1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ INTERNET OF THINGS (IoT) TRONG THƯ VIỆN - Y TẾ

85 712 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 4,74 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ------ THƯ VIỆN HỘI THẢO CHUYÊN ĐỀ INTERNET OF THINGS IOT ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ INTERNET OF

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠOTRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

NĂM XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN 55

ỨNG DỤNG CƠNG NGHỆ THƠNG TIN

VÀ INTERNET OF THINGS (IoT) TRONG THƯ VIỆN - Y TẾ

NHÀ XUẤT BẢN

HCMUTE

Kỷ yếu hội thảo

Phục vụ đào tạo, nghiên cứu khoa học và khởi nghiệp

THƯ VIỆN - Y TẾ

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - -

THƯ VIỆN

HỘI THẢO CHUYÊN ĐỀ

INTERNET OF THINGS (IOT)

ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

VÀ INTERNET OF THINGS (IOT)

TRONG HOẠT ĐỘNG THƯ VIỆN – Y TẾ

PHỤC VỤ ĐÀO TẠO, NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

VÀ KHỞI NGHIỆP

(Triển khai kế hoạch Số 14/KH-CĐ/2017 của Ban chấp hành công đoàn trường)

TP HỒ CHÍ MINH – 30/03/2017

Trang 3

GIỚI THIỆU CÁC DỊCH VỤ THƯ VIỆN HCMUTE

Đồng hành cùng độc giả trên con đường chinh phục tri thức

Nơi cung cấp nguồn lực thông tin khoa học kỹ thuật và giáo dục phục vụ cho nhu cầu đào tạo của Nhà trường

 Nội dung phong phú  Đọc tại chỗ

 Đa dạng loại hình  Mượn về nhà

 Cập nhật thường xuyên  Khai thác tài nguyên số 24/24

 Các dịch vụ học tập trực tuyến

Các loại hình dịch vụ

1 Phục vụ trực tiếp tại thư viện: được hướng dẫn tận tình với hệ thống phòng đọc & Giáo trình mở, có thể tìm đọc tài liệu dạng giấy, CD-ROM, CSDL trực tuyến,…

2 Hỗ trợ công tác biên soạn xuất bản giáo trình và tài liệu học tập, kỷ yếu hội thảo (phục vụ hoạt động NCKH, chương trình đào tạo 150 tín chỉ, bổ sung hồ sơ xét các chức danh khoa học, )

3 Thiết kế website phục vụ hoạt động học tập, nghiên cứu khoa học, hội thảo: Xây dựng template chung, Thiết lập các trang con (sub pages), Cấp quyền và chuyển giao quyền quản trị trang con

4 Xuất bản kỷ yếu hội thảo: Tư vấn, thiết kế, dàn trang, Thiết kế các hình ảnh, nhãn hiê ̣u liên quan đến hô ̣i nghi ̣ (logo hô ̣i nghi ̣, banner, poster…), Đăng ký và xin giấy phép xuất bản kỷ yếu, Giám sát các tài liê ̣u liên quan đến chương trình như thư, thông tin hô ̣i nghi ̣, tài liê ̣u tham khảo,…

5 Xây dựng các sản phẩm phục vụ hội thảo và các hoạt động học tập: CD-ROM chương trình và kỷ yếu, Ứng dụng tự chạy giới thiệu tài liệu, ghi đĩa CD- ROM, DVD, USB,…

6 Cung cấp thông tin theo yêu cầu (danh mục tài liệu, tài liệu chuyên ngành, kết quả nghiên cứu khoa học, tiêu chuẩn, phát minh sáng chế…)

7 Mô tả, tạo và chọn danh mục “Tài liệu tham khảo” cho luận văn, luận án, đề tài nghiên cứu khoa học theo chuẩn quốc tế

8 Chuyển dạng tài liệu (từ tài liệu dạng giấy sang file PDF, từ file PDF sang file Word)

9 Cung cấp các thiết bị hỗ trợ cho việc học tập và nghiên cứu,

10 Hỗ trợ, tư vấn và phối hợp với Thư viện các trường trong việc phát triển các sản phẩm đặc thù của từng đơn vị

Trang 4

Với nhiều hình thức phục vụ phong phú, thuận tiện cho người học

NGUỒN LỰC THÔNG TIN

 CSDL Giáo trình và Tài liệu

Địa chỉ liên hệ:

Phòng Học Liệu Điện Tử, Thư viện Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật

Tp Hồ Chí Minh, Số 1 – Võ Văn Ngân, Thủ Đức, Tp Hồ Chí Minh

Điện thoại: (+84 8) 3896 9920, 3721223 (nội bộ 4 8226)

Email: thuvienspkt@hcmute.edu.vn http://thuvien.hcmute.edu.vn http://thuvienso.hcmute.edu.vn

GIỚI THIỆU CÁC WEBSITE PHÁT HÀNH

“Tủ sách EBOOK HCMUTE 55 Năm” là những tác phẩm chỉ có thể dùng

các công cu ̣ điện tử như máy vi tính, máy trợ giúp kỹ thuâ ̣t số cá nhân (thiết bị đọc, máy tính bảng và điện thoại thông minh như iPhone, iPad, Samsung Galaxy, HTC Tablet, ) để xem, đo ̣c, và truyển tải

Tủ sách EBOOK HCMUTE 55 Năm” là hệ thống phân phối sách điện

tử, cung cấp đến người dùng các nội dung sách,giáo trình, truyện, tạp chí, tài liệu, chuyên đề và các thể loại văn bản đọc, audio khác trên di động, thông qua các kênh website, wapsite và client giúp khách hàng có thể cập nhật thông tin kiến thức mọi lúc mọi nơi

Truy cập nhanh kho giáo trình

Trang 5

http://thuvien.hcmute.edu.vn/

Trang 7

LỜI NÓI ĐẦU

Có thể thấy trong những năm vừa qua, khái niệm “Công nghệ thông tin”, “Internet of Things” không còn xa lạ và mới mẻ với chúng ta Một thế giới mà mọi thứ trong cuộc sống được kết nối với Internet để truyền tải, trao đổi dữ liệu, từ đó người dùng có thể tương tác, điều khiển

và kiểm soát mọi hoạt động trong cuộc sống thông qua những thiết bị thông minh như điện thoại hoặc máy tính bảng

Đánh giá về tình hình phát triển của Internet trong nước thời gian qua, ông Vũ Hoàng Liên, Chủ tịch Hiệp hội Internet Việt Nam nhận định, Việt Nam đang phát triển nhanh về số lượng người sử dụng Internet

và các thiết bị số, nhất là mạng xã hội và thiết bị di động Internet Việt Nam có hạ tầng mạng phát triển khá bền vững với ADSL, TV cable, đặc biệt là hạ tầng cáp quang ở các thành phố lớn

Công nghệ thông tin mà đặc biệt là internet đang phát triển rất mạnh và làm thay đổi mọi mặt của đời sống, trong đó có lĩnh vực giáo dục và đào tạo Đổi mới giáo dục và đào tạo đang diễn ra trên quy mô toàn cầu, tạo nên những biến đổi sâu sắc trong nền giáo dục thế giới cũng như ở Việt Nam theo hướng hiện đại hóa, công nghệ hóa Chỉ thị số 58-CT/TW của Bộ Chính trị (Khóa VIII) khẳng định: “Ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin là nhiệm vụ ưu tiên trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, là phương tiện chủ lực để đi tắt đón đầu, rút ngắn khoảng cách phát triển so với các nước đi trước Mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng đều phải ứng dụng CNTT để phát triển” Vì vậy việc xây dựng cơ sở hạ tầng CNTT, đổi mới quản lý trong

tổ chức và hoạt động bằng ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục

ở trường học một cách đúng mức phù hợp với trình độ nhận thức và nhu cầu sử dụng của từng đơn vị, trong từng giai đoạn để đạt được mục tiêu đổi mới giáo dục là hết sức cần thiết

Tại các trường đại học việc ứng dụng công nghệ thông tin không chỉ dừng lại ở việc thay đổi phương pháp dạy và học mà còn trong các lĩnh vực của tất cả các phòng ban của trường

Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Tp Hồ Chí Minh là nơi đào tạo những cán bộ có trình độ cao phục vụ trong các lĩnh vực giáo dục, khoa học, quản lý, có vai trò quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước Để thực hiện được mục tiêu này, việc cung cấp nguồn tin để thúc đẩy việc tự học, tự nghiên cứu cho sinh viên là một trong những yếu tố quan trọng quyết định chất lượng giáo dục

Trang 8

Với mục tiêu nghiên cứu về thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin và internet of thing trong các hoạt động giáo dục, đào tạo, từ đó đưa ra các giải để khai thác các ứng dụng CNTT được hiệu quả hơn, Công đoàn Thư viện – Y tế Trường đại học Sư phạm Kỹ thuật Tp Hồ Chí Minh tổ chức hội thảo chuyên đề:

“Ứng dụng công nghệ thông tin và internet of thing (IOT) trong hoạt động thư viện – y tế phục vụ đào tạo, nghiên cứu khoa học và khởi nghiệp”

Hội thảo tập trung thảo luận các vấn đề ứng dụng công nghệ thông tin, Internet of Things Và bên cạnh những ứng dụng to lớn và thiết thực

đó, Internet of Things cũng mang đến cho con người không ít cơ hội và thách thức bởi lượng dữ liệu khổng lồ mà nó tạo ra Hội thảo tập trung nghiên cứu các giải pháp mang tính toàn diện và bền vững để khai thác hiệu quả những ứng dụng của CNTT và internet phục vụ công tác đào tạo của Nhà trường

Ban tổ chức hội thảo xin trân trọng cảm ơn sự ủng hộ nhiệt của Ban giám hiệu Trường đại học Sư phạm Kỹ thuật Tp Hồ Chí minh, Công Đoàn Trường trong việc tạo mọi điều kiện thuận lợi để tổ chức thành công hội thảo

Chúc hội thảo thành công tốt đẹp!

Thư viện ĐH SPKT TP.HCM

08.38969920

thuvienspkt@hcmute.edu.vn thuvien.hcmute.edu.vn facebook.com/hcmute.lib

Trang 9

MỤC LỤC Lời nói đầu 7 Mục lục 9 Giới thiệu các website phát hành 10

1 THƯ VIỆN- CẦU NỐI TRƯỜNG ĐẠI HỌC VÀ DOANH

NGHIỆP TRONG BỐI CẢNH CUỘC CÁCH MẠNG

CÔNG NGHIỆP 4.0 11

2 THỰC TIỄN ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

TRONG CÔNG TÁC PHỤC VỤ BẠN ĐỌC TẠI THƯ

VIỆN HCMUTE 17

3 ĐA DẠNG HÓA CÁC SẢN PHẨM VÀ DỊCH VỤ

THÔNG TIN TRONG MÔI TRƯỜNG SỐ TẠI CÁC THƯ

VIỆN ĐẠI HỌC 23

4 ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG HOẠT

ĐỘNG CHIA SẺ TÀI NGUYÊN THÔNG TIN GIỮA CÁC

THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC 29

5 ĐỌC SÁCH THỜI ĐẠI CÔNG NGHỆ SỐ 33

6 ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ RFID TRONG QUẢN LÝ

THƯ VIỆN CHẤT LƯỢNG CAO 37

7 TỦ SÁCH EBOOK HCMUTE 55 NĂM GÓP PHẦN TĂNG

CƯỜNG THÔNG TIN TUYỂN SINH VÀ QUẢNG BÁ

THƯƠNG HIỆU HCMUTE 57

CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG THỜI ĐẠI SỐ CHO ĐỘI

NGŨ CÁN BỘ THƯ VIỆN HCMUTE 61

9 SỬ DỤNG VÀ KHAI THÁC HIỆU QUẢ CÁC CƠ SỞ DỮ

LIỆU TRỰC TUYẾN 67

10 GIẢI PHÁP TRUYỀN THÔNG TỒNG THỂ 73

11 ỨNG DỤNG GIẢI PHÁP TRUYỀN THÔNG

WISOGROUP PHỤC VỤ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO,

NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ KHỞI NGHIỆP 75

12 ỨNG DỤNG GIẢI PHÁP TRUYỀN THÔNG WISOBOOK

PHỤC VỤ HOẠT ĐỘNG LIÊN KẾT VÀ QUẢN LÝ THƯ

VIỆN, XUẤT BẢN TÀI LIỆU SỐ VÀ TRUYỀN TẢI TRI

THỨC ĐẾN CỘNG ĐỒNG 81

Trang 10

GIỚI THIỆU CÁC WEBSITE PHÁT HÀNH

“Tủ sách EBOOK HCMUTE 55 Năm” là những tác phẩm chỉ có thể

dùng các công cu ̣ điện tử như máy vi tính, máy trợ giúp kỹ thuâ ̣t số cá nhân (thiết bị đọc, máy tính bảng và điện thoại thông minh như iPhone, iPad, Samsung Galaxy, HTC Tablet, ) để xem, đọc, và truyển tải

Tủ sách EBOOK HCMUTE 55 Năm” là hệ thống phân phối sách điện

tử, cung cấp đến người dùng các nội dung sách,giáo trình, truyện, tạp chí, tài liệu, chuyên đề và các thể loại văn bản đọc, audio khác trên di động, thông qua các kênh website, wapsite và client giúp khách hàng có thể cập nhật thông tin kiến thức mọi lúc mọi nơi

Truy cập nhanh kho giáo trình

http://thuvien.hcmute.edu.vn/

Trang 11

THƯ VIỆN - CẦU NỐI TRƯỜNG ĐẠI HỌC VÀ DOANH NGHIỆP TRONG BỐI CẢNH CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0

TS Huỳnh Mẫn Đạt

0918120105 mandat77@yahoo.com Trường Đại học Văn Hóa TP.HCM

Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 được hình thành dựa trên nền tảng của cuộc cách mạng số, đặc biệt là việc sử dụng phổ biến internet Nội dung của cuộc cách mạng là sự phát triển hệ thống liên kết thế giới thực và ảo trên

cơ sở vạn vật kết nối internet (Internet of things -IoT) và các hệ thống kết nối internet (Internet of systems - IoS)

Xã hội đã trải qua 4 cuộc cách mạng công nghiệp:

CMCN 4.0 mà nền tảng là internet kết nối mọi vật (Internet of things, viết tắt là IOT) dựa trên sự phát triển bậc cao của Công nghệ thông tin truyền thông (ICT) Đây là sự kết hợp giữa công nghệ thế giới thực, thế giới ảo và thế giới sinh vật cho phép thông tin, kiến thức, tri thức của nhân loại thường xuyên đưa lên “mây” cho bất cứ mọi người tra cứu

Trang 12

IoT cho phép mỗi đồ vật, mỗi con người được cung cấp một định danh của riêng mình và tất cả đều có khả năng truyền tải trao đổi thông tin dữ liệu qua mạng mà không cần có sự tương tác trực tiếp giữa người với người hay người với máy tính Lúc đó người học không cần đến lớp

mà chỉ cần có điện thoại kết nối internet là có thể theo dõi được bài giảng Đặc biệt nếu sử dụng iPod thông minh người học có thể dễ dàng tìm ra câu trả lời nhanh hơn bất cứ giáo sư nào và lúc này tri thức cơ bản không phải là những sự kiện cần phải ghi nhớ

Để tận dụng thế mạnh IoT như trên, Đại học truyền thống phải thay đổi về chất Trường Đại học theo mô hình mới phải là sự kết hợp 2 phương thức đào tạo trực tuyến và truyền thống

Trước đây người ta học ở trường, về nhà làm bài tập Giờ thì ngược lại, kiến thức mà thầy giáo giảng được sinh viên học ở nhà qua trực tuyến, và đến lớp chỉ để tương tác với thầy giáo, để hỏi những gì họ chưa

Khi tất cả các trường đại học trên thế giới được kết nối với nhau, thì sinh viên nước này chỉ cần bật thiết bị là biết các thầy ở nước khác đang dạy gì Do đó việc đào tạo lúc này không chỉ cho sinh viên Việt Nam mà là cho sinh viên toàn cầu Đứng trước những vấn đề nêu trên thư viện cần làm gì để cùng hòa nhập và phát triển trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0

Cần phải thay đổi quan niệm việc làm trong thế giới kết nối IOT Người tốt nghiệp Đại học ở Việt Nam không nhất thiết phải xin việc ở Việt Nam mà có thể làm việc ở các nước khác Người có việc làm sau khi tốt nghiệp Đại học không phải là người hàng ngày đến công sở cố định điểm danh làm mà có thể làm việc qua internet Ở Việt Nam nhưng vẫn

có thể làm việc cho một DN ở Mỹ trong xã hội kết nối

Sự phát triển của nền sản xuất thông minh dựa trên nền tảng Internet của CMCN 4.0 đang làm cho những kiến thức mà Đại học truyền thống đang dạy có thể vô ích trong tương lai

Do đó sinh viên tốt nghiệp đại học truyền thống không thích ứng với sự phát triển công nghệ 4.0, không đáp ứng được với yêu cầu của doanh nghiệp (DN) khiến nhiều DN phải tự tổ chức đào tạo lại, thậm chí

đào tạo mới "Có doanh nghiệp nước ngoài mất 2 năm để xoá bớt những

gì sinh viên đã học Sau đó, mất thêm 2 năm nữa để dạy những kỹ năng

mà mình cần"

CMCN 4.0 đang làm giãn rộng khoảng cách giữa việc đào tạo của

các trường Đại học và những gì xã hội thực sự cần Việt Nam tồn tại

Trang 13

nghịch lý : hàng vạn cử nhân thất nghiệp" nhưng các doanh nghiệp lại

không đủ người làm việc cho họ"

Tiến bộ công nghệ 4.0 đã làm thay đổi bức tranh của thị trường lao động: lao động giản đơn đã có robot đảm nhiệm, thị trường chủ yếu chỉ cần những việc đòi hỏi lao động sáng tạo ở trình độ cao Các trường Đại học truyền thống không thể dự đoán được các kỹ năng mà thị trường lao động sẽ cần trong tương lai gần nên tấm bằng Đại học truyền thống không đủ để tồn tại trong cuộc CMCN 4.0

Đây là một trong những nguyên nhân làm cho nhiều học sinh sau khi tốt nghiệp phổ thông không tham dự kỳ thi vào các Trường Đại học công lập truyền thống, “tạo điều kiện” cho các mô hình Đại học khác

“vét” cạn nguồn tuyển sinh

CMCN 4.0 cùng các thiết bị thông minh đã hình thành mô hình trường học trực tuyến với những ưu điểm nổi bật : chương trình luôn thay đổi và được cập nhật thường xuyên hoàn toàn tương thích với sự phát triển của CMCN 4.0 Ví dụ Đại học trực tuyến FUNiX của FPT là trường Đại học không có giảng đường, không có giảng viên đích thực mà sử dụng 500 mentor – là các chuyên gia công nghệ hàng đầu luôn hỗ trợ sinh viên trong quá trình học tập Quá trình học đều được thực hiện trực tuyến, nơi thầy trò giao tiếp mà không cần tới lớp FUNiX có thể xây dựng chương trình đào tạo cập nhật nhanh nhất mảng kiến thức này cho học viên Mô hình Đại học trực tuyến ngày càng lớn mạnh theo thờì gian

và phát triển song hành với cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 đang thu hút số lượng lớn học sinh tốt nghiệp phổ thông Đại học trực tuyến được xem là mối đe dọa lớn nhất đối Đại học truyền thống

Thư viện cần tạo cầu nối với doanh nghiệp, CMCN 4.0 đang chứng kiến sự dịch chuyển chức năng nghiên cứu và đào tạo từ khu vực Đại học

sang khu vực DN Các DN lớn hiện nay có phòng thí nghiệm riêng, có

đội ngũ nghiên cứu thực hiện các nghiên cứu tốn kém ĐH không còn là nơi duy nhất nghiên cứu nữa, đặc biệt là các nghiên cứu ứng dụng

Nhiều tập đoàn công nghệ ngày nay có tiềm lực công nghệ, con người và tài chính rất lớn, họ lại ở tuyến đầu trong cuộc chạy đua biến tri thức thành sản phẩm phục vụ cuộc sống vì thế họ có nhiều trải nghiệm quý giá

mà giới hàn lâm đại học không có

Sự ra đời của các tổ chức này trước tiên là nhằm mục tiêu đào tạo nội bộ cho nhu cầu của doanh nghiệp, nhưng hiện nay phần lớn đã mở rộng đối tượng đào tạo học viên ngoài, cấp chứng chỉ và cạnh tranh trực tiếp với đại học truyền thống và đang “tham gia” vét cạn nguồn tuyển sinh của các trường Đại học truyền thống công lập

Trang 14

Với sự thay đổi nhanh chóng của công nghệ trong cuộc CMCN 4.0, các Trường Đại học phải đào tạo cho người học những kỹ năng và kiến thức cơ bản lẫn tư duy sáng tạo, khả năng thích nghi khi công việc thay đổi liên tục để tránh nguy cơ bị đào thải

Người giảng viên không dạy cho người học cái mình đang có, mà phải hướng tới dạy người học sáng tạo ra cái mới Học tập để cạnh tranh chứ không phải để lấy bằng như xưa Mục tiêu đào tạo của Đại học không phải là để tạo ra những người lao động làm công việc mà rô bốt sẽ làm mà phải đạt tới trình độ con người làm ra được rô bốt

Nếu giáo dục truyền thống dạy cách đọc, cách viết, thì ngày nay cần dạy các kỹ năng truy cập internet, kỹ năng tìm kiếm thông tin trên mạng, đây cũng là những kỹ năng sống còn của người học khi trưởng thành và vào đời Giảng viên chuyển từ việc truyền thụ kiến thức sang hướng dẫn sinh viên tiếp cận đúng thông tin cần tìm và biết loại bỏ những thông tin xấu, không liên qua trên Internet

Trước những tác động tiềm năng của cách mạng công nghiệp lần thứ tư, để làm tốt vai trò của ngành giáo dục và đào tạo là nơi cung cấp nguồn nhân lực cho nền kinh tế đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hóa càng sâu rộng như hiện nay, khi mà trong một số lĩnh vực nhất định, lao động

có thể di chuyển giữa các nước theo những cam kết của AEC, giáo dục đào tạo Việt Nam cần có những chính sách quyết liệt và mạnh mẽ theo các hướng cơ bản sau:

- Thứ nhất, cần xây dựng chiến lược phát triển giáo dục đào tạo rõ

ràng trong đó chỉ rõ sự chuyển dịch của các ngành nghề đào tạo cũng như nâng cao kỹ năng của nhân lực được đào tạo Coi chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo như là một chiến lược quan trọng để thực hiện chiến lược phát triển KHCN và kinh tế

Áp dụng bài học của Mỹ và Nhật Bản khi áp dụng chính sách STEM trong việc đưa ra các chính sách ưu tiên và đầu tư thỏa đáng đối với sinh viên học các ngành khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán để định hướng lại nghề nghiệp cho sinh viên Việt Nam Việc nhiều sinh viên giỏi thường lựa chọn các ngành kinh tế, ngoại thương, tài chính, ngân hàng không nhiều sinh viên giỏi thi vào các trường công nghệ và kỹ thuật đã dẫn đến sự thiếu hụt nhân sự trong một số ngành công nghệ số,

tự động hóa và công nghệ thông tin

- Thứ hai, cần có các chính sách rõ ràng trong việc cải thiện chỉ số

giáo dục đào tạo và nguồn nhân lực thông qua việc nâng cao kỹ năng làm việc cho học sinh sinh viên đặc biệt là kỹ năng làm việc và kỹ năng tiếng

Trang 15

Anh để có thể tận dụng được cơ hội do cách mạng công nghiệp 4.0 đem lại

Muốn vậy, cần khuyến khích các trường, các bậc học tập trung (1) Tăng các chương trình đào tạo bằng tiếng Anh ở các trường, các bậc học, qua đó nâng cao năng lực sử dụng tiếng Anh của học sinh, sinh viên; (2) Đào tạo và nâng cao năng lực tiếng Anh cho giảng viên, đào tạo đội ngũ giảng viên chuyên nghiệp có trình độ tiếng Anh tốt; (3) Kết nối chặt chẽ giữa cơ quan thực tế và cơ sở đào tạo Coi quá trình đào tạo nguồn nhân lực là trách nhiệm chung của các bên chứ không phải của riêng các trường; (4) Tăng dung lượng các học phần giảng dạy do các nhà làm thực

tế đảm nhiệm trong các chương trình đào tạo để tăng tính thực tiễn của các chương trình đào tạo; (5) Tăng các bài báo công bố trong các tạp chí

có uy tín trong nước và thế giới theo các danh mục chuẩn như ISI và Scopus, tăng tỉ lệ trích dẫn các bài báo, các công trình đối với các trường đào tạo khoa học cơ bản; (6) có những chính sách định hướng nghề nghiệp rõ ràng để tránh tính (tình) trạng học lệch, học chỉ học lý thuyết

mà không chịu rèn luyện kỹ năng cũng như thái độ làm việc

- Thứ ba, cần (có) chính sách khuyến khích các cơ sở đào tạo đầu

tư đổi mới công nghệ, áp dụng công nghệ mới trong đào tạo và quản lý đào tạo qua đó góp phần cải thiện chỉ số đổi mới công nghệ, tăng chỉ số Kinh tế tri thức của Việt Nam

Cụ thể là (1) đầu tư tăng chi tiêu cho khoa học công nghệ, đầu tư

cơ sở hạ tầng kỹ thuật hiện đại cho đào tạo nhất là đào tạo nghề; (2) Đổi mới cách thức quản lý đào tạo, ứng dụng các hệ thống quản lý thông minh; (3) Các trường công nghệ và kỹ thuật, phải đặt trọng tâm vào gắn kết với các doanh nghiệp để thực hiện nghiên cứu triển khai để nâng cao khả năng hấp thụ, và nếu tốt hơn là tạo ra các bằng phát minh sáng chế,

và để lôi cuốn sinh viên tham gia các hoạt động đổi mới sáng tạo ngay khi còn ngồi trên ghế nhà trường

- Thứ tư, đầu tư vào các chương trình, các chính sách để cải thiện

chỉ số Công nghệ thông tin và truyền thông thông qua các hình thức như (1) Tăng cường đào tạo về công nghệ thông tin ở các cấp học; (2) Xây dựng chuẩn đầu ra tin học đáp ứng yêu cầu và chuẩn mực quốc tế, qua đó làm văn (căn) cứ và mục tiêu rèn luyện kỹ năng sử dụng công nghệ thông minh trong quá trình học tập; (3) Xây dựng các nguồn dữ liệu mở để chia

sẻ tri thức; (4) Xây dựng xã hội học tập thông qua việc phát triển các chương trình đào tạo trực tuyến chất lượng cao đáp ứng nhu cầu học tập suốt đời của mỗi cá nhân

Trang 16

Có thể nghiên cứu các chính sách yêu cầu học sinh, sinh viên phải học một số học phần trực tuyến (có thể tới 10%) để rèn luyện và tăng khả năng thích ứng linh hoạt, tăng kỹ năng sử dụng các thiết bị công nghệ thông minh cho sinh viên/học sinh

Như vậy, cách mạng công nghiệp 4.0 đang đặt ra những yêu cầu mới cho nguồn nhân lực tương lai Điều này đòi hỏi hệ thống giáo dục Việt Nam cần đổi mới để có thể tạo ra những nguồn nhân lực có năng lực vượt trội, có năng lực chuyên môn, có khả năng làm việc với công nghệ thông minh và khả năng ngoại ngữ để có thể “đứng trên vai những người khổng lồ” và tận dụng tốt các cơ hội của cuộc cách mạng này đưa nước ta phát triển mạnh mẽ hơn trong tương lai

Trang 17

THỰC TIỄN ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG CÔNG TÁC PHỤC VỤ BẠN ĐỌC TẠI THƯ VIỆN HCMUTE

Thư viện HCMUTE http://thuvien.hcmute.edu.vn thuvienspkt@hcmute.edu.vn

08.38969920

Tóm tắt:

Bài viết trình bày những lợi ích khi ứng dụng công nghệ thông tin hiệu quả trong việc sử dụng hiệu quả các website và những trang mạng

xã hội trong công tác phục vụ bạn đọc tại thư viện HCMUTE

Công tác bạn đọc hay việc tổ chức phục vụ tài liệu cho bạn đọc là một hoạt động của Thư viện nhằm thúc đẩy, phát triển và thỏa mãn nhu cầu, hứng thú đọc tài liệu thông qua việc tuyên truyền, hướng dẫn, cung cấp tài liệu dưới mọi hình thức Qua đó, công tác bạn đọc còn là thước đo của sự luân chuyển tài liệu, mang những tài liệu quý giá đến với người đọc một cách hiệu quả nhất Thấy được tầm quan trọng của công tác phục vụ bạn đọc trong hoạt động Thư viện, Thư viện trường Đại học Sư Phạm Kỹ Thuật TP Hồ Chí Minh ngày càng chú trọng, nâng cao chất lượng phục vụ bạn đọc giúp cho bạn đọc tiếp cận thông tin, tài liệu một cách dễ dàng và thuận lợi nhất

Trước đây, khi công nghệ thông tin (CNTT) chưa được ứng dụng vào hoạt động thư viện, cán bộ thư viện tìm tài liệu và cho bạn đọc mượn thông qua phích, phiếu được viết bằng tay và thường tổ chức kho đóng trong công tác tổ chức kho Điều đó làm hạn chế việc tiếp cận tài liệu của bạn đọc và bạn đọc không có cơ hội tiếp cận những tài liệu khác ngoài những tài liệu mình đang tìm kiếm

Bắt kịp với xu thế phát triển của xã hội, Thư viện HCMUTE đã ứng dụng CNTT trong hoạt động của mình Đặc biệt là ứng dụng CNTT vào hoạt động quản lý người đọc và việc lưu thông tài liệu Ứng dụng CNTT cho phép chúng ta sử dụng những phần mềm tích hợp hỗ trợ trong công tác mượn trả, phần mềm thư viện đã giải quyết một số vấn đề: Ghi mượn và trả tài liệu thông qua đầu đọc cầm tay, thống kê tài liệu, thống

kê lượt đọc, bạn đọc có thể yêu cầu tài liệu (mượn tài liệu online) và gia hạn tài liệu online trên website hoặc biết được tài liệu có hoặc không có tại thư viện hay không mà không cần phải đến thư viện Ngoài ra các

Trang 18

phần mềm thư viện còn giúp cho bạn đọc tra cứu cơ sở dữ liệu (CSDL) toàn văn, những CSDL trong và ngoài nước có giá trị cao, tìm tài liệu chọn lọc, rút ngắn thời gian tìm tài liệu, chờ mượn tài liệu và giảm bớt công sức của cán bộ thư viện Thư viện cũng chú trọng đến việc phát triển các dịch vụ và sản phẩm thông tin phục vụ cho nhu cầu ngày càng

đa dạng của bạn đọc như: Dịch vụ tra cứu thư mục trực tuyến (OPAC), dịch vụ cung cấp các sản phẩm thư mục online, dịch vụ hỏi đáp trực tuyến, dịch vụ cung cấp thông tin theo yêu cầu, dịch vụ tư vấn thông tin,

Nhằm tăng cường khả năng phục vụ tài liệu, đáp ứng nhu cầu học tập, nghiên cứu của giảng viên và sinh viên trong trường, đặc biệt là việc cung cấp tài liệu có giá trị và tài liệu ngoại văn cho bạn đọc, Thư viện HCMUTE đã đưa ra giải pháp ứng dụng “M-Libraries” trên nền tảng di động tại thư viện Thuật ngữ “Thư viện di động”(M- Libraries) bao gồm toàn bộ các hoạt động, quy trình và ứng dụng có thể thực hiện bằng công nghệ di động Thư viện đã triển khai phục vụ khai thác tài liệu số qua ứng dụng My OPAC, được thực hiện qua dịch vụ mượn và đọc tài liệu trên ứng dụng MyOPAC tương ứng với các thiết bị: như máy tính bảng (tablet), điện thoại thông minh (smart phone) chạy hệ điều hành Android hoặc IOS; máy tính cá nhân (laptop), máy tính để bàn (PC) sử dụng hệ điều hành Windows để tìm liệu, tìm đề tài, theo dõi và gửi yêu cầu mượn trả tài liệu số Một số tài liệu giáo trình do trường biên soạn cũng được số hóa để phục vụ cho nhu cầu của bạn đọc Điều này có ý nghĩa to lớn trong công tác bạn đọc đặc biệt bạn đọc là giảng viên, sinh viên có trình

độ cao

Việc ứng dụng CNTT thông tin đã giúp cán bộ thư viện thuận lợi hơn trong công tác của mình Tuy nhiên, không thể phủ nhận vai trò của những người cán bộ thư viện trong giai đoạn hiện nay, khi xã hội thông tin đang phát triển rầm rộ; thông tin có ở khắp mọi nơi và trở thành nguồn lực của mỗi quốc gia Đã có nhiều quan điểm về vai trò của cán bộ thư viện, có những học giả cho rằng máy móc, thiết bị là thành phần quyết định sự thành công của thư viện, những học giả khác lại cho rằng cán bộ thư viện mới là quan trọng Nếu như trong các thư viện truyền thống, cán bộ thư viện giữ vai trò chính trong việc tiếp nhận và lấy tài liệu theo yêu cầu; thì đối với những thư viện hiện đại người cán bộ thư viện là người tiếp nhận, trả lời các yêu cầu tin và giao tiếp với người dùng tin qua mạng, qua email, qua điện thoại và là người tư vấn, định hướng cho bạn đọc biết thêm những tài liệu mà họ đang cần tìm

“Tôi vẫn thường cho rằng cán bộ thư viện là những người thực thi

3 nhiệm vụ: cung cấp nội dung, các dịch vụ và không gian Trong các thư

Trang 19

viện truyền thống, chúng tôi cung cấp nội dung trong sách, chúng tôi cũng cung cấp các dịch vụ như cách tra tìm sách, và cung cấp không gian trong các tòa nhà thư viện rộng lớn để làm việc và lưu giữ vốn tài liệu Ngày nay, chúng tôi vẫn làm 3 nhiệm vụ đó nhưng bản chất của chúng đã thay đổi rất nhiều: nội dung thường ở dạng điện tử thông qua việc đặt mua các sách, tạp chí điện tử, cơ sở dữ liệu, mà hiện giờ đang chiếm một tỷ lệ lớn trong kinh phí bổ sung của hầu hết các thư viện…”

“Trích lời của Stephen Pinfield, cán bộ thông tin tại Đại học

Trang 20

- Thư viện số

Google Docs, Google Blogger, YouTube, Skype, Ustream

Nhằm tăng cường tương tác và giao tiếp với Bạn đọc qua đó giới thiệu và cung cấp thông tin, các dịch vụ thư viện,… Tập thể cán bộ thư viện đã sử dụng thành thạo các tính năng của những trang mạng xã hội như: Facebook, Google Docs, Google Blogger, YouTube, Skype, Ustream,… để phục vụ cho hoạt động thông tin – thư viện cụ thể như sau:

Trang 21

Biên tập đồng cấp

Chat trực tiếp với Bạn đọc/Nhóm Bạn đọc

Blog chia sẻ, thảo luận với đồng nghiệp, Bạn đọc

Hội thảo, làm việc nhóm

để triển khai công tác thư viện

Văn phòng thư viện

ảo

Chia

sẻ truyền thông thư viện

Âm thanh, hình ảnh động phục

vụ giới thiệu các hoạt động, dịch

vụ thư viện

Giới thiếu hệ thống website, facebook, email thư viện

1.1 Website thư viện

phát triển

1 http://lib.hcmute.edu.vn

Công ty Phần mềm và tư vấn Kim tự tháp (Pyramid Software & Consulting Ltd)

2 http://thuvien.hcmute.edu.vn

Công ty Phần mềm và tư vấn Kim tự tháp (Pyramid Software & Consulting Ltd)

3 http://thuvienspkt.edu.vn Thư viện HCMUTE

4 http://thuvienso.hcmute.edu.vn Công ty TNHH Tài Liệu Trực

Tuyến Vi Na - VDOC

5 http://wiso.hcmute.edu.vn Công ty TNHH TM và Quảng

cáo số WISO CORP

Trang 22

1.2 Website liên kết phát hành sách, giáo trình điện tử

1 Ybook.vn Công Ty TNHH Sách Điện Tử Trẻ (YBOOK)

2 Sachweb.com Nhà Xuất Bản Tổng Hợp Thành Phố Hồ Chí Minh

3 Sachbaovn.vn Công Ty Cổ Phần Tin Học Lạc Việt

4 Alezaa.com Công Ty Cổ Phần Dịch Vụ Trực Tuyến VINAPO

5 Vinabook.com Công Ty Cổ Phần Thương Mại Dịch Vụ Mê Kông

COM

1.3 Facebook

1 facebook.com/hcmute.lib Giới thiệu hoạt động, sản phẩm,

dịch vụ Thư viện HCMUTE

2 facebook.com/lib.hcmute Giới thiệu hoạt động, sản phẩm,

dịch vụ Thư viện HCMUTE

1.4 Email thư viện

1 thuvienspkt@hcmute.edu.vn

Sử dụng giới thiệu hoạt động, sản phẩm, dịch vụ, giao dịch,…của Thư viện HCMUTE

2 thuvien@hcmute.edu.vn

Sử dụng giới thiệu hoạt động, sản phẩm, dịch vụ, giao dịch,…của Thư viện HCMUTE

3 lib@student.hcmute.edu.vn

Sử dụng giới thiệu hoạt động, sản phẩm, dịch vụ, giao dịch,…của Thư viện HCMUTE

4 elib@hcmute.edu.vn

Sử dụng giới thiệu hoạt động, sản phẩm, dịch vụ, giao dịch,…của Thư viện HCMUTE

5 dlib@hcmute.edu.vn

Sử dụng giới thiệu hoạt động, sản phẩm, dịch vụ, giao dịch,…của Thư viện HCMUTE

Trang 23

ĐA DẠNG HÓA CÁC SẢN PHẨM VÀ DỊCH VỤ THÔNG TIN TRONG MÔI TRƯỜNG SỐ TẠI CÁC THƯ VIỆN ĐẠI HỌC

ThS Trần Thị Thanh Thủy

0908097784 thanhthuy@hcmute.edu.vn Thư viện Trường ĐHSPKT TP.HCM

Tóm tắt:

Môi trường số đã và đang phát triển rất mạnh mẽ trong các thư viện đại học ở Việt Nam Việc đa đạng hóa các sản phẩm và dịch vụ thông tin trong môi trường số tại các thư viện đại học là một trong những mục tiêu quan trọng của thư viện hiện nay Bài viết đưa ra các sản phẩm và dịch vụ thông tin đang và sẽ triển khai cần thiết nhất hiện nay đối với thư viện các trường đại học

Ngày nay, với thời đại công nghệ thông tin bùng nổ, người dùng tin – khách hàng được thoả mãn những yêu cầu của mình một cách nhanh nhất mà vẫn đảm bảo về chất lượng cũng như tính xác thực của nguồn tin Các sản phẩm, dịch vụ thông tin ngày càng tiến gần hơn đối với người sử dụng, không ngừng nâng cấp, cải thiện để phục vụ khách hàng một cách tốt nhất Môi trường số hay môi trường điện tử cho phép người người dùng truy cập nguồn tài nguyên thông tin của thư viện thông qua các phương tiện điện tử như internet, mạng xã hội Việc đa dạng hóa các sản phẩm và dịch vụ thông tin trong môi trường số là một trong những mục tiêu quan trọng của các thư viện đại học hiện nay

Môi trường số ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của thư viện thông qua các sản phẩm và dịch vụ thông tin Với phương châm đưa thông tin nhanh nhất, chính xác nhất, tối ưu nhất và thủ tục đơn giản nhất với thời gian và chi phí ít nhất đến người sử dụng Vì vậy thư viện các trường đại học cần đầu tư một cơ sở hạ tầng về công nghệ thông tin hiện đại đảm bảo hoạt động 24h/ngày, 7 ngày/tuần, với đường truyền internet tốc độ cao, đảm bảo cho người sử dụng có thể khai thác các nguồn thông tin có trong cũng như ngoài thư viện, cập nhật xu hướng ứng dụng công nghệ thông tin và Internet of Things (IoT) để xây dựng thư viện thông minh

Môi trường số đang tạo cho các thư viện trong nước cũng như trên thế giới xích lại gần nhau hơn, mở ra khả năng các thư viện có thể liên kết chia sẻ các hoạt động với nhau Đặc biệt trong môi trường số, các sản phẩm và dịch vụ thông tin sẽ có cơ hội đến với người sử dụng nhanh

Trang 24

nhất, rút ngắn khoảng cách về không gian cũng như thời gian, tạo ra khả năng kiểm soát các sản phẩm và dịch vụ thông tin một cách có hiệu quả Thư viện các trường đại học đang tăng cường số hóa kho tài liệu của mình, chuyển từ tài liệu giấy sang tài liệu số, từ đây kho tài liệu trở nên

vô hạn vì chúng ta có thể cung cấp cho người sử dụng khai thác các sản phẩm và dịch vụ thông tin thông qua mạng internet, cách thức cung cấp rất thuận lợi khi người sử dụng Trong môi trường số, tùy thuộc vào khả năng cung cấp các sản phẩm và dịch vụ khác nhau, chúng ta có thể mở rộng phạm vi cung cấp dịch vụ mà không bị giới hạn bởi không gian và thời gian, mở rộng dịch vụ trên toàn thế giới

Trong môi trường số, người sử dụng có thể tương tác với nhau, chia sẻ những thông tin có liên quan với nhau nhằm tạo cho mình 1 kết quả thỏa mãn nhất thông qua các diễn đàn, facebook, blog…môi trường

số hóa làm tăng tính dân chủ của người sử dụng, thông tin phản hồi sẽ đến với nhà cung cấp nhanh hơn, từ đây có thư viện có điều kiện để hoàn thiện mình tốt hơn nhằm cung cấp các sản phẩm và dịch vụ thông tin cho người sử dụng được tốt hơn

Tài chính là một vấn đề lớn của thư viện, hiện nay các thư viện hầu như tài chính là có hạn Số hóa tài liệu là một giải pháp tối ưu, vừa tiết kiệm cho thư viện và cũng vừa tiết kiệm cho người sử dụng, nếu sản phẩm và dịch vụ thông tin đa dạng và được nhiều nguời sử dụng thì giá thành sẽ giảm rất có lợi cho nguời sử dụng

Để quảng bá các sản phẩm và dịch vụ thông tin của thư viện mình, trước hết thư viện cần xây dựng cổng thông tin thư viện; đây là đầu mối cung cấp thông tin cho người sử dụng Tại đây, người sử dụng có thể tìm kiếm bất kỳ 1 sản phẩm hoặc 1 dịch vụ nào thư viện có, nếu những sản phẩm dịch vụ thông tin tại thư viện của bạn chưa có thì “khách hàng” có thể tìm kiếm ở đâu, các chỉ dẫn cũng như các đường link liên kết sẽ giải quyết vấn đề này

Các thư viện đại học cần xây dựng 1 hệ thống mục lục trực tuyến (OPAC) để người sử dụng có thể truy cập và tìm kiếm thông tin ở mọi lúc, mọi nơi Chúng ta cần xây dựng OPAC thân thiện với người sử dụng, người sử dụng có thể tìm kiếm thông tin theo nhiều tiêu chí khác nhau cũng như các điểm truy cập khác nhau, có thể tìm cơ bản, tìm kiếm nâng cao, tiềm kiếm theo chủ đề

Các thư viện cần xây dựng cho thư viện mình bản tin điện tử để giới thiệu lên website của thư viện, đồng thời phải cập nhật thường xuyên các thông tin, các tài liệu cũng như các dịch vụ và sản phẩm thông tin mới

Xây dựng cơ sở dữ liệu toàn văn là 1 trong những yêu cầu bắt buộc cần phải có trong môi trường thư viện số, nguồn học liệu số này sẽ có

Trang 25

sách điện tử, luận văn, luận án, các tạp chí toàn văn và đặc biệt là các cơ

sở dữ liệu trực tuyến hàng đầu của thế giới

Tài liệu nội sinh là tài liệu quan trọng bật nhất trong kho tài liệu của thư viện các trường đại học Tài liệu nội sinh là những tài liệu được hình thành trong quá trình hoạt động khoa học kỹ thuật, sản xuất, quản

lý, nghiên cứu, học tập của các cơ quan, tổ chức, xí nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học…Tài liệu nội sinh phản ánh đầy đủ, có hệ thống về các thành tựu, tiềm lực cũng như hướng phát triển của những đơn vị này

và thường được lưu giữ ở các thư viện và trung tâm thông tin của đơn vị

đó

Bên cạnh đó các thư viện các trường đại học cần xây dựng những

cơ sở dữ liệu như: cơ sở dữ liệu báo tạp chí, cơ sở dữ liệu đề thi, cơ sở dữ liệu luận án, luận văn, cơ sở dữ liệu giáo trình, cơ sở dữ liệu bài giảng các môn học, cơ sở dữ liệu báo cáo khoa học

Cùng với các sản phẩm thông tin trên thư viện cần hoàn thiện các dịch vụ quen thuộc thông qua môi trường số như:

- Phục vụ mượn tài liệu: người sử dụng có thể đến thư viện mượn trực tiếp tài liệu tại thư viện hoặc có thể mượn tại nhà thông qua mạng internet (mượn từ xa), người sử dụng có thể mượn liên thư viện hoặc nhờ một thư viện là cầu nối để có thể việc mượn liên thư viện được dễ dàng hơn Bên cạnh đơn giản hóa việc mượn thì các thư viện cần chú trọng đến việc đơn giản hóa việc trả tài liệu, có thể thông qua hệ thống trả tự động tiên tiến để người sử dụng có thể trả bất cứ lúc nào

- Dịch vụ yêu cầu gia hạn mượn qua mạng, nguời sử dụng không cần phải đến thư viện gia hạn những tài liệu mình đọc chưa xong, chỉ cần ngồi tại nhà thông qua mạng internet người sử dụng dễ dạng gia hạn tài liệu

- Dịch vụ hướng dẫn người sử dụng sử dụng thư viện trong môi trường số, đây là công việc rất quan trọng, để bạn đọc có thể làm chủ được công nghệ, và có được các kỹ năng cần thiết để tìm kiếm và sử dụng tài liệu số hóa

- Dịch vụ hỗ trợ học tập nghiên cứu: dịch vụ này hướng dẫn hỗ trợ người sử dụng cách tiếp cận và khai thác có hiệu quả nhất nguồn tài nguyên của thư viện

- Dịch vụ tư vấn thông tin: đây là một loại dịch vụ phức tạp Nó không chỉ đòi hỏi sự đầu tư lớn về trang thiết bị mà còn nhất thiết phải có một đội ngũ cán bộ thư viện là những chuyên gia tư vấn trong các lĩnh vực môn loại trong thư viện Ba yếu tố cần quan tâm trong khi triển khai dịch vụ này là: nguồn thông tin, trang thiết bị kỹ thuật, đội ngũ chuyên gia tư vấn Nếu tham khảo về dịch vụ tư vấn ở các thư viện đại học ở nhiều nơi trên thế giới, có thể thấy rằng đây là một dịch vụ phát triển và chiếm nhiều sự quan tâm của các thư viện

Trang 26

- Bên cạnh đó chúng ta còn có thể cung cấp các dịch vụ như: dịch

vụ cung cấp tài liệu toàn văn đã số hóa, dịch vụ số hóa tài liệu, dịch vụ cung cấp thông tin có chọn lọc, dịch vụ cung cấp thông tin hiện hành, dịch vụ diễn đàn điện tử, dịch vụ cung cấp các truy cập mở…

Bên cạnh các sản phẩm và dịch vụ thông tin trên các thư viện đại học ở Việt Nam cần hướng đến phát triển các dịch vụ đáp ứng nhu cầu của người sử dụng trong môi trường số:

- Dịch vụ biên soạn các tổng quan, tổng luận theo yêu cầu, đây là dịch vụ rất cần thiết cho người sử dụng, cán bộ thư viện không chỉ nắm vững kho tài liệu của thư viện mình mà còn phải có kiến thức sâu rộng về lĩnh vực khoa học mà mình định biên soạn các tổng quan, tổng luận

- Dịch vụ xây dựng các cơ sở dữ liệu thư mục hoặc toàn văn theo chuyên đề, dịch vụ này rất cần thiết cho sinh viên năm cuối cần làm khóa luận, học viên cao học làm luận văn, các nghiên cứu sinh làm luận án và các nhà khoa học thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học của họ

- Dịch vụ tư vấn xây dựng thư viện điện tử, khi thư viện đã xây dựng, khai thác, sử dụng tốt trong môi trường số hóa sẽ có nhiều thư viện mong muốn làm tốt như thư viện của mình, từ những kinh nghiệm thực tiễn có được chúng ta có thể chia sẻ những kinh nghiệm cũng như cách thức tổ chức chúng cho thư viện bạn

- Các dịch vụ liên quan đến Mobile learning (M-learning) đang càng ngày càng trở nên hấp dẫn hơn nhờ chứng minh được những ưu điểm vượt trội của mình Nếu được xây dựng và triển khai hợp lý, nó sẽ mang lại những hiệu quả tuyệt vời thông qua việc giảm bớt chi phí và nâng cao hiệu quả đào tạo cũng như hiệu quả công việc

Thuật ngữ M-learning hay "học tập điện thoại di động", có ý nghĩa khác nhau cho các cộng đồng khác nhau, bao gồm một loạt các kịch bản

sử dụng bao gồm cả e-learning, công nghệ giáo dục và đào tạo từ xa , tập trung vào học tập với các thiết bị di động Học tập điện thoại di động được định nghĩa là "học tập qua nhiều bối cảnh, thông qua tương tác xã hội và nội dung, sử dụng các thiết bị điện tử cá nhân" Nói cách khác, với việc sử dụng các thiết bị di động, người học có thể học bất cứ khi nào họ muốn

M-learning là thuận tiện ở chỗ nó có thể truy cập từ bất kỳ nơi nào M-learning, như các hình thức học tập điện tử, cũng là cộng tác Chia sẻ gần như tức thời giữa tất cả mọi người sử dụng cùng một nội dung, dẫn đến việc tiếp nhận thông tin phản hồi và lời khuyên ngay lập tức Quá trình hoạt động rất mạnh này đã được chứng minh để tăng điểm số kỳ thi

từ 50%-70%, và giảm tỷ lệ học sinh bỏ học trong các lĩnh vực kỹ thuật của 22% M-learning cũng mang lại tính di động mạnh mẽ bằng cách thay thế sách và ghi chú với các thiết bị nhỏ, điền với nội dung học tập

Trang 27

phù hợp Ngoài ra, nó là đơn giản để sử dụng học tập di động cho một trải nghiệm hiệu quả hơn và giải trí

Nền kinh tế thế giới đang bước vào giai đoạn kinh tế tri thức Đặc điểm của nền kinh tế này là dịch vụ sẽ là khu vực thu hút được nhiều lao động tham gia nhất và là những lao động có tri thức cao Do đó việc nâng cao hiệu quả chất lượng giáo dục, đào tạo sẽ là nhân tố sống còn quyết định sự tồn tại và phát triển của mỗi quốc gia, công ty, gia đình, và cá nhân M-learning chính là một giải pháp hữu hiệu giải quyết vấn đề này Việc học tập không chỉ bó gọn trong việc học phổ thông, học đại học mà

là học suốt đời

Thư viện có thể gửi tin nhắn đến người sử dụng để thông báo cho

họ biết thư viện có những tài liệu mới mà người sử dụng quan tâm, hay những sách mà người sử dụng đã mượn quá hạn cần phải gia hạn hoặc trả cho thư viện

Thông qua M-Learning thư viện có thể gửi bản tóm tắt các tài liệu mới nhất đến người sử dụng, giúp người sử dụng có thể định hướng được những tài liệu nào cần đọc trong thời gian tới

Khi có những thay đổi về thời gian mở của phục vụ hoặc thư viện

sẽ tổ chức những cuộc hội thảo, những buổi báo cáo chuyên đề hay có những hoạt động gì thì những thông tin đấy sẽ đến người sử dụng nhanh nhất thông qua thiết bị cần tay mà người sử dụng đăng ký

Thư viện cần xây dựng một trung tâm học liệu với môi trường trực tuyến: với việc cung cấp cho người học một tài khoản học tập để họ có thể truy cập vào hệ thống học trực tuyến và tham gia học tập các môn học theo kế hoạch học tập đã đăng ký Sinh viên được cung cấp đầy đủ các học liệu của môn học và môi trường học tập trực tuyến Thư viện giúp người học: Kế hoạch học tập môn học, đề cương hướng dẫn học tập môn học, giáo trình, bài giảng phiên bản điện tử, bài giảng đa phương tiện được đăng tải trên hệ thống, giáo trình, bài giảng in ấn, đĩa CD bài giảng đa phương tiện Multimedia, ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm trực tuyến, file ghi toàn bộ bài giảng trên lớp học trực tuyến

Các thư viện đại học Việt Nam cần đa dạng hóa các sản phẩm và dịch vụ thông tin để thúc đẩy mạnh mẽ người sử dụng trung cập vào thư viện thông qua môi trường số hóa của thư viện mình Các trường đại học phải hiểu những đặc thù của “hàng hóa thông tin” và đặc biệt là nhu cầu của “khách hàng” và nhu cầu của khách hàng tiềm năng để từ đó có chiến lược cần thiết những thay đổi nhằm nắm bắt nhu cầu của thị trường hiện tại cũng như tương lai Các thư viện đại học cần chủ động trong phục vụ người dùng, tìm kiếm khách hàng để nghiên cứu nhu cầu của họ và ngày càng phục vụ được tốt hơn

*Tài liệu tham khảo:

Trang 28

1 Bùi Loan Thùy, Đỗ Thị Hương (2014), “Phát triển dịch vụ

thông tin trong môi trường điện tử tại thư viện trường đại học”, tạp chí

thư viện Việt Nam, số 3(47):7-14

2 Huỳnh Mẫn Đạt (2014), “Thư viện số với việc triển khai

E-learning và M-E-learning trong trường đại học”, tạp chí Văn hóa và nguồn

lực, số 1 (2014): 102-105

3 Sharples, M., Corlett, D., Westmancott, O (2000) The Design and Implementation of a Mobile Learning Resource, UK: University of Birmingham, Edgbaston

4 Vũ Duy Hiệp (2014), “Tìm hiểu mô hình hệ thống sản phẩm- dịch vụ thông tin tại đại học Victoria, New Zealand và bài học cho các

thư viện Việt Nam”, tạp chí thông tin tư liệu, số 5(2014): 25-33

5 Хуинь Ман Дат (2010), Корпоративная деятельность

вузовских библиотек во Вьетнаме/ Хуинь Ман Дат, Вестник

МГУКИ, № 2, С 143 – 146

Trang 29

ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG

HOẠT ĐỘNG CHIA SẺ TÀI NGUYÊN THÔNG TIN

GIỮA CÁC THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC

Nguyễn Thị Hồng Nhi

nhinth@hcmute.edu.vn

0937941415 Thư viện Trường ĐHSPKT TP.HCM

Xã hội đang từng bước tiến vào thời kỳ hội nhập sâu rộng, khoa học và công nghệ ngày càng phát triển vượt bậc Công nghệ thông tin đã chi phối mạnh mẽ vào tất cả các hoạt động của con người ở nhiều lĩnh vực, trong đó có việc quản lý nguồn tài nguyên thông tin, đã mở ra nhiều

cơ hội mới cho sự hợp tác giữa các thư viện nói chung và thư viện trường đại học nói riêng

Ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động chia sẻ tài nguyên thông tin mà chúng ta hay gọi là chia sẻ nguồn tài nguyên số giữa các thư viện được xem là một hình thức hoạt động mà trong đó các chức năng được chia sẻ chung bởi một số thư viện với nhau

Thông tin đóng vai trò quan trọng trong xu thế phát triển kinh tế, khoa học, công nghệ, giáo dục Quá trình chuyển giao thông tin trong môi trường giáo dục hiện đại đã có những bước tiến vượt bậc thông qua ứng dụng công nghệ thông tin và internet vào việc giảng dạy và học tập Trong tương lai, các thư viện phải tham gia chia sẻ tài nguyên thông tin với nhau Việc chia sẻ nguồn lực thông tin giữa các thư viện là hết sức cần thiết và phù hợp với xu thế phát triển của xã hội Chia sẻ thông tin nhằm tận dụng tối đa nguồn tri thức của nhân loại và tiết kiệm kinh phí cho thư viện bởi trên thực tế thì không có một thư viện nào có

đủ khả năng bổ sung một cách đầy đủ nguồn lực thông tin để đáp ứng mọi nhu cầu tin của người dùng tin

Tuy nhiên, việc chia sẻ tài nguyên thông tin ở các trường đại học Việt Nam hiện nay chưa phát triển, chưa hiệu quả, chỉ ở mức cục bộ nhỏ

lẻ ở một số hệ thống trường đại học lớn: Đại học quốc gia Hà Nội, Đại học quốc gia TPHCM, Đại học Đà Nẵng, Đại học Cần Thơ, Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Công nghiệp tp.HCM,… Khó khăn này xuất phát từ nhiều nguyên nhân: Chính sách khai thác thư viện của mỗi trường khác nhau, một số trường có chính

Trang 30

sách cởi mở trong việc mượn trả tài liệu in ấn, tài nguyên số, chính sách

sử dụng tài nguyên số Hệ thống thư viện điện tử của mỗi trường cũng khác nhau, có trường dùng ILIB có trường lại dùng Lacviet, Libol, PSCzlis 7.0… Các phần mềm khác nhau nên vần đề chia sẻ cũng rất khó Nguồn tài chính của các thư viện trường là khác nhau Có những trường chú trọng phát triển thư viện, ngược lại một số trường chưa thực sự quan tâm đến phát triển thư viện Bên cạnh đó, có nhiều trường không quan tâm đến việc phát triển các nguồn tài liệu điện tử, chỉ quan tâm đến việc

bổ sung các nguồn tài liệu in ấn Nhiều trường ngần ngại trong việc đầu

tư cho việc ứng dụng công nghệ thông tin, ngần ngại chia sẻ thông tin do luật bản quyền

Thực hiện chia sẻ nguồn lực thông tin giữa thư viện các trường đại học ở Việt Nam là đòi hỏi khách quan, nhưng cần được nghiên cứu nghiêm túc dựa trên các thành công đã có của hệ thống thư viện khoa học của các nước phát triển và đang phát triển về việc hợp tác trao đổi nguồn lực thông tin Bên cạnh đó, cần dựa trên chính sách phát triển hệ thống thư viện đại học của nhà nước, kết hợp với xu hướng hợp tác chia sẻ nguồn lực thông tin giữa các thư viện Việt Nam

Để việc hợp tác giữa các thư viện được thành công, các thư viện cần nghiên cứu về thực trạng và có những giải pháp tăng cường nguồn lực thông tin giữa thư viện các trường đại học ở Việt Nam Cụ thể, các thư viện có thể khảo sát và đánh giá thực trạng hợp tác trao đổi thông tin giữa các thư viện, xác định được nhu cầu thực tiễn của thư viện các trường đại học trong việc trao đổi nguồn tài nguyên thông tin, tìm hiểu các yếu tố thuận lợi và khó khăn ảnh hưởng đến việc trao đổi nguồn lực thông tin

Ngày nay, các thư viện chia sẻ tài nguyên đã thay đổi quan niệm cũ

do việc tăng trưởng đa chiều của các tài liệu được công bố trong thời gian qua, việc tăng chi phí của tài liệu, tiến bộ của công nghệ mới để xử lý và phổ biến thông tin là một số nguyên tắc cơ bản của yêu cầu chia sẻ tài nguyên thông tin giữa các thư viện Trong một thời gian dài, các thư viện

đã được thực hành chia sẻ tài nguyên thông tin giữa các thư viện Bên cạnh tham gia vào thực hành mượn liên thư viện, các thư viện cần chú ý đến sự phát triển không ngừng của thông tin và ngân sách hạn chế trong việc chia sẻ tài nguyên

Thư viện truyền thống bị ảnh hưởng lớn bởi các rào cản thông tin liên lạc, giống như sự thờ ơ của các thư viện cho mượn, thái độ bảo thủ, khoảng cách, ngôn ngữ, chi phí, thời gian,.v.v cho mượn liên thư viện Những rào cản này có thể được loại bỏ bởi hệ thống mượn liên thư viện

Trang 31

trên máy vi tính Có một số hạn chế đối với việc chia sẻ tài nguyên trong môi trường in ấn và vẫn tồn tại cho đến thời gian gần đây

- Hạn chế quyền truy cập vào tài nguyên chia sẻ và dịch vụ phụ thuộc

- Truy cập vào tài nguyên chia sẻ với chi phí không hợp lý và tính xác thực của nguồn thông tin thu thập được trên Internet

Với những thách thức toàn diện như trên đã tạo ra rào cản trong việc hợp tác chia sẻ tài nguyên trong các thư viện, vì vậy các nhà quản lý thư viện cần đề ra những mục tiêu cụ thể để nâng cấp thư viện: Xây dựng đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn, kiến thức vững vàng về thư viện, công nghệ thông tin ứng dụng trong thư viện

Ứng dụng các công nghệ hiện đại góp phần nâng cao hiệu quả công tác thư viện trên mọi phương diện hoạt động của thư viện như các công nghệ xây dựng thư viện điện tử, thư viện số, các công nghệ trong hoạt động số hóa tài liệu CNTT được ứng dụng trong thư viện, trong quá trình hoạt động của thư viện cũng đã mang lại những lợi ích to lớn cho nhà trường và người dùng thư viện

Dưới đây là một số ứng dụng công nghệ thông tin trong việc xây dựng thư viện điện tử, thư viện số và hỗ trợ việc chia sẻ tài nguyên giữa các thư viện, trong đó bao gồm các phần mềm mua quyền sử dụng và phần mềm mã nguồn mở:

iLib - Phần mềm quản lý thư viện điện tử tích hợp

ExLibris - Phần mềm quản tài liệu in và tài liệu số

Koha – Phần mềm quản lý thư viện điện tử

Dspace - Phần mềm quản lý thư viện số

Vufind – Phần mềm hỗ trợ tìm kiếm và duyệt qua tất cả các nguồn tài nguyên

thư viện bằng cách thay thế OPAC

Việc chia sẻ nguồn tài nguyên thông tin tuy gặp nhiều rào cản, nhưng trong tương lai việc ứng dụng CNTT trong hoạt động số hóa tài liệu và chia sẻ nguồn tài nguyên thông tin ở các thư viện Đại học Việt Nam đang mở ra một hướng đi mới cho sự hợp tác chia sẻ Có thể lúc đầu chúng ta liên kết với quy mô nhỏ ở các trường đại học vùng sau đó

mở rộng ra các trường ở các vùng miền khác, đây là hiệu ứng lây lan giúp việc chia sẻ nguồn thông tin ngày càng đa dạng và phong phú hơn,

Trang 32

tạo điều kiện tốt nhất cho người dùng tin khai thác các nguồn tài nguyên thông tin ở mọi lúc, mọi nơi

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Bùi Loan Thùy (2013) Khả năng chia sẻ nguồn tài nguyên điện tử

và vấn đề bản quyền trong thư viện trường đại học, Kỷ yếu hội thảo

“ chia sẻ nguồn lực thông tin điện tử trong hệ thống thư viện cao đẳng, đại học Việt Nam”

2 Thư viện số trong thời đại “số hóa” http://www.thuvientre.com

3 Trần Thị Quý, Đỗ Văn Hùng(2007) Tự động hóa trong hoạt động thông tin- thư viện, Đại Học Quốc gia, Hà Nội

4 Nguyễn Minh Hiệp(2014) Đào tạo ngành thông tin- thư viện trong công nghệ thông tin //Tạp chí Thư viện Việt Nam

5 Đức Lương - Khánh Linh (2011) Đẩy mạnh hợp tác giữa các thư viện đại học ở Việt Nam-giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ thư viện//Tạp chí Thư viện Việt Nam số 5

Trang 33

ĐỌC SÁCH THỜI ĐẠI CÔNG NGHỆ SỐ

Nguyễn Thị Hồng Nhi

0937941415 nhinth@hcmute.edu.vn Thư viện Trường ĐHSPKT TP.HCM

Công nghệ thông tin, internet đi cùng với nó là công nghệ số, đã làm thay đổi cốt lõi của hầu như mọi vấn đề, mọi khía cạnh trong cuộc sống chúng ta, trong đó có việc đọc sách Đọc sách không chỉ đơn thuần

là một hình thức để tiếp cận thông tin, mà còn là một trong những hoạt động văn hóa, là thái độ, là cách ứng xử của chúng ta với tri thức, với sách vở

Hiện nay, chúng ta có rất nhiều điều kiện thuận lợi để tiếp cận với nguồn thông tin vô cùng phong phú Đặc biệt, sự bùng nổ của Internet đã tạo nên bước ngoặt lịch sử trong phương thức tiếp cận thông tin Nếu trước đây, đọc sách là một thú vui, một thói quen của rất nhiều người thì ngày nay thói quen ấy đang có nguy cơ bị mất dần đi.Thay vì lần tìm trên từng trang sách in thì chỉ cần một cú nhấp chuột là đã có hàng chục trang web sách điện tử hiện ra trước mắt độc giả, họ có thể lựa chọn được bất

kỳ một cuốn sách nào, dù đó là cuốn vừa được phát hành trên thị trường ngày hôm qua Thậm chí cuốn sách đó còn được tung lên mạng từ trước khi nó được một nhà xuất bản nào đó cấp phép phát hành Thay vào việc đến các hiệu sách để mua sách thì đa số các bạn trẻ dành thời gian tìm kiếm, thu thập thông tin và đọc sách trực tuyến

Có thể nói e-book (sách điện tử) có rất nhiều điểm ưu việt mà sách giấy không thể có được Một máy đọc e-book khoảng 300g có thể chứa hàng ngàn, chục ngàn đầu sách, tương đương với cả một thư viện Thậm chí, tại Việt Nam chỉ cần khoảng 1,5 triệu đồng là đã có thể tìm được một máy tính bảng loại vừa Số tiền này chỉ bằng khoảng 10 - 15 cuốn sách giấy trong khi có thể chứa hàng ngàn e-book

Trang 34

Nói như vậy không có nghĩa là sách đang đánh mất dần vị trí của

nó trong đời sống xã hội, văn hoá đọc sẽ lụi tàn Ngược lại, văn hoá đọc

sẽ dần dần trở lại ví trí đúng của mình sau cơn chao đảo Bởi lẽ các loại hình văn hoá lành mạnh khác nhau chỉ bổ sung cho nhau chứ không thể triệt tiêu lẫn nhau

Trước khi có các phương tiện nghe nhìn, sách là con đường lớn nhất để con người tiếp cận thông tin, văn hóa và tri thức Đối với các nhà nghiên cứu khoa học, nhà văn, nhà báo, nhà giáo, sinh viên, học sinh… đọc sách vẫn là một công việc bắt buộc, thường xuyên mà nếu thiếu nó người ta rất khó để có được một chuyên môn tốt, một khối lượng kiến thức đủ rộng để phục vụ công việc Đọc sách vẫn luôn được khẳng định

là một nhu cầu thiết yếu với những thế mạnh riêng của chính nó, một cách thưởng thức văn hóa sang trọng và có chiều sâu; là phương cách tốt nhất để làm giàu có vốn liếng ngôn từ của con người Những thuộc tính

đi liền với việc đọc là suy nghĩ, suy ngẫm, tra cứu, tìm tòi… là cơ sở hữu ích cho việc nâng cao tri thức, hiểu biết của mỗi con người Khối lượng kiến thức thu thập được từ việc đọc chính là một thước đo đánh giá tầm vóc tri thức của người đó Nói một cách công bằng, sách vẫn có những

ưu thế tuyệt vời của nó Đối với những bạn trẻ có niềm đam mê đọc sách thực sự thì sách vẫn luôn là một “báu vật”, họ vẫn có thể dành thời gian

đi chơi để lựa chọn cho mình những cuốn sách bổ ích Có thể dành dụm tiền mua quà ăn vặt để mua cho bằng được một cuốn sách mình thích, bỏ

ra vài tiếng đồng hồ để say sưa với những cuốn sách trong thư viện

Trang 35

Khi xã hội phát triển cao hơn, con người có thể đọc sách trong thư viện điện tử hay qua mạng Internet, thì vẫn chắc chắn một điều là: sách vẫn không hề mất đi giá trị văn hoá truyền thống lâu đời vốn có của nó Đúng như Ths Nguyễn Hữu Giới đã viết: “Sách và văn hoá đọc lo mà không lo trước sự bùng nổ và lấn át mạnh mẽ của phương tiện nghe nhìn hôm nay, mà chỉ là vấn đề tương hợp và tương tác giữa đặc trưng các loại hình với những nhu cầu thực tế luôn luôn biến động và phát triển trong

xã hội”

Một câu hỏi đặt ra là làm thế nào để tôn vinh văn hóa đọc và vai trò của các thư viện là gì? Trong xu thế hiện nay, vai trò của thư viện rất quan trọng trong việc giữ gìn vị trí độc tôn của văn hoá đọc Văn hoá nghe nhìn ngày càng chiếm ưu thế là một thách thức mới đối với những người làm công tác thông tin - thư viện

Trước hết, chúng ta cần phải cố gắng hình thành thói quen đọc Lấy phương tiện nghe nhìn làm phương tiện tuyên truyền, phổ biến, giới thiệu sách đến với đông đảo bạn đọc, và khơi dậy niềm say mê đọc sách giúp cho họ hiểu được lợi ích của việc đọc sách Cán bộ thư viện cần phải năng động hơn, cần phải có tầm nhìn hướng ngoại, hướng về bạn đọc, hướng đến những nhu cầu của xã hội, thậm chí cần phải đưa các chiến lược marketing vào trong hoạt động thông tin - thư viện để thu hút nhiều người đến với thư viện Cần phải xây dựng một môi trường đọc sách lý tưởng, rộng rãi thoáng mát Phải làm thế nào để bạn đọc luôn cảm thấy thư viện là nơi mà mình luôn được chào đón, là địa chỉ mà mọi người luôn muốn tìm đến

Trang 36

Tóm lại, việc đọc sách có tác dụng biến đổi và hoàn thiện tư duy con người, cũng như ảnh hưởng rất lớn đến hành vi, đến thế giới nội tâm, đến trình độ văn hóa, đến hoạt động xã hội của người đọc Sách giúp cho con người nâng cao tri thức, tích luỹ kinh nghiệm để vận dụng vào cuộc

sống, Maxime Gorki từng nói: “Sách vở biến chúng ta thành con người

hạnh phúc” Vì vậy, cho dù là đọc hay nghe nhìn đều phải biết chọn lọc

để tiếp thu, cần phải giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam trong thời đại công nghệ số

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 doc-o-viet-nam.html

http://nlv.gov.vn/van-hoa-doc/van-hoa-doc-va-phat-trien-van-hoa-2

http://nlv.gov.vn/van-hoa-doc/nguoi-viet-nam-chua-co-van-hoa-doc.html

Trang 37

ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ RFID TRONG QUẢN LÝ THƯ VIỆN CHẤT LƯỢNG CAO

(Triển khai dự án xây dựng thư viện tại Tòa nhà Trung tâm)

Thư viện HCMUTE http://thuvien.hcmute.edu.vn

thuvienspkt@hcmute.edu.vn

08.38969920

Tóm tắt: Công nghệ RFID bắt đầu được áp dụng rộng rãi vào công tác quản lý

từ những năm đầu của Thế kỷ XXI trong các mô hình thư viện hiện đại Ngay từ thời điểm mới được áp dụng, đã có hàng trăm thư viện tiến hành chuyển đổi sang RFID và công nghệ này đã chứng minh được tính tiện lợi, thân thiện, luôn hướng tới việc tạo sự tiện nghi và ưu thế vượt trội so với các công nghệ quản lý tài liệu trước đây Tuy nhiên rào cản lớn nhất thời điểm đó chính là giá thành của các thiết bị, vật tư cho RFID quá cao, vượt ngoài tầm với của đa số các thư viện Hiện nay, với sự phát triển vượt bậc của khoa học kỹ thuật giá thành của một hệ thống RFID đã thay đổi rất nhiều Thay đổi đến mức nếu làm một phép so sánh ngang từng hạng mục, giá thành RFID không còn quá “đắt” so với cổng từ (EM) Điều này dẫn tới hàng chục ngàn thư viện trên thế giới

đã áp dụng RFID, còn tại Việt Nam đang có một làn sóng các thư viện xây dựng kế hoạch với RFID, một số thư viện đã đầu tư, vận hành thành công hệ thống này, điển hình có thể kể đến là thư viện của các trường như Đại học Quốc Gia TP Hồ Chí Minh, Đại học Quốc Gia Hà Nội, Đại học Giao thông Vận tải, Đại học Ngoại thương, Học viện Chính trị Quốc Gia TP Hồ Chí Minh Bài viết đề cập đến các thông tin tổng quan

về một hệ thống RFID áp dụng cho thư viện, qua đó giúp người đọc có một cái nhìn bao quát và toàn diện nhất về công nghệ này

Trước đây, với mô hình thư viện truyền thống gặp rất nhiều bất cập trong việc tra cứu, tìm tài liệu hay quản lý tài liệu (chống trộm, thất lạc tài liệu,…) Bạn đọc thường mất thời gian vào việc tra cứu, đăng ký mượn/trả, thư viện tốn nhiều nhân công trong việc quản lý, vận hành hệ thống Để khắc phục vấn đề này rất nhiều nơi trên thế giới đã đưa các hệ thống công nghệ thông tin, công nghệ tự động hóa vào thư viện, đặc biệt

là công nghệ RFID giúp cải thiện nhu cầu bạn đọc Khi những công nghệ mới này được áp dụng sẽ cung cấp cho thư viện một môi trường tốt nhất, việc tìm tin hay mượn trả tài liệu sẽ không còn mất thời gian của bạn đọc, giúp cho thư viện quản lý được tài liệu một cách đơn giản và hoàn thiện nhất Nâng một bước từ thư viện truyền thống sang thư viện điện

tử, thư viện số với những thiết bị tự động hóa được tối ưu Những thư

Trang 38

viện hiện đại trên thế giới thường được áp dụng quy trình hoạt động như sau:

Quy trình hoạt động chung của thư viện hiện đại

RFID (Radio Frequency Identification) là một công nghệ định danh các con chip điện tử bằng sóng vô tuyến, hiện đang được rất nhiều quốc gia, công ty, tập đoàn trên thế giới nghiên cứu và sử dụng Đây là một công nghệ tiên tiến để kiểm soát tài liệu, nó có nhiều ưu điểm vượt trội so với công nghệ mã vạch Khác với công nghệ mã vạch là công nghệ định danh trực diện (line-of-sight technology), nghĩa là để nhận dạng đối tượng, máy đọc cần phải tiếp xúc trực tiếp đối tượng ở khoảng cách gần Đối với công nghệ RFID, có thể xác định đối tượng ở khoảng cách xa từ vài mét tới hàng trăm mét trong môi trường không gian 3 chiều (3D)

Một hệ thống RFID thường bao gồm 2 thành phần chính là thẻ tag (chip RFID chứa thông tin) và đầu đọc (reader) đọc các thông tin trên chip RFID được ứng dụng lần đầu tiên trong lĩnh vực quân sự Trong thế chiến thứ II, quân đội các nước Mỹ, Nga, Đức,… đã ứng dụng công nghệ RFID để xác định máy bay trên không phận mình là của địch hay của kẻ thù vì vậy nó còn có tên là IFF (Identify friend or foe) Tuy nhiên, mãi đến những năm 1980 nó mới được bắt đầu ứng dụng trong lĩnh vực thương mại và từ năm 1990 đến nay, RFID vẫn là mục tiêu được chú trọng phát triển trong nhiều lĩnh vực như hàng không, quốc phòng cho đến lĩnh vực kiểm kê, kiểm soát hàng hóa, kiểm soát động vật, giao thông

Trang 39

(thẻ trả tiền tàu xe, hoặc gắn vào lốp xe để đánh giá điều kiện đường xá,…), quản lý việc truy cập hệ thống và bảo mật, quản lý nhân viên, dược phẩm, siêu thị và đặc biệt là trong lĩnh vực quản lý thư viện

2 RFID ứng dụng trong thư viện

Ngày nay, thư viện trên thế giới đang đối diện với những khó khăn trong quản lý về sự gia tăng không ngừng mật độ tại các điểm lưu thông

và vốn tài liệu thư viện Các nhân viên làm việc tại quầy lưu thông ngoài việc đảm bảo hiệu quả sử dụng nguồn tài nguyên thư viện, công việc hàng ngày của họ còn là tiếp xúc bạn đọc và cung cấp dịch vụ khách hàng chất lượng cao thỏa mãn mọi nhu cầu của khách thăm quan cũng như bạn đọc của thư viện

Công nghệ RFID đã và đang giải quyết những khó khăn (cũng có thể được xem như những thách thức kể trên) Với tính năng “3 trong 1”, lưu thông - an ninh - kiểm kê, RFID không những tối ưu hóa quỹ thời gian của nhân viên thư viện mà đặc biệt là đem lại sự thuận tiện và đảm bảo tính riêng tư của bạn đọc khi họ sử dụng quầy mượn trả tự động Điểm son của RFID chính là tính năng kiểm kê hàng loạt khi nhân viên chỉ cần đi dọc theo hàng dãy kệ mà không cần phải nhấc xuống (rồi) đặt lên bất kỳ quyển sách nào và tính năng lưu thông nhiều tài liệu cùng một lúc (ví dụ: một chồng sách gồm 10 quyển, vài đĩa CD-ROM và băng video hoặc cát xét chỉ cần một lần quét duy nhất tại quầy lưu thông) Hơn nữa, việc áp dụng các thiết bị tự phục vụ vào thư viện còn làm tăng tính chủ động cho bạn đọc, giảm thiểu tối đa thời gian chết khi không phải chờ đợi xếp hàng dài để đăng ký mượn, trả tài liệu

Ứng dụng công nghệ RFID vào trong thư viện thực sự đã và đang đem đến những lợi ích trước mắt và lâu dài cho quy trình quản lý thư viện hiện đại, “truy tìm dấu vết” của các tài liệu xếp sai vị trí, tự động mượn trả, gia tăng an ninh thư viện Điều này dẫn tới hàng chục ngàn thư viện trên thế giới đã áp dụng RFID và tại Việt Nam đang có một làn sóng các thư viện xây dựng kế hoạch với RFID và có một số thư viện đã đầu

tư và vận hành thành công hệ thống này, điển hình có thể kể đến là thư viện của các trường như Đại học Quốc Gia TP Hồ Chí Minh, Đại học Quốc Gia Hà Nội, Đại học Giao thông Vận tải, Đại học Ngoại thương,

Học viện Chính trị Quốc Gia TP Hồ Chí Minh

 Không cần tiếp xúc trực diện với tài liệu: khác với công nghệ mã

vạch, để nhận dạng tài liệu cần phải tiếp xúc trực tiếp giữa tài liệu và thiết bị đọc Đối với công nghệ RFID, cho phép máy đọc có thể nhận dạng được tài liệu ở khoảng cách khá xa

Trang 40

 Kết hợp giữa chức năng an ninh và chức năng nhận dạng tài

liệu (thông qua các thông tin có trong thẻ: số đăng ký cá biệt, môn

loại, ): đối với hệ thống sử dụng mã vạch, mỗi nhãn mã vạch chỉ cho

phép nhận dạng tài liệu còn để chống trộm tài liệu thì người ta phải sử dụng chỉ từ Như vậy, mỗi tài liệu đều được gắn cả nhãn mã vạch và chỉ

từ Đối với các hệ thống RFID, mỗi thẻ RFID đã đảm nhiệm được cả 2 chức năng này: chức năng an ninh và nhận dạng tài liệu

 Khả năng xử lý không cần nhân công: Trong khi các hệ thống

khác đòi hỏi phải có nhân công trực tiếp thao tác thì mới có thể nhận dạng được thì hệ thống RFID có thể nhận dạng mà không cần đến sự hỗ trợ của con người Giảm chi phí nhân công và lỗi nhân công

 Mượn/Trả nhanh chóng cùng lúc nhiều tài liệu: khả năng đọc

thông tin từ thẻ RFID nhanh hơn nhiều so với sử dụng mã vạch vì vậy làm cho thao tác mượn trả tài liệu cũng nhanh hơn Hỗ trợ tối đa việc tự động hóa quá trình mượn/trả tài liệu: hỗ trợ mượn/trả không có sự can thiệp của thủ thư Bạn đọc có thể mượn cùng một lúc với nhiều tài liệu một cách dễ dàng, trong khi các hệ thống nhận dạng tự động khác xử lý đơn hoặc xử lý theo chuỗi

Các phương pháp xử lý dữ liệu

 Phân loại tài liệu tự động: mỗi thẻ RFID cho phép lưu nhiều

thông tin khác nhau trong đó có môn loại của tài liệu Vì vậy, các nhà sản xuất thiết bị RFID đã chế tạo ra loại máy giúp cho việc phân loại tài liệu

tự động sơ bộ

 Khả năng chống trộm tốt: các hệ thống an ninh sử dụng cổng từ,

khả năng phát hiện tài liệu chỉ trong một khoảng cách ngắn và chỉ trong không gian 2 chiều, chỉ có duy nhất sản phẩm hãng Tagit sử dụng công nghệ 3 chiều Do vậy, nếu một bạn đọc khi cầm sách cao hơn chiều cao của cổng từ thì cổng từ sẽ không phát hiện được Với hệ thống an ninh sử dụng công nghệ RFID, nó có khả năng phát hiện tài liệu với khoảng cách

Ngày đăng: 24/10/2017, 11:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w