1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Mức giá sẵn lòng trả cho dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà của người bệnh điều trị nội trú tại bệnh viện quận tân phú

92 484 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 17,61 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH TRƯƠNG THỊ MAI HUYỀN MỨC GIÁ SẴN LÒNG TRẢ CHO DỊCH VỤ CHĂM SÓC SỨC KHỎE TẠI NHÀ CỦA NGƯỜI BỆNH ĐIỀU TRỊ NỘI TRÚ TẠI BỆNH V

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH

TRƯƠNG THỊ MAI HUYỀN

MỨC GIÁ SẴN LÒNG TRẢ CHO DỊCH VỤ CHĂM SÓC SỨC KHỎE

TẠI NHÀ CỦA NGƯỜI BỆNH ĐIỀU TRỊ NỘI TRÚ

TẠI BỆNH VIỆN QUẬN TÂN PHÚ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH

TRƯƠNG THỊ MAI HUYỀN

MỨC GIÁ SẴN LÒNG TRẢ CHO DỊCH VỤ CHĂM SÓC SỨC KHỎE

TẠI NHÀ CỦA NGƯỜI BỆNH ĐIỀU TRỊ NỘI TRÚ

TẠI BỆNH VIỆN QUẬN TÂN PHÚ

Chuyên ngành: Kinh tế phát triển (Quản trị lĩnh vực sức khỏe)

Mã số: 60310105

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS PHẠM KHÁNH NAM

Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn “Mức giá sẵn lòng trả cho dịch vụ chăm sóc

sức khỏe tại nhà của người bệnh điều trị nội trú tại Bệnh viện quận Tân Phú”

này là bài nghiên cứu của chính tôi

Ngoài những tài liệu tham khảo được trích dẫn trong luận văn, tôi cam đoan rằng toàn phần hay những phần nhỏ của luận văn này chưa từng được công bố hoặc được sử dụng để nhận bằng cấp ở những nơi khác

Luận văn này chưa bao giờ được nộp để nhận bất kỳ bằng cấp nào tại các trường đại học hoặc cơ sở đào tạo khác

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 28 tháng 4 năm 2017

Tác giả luận văn

Trương Thị Mai Huyền

Trang 4

MỤC LỤC TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC HÌNH

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3

1.2.1 Mục tiêu tổng quát 3

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

1.3.1 Phạm vi lấy mẫu 3

1.3.2 Thời gian nghiên cứu 4

1.3.3 Địa điểm nghiên cứu 4

1.3.4 Cấu trúc luận văn 4

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 5

2.1 Lược khảo lý thuyết 5

2.1.1 Mô hình Grossman 5

2.1.2 Lý thuyết đo lường phúc lợi 9

2.2 Một số nghiên cứu liên quan 11

2.2.1 Các nghiên cứu trong nước 11

2.2.2 Các nghiên cứu ngoài nước 17

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19

3.1 Khung phân tích 19

3.2 Phương pháp đánh giá ngẫu nhiên 20

3.2.1 Nội dung của Phương pháp 20

3.2.2 Các bước thực hiện CVM 22

Trang 5

CSSKTN Chăm sóc sức khỏe tại nhà

CVM Phương pháp đánh giá ngẫu nhiên TTYTDP Trung tâm y tế dự phòng

vnđ đồng (đơn vị tiền Việt Nam)

WTA Mức giá sẵn lòng chấp thuận

WTP Mức giá sẵn lòng trả

Trang 6

3.2.3 Phương pháp hỏi giá sẵn lòng trả (WTP) 25

3.3 Thu thập dữ liệu 26

3.3.1 Xác định cỡ mẫu, kỹ thuật chọn mẫu 26

3.3.2 Phương pháp thu thập dữ liệu 28

3.4 Các biến số/chỉ số nghiên cứu 29

3.5 Quản lý và phân tích dữ liệu 33

Quản lý dữ liệu 34

Xử lý và phân tích dữ liệu: 34

Trình bày kết quả: 35

3.6 Thiết kế nghiên cứu 35

3.7 Vấn đề đạo đức nghiên cứu 35

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ 36

4.1 Tổng quan dịch vụ khám chữa bệnh 36

4.2 Kết quả thống kê mô tả 40

4.3 Nhu cầu của người bệnh về dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà 45

4.4 Mức giá sẵn lòng trả dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà 46

4.5 Một số yếu tố liên quan đến nhu cầu chăm sóc sức khỏe tại nhà của người bệnh điều trị nội trú tại Bệnh viện quận Tân Phú 50

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH 53

5.1 Kết luận 53

5.2 Hàm ý chính sách 54

5.3 Điểm hạn chế của nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo 55

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Phiếu khảo sát

Kết quả phân tích

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 4.1 Đặc điểm xã hội của người bệnh điều trị nội trú tại BVQTP 40Bảng 4.2 Đặc điểm kinh tế của người bệnh điều trị nội trú tại BVQTP 42Bảng 4.3 Đặc điểm y tế của người bệnh điều trị nội trú tại BVQTP 43Bảng 4.4 Điểm số hài lòng của người bệnh hoặc người nhà người bệnh về dịch vụ y

tế tại bệnh viện 44Bảng 4.5 Sự hài lòng của người bệnh hoặc người nhà người bệnh tại các khoa 45Bảng 4.6 Tỷ lệ nhu cầu của người bệnh hoặc người nhà người bệnh về dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà 45Bảng 4.7 Tỷ lệ nhu cầu về dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà theo khoa 46Bảng 4.8 Tỷ lệ mức giá người bệnh sẵn lòng trả dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà

do bác sỹ thực hiện 46Bảng 4.9 Tỷ lệ mức giá người bệnh sẵn lòng trả dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà

do điều dưỡng thực hiện 47Bảng 4.10 Mức giá WTP trung bình người bệnh sẵn lòng trả dịch vụ CSSKTN do bác sỹ thực hiện theo phương pháp tham số 47Bảng 4.11 Mức giá WTP trung bình người bệnh sẵn lòng trả dịch vụ CSSKTN do điều dưỡng thực hiện theo phương pháp tham số 48Bảng 4.12 Mức giá WTP trung bình người bệnh sẵn lòng trả dịch vụ CSSKTN do bác sỹ thực hiện theo phương pháp phi tham số 48Bảng 4.13 Mức giá WTP trung bình người bệnh sẵn lòng trả dịch vụ CSSKTN do điều dưỡng thực hiện theo phương pháp phi tham số 49Bảng 4.14 Kết quả hồi quy đa biến các biến số độc lập với nhu cầu chăm sóc sức khỏe tại nhà do bác sỹ thực hiện 51Bảng 4.15 Kết quả hồi quy đa biến các biến số độc lập với nhu cầu chăm sóc sức khỏe tại nhà do điều dưỡng thực hiện 52

Trang 8

DANH MỤC HÌNH

Hình 4.1 Biểu đồ ước lượng WTP cho dịch vụ CSSKTN do bác sỹ thực hiện theo phương pháp phi tham số 49Hình 4.2 Biểu đồ ước lượng WTP cho dịch vụ CSSKTN do điều dưỡng thực hiện theo phương pháp phi tham số 50

Trang 9

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1.1 Đặt vấn đề

Trong thời gian qua quá tải bệnh viện không chỉ là vấn đề riêng của ngành y tế mà

đã trở thành vấn đề của cả xã hội Quá tải bệnh viện xảy ra không chỉ ở khu vực phòng khám mà cả ở các khoa điều trị nội trú (Lê Quang Cường et al., 2007) Bộ Y

tế và các bộ, ban, ngành đã phối hợp triển khai một số chương trình giảm quá tải bệnh viện nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh (Chính phủ Việt Nam, 2013) Một trong những mục tiêu cụ thể cần đạt là giảm thời gian và lưu lượng người chờ khám bệnh, chữa bệnh tại khoa khám bệnh của các bệnh viện Bên cạnh việc đầu tư mở rộng cơ sở vật chất, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tăng cường công tác quản lý và nâng cao toàn diện chất lượng bệnh viện, thì vấn đề cải tiến quy trình khám bệnh, chữa bệnh và phát triển mô hình phòng khám bác sĩ gia đình đang được Bộ Y tế đặc biệt quan tâm trong thời gian gần đây (Bộ Y tế, 2012) Theo số liệu Tổng cục thống kê Việt Nam năm 2014, Việt Nam có hơn 90,728 triệu dân, tuổi thọ dân số trung bình là 73,2 tuổi, tỷ số giới tính của dân số là 97,4 nam/100 nữ, tỷ suất sinh thô là 17,2‰, tỷ lệ tăng tự nhiên của dân số là 10,3‰ (Tổng cục thống kê, 2014) Số liệu trên cho thấy nhu cầu chăm sóc sức khỏe sinh sản, nhi khoa và lão khoa cao Theo số liệu về cơ cấu số lượt khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế nhà nước trong Niên giám thống kê năm 2010, xu hướng tỷ trọng các bệnh không lây nhiễm gia tăng liên tục ở mức cao Tỷ trọng này năm 1986 là 39% thì năm 1996 tăng lên 50%, năm 2006 là 62%, và chỉ sau 05 năm đến năm 2010, tỷ trọng này đã tăng lên 10 điểm phần trăm, lên mức 72% (Bộ Y tế, 2012) Điều này cho thấy nhu cầu chăm sóc sức khỏe, khám bệnh, chữa bệnh ngày càng tăng

Trên thực tế trong thời gian qua, các cấp quản lý nhà nước đã triển khai nhiều hoạt động giảm quá tải bệnh viện nhưng đến nay tình trạng này vẫn chưa giảm mà ngày càng trầm trọng Tiếp tục triển khai đề án giảm quá tải bệnh viện, năm 2016, Bộ Y

tế phê duyệt kế hoạch nhân rộng và phát triển mô hình phòng khám bác sĩ gia đình trên phạm vi toàn quốc nhằm cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe cơ bản, toàn

Trang 10

diện, liên tục cho cá nhân, gia đình và cộng đồng, góp phần tăng cường chất lượng chăm sóc sức khỏe ban đầu và giảm quá tải bệnh viện (Bộ Y tế, 2016)

Trước đây, cơ cấu hoạt động, tổ chức, quản lý loại hình dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà chưa có cơ sở pháp lý Với Quyết định phê duyệt kế hoạch nhân rộng và phát triển mô hình phòng khám bác sĩ gia đình tại Việt Nam, giai đoạn 2016 – 2020 (Bộ Y tế, 2016), dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà bao gồm: thực hiện tư vấn sức khỏe, sàng lọc, tầm soát phát hiện bệnh sớm; các dịch vụ chăm sóc giảm nhẹ, chăm sóc cuối đời; các dịch vụ kỹ thuật bao gồm: khám bệnh, kê đơn thuốc một số bệnh thông thường; thực hiện một số thủ thuật: thay băng, cắt chỉ, lấy mẫu máu, mẫu nước tiểu để xét nghiệm, khí dung, tiêm, truyền dịch; phục hồi chức năng và nâng cao sức khỏe

Triển khai dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà giúp:

Người bệnh hài lòng hơn, an toàn hơn và giảm một phần chi phí điều trị gián tiếp, chi phí cơ hội do người bệnh và đôi khi cả người nhà người bệnh phải nghỉ làm để đưa người bệnh đi khám bệnh, chữa bệnh Người bệnh chủ động trong việc chọn giờ khám bệnh, có thể thu xếp việc cá nhân thuận tiện, không mất thời gian chờ đợi khám bệnh, thời gian di chuyển đến bệnh viện

Bệnh viện giải quyết tình trạng quá tải, chủ động trong công tác tổ chức hoạt động khám bệnh, chữa bệnh, tăng doanh thu dịch vụ, đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người bệnh

Nhân viên y tế hài lòng hơn với công việc, chăm sóc người bệnh tốt hơn, an toàn hơn, làm việc hiệu quả hơn và tăng thêm thu nhập

Nghiên cứu này được thực hiện nhằm mục tiêu cung cấp bằng chứng thực nghiệm cho Ban Giám đốc Bệnh viện quận Tân Phú về nhu cầu và mức giá sẵn lòng trả cho dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà của người bệnh điều trị nội trú, từ đó khuyến nghị bệnh viện triển khai dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà để góp phần cải tiến nâng cao chất lượng khám bệnh, chữa bệnh, giải quyết tình trạng quá tải bệnh viện

Trang 11

và đạt được lợi ích 03 bên nêu trên, đồng thời xây dựng mô hình kiểu mẫu nâng cao chất lượng bệnh viện tuyến quận

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Người bệnh điều trị nội trú tại Bệnh viện quận Tân Phú

Tiêu chuẩn chọn vào:

Người bệnh điều trị nội trú tại Bệnh viện quận Tân Phú đáp ứng các tiêu chuẩn sau: Người bệnh từ 16 tuổi trở lên đủ năng lực hành vi dân sự, đồng ý trả lời phiếu khảo sát, đồng ý tham gia nghiên cứu

Nếu người bệnh là trẻ em dưới 16 tuổi hoặc những người bệnh gặp khó khăn trong vận động, giao tiếp hoặc bệnh nặng thì khảo sát người nhà trực tiếp chăm sóc và chi trả viện phí cho người bệnh

Tiêu chí loại ra: Người bệnh đang trong tình trạng rất nặng, đang trong tình trạng cấp cứu hoặc đang được điều trị hồi sức tích cực

Trang 12

Người bệnh điều trị nội trú có chỉ định chuyển viện đến bệnh viện tuyến trên tiếp tục điều trị

Người bệnh chưa kết thúc đợt điều trị nội trú nhưng xin ra viện hoặc trốn viện (bỏ

về không trở lại điều trị tiếp)

1.3.2 Thời gian nghiên cứu

Từ tháng 7/2016 đến tháng 4/2017

1.3.3 Địa điểm nghiên cứu

Các khoa nội trú: Nội, Ngoại tổng hợp, Sản, Nhi của Bệnh viện quận Tân Phú

1.3.4 Cấu trúc luận văn

Luận văn được chia thành 05 chương:

Chương 1 - Giới thiệu: Lý do hình thành đề tài và ý nghĩa thực tiễn, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

Chương 2 - Cơ sở lý luận: Trình bày tổng quan về cơ sở lý thuyết, các nghiên cứu liên quan

Chương 3 - Phương pháp nghiên cứu: Chương này gồm ba phần chính trình bày về

mô hình nghiên cứu đề nghị, phương pháp nghiên cứu đánh giá ngẫu nhiên, thiết kế

và thực hiện nghiên cứu

Chương 4 - Kết quả nghiên cứu: Trình bày kết quả thống kê mô tả, mức giá sẵn lòng trả và phân tích hồi quy tuyến tính

Chương 5 - Kết luận và hàm ý chính sách: Trình bày tóm tắt kết quả nghiên cứu, những hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo

Trang 13

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN

Chương này trình bày cơ sở lý thuyết về cầu chăm sóc sức khỏe theo mô hình Grossman, lý thuyết đo lường phúc lợi, mô hình WTP của cá nhân và các nghiên cứu liên quan về nhu cầu chăm sóc sức khỏe tại bệnh viện, chăm sóc sức khỏe tại nhà ở Việt Nam và trên thế giới

2.1 Lược khảo lý thuyết

2.1.1 Mô hình Grossman

Xét một cá nhân với một kế hoạch gồm hai giai đoạn Trong mỗi giai đoạn, anh ta hoặc cô ta phải trải qua một lượng thời gian đau ốm ts, nếu vốn sức khỏe càng lớn thì khoảng thời gian này càng ít đi Nói cách khác, thời gian khỏe mạnh chính là những lợi ích (không trao đổi được) của vốn sức khỏe Cá nhân đó nhận được mức thỏa dụng dương từ những hàng hóa tiêu dùng X và những mức thỏa dụng âm từ thời gian đau ốm ts (H) Hàm thỏa dụng dựa trên những điều kiện này được giả định

là không phụ thuộc vào thời gian (tỷ lệ thay thế biên giữa thời gian đau ốm và tiêu dùng không thay đổi theo thời gian) Mức thỏa dụng trong tương lai được chiết khấu bằng một yếu tố giả định β ≤ 1 Nhờ đó, cá nhân này tối đa hóa mức thỏa dụng

əts ə(t2) 2 əX əx2 əH

Thành phần quan trọng của mô hình Grossman là phương trình thể hiện sự thay đổi lượng vốn sức khỏe qua thời gian Một mặt, vốn sức khỏe hao mòn với tỷ lệ δ, khiến cho sức khỏe giảm xuống theo thời gian Tỷ lệ hao mòn này không cố định theo thời gian Mặt khác, cá nhân này có thể tăng vốn sức khỏe bằng cáchđầu tư I

Trang 14

Mức đầu tư này bao gồm việc tiêu dùng cho dịch vụ y tế và khoảng thời gian tI dành cho những nổ lực phòng bệnh Gộp lại ta có,

Từ vấn đề bảo hiểm sức khỏe, điều này có nghĩa là những chi tiêu cho chăm sóc sức khỏe (pM) phải được tài trợ bởi thu nhập lao động hay một mức tài sản ban đầu A0 với w0 là mức lương trong giai đoạn đầu và p là giá cả của dịch vụ y tế Ngược lại, tiêu dùng (ở mức giá c ) phải dương ở cả hai giai đoạn Quy ước tổng thời gian là 1 Gộp những thứ đó lại với nhau, ta có ràng buộc về ngân sách sau khi chiết khấu như sau:

Trang 15

Số nhân Lagrange µ, λ > 0 thể hiện mức độ mà sự nới lỏng các ràng buộc sẽ cải thiện mục tiêu chung của bài toán tối ưu, được đo bằng mức thỏa dụng đã chiết khấu Ta tìm các điều kiện bậc nhất cho một phương án của bài toán tối ưu này bằng các lấy đạo hàm bậc nhất đối với từng biểu quyết định và cho đạo hàm này bằng không

Điều kiện trên đòi hỏi mức thỏa dụng biên của một sự đầu tư vào sức khỏe phải bằng với mức chi phí biên của nó

Điều kiện tiên quyết là sự hiệu quả Để cho việc đầu tư vào sức khỏe có được mức sinh lợi dương, nó phải giúp giảm thời gian đau ốm, tức là mức thỏa dụng biên phải dương

Coi sức khỏe như hàng hóa tiêu dùng Sử giảm xuống trong khoảng thời gian đau

ốm (cũng là lợi ích sức khỏe tăng lên) khiến làm tăng mức thỏa dụng trực tiếp

Coi sức khỏe như hàng hóa đầu tư Sự giảm xuống trong thời gian đau ốm có tác động ngay lập tức lên sự sung túc của một cá nhân và mức lương thực tế Giá trị này phụ thuộc vào mức thỏa dụng biên của việc tiêu dùng một hàng hóa tăng thêm Vậy ngay cả khi thời gian đau ốm không bị từ chối vì bản thân sự khó chịu mà nó gây ra thì việc đầu tư vào sức khỏe cũng đem lại lợi ích trong việc tăng thêm thu nhập lao động và mức độ sung túc

Mức thỏa dụng biên thể hiện những gì mất đi từ việc bỏ qua một phần tiêu dùng để đầu tư cho sức khỏe

Tuy vậy, tổn thất này được giảm xuống một mức đáng kể nếu việc tiêu dùng các dịch vụ y tế là hiệu quả

Cuối cùng, năng suất này cần được điều chỉnh bởi giá của sự chăm sóc y tế p vì việc đầu tư vào sức khỏe có lợi nhưng không nhiều nếu p cao Tương tự, mức thỏa dụng

thực sự mất đi từ việc từ bỏ một sự tiêu dùng nhất định cần phải được điều chỉnh

bởi mức giá c của hàng tiêu dùng vì nếu c cao, chỉ một vài đơn vị của X0 bị từ bỏ

Trang 16

Kết luận: Trong mô hình Grossman, sức khỏe và sự sung túc là hai tài sản tương quan với nhau Giá trị của chúng được quản lý tối ưu qua thời gian bởi các cá nhân Trong trường hợp sức khỏe, mức thỏa dụng biên của việc có thêm một đơn vị vốn sức khỏe gồm một phần tiêu dùng và một phần đầu tư Tổng của chúng phải bằng với chi phí biên của việc có thêm một đơn vị vốn sức khỏe

Hàm cầu cho dịch vụ y tế chỉ ra mức cầu để có chi phí thấp nhất đối với các dịch

vụ y tế cho một vốn sức khỏe (không nhất thiết phải tối ưu) cho trước H1 Để có dạng hàm cụ thể, ta cần cụ thể hóa dạng hàm của hàm đầu tư sức khỏe I (M, tI

) Ta giả định hàm đầu tư này có dạng Cobb-Douglas như sau:

I = MM (tI) 1 - M e EE, 0 < M < 1; E > 0

Yếu tố giáo dục E làm tăng tác dụng của dịch vụ y tế M và thời gian dành cho chăm sóc sức khỏe tI Mức hiệu quả của nó được đo bằng αE > 0.αM và (1 – αM) là độ co giãn đối với đầu vào Với hàm đầu tư, hành vi tối thiểu hóa chi phí sẽ tạo ra hàm cầu cho dịch vụ y tế ở dạng lô ga rít:

lnM= const + lnH1 – (1 – αM)lnw0 - αEE (5) Hàm này chỉ ra rằng mức vốn sức khỏe cao hơn sẽ dẫn tới nhu cầu cao hơn đối với các dịch vụ y tế dưới dạng một yếu tố sản xuất Tác động của các biến ngoại sinh p

và w0 có thể được giải thích như sau (với biến nội sinh H1 không đổi)

Sự tăng lên trong mức giá p của dịch vụ y tế làm giảm lượng cầu Vì chỉ có hai yếu

tố sản xuất, sự giảm xuống của M sẽ được thay thế bởi một sự tăng lên trong thời gian dành cho chăm sóc sức khỏe tI Mức lương ban đầu w0 cao sẽ khiến nhu cầu đối với dịch vụ y tế cao (với một mức giáo dục E cho trước) Rõ ràng, khi chi phí cơ hội của thời gian tăng cao, tI được thay thế bởi M

Một mức giáo dục cao hơn tạo ra một tác động âm lên nhu cầu dịch vụ y tế trong hàm cầu Vì giáo dục làm tăng mức hiệu quả của dịch vụ y tế nên để duy trì một lượng vốn sức khỏe nhất định, cần ít dịch vụ y tế hơn

Trang 17

2.1.2 Lý thuyết đo lường phúc lợi

Theo lý thuyết kinh tế, hàm hữu dụng gián tiếp thường dùng để mô tả mức hữu dụng tối đa của cá nhân sẽ đạt được do phải chi một phần thu nhập (Y), cho sự cung ứng của một sản phẩm nào đó từ mức độ hiện nay (H0) đến mức trong tương lai (H1), và ứng với giá cả hàng hóa nhất định (P) Trong trường hợp nghiên cứu này, hàng hóa là chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà và hiện tại nó chưa có trên thị trường tại Bệnh viện quận Tân Phú Ngoài ra, mức hữu dụng của cá nhân còn được giả định là phụ thuộc vào các yếu tố kinh tế và xã hội khác (S) đại diện cho sự ưa thích của cá nhân Với những giả định nêu trên, hàm hữu dụng gián tiếp của cá nhân có thể viết dưới dạng tổng quát như sau (Bateman và cộng sự, 2002; Hanemann, 1994):

Ԑi: là sai số đại diện cho những yếu tố khác của mức hữu dụng mà cá nhân biết, nhưng nhà nghiên cứu không thể biết (quan sát)

Trong những trường hợp phổ biến thì mức hữu dụng của cá nhân được kỳ vọng là

sẽ đạt được mức cao hơn khi thu nhập tăng và khi giá hàng hóa giảm

Trong nghiên cứu này, khi gia tăng cung cấp dịch vụ y tế tốt hơn sẽ mang lại sự cải thiện sức khỏe tốt hơn Khi đó, với chất lượng dịch vụ y tế là (H1), cá nhân sẽ có mức hữu dụng (U1) cao hơn so với chất lượng dịch vụ y tế ban đầu (H0) là (U0)

U0 (Y, P, S, H0, Ԑi) < U1 (Y, P, S, H1, Ԑi) (5) Trong nghiên cứu CVM, câu hỏi về giá sẵn lòng trả cho biết số tiền đối đa mà cá nhân sẽ sẵn lòng trả để được thụ hưởng một mức độ thay đổi về chất lượng dịch vụ

y tế tốt hơn

Trong mô hình mức hữu dụng của nghiên cứu này, cá nhân được giả định là họ sẽ

so sánh mức hữu dụng hiện tại khi sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại bệnh viện với mức hữu dụng sẽ có được sau khi họ sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà Vì cá nhân sẽ có mức hữu dụng cao hơn (U1) với chất lượng dịch vụ y tế (H1),

Trang 18

lý thuyết kinh tế giả định rằng cá nhân sẽ sẵn sàng bỏ ra một số tiền nào đó để có được chất lượng dịch vụ y tế (H1) Nói cách khác WTP được mô tả là số tiền tối đa

mà cá nhân sẽ chi trả để bảo đảm là mức hữu dụng của mình tại mức chất lượng dịch vụ y tế cao ngang bằng (tương tự) với mức hữu dụng của mình tại mức chất lượng dịch vụ y tế thấp trước đây

U0 (Y, P, S, H0, Ԑi) = U1 (Y – WTP, P, S, H1, Ԑi) (6) WTP = U0 (Y, P, S, H0, Ԑi) – U1 (Y, P, S, H1, Ԑi) (7) WTP trong phương trình (6 và 7) là giá trị thay đổi đền bù Hicksian dùng để đo lường sự thay đổi trong phúc lợi (Bateman và cộng sự, 2002; Hanemann, 1994) Dựa theo phương trình (7), WTP là một hàm số của các biến trong mô hình, và được viết dưới dạng tổng quát như sau:

WTP = WTP (H0, H1, Y, P, S, Ԑi) (8)Trong đó, H0, H1 là chất lượng dịch vụ y tế trước và sau khi cải thiện; Y là thu nhập của cá nhân; P là giá của dịch vụ; và S là véc tơ các biến số kinh tế – xã hội Theo lý thuyết kinh tế, có một điểm khác cần lưu ý là mức WTP cao nhất trong phương trình (8) mà cá nhân có thể chi trả bị giới hạn bởi khả năng chi trả của họ – thu nhập Biến số thu nhập thích hợp nhất trong trường hợp nghiên cứu WTP là thu nhập còn lại của cá nhân (Y1) sau khi chi tiêu cho các khoản cần thiết khác (ăn, mặc, ở, đi lại, giải trí) Nói cách khác là WTP của cá nhân chỉ có thể bằng hoặc thấp hơn thu nhập còn lại của họ, và phải lớn hơn hoặc bằng zero Đối với các hàng hóa dịch vụ y tế giá trị WTP âm là vô nghĩa, vì nếu hàng hóa đó không mang lại thêm gì cho mức hữu dụng của cá nhân thì không cần phải cung cấp

0 ≤ WTP (H0, H1, Y, P, S, Ԑi) = H (WTP) + Ԑi ≤ Y (8)

Ký hiệu H trong phương trình (8) là giá trị kỳ vọng của WTP Mô hình (8) là mô hình lý thuyết cơ bản để nghiên cứu về WTP của cá nhân trong các nghiên cứu về CVM, được áp dụng trong nghiên cứu này

Trang 19

2.2 Một số nghiên cứu liên quan

2.2.1 Các nghiên cứu trong nước

Các nghiên cứu về nhu cầu chăm sóc sức khỏe tại bệnh viện được thực hiện khá

nhiều tại Việt Nam, chủ yếu tập trung đánh giá tình trạng quá tải bệnh viện, lý do người bệnh chọn bệnh viện (Lê Quang Cường và cộng sự, 2007) hay phân loại bệnh nhân đến bệnh viện (Trương Đức Tuấn và cộng sự, 2015) Tuy vậy, có rất ít nghiên cứu thực sự phân tích sâu về sở thích, nhu cầu của người bệnh đối với dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại bệnh viện

Lê Quang Cường và cộng sự (2007) đánh giá tình hình quá tải tại một số bệnh viện tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh Nghiên cứu được tiến hành ở 05 bệnh viện tuyến trung ương thuộc hai thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh gồm 02 bệnh viện đại diện cho khối bệnh viện đa khoa (Bạch Mai, Chợ Rẫy) và 03 bệnh viện đại diện cho nhóm bệnh viện chuyên khoa (Nhi Trung ương, Phụ sản Trung ương, Phụ sản Từ Dũ) Tất cả các bệnh viện được điều tra đều hoạt động vượt công suất thiết kế: công suất sử dụng giường bệnh luôn từ 165 đến 200%; số giường bệnh thực kê vượt so với số giường chỉ tiêu đến 200%; Số ngày sử dụng thực tế trung bình 1 giường bệnh/năm dao động từ 390 –774 ngày/giường bệnh/năm (bình thường

280 ngày/giường/năm) Tình trạng quá tải xảy ra ở cả khu vực điều trị nội trú và khám bệnh ngoại trú Đối với bệnh viện đa khoa, tình trạng quá tải trong điều trị nội trú chủ yếu chỉ xảy ra ở các khoa điều trị các bệnh mạn tính, khó chữa Bệnh nhân BHYT có xu hướng đi khám chữa bệnh đúng tuyến cao gấp ba lần bệnh nhân không

có BHYT (46% so với 15%, khác biệt có ý nghĩa thống kê) Người bệnh có xu hướng đến thẳng bệnh viện tuyến TW để điều trị, kể cả người có và không có điều kiện kinh tế: 73.7% bệnh nhân bệnh viện Bạch Mai đến thẳng bệnh viện mà chưa từng đi đâu để khám chữa bệnh Tỷ lệ này ở bệnh viện Phụ sản TW và Từ Dũ thậm chí còn cao hơn, lên đến 89% và 97% Lý do lựa chọn bệnh viện do tin tưởng chiếm khoảng 80% bệnh nhân (trình độ chuyên môn, trang thiết bị, cơ sở vật chất …)

Trang 20

Trương Đức Tuấn và cộng sự (2015) khảo sát nhu cầu khám chữa bệnh tại Khoa Khám bệnh ở Bệnh viện 19-8 trong trong 03 năm (2013-2015) cho thấy số lượng bệnh nhân đến ngày càng tăng, đối tượng chủ yếu là BHYT, nhân dân và cán bộ chiến sỹ trong ngành Tuổi thường gặp là tuổi trưởng thành và người cao tuổi Nhóm bệnh chiếm tỷ lệ lớn hơn cả là Đông y, Tim mạch, Truyền nhiễm, Sản khoa, Chấn thương, Tiết niệu, Ung bướu, Hồi sức cấp cứu số lượng bệnh nhân đến khám tăng 3%/ 1 năm, đối tượng chủ yếu là BHYT (44,2%), nhân dân (33,5%) và cán bộ chiến sỹ trong ngành (22,3%) Tuổi thường gặp là tuổi trưởng thành và người cao tuổi (98%) Nhóm bệnh chiếm tỷ lệ lớn hơn cả là Đông y, Tim mạch, Truyền nhiễm, Sản khoa, Chấn thương, Tiết niệu, Ung bướu

Các nghiên cứu về nhu cầu chăm sóc sức khỏe tại nhà của người dân, người

bệnh điều trị ngoại trú đã được thực hiện khá nhiều ở một số tỉnh/thành phố miền Bắc và miền Trung (Phạm Nhật An Cơ, 2009, Bùi Thùy Dương, 2010, Trần Thanh Long, 2010, Đặng Thị Lan Phương, 2009, Nguyễn Văn Sỹ, 2009, Nguyễn Huyền Trang, 2012) và ở đối tượng người cao tuổi (Trần Thị Hạnh, 2008, Hoàng Trung Kiên, 2013) Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu thật sự phân tích sâu về nhu cầu chăm sóc sức khỏe tại nhà của người bệnh điều trị nội trú tại các tỉnh/thành phố miền Nam

Phạm Nhật An Cơ (2009) đánh giá thực trạng và nhu cầu chăm sóc sức khỏe tại gia đình, đề xuất giải pháp phát triển mạng lưới y học gia đình Kết quả cho thấy phụ

nữ sau đẻ được cán bộ có chuyên chăm sóc tại nhà ở các tỉnh/ thành phố phía Bắc

có tỉ lệ khá cao (66,7% - 80,0%) so với các địa phương khác (29,7% - 40%) Ninh Thuận có tỉ lệ này thấp nhất (29,7%) Người bệnh mạn tính có cán bộ chuyên môn tới hỗ trợ tại nhà chiếm từ 3,7% - 21,4% Có tới gần nửa số dân chưa bao giờ đi kiểm tra hay khám sức khỏe (28,2%- 45,0%) Tỉ lệ mức nhu cầu 50% của kiến thức

về chính sách bảo hiểm y tế, tiêm chủng mở rộng và kế hoạch hóa gia đình từ 82,9% - 95,50% Tỉ lệ này đối với tiêu chuẩn nước sinh hoạt và hố xí hợp vệ sinh

>90%, với sơ cứu bỏng và điện giật tại nhà > 85,3%; với chế độ ăn, uống, làm việc,

vệ sinh và khám thai của phụ nữ có thai cũng như nuôi dưỡng trẻ nhỏ 4 tháng đầu

Trang 21

sau sinh từ 85,3% đến 91,4% Tỉ lệ nhu cầu mức 50% về thực hành giảm thiểu các tác nhân hay nguy cơ không tốt cho sức khỏe tại nhà của người dân (ruồi, muỗi, nước sinh hoạt chưa vệ sinh) <20% Nhu cầu này đối với người nghèo, phụ nữ, trẻ

em nhóm tàn tật và mạn tính cao hơn

Bùi Thùy Dương (2010) đã tiến hành nghiên cứu tìm hiểu nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngoài giờ và tại nhà của bệnh nhân và người nhà bệnh nhân tại bệnh viện Đại học Y Hà Nội năm 2010 cho thấy hầu hết tất cả các bệnh nhân đều cho rằng nên triển khai các dịch vụ y tế CSSK ngoài giờ và tại nhà, đặc biệt là khám vào ngày thứ

7 và chủ nhật lên đến 93.75% khách hàng ủng hộ, sau đó là đến khám ngoài giờ ngày thường chiếm 83.02% ý kiến khách hàng, rồi đến khám buổi chiều ngày thường là 77.59% và khám tại nhà 69.44% Khách hàng chấp nhận chi phí gia tăng 20% khi khám bệnh, và 2% - 5% khi làm xét nghiệm so với mức giá bình thường trong giờ hành chính của bệnh viện Các chuyên khoa được đối tượng nghiên cứu lựa chọn khi sử dụng dịch vụ CSSK ngoài giờ là các chuyên khoa phổ biến như nội (22.9% - 26.7% ), nhi (17.1% - 35.6%), ngoại, tai mũi họng, sản khoa … Nghiên cứu cũng cho thấy một số yếu tố liên quan đến nhu cầu CSSKTN như đối tượng trình độ học vấn cao, họ thường có nhận thức và hiểu biết đầy đủ hơn về chăm sóc sức khỏe cho bản thân và người nhà nên thường có nhu cầu sử dụng dịch vụ CSSK ngoài giờ cao hơn Yếu tố thời gian làm việc bao gồm: làm việc theo giờ hành chính và làm ca cũng có nhu cầu sử dụng các dịch vụ này cao hơn

so với nhóm làm việc tự do Nhóm khách hàng ở gần bệnh viện cũng có nhu cầu cao hơn so với nhóm ở xa bệnh viện Đối tượng có khả năng chi trả hoặc là có thu nhập cao, hoặc là chấp nhận mức giá trên dù không có khả năng chi trả nhưng

vì sức khỏe họ chấp nhân chi phí thì sử dụng dịch vụ cao hơn là nhóm không có khả năng chi trả

Trần Thị Hạnh (2008) đánh giá mối quan hệ giữa nhu cầu CSSK và thực trạng CSSKTN của người cao tuổi Kết quả nghiên cứu cho thấy có 91% người cao tuổi hoàn toàn tự lực trong sinh họat hàng ngày, 51% tự chăm sóc khi họ bị bệnh, vai trò cán bộ y tế cơ sở mờ nhạt trong trong chăm sóc sức khỏe tại nhà cho người cao tuổi,

Trang 22

84% người cao tuổi bị bệnh mãn tính, 57% bỏ qua những dấu hiệu nhẹ của bệnh, 16% chưa nhận được sự hổ trợ hợp lý của gia đình và cộng đồng Đề tài phát hiện bệnh mãn tính liên quan đến địa bàn sinh sống; tình trạng sức khỏe phụ thuộc vào tuổi, trình độ học vấn, tình trạng làm việc và điều kiện nhà ở của họ; tuổi tác, tình trạng làm việc, nhu cầu sức khỏe liên quan đến việc tự chăm sóc của người cao tuổi Khi người cao tuổi bị bệnh, hơn ½ hoàn toàn tự lực khi CSSK cho mình, thậm chí

có gần 7% không quan tâm (bỏ qua) Có 22% hoạt động chăm sóc cho người cao tuổi khi họ bị bệnh được gia đình thực hiện hoàn toàn Vai trò của cán bộ y tế mờ nhạt trong CSSKTN cho người cao tuổi Tuổi tác, tình trạng làm việc là những yếu

tố liên quan đến khả năng tự chăm sóc của họ Ngoài ra, tự chăm sóc cũng liên quan đến nhu cầu chăm sóc

Hoàng Trung Kiên và cộng sự (2013) với nghiên cứu khảo sát sức khỏe và nhu cầu CSSK của người cao tuổi tại bốn xã huyện Đông Anh, Hà Nội Kết quả nghiên cứu cho thấy trong các nguyện vọng về chăm sóc sức khỏe, người cao tuổi mong muốn được KCB tại nhà với chi phí phải chăng chiếm tỷ lệ cao nhất (87,8%), tiếp đến là cung cấp thông tin về phòng bệnh, chăm sóc sức khỏe, tổ chức luyện tập dưỡng sinh và thể dục thể thao (82,7%) Có 75,3% người cao tuổi muốn được khám sức khỏe định kỳ tại trạm y tế xã và 18,8% người cao tuổi có những mong muốn khác Có khoảng 77,9% người cao tuổi không đi khám sức khỏe định kì Tỷ lệ này ở

xã Liên Hà là 82,3% là cao hơn so với xã Uy Nỗ là 80,9% Đa phần những người cao tuổi không đi khám sức khỏe định kì vì lý do không thuận tiện, mất thời gian (40,1%) và cảm thấy không cần thiết (31,8%) Trong số những người cao tuổi bị ốm trong 3 tháng trước điều tra có 4,6% người cao tuổi không điều trị gì Cách xử trí đầu tiên khi ốm là đi khám chữa bệnh (76,2%) Tỷ lệ này ở nam là 75,4% thấp hơn

so với nữ (76,8%) Số người cao tuổi tự điều trị chiếm tỷ lệ khá cao, ở nữ là 14,6% trong khi ở nam là 17,5% Phần lớn người cao tuổi khi bị ốm lựa chọn bệnh viện, phòng khám đa khoa khu vực và trạm y tế để khám chữa bệnh ban đầu (54,0% và 32,2%) Tỷ lệ người cao tuổi đến khám chữa bệnh tại y tế tư nhân là 10,6%, trong

đó chỉ có một tỷ lệ rất nhỏ người cao tuổi tìm đến Lương y (3,2%) Người cao tuổi

Trang 23

nam đến bệnh viện, phòng khám đa khoa khu vực để khám chữa bệnh chiếm tỷ lệ cao hơn người cao tuổi nữ (58,9% so với 51,5%) Trong khi đó tỷ lệ người cao tuổi

nữ đến trạm y tế và y tế tư nhân lại cao hơn người cao tuổi nam (33,5% so với 30,0% và 12,2% so với 8,0%) Trong các lý do người cao tuổi sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh tại trạm y tế, chủ yếu là do thái độ phục vụ tận tình, chu đáo (33,0%), thuận tiện và gần nhà (32,1%), tiếp đến là tốn ít tiền (29,4%), không phải chờ lâu (26,1%) và sẵn thuốc (24,2%) Một tỷ lệ nhỏ người cao tuổi cho rằng là do chuyên môn giỏi (9,7%) Lý do người cao tuổi sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh tại bệnh viện, phòng khám đa khoa khu vực chủ yếu là do có thẻ bảo hiểm y tế (51,9%), tiếp theo là chuyên môn giỏi (49,2%), sẵn thuốc (40,3%), muốn khám cận lâm sàng (31,6%) Số người cao tuổi cho rằng là do bệnh nặng chiếm tỷ lệ thấp nhất (26,4%)

Trần Thanh Long (2010) tiến hành nghiên cứu khảo sát nhu cầu dịch vụ chăm sóc sức khỏe ngoài giờ và tại nhà của người sử dụng dịch vụ tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội năm 2010 và kết quả cho thấy rằng hầu hết các đối tượng đến khám bệnh đều có nhu cầu với các dịch vụ khám buổi chiều ngày thường, khám ngoài giờ ngày thường, khám ngày thứ 7 và chủ nhật và khám tại nhà với tỉ lệ lần lượt là 55,3%, 62,5%, 64,3% và 64,3% Nghiên cứu này cũng đã đưa ra được rằng hầu hết người sử dụng dịch vụ đều có khả năng chi trả các dịch vụ y tế CSSK ngoài giờ và tại nhà, đặc biệt là khám ngoài giờ ngày thường Đối với dịch vụ khám ngoài giờ ngày thường, tỷ lệ người sử dụng có nhu cầu về dịch vụ này đều đạt trên 70% Đặng Thị Lan Phương (2009) nghiên cứu về thực trạng và nhu cầu CSSK hộ gia đình tại tỉnh KonTum cho thấy phần lớn mọi người đều muốn có bác sĩ, cán bộ

y tế khám và CSSK tại nhà Khám, chăm sóc, tư vấn hướng dẫn người bệnh mãn tính tại nhà đạt tỷ lệ cao có 53,8%, được tư vấn huấn luyện điều trị là 15,4 %,

số người không được tư vấn huấn luyện điều trị là 69,2%, có thể nhận thấy người dân có nhu cầu chăm sóc nhưng sự đáp ứng các dịch vụ y tế còn chưa đầy đủ

Trang 24

Nguyễn Văn Sỹ (2009) nghiên cứu về thực trạng và nhu cầu CSSK hộ gia đình tại tỉnh Yên Bái cho thấy tại đây người dân chỉ đi khám sức khỏe khi có vấn đề về bệnh tật chiếm 42,7%, khi có ốm đau họ tự chữa ở nhà với tỉ lệ 21,9% sau đó mới đến các

cơ sở y tế khác của nhà nước vì họ cho rằng đến cơ sở y tế nhất là không phải tuyến

y tế cơ sở thì rất phiền hà và tốn kém Khi chăm sóc người nhà mắc bệnh mãn tính

họ tự tìm hiểu cách chăm sóc cho người nhà mình vì do thiếu nhân lực cán bộ y tế đến tư vấn hỗ trợ chỉ có ở mức 35,7%

Nguyễn Huyền Trang (2012) thực hiện nghiên cứu đưa ra các kết luận thống kê về tình hình chăm sóc sức khỏe ở Hải Dương Kết quả thống kê cho thấy những người đã bị ốm và đã từng đi khám ở các cơ sở khám chữa bệnh tại bệnh viện huyện, cơ sở y tế tư nhân, trạm y tế xã hoặc từng khám tại nhà đều có nguyện vọng được sử dụng dịch vụ khám tại nhà cao hơn các đối tượng chưa sử dụng các dịch vụ khám bệnh kể trên cao gấp 3,87; 16,15; 1,70; 2,18 lần Những người làm cán bộ

có nhu cầu khám tại nhà thấp hơn, chưa bằng 50%, so với nhu cầu khám tại nhà của nhóm chứng (nhóm nông dân) Những người có thu nhập bình quân gia đình thấp và thu nhập bình quân gia đình trung bình có nhu cầu khám tại nhà gần như nhau So với những người có bình quân thu nhập gia đình trung bình, những người có thu nhập khá có nhu cầu khám sức khỏe tại nhà cao hơn gấp 2,25 lần Phần đông người dân trong khu vực nội thành làm việc trong giờ hành chính nên việc bố trí thời gian đi khám bệnh tại các cơ sở y tế công lập gặp một số khó khăn, họ sẵn sàng chi trả cho dịch vụ khám bệnh tại nhà Những người lao động tự do có nhu cầu khám chữa bệnh tại nhà thấp hơn, chỉ bằng khoảng 32%, so với nhu cầu của nông dân Những hộ gia đình

có người già có nhu cầu điều trị bệnh tại nhà bằng 50,87% so với những gia đình không có người già Nhu cầu điều trị tại nhà của người thành phố cao hơn gấp 5,45 lần so với nhu cầu điều trị tại nhà của người sống ở khu vực nông thôn Tỷ lệ trẻ em dưới 16 tuổi có nhu cầu khám bệnh tại nhà là 36,47%, cao hơn so với nhu cầu khám bệnh tại nhà của đối tựong người

Trang 25

trong độ tuổi lao động Nhu cầu khám bệnh tại nhà của trẻ em đã từng khám bệnh trong vòng 06 tháng trước khi điều tra chỉ bằng 21,06% so với trẻ chưa từng khám bệnh trong vòng 06 tháng Trẻ đã từng dùng dịch vụ khám tại nhà

và khám bệnh viện huyện có nhu cầu sử dụng dịch vụ khám tại nhà cao gấp 10,76 lần và 14,17 lần so với những trẻ chưa từng sử dụng các dịch vụ y tế Nhu cầu sử dụng dịch vụ điều trị tại nhà của gia đình trẻ em thành phố cao hơn gấp hơn 11 lần so với nhu cầu sử dụng dịch vụ điều trị tại nhà của gia đình trẻ em nông thôn.

2.2.2 Các nghiên cứu ngoài nước

Nghiên cứu về nhu cầu chăm sóc sức khỏe tại nhà đã được thực hiện nhiều ở một

số nước trên thế giới Các nghiên cứu cho thấy thể chất, tình trạng sức khỏe, thu nhập, tình trạng bảo hiểm, phương tiện đi lại, khoảng cách từ nhà đến bệnh viện, chi phí dịch vụ khám bệnh tại nhà có mối liên quan đến nhu cầu sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà

Shipman C & Dale J (1999) nghiên cứu về sự đánh giá của bác sỹ đối với nhu cầu khám chữa bệnh ngoài giờ theo các nhu cầu về thể chất, tâm sinh lý (psychological/emotional) và xã hội ở một vùng của Vương quốc Anh 66% các yêu cầu khám bệnh ngoài giờ có liên quan đến các yêu cầu về thể chất, tâm sinh lý (psychological/emotional) và xã hội và 10.7% các trường hợp là không xác định được mối liên quan (Shipman and Dale, 1999)

Salisbury (2002) xem xét các nghiên cứu nhu cầu về dịch vụ khám bệnh ngoài giờ của bác sỹ ở nước Anh cho biết, tất cả các dịch vụ khám bệnh ngoài giờ đều tính chi phí gia tăng (night visit fee) Chi phí này khác nhau giữa các vùng, trình độ và các bác sỹ khác nhau (Salisbury, 2002)

Kajal (2003) tiến hành nghiên cứu phân tích nhu cầu dịch vụ chăm sóc sức khỏe ngoại viện của các cựu chiến binh được hỗ trợ bởi Medicare phát hiện rằng số tiền chênh sau khi được Medicare hỗ trợ và khoảng cách từ nhà đến bệnh viện làm giảm

Trang 26

khả năng lựa chọn dịch vụ chăm sóc ngoại viện Một số yếu tố khác như thu nhập, tình trạng bảo hiểm, phương tiện đi lại, công việc, sức khỏe và tình trạng các chẩn đoán cũng ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn dịch vụ chăm sóc sức khỏe ngoại viện (Kajal and Xing, 2003)

LG Glynna, M Byrnea, J Newellb and AW Murphya (2004) nghiên cứu về sự ảnh hưởng của tình trạng sức khỏe đối với sự hài lòng của người bệnh khi sử dụng dịch

vụ ngoài giờ được bác sỹ gia đình cung cấp ở Cộng hòa Ireland cho thấy người bệnh có tình trạng sức khỏe yếu hơn có mức độ hài lòng cao hơn với dịch vụ này Đồng thời họ cũng khuyến nghị đây là một trong các chỉ số để triển khai dịch vụ ngoài giờ (Glynna et al., 2004)

Eric và cộng sự (2007) tiến hành nghiên cứu về nhu cầu khám, chăm sóc và điều trị ngoài giờ trong dịch vụ khám bệnh và cấp cứu ở Hà Lan thấy rằng bác sỹ tiếp nhận 88% thăm khám ngoài giờ, trong khi đó bộ phận cấp cứu chỉ phải tiếp nhận 12% các dịch vụ này Phần lớn các nhu cầu khám ngoài giờ của các đối tượng nam giới trưởng thành là các chấn thương, trong đó có 19% là các chấn thương gẫy xương (Eric et al., 2007)

Trang 27

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Chương 3 trình bày về khung phân tích của nghiên cứu này Phương pháp đánh giá ngẫu nhiên bao gồm nội dung, các bước thực hiện và phương pháp hỏi giá sẵn lòng trả Quá trình thu thập dữ liệu như cách tính xác định cỡ mẫu và kỹ thuật chọn mẫu Phương pháp, quy trình thu thập, quản lý và phân tích dữ liệu Định nghĩa các biến số; thiết kế nghiên cứu và vấn đề đạo đức nghiên cứu

3.1 Khung phân tích

CẦU CHĂM SÓC SỨC KHỎE TẠI NHÀ

Đặc tính cá nhân:

- Mức lương, Giáo dục, Tuổi tác, Sự sung

túc (Grossman (1972b)

- Tuổi tác, Tình trạng sức khỏe

(Wagstaff (1986) và Leu và Gerfin (1992))

Giá dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại

nhà

Sản phẩm thay thế (Sự hài lòng chất lượng dịch vụ tại bệnh viện)

Trang 28

3.2 Phương pháp đánh giá ngẫu nhiên

3.2.1 Nội dung của Phương pháp

Phương pháp đánh giá ngẫu nhiên (Contingent Valuation Method – CVM) được sử dụng để ước tính nhu cầu của bệnh nhân thông qua giá sẵn lòng trả cho dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà

Phương pháp đánh giá ngẫu nhiên (CVM) được gọi là phương pháp "tuyên bố sở thích", bởi vì nó yêu cầu người trực tiếp trả lời nêu giá trị của họ, chứ không phải là các giá trị từ sự lựa chọn thực tế

CVM dùng các kỹ thuật phỏng vấn cá nhân để định giá loại hàng hóa hay dịch vụ vốn không có trên thị trường CVM là một hình thức nghiên cứu thị trường, ở đó

“sản phẩm” là sự thay đổi trong môi trường CVM khác với nghiên cứu thị trường chung là ở chỗ nó đề cập đến một sự kiện mang tính giả thiết

CVM bao gồm các cuộc phỏng vấn cá nhân, các cuộc điều tra bằng thư và các cuộc điều tra qua điện thoại để biết được mức giá sẵn lòng trả của người tiêu dùng về các hàng hóa không có trên thị trường dựa trên một kịch bản giả định để đo lường các giá trị liên quan đến các hàng hóa

Ưu điểm của CVM: ít tốn chi phí hơn so với phương pháp thử nghiệm thực tế thị trường, không cần dựa vào nguồn dữ liệu thứ cấp như các phương pháp khác

Nhược điểm của CVM: Khi sử dụng CVM, kết quả điều tra phụ thuộc vào các điều kiện của thị trường giả định, cách đặt vấn đề của người điều tra, cách chọn mẫu làm cho câu trả lời của các cá nhân không đúng với giá trị thực

Theo một số tác giả, có một số trở ngại tiềm ẩn đối với nhà phân tích thiếu thận trọng sẽ làm sai lệch:

(1) Nói ít đi giá sẵn lòng trả (Willing To Pay – WTP): cho rằng bản chất giả thuyết của CVM làm cho câu trả lời của các cá nhân không đúng với sự thật, có xu hướng nói bớt đi cái giá mà người ta sẽ thực sự trả Tuy vậy phần bớt này tương đối nhỏ nên không phải vấn đề nghiêm trọng

Trang 29

(2) Giá sẵn lòng trả (WTP) hay giá sẵn lòng chấp nhận (Willing To Accept – WTA) không tương đồng: Khi đem so sánh giữa mức giá sẵn lòng trả (WTP) và mức giá sẵn lòng nhận bao nhiêu (WTA) để được bồi thường cho việc từ bỏ dịch vụ này, bao giờ WTA cũng cao hơn WTP rất nhiều

Khi đem so sánh hai dạng trên các nhà phân tích cho rằng mức sẵn lòng chấp nhận WTA cao hơn mức sẵn lòng trả WTP rất nhiều, trên lý thuyết mức sẵn lòng trả và chấp nhận có giá trị tương đương nhưng thực tế khác nhau hoàn toàn

So sánh khi hỏi về mức giá sẵn lòng trả – WTP, người được hỏi thường trả lời mức sẵn lòng trả tối thiểu, nhưng khi hỏi về mức giá sẵn lòng chấp nhận – WTA, họ sẽ trả lời mức chấp thuận tối đa, vì mức sẵn lòng trả chịu ảnh hưởng bởi giới hạn thu nhập của người được phỏng vấn còn mức sẵn lòng chấp nhận thì không bị ảnh hưởng Điều này có thể được giải thích rằng sự ưa thích và lựa chọn của con người không hoàn toàn giống nhau

WTP thể hiện mức độ ưa thích của một cá nhân về một mặt hàng nào đó Ở đây mặt hàng đó là dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà, là một mặt hàng mà chỉ khi cá nhân nhận thức được giá trị của chi phí cơ hội của thời gian di chuyển, thời gian chờ đợi khám bệnh và thu nhập bị mất do phải nghỉ làm để đi khám chữa bệnh; sự an toàn,

sự tiện ích khi được khám bệnh tại nhà; tình trạng sức khỏe không bị giảm đi do những yếu tố khách quan trong quá trình di chuyển và đến bệnh viện khám chữa bệnh

Còn WTA thì ngược lại là khi họ không thích một điều gì đó, họ cũng sẽ sẵn lòng trả một mức giá nào đó để tránh nó hoặc sẵn lòng chấp nhận mức đền bù nào đó để chịu đựng điều mà họ không thích

Phương pháp phỏng vấn trực tiếp thường được áp dụng nhiều trong tất cả các nghiên cứu, nhất là trong phương pháp định giá ngẫu nhiên, nó giúp người điều tra

và người được phỏng vấn gần gũi, thân thiện, dễ dàng trao đổi các thông tin, đưa ra nhiều tình huống giả định, đồng thời kết hợp nhiều dẫn chứng, minh họa để chứng minh tình huống nào tốt nhất để người được hỏi so sánh lựa chọn, kết quả chất

Trang 30

lượng cuộc phỏng vấn được tốt hơn Hạn chế của phương pháp này đòi hỏi người đi điều tra phải nắm vững chuyên môn yêu cầu mục đích của việc điều tra, các tình huống giả định để phân tích, tốn nhiều thời gian, chi phí và công sức

(3) Thiên lệch một phần – toàn phần: Nếu người lần đầu tiên được hỏi WTP trả cho một phần tài sản và sau đó được hỏi đánh giá cho toàn bộ thì số tiền được phát biểu

là như nhau vì tổng ngân sách của họ ổn định, do đó dễ sai lệch khi hỏi quy mô rộng lớn

(4) Thiên lệch điểm khởi đầu: Do ban đầu gợi ý cho người trả lời đưa ra mức trả khởi đầu từ thấp đến cao hoặc từ cao xuống thấp, thì việc lựa chọn mức khởi đầu này sẽ ảnh hưởng đến sự trả lời WTP của họ

(5) Thiên lệch theo phương tiện: Khi xây dựng câu hỏi WTP người thiết kế điều tra phải xác định rõ phương tiện đóng góp Với mỗi phương tiện đóng góp khác nhau như: bằng tiền mặt, bằng tài khoản thì mức WTP cũng khác nhau Tùy thuộc vào điều kiện cụ thể mà chúng ta xác định phương tiện đóng góp hay sử dụng nhất để tránh trở ngại này

Khi thực hiện nghiên cứu này thì dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà chưa được triển khai tại Bệnh viện quận Tân Phú, vì thế nghiên cứu này sử dụng phương pháp đánh giá ngẫu nhiên để xác định nhu cầu của người bệnh và cách hỏi mức giá sẵn lòng trả (WTP) để xác định mức giá sẵn lòng trả của người bệnh tại Bệnh viện quận Tân Phú cho dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà

3.2.2 Các bước thực hiện CVM

Để thu thập dữ liệu hữu ích và cung cấp kết quả có ý nghĩa, nghiên cứu này thực hiện khảo sát đánh giá ngẫu nhiên, kiểm tra trước, thực hiện câu hỏi khảo sát tập trung vào dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà và một bối cảnh cụ thể được xác định

rõ ràng để người trả lời khảo sát hiểu rõ hiệu quả của dịch vụ CSSKTN, và thực sự nói rõ giá trị sẵn lòng trả của họ đối với các dịch vụ này khi họ trả lời các câu hỏi định giá Quá trình thu thập dữ liệu được thực hiện như sau:

Trang 31

mẫu tiến hành điều tra bao nhiêu, đối tượng điều tra là ai và các thông tin liên quan khác trong bảng hỏi Câu trả lời cho những vấn đề này dựa vào những thông tin khác nhau như tầm quan trọng của vấn đề định giá, tống họp các câu hỏi được hỏi,

và chi phí tiến hành điều tra

Bản thân cuộc phỏng vấn nhìn chung ảnh hưởng bởi tống hợp các câu hỏi vì nó thường dễ dàng hơn để giải thích xung quanh thông tin được yêu cầu trả lời Người phỏng vấn thường phải tiến hành điều tra trong thời gian dài do người được hỏi thiếu thông tin về vấn đề nghiên cứu Trong một số trường hợp, những sự giúp đỡ cần thiết là cung cấp video hay tranh ảnh màu cho đối tượng hỏi để họ hiểu được điều kiện giả định mà họ sẽ định giá

Trong quá trình điều tra thì phỏng vấn là quan trọng nhất Tuy nhiên, quá trình điều tra bằng gửi thư điện tử với mục đích tỉ lệ trả lời cao có thể cũng khá đắt giá Điều tra bằng cách gọi điện hoặc gửi thư điện tử rất ngắn gọn Điều tra bằng cách gọi điện thoại có thể chi phí thấp hơn nhưng thông thường rất khó để hỏi những câu hỏi CVM đối với đối tượng hỏi bởi vì giới hạn số lượng xung quanh thông tin yêu cầu Trong trường hợp giả định tiến hành bằng gửi thư điện tử thì người điều tra muốn khảo sát một mẫu rộng, trên nhiều vùng địa lý và hỏi những câu hỏi về vị trí cụ thể

và lợi ích của nó; cái mà dễ dàng được miêu tả trong bài viết

Bước 4: Xây dựng cơ sở dữ liệu và phân tích số liệu:

Thu thập và kiểm tra dữ liệu

Loại bỏ các bảng câu hỏi không phù hợp

Xây dựng cơ sở dữ liệu

Trang 32

Bước 1: Xác định các mục tiêu cụ thể:

Xây dựng các công cụ cho điều tra gồm các phương tiện mà dựa trên nguyên lý để tìm ra WTP/ WTA của các cá nhân, và để thực hiện các việc đó cần:

Xác định đối tượng cần được đánh giá

Thiết kế một kịch bản giả thiết

Thiết lập giá trị cần được ước lượng và đơn vị đo lường qua việc chọn lựa câu hỏi WTP hay WTA bởi vì trong mỗi hoàn cảnh khác nhau thì phương cách trả lời khác nhau

Xác định đơn vị thời gian của WTP/ WTA

Xác định đối tượng phỏng vấn

Bước 2: Thiết kế bảng câu hỏi, gồm các phần:

Giới thiệu

Thông tin cá nhân

Đặc điểm nghiên cứu

Tình huống giả định

Câu hỏi WTP

Thông tin kinh tế

Bước 3: Tiến hành khảo sát:

Xác định phương pháp lấy mẫu

Quyết định tiến hành phỏng vấn như thế nào, ở đâu và khi nào

Huấn luyện phỏng vấn viên

Thực hiện phỏng vấn

Bước này là bước quyết định ban đầu của cuộc điều tra, bao gồm cách tiến hành điều tra bằng gửi thư điện tử, gọi điện hay điều tra trực tiếp người dân; kích thước

Trang 33

Sau khi đã tính toán xong cần phân tích độ nhạy tức là xem xét sự thay đổi của giá trị đã tính toán trước sự biến động của thị trường Cụ thể, xem xét liên quan đến tỷ

số chiết khấu và biến động về giá trị ròng trong thực hiện đưa vào phân tích chi phí – lợi ích sức khỏe và đó là kết quả chúng ta đề xuất cho các nhà hoạch định chính sách và sử dụng

3.2.3 Phương pháp hỏi giá sẵn lòng trả (WTP)

Mục đích chính của CVM là để suy ra giá trị mà người ta gán cho loại “sản phẩm” đang nghiên cứu và khả năng chi trả thực tế Hỏi các cá nhân về số tiền tối đa mà họ sẵn lòng trả (WTP) để sử dụng “sản phẩm” đó hay số tiền mà họ sẵn lòng chấp nhận (WTA) để từ bỏ “sản phẩm”

Xác định cách hỏi mức WTP/WTA:

a) Câu hỏi mở: Người trả lời được yêu cầu nói WTP tối đa của họ, phỏng vấn viên không đưa ra một mức giá nào cụ thể Câu hỏi mở tạo cho người trả lời sự tự do diễn đạt ý tưởng của họ chứ không trả lời theo khuôn mẫu định sẵn Tuy nhiên, một

số người không có khả năng trả lời một số câu hỏi sẽ dẫn đến kết quả thiếu thông tin Câu hỏi mở giúp tránh được thiên lệch từ phía người hỏi nhưng có thể bị thiên lệch từ phía người trả lời Thông tin phong phú nhưng xử lý thông tin và phân tích

dữ liệu khó hơn

b) Bidding games: Phỏng vấn viên đưa ra mức giá đầu tiên và yêu cầu người được phỏng vấn trả lời Nếu được trả lời "Có", phỏng vấn viên sẽ đưa ra giá ngày càng cao cho đến khi người được phỏng vấn trả lời "không" và ngược lại Đây chính là mức sẵn lòng trả tối đa của người trả lời Với cách hỏi này, thông thường trong các nghiên cứu, người tổ chức thường chia số mẫu phỏng vấn thành nhiều nhóm và mỗi nhóm sẽ có một mức giá khởi đầu khác nhau

Nhược điểm lớn nhất của phương pháp này là các sai lệch xảy ra trong mức giá khởi đầu Mức giá khởi đầu quá cao hay quá thấp đều ảnh hưởng đến kết quả cuối cùng của nghiên cứu

Trang 34

c) Payment card: Một loạt các mức giá được viết lên thẻ và người trả lời được yêu cầu chọn một mức giá Cách hỏi này thường đem lại mức sẵn lòng trả thấp, vì trong một loạt mức giá được ghi trên thẻ thì các mức giá thấp thường được người trả lời chú ý hơn

d) Câu hỏi đóng : Có hai cách hỏi dưới đây

Single – Bounded Dichotomous Choice: Tiến hành phân khoản từ mức WTP kì vọng cao nhất đến WTP kì vọng thấp nhất Tại mỗi mức giá này, sẽ tiến hành hỏi một nhóm đối tượng phỏng vấn, người được phỏng vấn sẽ trả lời “đồng ý” hay

“không đồng ý” với mức giá này

Ưu điểm: giúp người trả lời dễ quyết định

Nhược điểm: phải đảm bảo mức độ tin cậy trong việc lấy mẫu ngẫu nhiên

Double – Bounded Dichotomous Choice: Trong phương pháp này, người được phỏng vấn sẽ được hỏi một câu hỏi “ Có - Không” về việc họ sẵn lòng trả một khoản tiền nhất định cho mục đích mà nó đã được mô tả Nếu họ trả lời “có” thì câu hỏi này sẽ được lặp lại với một số tiền lớn hơn, nếu họ trả lời “không” thì câu hỏi thứ hai sẽ hỏi với một khoản tiền nhỏ hơn Điều này được lặp lại cho đến khi WTP cuối cùng được xác định

Hiện tại, dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà chưa triển khai tại Bệnh viện quận Tân Phú, trên 90% người bệnh sử dụng dịch vụ BHYT và có thu nhập không cao, trình

độ học vấn đa số dưới trung cấp Để giúp người bệnh dễ dàng trả lời cho quyết định

về mức giá dịch vụ, và đảm bảo giá trị ròng trong thực hiện đưa vào phân tích chi phí đề xuất cho các nhà hoạch định chính sách giá, nghiên cứu này chọn cách hỏi WTP (mức giá tối đa mà người bệnh sẵn lòng trả để sử dụng dịch vụ) với dạng câu hỏi Single – Bounded Dichotomous Choice để xác định khoản WTP kỳ vọng

3.3 Thu thập dữ liệu

3.3.1 Xác định cỡ mẫu, kỹ thuật chọn mẫu

Trang 35

Xác định cỡ mẫu:

Số đối tượng quan sát tối thiểu (n) được tính theo quy tắc ước lượng mức giá sẵn lòng trả như sau:

n = Số bid x 40 quan sát

Với: 01 bid = 01 mức giá ước lượng

Trong nghiên cứu này, với ước lượng 06 mức giá sẵn lòng trả lần lượt là: 100.000đ, 200.000đ, 250.000đ, 300.000đ, 400.000đ, 500.000đ

Dự trù 10% những trường hợp phiếu khảo sát không đảm bảo đủ thông tin hoặc mất mẫu Cỡ mẫu tối thiểu của nghiên cứu là n = 264 người dân Thực tế khảo sát trên

306 người bệnh

Khảo sát tiến hành tại 04 khoa Nội, Ngoại tổng hợp, Sản, Nhi với số người

bệnh được khảo sát tại mỗi khoa là n1 = n2 = n3 = n4 = 264/4 = 66 người

Với 06 mức giá, mỗi mức giá có 11 quan sát/khoa

Kỹ thuật chọn mẫu:

Phương pháp chọn mẫu: Chọn mẫu thuận tiện

Tiêu chuẩn chọn vào:

Người bệnh điều trị nội trú tại Bệnh viện quận Tân Phú đáp ứng các tiêu chuẩn sau: Người bệnh từ 16 tuổi trở lên đủ năng lực hành vi dân sự, đồng ý trả lời phiếu khảo sát, đồng ý tham gia nghiên cứu

Người bệnh là trẻ em dưới 16 tuổi hoặc những người bệnh gặp khó khăn trong vận động, giao tiếp hoặc bệnh nặng thì khảo sát người nhà trực tiếp chăm sóc và chi trả viện phí cho người bệnh

Ngay thời điểm lấy mẫu đã điều trị nội trú ≥ 24 giờ và trước thời gian xuất viện trong vòng 24 giờ sẽ được khảo sát cho đến khi đủ số cỡ mẫu tại từng khoa

Trang 36

Tiêu chuẩn loại ra:

Người bệnh đang trong tình trạng rất nặng hoặc đang trong tình trạng cấp cứu hoặc đang được điều trị hồi sức tích cực

Người bệnh điều trị nội trú chuyển viện đến bệnh viện khác tiếp tục điều trị

Người bệnh chưa kết thúc đợt điều trị nội trú nhưng xin ra viện hoặc trốn viện (bỏ

về không trở lại điều trị tiếp)

Thời gian thu thập dữ liệu: từ ngày 01/8/2016 cho đến khi đủ mẫu

3.3.2 Phương pháp thu thập dữ liệu

Công cụ thu thập dữ liệu:

Dữ liệu sơ cấp được thu thập qua phiếu khảo sát

Người bệnh/ người nhà người bệnh được phỏng vấn trực tiếp bằng bộ câu hỏi thiết

kế sẵn của phiếu khảo sát

Bộ công cụ thu thập dữ liệu được thử nghiệm với 48 quan sát (02 quan sát/mức giá với 06 mức giá, tại 04 khoa) trước khi đưa vào áp dụng chính thức để thu thập dữ liệu cho nghiên cứu

Bộ câu hỏi thu thập thông tin của người bệnh/ người nhà người bệnh gồm 03 phần: Phần I – Thông tin cá nhân (Tuổi, giới, học vấn, nghề nghiệp…); Phần II – Thông tin về dịch vụ; Phần III – Thông tin kinh tế

Quy trình thu thập dữ liệu:

Ngay sau khi đề cương nghiên cứu được thông qua cùng với sự chấp thuận cho tiến hành nghiên cứu của Hội đồng Khoa học Công nghệ và Ban Giám đốc Bệnh viện quận Tân Phú, tác giả thực hiện nghiên cứu

Bước 1: Tập huấn cho các điều tra viên về phương pháp và nội dung thu thập thông tin phiếu khảo sát, giải thích các thắc mắc liên quan đến quy trình nghiên cứu trong thời gian 01 buổi

Trang 37

Bước 2: Thực hiện thu thập dữ liệu nghiên cứu thử với 48 mẫu quan sát Xử lý dữ liệu và hiệu chỉnh phiếu khảo sát

Bước 3: Thu thập dữ liệu nghiên cứu chính thức

Bước 4: Xử lý dữ liệu, phân tích kết quả

3.4 Các biến số/chỉ số nghiên cứu

Biến phụ thuộc Y: là biến giả (dummy), quyết định đồng ý sử dụng dịch vụ

CSSKTN, nhận giá trị 1 khi người được phỏng vấn trả lời có nhu cầu sử dụng dịch

vụ và nhận giá trị 0 khi người được phỏng vấn trả lời không có nhu cầu sử dụng dịch vụ

Biến phụ thuộc Y được xây dựng thông qua tình huống giả định và câu hỏi WTP nhu sau

Tình huống giả định trong phiếu khảo sát CVM:

Dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại bệnh viện Dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà

Mất thời gian di chuyển từ nhà đến bệnh

viện trong khoảng 30 phút

Mất thời gian chờ đợi khám bệnh cho 01

Khi di chuyển đến bệnh viện có thể gặp

nguy hiểm, tai nạn trên đường

Mất chi phí cơ hội do nghỉ làm (người bệnh

Không mất thời gian di chuyển

Không mất thời gian chờ đợi

Thời gian khám bệnh và được tư vấn chăm sóc sức khỏe nhiều hơn

Chủ động chọn giờ khám bệnh Đảm bảo sự riêng tư và bí mật về tình trạng bệnh

Không cần di chuyển đến bệnh viện,

an toàn tại nhà

Không tốn chi phí cơ hội do nghỉ làm

Trang 38

Dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại bệnh viện Dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà

và đôi khi của người nhà) để đi khám bệnh

Sức khỏe về thể chất và cả tâm lý có thể

giảm do bị ảnh hưởng bởi các yếu tố môi

trường (nóng bức, vệ sinh, khả năng lây

nhiễm bệnh truyền nhiễm, …)

Tuổi tuoi biến định lượng, quy đổi từ dữ liệu “Năm

sinh”

Giới gioi biến định tính, nhận 02 giá trị: nếu người

bệnh là nam sẽ nhận giá trị = 1, là nữ =0 Dân tộc dtoc biến định tính, nhận 03 giá trị: nếu người

bệnh là dân tộc Kinh sẽ nhận giá trị = 1, Hoa = 2, dân tộc khác = 3

Nơi ở noio biến định tính, nhận 04 giá trị: người

bệnh thường trú hay tạm trú tại quận Tân Phú = 1, quận Tân Bình = 2, quận Bình Tân = 3, các quận khác = 4

Trang 39

Tên biến Mã hóa Diễn giải

Trình độ học vấn hocvan biến định tính, nhận 06 giá trị: người

bệnh có trình độ học vấn cấp 1= 1, cấp 2

= 2, cấp 3 = 3, trung cấp/cao đẳng = 4, đại học = 5, sau đại học = 6

Nghề nghiệp nghe biến định tính, nhận 06 giá trị: 1 = công

chức, viên chức nhà nước, 2 = cán bộ, nhân viên doanh nghiệp ngoài nhà nước,

3 = tự kinh doanh, 4 = nội trợ, 5 = hưu trí, 6 = khác (thất nghiệp, già, sinh viên,…)

Thời gian làm việc lamviec biến định tính, nhận 03 giá trị: 1 = tự do,

2 = làm ca, 3 = hành chính Vấn đề nghỉ làm đi khám

chữa bệnh

vande biến định tính, nhận 03 giá trị: 1 = khó

khăn, 2 = bình thường, 3 = dễ dàng Bảo hiểm y tế bhyt biến định tính, nhận 02 giá trị: 1 = có sử

dụng BHYT, 2 = không sử dụng BHYT Quy mô hộ gia đình quymo biến định tính, nhận 04 giá trị: 1 = sống

01 mình, 2 = 01 thế hệ (vợ - chồng), 3 =

02 thế hệ (cha mẹ và con), 4 = 03 thế hệ (ông bà, cha mẹ và con cháu)

Khoảng cách từ nhà đến

bệnh viện

kcach biến định lượng, tính theo kilomet

Tình trạng sức khỏe suckhoe biến định tính, nhận 03 giá trị: 1 = nặng –

cần có người phục vụ trong sinh hoạt bình thường, 2 = vừa – tự phục vụ sinh

Trang 40

Tên biến Mã hóa Diễn giải

hoạt, không lao động nhẹ được, 3 = nhẹ – không cần người giúp đỡ, lao động nhẹ nhàng được

Thu nhập cá nhân thunhap biến định lượng, số tiền thu nhập của

người bệnh trong 01 tháng theo đơn vị triệu đồng

Thu nhập hộ gia đình thunhapgd biến định lượng, số tiền thu nhập của tất

cả thành viên trong hộ gia đình trong 01 tháng theo đơn vị triệu đồng

Khám chữa bệnh tại bệnh

viện

dakb biến định tính, nhận 02 giá trị:1=đã khám

tại BVQTP, 2 = chưa khám tại BVQTP

Sự hài lòng của người

bệnh ở từng lĩnh vực:

biến định tính, được đo lường theo thang Likert nhận 05 giá trị: 1 = rất không hài lòng, 2 = không hài lòng, 3 = bình thường, 4 = hài lòng, 5 = rất hài lòng

Quy trình, thủ tục

nhập viện

quytrinh

Phổ biến thông tin

cần thiết khi nằm viện

Ngày đăng: 24/10/2017, 12:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w