1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

SKKN gọi tên thay thế một số hợp chất hữu cơ trên nền tảng danh pháp của ankan

22 523 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 200,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lí do chọn đề tài: Trong nội dung kiến thức hóa học hữu cơ thuộc chương trình phổ thông, khihọc một loại hợp chất nào đó thì hầu như đều có phần đồng phân và danh pháp.Đây là nội dung cơ

Trang 1

MỤC LỤC

I.1 Danh pháp ankan, gốc hidrocacbon no, quy ước trong danh pháp

IUPAC:

6

II.1 Danh pháp ankan, gốc hidrocacbon no, quy ước trong danh pháp

Trang 2

II.2.5 Axit ankanoic (axit cacboxylic no, đơn chức, mạch hở) 12

Ý KIẾN CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC SỞ GD&ĐT BÌNH THUẬN 22

Trang 3

PHẦN 1: MỞ ĐẦU

I Lí do chọn đề tài:

Trong nội dung kiến thức hóa học hữu cơ thuộc chương trình phổ thông, khihọc một loại hợp chất nào đó thì hầu như đều có phần đồng phân và danh pháp.Đây là nội dung cơ bản và rất quan trọng bắt buộc học sinh phải nắm bắt Trongcác bài tập luyện tập, các đề kiểm tra, đề thi hầu như các chất được cho dạng têngọi nên học sinh phải xác định công thức cấu tạo thì mới giải quyết được Có thểnói đồng phân và danh pháp hợp chất hữu cơ là 2 phần không thể tách rời trongdạy và học Viết đồng phân có hệ thống đã khó nhưng vừa viết được đồng phân,vừa gọi được tên thay thế của chúng còn khó hơn

Theo khảo sát của chúng tôi với học sinh khối 11 về những vấn đề khó khănkhi học hóa học hữu cơ thì hơn 70% học sinh cho rằng học tên của các hợp chấthữu cơ là một trong những vấn đề khó mà các em gặp phải Có thể nói đây là vấn

đề chung cho các đối tượng học sinh THPT chứ không riêng gì ở trường THPTLương Thế Vinh vì chính chúng tôi khi còn là học sinh cũng nhận thấy những khókhăn này Phần lớn học sinh học danh pháp theo từng loại hợp chất riêng lẽ chứkhông theo một hệ thống nào, điều này khiến các em không ghi nhớ được lâu khikiến thức ngày một nhiều Khi quên các em không có cơ sở để xây dựng lại cách

gọi tên cho hợp chất đó Hơn 10 năm giảng dạy, chúng tôi nghiệm ra rằng danh pháp thay thế của một số hidrocacbon và hợp chất hữu cơ no, đơn chức, mạch

hở có thể dạy cho học sinh dựa theo danh pháp của ankan Điều này chúng tôi

đã thực hiện vài năm trở lại đây nhưng cũng chưa đại trà Nhưng với những kếtquả đạt được, trong năm học 2016 – 2017 chúng tôi quyết định xây dựng chuyên

đề về vấn đề này Vì không có điều kiện nên chuyên đề chỉ thực hiện được ở 2 lớp

11 và kết quả rất đáng mừng: học sinh được học cho rằng chuyên đề rất bổ ích, đãgiúp các em rất nhiều trong việc học danh pháp của một số hợp chất hữu cơ, các

Trang 4

em học có hệ thống và nhớ lâu hơn Qua kết quả kiểm tra sau khi các em học xongchuyên đề, chúng tôi nhận thấy rằng cần đưa vào phân phối chương trình giảng dạychuyên đề này trong những năm học sau Vì vậy chúng tôi mạnh dạng trình bàykinh nghiệm của mình về việc giảng dạy phần danh pháp một số hợp chất hữu cơ

với đề tài “Gọi tên thay thế một số hợp chất hữu cơ trên nền tảng danh pháp của ankan”

Trong năm học 2013-2014 thầy Bùi Ngọc Lành trình bày kinh nghiệm giảngdạy về việc giúp học sinh viết các đồng phân hợp chất hữu cơ một cách có hệ

thống với đề tài “Viết đồng phân một số hợp chất hữu cơ no, đơn chức, mạch hở thông qua vị trí đối xứng trên mạch cacbon của Ankan”- đề tài đã nhận được sự

đồng thuận và ủng hộ của Hội đồng Khoa học Ngành và đồng nghiệp Nay chúngtôi trình bày thêm phần kinh nghiệm của mình về dạy học danh pháp một số

hidrocacbon và hợp chất hữu cơ với hy vọng có thể giúp được cho các em học sinh

học đồng phân, danh pháp hiệu quả và nhớ lâu hơn Đồng thời giúp được chonhững đồng nghiệp còn ít kinh nghiệm trong giảng dạy và hy vọng sẽ nhận đượcnhiều đóng góp, chia sẽ của quý thầy cô giáo có nhiều kinh nghiệm trong dạy họchóa học để chúng tôi hoàn thiện hơn

II Mục đích của đề tài

 Giúp học sinh gọi tên thay thế một số hidrocacbon và hợp chất hữu cơ no,đơn chức, mạch hở một cách có hệ thống, tăng cường khả năng ghi nhớ của họcsinh Qua đó góp phần nâng cao chất lượng dạy học ở phần hóa học hữu cơ

 Chia sẽ kinh nghiệm dạy học phần đồng phân đến các đồng nghiệp cùng bộmôn

III Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.

III 1 Đối tượng nguyên cứu:

Trang 5

 Học sinh lớp 11, 12 (đặc biệt học sinh khối 11).

 Chương trình hóa học hữu cơ trong hóa học phổ thông

III.2 Phạm vi nghiên cứu:

 Danh pháp ankan

 Danh pháp một số hidrocacbon và hợp chất hữu cơ no, đơn chức, mạch hởtrong chương trình hóa học phổ thông

IV Phương pháp nguyên cứu.

 Tích lũy kinh nghiệm khi giảng dạy phần danh pháp thay thế các hợp chấthữu cơ thông qua danh pháp của ankan

 Thực nghiệm trên các lớp học 11A1 và 11A3

 Kiểm tra, phân tích kết quả đạt được của học sinh

Trang 6

PHẦN 2: NỘI DUNG

I Cơ sở khoa học của đề tài

I.1 Danh pháp ankan, gốc hidrocacbon no, quy ước trong danh pháp IUPAC: Học sinh cần nắm chắc danh pháp ankan, gốc hidrocacbon no, quy ước

trong danh pháp IUPAC

I.2 Đặc điểm cấu tạo một số hidrocacbon và hợp chất hữu cơ no, đơn chức, mạch hở.

Giáo viên cần yêu cầu học sinh nắm chắc đặc điểm cấu tạo một số hợp chấthữu cơ và tên của dãy đồng đẳng

 anken có 1 liên kết đôi C = C;

 ankin có 1 liên kết ba C C ;

 ancol có nhóm – OH; ancol no, đơn chức, mạch hở: ankanol;

 anđehit có nhóm – CHO; anđehit no, đơn chức, mạch hở: ankanal;

 axit cacboxylic có nhóm – COOH; axit cacboxylic no, đơn chức, mạch hở:axit ankanoic

II Nội dung cụ thể.

II.1 Danh pháp ankan, gốc hidrocacbon no, quy ước trong danh pháp IUPAC

II.1.1 Một số quy ước khi gọi tên các hợp chất hữu cơ theo IUPAC:

 Giữa số và số cách nhau dấu phẩy (,)

Trang 7

 Giữa số và chữ cách nhau dấu gạch nối (-).

 Giữa chữ và chữ viết liền nhau

 Nếu có nhiều nhánh giống nhau thì dùng tiếp đầu ngữ + tên nhánh đó(bao nhiêu nhánh sẽ có bấy nhiêu chỉ số)

+ Hai nhánh giống nhau: ĐI+ Ba nhánh giống nhau: TRI+ Bốn nhánh giống nhau: TETRA…

 Nếu có nhiều nhánh khác nhau thì thứ tự gọi tên của nhánh phải ưu

tiên theo thứ tự bảng chử cái (a, b, c )

II.1.2 Danh pháp 10 ankan không phân nhánh đầu tiên trong dãy đồng đẳng: u tiên trong dãy đồng đẳng: ng đẳng: ng:

CTPT CH4 C2H6 C3H8 C4H10 C5H12 C6H14 C7H16 C8H18 C9H20 C10H22

Tên metan etan propan butan pentan hexan heptan octan nonan decan

II.1.3 Danh pháp một số gốc hidrocacbon no (gốc ankyl) thường gặp:

CH 3 -: metyl

CH 3 -CH 2 -: etyl

CH 3 -CH 2 -CH 2 -: propyl

II.1.4 Cách gọi tên ankan có nhánh theo IUPAC:

 Chọn mạch cacbon chính là mạch dài nhất và nhiều nhánh nhất

 Đánh số thứ tự C trên mạch chính sao cho số chỉ vị trí nhánh nhỏ nhất(nhiều nhánh thì tổng số chỉ C mang nhánh nhỏ nhất)

Trang 8

 Gọi tên ankan = Số chỉ vị trí nhánh-tên nhánh + tên ankan mạch chính(ankan không phân nhánh có số C tương ứng)

II.2 Đặc điểm cấu tạo một số hidrocacbon và hợp chất hữu cơ no, đơn chức, mạch hở và điểm ưu tiên khi gọi tên:

Khi dạy cho học sinh nội dung này, giáo viên phải phân tích kĩ đặc điểm cấu tạotừng loại hợp chất Từ đó, giáo viên hướng dẫn học sinh quy định ưu tiên gì khichọn mạch C chính, đánh số C mạch chính, gọi tên hợp chất đó

 ankan chỉ có liên kết đơn; Khi gọi tên ưu tiên nhánh

 anken có 1 liên kết đôi C = C; Khi gọi tên ưu tiên liên kết đôi

 ankin có 1 liên kết ba C C ; Khi gọi tên ưu tiên liên kết ba

 ancol có nhóm – OH; ancol no, đơn chức, mạch hở: ankanol; khi gọi tên ưutiên nhóm – OH

 anđehit có nhóm – CHO; anđehit no, đơn chức, mạch hở: ankanal; khi gọitên C trong nhóm – CHO luôn vị trí 1 nên ưu tiên nhánh

 axit cacboxylic có nhóm – COOH; axit cacboxylic no, đơn chức, mạch hở:axit ankanoic; Khi gọi tên C trong nhóm – COOH luôn vị trí 1 nên ưu tiênnhánh

II.2.1 Anken:

Khi dạy danh pháp anken, cái chính yêu cầu giáo viên phải hướng dẫn học

sinh biết được đặc điểm cấu tạo nhận ra anken So sánh được tên anken khác

ankan ở vần “en” và vần “an”.

Khi chọn mạch C chính, cần phải ưu tiên có liên kết đôi

Trang 9

Khi đánh số C mạch chính, cần ưu tiên số chỉ C mang nối đôi nhỏ nhất (nếunhiều cách đánh số như nhau thì mới ưu tiên nhánh như ankan).

Khi gọi tên, cần phải thể hiện vị trí liên kết đôi

Để thấy rõ điều đó, chúng ta có thể xét ví dụ sau để đối chiếu:

ưu tiên chỉ số C mang nối đôi nhỏ nhất

Tên: 4 – metylpent – 2 – en.

Giáo viên có thể nêu nhiều ví dụ khác nhưng các ví dụ phải có mạch Ctương ứng nhau để so sánh đối chiếu

Sau khi phân tích kĩ ví dụ, ta nhận thấy rằng tên anken chỉ khác tên ankannhững điểm sau:

 Mạch C chính phải có liên kết đôi

 Số thứ tự C mạch chính phải ưu tiên liên kết đôi trước nhánh

 Khác tên ankan ở đuôi “en” và đuôi “an” Phải có vị trí liên kết đôi trước

“en”

II.2.2 Ankin:

Khi dạy danh pháp ankin, cái chính yêu cầu giáo viên phải hướng dẫn học

sinh biết được đặc điểm cấu tạo nhận ra ankin So sánh được tên ankin khác ankan

ở vần “in” và vần “an”.

Khi chọn mạch C chính, cần phải ưu tiên có liên kết ba

Trang 10

Khi đánh số C mạch chính, cần ưu tiên số chỉ C mang nối ba nhỏ nhất (nếunhiều cách đánh số như nhau thì mới ưu tiên nhánh như ankan).

Khi gọi tên, cần phải thể hiện vị trí liên kết ba

Để thấy rõ điều đó, chúng ta có thể xét ví dụ sau để đối chiếu:

ưu tiên chỉ số C mang nối ba nhỏ nhất

Tên: 4 – metylpent – 2 – in.

Giáo viên có thể nêu nhiều ví dụ khác nhưng các ví dụ phải có mạch Ctương ứng nhau để so sánh đối chiếu

Sau khi phân tích kĩ ví dụ, ta nhận thấy rằng tên ankin chỉ khác tên ankannhững điểm sau:

 Mạch C chính phải có liên kết ba

 Số thứ tự C mạch chính phải ưu tiên liên kết ba trước nhánh

 Khác tên ankan ở đuôi “in” và đuôi “an” Phải có vị trí liên kết ba trước

“in”

II.2.3 Ankanol (ancol no, đơn chức, mạch hở)

Khi dạy danh pháp ankanol, cái chính yêu cầu giáo viên phải hướng dẫnhọc sinh biết được đặc điểm cấu tạo nhận ra ankanol là có nhóm – OH So sánh

được tên ankanol với tên ankan Thực chất tên ankanol là tên ankan tương ứng có

thêm vị trí – OH – OL

Trang 11

Khi chọn mạch C chính, cần phải ưu tiên có nhóm – OH.

Khi đánh số C mạch chính, cần ưu tiên số chỉ C mang nhóm – OH nhỏ nhất(nếu nhiều cách đánh số như nhau thì mới ưu tiên nhánh như ankan)

Khi gọi tên, cần phải thể hiện vị trí nhóm – OH

Để thấy rõ điều đó, chúng ta có thể xét ví dụ sau để đối chiếu:

Tên: 2 – metylpentan – 3 – ol.

Giáo viên có thể nêu nhiều ví dụ khác nhưng các ví dụ phải có mạch Ctương ứng nhau để so sánh đối chiếu

Sau khi phân tích kĩ ví dụ, ta nhận thấy rằng tên ankanol chỉ khác tên ankannhững điểm sau:

 Mạch C chính phải có nhóm – OH

 Số thứ tự C mạch chính phải ưu tiên nhóm – OH trước, ưu tiên nhánh sau

 Tên ankanol là tên ankan tương ứng thêm vị trí – OH – OL

II.2.4 Ankanal (anđehit no, đơn chức, mạch hở)

Khi dạy danh pháp ankanal, cái chính yêu cầu giáo viên phải hướng dẫnhọc sinh biết được đặc điểm cấu tạo nhận ra ankanal là có nhóm – CHO So sánh

được tên ankanal với tên ankan Thực chất tên ankanal là tên ankan tương ứng

thêm vần “al”

Trang 12

 Mạch C chính phải có nhóm – CHO.

 Khi đánh số C mạch chính, C trong nhóm – CHO luôn vị trí 1

 Để thấy rõ điều đó, chúng ta có thể xét ví dụ sau để đối chiếu:

 Tên ankanal là tên ankan tương ứng thêm “al”

II.2.5 Axit ankanoic (axit cacboxylic no, đơn chức, mạch hở)

Khi dạy danh pháp axit ankanoic, cái chính yêu cầu giáo viên phải hướngdẫn học sinh biết được đặc điểm cấu tạo nhận ra axit ankanoic là có nhóm –COOH So sánh được tên axit ankanoic với tên ankan Thực chất tên axit ankanoic

là tên ankan tương ứng thêm vần “oic” (luôn có từ axit trước)

Mạch C chính phải có nhóm – COOH

Khi đánh số C mạch chính, C trong nhóm – COOH luôn vị trí 1

Để thấy rõ điều đó, chúng ta có thể xét ví dụ sau để đối chiếu:

Trang 13

Tên: axit 4 – metylpentanoic.

Giáo viên có thể nêu nhiều ví dụ khác nhưng các ví dụ phải có mạch Ctương ứng nhau để so sánh đối chiếu

Sau khi phân tích kĩ ví dụ, ta nhận thấy rằng tên axit ankanoic chỉ khác tênankan những điểm sau:

 Mạch C chính phải có nhóm – COOH

 Số thứ tự C mạch chính phải từ C nhóm – COOH

 Tên axit ankanoic là tên ankan tương ứng thêm “oic” (luôn có từ axittrước)

Trang 14

PHẦN 3: KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM CỦA ĐỀ TÀI

Sau khi học sinh học xong ankan, nhóm Hóa thực hiện chuyên đề “danh pháp

thay thế một số hợp chất hữu cơ dựa vào danh pháp thay thế của ankan” ở

lớp 11A1 và 11A3 Học xong chuyên đề, học sinh làm bài kiểm tra 20 phút với nộidung 15 câu trắc nghiệm như sau:

Câu 1: Tên chất có CTCT sau: CH3 - CH2 - CH2 - CH2 - CH2 – OH là

Câu 2: Ứng với CTCT CH3 – CH(CH3) – CH(OH) – CH3 có tên là

A 2 – metylbutan – 3 – ol B 3 – metylbutan – 2 – ol

C 3 – metylbut – 2 – ol D 2 – metylbut – 3 – ol

Câu 3: X có CTCT sau: CH3[CH2]3CHO Tên của X là

Câu 5: Tên của chất có CTCT CH3-CH(CH3)-CH2-COOH là

A axit 2metylbutanoic B axit 3metylbutanoic.

C axit 2metylpropanoic D axit 3metylbutylic.

Trang 15

Câu 6: Tên phù hợp với chất có CTCT CH3-CH2-CH(OH)-CH(CH3)-CH3 là

Trang 16

Câu 15: Tên gọi chất có CTCT: HOOC-CH2-CH2-COOH là

C axit butan1,4đioic D axit butanđioic.

Trang 17

Kết quả thu được:

THỐNG KÊ KẾT QUẢ BÀI KIỂM TRA

LỚP 11A1, 11A3 TỔNG SỐ BÀI KIỂM TRA: 11A1 35 bài, 11A3 29 bài

SỐ BÀI ĐÚNG TRÊN MỖI CÂU:

Trang 18

 Ở các bài điểm thấp: không thấy học sinh ghi lại cách đánh số vào bài làm.

 Câu 7: chỉ yếu học sinh chọn sai mạch chính, một số quên sử dụng “đi” trước 2 nhánh giống nhau

 Câu 10: chủ yếu học sinh chọn sai mạch chính, 1 số ít học sinh chọn đại đáp án

 Câu 13: đa số học sinh chọn mạch chính là mạch ngang mà không dựa theo mạchchứa nhiều C

=> Chủ yếu học sinh sai do chưa biết cách chọn mạch chính, hầu hết đều nhìn vào công thức cho sẵn và lựa chọn mạch nằm ngang là mạch chính; một số ít chưa nắm được kiến thức nên đánh ngẫu nhiên.

Chúng tôi thực hiện đề tài này sau khi học sinh học bài anken nên không thể khảo sát toàn khối

PHẦN 4: KHẢ NĂNG PHÁT TRIỂN CỦA ĐỀ TÀI

Trang 19

Có thể kết hợp chuyên đề đồng phân và danh pháp chung khi dạy hóa họchữu cơ cho học sinh 11 Nếu làm tốt việc này thì học sinh có thể nhớ lâu và vậndụng được cho một số hợp chất trong chương trình hóa học 12.

Đa số học sinh học đề tài này đều cho biết là đề tài rất hữu ích với các em

Đề tài đã giúp các em khắc phục được một phần khó khăn trong chương trình Các

em cho rằng học được tính chất, viết được các phương trình hóa học của các chấtcũng là vấn đề khó Hy vọng thầy cô giáo có nhiều kinh nghiệm có thể chia sẽthêm về vấn đề này để chúng tôi học hỏi

Thông qua kết quả kiểm tra sau khi học sinh học xong chuyên đề về danhpháp một số chất theo danh pháp ankan chúng tôi nhận thấy học sinh sai tên gọichủ yếu là không khai triển công thức, dẫn đến chọn mạch chính sai Vì vậy khidạy danh pháp các chất hữu cơ, giáo viên hết sức lưu ý cho học sinh cách triển khaicông thức để chọn mạch chính cho phù hợp

Trong đề tài này, chúng tôi chỉ trình bày kinh nghiệm nhỏ của mình tích lũyđược trong quá trình giảng dạy Hy vọng rằng đề tài sẽ góp được một phần kinhnghiệm nào đó vào chương trình dạy học hóa học ở trường THPT Rất mong sựgóp ý chân thành từ phía thầy cô giáo cùng bộ môn và các thầy cô trong Hội đồngKhoa học nhà trường và Hội đồng Khoa học ngành giáo dục tỉnh Bình Thuận

Chúng tôi xin chân thành cảm ơn!

Trang 20

Hàm Thuận Nam, tháng 03 năm 2017

Người thực hiện đề tài

1 Bùi Ngọc Lành:……….

2 Nguyễn Văn Sơn:………

3 Huỳnh Thị Ngọc Hằng:…

Trang 21

Ý KIẾN CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC TRƯỜNG 21

Xếp Loại: ………

T.M HỘI ĐỒNG KHOA HỌC

Trang 22

Ý KIẾN CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC SỞ GD&ĐT BÌNH THUẬN 22

Xếp Loại: ………

T.M HỘI ĐỒNG KHOA HỌC

Ngày đăng: 24/10/2017, 13:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w