so với tháng trước, nâng tổng kim ngạch xuất khẩu của khu vực này trong quý I/2010 lên 6,82 tỷ USD và chiếm 47,4% kim ngạch xuất khẩu của cả nước
Đóng góp vào mức tăng kim ngạch của tháng 3 chủ yếu ở các mặt hàng như: dầu thô tăng 239 triệu USD, hàng dệt may tăng 214 triệu USD, gạo tăng
178 triệu USD, hàng thủy sản tăng 134 triệu USD, gỗ & sản phẩm gỗ tăng
Trang 9107 triệu USD, máy vi tính sản phẩm điện tử & linh kiện tăng 86 triệu USD, máy móc, thiết bị, dụng cụ & phụ tùng: tăng 82 triệu USD, cao su tăng 77 triệu USD…
Kỳ 1 tháng 5/2010 kim ngạch xuất khẩu đạt 2,89 tỷ USD, tăng 6.8% so với kỳ 2 tháng 4/2010, tăng 183 triệu USD Trong đó, trị giá xuất khẩu của khu vực các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là 1,12 tỷ USD, giảm 11%
Nửa đầu tháng 5/2010 chỉ có 2 nhóm hàng có trị giá xuất khẩu tăng khá
so với kỳ 2 tháng 4 là tàu thuyền các loại tăng 93 triệu USD và dầu thô tăng
41 triệu USD Trong khi đó, hầu hết các nhóm xuất khẩu chủ lực của Việt Nam lại có kim ngạch giảm so với kỳ 2 tháng 4/2010 Cụ thể, xăng dầu là mặt hàng có kim ngạch giảm nhiều nhất do lượng xuất khẩu giảm tới 60%, tương ứng giảm 90 nghìn tấn về lượng và giảm 54 triệu USD về kim ngạch Tiếp theo là các mặt hàng như: hàng thuỷ sản giảm 33,3 triệu USD, gạo giảm 32,7 triệu USD, máy móc, thiết bị, dụng cụ & phụ tùng giảm 27,6 triệu USD và hàng giày dép giảm 25,4 triệu USD
Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam tính từ đầu năm đến hết kỳ 1 tháng 5/2010 là 22,66 tỷ USD, tăng 11,4% so với cùng kỳ năm trước, tương ứng tăng 2,32 tỷ USD Trong đó, trị giá xuất khẩu của khu vực các doanh nghiệp FDI là 10,4 tỷ USD, tăng 42,7% (tăng 3,11 tỷ USD về số tuyệt đối)
Theo số liệu tính toán từ đầu năm đến hết kỳ 1 tháng 5/2010 cho thấy nhiều nhóm hàng xuất khẩu có mức tăng kim ngạch khá cao so với cùng kỳ năm trước, cụ thể: hàng dệt may tăng 483 triệu USD, gỗ & sản phẩm gỗ tăng
265 triệu USD, máy vi tính sản phẩm điện tử & linh kiện tăng 260 triệu USD, sắt thép tăng 256 triệu USD, cao su tăng 229 triệu USD, hàng thuỷ sản tăng
223 triệu USD
Trang 10Về nhập khẩu:
Kim ngạch nhập khẩu hàng hoá tháng 2 ước đạt 4,7 tỷ USD, giảm 21,1%
so với tháng 1, trong đó, kim ngạch của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 1,9 tỷ USD, giảm 20,7%, chiếm tỷ trọng 40,4% trong tổng kim ngạch nhập khẩu; doanh nghiệp 100% vốn trong nước đạt 2,8 tỷ USD, tăng 74,8%, chiếm tỷ trọng 59,6% trong tổng kim ngạch nhập khẩu Tính chung 2 tháng ước đạt 10,66 tỷ USD, tăng 39,6% so với cùng kỳ chủ yếu do nhập khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt gần 4,3 tỷ USD, tăng 51,2%
Nhóm hàng cần thiết nhập khẩu 2 tháng ước đạt 8,56 tỷ USD, tăng 35,1% so với cùng kỳ; nhóm hàng cần phải kiểm soát nhập khẩu ước đạt 0,72
tỷ USD, tăng 46,8%; nhóm hàng hạn chế nhập khẩu ước đạt 1,38 tỷ USD, tăng 70,5%
So với cùng kỳ, tình hình nhập khẩu một số mặt hàng chủ yếu 2 tháng như sau: xăng dầu giảm 19% về lượng và tăng 20% về kim ngạch; thép các loại tăng 39,8% về lượng và tăng 34,3% về kim ngạch; kim ngạch nhập khẩu máy móc thiết bị tăng 14,5%…Cũng như xuất khẩu, giá cả nhiều mặt hàng trên thị trường tăng mạnh so với cùng kỳ là một trong những nguyên nhân khiến kim ngạch nhập khẩu tăng cao: giá xăng dầu các loại tăng 48,2%; khí đốt tăng 44,8%; phôi thép tăng 18,9%; kim loại thường tăng 53,0%;… Như vậy, riêng yếu tố tăng giá của các mặt hàng này khiến kim ngạch nhập khẩu tăng 602 triệu USD
Tháng 2, tốc độ tăng trưởng kim ngạch nhập khẩu hàng hóa các thị trường chính so với cùng kỳ: Châu Á tăng 10,4%; Châu Âu tăng 1,6%; Châu
Mỹ tăng 29,7%; Châu Đại Dương tăng 11,2% Tính chung 2 tháng: Châu Á tăng 41%; Châu Âu tăng 29,3%; Châu Mỹ tăng 66,2%; Châu Đại Dương tăng 35,4%;… Thị phần kim ngạch nhập khẩu 2 tháng của một số thị trường so với
Trang 11cùng kỳ: Châu Á chiếm 78,8%; Châu Âu chiếm 10,7%; Châu Mỹ chiếm 6,0%; Châu Đại Dương chiếm 1,6%;…
Tháng 3/2010, trị giá nhập khẩu hàng hoá cả nước là 6,75 tỷ USD, tăng 33,1% so với tháng trước Trong đó, xuất khẩu của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đạt 2,86 tỷ USD, nâng tổng kim ngạch nhập khẩu của khu vực này đạt gần 7,3 tỷ USD, tăng 57,3% so với cùng kỳ năm 2009.Xét về số tuyệt đối, kim ngạch nhập khẩu tháng 3 tăng 1,68 tỷ USD so với tháng trước.Trong đó, tăng mạnh nhất là các nhóm hàng : máy móc, thiết bị, dụng
cụ & phụ tùng: tăng 318triệu USD, săt thép: tăng 99 triệu USD… Chỉ có 4 nhóm hàng có mức kim ngạch giảm trong tháng là: đá quý, kim loại quý (giảm 197 triệu USD), phân bón, nguyên phụ liệu thuốc lá và hàng rau quả.Hết quý I/2010, trị giá nhập khẩu cả nước đạt 17,9 tỷ USD, tăng 40,2% so với cùng kỳ năm trước (tương ứng với trị giá tăng thêm là 5,1 tỷ USD) Đóng góp vào mức tăng kim ngạch của quý I chủ yếu ở các mặt hàng như: xăng dầu: làm tăng 371 triệu USD, máy móc, máy tính, sản phẩm điện tử & linh kiện: 331 triệu USD, kim loại màu: 305 triệu USD, sắt thép: 290 triệu USD…
Số liệu Thống kê Hải quan cho thấy kim ngạch nhập khẩu kỳ 1 tháng 5/2010 là 3,37 tỷ USD Trong đó, kim ngạch nhập khẩu của khu vực FDI là 1,43 tỷ USD, tăng 10%, tăng 10% so với kỳ trước.Những nhóm hàng có kim ngạch nhập khẩu tăng mạnh so với kỳ 2 tháng 4/2010 là kim loại thường khác tăng 63 triệu USD, sắt thép các loại tăng 60 triệu USD, máy vi tính
Thống kê từ đầu năm đến hết kỳ 1 tháng 05/2010, kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam là 27,76 tỷ USD, tăng 32,4% so với cùng kỳ 2009, tương ứng tăng 6,78 tỷ USD về mặt số tuyệt đối Trong đó, trị giá nhập khẩu của khu vực các doanh nghiệp FDI là 11,49 tỷ USD, tăng 55% ( tăng 4,08 tỷ USD về
số tuyệt đối)
Dẫn đầu về tăng kim ngạch so với cùng kỳ năm trước là các nhóm hàng
Trang 12như: nguyên liệu, phụ liệu ngành dệt may da giày tăng 513 triệu USD, sắt thép các loại tăng 477 triệu USD, kim loại thường khác tăng 462 triệu USD, máy vi tính, sản phẩm điện tử & linh kiện tăng 455 triệu USD, xăng dầu các loại tăng 396 triệu USD
1.2.3.Xuất nhập khẩu xăng dầu.
Năm 2010, xuất khẩu trong tháng là 886 nghìn tấn, đạt trị giá 549 triệu USD Hết quý I/2010, lượng dầu thô xuất khẩu của nước ta đạt 2,24 triệu tấn, giảm 47,1%; trị giá đạt 1,35 tỷ USD, chỉ giảm 9,1% so với cùng kỳ năm trước
Trong quý I/2010, dầu thô của nước ta chủ yếu được xuất khẩu sang Ôxtrâylia với 775 nghìn tấn, giảm 15,6%; sang Singapore: 507 nghìn tấn, giảm 40,7%; sang Trung Quốc: 265 nghìn tấn, giảm 28%; sang Malaysia: 174 nghìn tấn, giảm 77,4% so với 3 tháng/2009
Trong nửa đầu tháng ,do giá dầu trên thị trường thế giới giảm nên giá trị xuất khẩu mặt hàng này giảm,lượng xuất khẩu xăng dầu có kim ngạch giảm nhiều nhất tới 60%,tương ứng giảm 90 nghìn tấn về lượng và giảm 54triệu USD về kim ngạch.Bên cạnh đó trị giá xuất khẩu dầu thô tăng 41triệu USD so với kỳ 2 tháng 4
Năm 2010,trong tháng lượng nhập khẩu xăng dầu đạt 921 nghìn tấn, giảm 2,8% so với tháng 2, trị giá là 577 triệu USD Hết quý 1, lượng nhập khẩu xăng dầu của cả nước là 2,6 triệu tấn, giảm 17% so với cùng kỳ năm
2009 So với cùng kỳ, trị giá nhập khẩu là 1,58 tỷ USD, tăng 30,8%.\
Xăng dầu các loại nhập khẩu vào Việt Nam trong ba tháng qua chủ yếu
có xuất xứ từ Singapore với 886 nghìn tấn, tiếp theo là Trung Quốc: 360 nghìn tấn, Đài Loan: 284 nghìn tấn, Hàn Quốc: 239 nghìn tấn, Malayxia: 211 nghìn tấn…
Trong nửa đầu tháng 5/2010 so với cùng kỳ năm trước thì xăng dầu các loại tăng 396 triệu USD
Trang 13CHƯƠNG 2 – THỰC TRẠNG THỰC HIỆN THUẾ XUẤT NHẬP
KHẨU XĂNG DẦU Ở VIỆT NAM.
2.1 Phân tích tình hình thuế xuất nhập khẩu xăng dầu.
2.1.1.Tình hình thuế xuất nhập khẩu xăng dầu qua các năm.
Tình hình xăng dầu thế giới bất ổn giá cả liên tục thay đổi làm biến động thị trường xăng dầu trong nước Trước tình hình đó các Bộ cũng có những giải pháp hỗ trợ giá xăng dầu trong nước, các Bộ tiến hành hỗ trợ các doanh nghiệp xuất nhập khẩu xăng dầu bằng biên pháp thay đổi thuế suất thuế xuất nhập khẩu xăng dầu
Như trong tháng 5/2007, do giá dầu thế giới liên tục tăng cao, Bộ Tài chính đã quyết định giảm thuế nhập khẩu xăng dầu từ 5% xuống 0% nhằm hỗ trợ giá xăng dầu nhập khẩu vào nước ta, đảm bảo cho tiêu dùng của người dân
Trong tháng 5/2008, theo số liệu của Tổng cục Hải quan dầu thô xuất khẩu đạt 1,06 triệu tấn, giảm 6,1% so với tháng 4 Tổng lượng dầu thô xuất khẩu của Việt Nam 5 tháng 2008 là 5,67 triệu tấn, giảm 11,8% so với cùng kỳ năm 2007 Mặc dù lượng dầu thô xuất khẩu giảm nhưng do giá bình quân tăng nên trị giá xuất khẩu dầu thô đạt 4,59 tỷ USD, tăng 47,8% so với cùng kỳ năm 2007.Theo ước tính, trong năm 2008, sản lượng dầu thô xuất khẩu vào khoảng 16 triệu tấn, tăng 6,7% so với năm ngoái Do đó nhằm hạn chế xuất khẩu các sản phẩm nguyên nhiên liệu hoá thạch, vừa qua Bộ Tài chính đã ban hành quyết định (Quyết định 35-BTC) tăng thuế xuất khẩu đối với dầu thô lên mức 20% Mức thuế này áp dụng cho các tờ khai hải quan từ ngày 16/6/2008.Đến ngày 11/9/2008, Thứ trưởng Bộ Tài Chính Đỗ Hoàng Anh Tuấn đã
ký Quyết định số 76/2008/QĐ-BTC, ban hành mức thuế suất thuế nhập khẩu
ưu đãi đối với một số mặt hàng thuộc nhóm 2710 tại biểu thuế nhập khẩu ưu
Trang 14đãi.Theo đó, hầu hết các loại xăng động cơ, xăng máy bay, dung môi và các chế phẩm khác để pha chế xăng, dầu thô, dầu bôi trơn, dầu thành phẩm… sẽ chịu mức thuế nhập khẩu 5%, thay cho mức 0% trước đó Mức thuế này bắt đầu được áp dụng cho các tờ khai hải quan hàng hoá nhập khẩu kể từ ngày 15/9/2008.
Ngày 8/11/2008, Bộ Tài chính cũng đã có Quyết định số BTC ký ngày 7/11 điều chỉnh tăng mức thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đối với một số mặt hàng thuộc nhóm 2710 tại biểu thuế nhập khẩu ưu đãi.Cụ thể, thuế nhập khẩu mặt hàng xăng tăng lên 20%, dầu hỏa lên 20%, diesel lên 15%, mazut lên 20%; tất cả cùng tăng thêm 5% so với mức thuế trước đó Mức thuế nhập khẩu mới được áp dụng cho các tờ khai hải quan hàng hoá nhập khẩu đăng ký với cơ quan hải quan từ ngày 11/11/2008
99/2008/QĐ-Ngày 10/12/2008, Bộ Tài chính quyết định tăng thuế nhập khẩu xăng dầu lên kịch trần theo khung quy định của Nhà nước là 40% thay cho mức 35% hiện hành Mức thuế suất thuế này được áp dụng cho các Tờ khai hải quan hàng hoá nhập khẩu đăng ký với cơ quan Hải quan từ ngày mai (11/12)
Cụ thể, Quyết định số 117/2008/QĐ-BTC ngày 10/12/2008 điều chỉnh mức thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đối với một số mặt hàng thuộc nhóm 2710 tại Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi như sau:
- Mặt hàng nhiên liệu động cơ tuốc bin dùng cho hàng không: 40%
Bộ CôngThương - Theo thông tư Thông tư số 15/2009/TT-BTC hướng dẫn thuế suất nhập khẩu ưu đãi đối với một số nhóm mặt hàng thuộc nhóm
2710 do Bộ Tài chính ban hành chiều ngày 22/1/2009.Thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đối với mặt hàng xăng và dầu bôi trơn sẽ được điều chỉnh giảm
Trang 15xuống còn 35%, thay cho mức 40% hiện hành, áp dụng đối với các Tờ khai hải quan hàng hoá nhập khẩu đăng ký với cơ quan Hải quan kể từ ngày 24/1/2009 Hầu hết các loại xăng động cơ có pha chì, không pha chì, loại cao cấp hoặc thông dụng, xăng máy bay, dung môi trắng, dung môi có hàm lượng chất thơm dưới 1%, dung môi khác, naptha, reformatic và các chế phẩm khác
để pha chế xăng, dầu nhẹ, nhiên liệu động cơ tuốc bin dùng cho hàng không, dầu bôi trơn khác đều được áp dụng mức thuế chung 35%, thay cho mức cũ 40% cũ
Bộ Tài chính cho rằng, việc giảm thuế nhập khẩu xăng dầu lần này được tính toán trên cơ sở giá thế giới đang giữ ở mức ổn định Hiện giá dầu cập cảng đang dao động trên ngưỡng 40 USD một thùng.Thông tư này có hiệu lực thi hành sau 45 ngày kể từ ngày ký và áp dụng đối với các Tờ khai hải quan hàng hoá nhập khẩu đăng ký với cơ quan Hải quan kể từ ngày 24 tháng 01 năm 2009 Đây được coi là động thái hỗ trợ cho các nhà nhập khẩu trong bối cảnh giá dầu thế giới đang có xu hướng nhích dần lên
Thứ Năm, 12/2/2009 Thứ trưởng Bộ Tài chính Đỗ Hoàng Anh Tuấn vừa
ký ban hành Thông tư số 30/2009/TT-BTC điều chỉnh mức thuế suất thuế nhập khẩu xăng, dầu máy bay.Theo đó, thuế suất thuế nhập khẩu mặt hàng nhiên liệu động cơ hàng không (nhiên liệu phản lực) sẽ giảm xuống mức 30%, thấp hơn 10% so với mức quy định tại Thông tư số 24/2009/TT-BTC ngày 5/2/2009 của Bộ Tài chính.Đây là mặt hàng xăng, dầu nằm trong các phân nhóm 2710.19.13.00 và 2710.19.14.00 trong biểu thuế nhập khẩu ưu đãi
Bộ Tài chính cho biết, mức thuế mới sẽ chính thức áp dụng đối với các
tờ khai hải quan hàng hoá nhập khẩu đăng ký với cơ quan Hải quan kể từ ngày 16/2/2009.Như vậy, trong vòng một tháng trở lại đây, thuế nhập khẩu các mặt hàng xăng dầu đã được điều chỉnh giảm 3 lần.Hai lần trước, Bộ Tài chính đã điều chỉnh giảm thuế suất thuế nhập khẩu đối với các mặt hàng xăng,
Trang 16dầu thông thường từ mức 40% xuống 35% và từ 35% xuồng còn 25%.
Sang đến ngày 19/02/2009, Bộ Tài chính vừa quyết định giảm 5% thuế nhập khẩu xăng dầu Động thái này góp phần làm "dịu" đi việc đòi tăng giá của các doanh nghiệp Như vậy, thuế nhập khẩu các sản phẩm xăng dầu phổ biến đã giảm xuống còn 20% thay cho mức 25% Mức thuế mới được áp dụng
từ ngày 23/2/2009 Đây là lần thứ tư, thuế nhập khẩu xăng dầu được điều chỉnh giảm và là lần thứ ba đối với các loại xăng dầu thông dụng
Trước đó, Cục Quản lý giá (Bộ Tài chính) đã yêu cầu các DN giữ nguyên giá bán lẻ xăng dầu hiện thời tuy Cục này cũng khẳng định với mức giá bán hiện nay, các DN đang lỗ.Cũng với quyết định giảm thuế nhập khẩu, hiện các DN cũng đã được phép không phải trích 1.000 đồng mỗi lít xăng để trả nợ tiền ngân sách đã ứng trước Giá dầu thế giới hiện vẫn ở mức 37 USD/thùng nhưng giá xăng dầu thành phẩm nhập về đang ở mức khá cao, khoảng trên 60USD/thùng
Bộ Tài chính cho biết từ ngày 21/9/2009 Doanh nghiệp nhập xăng dầu sẽ được hưởng mức thuế nhập khẩu ưu đãi mới.Theo đó mức thuế suất thuế nhập khẩu xăng dầu, gồm cả nhiên liệu xăng dầu cho máy bay sẽ đồng loạt hưởng mức thuế suất là 20% Đây là biện pháp giảm bớt sức ép đối với doanh nghiệp xăng dầu trong khi giá xăng dầu thành phẩm hiện nay vẫn đang khá cao Các doanh nghiệp xăng dầu sẽ bớt được áp lực khi giá xăng dầu trên thế giới chưa
có xu hướng giảm
Ngày 26/01/2010,Theo quy định mới, mức thuế nhập khẩu ưu đãi mặt hàng xăng dầu sẽ được thay đổi tương ứng theo giá dầu thô trên thị trường Singapore Bộ Tài chính vừa có công văn số 837/BTC - CST gửi Cục Hải quan các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các doanh nghiệp đầu mối kinh doanh xăng dầu, công bố các mức thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi mặt hàng xăng, dầu tương ứng với giá mặt hàng xăng, dầu trên thị trường thế giới
Trang 17Bộ Tài chính cho biết, quy định mới này được ban hành nhằm tăng tính chủ động trong công tác quản lý, điều hành chính sách thuế đối với mặt hàng xăng, dầu.
Các mức thuế suất nhập khẩu ưu đãi nêu trên là một trong những căn cứ,
cơ sở để Bộ Tài chính xem xét, ban hành các Thông tư hướng dẫn về mức thuế suất thuế nhập khẩu cụ thể đối với mặt hàng xăng dầu phù hợp với tình hình thực tế.Đồng thời là một trong những căn cứ để các doanh nghiệp đầu mối kinh doanh xăng dầu chủ động xây dựng kế hoạch, phương án kinh doanh
Giá Platt's dầu thô
WTI (USD/thùng)
Thuế suất xăng, dầu hỏa, nhiên liệu bay (%)
Diesel, Madut (%)
Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư số 13/2010/TT-BTC hướng dẫn việc thực hiện mức thuế suất đối với một số mặt hàng thuộc nhóm 2710 tại Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi Theo đó, kể từ ngày 1/2/2010, Bộ Tài chính sẽ giảm thuế nhập khẩu cho một số mặt hàng xăng dầu N hiên liệu diesel dùng cho động cơ tốc độ cao, các loại diesel và nhiên liệu đốt sẽ được điều chỉnh
Trang 18giảm 5% xuống còn 15% Còn riêng đối với kerosene cũng được điều chỉnh giảm 10%, từ mức 30% xuống còn 20%
Việc giảm thuế suất một số mặt hàng xăng dầu nhập khẩu của Bộ Tài Chính là nhằm hỗ trợ cho các doanh nghiệp trước bối cảnh giá dầu thế giới đang có xu hướng ngày một tăng cao.Đây được coi là một trong những công
cụ mới về thuế mà Bộ Tài chính vừa công bố nhằm giúp các doanh nghiệp đầu mối kinh doanh xăng dầu chủ động xây dựng kế hoạch, phương án kinh doanh
Theo thông tư số 59/2010/TT-BTC do thứ trưởng Đỗ Hoàng Anh Tuấn
ký ban hành, thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đối với một số mặt hàng xăng, dầu thuộc nhóm 2710 quy định tại Danh mục mức thuế suất của Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi được điều chỉnh giảm.Theo đó, thuế nhập khẩu xăng giảm 3%, từ mức 20% xuống còn 17% Cùng với xăng, thuế nhập khẩu các mặt hàng dầu hỏa, diezel có mức thuế suất mới là 10% thay vì 15% như trước.Các mức thuế mới được áp dụng đối với các Tờ khai hải quan hàng hoá nhập khẩu đăng ký với cơ quan Hải quan kể từ ngày 21/4/2010
2.1.2.Danh mục thuế nhập khẩu ưu đãi đối với một số mặt hàng xăng dầu năm 2010.
Theo thông tư số 59/2010/TT-BTC của Bộ Tài Chính hướng dẫn thực hiện mức thuế nhập khẩu ưu đãi đối với một số mặ hàng thuộc nhóm 2710 tại Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi
Tại điều 1 của thông tư số 59/2010/TT-BTC của Bộ Tài Chính quy định: Điều chỉnh mức thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đối với một số mặt hàng xăng, dầu thuộc nhóm 2710 quy định tại Danh mục mức thuế suất của Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi theo Danh mục mặt hàng chịu thuế ban hành kèm theo Thông tư số 13/2010/TT-BTC ngày 26/1/2010 của Bộ Tài chính thành mức thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi mới quy định tại Danh mục ban hành kèm
Trang 19theo Thông tư này
DANH MỤC THUẾ SUẤT THUẾ NHẬP KHẨU ƯU ĐÃI ĐỐI VỚI MỘT
SỐ MẶT HÀNG THUỘC NHÓM 2710(Ban hành kèm theo Thông tư số 59/2010/TT-BTC ngày 19/04/2010
của Bộ Tài chính) -
(%)27.1
có nguồn gốc từ dầu mỏ hoặc các loại dầu thu được từ các khoáng bi tum này là thành phần
cơ bản của các chế phẩm đó, trừ dầu thải:
2710 11 - - Dầu nhẹ và các chế phẩm:
- - - Xăng động cơ:
2710 11 11 00 - - - - Có pha chì, loại cao cấp 17
2710 11 12 00 - - - - Không pha chì, loại cao cấp 17
2710 11 13 00 - - - - Có pha chì, loại thông dụng 17
Trang 20Mã hàng Mô tả hàng hoá Thuế suất
(%)
2710 11 15 00 - - - - Loại khác, có pha chì 17
2710 11 16 00 - - - - Loại khác, không pha chì 17
2710 11 40 00 - - - Dung môi trắng (white spirit) 17
2710 11 50 00 - - - Dung môi có hàm lượng cấu tử thơm thấp
2710 19 13 00 - - - - Nhiên liệu động cơ tuốc bin dùng cho
hàng không (nhiên liệu phản lực) có độ chớp cháy từ 23oC trở lên
17
2710 19 14 00 - - - - Nhiên liệu động cơ tuốc bin dùng cho
hàng không (nhiên liệu phản lực) có độ chớp cháy dưới 23oC
17
2710 19 20 00 - - - - Dầu thô đã tách phần nhẹ 5
2710 19 30 00 - - - - Nguyên liệu để sản xuất than đen 5
- - - Dầu và mỡ bôi trơn:
2710 19 41 00 - - - - Dầu khoáng sản xuất dầu bôi trơn 5
2710 19 42 00 - - - - Dầu bôi trơn cho động cơ máy bay 5
2710 19 43 00 - - - - Dầu bôi trơn khác 10
2710 19 50 00 - - - Dầu dùng trong bộ hãm thuỷ lực (dầu 3
Trang 21Mã hàng Mô tả hàng hoá Thuế suất
(%)phanh)
2710 19 60 00 - - - Dầu biến thế và dầu dùng cho bộ phận
ngắt mạch
5
- - - Dầu nhiên liệu:
2710 19 71 00 - - - - Nhiên liệu diesel dùng cho động cơ tốc
2710 91 00 00 - - Chứa biphenyl đã polyclo hóa (PCBs),
terphenyl đã polyclo hóa (PCTs) hoặc biphenyl đã polybrom hóa (PBBs)
Nghị định số 55/2007/NĐ-CP 06/04/2007 về việc Kinh doanh xăng dầuQuyết định 30/2004/QĐ-BTC ngày 06/04/2004 của BTC
Nghị định 154/2005/NĐ-CP ngày 15/12/2005 của Chính phủ
Trang 22Thông tư 113/2005/TT-BTC ngày 15/12/2005 của Bộ tài chính.
Thông tư 112/2005/TT-BTC ngày 15/12/2005 của Bộ tài chính
Quyết định số 1951/QĐ-TCHQ ngày 19/12/2005 của TCHQ
Điều 29, 30 Luật Hải quan
Quyết định 187/2003/QĐ-TTg ngày 15/09/2003 của Thủ tướng CP
Quyết định 117/2000/QĐ-BKHCNMT ngày 26/01/2000 của Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường
Điều kiện kinh doanh nhập khẩu xăng dầu
Doanh nghiệp được kinh doanh nhập khẩu xăng, dầu phải có Giấy phép kinh doanh do Bộ Thương mại cấp và phải đáp ứng được các điều kiện qui định tại Điều 5 Quyết định 187/2003/QĐ-TTg ngày 15/09/2003 của Thủ tướng Chính phủ về quy chê quản lý kinh doanh xăng dầu
Doanh nghiệp được kinh doanh tạm nhập - tái xuất xăng, dầu phải có Giấy phép kinh doanh do Bộ Thương mại cấp
Thủ tục hải quan đối với nhập khẩu, tạm nhập xăng, dầu:
• Hồ sơ hải quan gồm có:
Chứng từ phải nộp: Tờ khai hải quan: 02 bản chính; Hợp đồng mua bán:
01 bản sao; Vận tải đơn: 01 bản sao; Hóa đơn thương mại: 01 bản chính; Nộp lần đầu làm thủ tục các giấy tờ sau: Giấy phép kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu xăng, dầu do Bộ Công Thương cấp: 01 bản sao; Bản hạn mức nhập khẩu xăng, dầu tối thiểu hàng năm do Bộ Công Thương cấp: 01 bản sao; Chứng thư giám định khối lượng: 01 bản chính; Giấy thông báo kết quả hoặc Giấy đăng
ký kiểm tra về chất lượng xăng, dầu nhập khẩu (đối với loại xăng, dầu thuộc danh mục kiểm tra về chất lượng): 01 bản chính
Các chứng từ là bản sao do Giám đốc hoặc người được uỷ quyền ký xác nhận, chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính hợp pháp của chứng từ
Chứng từ xuất trình (bản chính) khi Hải quan yêu cầu: Giấy phép kinh