Tuy nhiên, do một số Công ty tài chính thuộc kiệm soát của Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty đã đầu tư nhiều lĩnh vực ngoài ngành hoạt động chính tài chính, ngân hàng, bất động sản, chứng k
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH CHƯƠNG TRÌNH GIẢNG DẠY KINH TẾ FULBRIGHT
PHẠM TRƯỜNG PHƯỚC
Đề tài:
ĐÁNH GIÁ NGUYÊN NHÂN HOẠT ĐỘNG KÉM HIỆU QUẢ CỦA CÁC CÔNG TY TÀI CHÍNH THUỘC KIỂM SOÁT TẬP ĐOÀN KINH TẾ, TỔNG CÔNG TY NHÀ NƯỚC TẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
TP Hồ Chí Minh Năm 2017
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Tôi xin cảm ơn Gia đình và các bạn đã hỗ trợ và tạo điều kiện cho tôi rất nhiều trong quá
trình làm học Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc Thầy Nguyễn Xuân Thành đã định hướng, gợi ý đề tài và Cô Trần Thị Quế Giang đã tận tình hướng dẫn và động viên giúp tôi trong
suốt quá trình thực hiện luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn Chương trình Giảng dạy kinh tế Fulbright, các Thầy Cô và các Cán bộ, Nhân viên trong Chương trình đã hỗ trợ tôi trong quá trình học tập trước đây và sau này hoàn thiện khóa cao học, giúp bản thân tôi có thêm nhiều kiến thức bổ ích, thiết thực cho cuộc sống
Trang 3BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH CHƯƠNG TRÌNH GIẢNG DẠY KINH TẾ FULBRIGHT
PHẠM TRƯỜNG PHƯỚC
Đề tài:
ĐÁNH GIÁ NGUYÊN NHÂN HOẠT ĐỘNG KÉM HIỆU QUẢ CỦA CÁC CÔNG TY TÀI CHÍNH THUỘC KIỂM SOÁT TẬP ĐOÀN KINH TẾ, TỔNG CÔNG TY NHÀ NƯỚC TẠI VIỆT NAM
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan tất cả các phần của luận văn này được thực hiện bởi tôi Số liệu, trích dẫn và thông tin đều được dẫn nguồn và có độ chính xác cao nhất trong phạm vi hiểu biết của tôi Luận văn thể hiện quan điểm cá nhân của tôi, không phản ánh cho quan điểm của Trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh, Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright hay Đại học Fulbright
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 10 tháng 08 năm 2017
Tác giả luận văn
Phạm Trường Phước
Trang 52.3 Mô hình Công ty tài chính tại các nước 12
2.3.1 Khái niệm Công ty tài chính ở Quốc tế 12
2.3.2 Các Công ty tài chính thuộc Tập đoàn kinh tế tại một số nước 13
CHƯƠNG 3: HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CÔNG TY TÀI CHÍNH THUỘC KIỂM SOÁT TẬP ĐOÀN KINH TẾ, TỔNG CÔNG TY NHÀ NƯỚC: THỰC TRẠNG VÀ VẤN ĐỀ CHÍNH SÁCH 18
3.1 Thực trạng hoạt động của các Công ty tài chính thuộc kiểm soát Tập đoàn kinh tế và Tổng công ty nhà nước 18
3.2 Đánh giá nguyên nhân các Công ty tài chính sở hữu nhà nước kém hiệu quả, thua lỗ 27 3.2.1 Nguyên nhân từ hệ thống và bộ máy lãnh đạo Công ty tài chính 27
3.2.2 Nguyên nhân từ Công ty mẹ Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty nhà nước 30
3.2.3 Nguyên nhân từ các cơ quan quản lý Nhà nước 32
3.2.4 Nguyên nhân từ bất cập chính sách quản lý 33
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 35
4.1 Kết luận 35
4.2 Khuyến nghị 37
4.2.1 Bán, cổ phần hóa cho các nhà đầu tư chiến lược, Nhà nước không cần nắm cổ phần chiếm giữ chi phối 37
4.2.2 Tăng cường khả năng giám sát hoạt động các Công ty tài chính 38
4.2.3 Tuân thủ việc xử lý theo nguyên tắc thị trường 38
4.3 Hạn chế của luận văn nghiên cứu: 39
Trang 6Tuy nhiên, do một số Công ty tài chính thuộc kiệm soát của Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty đã đầu tư nhiều lĩnh vực ngoài ngành hoạt động chính (tài chính, ngân hàng, bất động sản, chứng khoán, …) trong khi thiếu năng lực quản trị, năng lực tài chính, và
do sự quản lý, giám sát kém của Nhà nước dẫn đến kết quả hoạt động kinh doanh các Công ty tài chính nhà nước này kém hiệu quả, thậm chí thua lỗ mất vốn
Trước thực trạng Công ty tài chính nhà nước không còn hoạt động hiệu quả, Chính phủ
đã chủ trương tái cơ cấu hệ thống Công ty tài chính và yêu cầu Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty thoái toàn bộ vốn nhà nước Trong thời gian qua, Chính phủ thực hiện tái cơ cấu hệ thống công ty tài chính qua nhiều hình thức như bán, cho hợp nhất/sáp nhập với ngân hàng thương mại cổ phần, cho giải thể, thoái giảm một phần vốn nhà nước Hiện nay, Nhà nước vẫn tiếp tục yêu cầu các Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty thoái toàn bộ vốn nhà nước tại một số Công ty tài chính chưa thoái vốn được
Trên cơ sở phân tích, lý luận, đánh giá thực trạng hoạt động của công ty tài chính nhà nước, phân tích nguyên nhân hoạt động kém hiệu quả của công ty tài chính, qua đó tác giả có một số gợi ý chính sách nhà nước, nhằm tạo điều kiện giúp cho loại hình công ty này ổn định và phát triển theo hướng minh bạch hơn, hiệu quả hơn, thúc đẩy phát triển
thị trường tài chính-ngân hàng Việt Nam
1 Quyết định số 90 và 91 ngày 7/3/1994 của Thủ tướng chính phủ và Luật Doanh nghiệp nhà nước 1995
Trang 7MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN I
LỜI CAM ĐOAN II
TÓM TẮT LUẬN VĂN III
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT VI
DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH VÀ HỘP VIII
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VÀ VẤN ĐỀ CHÍNH SÁCH 1
1.1 Bối cảnh sự hình thành và phát triển các Công ty tài chính tại Việt Nam 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.5 Phương pháp nghiên cứu 4
1.6 Bố cục nghiên cứu 4
CHƯƠNG 2: KHUNG PHÂN TÍCH 5
2.1 Cơ sở lý thuyết và cơ sở pháp lý 5
2.1.1 Quan hệ ủy quyền-tác nghiệp, thông tin bất cân xứng trong mô hình Công ty tài chính thuộc sở hữu nhà nước 5
2.1.2 Khung giám sát đảm bảo an toàn hoạt động Công ty tài chính thuộc sở hữu nhà nước 7
2.2 Vai trò của các Công ty tài chính thuộc kiểm soát Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty nhà nước tại Việt Nam 10
2.2.1 Khái niệm Công ty tài chính tại Việt Nam 10
11
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Basel Hiệp ước Basel: những quy định về hệ thống đo lường vốn được Ủy
ban Basel về giám sát ngân hàng (Basel Committee on Banking Supervision - BCBS) gồm 10 nước phát triển ban hành
BCTC Báo cáo tài chính
BKS Ban kiểm soát
Bộ KHĐT Bộ Kế hoạch đầu tư
Bộ TT&TT Bộ Thông tin và truyền thông
CAR Hệ số an toàn vốn tối thiểu/Hệ số đủ vốn (Capital Adequacy Ratio) CTTC Công ty tài chính
DNNN Doanh nghiệp nhà nước: được định nghĩa theo Luật Doanh nghiệp
nhà nước 2003 “DNNN là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn
bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối” (khác với định
nghĩa của Luật doanh nghiệp 2014 quy định: “DNNN là doanh
nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ”)
NHTM Ngân hàng thương mại
NHTMCP Ngân hàng thương mại cổ phần
NHTMNN Ngân hàng thương mại Nhà nước
SCIC Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH VÀ HỘP
Hình 2.1: Thông tin bất cân xứng có tác động đến các hệ thống tài chính 5
Hình 2.2: Sơ đồ quản lý, giám sát của Nhà nước đối với Công ty tài chính thuộc Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty nhà nước 7
Hình 3.1: Các thương vụ M&A liên quan đến Công ty tài chính nhà nước với Ngân hàng thương mại 20
Bảng 3.1: Kết quả kinh doanh của các Công ty tài chính sau khi đã M&A với các Ngân hàng thương mại cổ phẩn 21
Bảng 3.2: Tình hình tài chính Công ty tài chính cổ phần Điện Lực 23
Bảng 3.3: Tình hình tài chính Công ty tài chính cổ phần Xi măng 24
Bảng 3.4: Tình hình tài chính Công ty tài chính TNHH MTV Tài chính Bưu điện 25
Bảng 3.5: Tình hình tài chính Công ty tài chính TNHH MTV Tàu Thủy 26
Bảng 3.6: Tình hình tài chính Công ty tài chính cổ phần Handico 27
Hộp 3.1: Ví dụ một số Công ty tài chính thuộc doanh nghiệp nhà nước đầu tư, cho vay doanh nghiệp, dự án ngoài ngành kinh doanh chính dẫn đến thua lỗ 27
Hộp 3.2: Một số vụ án liên quan đến Công ty tài chính thuộc sở hữu nhà nước 29
Hộp 3.3: Tổng CTTC cổ phần Dầu khí (PVFC) góp vốn, mua cổ phần vượt tỷ lệ quy định an toàn trong hoạt động tổ chức tín dụng 31
Trang 11CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VÀ VẤN ĐỀ CHÍNH SÁCH
1.1 Bối cảnh sự hình thành và phát triển các Công ty tài chính tại Việt Nam
Kể từ khi cải cách kinh tế năm 1986, hệ thống ngân hàng Việt Nam đã từng bước thay đổi, hệ thống ngân hàng được tách bạch ra làm 2 cấp giữa Ngân hàng Nhà nước (NHNN) có chức năng quản lý Nhà nước về hoạt động tiền tệ, tín dụng, và các tổ chức tín dụng (ngân hàng thương mại, hợp tác xã tín dụng, công ty tài chính) hoạt động kinh doanh tiền tệ, cung cấp các dịch vụ tài chính, ngân hàng Khi nhu cầu tài chính đòi hỏi ngày càng tăng về khối lượng, chất lượng và đa dạng về các loại dịch vụ tài chính ngân hàng, điều này đã thúc đẩy sự ra đời các công ty tài chính (CTTC) bên cạnh các ngân hàng thương mại (NHTM)
Pháp lệnh ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và CTTC năm 1990 là cơ sở pháp lý đầu tiên
cho sự ra đời và hoạt động của CTTC ở Việt Nam Hai CTTC đầu tiên tại Việt Nam đều thuộc kiểm soát của nhà nước là CTTC Cổ phần Sài Gòn được thành lập vào tháng
9/1991 do vốn góp của 7 doanh nghiệp nhà nước (DNNN), hoạt động đến ngày 14/5/2003, CTTC Cổ phần Sài Gòn đã hợp nhất với NHTMCP Nông thôn Đà Nẵng
thành lập NHTMCP Việt Á; và CTTC Cổ phần Seaprodex được thành lập vào ngày
9/7/1992, có phần góp vốn của Tổng công ty Thủy sản Việt Nam, tuy nhiên công ty hoạt động đến ngày 12/6/2003 thì giải thể
Giai đoạn phát triển các CTTC gắn với các TĐKT, TCTNN ra đời dựa trên các Quyết định số 90 và 91 năm 1994 của Thủ tướng Chính phủ và sau này được quy định của Luật Doanh nghiệp Nhà nước năm 1995 và Luật các Tổ chức tín dụng năm 1997
Để tạo điều kiện cho các TĐKT, TCTNN phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động và thực hiện tốt nhiệm vụ Nhà nước giao, Chính phủ đã đưa ra một loạt chính sách, biện pháp hỗ trợ, trong đó có việc thúc đẩy thành lập CTTC 2 với mục tiêu ban đầu để huy
động vốn, điều hoà vốn phục vụ cho yêu cầu phát triển của nội bộ TĐKT, TCTNN hoặc liên doanh với các đơn vị kinh tế khác Trong giai đoạn 1998-2010, đã có 12
2 Chỉ thị của Thủ tướng chính phủ số 573/TTg ngày 23 tháng 8 năm 1996 về việc tạo điều kiện cho các Tổng công ty nhà nước do Thủ tướng chính phủ quyết định thành lập sớm hoạt động ổn định
Trang 12CTTC thuộc TĐKT, TCTNN được thành lập và thêm 6 CTTC 100% vốn nước ngoài hoạt động chuyên doanh trong lĩnh vực tín dụng tiêu dùng
Sau gần 10 năm hoạt động kể từ năm 1998, các CTTC thuộc TĐKT, TCTNN đã thể hiện vai trò của mình trong việc hỗ trợ quản lý tài chính, thu xếp vốn cho các TĐKT, TCTNN Đồng thời, CTTC cũng là một kênh cung cấp vốn cho các doanh nghiệp đầu
tư chiều sâu để đổi mới công nghệ, cải tiến kỹ thuật, song hành cùng các NHTM cung cấp vốn cho nền kinh tế, góp phần thực hiện chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.3
Tuy nhiên, trong những năm sau này, tình hình hoạt động kinh doanh của các CTTC
sở hữu nhà nước đã bộc lộ nhiều bất cập do cho vay, đầu tư vào nhiều lĩnh vực ngoài ngành chính không phải sở trường, trong khi năng lực quản trị doanh nghiệp có hạn, điều này đã dẫn đến kinh doanh hiệu quả kém hoặc thua lỗ Trong khi đó, các CTTC
có vốn nước ngoài hoạt động theo mô hình CTTC quốc tế là CTTC bán hàng và CTTC tiêu dùng thì phát triển ổn định
Năm 2009, Chính phủ đã yêu cầu TĐKT, TCTNN có kế hoạch giảm tỷ lệ đầu tư ra ngoài ngành nghề chính.4 Năm 2012, Chính phủ thực hiện tái cơ cấu hệ thống TCTD5
và yêu cầu các TĐKT, TCTNN thực hiện chấm dứt tình trạng đầu tư ra ngoài ngành, lĩnh vực sản xuất, kinh doanh chính trước năm 2015.6 Từ năm 2013 đến nay, đã có 1
CTTC hợp nhất với NHTMCP, có 3 CTTC đã được các NHTMCP mua lại phần vốn của Nhà nước; có 2 CTTC đã sáp nhập với các NHTMCP, có 1 CTTC giảm tỷ lệ vốn
sở hữu nhà nước, và có 1 CTTC giải thể bị sáp nhập về công ty mẹ để giải quyết nợ
Hiện nay, Nhà nước đang tiếp tục thực hiện tái cơ cấu CTTC, thoái vốn tại 5 CTTC thuộc kiểm soát TĐKT, TCTNN là CTTC cổ phần Điện lực (EVNFinance) trước đây
đã giảm tỷ lệ vốn sở hữu Nhà nước từ 40% còn 15% vốn điều lệ, CTTC TNHH MTV
Trang 13Tàu Thủy (VFC), CTTC TNHH MTV Bưu điện (PTF), CTTC cổ phần Xi măng (CFC) và CTTC cổ phần Handico (HAFIC)
Để tìm hiểu vấn đề là trong giai đoạn hiện nay, Nhà nước có nên tiếp tục yêu cầu Tập đoàn, Tổng công ty nhà nước thoái vốn hoàn toàn tại các Công ty tài chính hay
không?, tác giả chọn đề tài: “Đánh giá nguyên nhân hoạt động kém hiệu quả của các Công ty tài chính thuộc kiểm soát Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty Nhà nước tại Việt Nam” để tìm cơ sở giải đáp
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Thông qua việc đánh giá hiện trạng hoạt động, nguyên nhân kinh doanh không hiệu quả và cơ sở pháp lý của các CTTC thuộc sở hữu nhà nước, tác giả đưa ra một số khuyến nghị chính sách nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động hoặc/và các giải pháp xử
lý các CTTC thuộc kiểm soát TĐKT, TCTNN ở Việt Nam
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Trong khuôn khổ quản lý nhà nước, đâu là nguyên nhân dẫn đến các CTTC thuộc sở hữu nhà nước kinh doanh kém hiệu quả và thua lỗ?
Trong bối cảnh hiện nay, Nhà nước có nên tiếp tục yêu cầu Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty nhà nước thoái vốn hoàn toàn tại các Công ty tài chính hay không?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn sẽ nghiên cứu thực trạng liên quan hoạt động của các CTTC Việt Nam, trong
đó tập trung vào các CTTC thuộc kiểm soát TĐKT, TCTNN trong giai đoạn 2000 –
2016 để phân tích, đánh giá nguyên nhân hoạt động không hiệu quả
Luận văn sẽ phân tích các văn bản pháp luật Việt Nam quy định liên quan đến tổ chức, hoạt động của CTTC ban đầu và những thay đổi, bổ sung; có tham khảo mô hình tổ chức, hoạt động của CTTC các nước
Trang 141.5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp định tính thông qua nghiên cứu tình huống lựa chọn các CTTC thuộc TĐKT, TCTNN và các văn bản pháp lý
Luận văn chủ yếu dựa vào các nguồn dữ liệu từ các báo cáo tài chính, những thông tin liên quan các CTTC được công bố từ các CTTC, NHNN, công ty chứng khoán và các thông tin từ phương tiện thông tin đại chúng tin cậy
1.6 Bố cục nghiên cứu
Cấu trúc của Luận văn gồm 4 chương Chương 1 trình bày bối cảnh hình thành, phát
triển về các CTTC tại Việt Nam, trình bày việc tái cơ cấu hệ thống CTTC là các CTTC thuộc kiểm soát TĐKT, TCTNN Trong chương này cũng trình bày mục tiêu, câu hỏi, đối tượng phạm vi và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 trình bày khung phân tích bao gồm 3 phần, Phần đầu nêu cơ sở lý thuyết
của luận văn như Thông tin bất cân xứng và quan hệ ủy quyền-thừa hành/tác nghiệp, Khung giám sát đảm bảo an toàn hoạt động đối với CTTC; Phần hai nêu một số khái niệm CTTC và vai trò của CTTC trong TĐKT và TCTNN; Phần ba nêu mô hình hoạt động CTTC quốc tế và CTTC thuộc các tập đoàn kinh tế nước ngoài
Chương 3 trình bày các nội dung là đánh giá thực trạng hoạt động của CTTC thuộc
kiểm soát TĐKT, TCTNN và phân tích những nguyên nhân dẫn đến các CTTC thuộc
sở hữu nhà nước kém hiệu quả, thua lỗ
Chương 4 nhận xét Nhà nước có cần tiếp tục yêu cầu các TĐKT, TCTNN thoái vốn
toàn bộ tại các CTTC trong bối cảnh hiện nay hay không? và qua đó đưa ra một số khuyến nghị thể chế Sau cùng là phần hạn chế của luận văn nghiên cứu
Trang 15CHƯƠNG 2: KHUNG PHÂN TÍCH
2.1 Cơ sở lý thuyết và cơ sở pháp lý
2.1.1 Quan hệ ủy quyền-tác nghiệp, thông tin bất cân xứng trong mô hình Công ty
tài chính thuộc sở hữu nhà nước
Theo nghiên cứu của P.K Rao 7 thì “Chi phí ủy quyền – tác nghiệp là chênh lệch
giữa giá trị của một công ty trong bối cảnh thông tin hoàn hảo và giá trị của công ty
đó trong bối cảnh thông tin bất cân xứng và việc thực thi không hoàn hảo các khế ước… Danh tiếng, sự tín nhiệm, khoản ký quỹ và các ngoại tác mạng lưới tích cực
- tất cả đều đóng góp vào việc giảm đi chi phí giao dịch”
Hình 2.1: Thông tin bất cân xứng có tác động đến các hệ thống tài chính
Theo bài nghiên cứu thuộc Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright (2013)8: “Chi phí đại diện trong bộ máy quan liêu của chính phủ có thể dẫn đến các khuyến khích quản lý kém và phân bổ sai lệch nguồn lực Theo quan điểm của lý thuyết chi phí đại diện, các nhà quản lý ở khu vực công ít có động cơ để phát huy nỗ lực tốt nhất
Rủi ro đạo đức, tâm lý ỷ lại
Lựa chọn bất lợi
Cho vay quá mức các dự án rủi ro cao
Làm trầm trọng tính bất
ổn thị trường
và hành vi bầy đàn
(Rodrik, 1999)
Trang 16so với các nhà quản lý tư nhân, thay vào đó họ sẽ có động cơ chuyển hướng các nguồn lực vào các lợi ích riêng… (Shleifer, 1998).”
Mối quan hệ “ủy quyền – thừa hành” là giữa người ủy quyền và người thừa hành thường tồn tại tình trạng bất cân xứng về thông tin, các doanh nghiệp có nhu cầu vay vốn và người có tiền nhàn rỗi muốn cho vay hoặc gửi tiền thì thường sẽ chịu chi phí giao dịch cao do thiếu thông tin lẫn nhau và tốn chi phí giám sát, khi đó CTTC là trung gian huy động vốn và cho vay lại các doanh nghiệp Tình trạng bất cân xứng thông tin giữa người cho vay và người đi vay là một nguồn gốc gây ra rủi
ro trong các hợp đồng tín dụng
Thông tin bất cân xứng giữa người ủy quyền là Bộ ngành quản lý Nhà nước thiếu thông tin hoặc việc giám sát không chặt chẽ để người thừa hành là các TĐKT, TCTNN (đã thông qua CTTC làm công cụ cánh tay nối dài) đem vốn đầu tư/cho vay các lĩnh vực ngoài ngành nghề chính, rủi ro cao như ngân hàng, tài chính, bất động sản, … nhằm thu lợi nhuận cao nhưng khi rủi ro xảy ra thì thiệt hại do Nhà nước gánh chịu Mặt khác, các CTTC che dấu thông tin để không quan sát được, nhằm đối phó với các cơ quan quản lý nhà nước và để dễ dàng hơn trong việc đi vay, nhận tiền gửi hoặc xin phép đầu tư
Khi nhà nước cổ phần hóa, bán cổ phần doanh nghiệp ra đại chúng, sẽ được nhiều thành phần tham gia trên thị trường đánh giá, giám sát các hoạt động của các nhà quản lý, thông tin sẽ phải minh bạch hơn, đây có thể là công cụ giảm chi phí ủy quyền – tác nghiệp
Các TĐKT, TCTNN đã quá kỳ vọng vào lợi nhuận mang lại khi đầu tư vào ngoài ngành mà mình không có sở trường, rủi ro cao Hành vi đổ xô đầu tư vào các lĩnh vực ngân hàng, tài chính, chứng khoán, bất động sản làm tạo nên cơn sốt, đẩy giá trị thị trường xa rời giá trị thực, tạo nên bong bóng chứng khoán, bất động sản, … gây bất ổn nền kinh tế
CTTC nhà nước có lợi thế tiếp cận, sự hỗ trợ của DNNN, NHTMNN và Chính phủ với lãi suất thường thấp hơn lãi suất huy động thông thường Các NHTM, CTTC
Trang 17khác khi cho CTTC nhà nước vay có tâm lý ỷ lại vào sự bảo lãnh của TĐKT, TCTNN đang được Nhà nước rất ưu ái, nếu có rủi ro xảy ra thì sẽ được hỗ trợ, nên việc giải ngân cho vay cũng dễ dàng (chi phí giao dịch giảm đi)
2.1.2 Khung giám sát đảm bảo an toàn hoạt động Công ty tài chính thuộc sở hữu
nhà nước
Hình 2.2: Sơ đồ quản lý, giám sát của Nhà nước đối với Công ty tài chính thuộc Tập
đoàn kinh tế, Tổng công ty nhà nước
(Nguồn: Luật Ngân hàng Nhà nước, Luật các Tổ chức tín dụng, Nghị định số
69/2014/NĐ-CP ngày 15/7/2014)
Căn cứ Pháp lệnh Ngân hàng Nhà nước, Pháp lệnh Ngân hàng, hợp tác xã tín dụng
và công ty tài chính năm 1990 và Luật Ngân hàng Nhà nước, Luật các Tổ chức tín dụng sau này, quy định NHNN là cơ quan quản lý nhà nước về tiền tệ, hoạt động ngân hàng NHNN được nhiều quyền hạn, trong đó có quyền thu hồi giấy phép thành lập, chấp thuận việc mua, bán, chia, tách, hợp nhất, sáp nhập và giải thể TCTD; kiểm tra, thanh tra, giám sát hệ thống TCTD; quyết định áp dụng biện pháp
xử lý đặc biệt đối với TCTD vi phạm nghiêm trọng các quy định của pháp luật về tiền tệ và ngân hàng, gặp khó khăn về tài chính, có nguy cơ gây mất an toàn cho hệ thống ngân hàng,
Trang 18Từ rất sớm NHNN ban hành các quy định về quy chế tổ chức, hoạt động TCTD; về giới hạn, tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của các TCTD, Quyết định số 107/QĐ-NH ngày 09/6/1992 "Qui chế bảo đảm an toàn trong kinh doanh tiền tệ - tín dụng đối với TCTD” các qui định về: An toàn, tăng giảm vốn điều lệ và chuyển nhượng cổ phần; Duy trì tỷ lệ tối thiểu giữa vốn tự có với giá trị tài sản Có; Bảo đảm khả năng chi trả; Giới hạn huy động vốn; Giới hạn sử dụng vốn Từ năm
1999, NHNN đã ban hành nhiều quyết định thay thế, sửa đổi, bổ sung các quy định
về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của TCTD chặt chẽ, chi tiết, với nội dung phù hợp với điều kiện thực tế, hạn chế nguy cơ rủi ro, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tiếp cận với Basel 2
NHNN yêu cầu các TCTD phải xây dựng quy trình, quy chế cho vay đảm bảo khi xem xét cho khách hàng vay phải có đầy đủ: năng lực pháp luật, năng lực hành vi dân sự; có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ; có dự án/phương án đầu tư kinh doanh có khả thi, có hiệu quả; thực hiện các quy định về đảm bảo tiền vay, mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp, … và TCTD có cơ chế theo dõi, giám sát sử dụng vốn vay, thu hồi và xử lý nợ
Do CTTC thuộc TĐKT, TCTNN là các công ty con, doanh nghiệp thành viên thì phải chịu sự quản lý, giám sát của Công ty mẹ trong TĐKT, TCTNN Nghị định số 153/2004/NĐ-CP (sau này có Nghị định số 111/2007/NĐ-CP) quy định cụ thể
nhiệm vụ và quyền hạn của HĐQT trong TCTNN bao gồm: Quyết định chiến lược,
kế hoạch dài hạn, kế hoạch kinh doanh hàng năm, ngành nghề kinh doanh; Quyết định phương án phối hợp kinh doanh của các đơn vị thành viên; Quyết định cơ cấu quản lý; thông qua dự thảo Điều lệ của CTTC trình Thống đốc Ngân hàng Nhà nước chuẩn y; Thông qua BCTC hàng năm; Kiểm tra, giám sát Chủ tịch và các thành viên Hội đồng quản trị hoặc Chủ tịch công ty và Tổng giám đốc (Giám đốc) công ty tài chính, … 9
Nghị định 101/2009 Về thí điểm thành lập, tổ chức, hoạt động và quản lý TĐKTNN
Chính phủ phân công, phân cấp giám sát của chủ sở hữu đối với TĐKT cho các Bộ
9 Quy định tại Khoản 3- Điều 8 Nghị định số 153/2004/NĐ-CP ngày 9/8/2004
Trang 19Tài chính, Bộ quản lý ngành, Bộ KHĐT, … và sau này, nhằm kiểm soát chặt chẽ hơn, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 69/2014/NĐ-CP ngày 15/7/2014 thay thế Nghị định số 101/2009/NĐ-CP và Nghị định số 111/2007/NĐ-CP, đã quy định việc quản lý, điều hành TĐKT, TCTNN thông qua công ty mẹ đối với các doanh nghiệp thành viên chi tiết và đầy đủ hơntrước đây (Phụ lục 1)
Chính phủ ban hành Nghị định số 199/2004/NĐ-CP ngày 3/12/2004 Quy chế quản
lý tài chính của công ty nhà nước và quản lý vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp khác và về sau Nghị định số 09/2009/NĐ-CP ngày 5/2/2009, Nghị định số
101/2009/NĐ-CP ngày 5/11/2009 đã xây dựng một hệ thống tiêu chí an toàn về mặt tài chính trong hoạt động sản xuất-kinh doanh (Phụ lục 2)
Nhằm xử lý tình trạng đầu tư ngoài ngành tràn lan, kém hiệu quả, Chính phủ đã ban hành Quyết định 929/QĐ-TTg ngày 17/7/2012 tái cơ cấu DNNN, trọng tâm là TĐKT và TCTNN phải thực hiện nhiều biện pháp trong đó phải chấm dứt tình trạng đầu tư ra ngoài ngành, lĩnh vực sản xuất, kinh doanh chính trước năm 2015
Việc minh bạch hóa thông tin sẽ giúp tăng cường sự giám sát của Nhà nước và thị trường, hạn chế các hành vi rủi ro của người lãnh đạo DNNN lợi dụng việc hành vi của mình khó bị theo dõi sát sao để trục lợi cho bản thân mình (hoặc nhóm lợi ích)
mà gây thiệt hại cho vốn Nhà nước, nhà đầu tư, khách hàng.Bộ Tài chính đã ban
hành Thông tư số 73/TC-TCDN ngày 12/11/1996, “Về việc hướng dẫn lập, công bố
công khai và kiểm tra báo cáo tài chính, kiểm tra kế toán các doanh nghiệp nhà nước”, theo đó quy định hàng năm, DNNN phải công bố công khai báo cáo tài
chính và các thông tin về tình hình và kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đến các đối tượng sử dụng thông tin theo quy định như: tập thể trong doanh nghiệp, các cơ quan quản lý của Nhà nước, các nhà đầu tư trong và ngoài nước nghiên cứu và quyết định việc đầu tư vào doanh nghiệp, các chủ nợ
NHNN quy định các TCTD phải công khai BCTC được kiểm toán của tổ chức kiểm toán độc lập; thời gian công khai BCTC năm chậm nhất là 90 ngày đối với các TCTD là tổ chức niêm yết, công ty đại chúng có quy mô lớn và chậm nhất là
Trang 20120 ngày đối với các TCTD còn lại tính từ ngày kết thúc năm tài chính của TCTD10
nhằm thúc đẩy an toàn và minh bạch trong các TCTD, làm cho nguyên tắc thị trường hiệu quả hơn (Trụ cột thứ III của Basel 2)
2.2 Vai trò của các Công ty tài chính thuộc kiểm soát Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty nhà nước tại Việt Nam
2.2.1 Khái niệm Công ty tài chính tại Việt Nam
Pháp lệnh ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và CTTC năm 1990 quy định CTTC là
công ty quốc doanh hoặc cổ phần, hoạt động chủ yếu là cho vay để mua, bán hàng hoá, dịch vụ bằng nguồn vốn của mình hoặc vay của dân cư CTTC hoạt động bằng nguồn vốn của mình hoặc vay của dân cư bằng phát hành tín phiếu; không được nhận tiền gửi tiết kiệm của dân cư và không sử dụng vốn vay của dân cư làm phương tiện thanh toán; ngoài ra, CTTC có thể thực hiện một số nghiệp vụ khác
Năm 1997, Luật các TCTD ra đời thay thế Pháp lệnh ngân hàng, hợp tác xã tín
dụng và CTTC quy định TCTD phi ngân hàng (trong đó có CTTC) không được làm
dịch vụ thanh toán, được nhận tiền gửi có kỳ hạn từ một năm trở lên của tổ chức,
cá nhân
Nghị định số 79/2002/NĐ-CP ngày 04/10/2002 của Chính phủ ban hành về Tổ
chức và hoạt động của CTTC quy định: “CTTC là loại hình TCTD phi ngân hàng,
với chức năng là sử dụng vốn tự có, vốn huy động và các nguồn vốn khác để cho vay, đầu tư, cung ứng các dịch vụ tư vấn về tài chính, tiền tệ và thực hiện một số dịch vụ khác theo quy định của pháp luật, nhưng không được làm dịch vụ thanh toán, không được nhận tiền gửi dưới một năm” Nghị định số 81/2008 sửa đổi, bổ
sung của Nghị định 79/2002/NĐ-CP ngày 04/10/2002 định nghĩa bổ sung “CTTC
bao gồm loại hình CTTC tổng hợp được thực hiện tất cả các chức năng, nghiệp vụ theo quy định và CTTC chuyên ngành hoạt động chủ yếu trên một số lĩnh vực như:
tín dụng tiêu dùng hoặc phát hành thẻ tín dụng và các hoạt động khác theo quy định của pháp luật”
10 Thông tư số 49/2014/TT-NHNN ngày 31/12/2014 của Ngân hàng nhà nước Việt Nam
Trang 21Các CTTC am hiểu rõ trong ngành, nên hạn chế sự bất cân xứng thông tin, do đó chi phí và nguồn lực thẩm định đầu tư, cấp tín dụng sẽ thấp hơn các NHTM, dẫn đến lãi suất tín dụng sẽ thấp hơn, đồng thời giảm thiểu rủi ro đầu tư, tín dụng, và phân bổ nguồn lực hợp lý cho dự án mang lại hiệu quả tốt hơn, qua đó giúp TĐKT, TCTNN phát triển và tăng sức cạnh tranh
CTTC giúp TĐKT, TCTNN mở rộng kinh doanh đa ngành nâng cao lợi nhuận Theo quy định CTTC có tư cách pháp nhân, có quyền tự chủ trong kinh doanh, tuy nhiên, do Công ty mẹ chủ sở hữu quản lý, kiểm soát gần như toàn diện các hoạt động CTTC thành viên nên sẽ tiềm ẩn phát sinh nhiều rủi ro như việc cho những doanh nghiệp/dự án trong nội bộ sẽ được thẩm định sơ sài, dễ dàng được phê duyệt; các quyết định độc lập, khách quan đôi khi không được chú trọng mà các quyết định có tính độc đoán thường xuất hiện từ chỉ đạo Công ty mẹ; các tác động dây chuyền hệ thống là rất khó tránh khỏi nếu như có một mắt xích trong chuỗi sở hữu khi có rủi ro.12
2.3 Mô hình Công ty tài chính tại các nước
2.3.1 Khái niệm Công ty tài chính ở Quốc tế
Theo Frederic S Mishkin and Apostolos Serletis (2011)13: “CTTC là tổ chức tài chính không nhận tiền gửi mà có được tiền bằng cách phát hành thương phiếu hoặc
cổ phiếu và trái phiếu hoặc vay từ các ngân hàng, và sử dụng các khoản tiền cho vay (thường là cho một lượng nhỏ) là đặc biệt thích hợp với người tiêu dùng và nhu cầu kinh doanh
Một tính năng chính của CTTC là mặc dù họ cho vay nhiều đối tượng khách hàng tương tự vay từ các ngân hàng, họ hầu như không bị kiểm soát chặt so với các quy định ngân hàng và tương tự ngân hàng Những điều kiện hạn chế cho vay khách hàng đối với các CTTC có thể thoáng hơn so với các NHTM
“Có ba loại hình CTTC: bán hàng, tiêu dùng, kinh doanh
12 Nhóm nghiên cứu thuộc Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright (2013), Bài nghiên cứu: “Sở hữu chồng chéo giữa các tổ chức tín dụng và tập đoàn kinh tế tại Việt Nam: đánh giá và các khuyến nghị thể chế”
13 Frederic S Mishkin and Apostolos Serletis (2011), “The Economics of Money, Banking, and the Financial
Market” - Canadian 4th Edition, pp 299-300.
Trang 22Luật các TCTD được chỉnh sửa, bổ sung năm 2004 và thay thế năm 2010, đến nay những quy định về CTTC đã khá cụ thể và đầy đủ, theo đó CTTC được định nghĩa
là TCTD phi ngân hàng được thực hiện một hoặc một số hoạt động ngân hàng, trừ
các hoạt động nhận tiền gửi của cá nhân và cung ứng các dịch vụ thanh toán qua
tài khoản của khách hàng
Có 2 loại CTTC, bao gồm: CTTC tổng hợp và CTTC chuyên ngành CTTC tổng hợp được thực hiện hoạt động gần như ngân hàng, trừ các hoạt động nhận tiền gửi của cá nhân và cung ứng các dịch vụ thanh toán qua tài khoản của khách hàng 11
CTTC chuyên ngành gồm CTTC bao thanh toán, CTTC tín dụng tiêu dùng, công ty cho thuê tài chính; Trong đó, CTTC chuyên ngành sẽ hoạt động chính trong lĩnh vực của mình chiếm tối thiểu 70% tổng dư nợ cấp tín dụng hoặc một tỷ lệ khác do NHNN quy định trong từng thời kỳ
CTTC tổng hợp được bổ sung, sửa đổi nội dung hoạt động để chuyển đổi thành CTTC chuyên ngành; nhưng CTTC chuyên ngành không được bổ sung nội dung hoạt động để chuyển đổi thành CTTC tổng hợp
2.2.2 Vai trò của Công ty tài chính trong Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty nhà nước
CTTC có vai trò quan trọng trong các TĐKT, TCTNN như giúp huy động vốn, điều hoà vốn đầy đủ và kịp thời cho nội bộ; quản lý tài chính, tư vấn tài chính Thông qua các CTTC của mình, các TĐKT và TCTNN có thêm kênh huy động vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh mà ít bị lệ thuộc nhiều vào NHTM
CTTC có cơ chế sử dụng nguồn vốn chung sẽ nâng cao hiệu quả trong huy động và
sử dụng nguồn vốn, tối đa hoá lợi nhuận, do có thể tài trợ chéo lẫn nhau từ nguồn vốn thặng dư nhàn rỗi, lợi ích từ lợi thế theo quy mô khi thương lượng với NHTM (gửi tiền với lãi suất cao, đi vay với lãi suất thấp) so với từng công ty thành viên tự thương lượng
11 Các hoạt động CTTC được quy định từ Điều 108 đến Điều 111 tại Luật các TCTD năm 2010
Trang 23CTTC bán hàng (Sale finance company): được sở hữu bởi một nhà bán lẻ cụ thể hoặc công ty sản xuất và cho người tiêu dùng vay để mua các mặt hàng từ công
ty đó.” CTTC kinh doanh cạnh tranh trực tiếp với ngân hàng cho vay tiêu dùng vì nhanh chóng và thuận tiện hơn tại nơi đã mua hàng Ở Việt Nam có CTTC TNHH MTV Toyota theo loại hình CTTC bán hàng
“CTTC tiêu dùng (Consumer finance company): cho người tiêu dùng vay để mua các mặt hàng gia dụng, sinh hoạt gia đình, hoặc giúp tái tài trợ khoản nợ nhỏ CTTC tiêu dùng là công ty riêng biệt hoặc được sở hữu bởi các ngân hàng Thông thường, các công ty này tính phí lãi suất cao hơn và cung cấp các khoản vay cho người tiêu dùng khó có thể vay được từ NHTM.” Ở Việt Nam có CTTC TNHH MTV Mirae Asset, CTTC TNHH HD Saison, CTTC TNHH MTV Homecredit Việt Nam, CTTC TNHH MTV Prudential Việt Nam và CTTC TNHH MTV Quốc tế Việt Nam JACCS theo loại hình CTTC tiêu dùng
“CTTC kinh doanh (Business finance company): cung cấp dịch vụ bao thanh toán (factoring), cho thuê mua tài sản mà họ mua và sau đó cho thuê để kinh doanh trong một số năm.” Ở Việt Nam có nhiều công ty cho thuê tài chính chuyên cho thuê mua máy móc thiết bị có thể bao gồm lĩnh vực bao thanh toán, hoặc có mô hình CTTC tổng hợp được hoạt động nhiều lĩnh vực trong đó có bao thanh toán và cho thuê tài chính, tuy nhiên chưa có CTTC chuyên ngành hoạt động bao thanh toán
2.3.2 Các Công ty tài chính thuộc Tập đoàn kinh tế tại một số nước
Tại Trung Quốc
Công ty TNHH Tài chính Dầu khí Trung Quốc (China Petroleum Finance
Co., Ltd) được thành lập vào năm 1995 hoạt động như một công ty con của TCT Dầu khí Quốc gia Trung Quốc thuộc sở hữu Nhà nước là một tổ chức tài chính phi ngân hàng, cung cấp hỗ trợ tài chính, quản lý quỹ, và các dịch vụ tiền tệ nước ngoài vào ngành công nghiệp dầu khí tại Trung Quốc Công ty tham gia trong việc cung cấp các khoản bảo lãnh, cho vay, dịch vụ ủy thác đầu tư, chấp nhận và chiết khấu giấy tờ có giá, chuyển giao nội bộ quỹ và thanh toán, thanh toán nội bộ và thu xếp tài chính cho các thành viên của Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Trung Quốc Công ty
Trang 24cũng chấp nhận tiền gửi, cung cấp các khoản vay và cho thuê tài chính, ký hậu trái phiếu doanh nghiệp của các thành viên của Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Trung Quốc, và đầu tư vào chứng khoán với thị trường 14
Tập đoàn COSCO vận tải Trung Quốc (China COSCO Shipping
Corporation Limited) là một DNNN có các công ty cung cấp dịch vụ tài chính gồm: COSCO Finance, China Shipping Finance, China Shipping Investment, China Shipping Leasing thực hiện tư vấn tài chính, hỗ trợ thanh toán các thành viên nội
bộ tập đoàn, ủy thác và nhận ủy thác đầu tư; chiết khấu thương phiếu và bao thanh toán; giải quyết điều chuyển nội bộ và xử lý thích hợp nội bộ, bù trừ thanh toán chương trình giữa các đơn vị thành viên; nhận tiền gửi doanh nghiệp, cho vay và cho thuê tài chính các công ty thành viên; tham gia vào cho vay doanh nghiệp khác; phát hành trái phiếu của các CTTC; bảo lãnh phát hành trái phiếu doanh nghiệp đơn
vị thành viên; đầu tư các khoản vào các tổ chức tài chính; quản lý danh mục đầu tư tập đoàn 15
Tại Hàn Quốc
Tập đoàn Samsung có các công ty cung cấp dịch vụ tài chính gồm: Công ty
bảo hiểm nhân thọ (Samsung Life Insurance) là công ty bảo hiểm lớn nhất của Hàn Quốc; Công ty bảo hiểm hoả hoạn và hàng hải (Samsung Fire & Marine Insurance) một công ty dịch vụ tài chính hàng đầu, cung cấp các chính sách cạnh tranh toàn cầu và dịch vụ giữa các khu vực trong đó có Mỹ, Châu Âu, Trung Quốc, Indonesia, Việt Nam và Hàn Quốc; Công ty thẻ (Samsung Card); Samsung Chứng khoán (Samsung Securities), công ty đầu tư tài chính hàng đầu Hàn Quốc, cung cấp dịch
vụ quản lý tài sản cho các nhà đầu tư cá nhân thông qua các sản phẩm và giải pháp hàng đầu thị trường; Samsung Asset Management, công ty quản lý đầu tư hàng đầu của Hàn Quốc, chuyên về ủy thác đầu tư và quản lý quỹ tương hỗ, các sản phẩm và dịch vụ tư vấn và có liên quan; Samsung liên doanh đầu tư (Samsung Venture Investment), một công ty đầu tư mạo hiểm, tích cực đầu tư vào các doanh nghiệp định hướng tương lai trên một loạt các ngành công nghiệp.16
14 Truy cập ngày 12/10/2016, tại địa chỉ:
http://www.bloomberg.com/research/stocks/private/snapshot.asp?privcapId=27741229
15 Truy cập ngày 26/10/2016, tại địa chỉ: http://en.coscocs.com/col/col6937/index.html
16 Truy cập ngày 23/10/2016, tại địa chỉ:
http://www.samsung.com/latin_en/aboutsamsung/samsung/affiliatedcompanies_04.html
Trang 25khả năng bảo lãnh phát hành đẳng cấp thế giới cho điện, năng lượng tái tạo, và dầu khí Và Tổ chức Tài chính công nghiệp mới GE Capital phục vụ khách hàng trong
Y tế, Giao thông vận tải, phân phối điện, các ngành công nghiệp hàng hải và các đô thị trên thế giới Vào tháng Tư năm 2015, GE đã công bố kế hoạch của mình để tạo
ra một công ty đơn giản, có giá trị hơn bằng cách giảm kích thước của các doanh nghiệp tài chính của mình thông qua việc bán hầu hết tài sản của GE Capital trong khi tiếp tục đầu tư trong các doanh nghiệp công nghiệp đẳng cấp thế giới Kể từ thời điểm đó, nhóm GE Capital đã có những tiến bộ mạnh mẽ đối với việc xác định lại công ty và tập trung vào ngành dọc tài chính của mình trực tiếp hỗ trợ GE.19
Ally Financial Inc trước đây được biết đến như GMAC Inc (viết tắt
của General Motors Corporation Acceptance ), là CTTC của tập đoàn General Motors được thành lập vào năm 1919 để mua các khoản phải thu ô tô hiệu GM từ các đại lý xe hơi Công ty cung cấp một loạt các dịch vụ tài chính bao gồm cả tiền mua xe, tài chính doanh nghiệp, bảo hiểm và ngân hàng trực tuyến Ally là một trong những người cho vay ô tô hàng đầu tại Mỹ theoquy mô 20
Tại CHLB Đức, Finance.Siemens là CTTC của tập đoàn Siemens cung cấp các
giải pháp tài chính, công cụ tài chính & cho thuê, nhà cung cấp tài chính, tư vấn &
cơ cấu tài chính, đầu tư vốn cổ phần, nợ tài chính, vốn Tài chính, tài chính đòn bẩy,
tư vấn tài chính thương mại, bảo hiểm, tài chính cá nhân, quản lý tài sản, kho quỹ, quản lý lương hưu.21
Nhìn chung, ở các nước tư bản thì có các CTTC thuộc TĐKT tư nhân thường hoạt động
tương tự như loại hình CTTC chuyên ngành là CTTC bao thanh toán, CTTC tín dụng
tiêu dùng, Công ty cho thuê tài chính ở Việt Nam; các CTTC có vai trò chủ yếu đóng góp hỗ trợ dịch vụ tài chính cho tiêu thụ đầu ra sản phẩm, dịch vụ cho tập đoàn mình; các TĐKT dễ dàng thu hút vốn thông qua thị trường vốn và sự tài trợ của NHTM, các Công ty con có tính độc lập, tự chủ trong hoạt động kinh doanh
Còn tại Trung Quốc có các CTTC thuộc TĐKT của nhà nước với nhiệm vụ chính nhằm
19 Truy cập ngày 16/10/2016, tại địa chỉ: https://en.wikipedia.org/wiki/GE_Capital
20 Truy cập ngày 16/10/2016, tại địa chỉ: https://en.wikipedia.org/wiki/Ally_Financial
21 Truy cập ngày 23/10/2016, tại địa chỉ:
http://finance.siemens.com/financialservices/global/en/pages/home.aspx
Trang 26Công ty Hyundai Capital được thành lập vào năm 1993, là một đơn vị dịch
vụ tài chính của Hyundai Motor Group Công ty là nhà cung cấp số 1 của Hàn Quốc của các sản phẩm tài chính của người tiêu dùng, bao gồm cả tiền mua xe, dịch vụ cho thuê ô tô, cho vay cá nhân, và thế chấp nhà Hyundai Capital đã mở rộng sang các thị trường nước ngoài - bao gồm Mỹ, Canada, Trung Quốc, châu Âu, Nga và Brazil - để cung cấp hỗ trợ tài chính tự động cho Công ty Hyundai Motor
và Kia Motors.17
Lotte Capital Co., Ltd được thành lập vào năm 1995 hoạt động như một
công ty con của LOTTE Hàn Quốc Lotte Capital hoạt động như một CTTC tín dụng tại Hàn Quốc Công ty cung cấp tài chính tư nhân, cho thuê, tài chính trả góp, tài trợ của công ty và cho vay, tín dụng thuê mua, vay gia đình, tín phiếu giảm giá, bao thanh toán, và nhiều hơn nữa.Công ty được trước đây gọi là Công ty TNHH Lotte góp tài chính và đổi tên thành Công ty TNHH Lotte Capital vào tháng 3/2000.18
Tại Hoa Kỳ
GE Capital là đơn vị dịch vụ tài chính của Mỹ thuộc tập đoàn đa quốc
gia General Electric (GE) Nó cung cấp cho vay thương mại và cho thuê, cũng như một loạt các dịch vụ tài chính cho thương mại hàng không , năng lượng , và hỗ trợ cho các đơn vị kinh doanh công nghiệp của GE GE Capital hiện đang liên kết để thúc đẩy tăng trưởng trong các doanh nghiệp công nghiệp cốt lõi của GE - GE Capital Aviation Services (GECAS), Dịch vụ Tài chính Năng lượng (EFS) và GE công nghiệp Tài chính, trong đó bao gồm các doanh nghiệp chăm sóc sức khỏe Thiết bị Tài chính, vốn lưu động Solutions (WCS), và hoạt động tài chính khác để phát triển cho vay và cho thuê các sản phẩm cho GE Store Một trung tâm tài chính chuyên phục vụ toàn bộ hệ thống GE, Kho bạc GE, và một số nền tảng bảo hiểm đặc biệt, cũng là một phần của GE Capital "mới"
GE Capital Aviation Services là một đối tác tài chính quan trọng cho hơn 245 khách hàng tại 75 quốc gia, cung cấp cho thuê máy bay, tài chính, dịch vụ và tư vấn trong mọi lĩnh vực của ngành công nghiệp GE Energy Dịch vụ tài chính cung cấp
17 Truy cập ngày 16/10/2016, tại địa chỉ: https://en.wikipedia.org/wiki/Hyundai_Capital
18 Truy cập ngày 16/10/2016, tại địa chỉ:
http://www.bloomberg.com/Research/stocks/private/snapshot.asp?privcapid=30374678
Trang 27thu xếp đầu vào tài chính, hỗ trợ dịch vụ tài chính trong nội bộ tập đoàn, các Công ty con ít có tính độc lập, tự chủ trong hoạt động kinh doanh do không chủ động về nguồn vốn; đây cũng là loại hình CTTC tổng hợp thuộc sở hữu TĐKT và TCTNN ở Việt Nam
áp dụng
Khuynh hướng các tổ chức tài chính tư nhân và nước ngoài đầu tư vào CTTC nhà nước Việt Nam thông qua M&A, mua cổ phần sẽ mở rộng hoạt động CTTC chuyên ngành tín dụng tiêu dùng
Trang 28CHƯƠNG 3: HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CÔNG TY TÀI CHÍNH THUỘC KIỂM SOÁT TẬP ĐOÀN KINH TẾ, TỔNG CÔNG TY NHÀ NƯỚC: THỰC TRẠNG VÀ VẤN ĐỀ CHÍNH SÁCH
3.1 Thực trạng hoạt động của các Công ty tài chính thuộc kiểm soát Tập đoàn kinh
tế và Tổng công ty nhà nước
Năm 1994, Chính phủ đã thí điểm thành lập một số Tập đoàn kinh tế và sắp xếp lại Tổng công ty nhà nước nhằm tích tụ vốn, tập trung chuyên môn hóa để nâng cao sức cạnh tranh, tạo động lực thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước (Phụ lục 3).22 Hệ thống các quy định pháp lý đã khá đầy đủ, làm cơ sở thành lập 05 CTTC thuộc ở hữu nhà nước ra đời trong giai đoạn 1998-2000
Trong giai đoạn 2005-2008, thị trường chứng khoán, kinh doanh bất động sản, góp vốn thành lập ngân hàng phát triển mạnh, các TĐKT, TCTNN được kinh doanh đa ngành gặp môi trường kinh doanh thuận lợi, đã có thêm 6 CTTC (năm 2007-2008) và
1 CTTC (năm 2010) thuộc các TĐKT, TCTNN được thành lập
Sau một thời gian hoạt động, CTTC đã bộc lộ những khó khăn, bị hạn chế không được cung cấp dịch vụ thanh toán, không được huy động tiền gửi cá nhân kể cả kỳ hạn từ một năm trở lên, huy động nguồn vốn bị hạn chế, sự cạnh tranh gay gắt từ các NHTM
có tiềm lực tài chính mạnh, cung cấp đa dạng dịch vụ Hệ thống NHTM (trong đó có
cả các NHTM có vốn góp của các TĐKT, TCTNN) về sau đã cung cấp dịch vụ tài chính-tín dụng cho các DNNN, khi mà các CTTC không đủ đáp ứng cho nhu cầu của nội bộ mình
Các CTTC đã cho vay, đầu tư nhiều vào ngành bất động sản, chứng khoán,… nhóm ngành ngoài kinh doanh chính lại không phải thế mạnh của TĐKT, TCTNN trong khi năng lực quản lý, nguồn lực không đủ sức, dẫn đến kết quả kinh doanh hiệu quả thấp, thua lỗ
Nhiều cán bộ lãnh đạo có sai phạm và bị khởi tố vì thiếu trách nhiệm hoặc cố ý làm
22 Quyết định số 90 và 91 ngày 7/3/1994 của Thủ tướng chính phủ
Trang 29trái các quy định của nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng
Năm 2009, Chính phủ yêu cầu TĐKT, TCTNN có kế hoạch giảm tỷ lệ đầu tư ra ngoài ngành nghề chính, (đáng chú ý là CTTC cổ phần Dệt may Việt Nam (TVFC) thuộc Tập đoàn dệt may Việt Nam lại được thành lập trong năm 2010) Từ năm 2012, Chính phủ chỉ đạo các TĐKT, TCTNN tập trung vốn đầu tư vào các ngành nghề sản xuất kinh doanh chính, không đầu tư ngoài ngành, nhất là các lĩnh vực tài chính, bảo hiểm, bất động sản, chứng khoán TĐKT, TCTNN phải thực hiện nhiều biện pháp trong đó phải chấm dứt tình trạng đầu tư ra ngoài ngành, lĩnh vực sản xuất, kinh doanh chính trước năm 2015
Năm 2012, NHNN thực hiện tái cấu trúc hệ thống TCTD, khuyến khích các NHTM tham gia cuộc thực hiện M&A “giải cứu” các CTTC nhà nước hiện có Chính phủ đã đưa ra nhiều chính sách hỗ trợ (trước, trong và sau khi M&A) và một trong số đó là
NHNN đưa ra dự thảo Thông tư quy định về hoạt động tín dụng tiêu dùng của CTTC quy định “kể từ ngày Thông tư này có hiệu lực, NHTM không được ký mới hợp đồng
tín dụng tiêu dùng, các ngân hàng buộc phải thực hiện cho vay tiêu dùng thông qua
cấp phép thành lập mới CTTC, buộc các NHTM tìm, thương lượng M&A với các CTTC nhà nước
23 Quyết định số 254/QĐ-TTg ngày 01/03/2012 của Thủ tướng phê duyệt Đề án “Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng giai đoạn 2011 – 2015”
Trang 30Hình 3.1: Các thương vụ M&A liên quan đến CTTC nhà nước với NHTM
lệ 1:1
NHTMCP Phương Tây (Western Bank)
Chuyển thành
NHTMCP Đại Chúng (PVcombank)
NHTMCP Việt Nam Thịnh vượng (VP Bank)
Ngày 30/6/2014 chuyển thành
CTTC TNHH MTV NHTMCP Việt Nam Thịnh vượng (VPBFC)
CTTC cổ phần Hóa
chất (VCFC) công
ty con thuộc Tập
đoàn Công nghiệp
Hóa chất Việt Nam
(Vinachem)
Ngày 12/1/2015 được mua bởi
NHTMCP Kỹ thương (Techcombank )
Ngày 3/6/2015 chuyển thành
CTTC TNHH MTV Kỷ thương (Techcombank Finance)
NHTMCP Hàng hải (Maritime Bank)
Ngày 6/7/2015 chuyển thành
CTTC TNHH MTV NHTMCP Hàng Hải Việt Nam (MSB-FC)
lệ 2,2:1
NHTMCP Quân đội (MB)
Ngày 4/2/2016 chuyển thành
CTTC TNHH MTV MB (MB Finance)
NHTMCP Sài Gòn-Hà Nội (SHB)
Ngày 12/1/2017 chuyển thành
CTTC tiêu dùng TNHH MTV SHB (SHB Finance)
Trang 31Sau khi các NHTMCP (VPBank, Techcombank, Maritime Bank, MB, SHB) tiến hành M&A, thì tình hình tài chính các CTTC đã có chuyển biến tốt hơn (số liệu Bảng 1) Thời gian đầu, các ngân hàng không đặt nặng chỉ tiêu kết quả kinh doanh mà chú trọng vào ổn định và xử lý tồn tại
Các kỳ thống kê gần đây cho thấy, các chỉ tiêu tài chính của các CTTC được NHTM mua lại đã cải thiện, tổng tài sản của khối đã tăng trưởng trở lại, vốn chủ sở hữu phục hồi dần và các chỉ số sinh lời đã tốt lên Đáng chú ý, CTTC NHTMCP Việt Nam Thịnh vượng đã phát triển rõ rệt, sau 2 năm lợi nhuận tăng 20 lần, vốn chủ sở hữu tăng hơn 4 lần và tổng tài sản công ty tăng hơn 6 lần CTTC NHTMCP Hàng Hải Việt Nam lợi nhuận bị sụt giảm sau M&A do giữa năm 2015, công ty không còn hoạt động cho vay nữa, toàn bộ dư nợ cho vay khách hàng đã chuyển sang cho ngân hàng quản lý, theo dõi thu hồi nợ (không có thu nhập từ cho vay)
Hai CTTC sau khi sáp nhập với NHTM đang được rà soát đánh giá lại, đang từng bước nỗ lực vượt qua khó khăn, phục hồi có sự hỗ trợ của NHNN, như CTTC Sông
Đà trong năm 2015 có thể kết quả kinh doanh đã có lãi hơn 17 tỷ đồng, nhưng do phải trích dự phòng giảm giá chứng khoán và dự phòng rủi ro tín dụng bổ sung thêm 129 tỷ nên năm 2015 hạch toán lỗ trên 112 tỷ đồng CTTC Vinaconex Viettel (số liệu tính đến quý 2/2016) có thể kết quả kinh doanh đã có lãi 5 tỷ đồng, nhưng do phải trích dự phòng rủi ro bổ sung thêm 34 tỷ đồng từ khoản tiền đã quá hạn thanh toán từ năm
2012 nên đã hạch toán lỗ trên 30 tỷ đồng (NHNN cho phép các khoản nợ quá hạn trên chỉ mới trích 35% sau khi trích bổ sung thêm 15%, nếu trích đúng theo quy định hiện hành là 100% toàn bộ khoản nợ quá hạn thì số hạch toán lỗ sẽ tăng thêm nữa)
Bảng 3.1: Kết quả kinh doanh của các Công ty tài chính sau khi đã M&A với các
Ngân hàng thương mại cổ phẩn