1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ TIỀM NĂNG KHAI THÁC CÂY DƯỢC LIỆU VÙNG RỪNG NGẬP MẶN HUYỆN ĐÔNG HẢI, TỈNH BẠC LIÊU

70 413 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 2,68 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhiều người dân hiện nay chưa tận dụng hiệu quả nguồn tài nguyên cây thuốc, thay vì sử dụng hiệu quả các bài thuốc dân gian từ những cây thuốc quanh nhà, thì hằng năm người dân bỏ ra một

Trang 1

See discussions, stats, and author profiles for this publication at: https://www.researchgate.net/publication/315380214

Luận văn Lâm sinh “Đánh giá hiện trạng và tiềm năng khai thác cây dược liệu vùng rừng ngập mặn huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu”

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

-

NGUYỄN VĂN HIỂU

ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ TIỀM NĂNG KHAI THÁC CÂY DƯỢC LIỆU VÙNG RỪNG NGẬP MẶN HUYỆN ĐÔNG HẢI, TỈNH BẠC LIÊU

LUẬN VĂN KỸ SƯ NGÀNH LÂM SINH

Cần Thơ - 2016

Trang 3

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

-

ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ TIỀM NĂNG KHAI THÁC SỬ DỤNG CÂY DƯỢC LIỆU KHU VỰC RỪNG NGẬP MẶN HUYỆN ĐÔNG HẢI, TỈNH

BẠC LIÊU

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

Mã ngành: D620205

GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN SINH VIÊN THỰC HIỆN

MSSV: B1311054 Lớp Lâm Sinh Khóa 39

Cần Thơ – 2016

Trang 4

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN

BỘ MÔN TÀI NGUYÊN ĐẤT ĐAI

NHẬN XÉT CỦA BỘ MÔN TÀI NGUYÊN ĐẤT ĐAI

Bộ môn Tài nguyên đất đai chứng nhận luận văn thực tập chuyên ngành Lâm sinh với

đề tài: “Đánh giá hiện trạng và tiềm năng khai thác cây dược liệu vùng rừng ngập

mặn huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu”

Sinh viên thực hiện: NGUYỄN VĂN HIỂU

MSSV: B1311054

Lớp Lâm sinh khoa 39, bộ môn Tài nguyên đất đai, khoa Môi trường và Tài nguyên thiên nhiên, trường đại học Cần Thơ Nhận xét:

Cần Thơ, ngày tháng năm 2016

Trưởng bộ môn

Trang 5

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN

BỘ MÔN TÀI NGUYÊN ĐẤT ĐAI

NHẬN XÉT CỦA CÁN BỘ HƯỚNG DẪN

Chứng nhận chấp thuận báo cáo luận văn tốt nghiệp chuyên ngành Lâm sinh với đề tài:

“Đánh giá hiện trạng và tiềm năng khai thác cây dược liệu vùng rừng ngập mặn

huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu”

Sinh viên thực hiện: NGUYỄN VĂN HIỂU

MSSV: B1311054

Lớp Lâm sinh khoa 39, bộ môn Tài nguyên đất đai, khoa Môi trường và Tài nguyên thiên nhiên, trường đại học Cần Thơ

Thời gian thực hiện:

Nhận xét:

Kính trình Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp thông qua!

Cần Thơ, ngày tháng năm 2016

Cán bộ hướng dẫn

Trang 6

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN

BỘ MÔN TÀI NGUYÊN ĐẤT ĐAI

NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG BÁO CÁO

Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp chấp thuận báo cáo luận văn tốt nghiệp chuyên

ngành Lâm sinh với đề tài “Đánh giá hiện trạng và tiềm năng khai thác cây dược

liệu vùng rừng ngập mặn huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu”

Sinh viên thực hiện: NGUYỄN VĂN HIỂU

MSSV: B1311042

Lớp Lâm sinh khoa 39, bộ môn Tài nguyên đất đai, khoa Môi trường và Tài nguyên thiên nhiên, trường đại học Cần Thơ Ngày tháng năm 2016 Báo cáo luận văn tốt nghiệp được Hội đồng đánh giá ở mức: Ý kiến của Hội đồng:

Cần Thơ, ngày tháng năm 2016

Chủ tịch Hội đồng

Trang 7

LỜI CAM ĐOAN

Tôi tên: Nguyễn Văn Hiểu (MSSV: B1311054)

Là sinh viên lớp Lâm Sinh khóa 39 (MT13V4A1) - Bộ môn Tài nguyên đất đai, khoa Môi trường và Tài nguyên thiên nhiên, trường Đại học Cần Thơ

Từ ngày 01/01/2016 đến ngày 15/05/2016, tôi đã thực hiện đề tài: “Đánh giá hiện trạng

và tiềm năng khai thác cây dược liệu vùng rừng ngập mặn huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu”

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu kết quả của luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Cần Thơ, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

NGUYỄN VĂN HIỂU

Trang 8

LÝ LỊCH KHOA HỌC

I SƠ LƯỢC VỀ SINH VIÊN:

Họ và tên: NGUYỄN VĂN HIỂU

Sinh ngày: 01 tháng 01 năm 1994

Nơi sinh: xã An Phúc, huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu

Lớp: Lâm Sinh Khóa: 39

Khoa: Môi Trường & Tài nguyên thiên nhiên Trường: đại học Cần Thơ

Địa chỉ liên hệ: số 97, Ấp Phước Thắng, xã An Phúc, huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu

Họ và tên cha : NGUYỄN VĂN VĨNH

Họ và tên mẹ : NGUYỄN THỊ LỆ

II QUÁ TRÌNH HỌC TẬP

Tốt nghiệp Trung học phổ thông năm 2013 tại trường Trung học phổ thông Giá Rai, TX Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu

Từ năm 2013-2016 : Học đại học chuyên ngành Lâm sinh tại trường đại học Cần Thơ

Cần Thơ, ngày tháng năm 2016

Sinh viên thực hiện đề tài

NGUYỄN VĂN HIỂU

Trang 9

LỜI CÁM ƠN

Trong suốt quá trình học tập và rèn luyện tại trường Đại học Cần Thơ, ngoài sự nỗ lực phấn đấu của bản thân còn nhận được sự quan tâm dạy dỗ và nhiệt tình hỗ trợ từ quý thầy cô, gia đình và bạn bè

Em xin gửi lời cám ơn chân thành đến:

Quý thầy cô giảng dạy, đặc biệt là quý thầy cô trong Bộ môn Tài nguyên đất đai đã truyền đạt cho em những kiến thức quý báu, chia sẽ kinh nghiệm trong thực tế và nhiệt tình giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập

Thầy Võ Quốc Tuấn, cố vấn học tập, đã hướng dẫn, giúp đỡ và tạo điều kiện để em phát triển trong suốt quá trình học tập, giúp em có định hướng đúng đắn trong học tập cũng như trong cuộc sống

Thầy Võ Quang Minh, cán bộ hướng dẫn trực tiếp thực hiện luận văn tốt nghiệp, đã nhiệt tình đóng góp ý kiến chuyên môn, truyền đạt những kinh nghiệm thực tế và tạo điều kiện giúp em hoàn thành đề tài luận văn với chất lượng tốt nhất

Trong quá trình thực hiện luận văn, em cũng nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của bạn

bè trong và ngoài lớp, các cô, chú, anh, chi, trong Hưng Đông Tự, Trạm Y tế xã An Phúc

Cảm ơn gia đình đã quan tâm, chăm sóc, tạo nguồn động lực để con vượt qua những khó khăn và phấn đấu trong học tập, cùng con chia sẽ những niềm vui và nỗi buồn trong cuộc sống, là chỗ dựa vững chắc để con tự tin bước đi trên con đường học tập

Cám ơn các bạn trong lớp Lâm sinh khóa 39 đã hỗ trợ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn tốt nghiệp

Xin chân thành cám ơn !

NGUYỄN VĂN HIỂU

Trang 10

TÓM LƯỢC

Đề tài “Đánh giá hiện trạng và tiềm năng khai thác cây dược liệu vùng rừng ngập

mặn huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu” được thực hiện từ tháng 8 năm 2016 đến tháng

12 năm 2016 Đề tài này được thực hiện nhằm mục đích đánh sự đa dạng về hiện trạng nguồn tài nguyên cây cỏ làm thuốc, và tiềm năng tại huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu từ

đó đề xuất hướng bảo tồn phát triển Sưu tầm một số bài thuốc chữa bệnh từ các loài cây thu được

Kết quả nghiên cứu đã thống kê được 132 loài thực vật bậc cao có mạch có công làm thuốc của 119 chi thuộc 65 họ trong 2 ngành thực Các loài cây thuốc được sử dụng để chữa trị 24 nhóm bệnh khác nhau Xác định được bộ phận sử dụng làm thuốc và sự phân

bố của cây thuốc tại các môi trường sống khác nhau ở khu vực nghiên cứu

Khu vực nghiên cứu có 16 loài cây thuốc nằm trong danh mục cây thuốc mẫu, Có 9 loài

có tiềm năng phát triển khi đối chiếu với Quyết định số 1976/QĐ-TTg về Việc phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển dược liệu đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030 (Trong đó: Cỏ nhân trân có tiềm năng trong khai thác tự nhiên, 8 loài còn lại như: Đinh lăng, Dừa cạn, Gừng, Mã đề, Nghệ vàng, Nhàu, Sả, Trinh nữ hoàng cung

Thẻ: Cây thuốc, Bài thuốc, Bảo tồn tài nguyên

Trang 11

MỤC LỤC

TRANG PHỤ BÌA i

NHẬN XÉT CỦA BỘ MÔN TÀI NGUYÊN ĐẤT ĐAI ii

NHẬN XÉT CỦA CÁN BỘ HƯỚNG DẪN iii

NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG BÁO CÁO iv

LỜI CAM ĐOAN v

LÝ LỊCH KHOA HỌC vi

LỜI CÁM ƠN vii

TÓM LƯỢC viii

DANH SÁCH CÁC TỪ VIẾT TẮT xi

DANH SÁCH HÌNH xi

DANH SÁCH BẢNG xii

I MỞ ĐẦU 1

1 Đặt vấn đề 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

2.1 Mục tiêu chung: 2

2.2 Mục tiêu cụ thể 2

II LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 3

1 Tổng quan về rừng ngập mặn 3

2 Tổng quan tình hình về nghiên cứu cây thuốc 7

2.1 Ngoài nước 7

2.2 Trong nước 7

2.3 Một số nghiên cứu Về cây rừng ngập mặn 9

3 Tổng quan về khu vực nghiên cứu 10

3.1 Vị trí địa lý: 10

3.2 Lịch sử hình thành: 11

3.4 Văn hóa – Xã hội: 13

3.5 Một số bài thuốc thông dụng từ cây thuốc ở huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu 13

III PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22

1 Phương tiện nghiên cứu 22

1.1 Cách tiếp cận đề tài 22

Trang 12

1.2 Phương tiện nghiên cứu 22

1.3 Thời gian thực hiện 22

2 Nội dung và Các bước nghiên cứu 22

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 23

a Đối tượng nghiên cứu 23

b Phạm vi nghiên cứu 23

4 Phương pháp nghiên cứu 23

4.1 Phương pháp thu thập thông tin: 23

4.2 Phương pháp điều tra thực địa 24

4.4 Phương pháp Xác định vị trí tọa độ trên Google Earth 26

4.5 Phương pháp điều tra tình hình khai thác sử dụng cây dược liệu 27

IV KẾT QUẢ THẢO LUẬN 28

1 Sự đa dạng về nguồn tài nguyên cây thuốc ở huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu 28

1.1 Sự đa dạng về thành phần loài cây làm thuốc 28

1.2 Đánh giá đa dạng về phân loại 28

2 Đa dạng trong các bộ phận được sử dụng làm thuốc 34

3 Sự đa dạng về công dụng làm thuốc 35

4 Tiềm năng khai thác và sử dụng cây thuốc ở KVNC 37

V KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 41

1 Kết luận 41

2 Kiến nghị 41

TÀI LIỆU THAM KHẢO 42

Tiếng Việt 42

Trang Web 42

PHỤ LỤC 43

Trang 13

2.1 Bản đồ vị trí T Bạc Liêu và H Đông Hải trên google earth 11

4.2 Đa dạng về các bộ phận được sử dụng làm thuốc tại KVNC 35

Trang 14

DANH SÁCH BẢNG

2.1 Dược tính và hỗ trợ điều trị của một số cây rừng ngập mặn được ghi nhận 4

4.6

4.9 Sự đa dạng của các loài cây làm thuốc ở các vườn thuốc so với Danh mục

vườn thuốc mẫu của Bộ y tế

38

4.10 Các cây thuốc có tiềm năng khai thác và phát triển thị trường 40

Trang 15

I MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Hiện nay người ta có xu hướng quay trở về với cây thuốc và thuốc có nguồn gốc thiên nhiên tạo ra hơn là hóa chất làm thuốc Xu hướng này đã tác động đến việc sản xuất, thu hái, chế biến, lưu thông, tiêu thụ và sử dụng dược liệu thảo mộc Trong khi các tài liệu tra cứu về cây thuốc chủ yếu được viết trên sách, do đó hạn chế đối tượng sử dụng nhất

là không phải là nhà chuyên môn muốn tìm hiểu sử dụng cây thuốc Nhiều người dân hiện nay chưa tận dụng hiệu quả nguồn tài nguyên cây thuốc, thay vì sử dụng hiệu quả các bài thuốc dân gian từ những cây thuốc quanh nhà, thì hằng năm người dân bỏ ra một

số tiền khá lớn để mua các loại thuốc tây chữa bệnh, việc sử dụng thuốc tây tuy mang lại hiệu quả nhất thời nhưng giá thành khá cao, đồng thời có thể gây ra những tác dụng phụ không mong muốn và nếu sử dụng lâu dài có thể sẽ gây ra những biến chứng khôn lường Bên cạnh đó, thuốc tây được bán khắp mọi nơi bởi những người không có chứng chỉ hành nghề và không có sử chỉ dẫn của thầy thuốc điều này sẽ gây ra nhiều hệ lụy đáng tiếc về sau, Việc thay đổi phương pháp chữa bệnh hiệu quả, an toàn từ những dược liệu thiên nhiên sẵn có cần được đẩy mạnh để nâng cao chất lượng đời sống của người dân

Huyện Đông Hải là một huyện ven biển vùng sâu, là một trong những huyện nghèo nhất của tỉnh Bạc Liêu với các hệ sinh thái ngặp mặn ven biển và cửa sông với nhiều loài thực vật có giá trị làm thuốc cao như Nhàu, Cỏ Mực, Ô Rô, Mắm, Rau dấp cá, Nghệ vàng, Sả, Nghệ đen, Mật gấu (Lá đắng), Rau muống biển, Lức (Sài hồ nam), Ngò vôi, Nhan trần, Môn Bạc hà, Nha đam, Lá dứa, v.v Đây là huyện thuần nông với canh tác thủy sản và làm muối là chủ đạo, mức độ đô thị hóa không cao và đặc biệt cây cối rất

đa dạng , có rất nhiều cây có khả năng dùng làm thuốc chữa bênh Tuy nhiên, hiện trạng khai thác không kiểm soát làm giảm nguồn tài nguyên rừng, suy giảm đa dạng sinh học, suy giảm nguồn dược liệu quý của địa phương Bên cạnh đó, người dân ở đây mặc dù

có nhiều kinh nghiệm, kiến thức về các loài cây thuốc bản địa nhưng một thực trạng đáng lo ngại là kinh nghiệm đó chỉ tập trung ở những người già, người lớn tuổi, những người trẻ không quan tâm nhiều đến kinh nghiệm dân gian này Sụt giảm nguồn cây dược liệu trong tự nhiên, kiến thức y học cổ truyền và giá trị sử dụng cây thuốc của người dân địa phương là vấn đề cần thiết để quan tâm và tìm hiểu Mặc dù về mặt khoa học có nhiều loại có giá trị làm thuốc rất cao, nhưng chưa được đông đảo người dân quan tâm

Các công trình nghiên cứu về cây thuốc nam ở tỉnh Bạc Liêu nói chung, và ở huyện Đông Hải nói riêng là rất hiếm Mặc dù trên địa bàn huyện có rất nhiều cơ sở chữa bệnh hốt thuốc theo phương pháp Đông y, có rất nhiều vườn thuốc nam trong huyện, nhưng

Trang 16

chưa có tài liệu nào thống kê sự đa dạng về thành phần loài, số lượng, và giá trị sử dụng

cây thuốc nơi đây Do đó đề tài “Đánh giá hiện trạng và tiềm năng khai thác cây dược

liệu khu vực rừng ngập mặn huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu” Với mục đích thống

kê nguồn tài nguyên cây thuốc có ở huyện, đồng thời giúp người dân địa phương có thể

dể dàng nhận biết và sử dụng hợp lí các cây làm thuốc hiện có, góp phần chăm sóc sức khỏe người dân đồng thời bảo vệ nguồn tài nguyên này tốt hơn và đưa ra các biện pháp quản lí, sử dụng, bảo tồn hiệu quả nguồn tài nguyên dược liệu ở địa phương

2 Mục tiêu nghiên cứu

Trang 17

II LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU

1 Tổng quan về rừng ngập mặn

1.1 Khái niệm về rừng ngập mặn: Rừng ngập mặn (RNM) là loại rừng phân bố ở

vùng cửa sông, ven biển nhiệt đới và cận nhiệt đới, nơi có thủy triều ra vào hàng ngày

cao Một số loài cây rừng ngập mặn (như Su – Xylocarpus và Cui – Heritiera) cho ra gỗ

ở cấp đồ mộc rất mịn thớ nhưng hiếm khi mọc thành quần thụ đủ lớn để có thể làm nên

thương phẩm Thân cây Đước (Rhizophora) và Vẹt (Bruguiera) làm cừ rất chắc, nhiều

ngôi nhà (ở Singapore) xây dựng trên móng cừ bằng gỗ này từ cuối thế kỷ 19 vẫn còn đứng vững cho đến nay Gỗ rừng ngập mặn tồn tại rất lâu khi nó được chôn dưới đất, nhưng gãy rất nhanh nêu phơi ra ngoài

Gỗ rừng ngập mặn còn được băm và dùng để chế biến tơ nhân tạo Hoạt động này diễn

ra với qui mô lớn ở những khu rừng Đước (Rhizophora) đại trà (hàng chục ngàn héc-ta)

tốt nhất bị khai thác trắng Thảm kịch là ở chổ ngành công nghiệp gỗ dăm từ rừng ngập mặn (được kiểm soát đặc biệt bởi một tổ chức độc quyền ở Nhật Bản) chưa chú tâm đúng mức để đảm bảo khai thác bền vững, dù công nghệ này đang tồn tại

1.2.2 Các lâm sản khác

Có rất nhiều công dụng địa phương khác của sản phẩm rừng ngập mặn, dùng cây Nhum

(Oncosperma tigillarium) từ làm trụ đáy cho đến làm đường thực phẩm, một loài khác

trong họ cau dừa là cây Dừa nước (Nypa fruticans) được dùng từ làm tấm lợp nhà cho

đến làm giấy cuộn thuốc lá và hầu hết các loài cây rừng ngập mặn còn lại đều có

công dụng làm thuốc nam Nhiều loài hai mãnh vỏ được người ta thu lượm để kiếm

sống hàng ngày nhưng tôm và cua được đánh bắt từ sông nước rừng ngập mặn thì thường mang tầm thương mại quốc tế

1.3 Giá trị sử dụng dược liệu trong hệ sinh thái rừng ngập mặn

Tất cả các xã hội truyền thống đều sử dụng “thuốc nam”, dân cư sống bên trong hoặc

ở gần rừng ngập mặn cũng không ngoại lệ Những người sống trong các quần xã cây rừng ngập mặn ven biển lấy các sản phẩm từ cây rừng để trị nhiều chứng bệnh thông

Trang 18

thường và một ít căn bệnh hiểm nghèo (bảng 2) Dù thông tin về dược lí của cây rừng ngập mặn còn hạn chế nhưng hầu hết các loài đều có hàm lượng các hợp chất đa phân

tử chống ô-xi hóa cao (điển hình là tannin), và nhiều loài được biết là có chứa các hợp chất có hoạt tính sinh học có khả năng kháng khuẩn và kháng nấm, còn các loài khác thì

có tiềm năng trị được các bệnh hiểm nghèo như bệnh bạch cầu (Bandaranayake, 1998) Các nhà sản xuất thuốc thương mại có thể có nhiều thông ti n về dược tính của cây rừng ngập mặn nhưng vì đây là bí kíp nên hiếm khi được công bố Tuy nhiên, thực tế hiện

nay cho thấy rằng cây rừng ngập mặn được dùng làm “thuốc nam” ngày càng rộng rãi

hơn tập quán của cộng đồng

Bảng 2.1: Dược tính và hỗ trợ điều trị của một số cây rừng ngập mặn được ghi nhận Bổ sung theo Bandaranayake (1998) (Ba=vỏ cây; Fr=Trái; Fl=Hoa; Ju=Nước ép

từ trái; La=Nhựa mủ; Le=Lá; Ro=Rễ; Re=Nhựa dầu; Rh=Củ; Sa=Nhựa trong cây; Sh=Chồi non; St=Thân)

Acanthus ilicifolius Ô rô hoa tím Kích thích tình dục, suyễn, lọc máu (Fr);

Tiểu đường, lợi tiểu, viêm gan, bệnh phong (Fr, Le, Ro); Đau dây thần kinh, bại liệt, lác đồng tiền, thấp khớp, các bệnh về da (Ba), rắn cắn, đau dạ dày (Ba, Fr, Le)

Acanthus ebracreatus Ô rô hoa trắng Khử trùng, lọc máu, mụn nhọt (Fr); cảm

lạnh (Ba, Fr), Vết thương hoại tử (Ba), Thấp khớp (Le); dị ứng da, rắn cắn (Ba, Fr, L)

Acrostichum aureum Ráng đại Mụn nhọt, liền vết thương (Rh); thấp khớp

(Le)

Aegiceras

corniculatum

bệnh phong, lở loét (Le, Ba)

Avicennia alba Mấm trắng Ngừa thai, các bệnh về da, bướu, lở loét

Trang 19

Tên khoa học Tên tiếng Việt Dược tính

Avicennia Officinalis Mấm đen Kích thích tình dục, lợi tiểu, viêm gan (Fr,

Le); bệnh phong (Ba)

Bruguiera cylindrica Vẹt trụ Viêm gan (Fr, Le, Ro)

Bruguiera gymnorhiza Vẹt dù Các bệnh về mắt (Fr); tiểu đường, lở loét

(Ba, Le)

Bruguiera parviflora Vẹt tách Chống bướu (Ba)

Ceriops decandra Dà đỏ Viêm gan, lở loét (Ba, Fr, Le)

Clerodendron inerme Ngọc nữ biển

(Chùm gọng)

Khử trùng, cầm máu, kích thích sinh đẻ (Le), suyễn, viêm gan, lác đồng tiền, đau bao tử (Le, Ba, La)

Derris trifoliata Cóc kèn Nhuận tràng, (Le, Ro, St); Cầm máu (Fr);

trị co thắt, kích thích tử cung (Ba)

Excoecaria agallocha Trà mủ Động kinh (Le, Sa), viêm màng kết, viêm

da, huyết niệu, bệnh phong (Le, Sa, St); Thuốc xổ (Le, Sa); nhức răng (Sa)

Heritiera littoralis Cui biển Tiêu chảy (St)

Hibiscus tiliaceus Tra làm chiếu Nhiễm trùng tai (Fl)

Lumnitzera littorea Bông trang đỏ Đẹn (Le)

Limnitzera racemosa Cóc trắng Ngừa thai, suyễn, tiểu đường, rắn cắn (Fr)

Nypa fruticans Dừa nước Suyễn, tiểu đường, bệnh phong, thấp khớp,

rắn cắn (Le, Fr)

Trang 20

Tên khoa học Tên tiếng Việt Dược tính

Pluchea indica Cúc tần (Sài hồ

Rhizophora apiculata Đước đôi Chống nôn, khử trùng, tiêu chảy, cầm máu

(Ba); viêm gan (Ba, Fl, Fr, Le); thương hàn (Ba)

Scaevola taccada Hếp Khử trùng, trị phỏng, ho, tiểu đường, nhiễm

trùng mắt, rối loạn tiêu hóa, nhức đầu, ong đốt, rắn cắn (Ba, Le)

Sesuvium

portulacastrum

Sueda maritima Phì diệp biển Viêm gan (Le)

Sonneratia alba Bần trắng Thuốc đắp trị sưng, bong gân (Fr)

Sonneratia caseolaris Bần chua Cầm máu (Ba, Le, Fr); suyễn, lở loét (Ba);

bệnh trĩ, trị sưng, bong gân (Fr)

Xylocarpus granntum Su ổi Bệnh tả, sốt, sốt rét (Ba)

Xylocarpus

moluccensis

Trang 21

2 Tổng quan tình hình về nghiên cứu cây thuốc

2.1 Ngoài nước

Việc phát hiện ra cây thuốc đã có từ lâu đời trong quá trình đấu tranh với thiên nhiên, tìm tòi thức ăn mà có được Người Trung Hoa xưa cho rằng, vua Thần Nông là người đầu tiên phát hiện ra cây thuốc Ông đã biên soạn quyển sách về cây thuốc đầu tiên là

“Thần Nông bản thảo” trong đó ghi chép 365 vị thuốc (Đỗ Tất Lợi, 2003)

Theo tổ chức Y tế thế giới (WHO) đánh giá cho đến nay 80% dân số trên thế giới dựa vào nền y học cổ truyền để đáp ứng cho nhu cầu chăm sóc sức khoẻ ban đầu, trong đó chủ yếu là thuốc từ cây cỏ Sự quan tâm về các hệ thống y học cổ truyền và đặc biệt là các loại thuốc dược thảo, thực tế là đã ngày càng gia tăng tại các nước phát triển và đang phát triển trong hơn hai thập kỷ qua Các thị trường dược thảo quốc gia và toàn cầu đã

và đang tăng trưởng nhanh chóng, và hiện đang mang lại rất nhiều lợi nhuận kinh tế

Vì vậy quốc gia nào cũng có chương trình điều tra và tái điều tra nguồn tài nguyên dược liệu trong kế hoạch bảo tồn và phát triển đa dạng sinh học của đất nước mình Đối với những nước vốn có nền y học cổ truyền như Trung Quốc, Ấn Độ và các nước thuộc khu vực Đông Nam Á vẫn thường xuyên có những kế hoạch điều tra và tái điều tra với các quy mô, phạm vi và mục tiêu khác nhau Thường tập trung ở các đơn vị tỉnh hoặc cho một hướng tác dụng điều trị nào đó như điều tra cây thuốc có tác dụng chữa sốt rét, tim mạch, viêm gan, rắn cắn

Thế giới ngày nay có hơn 35.000 loài thực vật được dùng làm thuốc Khoảng 2500 cây thuốc được buôn bán trên thế giới Có ít nhất 2000 cây thuốc được sử dụng ở châu Âu, nhiều nhất ở Đức 1543 Ở Châu Á có 1700 loài ở Ấn Độ, 5000 loài ở Trung Quốc Trong

đó, có đến 90% thảo dược thu hái hoang dại Do đòi hỏi phát triển nhanh hơn sự gia tăng sản lượng, các nguồn cây thuốc tự nhiên bị tàn phá đến mức không thể cưỡng lại được, ước tính có đến 50% đã bị thu hái cạn kiệt

Trang 22

lên chiếm 15%, còn lại là các loài có nguồn gốc hàn đới và nhiệt đới khác Trong đó có nhiều loài có giá trị làm thuốc cao

Việc nghiên cứu về cây thuốc ở Việt Nam đã có từ lâu đời với các công trình tiêu biểu như: “Nam dược thần hiệu” của Tuyệ Tĩnh (1417) trong đó mô tả tới 579 loài cây làm thuốc; “Vân đài loại ngữ” của Lê Quý Đông (Thế kỷ XVI) đã phân chia thực vật thành nhiều loại công dụng khác nhau, trong đó có rất nhiều loài làm thuốc; “Bản thảo cương mục” của Lý Thời Trân (1595) trong đó đề cập trên 1000 cây thuốc (Đỗ Tất Lợi, 2003) Việt Nam được đánh giá là quốc gia có tiềm năng lớn về dược liệu trong khu vực Đông Nam Á Bên cạnh đó, cộng đồng các dân tộc Việt Nam đều có truyền thống lâu đời trong việc sử dụng các loại cây để làm thuốc Việt Nam có sự đa dạng về chủng loại cây dược liệu (trong số hơn 12.000 loài thực vật thì có gần 4.000 loài cho công dụng làm thuốc), vùng phân bố rộng khắp cả nước, có nhiều loài dược liệu được xếp vào loài quý và hiếm trên thế giới như: sâm ngọc linh, sâm vũ diệp, tam thất hoang… (Cục Quản lí dược, bộ

Y tế)

Theo Viện Dược liệu (2006) Việt Nam có 3.948 loài thực vật bậc cao, bậc thấp và nấm lớn được dùng làm thuốc Trong đó nhóm thực vật bậc cao có mạch có 3.870 loài Những cây thuốc có giá trị sử dụng cao, có khả năng khai thác trong tự nhiên là những cây thuốc nằm trong danh mục 185 cây thuốc và vị thuốc thiết yếucủa Bộ Y tế cũng như những cây thuốc đang được thị trường dược liệu quan tâm gồm có nhiều loài cây thuốc có khả năng khai thác

Theo một số tài liệu ngoài nước, đến thời kì kháng chiến chống Pháp, một số nhà thực vật học người Pháp đã đến nước ta nghiên cứu Điển hình là nhà dược học Crévost, Pétélot đã xuất bản bộ “Catalogue des produit de L’Indochine’’ (1928-1935), trong đó tập V (Produits medicinaux, 1928) đã mô tả 368 cây thuốc, vị thuốc là các loài thực vật

có hoa Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và giai đoạn giải phóng miền Bắc 1954, công tác nghiên cứu dược liệu cũng như sưu tầm các loài thảo dược ở nước ta có nhiều thuận lợi hơn Tiên phong trong thời kì này là Đỗ Tất Lợi – người đã dày công nghiên cứu và cho ra nhiều tác phẩm có giá trị về dược liệu cũng như cách sử dụng chúng trong đồng bào dân tộc “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” là một trong những tác phẩm để đời của ông Quyển sách đượcc tái bản nhiều lần qua quá trình nghiên cứu lâu dài, bổ sung liên tục các loài cây thuốc khác nhau, đến lần tái bản thứ 7 (1995) số cây thuốc ông nghiên cứu đã lên tới 792 loài; trong đó ông đã mô tả tỉ mỉ tên khoa học, phân

bố, công dụng, thành phần hóa học, chia tất cả cây thuốc theo các nhóm bệnh khác nhau Đây là một công trình nghiên cứu hết sức giá trị kết hợp giữa khoa học dân gian và hiện đại

Trang 23

Theo Đỗ Tất Lợi (2000), công tác điều tra dược liệu ở nước ta đã sớm được chú trọng

Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về dược liệu ở nước ta từ thời cổ xưa cho đến nay Tài liệu sớm nhất về cây thuốc Việt Nam là “Nam dược thần hiệu” của Tuệ Tĩnh

Kế đến Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác đã cho ra bộ sách “Y Tông tâm lĩnh” gồm

28 tập, 66 quyển đã mô tả khá chi tiết về thực vật, các đặc tính chữa bệnh

Tại quyết định số 1976/QĐ-TTg của thủ tưởng chính phủ Quyết định Phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển dược liệu đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030, trong quyết định quy hoạch phát triển trồng 10 loài dược liệu bao gồm các loài bản địa: Gừng, Trinh nữ hoàng cung, Nghệ vàng, rau đắng biển, hoàn ngọc, tràm, xuyên tâm liên, râu mèo và kim tiền thảo thuộc Tây nam bộ và đông nam bộ

Nhóm tác giả của Viện Dược liệu cũng đa tiến hành biên soạn và cho ra quyển “Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam” gồm 2 tập với hơn 1.000 loài, trong đó có 920 cây thuốc và 80 loài động vật được sử dụng làm thuốc

Năm 1960, “Cây cỏ Việt Nam” được Phạm Hoàng Hộ và Nguyễn Văn Dương công bố Mặc dù chưa liệt kê hết các loài thực vật ở Việt Nam, tuy nhiên quyển sách cũng phần nào đưa ra được tác dụng chữa bệnh chữa bệnh của nhiều loài thực vật (Phạm Hoàng

sử dụng cây thuốc trong dân gian với những bài thuốc có ứng dụng cao

2.3 Một số nghiên cứu Về cây rừng ngập mặn

Ở Việt Nam, cho đến nay cũng đã có một số công trình nghiên cứu về các loài cây thuốc

ở rừng ngập mặn, có thể kể đến như: Trong công trình “Rừng ngập mặn Việt Nam”,

Phan Nguyên Hồng và cộng sự (1999) cho biết trong số các loài cây ngập mặn đã được thống kê ở Việt Nam thì có 21 loài cây dùng làm thuốc Trong nhóm công dụng chữa

bệnh của các loại cây ngập mặn mà tác giả đã sưu tầm được thì chữa bỏng nhờ tanin

là công dụng phổ biến nhất Theo các tác giả, các loại cây ngập mặn là nguồn cung cấp tanin có chất lượng cao, dùng trong công nghệ dược phẩm Lượng tanin có nhiều trong

vỏ của các loại cây như Đước, Vẹt, Trang và Dà Theo Đỗ Tất Lợi (2004), đã trình bày khá cụ thể 13 loài cây rừng ngập mặn có tác dụng làm thuốc Trong đó có loài Ô rô

Trang 24

(Acanthus ilicifolius L.) chữa mụn nhọt, tê thấp; Mắm biển (Avicennia marina), Mắm đen (A officinalis) dùng đuổi muỗi, trị vết loét, Cóc kèn (Derris trifoliata Lour.) dùng

làm thuốc cầm máu và chữa lành vết thương

Phạm Khánh Linh và Đỗ Thị Xuyến (2009), đã thống kê có 7 loài cây ngập mặn chủ yếu tại Vườn Quốc gia Bái Tử Long, tỉnh Quảng Ninh, trong số đó có nhiều cây được

sử dụng để làm thuốc như: Quao nước (Dolichandrone spathacea(L.f.) Seem.), Cóc trắng (Lumnitzea racemosa Willd.), Xu ổi (Xylocarpus granantumJ Koening)

Theo Võ Văn Chi (2012), đã mô tả công dụng làm thuốc của nhiều loài cây ngập mặn

như Bần chua (Sonneratiacaseolaris (L.)Engl.), Đước đôi (Rhizophora

apiculataBlume), Vẹt dù (Bruguiera gymnorhiza (L.) Lam., Quao nước (Dolichandrone spathacea (L.f.) Seem.) Đây được xem là công trình mô tả về hình thái, sinh thái, phân

bố và công dụng làm thuốc của các câyrừng ngập mặn với số lượng lớn nhất ở Việt Nam

Nhìn chung đến nay, việc nghiên cứu về cây thuốc ở rừng ngập mặn trên thế giới và Việt Nam đang ngày càng được quan tâm, Tuy nhiên những công trình thống kê về kinh nghiệm sử dụng cây thuốc từ người dân thì lại khá hạn chế Đặc biệt đến nay, vẫn chưa

có công trình nào nghiên cứu về cây thuốc và kinh nghiệm sử dụng các loài cây thuốc ở huyện Đông Hải Đây cũng là cơ sở để tiến hành thực hiện đề tài này

3 Tổng quan về khu vực nghiên cứu

Trang 25

Nam giáp biển Đông.Về hành chánh, huyện bao gồm 11 xã, thị trấn là: thị trấn Gành Hào, xã Long Điền, Long Điền A, Long Điền Đông, Long Điền Tây, Điền Hải, An Trạch, An Trạch A, An Phúc, Định Thành, Định Thành A

Hình 2.1: Bản đồ vị trí T Bạc Liêu và H Đông Hải trên google earth

Huyện có diện tích lớn nhất tỉnh Bạc Liêu (khoảng 550 km²), địa hình bằng phẳng thấp trũng ở phía Tây, đất phèn, nhiễm mặn Quốc lộ 1A chạy cắt ngang huyện Sông Gành Hào, kênh Cà Mau - Bạc Liêu là những tuyến giao thông thủy quan trọng của huyện Huyện có 23 km bờ biển với 2 cửa sông lớn: cửa Cống Cái Cùng, cửa Gành Hào, có nhiều tiềm năng trong phát triển du lịch và kinh tế biển, đặc biệt là nghề làm muối và nuôi trồng thủy sản Tuy nhiên, hiện nay, Đông Hải vẫn là huyện nghèo, phát triển kinh

tế chưa tương xứng với tiềm năng

Ngày 24/12/2003, Chính phủ ban hành Nghị định số 166/2003/NĐ-CP, về việc thành lập xã, phường thuộc các huyện Vĩnh Lợi, Phước Long, Hồng Dân, Giá Rai, Đông Hải

và thị xã Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu Theo đó, chia tách xã Định Thành thành 02 xã: Định Thành và Định Thành A

Ngày 01/8/2008, Chính phủ ban hành Nghị định số 85/2008/NĐ-CP, về việc điều chỉnh địa giới hành chính xã, thành lập xã thuộc huyện Đông Hải, huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc

Trang 26

Liêu Theo đó, chia tách xã An Trạch thành 02 xã: An Trạch và An Trạch A; chia tách

xã Long Điền Tây thành 02 xã: Điền Hải và Long Điền Tây

Như vậy, đến nay huyện Đông Hải có 57.008,74 ha diện tích tự nhiên và 145.434 nhân

Hào và các xã: Long Điền, Long Điền Đông, Long Điền Đông A, Long Điền Tây, Điền Hải, An Phúc, An Trạch, An Trạch A, Định Thành và Định Thành A Trong đó, xã có diện tích tự nhiên lớn nhất là xã Long Điền, xã có diện tích nhỏ nhất là xã Định Thành

A

3.3 Kinh tế:

Cơ cấu kinh tế của huyện là Nông – lâm – ngư nghiệp: 62%, Công nghiệp và xây dựng: 16%, Thương mại - Dịch vụ: 22%, tăng trưởng kinh tế của huyện bình quân hằng năm tăng trên 10%

Đông Hải là huyện có chiều dài bờ biển lớn nhất tỉnh Bạc Liêu, kinh tế của huyện cũng chủ yếu dựa vào biển Người dân Đông Hải có truyền thống làm muối và nuôi trồng, khai thác thủy sản Năm 2011, toàn huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu có 573 phương tiện khai thác thủy hải sản, trong đó 232 chiếc đủ khả năng đánh bắt xa bờ, với sản lượng hàng năm trung bình trên 40.000 tấn Diện tích nuôi trồng thủy sản toàn huyện 38.457 ha, chiếm 67,5% diện tích tự nhiên Với sản lượng trung bình hằng năm trên 40.000 tấn

Đông Hải là huyện sản xuất muối lớn nhất tỉnh Bạc Liêu, là nơi cung cấp muối nguyên liệu cho các nhà máy sản xuất trong và ngoài tỉnh Toàn huyện có hơn 2.188 ha diện tích

sản xuất muối, chiếm 3,8% diện tích tự nhiên Tổng diện tích rừng trong toàn huyện

là 2.308 ha, chiếm 4,1% diện tích tự nhiên Rừng Đông Hải ít có giá trị về khai thác

gỗ song có vai trò quan trọng là chức năng phòng hộ vì đây là rừng ven biển, ở vùng biển bị xói lở, chắn sóng và bảo vệ môi trường sinh thái, có vai trò trong kết hợp nuôi trồng thuỷ sản Ngoài thế mạnh là khai thác và nuôi trồng thủy sản, huyện có khu vực trồng lúa tập trung tại 02 xã Long Điền Đông và Long Điền Đông A, với diện tích 948

ha

Về thương mại – dịch vụ: Toàn huyện hiện có 4.086 cơ sở kinh doanh thương mại - dịch vụ; 11 hợp tác xã với 1.933 xã viên, tổng vốn điều lệ khoảng 3,6 tỷ đồng với các ngành nghề kinh doanh chủ yếu: nuôi trồng thủy sản, diêm nghiệp, chăn nuôi, dịch vụ Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp: có 1.291 cơ sở sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp với các ngành nghề chính như: sản xuất nước đá, sửa chữa cơ khí, chế biến các mặt hàng thủy sản, chế biến lương thực - thực phẩm, sản xuất muối, gia công cơ khí, hầu hết các cơ sở này sản xuất kinh doanh hiệu quả Tuy nhiên về quy mô và mức độ

Trang 27

đầu tư chưa đáp ứng nhu cầu phát triển, chủ yếu là gia công và chế biến thô sơ, chưa có nền công nghiệp hiện đại

3.4 Văn hóa – Xã hội:

Đông Hải là huyện nghèo, mới thành lập, cơ sở hạ tầng chưa thật sự đồng bộ Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn năm 2011 là 25,08%, hộ cận nghèo 7,74% Tuy nhiên được sự quan tâm đầu tư của các cấp chính quyền, đến nay, huyện đã cơ bản xóa được nhà ở tạm bợ, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên rõ rệt, chất lượng giáo dục, y

tế có những chuyển biến tích cực, diện mạo nông thôn ngày càng khởi sắc

Hiện nay, tỷ lệ hộ dân sử dụng điện sinh hoạt 97,3% Xây dựng đường giao thông ấp liền lấp 84/84 đạt 100%, 10/11 xã, thị trấn có đường ôtô đến trung tâm; có 52 điểm trường với tất cả các cấp học (có 03 trường THCS đạt chuẩn quốc gia), 100% phòng học đều được đầu tư xây dựng cơ bản và bán cơ bản, hàng năm vận động trẻ em trong độ tuổi lớp 1 đến trường đạt 99%; có 8/11 trạm y tế xã đạt chuẩn quốc gia về y tế, chiếm tỷ

lệ 73%; có 27.032 hộ gia đình văn hoá, chiếm 84,3%, 68/84 ấp văn hoá đạt 81% Huyện Đông Hải có 03 thành phần dân tộc chính là Kinh chiếm tỷ lệ 97,28%, dân tộc Khmer chiếm 2,55%, dân tộc Hoa 0,15% Do đó, hằng năm luôn có nhiều Lễ hội gắn liến với đời sống tâm linh của các dân tộc, tôn giáo như Lễ hội Kỳ yên ở Đình thần Long Điền, xã Long Điền và Đình Nguyễn Trung Trực, xã An Trạch A Đặc biệt, do là vùng đất ven biển, hằng năm tại cửa biển Gành Hào, cư dân biển đều tổ chức Lễ hội Nghinh Ông với nhiều hoạt động sôi nổi như: tổ chức cho hàng trăm tàu tuyền đánh bắt hải sản đồng loạt diễu hành ra biển; lễ thỉnh Ông Nam Hải; thả tôm giống ra biển; Hội chợ thương mại cùng nhiều hoạt động văn hoá văn nghệ, các trò chơi dân gian, giao lưu

ẩm thực Ngoài giỗ tổ truyền thống của ngư dân còn là dịp để Đông Hải, Bạc Liêu quảng

bá hình ảnh, giới thiệu phong tục, tập quán của ngư dân miền biển đến người dân trong

và ngoài nước, khách du lịch phương xa

3.5 Một số bài thuốc thông dụng từ cây thuốc ở huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu Bình bát dây

Lá và quả non dùng làm rau ăn Ngoài ra, dân gian dùng củ ngâm rượu bóp chữa sưng đau hay các khớp bị viêm; có người dùng dây Lá Mảnh bát phối hợp với Bùm sụm, Cỏ mần trầu, Dền gai, mỗi thứ một nắm sắc uống để trị huyết áp

– Theo sách cổ Vệ sinh yếu quyết, Hải Thượng Lãn Ông đã dùng dây Mảnh bát để chữa trúng độc bằng cách lấy rễ củ của cây để tươi, rửa sạch, giã nát, vắt lấy nước cốt uống hoặc rễ phơi khô 30-50g, thái nhỏ, sắc với 200ml nước còn 50ml, uống làm 1 lần trong ngày

– Theo kinh nghiệm dân gian, lá Mảnh bát để tươi, giã đắp chữa mụn nhọt, lở loét, vết cắn do rết hoặc côn trùng, nếu giã nát lá, thêm nước, gạn uống, rồi lấy bã hơ nóng, xoa miết khắp người chữa cảm sốt, đau đầu Hạt Mảnh bát nghiền nát, trộn với dầu dừa, bơi hàng ngày có tác dụng chữa ghẻ

Trang 28

– Dây Mảnh bát 50g, phối hợp với rễ cây Chùm ngây 30g Cam thảo dây 20g, thái nhỏ, phơi khô, sắc với 400ml nước còn 100ml, uống làm hai lần trong ngày, chữa đái rắt hoặc

bí đái Để chữa trĩ, lấy lá Mảnh bát tươi 50g, rau Diếp cá tươi 50g, hoa Mào gà 5g, xơ Mướp đốt tồn tính 5g, sắc uống trong ngày (Kinh nghiệm của Phòng chẩn trị Đông y dân lập Phan Thiết)

Dùng ngoài, thân rễ mía dò giã đắp chữa rắn cắn

Ở Trung Quốc người ta dùng mía dò chữa viêm thận, phù thũng, xơ gan cổ trướng, tiểu tiện không thông, mề đay Ở Ấn Độ, mía dò dùng làm thuốc chữa sốt, bệnh ngoài da, rắn cắn Ở Indonesia, mía dò chữa các bệnh về mắt Ở Lào và Malaysia, dịch hãm hoặc nước sắc của lá mía dò là thuốc ra mồ hôi hoặc dùng làm nước tắm cho bệnh nhân sốt cao Ở Malaysia, người ta còn dùng mía dò với trầu không để chữa ho

Dưa leo

Chữa cổ họng sưng đau:

Lấy 1 quả dưa chuột già, bỏ hết hạt, thêm măng tiêu (natri sulfat thiên nhiên tinh chế) vào cho đầy quả, trộn đều, phơi trong râm cho đến khô Ngậm từng ít một (Y lâm tập yếu)

Chữa bỏng lửa chưa phồng da:

Ba quả dưa chuột hái vào mùa hè, bỏ vào bình trát kín với một ít rượu Khi bị bỏng, lấy nước trong bình đựng dưa chuột bôi vào chỗ bỏng

Rau càng cua

Chữa cổ họng sưng đau:

Lấy 1 quả dưa chuột già, bỏ hết hạt, thêm măng tiêu (natri sulfat thiên nhiên tinh chế) vào cho đầy quả, trộn đều, phơi trong râm cho đến khô Ngậm từng ít một (Y lâm tập yếu)

Chữa bỏng lửa chưa phồng da:

Ba quả dưa chuột hái vào mùa hè, bỏ vào bình trát kín với một ít rượu Khi bị bỏng, lấy nước trong bình đựng dưa chuột bôi vào chỗ bỏng

Rau ngót

Rau ngót một loại rau ăn bổ, mát Ở Ấn Độ, rau ngót được coi là một cây rau đa sinh tố (multivitamin green) Ở Việt Nam, theo kinh nghiệm dân gian, lá rau ngót được dùng chữa bệnh như sau:

- Chữa sót rau : Lá rau ngót tươi 40g, rửa sạch, giã nát, thêm nước đun sôi để nguội, gạn lấy 100 ml nước chia làm 2 lần, uống cách nhau 10 phút Sau khoảng 15 - 30 phút phần rau còn sót lại sẽ bị tống ra Cũng có thể dùng lá tươi giã nát đắp vào 2 gan bàn chân

- Chữa tưa lưỡi: Lá rau ngót tươi 5 - 10g, giã nát vắt lấy nước, thấm vào bông hay vải gạc đánh lên lưỡi, lợi và vòm miệng Chỉ sau 2 lần trẻ lại bú được

Trang 29

- Chữa đái dầm : Lá rau ngót tươi 50g, rửa sạch, vò vào nước đã đun sôi để nguội, mỗi lần uống một bát Uống vài lần sẽ có kết quả

Ngoài ra, rau ngót 30g, phối hợp với nõn cây dứa ăn quả 20g, rệp 7 - 9 con, giã nát, thêm nước gạn uống, bã đắp chữa rắn độc cắn

Ở Ấn Độ, nước sắc rễ rau ngót, chữa sốt, tiểu tiện khó, chẹt bàng quang, lá và rễ tươi giã nát đắp ngoài chữa chứng viêm loét mũi

Nhàu

Rễ nhàu được nhân dân miền Nam dùng chữa cao huyết áp Rễ thái nhỏ, phơi khô sắc nước uống thay chè với liều 10 -20g mỗi ngày Sau khi dùng thuốc 14 -15 ngày, bắt đầu thấy kết quả; sau đó giảm liều dùng liên tục trong vài tháng thì huyết áp ổn định

Ngoài ra, rễ nhàu thái nhỏ, sao vàng ngâm rượu, uống mỗi ngày 2 lần, mỗi lần một thìa canh chữa chứng nhức mỏi, đau lưng, tê bại Có thể dùng quả nhàu non thái mỏng, sao khô, để thay thế Rễ nhàu phối hợp với muồng trâu, rễ gừa, cù đèn, thài lài, cỏ bấc, vòi voi, ngũ gia bì chân chim, quao nước với liều lượng bằng nhau, phơi khô sắc uống, chữa sỏi thận

Theo Đào Văn Phan, Trân Ngọc Ân, cao nước rễ nhàu có tác dụng tốt đối với viêm khớp dạng thấp ở giai đoạn I và II Qua điều trị bằng rễ nhàu, kết quả đạt 91,6%, trong đó tốt chiếm 56%, trung bình 35,6%

Quả nhàu chín ăn với muối có tác dụng giúp tiêu hoá, nhuận tràng, lợi tiểu, điều kinh Quả nhàu non (3 quả) phối hợp với rễ mía dò (10g), củ tầm sét (10g); phơi khô, tán nhỏ, sắc với 400ml nước còn 100ml, uống trong ngày chữa tụ huyết do ngã hay bị đánh Quả nhàu nướng chín ăn chữa kiết lỵ

Lá nhàu,để tươi,rửa sạch giã nhỏ đắp, làm mụn nhọt sớm mưng mủ, mau lành, chóng lên da non Lá nhàu phơi khô (10g) thái nhỏ sắc uống chữa sốt rét, kiết lỵ Lá nhàu còn được dùng nấu canh ăn

Các nước ở châu Á cũng dùng các bộ phận của cây nhàu để làm thuốc, ở Trung Quốc, Nhật Bản, nước sắc rễ nhàu được dùng làm thuốc bổ, thuốc hạ sốt Ở Đài Loan, nước sắc của rễ dùng chữa lỵ Ở Philippin, cao toàn phần rễ nhàu chữa bệnh cao huyết áp, sung huyết, trĩ, xuất huyết não Ở Malaysia, lá nhàu hơ nóng đắp lên ngực, bụng chữa

ho, nôn mửa, đau bụng, lách to Nước ép từ quả chữa ho, sốt, tiểu tiện khó, đái đường, giun sán, kinh nguyệt không đều

Nhọ nồi (Cỏ mực)

Nhọ nồi thường được dùng làm thuốc bổ máu, cầm máu bên trong và bên ngoài, chữa

ho ra máu, lỵ ra máu, rong kinh, băng huyết, chảy máu cam, trĩ ra máu, nôn ra máu, đái

ra máu, bị thương chảy máu Còn dùng chữa ban sởi, ho, hen, viêm họng, bỏng, lao phổi,

di mộng tinh, bệnh nấm ở da, làm thuốc mọc tóc (sắc uống hoặc ngâm vào dầu dừa mà bôi) và nhuộm tóc

Mỗi ngày dùng 20g cây khô, dưới dạng thuốc sắc uống Dùng tươi 30 - 50g, giã nát vắt lấy nước uống, còn bã đắp vết thương

Trong y học cổ truyền Trung Quốc, nhọ nội được dùng làm thuốc bổ toàn thân và cầm máu, có trong thành phần thuốc mỡ để điều trị một số bệnh của da Liều dùng một lần:

4 - 6g, dạng thuốc sắc uống

Ở Ấn Độ, nhọ nồi được dùng làm thuốc bổ và chữa ứ tắc trong các bệnh phì đại gan và lách, và chữa một số bệnh về da Dịch ép cây được dùng phối hợp với một số chất thơm

Trang 30

để chữa vàng da xuất tiết Dịch ép lá cây được dùng cùng với mật ong để chữa sổ mũi ở trẻ nhỏ Một chế phẩm làm từ dịch ép lá nhọ nồi đun nóng với dầu dừa hoặc dầu vừng được dùng để bôi đầu làm tóc mọc dày và đen Cây tươi có tác dụng giảm đau và thấm hút Nó được trộn với gôm để chữa đau răng và đắp với một ít dầu để trị nhức đầu Nó cũng được đắp với dầu vừng để trị phù voi Cây nhọ nồi được dùng làm chất nhuộm để xâm hình Lá nhọ nồi được dùng làm rau răn ở Java, và làm gia vị ở một số vùng Ấn

Chữa ỉa chảy (do nhiễm khuẩn đường tiêu hoá):

Nhọ nồi 1 nắm, mã đê tươi 1 - 2 nắm, rau má 1 nắm Sắc đặc chia uống nhiều lần trong ngày

Chữa sốt xuất huyết nhẹ, sốt phát ban, phong nhiệt nổi mẩn:

Nhọ nồi, rau sam, sài đất, huyền sâm, mạch môn, ngưu tất, mỗi vị 10 - 15g, sắc uống

Chữa sốt xuất huyết:

Nhọ nồi tươi 30g, rau má tươi (hoặc cát căn, cỏ mần trầu) 30g, bông mã đề tươi (hoặc cối xay, rẽ cỏ tranh) 20g Vắt lấy nước uống hoặc sắc uống Bài thuốc này cũng có thể dùng để phòng bệnh

Nhọ nồi tươi 40g, rau má tươi (hoặc cát căn) 40g, rau sam tươi 40g, mã đề tươi 40g, kim ngân hoa tươi 30g, hoa hoè 10g, thảo quyết minh 10g Sắc với 300ml nước lấy 100ml uống nước đầu Sau đó sắc nước thứ 2 và 3 uống tiếp trong ngày

Chữa các chứng đau sưng ở trẻ em và người lớn:

Nhọ nồi, diếp cá, lá xương sông, lá huyết dụ, lá khế, lá dưa chuột, lá nhài, lá cải trời giã nát, thêm nước, vắt lấy nước uống, bã dùng xoa, đắp chỗ sưng

Chữa trẻ em tưa lưỡi:

Nhọ nồi tươi 4g, hẹ 2g Hai vị rửa sạch, giã nhỏ, vắt lấy nước cốt, hoà mật ong, trộn đều, chấm thuốc vào lưỡi, cách 2 giờ 1 lần

Chữa rong kinh, rong huyết sau khi đặt dụng cụ tử cung:

Trang 31

Nhọ nồi 16g, sinh địa 16g, hoài sơn 16g, đương quy 12g, bạch thược 12g, thỏ ty tử 12g, ích mẫu 12g, hương phụ 10g, xuyên khung 8g, sắc uống

Chữa rối loạn kinh nguyệt (kinh nguyệt thường thấy trước kỳ, lượng huyết nhiều):

Nhọ nồi tươi 30g, rau má tươi 30g, sinh địa 16g, ích mẫu 16g, củ gấu (tứ chế) 12g, quả dành dành (sao cháy) 12g, ngưu tất 12g, sắc uống ngày 1 thang

Chữa động thai băng huyết:

Nhọ nồi 1 nắm, ngải cứu 1 nắm, trắc bách diệp 1 nắm sao cháy đen, cành tía tô 12g (hoặc nhọ chảo, nhọ soong 10g), củ gai 12g, sắc đặc uống làm một lần

Ho do viêm họng hoặc viêm amidan cấp:

Nhọ nồi tươi 50g, sắc uống ngày 1 thang trong 3 ngày

Chữa thấp khớp (có sưng khớp):

Nhọ nồi 16g, rễ cỏ xước 16g, hy thiêm 16g, thổ phục linh 20g, ngải cứu 12g, thương nhĩ

tử 12g Sao vàng, sắc đặc, ngày uống một thang, trong 7 - 10 ngày liền

Chữa di mộng tinh:

Nhọ nồi sấy khô tán nhỏ, uống mỗi lần 8g với nước cơm, hay sắc 30g uống

Nhọ nồi 12g, tỳ giải, bồ công anh, củ mài, mỗi vị 16g; ý dĩ, hoàng bá nam, mẫu lệ, cam thảo nam, mỗi vị 12g Sắc uống ngày một thang

Chữa chảy máu kéo dài do nguyên nhân bệnh:

Nhọ nồi, đảng sam, ô tặc cốt, mỗi vị 16g; hoang kỳ, bạch truật, địa du, ngải cứu, trắc bá diệp, mỗi vj 12g; đương quy 8g, cam thảo 6g Sắc uống ngày một thang

Chữa đái ra máu do viêm nhiễm mạn tính đường tiết niệu:

Nhọ nồi 16g; hoàng bá, thục địa, quy bản, rễ cỏ tranh, mỗi vị 12g; tri mẫu, chi tử sao đen, mỗi vị 8g Sắc uống ngày 1 thang

Chữa rong kinh:

Do thừa foliculin: Nhọ nồi 20g; đảng sâm, ý dĩ, hoài sơn, mỗi vị 16g; bạch truạt 12g; huyết dụ 6g Sắc uống ngày 1 thang

Do nhiễm khuẩn đường sinh dục (huyết nhiệt): Nhọ nồi 20g; sinh địa, huyền sâm, mỗi

vị 16g; địa cốt bì, rễ cỏ tranh, mỗi vị 12g; huyết dụ 6g Sắc uống ngày một thang

Chữa rong huyết:

Nhọ nồi, sinh địa, mỗi vị 16g; huyền sâm 12g; địa cốt bì, kỷ tử, a giao, than bẹ móc, chi

tử sao, mỗi vị 8g Sắc uống ngày 1 thang

Nhọ nồi 16g; ích mẫu 20g; đào nhân 10g; uất kim, nga truật, mỗi vị 8g; huyết dụ 6g; bách thảo sương 4g Sắc uống ngày 1 thang

Nhọ nồi 16g; đảng sâm, thục địa, cỏ nến, mỗi vị 12g; hương phụ, bạch truật, xuyên khung, mỗi vị 8g; chỉ xác 6g Sắc uống ngày 1 thang

Chữa phong tê thấp:

Nhọ nồi 100g, vòi voi 300g, củ bồ bồ 150g, rễ nhàu 100g Các vị tán nhỏ làm hoàn to bằng hạt tiêu Liều uống 20 hoàn, ngày 3 lần

Chữa lao phổi:

Trang 32

Nhọ nồi 12g; đảng sâm 16g; bạch truật, tử uyển, mỗi vị 12g; phục linh, bách hợp mỗi vị 8g; cam thảo, ngũ vị tử, bối mẫu, mỗi vị 6g Sắc uống ngày 1 thang

Chữa thiếu máu do thiểu năng tạo máu của tuỷ xương:

Nhọ nồi, thục địa mỗi vị 16g; hoài sơn, mai ba ba, ngẫu tiết, rễ cỏ tranh, mỗi vị 12g; sơn thù, trạch tả, phục linh, đan bì, mỗi vị 8g Sắc uống ngày một thang

Chữa viêm gan virus thể mạn tính tiến triển:

Nhọ nồi 12g, mẫu lệ 16g; kê huyết đằng, sinh địa, mỗi vị 13g; quy bản 10g; uất kim, tam lăng, nga truật, chỉ xác, mỗi vị 8g Sắc uống ngày một thang

Chữa đái ra máu kéo dài do bệnh toàn thân:

Nhọ nồi, đảng sâm, mỗi vị 16g; hoài sơn, bạch truật, thạch hộc, ngẫu tiết sao đen, thục địa, trắc bá diệp, ngải cứu, mỗi vị 12g Sắc uống ngày một thang

Chữa bệnh bại liệt trẻ em giai đoạn khởi phát:

Nhọ nồi, cỏ tranh, bồ công anh, cam thảo đất, liên kiều, mã đề, mỗi vị 10g; ngân hoa 10g Sắc uống ngày một thang

Sả

Chữa bụng trướng to, chân tay gầy gò:

Cây sả, diêm tiêu, vỏ bưởi, xạ hương, quế, bồ hóng, hồi hương, trạch tả, mộc thông, cỏ bấc, sắc cách thủy mà uống Kiêng ăn cơm nếp và muối mặn Uống thuốc này thì tiêu nước, hết trướng Nên ăn vài khúc mía trước khi uống thuốc, nhả bã, nuốt nước để đỡ khé cổ

Chữa cảm cúm, cảm lạnh, sốt gai rét không có mồ hôi:

Tinh dầu sả, 10 - 15 giọt, uống với một chén nước nóng, đắp chăn cho ra mồ hôi

Thuốc xông giải cảm:

Lá sả, lá bưởi, lá chanh, cúc tần, hương nhu hay lá bạch đàn, mỗi thứ một nắm, đậy kín nồi, đun sôi một lúc, trùm chăn xông hơi cho ra mồ hôi rồi lau khô, sau đó uống một bát nước thuốc, đắp chăn nằm ngủ, ra thêm ít mồ hôi nữa sẽ khỏi

Lá sả, lá bưởi, tía tô, bạc hà, kinh giới, mỗi thứ một nắm, đun sôi, xông trong 5 -10 phút

Chữa tiêu chảy:

Rễ sả 6g, củ gấu 10g, vỏ rụt 8g, vỏ quýt 6g, hậu phác 6g Sắc đặc uống làm nhiều lần trong ngày

Rễ sả, củ gừng, mỗi thứ 10g sắc đặc, uống làm 2 lần trong ngày

Chữa tiêu chảy nước nhiều:

Rễ sả 16g, búp ổi 8g, củ riềng 8g Sao qua, sắc đặc uống Phối hợp với truyền nước nếu mất nước nhiều, rối loạn điện giải

Chữa phù nề chân, đái ít, thấp thũng:

Lá sả 2 nắm, cỏ xước một nắm, rễ cỏ tranh hoặc bông mã đề một nắm, sắc uống 3 ấm

Chữa ho:

Bách bộ bỏ lõi thái nhỏ sao khô 500g, mạch môn bỏ lõi 300g, tang bạch bì tẩm mật sao vàng 200g (3 vị này sắc và cô thành 300 ml cao lỏng); rễ sả, trần bì, sinh khương, tô tử,

Trang 33

mỗi vị 250g (4 vị này giã nát ngâm rượu 40° vừa đủ để được 200 ml rượu thuốc Trộn lẫn cao lỏng và rượu thuốc Mỗi lần uống 10 ml, ngày 2 - 3 lần

Chữa đau dạ dày:

Rễ sả già sao 6g, cám gạo (rang cháy khét) 12g; hương phụ sao 10g; hậu phác (tẩm gừng sao) 6g; thạch xương bồ, củ riềng (nướng lùi), mỗi vị 4g; dạ dày lợn 1 cái (sấy khô giòn, tán chung với các vị thuốc) Ngày uống 12g bột thuốc

Diếp cá

Diếp cá được dùng trị táo bón, trĩ, mụn nhọt, lở ngứa, trẻ con lên sởi, viêm phổi hoặc phổi có mủ, đau mắt đỏ hoặc đau mắt do nhiễm trực khuẩn mủ xanh, viêm ruột, kiết lỵ,

bí tiểu tiện, kinh nguyệt không đều Còn dùng chữa sốt rét, sài giật trẻ em, đau răng, trâu

bò bị rắn cắn Ngày dùng 6-12g toàn cây khô (trừ rễ), hoặc 20-40g cây tươi, dạng thuốc sắc, thuốc bột, viên, hoặc giã nát lọc lấy nước uống Dùng ngoài, lá diếp cá tươi rửa sạch giã nhỏ đắp trực tiếp đối với trường hợp trĩ, chổ sưng đau, lở ngứa, hoặc ép thuốc giữa hai miếng giấy lọc sạch, đắp lên mắt Trong bệnh trĩ, đồng thời với cách dùng uống và đắp, còn sắc nước lấy hơi xông, rồi rửa

Ở Trung Quốc, một hợp chất có hoạt tính kháng khuẩn đã được phân lập từ cây diếp cá

và bào chế thành thuốc viên và thuốc tiêm để trị bệnh nhiễm khuẩn

Ở Ấn Độ, Trung Quốc, thân rễ diếp cá được ăn như rau, dùng sống hoặc nấu chín, ỏ Nhật Bản, thân rễ diếp cá có trong thành phần của một số chế phẩm thuốc dùng chữa một số bệnh của phụ nữ Ở Trung Quốc, diếp cá còn được dùng chữa khó tiêu và làm thuốc bó những chỗ bị tổn thương để kích thích sự phát triển của xương Cao của rễ diếp

cá có hoạt tính lợi tiểu do tác dụng của quercitrin và các muối vô cơ (kali clorid, kali sulfat) Ở Nêpan, thân rễ cây diếp cá được dùng trong một số chế phẩm chữa bệnh cho phụ nữ Cả cây được coi như thuốc làm mát, tiêu độc, chữa khó tiêu và điều kinh Lá được dùng tả lỵ, bệnh lậu, bệnh về mắt, bệnh về da, trĩ Cao chiết từ rễ có tác dụng lợi tiểu

Bài thuốc có diếp cá:

Chữa đơn sưng của người lớn và trẻ em (Nam dược thần hiệu):

Diếp cá, nhọ nồi, cải rừng, xương sông, dưa chuột, khế, đơn đỏ, huyết dụ, nhài, mía dò, các vị dùng lá với liều lượng bằng nhau (mỗi vị 15g), thêm xích hoa xà 3 lá, bí đao 3 miếng, củ nâu 3 miếng Giã nát, chế nước vào, vắt lấy nước cốt uống, bã dùng xoa đắp chỗ sưng Có thể chỉ dùng mấy vị đầu cũng được

Chữa trĩ đau nhức (sách trên):

Lá diếp cá nấu nước xông, ngâm rửa (lúc còn nóng), bã dùng đắp vào chỗ đau

Chữa trĩ, lòi dom (sách trên):

Lấy phác tiêu (muối natri hay muối ăn) hòa tan với nước, rửa chỗ trĩ, rồi lấy lá diếp cá giã nát và đặt lên lá chuối, ngồi để đít lên hoặc đắp vào chỗ trĩ và băng lại Dom sẽ tự thụt vào

Chữa trĩ ra máu:

Cây diếp cá 2kg, bạch cập 1kg Sấy khô tán bột, ngày uống 6 -12g, chia 2-3 lần

Chữa viêm tai giữa:

Cây diếp cá khô 20g, táo đỏ 10 quả, nước 600ml, sắc còn 200ml, chia 3 lần uống trong ngày

Trang 34

Chữa viêm tắc tia sữa:

Lá diếp cá, lá cải trời, dùng tươi, mỗi vị một nắm (30g) giã nát, chế nước sôi, vắt lấy nước cốt uống, bã chưng nóng với giấm, đắp

Chữa sài giật trẻ em:

Lá diếp cá 6-12g, củ sả 6g, quả xuyên tiêu 2g Giã nát, thêm nước gạn uống, bã đắp hai bên thái dương

Chữa trẻ lên sởi:

Rau diếp cá sao qua, sắc cho uống thì khỏi hẳn không tái phát

Chữa viêm ruột, kiết lỵ:

Rau diếp cá 20g, xuyên tâm liên 16g, hoàng bá 8g Sắc và uống làm 2 lần trong ngày

Chữa kiết lỵ:

Diếp cá 50g (tán mịn), hồi đầu thảo 150g (tán mịn), vỏ quả dừa (đốt tồn tính tán mịn) Các vị trộn đều đóng gói 25g/gói Mỗi ngày người lớn uống 1 gói, chia 2-3 lần; trẻ em uống nửa gói

Chữa viêm phổi (Ma hạnh thạch cam thang gia vị):

Diếp cá 20g, thạch cao 40g, kim ngân 20g, lô căn 20g, liên kiều 16g, hạnh nhân 12g, hoàng liên 12g, hoàng cầm 12g, ma hoàng 8g, cam thào 6g Sắc uống, ngày một thang Nếu khó thở, đờm nhiều, thêm đinh lịch tử 12g, tang bạch bì 12g Nếu ho ra máu, thêm bạch mao căn 12g

Chữa áp-xe phổi (Thiên kim vĩ hành thang):

Diếp cá 40g, bồ công anh 40g, kim ngân 20g, ý dĩ 16g, đông qua nhân 16g, liên kiều 16g, vĩ hành (bông lau) 12g, đào nhân 12g, cát cánh 6g Sắc uống, ngày một thang Nếu đờm nhiều, thêm tang bạch bì 12g, đình lịch tử 12g Ho ra máu nhiều thêm chi tử sao 12g; đan bì 12g

Chữa trĩ ngoại bội nhiễm hay thể thấp nhiệt;

Diếp cá 16g, kim ngân 16g, hoàng đằng 12g, hoa hoè 12g, chi tử sao đen 12g, kinh giới 12g, chỉ xác 8g Sắc uống, ngày một thang

Chữa sởi thời kỳ phát sốt (sởi chưa mọc):

Lá diếp cá 16g, rau dệu 16g, cam thảo đất 12g sắc ngày uống 3 lần

Chữa viêm xoang nhiễm khuẩn:

Diếp cá 16g, kim ngân hoa 16g, ké đầu ngựa 16g, hy thiêm 16g, mạch môn 12g, chi tử 8g Sắc uống ngày một thang

Tân di thanh phế âm gia giảm: Diếp cá 20g, thạch cao 40g, kim ngân hoa 16g, tân di 12g, hoàng cầm 12g, sơn chi 12g, tri mẫu 12g; mạch môn 12g Sắc uống ngày một thang Nếu bệnh nhân sợ lạnh, sốt, nhức đầu, bỏ hoàng cầm, mạch môn, thêm ngưu bàng tử 12g, bạc hà 12g

10 Xấu hổ, Trinh nữ, Mắc cỡ

Cả cây xấu hổ được dùng chữa suy nhược thần kinh, mất ngủ, viêm phế quản, viêm kết mạc cấp, viêm gan, viêm dạ dày - ruột, phong thấp tê bại, bệnh gút, sốt, cao huyết áp Ngày 15 - 25g, sắc uống

Trang 35

Dùng ngoài trị chấn thương, viêm mủ da Lấy cây tươi, giã, đắp Rễ và hạt chữa hen suyễn và gây nôn Rễ còn chữa sốt rét, kinh nguyệt không đều

Chú ý: Theo y học cổ truyền, xấu hổ có tác dụng gây tê, mê, không được dùng liều cao Phụ nữ có thai cũng không được dùng xấu hổ

Bài thuốc có xấu hổ:

Chữa suy nhược thần kinh, mất ngủ:

Cả cây xấu hổ 15g hoặc lá 6 - 12g, dùng riêng hoặc phối hợp với cây nụ áo tím 1,5g, chua me đất 30g, sắc uống hàng ngày vào buổi tối Có thể phối hợp với lạc tiên, mạch môn, thảo quyết minh

Chữa viêm phế quản mạn tính:

Cả cây xấu hổ 30g, rễ cây cẩm Peristrophe roxburghiana (Schult.) Bremek 16g Sắc uống làm 2 lần trong ngày

Chữa thấp khớp, đau lưng, nhức xương:

a Rễ xấu hổ thái thành lát mỏng, phơi khô, sao qua, tẩm rượu rồi sao vàng 20 - 30g, sắc uống Dùng riêng hoặc phối hợp với rễ cúc tần, rễ bưởi bung, mỗi vị 20g, rễ đinh lăng

và cam thảo dây, mỗi vị 10g, sắc uống

b Rễ xấu hổ 10g, thân lá cối xay 3g, rau muống biển 3g, lạc tiên 3g, rễ cỏ xước 3g, lá lốt 3g Tất cả phơi khô, thái nhỏ, hãm hoặc sắc uống

c Xem phần "tác dụng dược lý"

Chữa nhức mỏi, sưng phù:

Cả cây xấu hổ, chặt nhỏ, phơi khô, sao vàng Sắc uống hàng ngày 20 - 30g thay trà

Chữa khí hư:

Vỏ rễ xấu hổ tươi, giã, ép lấy nước, làm ngọt rồi uống ngày 3 lần Mỗi lần 2 thìa canh trong 1 tuần

Thuốc phá thai (theo kinh nghiệm của đồng bào Thái ở Tây Bắc):

Rễ xấu hổ, rễ cau, rễ rau ngót, rễ chua me đất, rễ chỉ thiên, rễ thầu dầu tía, mỗi vị 10g Sắc uống trong ngày Uống đến khi thai ra, có thể đến 15 ngày

Chữa cao huyết áp (theo lương y Đỗ Văn Tranh):

Cả cây xấu hổ, trắc bách diệp, hoa đại, câu đằng, đỗ trọng, lá vông nem, hạt muổng ngủ sao, thân lá bạch hạc, mỗi vị 6g; hà thủ ô, tang ký sinh, mỗi vị 8g; địa lang 4g Sắc uống

Có thể tán bột, luyện thành viên, uống mỗi ngày 20 - 30g

Ngày đăng: 24/10/2017, 11:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w