1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bài giảng tính toán kinh tế và quản lý điện năng

103 241 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 1,68 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Năng lượng có thể đo bằng: kcal, cal, Btu… Thể tích hoặc khối lượng có thể đo bằng kg, m3 hệ một Bảng, feet khối feet3 đơn vị đo hệ Anh Nhiệt trị của nhiên liệu được tính bằng nhiệt lư

Trang 1

0

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT HƯNG YÊN

BÀI GIẢNG DÙNG CHUNG

TÍNH TOÁN KINH TẾ VÀ QUẢN LÝ

ĐIỆN NĂNG

HƯNG YÊN – 2016

Trang 2

1

MỤC LỤC

MỤC LỤC 0

CHƯƠNG 1: CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ KINH TẾ NĂNG LƯỢNG VÀ ĐIỆN NĂNG 3

1.1 Định nghĩa năng lượng 3

1.2 Quá trình biến đổi về năng lượng, điện năng 3

1.3 Hàm năng lượng 4

1.4 Đơn vị đo và chuyển đổi năng lượng 5

1.5 Phân loại năng lượng 8

1.5.1 Phân loại theo dạng vật chất 8

1.5.2 Phân loại theo dòng biến đổi năng lượng 8

1.5.3 Phân loại theo công nghệ 9

1.5.4 Năng lượng tái sinh 9

1.5.5 Theo tính thương mại 9

CHƯƠNG 2: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ ĐIỆN LỰC VIỆT NAM 10

2.1 Tổng quan về Tập đoàn Điện lực Việt Nam 10

2.2 Cơ cấu tổ chức của ngành điện Việt Nam 11

2.3 Hiện trạng về sản xuất và tiêu thụ điện năng 13

2.3.1 Hiện trạng về nhu cầu và cung ứng điện năng 13

2.3.2 Hiện trạng về Tình hình sản xuất điện 16

2.4 Quá trình phát triển của EVN (tự tìm tài liệu) 27

2.5 Định hướng phát triển của EVN (Tự tìm tài liệu) 27

CHƯƠNG 3: LÝ THUYẾT CƠ BẢN VỀ CHI PHÍ 28

3.1 Các khái niệm về chi phí 28

3.2 Phân loại chi phí hoạt động của doanh nghiệp 28

3.2.1 Phân loại theo yếu tố chi phí 28

3.2.2 Phân loại theo khoản mục chi phí 29

3.2.3 Các cách phân loại khác về chi phí 29

3.3 Giá thành sản phẩm và dịch vụ 31

3.3.1 Khái niệm về giá thành 31

3.3.2 Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm 31

3.3.3 Phân loại giá thành sản phẩm 32

3.4 Các cách tiếp cận trong định giá bán sản phẩm 34

3.4.1 Các cách định giá theo chi phí 34

3.4.2 Cách tiếp cận giá theo thi trường 36

CHƯƠNG 4: GIÁ THÀNH VÀ GIÁ BÁN ĐIỆN NĂNG 42

4.1 ĐẶC ĐIỂM CỦA CÁC HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH ĐIỆN NĂNG 42

4.1.1 Sản xuất kinh doanh điện mang tính hệ thống 43

4.1.2 Đặc điểm của lượng cung và cầu điện năng 43

4.2 CÁC VẤN ĐỀ VỀ CHI PHÍ SẢN XUẤT CỦA HỆ THỐNG ĐIỆN 49

4.2.2 Chi phí lưới điện 51

4.2.3 Chí phí, giá thành hạch toán hệ thống điện 51

4.3 CÁC NGUYÊN TẮC, PHƯƠNG PHÁP ĐỊNH GIÁ VÀ CÁC LOẠI BIỂU GIÁ BÁN ĐIỆN 52

4.3.1 Các nguyên tắc định giá bán điện 52

4.3.2 Các phương pháp định giá điện 53

4.3.3 Các loại biểu giá bán điện 58

4.4 CÁC VẤN ĐỀ VỀ CHÍNH SÁCH GIÁ ĐIỆN VIỆT NAM 70

4.4.1 Phương pháp xây dựng khung biểu giá và cơ chế chính sách giá điện hiện hành ở Việt Nam 70

4.4.2 Ưu nhược điểm của hệ thống giá bán điện hiện hành 73

CHƯƠNG 5: PHÂN TÍCH KINH TẾ – TÀI CHÍNH DỰ ÁN CÔNG TRÌNH ĐIỆN 78

5.1 Những vấn đề cơ bản đầu tư ngành điện 78

5.1.1 Khái niệm về đầu tư 78

Trang 3

2

5.1.2 Phân loại và các giai đoạn đầu tư 79

5.1.3 Các loại nghiên cứu dự án đầu tư 80

5.1.4 Dự án đầu tư ngành điện 80

5.2.Giá trị tương đương của dòng tiền dự án 82

5.2.1 Định nghĩa dòng tiền 82

5.2.2 Lãi và lãi suất 83

5.2.3 Một số ký hiệu 84

5.2.4 Dòng tiền đều 84

5.2.5 Dòng tiền phân bố không đều 88

5.3 Các phương pháp đánh giá dự án đầu tư 93

5.3.1 Đánh giá dự án đầu tư theo chi phí quy đổi hàng năm 93

5.3.2 Đánh giá dự án đầu tư theo các tiêu chuẩn NPV, B/C, IRR, Thv 93

CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP CHƯƠNG 96

TÀI LIỆU THAM KHẢO 102

Trang 4

- Năng lượng biểu thị khả năng sinh công

- Năng lượng là một đại lượng có khả năng cung cấp công trực tiếp

- Năng lượng được định nghĩa là năng lực để sinh công hay sinh nhiệt Năng lượng

có thể xem như là “công dự trữ”

- Năng lượng là một phạm trù vật chất mà ứng với một quá trình nào đó có thể sinh công Quá trình ở đây là một quá trình biến đổi năng lượng một cách tự nhiên hay nhân tạo

Trong định nghĩa về năng lượng cần nhấn mạnh không chỉ bản chất vật chất của nó mà còn nắm rõ về tính hệ thống quá trình biến đổi và sử dụng năng lượng

1.2 Quá trình biến đổi về năng lượng, điện năng

Quá trình tự nhiên là quá trình diễn ra theo quy luật tự nhiên không chịu tác động của con người Ảnh hưởng của quá trình biến đổi năng lượng tự nhiên không phải lúc nào cũng đối với xã hội loài người Phong năng có thể là nguồn gió mát nhưng cũng có thể là nguồn gốc của những cơn bão lớn

Quá trình nhân tạo: là quá trình diễn ra dưới tác động trực tiếp hoặc gián tiếp của con người, theo ý muốn của con người Năng lượng tự nhiên tồn tại một cách tự nhiên trong thiên nhiên dưới nhiều dạng khác nhau như:

Năng lượng hóa thạch: Than, dầu, khí

Chuyển động như: sóng, gió, thủy triều, thác nước

Nhiệt: năng lượng địa nhiệt

Bức xạ (năng lượng mặt trời), năng lượng do mặt trời cung cấp cho trái đất hàng năm gấp hàng chục triệu lần năng lượng sử dụng trên trái đất

Sinh học và các vật chất khác(củi, rơm, các phụ phẩm của nông nghiệp…)

Con người tìm cách khai thác, chế biến và sử dụng các dạng năng lượng để phục vụ cho nhu cầu sản xuất và sinh hoạt hàng ngày Từ những khai thác đầu tiên (thiên nhiên) đến khâu sử dụng cuối cùng, năng lượng phải trải qua nhiều quá trình biến đổi nối tiếp nhau mà trong đó về mặt vật lý năng lượng được biến đổi từ dạng này sang dạng khác Năng lượng có thể biểu hiện ra nhiều dạng khác nhau như nhiệt, quang, động năng, hóa năng Năng lượng có thể biến đổi dạng này sang dạng khác mà tổng năng lượng không thay đổi

Quá trình biến đổi năng lượng được biểu diễn bằng sơ đồ sau:

Trang 5

4

Khai thác (sản xuất) biến đổi → vận chuyển, dự trữ, phân phối → Tiêu thụ

Năng lượng sơ cấp, năng lượng thứ cấp năng lượng cuối cùng → năng lượng hữ ích Trong thực tế quá trình biến đổi có thể bỏ qua một số khâu trung gian không nhất thiết phải trải qua tất cả các khâu theo đúng trình tự nêu trên Ví dụ: một Quá trình biến đổi

năng lượng từ than ra phong năng như sau: Than → Nhiệt năng (lũ hơi) → cơ năng (chạy tuabin) → điện năng (chạy máy phát điện) → phong năng (điện năng làm qua quạt)

Trong thực tế, người ta có thể dùng hai phương pháp mô tả hệ thống năng lượng: Dựa vào sự mô tả vật chất trên cơ sở nguyên lý của nhiệt động học: năng lượng là một dạng đặc biệt của vật chất, nó không tự sinh ra và không tự mất đi

Dựa trên cơ sở các yếu tố về kinh tế và kỹ thuật của Quá trình biến đổi năng lượng: Ngành than, dầu khí, điện lực…

Do mối ngành đều có sự khác biệt về công nghệ, vốn, thị trường….nên điều tất yếu chi phí cho mối đơn vị năng lượng được sản xuất ở mỗi ngành có sự khác biệt Nói cách khác giá thành một đơn vị năng lượng ở mỗi dạng năng lượng là hoàn toàn khác nhau

Sự chuyển dịch của dòng năng lượng của mỗi quốc gia rất phức tạp, nó thay đổi theo không gian và thời gian, phụ thuộc vào khí hậu, kinh tế, điều kiện địa lý… của mối quốc gia Các Quá trình biến đổi năng lượng được biểu diễn trên hình 1.1

1.3 Hàm năng lượng

Hàm năng lượng (thường được tính cho năng lượng thương mại) là đại lượng biểu diễn lượng năng lượng trong một đơn vị thể tích hoặc trên một đơn vị khối lượng

Năng lượng có thể đo bằng: kcal, cal, Btu…

Thể tích hoặc khối lượng có thể đo bằng kg, m3 (hệ một)

Bảng, feet khối (feet3) (đơn vị đo hệ Anh)

(Nhiệt trị của nhiên liệu được tính bằng nhiệt lượng trong một đơn vị thể tích hoặc một đơn vị khối lượng)

Bảng 1.1 Đơn vị của nhiệt trị

Năng lượng

Hóa năng

Hình 1.1 : Sơ đồ các quá trình biến đổi năng lượng

Trang 6

Thông thường sự chênh lệch giữa hai giá trị này dao động trong khoảng từ 2 – 3% đến

10 % (xem bảng 1.2) Sự khác biệt giữa GCV và NCV là đo hàm lượng hydro của năng lượng thương phẩm cao hay thấp Nhiên liệu khí có hàm lượng phân tử hydrocao trong cấu tạo phân tử nên giá trị dao động tới 10%

GCV

NCV GCV

 (1.1) Bảng 1.2: Sự khác biệt tính theo % giữa nhiệt trị toàn bộ và nhiệt trị hữu ích

Các nguồn Cục quản lý năng lượng Liên

Hàm lượng năng lượng của các sản phẩm năng lượng thương mại có giá trị khác nhau theo cách đánh giá của tổ chức năng lượng, các quốc gia

1.4 Đơn vị đo và chuyển đổi năng lượng

Các đơn vị đo thường gồm hai nhóm chính sau:

- Đơn vị tường minh: Biểu diễn các đơn vị vật lý theo các hệ đo chuẩn của riêng từng nước

- Đơn vị không tường minh: Thông thường do có lý do thuận tiện trong nghiên cứu thương mại nên người ta có thể sử dụng các quy ước, quy đổi cho phù hợp với mục riêng

Bảng 1.3: Các đơn vị đo lường năng lượng Đơn vị khoa học hoặc “ tường minh” Đơn vị thương mại hoặc “ không tường minh”

Đơn vị nhiệt Anh (Btu) Tấn than tham chiếu CRT, tấn than tương đương

(TCE)

Trang 7

6

Các đơn vị thương mại thuộc loại không tường minh vì các thương phẩm mà những đơn vị này làm cơ sở đều không đồng dạng về hàm lượng năng lượng Than đá có hàm lượng năng lượng thay đổi tùy theo loại than, từng nước, từng năm khác nhau, các sản phẩm dầu mỏ cũng có sự khác biệt tương tự tùy theo từng loại sản phẩm nhưng mức độ vừa phải khi đo theo trọng lượng, ở mức độ đáng kể khi đo theo thể tích hay dung lượng Các đương lượng dầu tính theo tấn hệ mét là đơn vị được sử dụng rộng rãi nhất, trong khi các đương lượng dầu tính theo barel hay theo lít chỉ được dùng ở một số quốc gia mà thôi Các đương lượng dầu được xác định là một tấn đương lượng dầu thô, nhưng các biến đổi của nó được sử dụng như một tấn đương lượng dầu nhiên liệu Chỉ có Ấn Độ và Trung Quốc sử dụng đơn vị thay thế than, một số nước khác sử dụng đơn vị tường minh Btu, Jun

Các cơ quan quốc tế dùng cả đơn vị tường minh và đơn vị không tường minh Liên hợp quốc trước kia quy đổi tất cả các thương phẩm năng lượng theo tấn than tương đương TCE sau đó sử dụng tấn dầu tương đương toe và terajune TJ Tuy nhiên tấn than tương đương TCE đang mất dần tính phổ biến bởi vai trò giảm dần của than đá trong các vùng, mặc dù vẫn được liên hợp quốc và Trung Quốc sử dụng

Bảng 1.4: Các đơn vị thường được sử dụng tại một số nước

Malaixia J, Tấn dầu tương đương (thùng dầu tương đương mỗi ngày)

Thỏi Lan Tấn đương lượng dầu (kcal, barel đương lượng dầu thô, lít

đương lượng dầu thô)

(Các đơn vị trong dấu ngoặc đó được sử dụng trước kia)

Tấn dầu tương đương là đơn vị thương mại phổ biến, trong khi jun là đơn vị đo nhiệt lượng được sử dụng rộng rãi

Các đơn vị khoa học Nếu đơn vị thương mại thường có sự khác nhau đôi khi là đáng kể giữa các vùng các quốc gia thậm chí các mỏ, thì ngược lại đơn vị khoa học (đơn

vị tường minh) lại có khái niệm thống nhất trên toàn thế giới

Một calo bằng nhiệt lượng cần thiết để tăng nhiệt độ của một gam nước ở 14,5 oC

lên một độ Các bội số của calo gồm Kilo calo, mega calo, giga calo

Một jun được xác định như là công được làm ra khi lực không đổi là một Niutơ được tác dụng lên một vật thể có khối lượng là một gam di chuyển được một khoảng cách

là một mét Nhiệt trị của nó sấp xỉ ẳ calo hay 1/ 1000 Btu Các bội số của jun gồm kilojun, megajun và giagajun

Trang 8

Bảng 1.5: Các đương lượng của đơn vị năng lượng khoa học

Các đơn vị thương mại:

Tấn than tương đương (TCE) là một trong những đơn vị thương mại lâu đời nhất Tấn than tương đương được coi ngang với tấn than đá có nhiệt trị 7x 106 kcal, là một trị số khá cao trong nấc thang phân cấp của than đá, chứ không phải loại than đá nào cũng có nhiệt lượng cao như vậy Theo cơ quan năng lượng của Mỹ, năng lượng của một tấn than

đá đang được sản xuất thường chỉ đạt được khoảng 6x106

kcal, than đá làm nhiên liệu cho các nhà máy nhiệt điện còn thấp hơn Tấn than đá tham chiếu là một loại đơn vị không tường minh Đơn vị này được sử dụng rộng rãi ở Ấn Độ, được xác định như một khối lượng than đá sản xuất ra tổng số năng lượng có ích ngang với một đơn vị của các nhuồn năng lượng kháckhi đem dùng cho một mục đích cụ thể nào đó Do tấn của đơn vị than thay thế có tính đến hiệu suất của các loại nhiên liệu dựa theo hiệu suất máy móc thiết bị

và các hộ tiêu thụ cuối cùng, nên khi so sánh các số liệu sử dụng đơn vị tấn than tham chiếu với các số liệu dùng đơn vị tấn than tương đương, cần cẩn trọng vì nó cơ thể không phản ánh chính xác vai trò của từng loại nhiên liệu

Các đơn vị đo lường nhiên liệu dầu mỏ, hiện nay đang thịnh hành các loại đương lượng dầu sau: Thùng hay lít được sử dụng rộng rãi Châu Mỹ, Trung Đông và một số nước đang phát triển, Philippine, Thái Lan, Indonexia….Đối với các nước thuộc nhóm OECD / IEA tấn dầu tương đương (toe) được quy định cho một tấn dầu thô cơ nhiệt trị là 10 Gcal = 41,9 GJ, với Liên Hợp Quốc 1 toe = 10,18 Gcal, WB, cơ quan năng lượng của Mỹ 1 toe = 10,2 Gcal Đây không phải là đơn vị tường minh nhưng được hiểu ngầm là tổng nhiệt trị bình quân gia quyền của các loại sản phẩm dầu mỏ

Trang 9

8

1.5 Phân loại năng lượng

1.5.1 Phân loại theo dạng vật chất

Năng lượng được phân loại theo dạng vật chất như sau:

- Rắn (các loại than, củi gỗ…)

- Láng (dầu và các sản phẩm của dầu )

- Khí (khí và các sản phẩn của khí)

1.5.2 Phân loại theo dòng biến đổi năng lượng

Hình 1.2 Dòng biến đổi năng lượng

Năng lượng sơ cấp

Năng lượng khai thác trực tiếp từ nguồn, chưa qua bất kỳ một công đoạn xử lý nào

cơ thể cho phép làm sạch Ví dụ: năng lượng có từ các mỏ trữ lượng trong lòng đất như dầu thô, khí thiên nhiên, than đá, các dòng tài nguyên trên mặt đất như thủy năng, mặt trời, đại nhiệt, sinh hóa Có thể đem năng lượng sơ cấp vào sử dụng ngay nhưng nói chung nó phải qua quá trình biến đổi để sử dụng rộng rãi và hiệu quả hơn

Năng lượng thứ cấp

Là năng lượng đó qua một hoặc một vài quá trình biến đổi – điện năng, khí, than trong các ngành như luyện cốc, các sản phẩm dầu, điện

Năng lượng cuối cùng

Có thể là năng lượng sơ cấp, hoặc năng lượng thứ cấp Năng lượng cuối cùng mà

hộ tiêu thụ nhận được trước khi kết thúc sử dụng, hoặc là năng lượng được người tiêu thụ cuối cùng tiêu thụ cho mọi mục đích năng lượng Trong năng lượng cuối cùng không bao gồm các năng lượng trong quá trình biến đổi hoặc các tổng tổn thất trong quá trình truyền tải, phân phối để đem năng lượng đến tay người tiêu dùng Như vậy, trong năng lượng cuối cùng không bao gồm điện năng tự dùng tại các nhà máy điện

Năng lượng hữu ích

Năng lượng (nhiệt, quang ) thực sự đã thỏa mãn nhu cầu của hộ tiêu thụ cuối cùng gọi là năng lượng hữu ích Số lượng năng lượng dùng cho các hộ tiêu thụ nhiều hơn so với năng lượng hữu ích vì còn tổn thất trong quá trình biến đổi, tổn thất tại các thiết bị của người tiêu dùng (đèn, điều hòa không khí, xe điện… )

Nhu cầu năng lượng sơ cấp thay đổi theo khu vực đại lý Nhu cầu năng lượng sơ cấp của quốc gia bằng lượng năng lượng sơ cấp khai thác nội địa, cộng chênh lệch xuất nhập khẩu năng lượng, trừ nhu cầu cho năng lượng cho hàng hải quốc tế hoặc trừ thay đổi

và dự trữ năng lượng quốc gia

Năng lượng

sơ cấp

Năng lượng thứ cấp

Năng lượng cuối cùng

Năng lượng hữu ích

Trang 10

9

1.5.3 Phân loại theo công nghệ

Năng lượng truyền thống

Những dạng năng lượng được sử dụng rộng rãi và trở nên thông dụng trong quá trình sản xuất kinh doanh hay sinh hoạt Năng lượng truyền thống bao gồm những dạng năng lượng dùng cho nhiều thế kỷ, thập kỷ…

Năng lượng không truyền thống

Theo thuật ngữ ở đây có thể gây sự nhầm lẫn vì nó rất tương đối, “nhạy cảm” theo không gian và thời gian Ví dụ cách đây 30 – 40 năm, năng lượng hạt nhân vẫn được coi là năng lượng không truyền thống ngay cả với cac nước phát triển Các nguồn năng lượng tái sinh mới (năng lượng mặt trời, gió, năng lượng thủy triều với công nghệ cao) sẽ trở thành truyền thống trong 20 – 30 năm tới Các hình thức năng lượng truyền thống với các nước phát triển như cối xay gió, xay nước bằng năng lượng sinh học…lại được xem như không truyền thống tại các nước phát triển

Việc phân biệt giữa năng lượng truyề thống và năng lượng không truyền thống chỉ mang tính tương đối, trừu tượng và phụ thuộc vào từng công nghệ Điện năng có thể coi là năng lượng truyền thống nếu dùng cho việc thắp sáng nhưng lại không được coi là truyền khi dùng trong đèn phát quang Năng lượng nguyên tử được coi là năng lượng truyền thống tại Pháp nhưng tại các nước đang phát triển lại là năng lượng không truyền thống

1.5.4 Năng lượng tái sinh

Năng lượng tái tạo

Năng lượng mặt trời, năng lượng sinh khối, thủy năng, gió, năng lượng của củi gỗ được coi là năng lượng tái tạo nếu trồng rừng hàng năm đủ bù đắp phần củi đó cắt đi Năng lượng địa nhiệt trong một khoảng thời gian hữu hạn, ví dụ trong vòng 100 năm được coi là năng lượng tái tạo, nếu xét trong khoảng thời gian dài hơn lại là năng lượng không tái tạo

Năng lượng không tái tạo

Các năng lượng hóa thạch như than, dầu mỏ, khí…

1.5.5 Theo tính thương mại

Năng lượng thương mại

Là dạng dạng năng lượng đến tay người tiêu dùng chủ yếu thông qua thị trường

Năng lượng phi thương mại

Thường không được trao đổi qua thị trường: ví dụ tự kiếm vè sưởi ấm trong những thế kỷ trước, hay các dạng năng lượng từ phụ phẩm nông nghiệp, gia súc tuy nhiên cách này chỉ có giá trị tương đối

Thông thường năng lượng thương mại là năng lượng truyền thống

Trang 11

10

CHƯƠNG 2: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ ĐIỆN LỰC VIỆT NAM

2.1 Tổng quan về Tập đoàn Điện lực Việt Nam

Tổng công ty Điện lực Việt Nam được thành lập theo Quyết định số 562/QĐ-TTg ngày 10/10/1994 của Thủ tướng Chính phủ trên cơ sở sắp xếp lại các đơn vị thuộc Bộ Năng lượng; tổ chức và hoạt động theo Điều lệ ban hành kèm theo Nghị định số 14/CP ngày 27/1/1995 của Chính phủ Ngày 22/6/2006, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 147/QĐ-TTg về việc phê duyệt Đề án thí điểm hình thành Tập đoàn Điện lực Việt Nam và Quyết định 148/2006/QĐ-TTG về việc thành lập Công ty mẹ - Tập đoàn Điện lực Việt Nam

Đến ngày 25/6/2010, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 975/QĐ-TTg

về việc chuyển Công ty mẹ - Tập đoàn Điện lực Việt Nam thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên thuộc sở hữu Nhà nước

Ngày 06/12/2013, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định số

205/2013/NĐ-CP về Điều lệ tổ chức và hoạt động của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (Nghị định có hiệu lực thi hành kể từ ngày 03/02/2014) với một số nội dung chính như:

Tên gọi:

- Tên gọi đầy đủ: TẬP ĐOÀN ĐIỆN LỰC VIỆT NAM

- Tên giao dịch: TẬP ĐOÀN ĐIỆN LỰC VIỆT NAM

- Tên giao dịch tiếng Anh: VIETNAM ELECTRICITY

- Tên gọi tắt: EVN

Loại hình doanh nghiệp: Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên

Tập đoàn Điện lực Việt Nam có ngành, nghề kinh doanh chính là: Sản xuất, truyền tải, phân phối và kinh doanh mua bán điện năng; chỉ huy điều hành hệ thống sản xuất, truyền tải, phân phối và phân bổ điện năng trong hệ thống điện quốc gia; xuất nhập khẩu điện năng; đầu tư và quản lý vốn đầu tư các dự án điện; quản lý, vận hành, sửa chữa, bảo dưỡng, đại tu, cải tạo, nâng cấp thiết bị điện, cơ khí, điều khiển, tự động hóa thuộc dây truyền sản xuất, truyền tải và phân phối điện, công trình điện; thí nghiệm điện

Thực hiện nhiệm vụ cung cấp điện cho nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, EVN hiện có 3 tổng công ty phát điện (GENCO 1, 2, 3) thuộc lĩnh vực sản xuất điện năng, 5 tổng công ty điện lực kinh doanh điện năng đến khách hàng là Tổng công ty Điện lực miền Bắc (EVN NPC), Tổng công ty Điện lực miền Nam (EVN SPC), Tổng công ty Điện lực miền Trung (EVN CPC), Tổng công ty Điện lực TP Hà Nội (EVN HANOI), Tổng công ty Điện lực TP Hồ Chí Minh (EVN HCMC) Phụ trách lĩnh vực truyền tải điện của Tập đoàn Điện lực Việt Nam hiện nay là Tổng công ty Truyền tải điện quốc gia (NPT), được thành lập trên cơ sở tổ chức lại 4 công ty truyền tải (Công ty Truyền tải 1, 2,

Trang 12

11

3, 4) và 3 Ban quản lý dự án (Ban quản lý dự án các công trình điện miền Bắc, Trung, Nam)

Địa chỉ liên hệ:Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN)

- Trụ sở chính: Số 11 Cửa Bắc, phường Trúc Bạch, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội

- Điện thoại: (+844)66946789

- Fax: (+844)66946666

- Website: http://www.evn.com.vn

Tổng Công ty Điện lực Việt Nam (EVN) được thành lập theo quyết định số 562/TTg ngày 10/10/1994 của Thủ tướng Chính phủ Cơ cấu tổ chức của EVN từ khi thành lập đến nay bao gồm Hội đồng quản trị, Tổng Giám đốc, các Ban chức năng của cơ quan Tổng Công ty, một số đơn vị thành viên hạch toán phụ thuộc và một số đơn vị hạch toán độc lập

Theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ, từ đầu năm 1999, các công ty xây lắp tách khối Tổng Công ty, các Công ty khảo sỏt thiết kế Điện và Trung tâm năng lượng đổi tên thành các Công ty Tư vấn xây dựng điện

Mô hình tổ chức của EVN hiện nay được trình bày trong hình 2.1

Trang 13

12

Trang 14

13

Về cơ cấu tổ chức:

- Hội Đồng Quản Trị (HĐQT) là đại diện trực tiếp chủ sở hữu vốn và tài sản của nhà nước tại EVN HĐQT thực hiện chức năng quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh

và đầu tư phát triển tại EVN

- Ban Kiểm Soỏt giúp HĐQT kiểm tra, kiểm soỏt các hoạt động điều hành của Tổng Giám Đốc (TGĐ) và việc chấp hành pháp luật Nghị quyết, Quyết định của HĐQT đối với các đơn vị thành viên

- TGĐ là đại diện pháp nhân của EVN thực hiện chức năng điều hành các hoạt động sản suất kinh doanh - đầu tư phát triển (SXKD - ĐTPT) của EVN Giúp việc cho TGĐ cơ 7 Phó TGĐ do HĐQT bổ nhiệm

- Các Ban chức năng thuộc cơ quan EVN thực hiện chức năng cơ trách nhiệm nghiên cứu tham mưu, giúp cho HĐQT phờ duyệt điều lệ, quy chế hoạt động của các đơn vị thành viên, tổng biên chế, đơn giá tiền lương, giá bán điện nội bộ v.v ; quyết định phân cấp, uỷ quyền và các chủ trương, cơ chế trong SXKD - ĐTPT để TGĐ điều hành thực hiện; đồng thời cũng giúp TGĐ giải quyết những công việc hàng ngày và đôn đốc các đơn vị thành viên, trực thuộc thực hiện các chủ trương, cơ chế, phân cấp, uỷ quyền của HĐQT

2.3 Hiện trạng về sản xuất và tiêu thụ điện năng

2.3.1 Hiện trạng về nhu cầu và cung ứng điện năng

1 Nhu cầu về công suất và khả năng đáp ứng

Trong giai đoạn 2001 – 2004, tổng công suất đặt của các nhà máy điện đó tăng lên 5.100 MW, từ 6.192 năm 2000 lên đến 11.249 MW năm 2004, tăng 1,8 lần

Về công suất phát cực đại

Công suất cực đại tăng gấp 3 lần, từ 2796 MW năm 1995 lên tới 8283 MW năm

2004, đạt tốc độ tăng trưởng bình quân là 13%/năm Tốc độ đạt cao nhất trong cả giai đoạn đạt 15,9% năm 2002 Diễn biến tăng trưởng công suất cực đại từng năm trong cả giai đoạn 2000- 2004 được thể hiện trong bảng 2.1

Bảng 2.1 Diễn biến tăng trưởng công suất phát cực đại giai đoạn 2000-2005

Công suất cực đại (MW) 4893 5655 6552 7408 8283 Tăng trưởng (%) 13.1 15.6 15.9 13.1 11.8 Đến tháng 7/2005, Pmax toàn HTĐ đạt 8825MW Theo thống kờ của Trung tâm điều độ quốc gia, trong các năm 2001-2004 vào một số giờ cao điểm, hệ thống điện toàn quốc phải sa thải một lượng phụ tải khá lớn do thiếu công suất đỉnh (khoảng từ 200MW đến 300MW).Tính đến hết năm 2005 công suất đặt toàn hệ thống là 11286MW

Trang 15

14

Giai đoạn 2006 -2010, diễn biến công suất của từng năm được thể hiện ở bảng 2.2

Bảng 2.2 Diễn biến tăng trưởng công suất phát cực đại giai đoạn 2000-2005

Năm 2010, điện sản xuất và nhập khẩu của toàn hệ thống điện quốc gia đạt 100,1 tỷ kWh, tăng 15,1% so với năm 2009, công suất cực đại (Pmax) toàn hệ thống năm 2010 là 15.500MW Tổng công suất đặt nguồn điện tính đến ngày 31/12/2010 là 21.250MW, trong

đó thuỷ điện chiếm tỷ trọng là 38%, nhiệt điện là 56%, diesel và nguồn điện nhỏ khác là 2% và điện nhập khẩu là 4% Tổng công suất khả dụng của nguồn điện trong năm 2010 dao động trong khoảng 15.000-17.600MW

2 Nhu cầu về điện năng và khả năng đáp ứng

Điện sản xuất tăng từ 27,040 Tỷ kWh (Năm 2000) lên đến 46,790 Tỷ kWh năm 2004, tốc độ tăng bình quân là 14,7% Về cơ cấu điện năng sản xuất, Tỷ trọng sản lượng thuỷ điện giảm dần Từ 54,8 % Năm 2000 còn 37,8% năm 2004 Sản lượng tua bin khí, đặc biệt là tua bin khí chạy khí ngày Một tăng, sản lượng điện sản xuất từ khí đốt tăng

từ 4,356 Tỷ kWh Năm 2000 Lên đến 14,6 Tỷ kWh Năm 2004 ứng với tỷ trọng tăng

từ 16,4% lên 31,7% năm 2004 do phụ tải tăng cao và các nhà máy điện được xây dựng theo hình thức BOT đi vào vạn hành làm cho lượng điện năng mua ngoài tăng lên đáng kể

từ 1,635 Tỷ kWh năm 2000 lên 6,033 tỷ kWh Năm 2004

Trong những năm qua sản lượng điện thương phẩm cung cấp cho các ngành kinh tế

và sinh hoạt của nhân dân không ngừng tăng lên, tốc độ tăng trưởng bình quân trong giai đoạn 2000-2004 là 15,3%, cao hơn so với 14,9%/năm giai đoạn 1996-2000 Điện thương phẩm tăng từ 22,4 tỷ kWh năm 2000 lên tới 39,7 t ỷ kWh năm 2004, trong

4 năm t ă n g g ấ p 1,76 lần đảm bảo cơ bản cung cấp đủ điện cho nền kinh tế và đời sống nhân dân Ước tính 10 tháng đầu năm 2005, điện thương phẩm đạt 37,298 tỷ kWh với tăng trưởng khoảng 13,8% so với cùng kỳ năm trước

Do điện tiêu thụ tăng trưởng quá nhanh, dẫn tới hệ thống lưới điện truyền tải và phân phối bị quá tải, phải tiến hành chống quá tải cục bộ một số khu vực

Đến hết năm 2010 này, tổng công suất nguồn điện cả nước đó lên đến 20.900 MW Riêng giai đoạn 2006-2010, tổng công suất lắp đặt nguồn điện mới tăng thêm trên toàn hệ thống điện là 10.400 MW, tăng 1,98 lần so với năm 2005 Sản lượng thương phẩm năm

Trang 16

15

2010 cũng đạt khoảng 85,4 tỷ kWh, tốc độ tăng điện thương phẩm bình quân giai đoạn 5 năm là 13,7%, tăng gấp hơn 2 lần so với tăng trưởng GDP, đáp ứng cơ bản nhu cầu điện cho phát triển kinh tế và sinh hoạt của nhân dân với tốc độ tăng trưởng cao Điện thương phẩm bình quân đầu người đến cuối năm 2010 đạt 981 kWh/người/năm, tăng 1,8 lần so với năm 2005

Tổng sản lượng điện sản xuất và mua ngoài năm 2011 đạt 106,33 tỷ kWh, tăng 9,24% so với năm 2010 Điện thương phẩm ước đạt 94,04 tỷ kWh, tăng 9,74% so với năm

2010

Lần đầu tiên, đánh dấu mức tiêu thụ điện bình quân ở Việt Nam vượt ngưỡng 1.000 kWh/người/năm, trong đó tỷ lệ tổn thất điện năng dùng để truyền tải và phân phối thực hiện ở mức 9,5%, giảm 0,65% so với năm 2010 Đặc biệt, năm 2011 cũng là năm đầu tiên

hệ số đàn hồi điện/GDP giảm xuống ở mức 1,63% cho phát triển 1% GDP

Theo báo cáo của Bộ Công Thương, năm 2012, sản lượng điện thương phẩm thực hiện là 105,47 tỷ kWh; tỷ lệ tổn thất hệ thống điện là 8,85%, thấp hơn 0,38% so với thực hiện năm 2011 (9,23%) và thấp hơn 0,35% so với kế hoạch năm 2012 (9,2%) quy định tại Quyết định số 1177/QĐ-BCT ngày 15/3/2012 của Bộ Công Thương về việc phê duyệt Đề

án giảm tổn thất điện năng giai đoạn 2012-2016

Theo Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), năm 2013, nguồn điện đó đáp ứng được

cả về sản lượng và công suất Hoạt động chỉ đạo điều hành sản xuất, vận hành Hệ thống điện quốc gia của EVN đó bỏm sỏt nhu cầu phụ tải, khai thác hiệu quả các yếu tố thuận lợi

về thuỷ điện, huy động hợp lý cơ cấu các nguồn phát điện

Điện sản xuất và mua năm 2013 của EVN đạt 127,84 tỷ kwh, tăng 8,47% so với năm 2012 Trong đó, điện do EVN sản xuất hoàn thành vượt mức kế hoạch với sản lượng 56,45 tỷ kwh, điện mua đạt 72,14 tỷ kwh

Điện thương phẩm, EVN đó cung cấp cho các khách hàng sử dụng điện 115,06 tỷ kwh, tăng 9,1% so với năm 2012 Trong đó: Điện tiêu dùng trong nước đạt 113,4 tỷ kwh, tăng 9,15% Điện cấp cho công nghiệp - xây dựng chiếm 52,8%, tăng 9,35% so với năm 2012; cho quản lý tiêu dựng dân cư chiếm 36,3%, tăng 8,66%; cho thương mại - dịch vụ chiếm 4,7%, tăng 8,49%; cho nông lâm ngư nghiệp chiếm 1,3%, tăng 21,1%; các thành phần khác chiếm 4,9%, tăng 7,27%

Sản lượng điện toàn hệ thống đạt 12,77 tỷ kWh, sản lượng điện trung bình đạt 412 triệu kWh/ngày Sản lượng cao nhất đạt 443,65 triệu kWh (ngày 4/7), công suất cao nhất đạt 21.624 MW (ngày 4/7) Lũy kế 7 tháng năm 2014, sản lượng toàn hệ thống đạt 82,85

tỷ kWh, tăng 9,66% so với cùng kỳ năm trước

Sản lượng điện sản xuất và mua của EVN trong tháng ước đạt 12,29 tỷ kWh Lũy

kế 7 tháng năm 2014, sản lượng điện sản xuất và mua của EVN ước đạt 80,705 tỷ kWh, tăng 9,91% so với cùng kỳ năm 2013, trong đó điện sản xuất là 33,692 tỷ kWh

Trang 17

16

Tháng 7/2014, điện thương phẩm ước đạt 11,195 tỷ kWh Lũy kế 7 tháng năm

2014, điện thương phẩm ước đạt 72,488 tỷ kWh, tăng 10,04% so với cùng kỳ năm 2013 Điện thương phẩm nội địa tăng trưởng 10,32%, trong đó miền Bắc tăng 13,59%, miền Trung tăng 8,84%, miền Nam tăng 7,78%

Điện cấp cho nông nghiệp chiếm 1,6% tăng trưởng 20,8%; điện cấp cho công nghiệp chiếm 53,4% tăng 12,77%; điện cấp cho thương mại, khách sạn - nhà hàng chiếm 4,7% tăng 8,77%; điện cấp cho quản lý tiêu dựng chiếm 35,7% tăng 6,94%, thành phần khác chiếm 4,7% tăng 2,52%

2.3.2 Hiện trạng về Tình hình sản xuất điện

a Các nhà máy nhiệt điện, thủy điện

Danh sách các nguồn điện hiện có và dự kiến đến cuối năm 2004 phân loại nhiên liệu được trình bày trong bảng 2.9

Trang 18

17

Bảng 2.9 Danh sách các NMĐ tính đến cuối năm 2004

TT Tên nhà máy điện Công suất đặt (MW) Công suất khả dụng(MW)

Nhiệt điện

+ Uụng Bớ (than) + Ninh Bình (than) + Phả Lại 1 (than) + Phả Lại 2 (than) + Na Dương (than) + Formosa (than) + Thủ Đức (dầu) + Trà Nóc (dầu) + Hiệp Phước (IPP)

Tua bin khí (TBK)

+ Thủ Đức + Bà Rịa + Phỳ Mỹ 2.1 &2.1 MR + Phỳ Mỹ 1 + Phỳ Mỹ 2.2 + Phỳ Mỹ 3 + Phỳ Mỹ 4 + Trà Nóc

Diesel

+ Miền Bắc + Miền Trung + Miền Nam

Nguồn ngoài khác Tổng cộng

Trang 19

Bảng 2.10: CÁC NGUỒN ĐIỆN VẬN HÀNH GIAI ĐOẠN 2001 - 2005

a) Các nguồn điện do Tổng công ty Điện lực Việt Nam quản lý:

b) Các nguồn điện BOT:

Ghi chú: * Trường hợp đàm phán hợp đồng Phú Mỹ 2-2 không thành công, Tổng công ty Điện lực Việt Nam tìm nguồn vốn để xây dựng

Trang 20

Đơn vị đầu tƣ

a Các nguồn thủy điện

Trang 21

20

MW

b Nhà máy nhiệt điện

1 Nhiệt điện Hải Phũng

đa mục tiêu, các nhà máy điện BOT, nhiệt điện chạy dầu/than nhập đắt tiền và các nhà máy hưởng cơ chế đặc thù

b Các nhà máy điện dùng năng lượng tái tạo

Thực trạng sản xuất điện từ năng lượng tái tạo ở Việt Nam

Điện gió: các dự án điện gió không nối lưới đó xây dựng, gồm các tuabin giú quy mô gia đình (150-200kW), chủ yếu lắp đặt ở các khu vực ngoài lưới (các đảo) Trong đó, Trạm điện gió đảo Bạch Long Vĩ (800kW), hoạt động từ năm 2004 là tuabin gió lớn nhất ở thời điểm này nhưng đó phải ngưng hoạt động vì sự cố

Dự án điện gió tại đảo Phú Quý 3x2 MW đó lập xong dự án đầu tư xây dựng công trình, dự kiến đưa vào vận hành cuối năm 2011

Hiện nay, cả nước có 14 dự án điện gió nối lưới đang trong giai đoạn lập báo cáo đầu tư (892,5MW) và 7 dự án đang lập dự án đầu tư xây dựng công trình (205MW) Ngoài ra còn cơ dự án điện gió tại Bạc Liêu đó khởi công (99MW) và dự án điện gió tại Gia Lai đó lập báo cỏo đầu tư (40,5MW) Tổng công suất của 23 dự án này là 1.237MW Việc triển khai chuẩn bị đầu tư của 23 dự án này đều gặp khó khăn do chưa thỏa thuận được giá bán điện Duy nhất dự án Nhà máy phong điện 1-Bình Thuận 20x1,5 MW, chủ đầu tư là Công ty cổ phần Năng lượng tái tạo Việt Nam (REVN) đó bỏ qua rào cản về thỏa thuận giá mua bán điện, trong phân kỳ đầu tư giai đoạn 1 đó hoàn thành xây lắp và đưa 5 tuabin gió (5x1,5 MW) vào vận hành hòa điện, đấu nối và cung cấp điện cho hệ thống điện quốc gia từ tháng 8/2009 Đây có thể coi là sự kiện thành công nhất trong lịch

sử phát triển điện gió tại Việt Nam

Điện mặt trời: năng lượng mặt trời dùng để sản xuất điện tại Việt Nam chủ yếu tổ chức là nguồn điện pin mặt trời được áp dụng ở khu vực nông thôn, miền nói, vùng sâu, vùng xa, hải đảo Các hệ thống pin mặt trời đó cơ mặt ở 38 tỉnh, thành trong cả nước và

Trang 22

21

một số bộ, ngành sử dụng Các nguồn điện pin mặt trời đều không nối lưới, trừ hệ thống pin mặt trời 150kW tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia là có nối lưới Tổng công suất điện pin mặt trời của Việt Nam hiện nay khoảng 1,4MW

Khí sinh học và sinh khối: dạng năng lượng này chủ yếu là phát triển nhiên liệu sinh học từ mía, sắn, ngô, dầu cọ, cao lương, tảo, thầu dầu… Năm 2009 được coi là năm

ra đời ngành công nghiệp nhiên liệu sinh học tại Việt Nam

Các nhà máy sản xuất nhiên liệu sinh học tại Quảng Nam, Quảng Ngói, Phỳ Thọ, Bình Phước và Đồng Nai và sẽ lần lượt đưa vào vận hành Nhà máy đường Tây Ninh đó dựng bó mớa làm nhiên liệu đốt lũ nhà máy điện theo công nghệ đồng phát và nhiều dự án tương tự đang được triển khai tại miền Nam với nhiên liệu là trấu

Địa nhiệt: mới đây, Công ty xây lắp điện Khánh Hòa và Công ty LIOA cơ dự kiến đầu tư nhà máy điện địa nhiệt tại Tu Bông ở tỉnh Khánh Hòa và đoàn đi khảo sát các nhà máy điện địa nhiệt tại Philippines Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có thông tin đầy đủ

và chính xác về tiến độ thực thi các dự án điện địa nhiệt tại Việt Nam

Phát triển bền vững nguồn năng lượng tái tạo

Trước tình hình nguồn năng lượng truyền thống không tái tạo đang ngày càng cạn kiệt và gây ra những vấn nạn lớn về môi trường, hiệu ứng nhà kính Những thách thức thiếu điện của Việt Nam là rất lớn, trước mắt là giai đoạn 2010-2020 Vấn đề đặt ra là lấy

gì bù đắp vào sự thiếu hụt điện năng?

Trang 23

22

Kết quả dự báo nhu cầu về công suất và điện năng toàn quốc

Bảng 4.4 Dự báo nhu cầu điện toàn quốc đến năm 2025 theo PP Gian tiếp (Simple-E)

Năm Hạng mục

Kịch bản thấp

Nông, Lâm nghiệp & Thuỷ sản

Công nghiệp & Xây dựng

Thương mại & Kh Sạn, Nh

hàng Quản lý & Tiêu dựng dân cư

Điện thương phẩm

Tổn thất truyền tải & phân phối

Tự dựng

Điện sản xuất Công suất cực đại: Pmax (MW)

Trang 24

23

Trang 25

24

Trang 26

25

Trang 27

26

Trang 28

27

2.4 Quá trình phát triển của EVN (tự tìm tài liệu) 2.5 Định hướng phát triển của EVN (Tự tìm tài liệu)

Trang 29

28

CHƯƠNG 3: LÝ THUYẾT CƠ BẢN VỀ CHI PHÍ

3.1 Các khái niệm về chi phí

Một cách chung nhất, chi phí sản xuất kinh doanh hay chi phí hoạt động của doanh nghiệp là toàn bộ giá trị nguồn lực mà các doanh nghiệp đó tiêu hao trong một thời kỳ nhất định cho các hoạt động sản xuất kinh doanh trong thời kỳ đó Tùy theo mục tiêu quản lý mà thời kỳ xem xét sẽ thay đổi, nhưng thông thường chi phí cho hoạt động của doanh nghiệp thường được đánh giá hàng năm

Trong mỗi thời kỳ xem xét, chi phí phát sinh ứng với hoạt động của doanh nghiệp là một giá trị cụ thể Tùy theo mục đích nghiên cứu về chi phí mà có những quan điểm tiếp cận khác nhau trong việc nhận dạng các chi phí phát sinh Các quan điểm tiếp cận này hoàn toàn thuộc và mục tiêu của đối tượng tiếp cận mà dẫn tới cách nhìn nhận chi phí không hoàn toàn giống nhau Mặt khác, chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong thời kỳ xem xét không tính tới chi phí đầu tư lên quan đến việc mua sắm các tài sản cố định mới

3.2 Phân loại chi phí hoạt động của doanh nghiệp

3.2.1 Phân loại theo yếu tố chi phí

Việc phân loại theo yếu tố chi phí căn cứ vào nội dung kinh tế của chi phí, tức là căn

cứ vào chi phí phát sinh tương ứng với bản chất nguồn lực sử dụng Phân loại theo yếu tố chi phí thường được sử dụng trong trường hợp doanh nghiệp muốn lập dự toán sản xuất Phân loại theo chi phí gồm 5 yếu tố chi phí sau:

- Chi phí nguyên vật liệu

Là toàn bộ chi phí phát sinh để mua sắm các đối tượng lao động cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong thời kỳ xem xét

- Chi phí nhân công

Là các chi phí liên quan đến nguồn lực lao động mà doanh nghiệp sử dụng trong thời

kỳ xem xét bao gồm lương và các khoản kèm theo lương thưởng, bảo hiểm…

- Chi phí khấu hao tài sản cố định (TSCĐ)

Là các khoản chi phí liên quan đến việc sử dụng TSCĐ của doanh nghiệp trong thời kỳ xem xét Khoản chi phí này được khấu trừ khối thu nhập trước khi tính thuế thu nhập nhưng

là khoản chi phí “ảo” Lý do là khoản này không phải là khoản thực chi của doanh nghiệp và được xem như một thành phần tạo ra tích lũy cho doanh nghiệp

- Chi phí dịch vụ mua ngoài

Bao gồm các khoản thanh toán cho các yếu tố mua ngoài mà doanh nghiệp thực hiện như chi phí nhiên liệu, năng lượng, chi phí thuờ ngoài, sửa chữa, kiểm toán…

Trang 30

29

- Chi phí khác bằng tiền

Là các chi phí bao gồm các khoản thuế, lệ phí phải nộp, các chi phí hoạt động tài chính, hoạt động bất thường…Trong quản lý tài chính doanh nghiệp, các cách tiếp cận theo yếu tố chi phí thường được sử dụng và được chi tiết hóa khi tính đến đối tượng hưởng thụ

3.2.2 Phân loại theo khoản mục chi phí

- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp

Là toàn bộ các chi phí phát sinh mua sắm các đối tượng lao động trực tiếp cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong thời kỳ xem xét

- Chi phí nhân công trực tiếp

Là chi phí liên quan đến nguồn lực lao động tham gia trực tiếp vào quá trình tạo ra sản phẩm mà doanh nghiệp sử dụng trong thời kỳ xem xét bao gồm lương và các khoản kèm theo lương thưởng, bảo hiểm… cho các nhóm nguồn lực trực tiếp này

- Chi phí sản xuất chung

Bao gồm chi phí nhiên liệu, năng lượng dùng trong sản xuất, lương và các khoản kèm theo của các bộ quản lý trực tiếp, khấu hao TSCĐ dựng trong sản xuất…, phát sinh trong bộ phận sản xuất

- Chi phí bán hàng

Bao gồm lương của nhân viên bán hàng, chi phí marketing, khấu hao TSCĐ dùng trong bán hàng (cửa hàng, phương tiện vận tải….) và các yếu tố mua ngoài liên quan

- Chi phí quản lý doanh nghiệp

Gồm lương của cán bộ nhân viên quản lý doanh nghiệp, khấu hao TSCĐ dựng trong quản lý (nhà văn phũng, máy tính….) và các yếu tố mua ngoài liên quan

3.2.3 Các cách phân loại khác về chi phí

Phân loại theo mối quan hệ với quy mô sản xuất

Theo các nhà kinh tế, các chi phí kinh tế để làm ra một sản phẩm gì đó (chẳng hạn để sản xuất ngô) là những khả năng mà chúng ta phải bỏ qua để thực hiện sản xuất ngô (chẳng hạn chúng ta bỏ qua việc sản xuất những cây trồng có năng suất cao hơn ngô) Những khả năng bị

bỏ qua, hay những cơ hội bị từ bỏ đó tạo ra chi phí kinh tế thực sự khi chúng ta bắt tay vào

một hoạt động Vì vậy các nhà kinh tế nói đến ý nghĩa của chi phí cơ hội là theo khía cạnh

này, nên được định nghĩa là khoản bị mất đi do không sử dụng nguồn lực theo phương thức

sử dụng tốt nhất

Còn đối với các nhà kế toán, theo cách phân loại này, tổng chi phí thực tế (chi phí kế toán) của doanh nghiệp là những phí tổn phải chịu khi sản xuất ra hàng hóa hay dịch vụ trong thời kỳ đó Tổng chi phí hoạt động của doanh nghiệp (TC) được chia làm hai loại: chi phí cố

Trang 31

- Chi phí biến đổi (VC) là các chi phí mà tổng giá trị của nó biến động tỷ lệ với sự thay

đổi quy mô sản xuất

- Chi phí cố định (FC) là các chi phí mà tổng giá trị của nó có tính ổn định tương đối

khi quy mô sản xuất thay đổi trong phạm vi nhất định Do đó:

TC = FC + VC Với cách phân loại này hàng loạt các khái niệm khác về chi phí được định nghĩa

- Chi phí bình quân (AC): được tính bằng cách chia tổng chi phí cho số lượng đó sản

xuất Chi phí bình quân được xác định theo công thức:

Q

VC AVC

- Chi phí cận biên (MC) là chi phí bỏ ra khi sản xuất thêm một đơn vị hàng hóa Chi

phí biên được xác định theo hai cách Nếu tổng chi phí là một hàm gián đoạn thì chi phí biên được xác định theo công thức sau:

MC = TC/ Q Trong đó: ÄTC gia số về tổng chi phí;

Phân loại theo quan hệ với sự tồn tại của sản phẩm (hoặc theo phương pháp chi phí vũa giá thành)

- Chi phí trực tiếp: Là những chi phí phát sinh một cách riêng biệt cho một hoạt động cụ thể

của doanh nghiệp Chi phí này có thể tính thẳng vào giá thành một cách trực tiếp mà không ảnh hưởng đến việc sản xuất sản phẩm khác

Trang 32

31

- Chi phí gián tiếp (còn gọi là chi phí chung hay chi phí tổng hợp): là những chi phí cơ

liên quan đến việc sản xuất nhiều loại sản phẩm dịch vụ Chi phí gián tiếp được tính vào giá mỗi loại sản phẩm, dịch vụ một cách gián tiếp bằng phương pháp phân bổ

Ở góc độ của nhà quản lý, chi phí trực tiếp thường phát sinh và mất đi cùng với sự phát sinh và mất đi của một hoạt động sản xuất – kinh doanh cụ thể Trái lại chi phí gián tiếp không phát sinh và không mất đi cùng với sự phát sinh và mất đi của một hoạt động sản xuất kinh doanh cụ thể (ví dụ chi phí gián tiếp như chi phí khấu hao tài sản cố định hay chi phí quản lý doanh nghiệp…)

3.3 Giá thành sản phẩm và dịch vụ

3.3.1 Khái niệm về giá thành

Giá thành sản phẩm hay dịch vụ là toàn bộ những chi phí bằng tiền để sản xuất và tiêu thụ và tiêu thụ một khối lượng sản phẩm hay dịch vụ nhất định

Đây là chỉ tiêu quan trọng phản ánh toàn diện chất lượng hoạt động của doanh nghiệp bao gồm các mặt: trình độ công nghệ, trình độ tổ chức sản xuất, trình độ quản lý…

Đối tượng để tính giá thành có thể là sản phẩm hay dịch vụ hoàn thành, còn có thể là bán thành phẩm, là chi tiết, là cụm chi tiết sản phẩm, nhóm sản phẩm hay đơn đặt hàng…Nói tóm lại, đối tượng tính giá thành là loại sản phẩm sản xuất hay một loại hình dịch vụ cụ thể

mà yờu cầu quản lý cần xác định được giá thành hay giá thành đơn vị để có thể xác định giá bán và tính toán ra kết quả kinh doanh hoặc đánh giá được kết quả hoạt động của toàn bộ sản xuất trong doanh nghiệp

Kỳ tính giá thành là khoảng thời gian kế toán hệ thống số liệu về chi phí sản xuất và khối lượng sản phẩm, dịch vụ hoàn thành và tiến hành tính toán giá thành cho khối lượng sản phẩm, dịch vụ đó Kỳ tính giá thành có thể là định kỳ: hàng tháng, hành quý, nửa năm một lần hoặc hàng năm(đối với doanh nghiệp sản xuất liên tục, mặt hàng ổn định) mà cũng có thể không định kỳ (khi nào chu kỳ sản xuất kết thỳc thì kế toán tiến hành tính giá thành như trường hợp sản xuất theo đơn hàng, sản xuất đơn chiếc, hàng loạt ít, sản xuất không liên tục, mặt hàng hay thay đổi)

3.3.2 Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm

Xét về khía cạnh hạch toán kinh tế, chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là hai khái niệm riêng biệt nên giữa chúng có những mặt khác nhau cơ bản sau:

- Chi phí sản xuất luôn gắn với từng thời kỳ đó phát sinh ra chúng, còn giá thành sản phẩm lại gắn với một khối lượng sản phẩm, dịch vụ hoàn thành

- Chi phí phát sinh trong doanh nghiệp được phân tích thành các yếu tố chi phí, có cùng một nội dung kinh tế Chúng không nói rõ địa điểm và mục đích bỏ ra chi phí Ngược

Trang 33

32

lại những chi phí nào phát sinh, ở địa điểm xác định và mục đích bỏ ra chi phí đó thì các chi phí này được tập hợp lại thành các khoản mục để tính toán, xác định giá thành sản phẩm và dịch vụ

- Chi phí sản xuất trong thời kỳ bao gồm cả những chi phí đó phát sinh trước của kỳ nhưng chưa phân bổ cho kỳ này và những chi phí phait trả kỳ trước nhưng kỳ này mới phát sinh thực tế Nhưng chi phí sản xuất trong thời kỳ không bao gồm chi phí trả trước của kỳ trước phân bổ cho kỳ này và những chi phí phải trả kỳ này nhưng thực tế chưa phát sinh Ngược lại giá thành sản phẩm chỉ liên quan đến chi phí phải trả trong

kỳ và chi phí trả trước được phân bổ trong kỳ

- Chi phí sản xuất trong kỳ không chỉ liên quan đến sản phẩm đó hoàn thành mà còn liên quan đến sản phẩm còn dở dang cuối kỳ và sản phẩm háng Còn giá thành sản phẩm không liên quan đến chi phí sản xuất sản phẩm dở dang cuối kỳ và sản phẩm háng nhưng lại liên quan đến chi phí sản xuất của sản phẩm dở dang kỳ trước chuyển sang

Tuy nhiên, chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có một mối quan hệ chặt chẽ với nhau vì chúng đều là thước đo giá trị liên quan đến Quá trình sản xuất và kinh doanh của doanh nghiệp Cụ thể, chi phí sản phẩm có mối quan hệ với nhau vì nội dung cơ bản của chúng là biểu diễn những chi phí doanh nghiệp đó bỏ ra cho hoạt động sản xuất kinh doanh Thật vậy chi phí sản xuất trong một thời kỳ kinh doanh là căn cứ, là cơ sở để tính giá thành sản phẩm, dịch vụ đó hoàn thành Sự tích kiệm hoặc lóng phí (tức là vấn đề sử dụng chi phí) của doanh nghiệp có ảnh hưởng đến giá thành sản phẩm Do đó quản lý giá thành sản phẩm phải gắn liền với chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

3.3.3 Phân loại giá thành sản phẩm

3.3.3.1 Giá thành sản xuất

Giá thành sản xuất là loại giá thành được hạch toán riêng cho một công đoạn sản xuất sản phẩm Theo cách phân loại này giá thành sản xuất bao gồm các mục chi phí sau:

- Chi phí nguyên liệu trực tiếp

- Chi phí nhân công trực tiếp

- Chi phí sản xuất chung cho những sản phẩm, công việc đó hoàn thành

Giá thành sản xuất được sử dụng để nghi sổ cho sản phẩm đó hoàn thành, nhập kho hoặc giao cho khách hàng Giá thành sản xuất sản phẩm cũng là căn cứ để tính giá trị hàng tồn kho, giá vốn hàng hóa và lãi gộp ở doanh nghiệp sản xuất

3.3.3.2 Giá thành phân xưởng, giá thành công xưởng và giá thành toàn bộ

Quá trình từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm của một doanh nghiệp được chia ra giai đoạn khác nhau Theo đó, ở mỗi giai đoạn của quá trình đó, giá thành sản phẩm cũng được

Trang 34

33

tính riêng cho từng giai đoạn nhằm phục vụ cho công tác quản lý chi phí Người ta chia ra ba loại giá thành:

- Giá thành phân xưởng là tập hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, nhân công trực tiếp

và chi phí sản xuất chung tính cho khối lượng hàng hóa đó hoàn thành Đó cũng chính

là giá thành sản xuất

- Giá thành công xưởng là giá thành của phân xưởng cộng với chi phí quản lý

- Giá thành toàn bộ bao gồm giá thành công xưởng và chi phí tiêu thụ sản phẩm

3.3.3.3 Giá thành kế hoạch

Để có căn cứ lập kế hoạch sản xuất cũng như đánh giá tình hình thực hiện giá thành, người ta đưa ra chỉ tiêu giá thành kế hoạch Giá thành kế hoạch là giá thành sản phẩm được tính trên cơ sở chi phí sản xuất kế hoạch và sản lượng kế hoạch Chi phí sản xuất kế hoạch được tính trên cơ sở các định mức tiêu hoa nguyên vật liệu, nămg lượng, nhân công…cũng như việc phân chia các chi phí chung, chi phí quản lý…Thông thường, việc tính giá thành kế hoạch do bộ phận kế hoạch doanh nghiệp thực hiện và được tiến hành trước khi bắt đầu quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm Giá thành kế hoạch của sản phẩm là mục tiêu phấn đấu của doanh nghiệp, là căn cứ để so sánh, phân tích, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch giá thành

và kế hoạch hạ giá thành của sản phẩm được so sánh được

Giá thành thực tế được tính trên cơ sở số liệu chi phí sản xuất thực tế đó phát sinh và tập hợp được trong kỳ và sản lượng sản phẩm thực tế đó sản xuất ra trong kỳ Giá thành sản phẩm thực tế chỉ cơ thể tính toán được sau khi kết thúc quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm

3.3.3.4 Giá thành định mức

Giá thành định mức là giá thành sản phẩm được tính trên cơ sở các định mức chi phí hiện hành và chỉ tính cho một đơn vị sản phẩm Việc tính giá thành định mức cũng được thực hiện trước khi tiến hành quá trình sản xuất, chế tạo ra sản phẩm

Giá thành định mức được xem là công cụ quản lý các định mức của doanh nghiệp, là thước đo chính xác để xác định kết quả sử dụng tài sản, vật tư, lao động trong sản xuất, giúp đánh giá đúng đắcác giải kinh tế - kỹ thuật mà doanh nghiệp đó thực hiện trong quá trình sản xuất nhằm nâng cao hiện quả kinh doanh của doanh nghiệp

3.3.3.5 Giá thành đơn vị và tổng giá thành sản lượng hàng hóa

Giá thành đơn vị là giá thành tính cho loại sản phẩm nhất định, theo một đơn vị nhất định Giá thành đơn vị cũng là chỉ tiêu dùng để so sánh, đối chiếu giữa giá thành kế hoạch và giá thành thực tế, hoặc đối chiếu giữa giá thành của doanh nghiệp với giá thành cùng loại sản phẩm của doanh nghiệp khác, hoặc đối chiếu giữa kỳ kế hoạch với kỳ báo cáo Trên cơ sở đó tiến hành phân tích, tìm ra những nhân tố ảnh hưởng đến việc hạ giá thành sản phẩm

Trang 35

34

Tổng giá thành sản lượng hàng hóa là toàn bộ cho phí bỏ ra để tiến hành sản xuất, tiêu thụ sản phẩm tính cho toàn bộ sản lượng hàng hóa sản xuất trong kỳ Tổng giá thành cho biết toàn bộ chi phí bỏ ra trong kỳ và tỉ trọng của từng loại chi phí có căn cứ để phân tích, tìm ra các biện pháp hạ giá sản phẩm

3.4 Các cách tiếp cận trong định giá bán sản phẩm

Giá bán sản phẩm là giá mà người bán thực hiện với người mua khi tiến hành trao đổi hàng hóa hoặc dịch vụ Tùy thuộc vào đặc trưng cung cầu của thị trường, người ta nghiên cứu hai cách tiếp cận trong định giá đó là định giá theo chi phí (cost – based approach) và định giá theo thị trường (market – based approach) Trong cách tiếp cận thứ hai (market – based approach) người ta phân biệt hai phương pháp định giá là định giá theo giá trị và định giá theo đối thủ cạnh tranh

3.4.1 Các cách định giá theo chi phí

3.4.1.1 Nguyên tắc chung định giá theo chi phí

Định giá theo chi phí là cách tiếp cận định giá trong đó người ta coi chi phí là nhân tố quyết định để đưa ra giá bán hàng hóa, dịch vụ Đây là phương pháp định giá đứng trên quan điểm của nhà sản xuất, tức là trên cơ sở chi phí và lãi mong muốn Khi đó cơ sở định giá chính là chi phí sản xuất liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của người bán Giá cả được xác định theo công thức:

P = C + 

Trong đó: P – giá bán sản phẩm hoặc dịch vụ (chưa có VAT);

C – chi phí bình quân hay giá đơn vị thực tế tính cho số lượng sản phẩm cung ứng, hoặc chi phí biến đổi đơn vị, hoặc chi phí biên;

 – lợi nhuận mà sản xuất tự đặt thường được lấy theo mức thông thường của ngành

Như vậy, Quá trình hình thành giá cả và sự trao đổi hàng hóa dịch vụ theo cách tiếp cận định giá theo chi phí sản xuất được biểu diễn theo sơ đồ sau:

Trang 36

35

Tuy nhiên định giá theo chi phí có nhược điểm là bỏ những xem xét quan trọng khác liên quan đến Quá trình hình thành giá cả như đặc điểm của lượng cầu hay bỏ qua đối thủ cạnh tranh Ngoài ra phương pháp này thường làm cho nhà sản xuất bị động, không tìm biện pháp giảm giá thành nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh Giá bán cao (hình thành từ lãi mong muốn của nhà sản xuất) sẽ gây thiệt hại cho người tiêu dùng

3.4.1.2 Các phương pháp định giá theo chi phí

Với nguyên tắc chung sử dụng trong cách tiếp cận giá theo chi phí rất đơn giản là giá được hình thành từ chi phí và lãi mong muốn Vì thế các phương pháp định giá theo chi phí

có sự khác biệt nhau là thành phần chi phí được sử dụng trong định giá là chi phí gỡ ?Theo đó

có bốn phương pháp định giá chi tiết theo chi phí như sau:

- Định giá theo chi phí bình quân cộng phụ giá

- Định giá theo chi phí biến đổi bình quân cộng phụ giá

- Định giá theo chi phí cận biên cộng phụ giá

- Định giá theo hiệu quả đầu tư mong đợi

a Phương pháp định giá theo chi phí bình quân cộng phụ giá

Đây là phương pháp được sử dụng thường xuyên nhất khi định giá theo chi phí Quy trình định giá bao gồm các bước sau:

- Tiến hành dự báo sản lượng hàng hóa dịch vụ có thể bán Q

- Ước tính chi phí bình quân tương ứng với sản lượng có thể bán AC

- Nghiên cứu và đưa ra tỷ lệ phụ giá hay tỷ lệ lãi mong đợi mc hay mp

- Trên cơ sở của các số liệu trên xác định giá bán P Vì thế công thức tính giá theo phương pháp chi phí bình quân cộng phụ giá cơ dạng:

P = AC x (1 + mc) hoặc P = AC/ (1 – mp)

Trong đó: AC – chi phí bình quân và được tính từ công thức AC = (TFC/Q) + AVC;

mc – tỷ lệ lãi mong đợi trên chi phí hay hệ số phụ giá trên chi phí;

mp – tỷ lệ lãi mong đợi trên giá bán hay hệ số phụ giá trên giá bán

b Phương pháp định giá theo chi phí biến đổi

Đây là phương pháp thường được sử dụng để xác định mức sản lượng hòa vốn Qhv, hay mức sản lượng mục tiêu Qmt (tức là mức sản lượng để đạt tới lợi nhuận mục tiêu õmt khi phần chi phí cố định đó hoàn toàn xác định) Vì thế, người ta căn cứ vào mức chi phí biến đổi bình quân AVC để xác định mức giá bán Biến số chi phí trong trường hợp này là chi phí biến đổi bình quân Quy trình định giá bao gồm các bước sau:

- Tiến hành ước tính mức chi phí biến đổi bình quân

- Nghiên cứu và đưa ra tỷ phụ giá mong đợi mc hay mp

Trang 37

36

- Trên cơ sở các số liệu trên xác định giá bán P Vì thế công thức tính giá theo phương pháp chi phí biến đổi bình quân cộng phụ giá cơ dạng:

P = AVC x (1+mc) hoặc P = AVC / (1 – mp)

Trong đó: AVC – chi phí bình quân

mc - tỷ lệ lãi mong đợi trên chi phí hay hệ số phụ giá trên chi phí;

mp – tỷ lệ lãi mong đợi trên giá bán hay hệ số phụ giá trên giá bán

c Phương pháp định giá theo chi phí biên cộng phụ giá

Đây là phương pháp mà nhà sản xuất lấy chi phí cận biên (MC) làm cơ sở cho việc tính giá Bằng việc sử dụng chi phí tăng thêm (chi phí cận biên) làm căn cứ, nhà sản xuất có thể bắt người tiêu dùng phải trả chính xác hơn phần chi phí do sự có mặt của họ gây ra cho mình Quy trình xác định giá tương tự như hai phương pháp ở trên bao gồm:

- Tính toán các thông số để xác định chi phí cận biên Tức là ước tính phần chi phí tăng thêm ÄTC khi sản xuất thêm một lượng ÄQ sản đơn vị sản phẩm

- Xác định mức chi phí cận biên MC = TC/ Q

- Nghiên cứu và đưa ra tỷ lệ phụ giá mong đợi mc hay mp

- Trên cơ sở các số liệu trên xác định giá bán P Công thức tính giá bán theo phương pháp chi phí biến đổi bình quân cộng phụ giá cơ dạng:

P = MC x (1 + mc) hoặc P = MC / (1 – mp)

Trong đó: MC – chi phí cận biên

d Phương pháp định giá theo hiệu quả đầu tư mong đợi

Đây là phương pháp mà nhà sản xuất căn cứ vào tỷ lệ lãi mong đợi trên vốn đầu tư mà họ

bỏ ra để định giá Khi đó, quy trình định giá bao gồm các bước sau:

3.4.2 Cách tiếp cận giá theo thi trường

3.4.2.1 Nguyên tắc chung định giá theo thị trường

Khác với cách tiếp cận giá theo chi phí là dựa trên yếu tố mà doanh nghiệp đó hiểu rõ, phương pháp định giá theo thị trường doanh nghiệp căn cứ theo mặt bằng giá chung của thị trường là cơ sở cho các tính toán mức giá bán sản phẩm của mình Mặt bằng giá phụ thuộc

Trang 38

37

tình hình thị trường, vào đối thủ cạnh tranh, vào khách hành khi họ thức hiện các so sánh về chất lượng, vêg giá trị, về lợi ích của sản phẩm mà doanh nghiệp cung cấp với những sản phẩm cạnh tranh khác Như vậy, Quá trình hình thành giá cả và sự trao đổi hàng hóa dịch vụ theo cách tiếp cận giá theo thị trường được biểu diễn theo các sơ đồ sau:

Ứng với mỗi sơ đồ định giá ở trên, định giá theo thị trường tuân thủ theo quan điểm marketing về định giá trị (sơ đồ trên) hoặc quan điểm cạnh tranh trong định giá Vì thế, định giá theo thị trường được chia thành hai hướng tiếp cận chính: cách tiếp cận định giá theo giá trị (Vulue based approach) và tiếp cận định gí theo đối thủ cạnh tranh (competi tion- based approach)

3.4.2.2 Cách tiếp cận định giá theo giá trị

Định giá theo giá trị là cách tiếp cận trong đó nhận thức của khách hàng về chuỗi chất lượng – giá trị - lợi ích của sản phẩm của doanh nghiệp trong sự so sánh với những sản phẩm cạnh tranh khác là yếu tố quyết định để doanh nghiệp đưa ra mức giá bán Như vậy, xét trên quan điểm marketing, giá bán theo giá được cân nhắc cùng với những biến số marketing – mix khác mà doanh nghiệp cần đo lường trước khi thiết kế sản phẩm cũng như xây dựng chương trình marketing

Với cách tiếp cận như vậy, định giá theo giá trị có ưu điểm lớn nhất là nó tuân thủ tuyệt đối quan điểm marketing (thị trường) về định giá và giá cả được đưa ra theo phương pháp này có

xu hướng hợp lý hơn Tuy nhiên định giá theo giá trị cũng có những hạn chế nhất định, đặc biệt là việc xác định chính xác những đánh giá của khách hàng là rất khó khăn và rất mất thời gian trong điều kiện kinh doanh nhiều chủng loại sản phẩm

Định giá theo giá trị có hai phương pháp định giá: phương pháp định giá theo giá trị tăng thêm (added value pricing) và phương pháp định giá cung cấp nhiều giá trị

a Phương pháp định giá theo giá trị tăng thêm

Quy trình của phương pháp định giá theo giá trị tăng thêm hay giá trị cảm nhận gồm

Trang 39

VA, VB là giá trị tăng thêm/ giá trị cảm nhận (tổng lợi ích tăng thêm / cảm nhận) của sản phẩm A và sản phẩm B

Bài toán định giá theo giá trị tăng thêm được minh họa bằng ví dụ sau: Doanh nghiệp xem xét đưa ra giá bán sản phẩm của mình cao hơn giá bán của đối thủ 1.200.000 đồng thông qua việc đánh giá và thiết kế giá trị sản phẩm của doanh nghiệp và sản phẩm của đối thủ cạnh tranh như sau:

Thuộc tính SP tiêu chuẩn SP của doanh nghiệp Giá trị tăng thêm

Pháp/ Anh/ Việt

100.000

b Phương pháp định giá cung cấp nhiều giá trị

Phương pháp định giá cung cấp nhiều giá trị cũng nhằm trong nhóm phương pháp tiếp cận định giá theo giá trị Đây là phương pháp định giá linh hoạt mà cơ sở của nó là giá của sản phẩm phải được xác định sao cho tỷ số chất lượng cảm nhận trên giá bán là lớn hơn so với tỷ số này của các đối thủ cạnh tranh Vì thế quy trình định giá cũng giống như quy trình của phương pháp định giá theo giá trị tăng thêm

Đây là phương pháp định giá linh động Như các nhà bán lẻ, áp dụng phương pháp này

họ có thể thực hiện một số kiểu định giá nhằm giành những ưu thế trong cạnh tranh như: định giá thấp mọi ngày hay định giá lúc cao lúc thấp

3.4.2.3 Cách tiếp cận định giá theo đối thủ cạnh tranh

Định giá theo đối thủ cạnh tranh là cách tiếp cận trong đó giá của những sản phẩm cạnh tranh tương tự là yếu tố quyết định trong việc xác định giá sản phẩm của doanh nghiệp Đây là trường hợp điển hình của thị trường độc quyền nhóm kinh tế học khi thị trường của

Trang 40

39

một hàng hóa hoặc dịch vụ cung ứng bởi một số ít các nhà sản xuất, khi đó các quyết định về mức giá và sản lượng cung ứng của các nhà sản xuất trong thị trường độc quyền nhóm là quyết định phụ thuộc lẫn nhau và ở đó luôn tiềm ẩn các quyết định dạng “ tiến thoái lưỡng nam” tức là các quyết định có tính chất hợp tác sẽ mang lại lợi ích chung cho các nhà độc quyền nhóm lại là các quyết định không bền vững như quyết định phi hợp tác mà các nhà độc quyền nhóm đều gặp bất lợi lại bền vững hơn

Như vậy, với phương pháp định giá này ưu điểm lớn nhất là giá cả được hình thành dựa trên sự lựa chọn cơ tính “ tập thể” (lựa chọn phụ thuộc lẫn nhau) và sự chấp nhận hiện tại của khách hàng Ngoài ra định giá theo đối thủ cạnh tranh không cần tính toán nhiều khi giá trị thị trường thay đổi Tuy nhiên định giá theo đối thủ cạnh tranh có nhược điểm là giá được hình thành từ quyết định của đôi thủ cạnh tranh Việc theo sau đam đông sẽ dẫn đến việc bị động và có xu hướng chỉ dành một lợi nhuận không lớn Ngoài ra định giá theo đối thủ cạnh tranh không khuyến khích tư duy định theo khách hàng và cạnh tranh phi giá

Tiếp cận đối thủ cạnh tranh có ba phương pháp định giá: phương pháp định giá theo giá hiện hành (going – rate pricing), phương pháp định giá trong đấu thầu (sealed bid pricing), phương pháp định giá bằng đấu giá (open auction pricing)

a Phương pháp định giá theo giá hiện hành

Định giá theo giá hiện hành là phương pháp mà nhà sản xuất căn cứ vào mức giá hiện hành của các đối thủ trên thị trường để đưa ra mức giá của mình và thực hiện việc điều chỉnh giá cả sản phẩm của mình theo xu thế thích hợp trước những thay đổi của giá cả hiện hành Quy trình định giá của phương pháp này như sau:

- Doanh nghiệp tiến hành việc phân tích đối thủ liên quan đến mức giá và mức sản lượng mà các đối thủ sẽ áp dụng và sẽ cung ứng trên thị trường

- Thực hiện việc phân tích bản thân để trên cơ sở của mức giá và mức sản lượng cung ứng định giá cho sản phẩm và mức sản lượng cung ứng của mình Mức giá mà doanh nghiệp đưa ra có thể thấp hơn, bằng hoặc cao hơn mức giá trung bình của các đối thủ tùy theo hiện trạng thị trường và năng lực của doanh nghiệp

- Thực hiện việc điều chỉnh giá sau những phản ứng từ phía các đối thủ cạnh tranh khác

Việc định giá theo phương pháp giá hiện hành cũng khuyến khích người bán tích cực hơn trong các hoạt động giảm giá thành sản phẩm Tuy nhiên phương pháp định giá này tạo

ra sức ép đối với nhà sản xuất khi giá hiện hành thấp hơn

b Phương pháp định giá trong đấu thầu

Ngày đăng: 24/10/2017, 13:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w