1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phân tích các yếu tố tác động đến phân bổ ngân sách có mục tiêu của chính quyền trung ương, từ đó rút ra các bái học kinh nghiệm cho việt nam

63 373 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 7,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cùng với mục tiêu trên, trong bối cảnh dư luận đang phản ứng mạnh mẽ trước những dự án đầu tư công kém hiệu quả từ nguồn ngân sách hỗ trợ có mục tiêu và những tiêu cực trong việc phân bổ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CHƯƠNG TRÌNH GIẢNG DẠY KINH TẾ FULBRIGHT

-

THẠCH PHƯỚC HÙNG

PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN PHÂN BỔ NGÂN SÁCH CÓ MỤC TIÊU CỦA CHÍNH QUYỀN TRUNG ƯƠNG, TỪ ĐÓ RÚT RA CÁC BÀI HỌC

KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CHƯƠNG TRÌNH GIẢNG DẠY KINH TẾ FULBRIGHT

-

THẠCH PHƯỚC HÙNG

PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN PHÂN BỔ NGÂN SÁCH CÓ MỤC TIÊU CỦA CHÍNH QUYỀN TRUNG ƯƠNG, TỪ ĐÓ RÚT RA CÁC BÀI HỌC

KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan luận văn này hoàn toàn do tôi thực hiện Các đoạn trích dẫn và số liệu sử dụng trong luận văn đều được dẫn nguồn và có độ chính xác cao nhất trong phạm vi hiểu biết của tôi Luận văn này không nhất thiết phản ánh quan điểm của Trường Đại học Kinh

tế Thành phố Hồ Chí Minh hay Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright

TP Hồ Chí Minh, ngày 04 tháng 08 năm 2017

Tác giả

Thạch Phước Hùng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN Trước tiên tôi xin gởi lời cám ơn quý thầy cô, nhân viên của Chương trình giảng dạy Kinh

tế Fulbright đã tạo điều kiện, động viên, giúp đỡ tôi trong thời gian hai năm học tập ở chương trình

Để hoàn thành luận văn này, tôi xin gửi lời cám ơn chân thành đến thầy Huỳnh Thế Du, là người hướng dẫn, động viên và khích lệ để tôi thực hiện luận văn Tôi cũng xin gửi lời cảm

ơn chân thành đến thầy Vũ Thành Tự Anh đã quan tâm, hỗ trợ và cho những lời khuyên hữu ích trong quá trình làm luận văn

Cuối cùng tôi xin cám ơn bạn Quách Dương Tử, bạn Đặng Thị Ánh Dương và bạn Nguyễn Thị Hồng Dung đã hỗ trợ tôi rất nhiều trong quá trình làm luận văn

Một lần nữa, xin chân thành cám ơn tất cả mọi người

TP Hồ Chí Minh, ngày 04 tháng 08 năm 2017

Tác giả

Thạch Phước Hùng

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

TÓM TẮT iii

MỤC LỤC iv

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC BẢNG vii

DANH MỤC HÌNH viii

CHƯƠNG 1 - Giới thiệu 1

1.1 Bối cảnh nghiên cứu 1

1.2 Câu hỏi nghiên cứu 2

1.3 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 2

1.5 Phương pháp nghiên cứu và cơ sở dữ liệu 3

1.6 Cấu trúc luận văn dự kiến 3

CHƯƠNG 2 – CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH CHUYỂN GIAO NGÂN SÁCH CỦA TRUNG QUỐC VÀ VIỆT NAM 4

2.1 Chuyển giao ngân sách liên chính quyền 4

2.1.1 Tổng quan 4

2.1.2 Phân loại 5

2.1.2.1 Chuyển giao không điều kiện 5

2.1.2.2 Chuyển giao có điều kiện (chuyển giao có mục tiêu đặc biệt) 6

2.1.3 Mục tiêu của chuyển giao ngân sách liên chính phủ theo lý thuyết liên bang 10

2.1.3.1 Cân bằng dọc 11

2.1.3.2 Cân bằng ngang 11

2.1.3.3 Ngoại tác 11

2.1.4 Mục tiêu chuyển giao ngân sách theo quan điểm kinh tế chính trị 11

2.2Đặc điểm mô hình kinh tế - chính trị của Việt Nam 12

2.3 Hệ thống phân bổ ngân sách của Việt Nam 12

2.4 Các yếu tố tác động đến quyết định phân bổ ngân sách 13

Trang 6

TÓM TẮT Ngân sách là nguồn lực chính để phát triển kinh tế xã hội, cung cấp hàng hóa công cho người dân, tuy nhiên nhiều địa phương thu không bù đủ chi nên luôn phải dựa vào nguồn ngân sách hỗ trợ từ trung ương Tuy nhiên, do sự không minh bạch và thiếu hiệu quả trong việc xây dựng mô hình phân bổ ngân sách nên có những tiêu cực, kém hiệu quả và thiếu công bằng trong quá trình phân bổ Đây là chủ đề được nhiều học giả quốc tế nghiên cứu, đánh giá để tìm ra những yếu tố tác động đến quyết định phân bổ ngân sách của chính quyền trung ương

Cùng với mục tiêu trên, trong bối cảnh dư luận đang phản ứng mạnh mẽ trước những dự án đầu tư công kém hiệu quả từ nguồn ngân sách hỗ trợ có mục tiêu và những tiêu cực trong việc phân bổ ngân sách như chạy dự án, vận động hành lang , tác giả tiến hành nghiên cứu các yếu tố tác động đến quyết định phân bổ ngân sách có mục tiêu của chính quyền trung ương Việt Nam trong giai đoạn 2005 - 2014 Đồng thời, thông qua phân tích và so sánh kết quả nghiên cứu với các nghiên cứu trước đó về mô hình phân bổ ngân sách trung ương của chính quyền Trung Quốc để rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Kết quả nghiên cứu của tác giả cho thấy có bốn yếu tố chính ảnh hưởng đến quyết định phân bổ ngân sách có mục tiêu của chính quyền trung ương bao gồm hố cách tài khóa, thu nhập bình quân đầu người, tỷ lệ người dân tộc thiểu số và việc có người địa phương có ảnh hưởng ở chính quyền trung ương Bên cạnh đó, bài học rút ra sau khi so sánh với các nghiên cứu của Trung Quốc là phải hướng mục tiêu hiệu quả, tăng cường phân bổ ngân sách cho những địa phương có hiệu quả trong việc phát triển kinh tế, xã hội và thu ngân sách

Khuyến nghị chính sách cho chính quyền Việt Nam là cần phải thiết kế mô hình phân bổ ngân sách có mục tiêu bao gồm cả điều kiện đầu vào và điều kiện đầu ra để tăng tính hiệu quả Đồng thời xây dựng các quy định, chính sách để minh bạch hóa quá trình ra quyết định phân bổ ngân sách có mục tiêu cũng nhưng tăng cường trách nhiệm giải trình của các

cá nhân phụ trách việc ra quyết định ấy

Trang 7

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm quốc nội

REM Random Effect Model Mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên

WTO World Trade Organization Tổ chức Thương mại Thế giới

Trang 8

CHƯƠNG 3 - ƯỚC LƯỢNG CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CHUYỂN GIAO

NGÂN SÁCH CÓ MỤC TIÊU 18

3.1 Các giả thuyết nghiên cứu 18

3.2 Nguồn dữ liệu nghiên cứu 19

3.3 Đặc điểm của mẫu nghiên cứu 19

3.4 Mô hình hồi quy 21

3.4.1 Biến phụ thuộc 22

3.4.2 Biến độc lập 23

3.4.3 Biến kiểm soát và biến tương tác 24

3.5 Kết quả hồi quy 27

CHƯƠNG 4 - PHÂN TÍCH VÀ SO SÁNH 30

4.1 Phân tích kết quả hồi quy 30

4.2 So sánh kết quả nghiên cứu với các nghiên cứu trước đó 32

CHƯƠNG 5 - KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH 33

5.1 Kết luận 33

5.2 Khuyến nghị chính sách 33

5.3 Hạn chế của đề tài 34

TÀI LIỆU THAM KHẢO 35

PHỤ LỤC 39

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1: Phân bố của mẫu quan sát 20

Bảng 3.2: Đặc điểm nổi bật trong các thời đoạn nghiên cứu 21

Bảng 3.3: Tóm lược các biến độc lập đưa vào mô hình 26

Bảng 3.4: Kết quả ước lượng mô hình hiệu ứng cố định FE 28

Trang 10

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1: Ảnh hưởng của chuyển giao không điều kiện 6

Hình 2.2: Ảnh hưởng của chuyển giao có điều kiện không yêu cầu đối ứng 8

Hình 2.3: Ảnh hưởng của chuyển giao có điều kiện có yêu cầu đối ứng mở 9

Hình 2.4: Ảnh hưởng của chuyển giao có điều kiện có yêu cầu đối ứng đóng 10

Hình 3.1: Mô hình nghiên cứu đề xuất 19

Trang 11

CHƯƠNG 1 - GIỚI THIỆU 1.1 Bối cảnh nghiên cứu

Theo Báo cáo tổng kết, đánh giá tình hình thực thi luật ngân sách nhà nước giai đoạn 2002

- 2015 cho rằng: “Nguyên tắc về số bổ sung có mục tiêu từ ngân sách trung ương cho ngân sách địa phương chưa được quy định đầy đủ, cụ thể các tiêu chí cho từng mục tiêu được ngân sách trung ương hỗ trợ, tạo cơ chế “xin cho”, dẫn đến vai trò chủ đạo của ngân sách trung ương bị ảnh hưởng do phải đáp ứng các yêu cầu chi bổ sung có mục tiêu ngày càng tăng của ngân sách địa phương”1

Tổng hợp từ báo cáo quyết toán hàng năm của Bộ Tài chính về chi ngân sách nhà nước giai đoạn 2004 – 2013 cho thấy chi bổ sung có mục tiêu ngân sách trung ương cho ngân sách địa phương có xu hướng tăng nhanh, cụ thể là chi bổ sung có mục tiêu năm 2004 đến năm

2014, sau 11 năm, tăng 17.190 tỷ đồng lên 105.648 tỷ đồng

Đồng thời, báo cáo trên cũng chỉ ra rằng : “ thực tế hiện nay các khoản bổ sung có mục tiêu (vốn đầu tư) hàng năm lớn hơn số chi đầu tư trong cân đối ngân sách địa phương, có những dự án ngân sách trung ương bổ sung cho ngân sách địa phương với mức thấp dẫn tới mất chủ động cho ngân sách địa phương, địa phương trông chờ ỷ lại ngân sách cấp trên; đồng thời, ngân sách trung ương không có nguồn lực để tập trung đầu tư các công trình, dự

án lớn thuộc nhiệm vụ của ngân sách trung ương, dẫn đến vai trò chủ đạo của ngân sách trung ương ngày càng bị thu hẹp ”

Điều đó cho thấy nhận xét của Jonathan Haughton trong “Việt Nam cải cách kinh tế theo hướng rồng bay” năm 1994 cho rằng: “Phần lớn sự phân bổ này được tiến hành một cách chủ quan, và được quyết định bởi khả năng của các địa phương trong việc thương lượng với Chính phủ trung ương hơn là bởi các nhu cầu khách quan của địa phương đó”2 đến giờ vẫn nóng hổi tính thời sự

Bên cạnh đó, theo quan điểm của tác giả Võ Trí Hảo đăng trên báo TBKTSG thì cách thức phân bổ ngân sách bổ sung cân đối và bổ sung có mục tiêu hiện nay tạo nên sự kém hiệu quả và thiếu sự công bằng giữa các địa phương, cụ thể là “ đối với một số địa phương, hàng chục năm luôn nằm trong tình trạng thu không đủ chi, luôn được (trợ cấp) bổ sung

1 Chính phủ, Báo cáo tổng kết, đánh giá tình hình thực hiện Luật ngân sách nhà nước 2002 - 2015

2 Jonathan Haughton, Việt Nam cải cách kinh tế theo hướng rồng bay, NXB Chính trị Quốc gia 1994

Trang 12

cân đối ngân sách, thì mối quan tâm là đi xin, thay vì chú tâm cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư, phát triển ”3

Như vậy, vấn đề đặt ra là những yếu tố nào tác động đến quyết định phân bổ ngân sách trung ương của chính phủ Việt Nam và liệu các yếu tố này có thay đổi theo bối cảnh kinh

tế chính trị hay không Trong đó, vấn đề chính yếu được quan tâm là ngân sách hỗ trợ có mục tiêu cho ngân sách địa phương bởi hiện nay luật định về việc phân bổ ngân sách này chưa rõ ràng, chưa cụ thể và có nhiều khoảng không cho sự thỏa hiệp chính trị

1.2 Câu hỏi nghiên cứu

1 Những yếu tố nào tác động đến việc chuyển giao ngân sách chi bổ sung có mục tiêu từ Trung ương cho các địa phương ở Việt Nam và những thay đổi của chúng trong giai đoạn 2005-2014 như thế nào?

2 Những bài học rút ra cho Việt Nam sau khi phân tích các yếu tố tác động đến chuyển giao ngân sách chi bổ sung có mục tiêu là gì?

1.3 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu của nghiên cứu này là xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chi bổ sung

có mục tiêu từ ngân sách trung ương cho ngân sách địa phương Từ đó đánh giá xem các yếu tố này có hướng đến mục tiêu hiệu quả và công bằng giữa các địa phương hay không,

có thay đổi theo bối cảnh kinh tế chính trị xã hội hay không Đồng thời phân tích các yếu

tố tác động đó rút ra bài học cho Việt Nam và khuyến nghị chính sách phù hợp

1.4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là các yếu tố tác động đến quyết định phân bổ ngân sách có mục tiêu của chính quyền trung ương Việt Nam và thông qua phân tích các yếu tố đó để rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam Phạm vi nghiên cứu là các báo cáo quyết toán về phân bổ ngân sách của chính quyền trung ương cho chính quyền địa phương, các cá nhân và mối quan hệ ảnh hưởng đến các quyết định phân bổ ngân sách trên, các yếu tố kinh tế, xã hội và

an ninh quốc phòng có thể ảnh hưởng đến quyết định phân bổ ngân sách của 46 tỉnh thành của Việt Nam trong thời đoạn 10 năm (2005 – 2014)

3 http://www.thesaigontimes.vn/134282/Do-co-che-bao-cap-ngan-sach.html

Trang 13

1.5 Phương pháp nghiên cứu và cơ sở dữ liệu

Khung phân tích chủ yếu dựa trên lý thuyết về phân bổ ngân sách liên chính quyền và các nghiên cứu trước đó về các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định phân bổ, chuyển giao ngân sách cho chính quyền địa phương của các tác giả trên thế giới cho các quốc gia mà họ nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu được lựa chọn là phương pháp định lượng, mô hình kinh tế lượng

dự kiến được lựa chọn là mô hình những ảnh hưởng cố định (FEM) và mô hình những ảnh hưởng ngẫu nhiên (REM) cho dữ liệu bảng

Dữ liệu được sử dụng bao gồm tổng hợp báo cáo quyết toán ngân sách của Bộ Tài chính công bố, niên giám thống kê của 63 tỉnh thành từ năm 2005 – 2014; lý lịch chính trị của các Ủy viên Bộ chính trị, Thành viên nội các Chính phủ các nhiệm kỳ trong giai đoạn trên; bản đồ về vị trí địa lý và đặc điểm tự nhiên của 63 tỉnh thành

1.6 Cấu trúc luận văn dự kiến

Luận văn bao gồm 5 chương: Chương 1 là phần giới thiệu Chương 2 là phần lược khảo các nghiên cứu trước đó, đưa ra khung lý thuyết; trình bày các quy định, luật, nghị định và

hệ thống phân bổ ngân sách của Việt Nam Trong phần này, sau khi nghiên cứu các nghiên cứu trước đó sẽ đề xuất mô hình hồi quy và các biến đại diện cho mục tiêu nghiên cứu Chương 3 là phần trình bày mô hình kinh tế lượng những ảnh hưởng cố định (FEM) và mô hình những ảnh hưởng ngẫu nhiên (REM) với các dữ liệu đã thu thập và tổng hợp từ 46 tỉnh thành trong mười năm (2005 – 2014) Chương 4 là phần đưa ra phân tích kết quả tính toán hồi quy của mô hình kinh tế lượng, từ đó xác định các yếu và trọng số của chúng tác động đến quyết định phân bổ ngân sách; phân tích, so sánh các yếu tố tác động để rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam Chương 5 là phần kết luận và đưa ra các khuyến nghị chính sách

Trang 14

CHƯƠNG 2 - CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH CHUYỂN GIAO NGÂN SÁCH

CỦA TRUNG QUỐC VÀ VIỆT NAM 2.1 Chuyển giao ngân sách liên chính quyền

2.1.1 Tổng quan

Theo Roy Bahl (2000) thì chuyển giao ngân sách liên chính quyền giữ vai trò nền tảng trong cơ cấu tài chính của chính quyền địa phương ở các nước đang phát triển, nó là những cấu phần cho phép chính quyền trung ương kiểm soát hệ thống tài chính quốc gia bằng cách thiết lập các kênh để cung cấp tài chính cho chính quyền địa phương Đồng thời nó tạo ra động cơ khuyến khích và cơ chế trách nhiệm giải trình, ảnh hưởng đến sự quản lý tài khóa, tính công bằng và hiệu quả của hàng hóa công cũng như trách nhiệm giải trình đối với công dân của chính quyền địa phương4

Còn Serdar Yilmaz (2003) thì cho rằng chuyển giao ngân sách liên chính quyền là một cấu phần thiết yếu của hệ thống tài khóa liên chính quyền Ngân sách chuyển giao của chính quyền trung ương chiếm tỷ trọng rất lớn trong cơ cấu ngân sách của chính quyền địa phương vì vậy cách thức chuyển giao ngân sách liên chính quyền ảnh hưởng rất lớn đến tính công bằng và hiệu quả trong việc cung cấp hàng hóa công cũng như tình hình sức khỏe tài chính ở chính quyền địa phương5

Đồng thời, động cơ và cách thức chuyển giao của chính quyền trung ương ảnh hưởng sâu sắc đến sự phân bổ hàng hóa công, kết quả kinh tế vĩ mô và các kết quả về chính trị của các quốc gia (Treisman 1999; Oates 1999: Rodden và Wibbels 2002) Mặt khác, chuyển giao ngân sách liên chính quyền còn là một sự thỏa hiệp mà trong đó cho phép chính quyền trung ương nắm quyền kiểm soát các chính quyền địa phương thông qua việc nắm quyền quyết định phân bổ nguồn lực tài chính từ ngân sách của chính quyền trung ương cho ngân sách của các chính quyền địa phương6

Tuy nhiên, theo V.Shih, LQ.Zhang và M.Liu (2010) thì đối với các quốc gia có mô hình chính trị như Trung Quốc thì động cơ khuyến khích cho việc chuyển giao liên chính quyền đơn thuần là các mục tiêu chính trị như: ngăn chặn sự nổi dậy của dân chúng, đảm bảo

4 Anwar Shah , A Practitioner’s Guide to Intergovernmental Fiscal Transfers

5 Serdar Yilmaz, Intergovernmental Transfers: Concepts and Policy Issues

6 Roy Bahl, Intergovernmental Transfers in Developing and Transition Countries:Principles and Practice

Trang 15

chính quyền địa phương đứng về phía chế độ chống lại phe đối lập, ban thưởng cho những vùng phát triển nhanh và đảm bảo, nâng cao các tiêu chuẩn về giáo dục

Như vậy có thể nói, chuyển giao ngân sách liên chính quyền có các mục đích cơ bản là đảm bảo tính công bằng về hưởng thụ hàng hóa công của công dân các địa phương, đảm bảo tính hiệu quả của việc chuyển giao ngân sách liên chính quyền và hướng đến các mục tiêu chính trị nhằm bảo vệ chế độ, bảo vệ quyền lực chính trị của chính quyền trung ương

2.1.2 Phân loại

Theo Anwar Shah thì chuyển giao ngân sách liên chính quyền có thể được chia thành hai loại đó là chuyển giao không điều kiện (chuyển giao tổng quát) và chuyển giao có điều kiện (chuyển giao có mục tiêu đặc biệt)7:

2.1.2.1 Chuyển giao không điều kiện

Chuyển giao không điều kiện cung cấp ngân sách hỗ trợ cho các mục đích tổng quát, không kèm theo các ràng buộc và thường được ủy quyền cho chính quyền địa phương tự chủ trong việc phân bổ chi tiêu cho hàng hóa và dịch vụ công cụ thể Mục tiêu của phương thức chuyển giao không điều kiện là tăng cường khả năng chi tiêu của cính quyền địa phương nhưng vẫn đảm bảo duy trì sự tự chủ và đảm bảo tính công bằng của các địa phương

Cụ thể, chuyển giao không điều kiện đơn giản chỉ làm tăng ngân sách (nguồn lực) của đối tượng được nhận (chính quyền địa phương) nên chỉ gây ra hiệu ứng thu nhập như hình bên dưới (Hình 2.1) Chuyển giao không điều kiện làm cho đường ngân sách AB dịch sang bên phải bằng nguồn lực được chuyển giao (AD = BC) lên vị trí đường CD Như vậy, chuyển giao không điều kiện giúp tăng độ thỏa dụng của những công dân ở địa phương được nhận chuyển giao do thụ hưởng hàng hóa và dịch vụ công nhiều hơn do nguồn lực được chuyển giao nhưng vẫn đảm bảo theo mô hình tiêu dùng ban đầu vì chuyển giao không có điều kiện không gây ra hiệu ứng thay thế, do giá tương đối của các loại hàng hóa công không thay đổi, nên không làm biến dạng hành vi của chính quyền địa phương hay công dân thụ hưởng Có thể nói, chuyển giao không điều kiện đảm bảo tính hiệu quả vì không gây ra tổn thất vô ích

7 Anwar Shah , A Practitioner’s Guide to Intergovernmental Fiscal Transfers

Trang 16

Hình 2.1: Ảnh hưởng của chuyển giao không điều kiện

(Nguồn: Shah 1994b)

2.1.2.2 Chuyển giao có điều kiện (chuyển giao có mục tiêu đặc biệt)

Chuyển giao điều kiện hướng đến tạo động cơ khuyến khích để chính quyền địa phương đảm đương một chương trình hay hoạt động nào đó mà chính quyền trung ương mong muốn thực hiện Thông thường, chuyển giao có điều kiện chỉ nhắm đến những đối tượng chi tiêu cụ thể cho những hàng hóa công riêng biệt mà chính quyền trung ương muốn chính quyền địa phương đảm nhận cung cấp

Những tiêu chí để xác định đối tượng chi tiêu sẽ được chuyển giao có điều kiện chính là điều kiện đầu vào để chính quyền trung ương lựa chọn và hình thức chuyển giao này được gọi là chuyển giao có điều kiện dựa vào đầu vào Ngoài ra, chuyển giao có điều kiện có thể yêu cầu các ràng buộc về kết quả đầu ra mong muốn cho việc việc chuyển giao ngân sách, hình thức này được gọi là chuyển giao có điều kiện dựa vào đầu ra Chuyển giao có điều kiện dựa vào đầu ra thường mang tính kém năng suất và tùy nghi trong khi chuyển giao có

Trang 17

điều kiện dựa vào đầu ra có thể đạt được mục tiêu của chính quyền trung ương nhưng vẫn duy trì tính tự chủ cho chính quyền địa phương8

Chuyển giao có điều kiện đôi khi kết hợp với yêu cầu về ngân sách đối ứng của chính quyền địa phương Nghĩa là chính quyền trung ương chỉ hỗ trợ một tỷ lệ nhất định trong ngân sách chi tiêu cho một loại hàng hóa công nào đó của chính quyền địa phương, phần còn lại chính quyền địa phương phải dùng nguồn lực của mình tài trợ cho chi tiêu đó Hình thức chuyển giao có điều kiện có yêu cầu đối ứng cũng được phân biệt thành hai loại cụ thể sau Thứ nhất, chuyển giao có điều kiện với yêu cầu đối ứng mở, trong đó với tỷ lệ nhất định, chính quyền trung ương tài trợ cho mọi mức độ chi tiêu của hàng hóa công được chính quyền trung ương hỗ trợ Thứ hai, chuyển giao có điều kiện với yêu cầu đối ứng đóng, trong đó với một tỷ lệ cụ thể, chính quyền trung ương chỉ tài trợ cho một mức độ chi tiêu nhất định của hàng hóa được chính quyền trung ương hỗ trợ

Mức độ ảnh hưởng của các hình thức chuyển giao có điều kiện với yêu cầu khác nhau đến tính hiệu quả của việc chuyển giao ngân sách (tổn thất vô ích của việc chuyển giao ngân sách gây ra), cụ thể:

Chuyển giao có điều kiện không yêu cầu đối ứng: Như trong hình 2.2 bên dưới, khi có

chuyển giao có điều kiện nhưng không yêu cầu đối ứng, đường ngân sách AB dịch lên thành đường ADC, khi đó lượng hàng hóa công được hỗ trợ ít nhất cũng được thu được ở mức OE Hình thức này chỉ gây ra biến dạng hành vi do hiệu ứng thay thế (giá tương đối của hàng hóa được hỗ trợ giảm) trong giới hạn số lượng hàng hóa công được trợ cấp (OE), ngoài giới hạn đó thì nó chỉ gây ra hiệu ứng thu nhập và không gây tổn thất vô ích do biến dạng hành vi

8 Anwar Shah , A Practitioner’s Guide to Intergovernmental Fiscal Transfers

Trang 18

Hình 2.2: Ảnh hưởng của chuyển giao có điều kiện không yêu cầu đối ứng

(Nguồn: Shah 1994b)

Chuyển giao có điều kiện với yêu cầu đối ứng mở: Như trong hình 2.3, đường AB chỉ báo

cho đường ngân sách trường hợp không có chuyển giao; đường AC chỉ báo cho đường ngân sách trường hợp chuyển giao có kiều kiện với tỷ lệ chuyển giao là 25%, đối ứng của chính quyền địa phương là 75% Như vậy, khi có chuyển giao có điều kiện và có yêu cầu đối ứng mở thì đường ngân sách dịch chuyển từ AB lên AC Khi đó, chuyển giao có điều kiện có yêu cầu đối ứng mở gây ra hai hiệu ứng, thứ nhất là hiệu ứng thu nhập (do được chuyển giao thêm nguồn lực) và thứ hai là hiệu ứng thay thế (do giá tương đối của hàng hóa được hỗ trợ giảm giá một cách tương đối so với hàng hóa khác) Cả hai hiệu ứng đều làm cho việc sử dụng hàng hóa công được hỗ trợ tăng thêm, tuy nhiên nó làm biến dạng hành vi so với mô hình tiêu dùng ban đầu, vì vậy gây ra tổn thất vô ích, dẫn đến giảm tính hiệu quả của hình thức chuyển giao này

B C Hàng hóa công được hỗ trợ

Hàng hóa công khác

E

O

Trang 19

Hình 2.3: Ảnh hưởng của chuyển giao có điều kiện có yêu cầu đối ứng mở

(Nguồn: Shah 1994b; McMillan, Shah, và Gillen 1980)

Chuyển giao có điều kiện với yêu cầu đối ứng đóng: Như trong hình 2.4, đường AB chỉ

báo đường ngân sách trong cho trường hợp không có chuyển giao, đường ACD chỉ báo cho đường ngân sách trong trường hợp chuyển giao có điều kiện với yêu cầu đối ứng đóng 33% Như vậy, khi có chuyển giao đường ngân sách AB dịch chuyển lên đường ngân sách ACD Trong đó, đoạn AC có độ dốc lớn AB, trong khi đoạn CD có độ dốc bằng đoạn CD, điều đó cho thấy trong khoản giới hạn ngân sách dành cho lượng hàng hóa công được hỗ trợ (OF), khoản chuyển giao gây hai hiệu ứng, bao gồm hiệu ứng thu nhập (tăng nguồn lực) và hiệu ứng thay thế (giá tương đối của hàng hóa được hỗ trợ giảm) do đó gây ra tổn thất vô ích Còn đoạn CD có độ dốc bằng với đoạn AB, chỉ nằm ở vị trí cao hơn về phía bên phải cho thấy chỉ có hiệu ứng thu nhập do chuyển giao làm gia tăng nguồn lực

Như vậy, mỗi hình thức chuyển giao khác nhau sẽ tạo ra sự công bằng và hiệu quả khác nhau đối với việc chuyển giao ngân sách liên chính quyền Cụ thể là chuyển giao có đối ứng mở gây ra tổn thất vô ích lớn nhất và khó kiểm soát mức độ nguồn lực chuyển giao cho chính quyền địa phương, trong khi chuyển giao có đối ứng đóng và chuyển giao có

B C Hàng hóa công được hỗ trợ

A

Hàng hóa công khác

O

Trang 20

điều kiện không đối ứng gây ra tổn thất vô ích ở mức độ có thể kiểm soát được và chính quyền trung ương kiểm soát được nguồn lực chuyển giao Do đó, tùy vào mục tiêu và động

cơ mà chính quyền trung ương lựa chọn các hình thức chuyển giao tương ứng

Hình 2.4: Ảnh hưởng của chuyển giao có điều kiện có yêu cầu đối ứng đóng

(Nguồn: )

2.1.3 Mục tiêu của chuyển giao ngân sách liên chính phủ theo lý thuyết liên bang

Phần này là cơ sở để tác giả đưa ra các giả thuyết về các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định chuyển giao ngân sách liên chính quyền của chính quyền trung ương Vì tương ứng với những mục tiêu khác nhau, chính quyền trung ương sẽ có cách thức phân bổ khác nhau Theo Serdar Yilmaz (2003), chính quyền trung ương quyết định chuyển giao ngân sách hướng đến các mục tiêu sau9:

Trang 21

2.1.3.1 Cân bằng dọc

Nguyên nhân của sự mất mất cân bằng dọc là do hố cách tài khóa hay là nguồn thu của chính quyền địa phương không bù đắp nổi nhu cầu chi tiêu của chính quyền địa phương Như vậy, để bù đắp cho khoản thiếu hụt này thì chính quyền trung ương phải dùng chuyển giao ngân sách liên chính quyền hoặc tăng chia sẻ nguồn thu hay tăng quyền thu thuế cho chính quyền địa phương Việc chuyển giao ngân sách liên chính quyền giúp đảm bảo cân bằng dọc sẽ giúp đảm bảo tính công bằng trong việc thụ hưởng hàng hóa công của công dân các địa phương với nhau

2.1.3.2 Cân bằng ngang

Nguyên nhân của sự mất cân bằng ngang là do sự không đồng đều của các yếu tố như: kinh

tế (thu nhập bình quân đầu người, tỷ lệ hộ nghèo), xã hội (dân số, tỷ lệ người phụ thuộc như trẻ em, người già), điều kiện tự nhiên (tài nguyên thiên nhiên, địa hình, địa lý, khí hậu, ) ảnh hưởng đến nguồn thu và nhu cầu chi tiêu của chính quyền địa phương Khi đó, nếu chính quyền địa phương chỉ dựa vào nguồn lực địa phương để chi trả cho hàng hóa công thì chất lượng và số lượng của các hàng hóa công ở địa phương này sẽ thua kém các địa phương khác có các điều kiện kinh tế, xã hội và tự nhiên thuận lợi hơn Vì vậy, việc chuyển giao ngân sách liên chính quyền sẽ đảm đảm bảo cho sự công bằng về chất lượng

và số lượng hàng hóa công mà người dân ở các địa phương khác nhau thụ hưởng

2.1.3.3 Ngoại tác

Do có một số hàng hóa công không chỉ mang lại lợi ích trong phạm vi của một địa phương

mà có tính lan tỏa qua biên giới các địa phương Đó là những ngoại tác tích cực mà nếu không có sự hỗ trợ của chính quyền trung ương thì sẽ không có động cơ khuyến khích chính quyền địa phương thực hiện để lan tỏa ngoại tác tích cực Do vậy, để khuyến khích các địa phương thực hiện hướng đến lợi ích ở cấp độ quốc gia, chính quyền trung ương phải chuyển giao ngân sách để mang lại các hàng hóa công đó nhằm nâng hiệu quả việc cung cấp hàng hóa công đó ở mức độ quốc gia

2.1.4 Mục tiêu chuyển giao ngân sách theo quan điểm kinh tế chính trị

Theo Shih, Zhang và Liu (2010) thì đối với một nhà nước kiểu như Trung Quốc (Việt Nam cũng tương tự) thì chuyển giao ngân sách liên chính quyền hướng đến các mục tiêu sau: Nâng cao phúc lợi của người dân, nhất là các thành phần phụ thuộc như người già, người

Trang 22

không có việc làm, người dân tộc thiểu số để ngăn chăn sự nổi dậy; khuyến khích các khu vực có tốc độ tăng trưởng cao; đảm bảo chính quyền địa phương đứng về phía chế độ để chống lại phe đối lập, chống lại nguy cơ li khai hoặc để xâm phạm lãnh thổ của chính quyền địa phương (Treisman 1999; Diaz – Cayeros 2003)

2.2 Đặc điểm mô hình kinh tế - chính trị của Việt Nam

Theo Hiến Pháp 2013 thì nhà nước Việt Nam do Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo theo

mô hình xã hội chủ nghĩa Điều này cho thấy mô hình chính trị của Việt Nam tương đối giống mô hình chính trị của Trung Quốc, nghĩa là quyền lực chính trị tập trung vào nhóm lãnh đạo của Đảng cộng sản Trong đó, Bộ Chính Trị là cơ quan có thực quyền lớn nhất, có khả năng chi phối quyết định chuyển giao ngân sách liên chính quyền (Wang, Zou và Wang, 2014)

Tuy nhiên, theo nghiên cứu của Malesky, Abrami và Zheng (2011) cho thấy thể chế ở Việt Nam phân bổ quyền lực cho một nhóm lớn hơn trong việc ra quyết định và xác định nhiều ràng buộc hơn trong việc lãnh đạo Đảng thông qua kiểm tra theo chiều dọc và bầu cử bán cạnh tranh Đồng thời, chính quyền Việt Nam chi một tỷ trọng lớn của nguồn thu cho các hoạt động chi tiêu công nhằm đảm bảo công bằng giữa các tỉnh và các cá nhân công dân Bên cạnh đó, quá trình phân cấp tài khóa của Việt Nam đã được bắt đầu từ năm 1989 theo Nghị quyết số 186 của Hội Đồng Bộ Trưởng Quá trình phân cấp này càng được gia tốc khi

có sự ra đời của Luật ngân sách 1996, bộ luật ngân sách đầu tiên, là nền tảng quan trọng của quá trình phân cấp khi lần đầu tiên xác định rõ quyền hạn và nghĩa vụ của chính quyền địa phương và chính quyền trung ương đối với nguồn thu và nhiệm vu chi tiêu Bộ luật ngân sách thứ hai ra đời năm 2002 và có hiệu lực từ năm 2004, đây cũng là giai đoạn phân tích của nghiên cứu này Luật ngân sách 2002 lần đầu tiên xác định rõ về cách thức phân chi nguồn thu thuế giữa chính quyền trung ương và chính quyền địa phương

2.3 Hệ thống phân bổ ngân sách của Việt Nam

Theo luật Ngân sách 2002 thì “Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”10

10 Quốc hội khóa 11, Luật Ngân sách số 01/2002/QH11

Trang 23

Cũng theo luật Ngân sách 2002 thì ngân sách nhà nước được phân thành ngân sách trung ương và ngân sách địa phương Trong đó ngân sách địa phương bao gồm ngân sách của đơn vị hành chính các cấp có Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân Cụ thể ngân sách địa phương bao gồm các cấp chính quyền như là cấp tỉnh/thành phố, cấp quận/ huyện/thị xã, cấp xã/phường/thị trấn11

Theo luật Ngân sách 2002 thì ngân sách trung ương giữ “vai trò chủ đạo, bảo đảm thực hiện các nhiệm vụ chiến lược, quan trọng của quốc gia và hỗ trợ những địa phương chưa cân đối được thu, chi ngân sách”12

Bên cạnh đó, ngân sách địa phương là nguồn lực đảm bảo thực hiện được giao cụ thể cho các cấp chính quyền của địa phương trên cơ sở phân cấp tài khóa và tự cân đối thu chi Nguồn thu của ngân sách địa phương gồm các nguồn như: nguồn thu chính quyền địa phương giữ lại toàn bộ (thuế đất, tiền sử dụng đất, thuế môn bài ), nguồn thu phân chia theo tỷ lệ với chính quyền trung ương ( thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân ) và nguồn hỗ trợ từ chính quyền trung ương13

Trong đó, các nguồn hỗ trợ từ chính quyền trung ương cho chính quyền địa phương bao gồm hỗ trợ bổ sung cân đối và hỗ trợ có mục tiêu Cụ thể, hỗ trợ bổ sung cân đối là khoản

hỗ trợ dành cho những chính quyền địa phương không thể cân đối giữa thu và chi để thực hiện nhiệm vụ được giao Khoản hỗ trợ này căn cứ vào dự toán thu, chi hàng năm của chính quyền địa phương mà chính quyền trung ương quyết định mức hỗ trợ Còn hỗ trợ bổ sung có mục tiêu là khoản bổ sung để hỗ trợ ngân sách chính quyền địa phương khi phát sinh nhiệm vụ quan trọng, cần thiết mà sau khi bố trí lại ngân sách địa phương, sử dụng dự phòng ngân sách, dự trữ tài chính vẫn chưa đáp ứng được14

2.4 Các yếu tố tác động đến quyết định phân bổ ngân sách

Một số nghiên cứu theo phương pháp tiếp cận theo lý thuyết liên bang đã chỉ ra rằng chính quyền trung ương quyết định chuyển giao (trợ cấp) cho chính quyền địa phương là do cân nhắc các yếu tố hiệu quả và công bằng, hướng đến việc tối đa hóa phúc lợi của người dân, cung cấp các loại hàng hóa công khác nhau cho những thành phần cư dân khác nhau, trong

11 Quốc hội khóa 13, Luật Tổ chức chính quyền số 77/2015/QH13

12 Quốc hội khóa 11, Luật Ngân sách số 01/2002/QH11

13 Quốc hội khóa 11, Luật Ngân sách số 01/2002/QH11

14 Quốc hội khóa 11, Luật Ngân sách số 01/2002/QH11

Trang 24

khi vẫn đảm bảo các dịch vụ công cơ bản được cung cấp ở tất cả các khu vực (Musgrave,

1959, 1983, 1988; Oates, 1972; Gramlich, 1977) Như vậy, các yếu tố thu nhập bình quân đầu người và hố cách tài khóa của các địa phương có tác động đến quyết định phân bổ ngân sách của chính quyền trung ương Cụ thể là theo các nghiên cứu này những địa phương có thu nhập trung bình đầu người thấp hơn, hố cách tài khóa lớn hơn sẽ được nhận nguồn phân bổ từ trung ương nhiều hơn để đảm báo tính công bằng trong hưởng thụ hàng hóa công của công dân ở các địa phương

Tuy nhiên, các nghiên cứu khác (Weingast, 1979; Shepsle, 1979; Weingast, Shepsle và Johnsen, 1981; Baron và Ferejohn, 1989; Becker, 1983) chỉ ra rằng phương pháp tiếp cận theo lý thuyết liên bang thiếu sức thuyết phục vì các quyết định chuyển giao (trợ cấp) của chính quyền trung ương cho chính quyền địa phương được quyết định trong bối cảnh kinh

tế chính trị, nó là kết quả của sự đổi chác chính trị trong cơ quan lập pháp quốc gia (chính quyền trung ương), nơi các nghị sĩ (chính khách) được bầu chọn bởi các cử tri địa phương

Kế đến là nghiên cứu của Alperovich (1984) chỉ ra rằng các chính quyền trung ương có hành vi khác nhau đối với các mục tiêu kinh tế xã hội như thâm hụt ngân sách của chính quyền địa phương hay tỷ lệ phụ thuộc trong lực lượng lao động địa phương nhưng có hành

vi giống nhau với mục tiêu chính trị trong việc phân bổ tài trợ của chính quyền trung ương đến địa phương Cụ thể là họ tối đa hóa khả năng tái đắc cử thông qua việc theo đuổi các chính sách ban thưởng cho thành phần ủng hộ hơn là mua chuộc thành phần phản đối Grossman (1994) mở rộng các nghiên cứu của Alpervich thông qua việc đưa thêm các biến chính trị vào mô hình của ông Kết quả cho thấy các chính trị gia liên bang quan tâm đến việc phân phối trợ cấp để được tái đắc cử Các khoản trợ cấp được dùng để mua sự ủng hộ của các cử tri của các bang và vốn chính trị của các chính trị gia địa phương, các quan chức

và nhóm lợi ích có thể thúc đẩy các cử tri của các bang ủng hộ chính trị gia liên bang Ngoài ra, nghiên cứu của Pereira (1996) chỉ ra là chính phủ trung ương, thông qua quyết định tài trợ (chuyển giao) vừa thưởng cho những thành phần ủng hộ và/hoặc mua chuộc thành phần đối lập Nghiên cứu của Porto và Sanguinetti (2001) thì chỉ ra rằng đại diện của các chính quyền cấp thấp hơn ở Quốc hội, được đo lường bởi số lượng dân biểu hoặc thượng nghị trên đầu người dân, ảnh hưởng đến việc phân bổ ngân sách của liên bang Feld

và Schaltegger (2002) thông qua nghiên cứu thực nghiệm đã phát hiện ra các thủ tục về tài khóa chặt chẽ sẽ làm giảm sự ảnh hưởng của các quan chức và nhóm lợi ích đến việc phân

Trang 25

bổ tài trợ (chuyển giao) của chính quyền trung ương Bên cạnh đó, nghiên cứu của Lowry

và Potoski (2004) đã chỉ ra cách thức các nhóm lợi ích ảnh hưởng đến quyết định phân bổ ngân sách Cụ thể là các nhóm lợi ích, các tổ chức tư nhân và công cộng, thông qua việc phản ánh sở thích của công dân, ảnh hưởng đến quyết định phân bổ ngân sách của chính quyền liên bang

Nghiên cứu của Khemani (2003) đã chỉ ra rằng các chính trị gia quốc gia đưa ra quyết định phân bổ ngân sách, nguồn lực thông qua việc cân nhắc nhằm tối ưu hóa mục tiêu bầu cử của mình, thêm vào đó là các cân nhắc mang tính quy phạm khác như công bằng và hiệu quả Bên cạnh đó, nghiên cứu của Pinho và Veiga (2005) cho thấy tài trợ của chính quyền trung ương tăng vào những năm có bầu cử; số năm tại vị của người đứng đầu chính quyền địa phương càng cao thì lượng tài trợ từ chính quyền trung ương càng cao; người đứng đầu chính quyền địa phương nếu cùng đảng chính trị với nội các (thủ tướng) thì nhận được tài trợ (chuyển giao) cao hơn

Như vậy, qua các nghiên cứu trên cho thấy yếu tố mức độ ảnh hưởng chính trị của chính quyền địa phương đến chính quyền trung ương có tác động mạnh mẽ đến quyết định phân

bổ ngân sách của chính quyền trung ương Cụ thể là ngân sách trung ương được sử dụng như một công cụ để thưởng cho cử tri ủng hộ, mua chuộc phe đối lập, lôi kéo sự ủng hộ của các cử tri trung lập hướng đến mục tiêu thắng cử của đảng cầm quyền ở chính quyền trung ương

Bên cạnh đó, thông qua nghiên cứu về kế hoạch New Deal của chính phủ Hoa Kỳ trong việc phân bổ ngân quỹ liên bang, Wright (1974) đã chỉ ra các chỉ ra sự ảnh hưởng của tác nhân chính trị trong việc ra quyết định phân bổ ngân quỹ, cụ thể là ông đã tìm ra sự tương quan mạnh, có ý nghĩa thống kê giữa phân bổ ngân quỹ theo đầu người và số phiếu đại cử tri theo đầu người của các bang Bên cạnh đó, nghiên cứu của Gist và Hill (1981 và 1984) kiểm tra giả thuyết của Niskane (1971) cho rằng cả hai mục tiêu là lợi ích công và động cơ

cá nhân của quan chức đều được xem xét trong quá trình ra quyết định chuyển giao (tài trợ) của chính quyền trung ương Kết quả thực nghiệm hỗ trợ lý thuyết của Niskane, cho thấy mặc dù phải tuân thủ quy trình lựa chọn theo đúng nghĩa vụ pháp lý, nhưng các quan chức vẫn cân nhắc các lợi ích cá nhân của họ khi ra quyết định Như vậy, những yếu tố lợi ích cá nhân của các quan chức chính quyền trung ương cũng có ảnh hưởng nhất định đến quyết định phân bổ ngân sách của chính quyền trung ương

Trang 26

Bên cạnh đó, nghiên cứu của Shih, Zang và Liu (2010) đối với trường hợp Trung Quốc với mục tiêu của nghiên cứu là xác định các yếu tố tác động đến quyết định phân bổ ngân sách của chính quyền trung ương Trung Quốc trong bối cảnh quốc gia độc tài và độc đảng chính trị, không có bầu cử tự do, giới hạn quyền dân chủ của người dân Nghiên cứu này đưa ra hai giả thuyết: Thứ nhất là chuyển giao ngân sách hướng đến những khu vực khó khăn, kinh tế kém phát triển, tỷ lệ người già cao để nhằm mục tiêu đảm bảo công bằng, bình đẳng về phúc lợi Thứ hai là chuyển giao ngân sách hướng đến mục tiêu tưởng thưởng

sự trung thành với chế độ, tưởng thưởng cho khu vực có tốc độ phát triển kinh tế cao, hướng đến mục tiêu ổn định chính trị và tăng trưởng kinh tế trong tương lai

Kết quả nghiên cứu này cho thấy chính quyền Trung Quốc hướng đến mục tiêu duy trì ổn định chính trị và tăng trưởng kinh tế trong tương lai hơn là mục tiêu công bằng, bình đẳng

Cụ thể là các tỉnh có tốc độ tăng trưởng kinh tế tốt hơn sẽ được chuyển giao ngân sách nhiều hơn để tưởng thưởng và duy trì tăng trưởng; các tỉnh có tỷ lệ trẻ em cao hơn cũng được chuyển giao nhiều hơn nhằm đào tạo thế hệ kế thừa, tạo nền tảng cho tăng trưởng kinh tế trong tương lai Ngược lại, những tỉnh có thu nhập bình quân đầu người thấp hơn

và tỷ lệ người già cao hơn lại không được chuyển giao ngân sách nhiều hơn như giả thuyết thứ nhất

Tương tự, nghiên cứu của Wang, Zou và Wang (2014) đối với mô hình kinh tế chính trị của Trung Quốc với mục tiêu là xác định tác động của các cá nhân trong Bộ chính trị Đảng cộng sản Trung Quốc đến quyết định chuyển giao ngân sách của chính quyền trung ương cho chính quyền địa phương, cụ thể là xác định xem những tỉnh có cá nhân quê hương ở tỉnh đó, nằm trong Bộ chính trị có được chuyển giao ngân sách nhiều hơn các tỉnh khác không có cá nhân trong bộ chính trị hay không Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự khác biệt trong việc phân bổ ngân sách giữa các tỉnh có và các tỉnh không có cá nhân trong bộ chính trị Cụ thể là những tỉnh có cá nhân nằm trong Bộ chính trị sẽ được phân bổ ngân sách nhiều hơn các tỉnh khác

Một nghiên cứu khác của Wang, Ma và Zhang (2015) cho trường hợp của Trung Quốc Nghiên cứu này hướng đến mục tiêu xác định các yếu tố chính trị tác động đến quyết định phân bổ ngân sách liên chính quyền của Trung Quốc Cụ thể nghiên cứu này tìm hiểu về vai trò của cán bộ lãnh đạo các tỉnh đến quyết định phân bổ của ngân sách của chính quyền trung ương như kinh nghiệm chính trị và vị trí trước khi về làm lãnh đạo tỉnh Ngoài ra,

Trang 27

nghiên cứu này cũng tìm hiểu yếu tố dân tộc thiểu số tác động như thế nào đến quyết định phân bổ ngân sách trung ương cho chính quyền địa phương

Kết quả nghiên cứu cho thấy nếu cán bộ đứng đầu tỉnh (bí thư) là cán bộ luân chuyển từ trung ương về địa phương thì tỉnh đó có phân bổ ngân sách cao hơn so với các tỉnh không

có cán bộ luân chuyển, với những cán bộ thuộc Bộ chính trị thì chuyển giao ngân sách càng cao hơn nữa Như vậy, nghiên cứu này chỉ ra là những cán bộ có kinh nghiệm chính trị và vị trí ở Ban chấp hành trung ương Đảng sẽ có ảnh hưởng đến quyết định phân bổ ngân sách của chính quyền trung ương cho tỉnh đó Ngoài ra, nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng những tỉnh có tỷ lệ người dân tộc thiểu số cao sẽ được nhận phân bổ ngân sách cao hơn các tỉnh khác vì mục tiêu duy trì ổn định chính trị

Như vậy, qua các kết quả nghiên cứu trên cho thấy các yếu tố tác động đến quyết định phân bổ ngân sách của chính quyền trung ương là hố cách tài khóa, thu nhập bình quân đầu người, tỷ lệ hộ nghèo, tỷ lệ người dân tộc, tỷ lệ phụ thuộc (trẻ em) và các yếu tố chính trị như ảnh hưởng của cá nhân trong bộ chính trị, ảnh hưởng của người đứng đầu các tỉnh đến chính quyền trung ương

Trang 28

CHƯƠNG 3 - ƯỚC LƯỢNG CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CHUYỂN GIAO

NGÂN SÁCH CÓ MỤC TIÊU 3.1 Các giả thuyết nghiên cứu

Từ các kết quả nghiên cứu và các yếu tố tác động đến quyết định phân bổ ngân sách ở trên, tác giả đưa ra các giả thuyết sau đối với việc ra quyết định phân bổ ngân sách có mục tiêu của Việt Nam:

Giả thuyết H1 là hố cách tài khóa các địa phương có ảnh hưởng đến quyết định phân bổ ngân sách có mục tiêu, trong đó nếu hố cách càng lớn và bổ sung có mục tiêu càng lớn thì

để đảm bảo tính công bằng, còn ngược lại là hướng đến mục tiêu hiệu quả, nuôi dưỡng nguồn thu

Giả thuyết H2 là tỷ lệ hộ nghèo của các tỉnh có ảnh hưởng đến quyết định phân bổ ngân sách có mục tiêu, trong đó nếu tỉnh có tỷ lệ hộ nghèo cao hơn được phân bổ hỗ trợ nhiều hơn là hướng đến việc đảm bảo tính công bằng trong cung cấp hàng hóa công

Giả thuyết H3 là GDP bình quân đầu người có ảnh hưởng đến quyết định phân bổ ngân sách có mục tiêu Trong đó nếu các tỉnh có GDP bình quân đầu người thấp hơn và được hỗ trợ nhiều hơn so với các tỉnh khác thì chính quyền trung ương hướng đến mục tiêu công bằng và ngược lại khi chính quyền trung ương hướng đến mục tiêu nâng cao hiệu quả, nuôi dưỡng nguồn thu

Giả thuyết H4 là có sự ảnh hưởng chính trị của các cá nhân đến quyết định phân bổ ngân sách có mục tiêu Cụ thể là các tỉnh có người có khả năng ảnh hưởng đến quyết định tài khóa sẽ nhận được bổ sung có mục tiêu lớn hơn Những người này bao gồm thành viên Bộ chính trị và các vị trí trong chính phủ ảnh hưởng đến quyết định chính sách tài khóa như thủ tướng, phó thủ tướng, bộ trưởng bộ tài chính, bộ trưởng bộ kế hoạch

Giả thuyết H5 là số lượng cá nhân có sức mạnh ảnh hưởng tác động đến quyết định phân

bổ có mục tiêu của chính quyền trung ương Cụ thể là các tỉnh có số người có khả năng ảnh hưởng cao hơn sẽ nhận được nhiều phân bổ có mục tiêu hơn

Giả thuyết H6 là tỷ lệ người dân tộc có ảnh hưởng đến quyết định phân bổ ngân sách có mục tiêu Cụ thể là các tỉnh có tỷ lệ người dân tộc cao hơn sẽ nhận được chuyển giao có mục tiêu cao hơn do đề phòng xung đột sắc tộc, nổi dậy

Trang 29

Như vậy, có sáu giả thuyết tương ứng với sáu yếu tố tác động đến quyết định phân bổ ngân sách hỗ trợ có mục tiêu của chính quyền trung ương cho chính quyền địa phương Từ đó tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu như sau

Hình 3.1: Mô hình nghiên cứu đề xuất

(Nguồn: tác giả tự tổng hợp ) 3.2 Nguồn dữ liệu nghiên cứu

Nguồn dữ liệu nghiên cứu được tổng hợp từ các nguồn dữ liệu của chính phủ Việt Nam công bố, bao gồm: Dữ liệu về quyết toán ngân sách nhà nước hàng năm do Bộ Tài Chính công bố từ năm 2005 - 2014; Niên giám thống kê của 63 tỉnh thành do Cục thống kê của

63 tỉnh thành công bố; Kết quả điều tra dân số và các số liệu về lao động, việc làm do Tổng cục thống kê công bố; Lý lịch của các Ủy viên Bộ chính trị do website của Trung ương Đảng công bố; Lý lịch của các thành viên chính phủ do website của chính phủ công bố; bản đồ quốc gia do Cục đo đạt và bản đồ - Bộ Tài nguyên Môi trường công bố Đối với các tỉnh có thu bù đủ chi sẽ được loại bỏ ra khỏi dữ liệu nghiên cứu để đảm bảo tính nhất quán trong nghiên cứu và đảm bảo tính cân bằng của dữ liệu

3.3 Đặc điểm của mẫu nghiên cứu

Trong nghiên cứu này, tác giả dùng mẫu bao gồm 46 tỉnh thành có ngân sách bị thâm hụt, phải nhận bổ sung cân đối liên tục trong giai đoạn 2005 – 2014 để đảm bảo tính cân bằng

Chuyển giao ngân sách có mục tiêu

Tỷ lệ người dân tộc thiểu số

Có người địa phương nắm quyền ảnh hưởng

Số người nắm quyền ảnh hưởng ở đia phương

Trang 30

của bảng dữ liệu cũng như tính nhất quán trong việc ra quyết định của chính quyền trung ương

Đặc điểm phân bố của các tỉnh theo sáu vùng kinh tế như sau:

Bảng 3.1: Phân bố của mẫu quan sát STT Khu vực kinh tế Số lượng Các tỉnh được nghiên cứu

1 Trung du và miền

núi phía bắc

14 tỉnh Bắc Giang, Bắc Cạn, Cao Bằng, Điện

Biên, Hà Giang, Hòa Bình, Lai Châu, Lạng Sơn, Lào Cai, Phú Thọ, Sơn La, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Yên Bái

9 tỉnh An Giang, Bạc Liêu, Bến Tre, Cà Mau,

Đồng Tháp, Hậu Giang, Kiên Giang, Sóc Trăng, Trà Vinh

(Nguồn:Tác giả tự tổng hợp) Như vậy các tỉnh thuộc khu vực Trung du và miền núi phía bắc chiếm tỷ lệ cao nhất (30%), kế đến là các tỉnh Bắc trung bộ và Duyên hải miền Trung (24%), đồng bằng sông Cửu Long (20%), Đồng bằng sông Hồng (13%), Tây nguyên (11%) và thấp nhất là các tỉnh Đông Nam bộ (2%) Điều này cũng hợp lý vì tỷ lệ như trên tương ứng tỷ lệ số lượng các tỉnh trong khu vực

Trang 31

Về thời đoạn của nghiên cứu cũng có những đặc điểm nổi bật như:

Bảng 3.2: Đặc điểm nổi bật trong các thời đoạn nghiên cứu

1 2005 - 2007 Giai đoạn Việt Nam vừa gia nhập WTO, làn sóng đầu tư tăng

mạnh

2 2008 - 2009 Khủng hoảng kinh tế toàn cầu

3 2010 - 2011 Nền kinh tế trong tình trạng lạm phát phi mã, Chính phủ ban

hành nghị quyết 11 về hạn chế đầu tư công để kiềm chế lạm phát15

4 2012 - 2014 Nền kinh tế phục hồi sau khủng hoảng

(Nguồn: Tác giả tự tổng hợp) Như vậy thời đoạn nghiên cứu trải qua nhiều tình trạng khác nhau của nền kinh tế như: tăng trưởng nhanh, khủng hoảng tài chính toàn cầu ảnh hưởng làm sụt giảm tăng trưởng, lạm phát và phục hồi kinh tế sau khủng hoảng và lạm phát Điều này giúp nghiên cứu có được tính tổng quát cao trong việc phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định phân bổ ngân sách của chính quyền trung ương

3.4 Mô hình hồi quy

Dựa vào mô hình của Wang, Zou và Wang (2014), tác giả biến đổi và bổ sung thêm từ các nghiên cứu của Pinho và Veiga (2005), Dash và Raja (2012), Ma và Zhang (2015) để phù hợp với đặc điểm kinh tế - chính trị của Việt Nam Ngoài ra, dựa vào bối cảnh cụ thể trong giai đoạn 2005 – 2014, tác giả đưa thêm một số biến kiểm soát và tương tác Kết quả là mô hình hồi quy có dạng sau:

lnttperit = β0 + β1X1it + β2X2it + + β12X12it + uit

15 Chính phủ, Nghị quyết 11/NQ – CP ngày 24 tháng 02 năm 2011 về việc kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế

vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội

Ngày đăng: 24/10/2017, 12:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w