Những bất cập liên quan đến thu nhập của lao động di cư làm thuê trong khu vực phi chính thức trên địa bàn thành phố Hà Nội .... Nguyên nhân của những bất cập liên quan đến thu nhập của
Trang 1- -NGUYÔN DO·N HOµN
THU NHËP CñA LAO §éNG DI C¦
LµM THU£ TRONG KHU VùC PHI CHÝNH THøC
TR£N §ÞA BµN NéI THµNH Hµ NéI
CHUY£N NGµNH: KINH TÕ CHÝNH TRÞ
CHUY£N NGµNH: KINH TÕ CHÝNH TRÞ
M· sè: 62310102 M· sè: 62310102
Ng−êi h−íng dÉn khoa häc:
PGS.TS §µO THÞ PH¦¥NG LI£N
Hµ Néi - 2017
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi đã đọc và hiểu về các hành vi vi phạm sự trung thực trong học thuật Tôi cam kết bằng danh dự cá nhân rằng nghiên cứu này do tôi tự thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS TS Đào Thị Phương Liên và không vi phạm yêu cầu về sự trung thực trong học thuật
Xác nhận của giáo viên hướng dẫn
Hà Nội, ngày 02 tháng 10 năm 2017
Người thực hiện luận án
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chương trình đào tạo Tiến sĩ kinh tế, chuyên ngành kinh tế chính trị, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện của Trường Đại học KTQD, Ban Giám hiệu và các thầy, cô trong Khoa Lý luận chính trị , các Trưởng, Phó phòng ban và các bạn đồng nghiệp nơi tôi công tác tại Huyện ủy Thạch Thất, thành phố Hà Nội
Tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Đào Thị Phương Liên đã tận tình hướng dẫn, động viên và giúp tôi các phương pháp tiếp cận khoa học trong quá trình thực hiện Luận án Tiến sỹ này
Tôi xin cảm ơn các thầy, cô giáo tham gia giảng dạy chương trình đào tạo Tiến
sĩ kinh tế - Đại học Kinh tế Quốc dân đã cung cấp cho tôi những kiến thức, phương pháp tiếp cận toàn diện vấn đề quản lý
Tôi xin cảm ơn các đồng nghiệp, các cơ quan Thống kê, Sở Lao động Thương binh và Xã hội Hà Nội đã cung cấp những số liệu chính xác để phục vụ cho mục đích nghiên cứu của luận án tiến sĩ này
Hà Nội, ngày 02 tháng 10 năm 2017
Người thực hiện luận án
Nguyễn Doãn Hoàn
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 6
1.1 Tổng quan nghiên cứu có liên quan đến chủ đề Luận án 6
1.1.1 Những nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến chủ đề Luận án 6
1.1.2 Những khoảng trống và câu hỏi nghiên cứu 12
1.2 Về phương pháp nghiên cứu 13
1.2.1 Thiết kế nghiên cứu 13
1.2.2 Phương pháp tiếp cận nghiên cứu 15
1.2.3 Phương pháp thu thập số liệu 16
1.2.4 Phương pháp phân tích dữ liệu 18
Tiểu kết chương 1 19
Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THU NHẬP CỦA LAO ĐỘNG DI CƯ LÀM THUÊ TRONG KHU VỰC PHI CHÍNH THỨC TẠI CÁC ĐÔ THỊ 20
2.1 Một số vấn đề về khu vực phi chính thức và lao động di cư làm thuê trong khu vực phi chính thức 20
2.1.1 Một số vấn đề về khu vực phi chính thức 20
2.1.2 Lao động di cư làm thuê trong khu vực phi chính thức tại các đô thị 24
2.2 Những vấn đề cơ bản về thu nhập của lao động di cư làm thuê trong khu vực phi chính thức tại đô thị 27
2.2.1 Thu nhập của người lao động di cư làm thuê trong khu vực phi chính thức 27
2.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới thu nhập của lao động di cư làm thuê trong khu vực phi chính thức tại đô thị 36
2.3 Kinh nghiệm đảm bảo thu nhập của lao động di cư làm thuê trong khu vực phi chính thức tại đô thị của một số quốc gia và bài học rút ra cho thành phố Hà Nội 44
2.3.1 Kinh nghiệm đảm bảo thu nhập của lao động di cư làm thuê trong khu vực phi chính thức tại một số nước Châu Mỹ Latin 44
2.3.2 Một số bài học rút ra cho thành phố Hà Nội 49
Trang 5Tiểu kết chương 2 50 Chương 3 THỰC TRẠNG THU NHẬP CỦA LAO ĐỘNG DI CƯ LÀM THUÊ TRONG KHU VỰC PHI CHÍNH THỨC TRÊN ĐỊA BÀN NỘI THÀNH HÀ NỘI 51 3.1 Khái quát tình hình kinh tế - xã hội của thành phố Hà Nội ảnh hưởng đến thu nhập của lao động di cư làm thuê trong khu vực phi chính thức 51
3.1.1 Khái quát chung về tình hình phát triển kinh tế - xã hội của Thành phố Hà Nội 513.1.2 Tình hình lao động di cư từ các địa phương vào thủ đô Hà Nội những năm gần đây 523.1.3 Khu vực phi chính thức trên địa bàn nội thành Hà Nội 543.1.4 Tình hình lao động làm thuê trong khu vực phi chính thức trên địa bàn nội thành Hà Nội 55
3.2 Phân tích thực trạng thu nhập của lao động di cư làm thuê trong khu vực
phi chính thức trên địa bàn nội thành Hà Nội 70
3.2.1 Thu nhập của lao động di cư làm thuê trong khu vực phi chính thức trên địa bàn Hà Nội theo các yếu tố cấu thành 703.2.2 Thu nhập của lao động di cư làm thuê trong khu vực phi chính thức trên địa bàn Hà Nội theo đặc điểm của người lao động di cư qua điều tra khảo sát 73
3.3 Đánh giá chung về thực trạng thu nhập của lao động di cư làm thuê trong khu vực phi chính thức trên địa bàn nội thành Hà Nội 90
3.3.1 Những kết quả đạt được 903.3.2 Những bất cập liên quan đến thu nhập của lao động di cư làm thuê trong khu vực phi chính thức trên địa bàn thành phố Hà Nội 983.3.3 Nguyên nhân của những bất cập liên quan đến thu nhập của lao động di cư làm thuê trong khu vực phi chính thức trên địa bàn thành phố Hà Nội 100
Tiểu kết Chương 3 109 Chương 4 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO THU NHẬP CHO LAO ĐỘNG DI CƯ LÀM THUÊ TRONG KHU VỰC PHI CHÍNH THỨC TRÊN ĐỊA BÀN NỘI THÀNH HÀ NỘI 111 4.1 Căn cứ đề xuất phương hướng và giải pháp đảm bảo thu nhập cho lao động
di cư làm thuê trong khu vực phi chính thức trên địa bàn nội thành Hà Nội 111
4.1.1 Mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô Hà Nội đến năm 2020 1114.1.2 Dự báo xu hướng lao động di cư vào Hà Nội và những vấn đề đặt ra đối với lao động di cư làm việc trong khu vực phi chính thức trên địa bàn nội thành Hà Nội tầm nhìn đến năm 2030 113
Trang 64.2 Quan điểm, phương hướng đảm bảo thu nhập cho lao động di cư làm thuê trong khu vực phi chính thức trên địa bàn nội thành Hà Nội 116
4.2.1 Quan điểm đảm bảo thu nhập cho lao động di cư làm thuê trong khu vực phi chính thức trên địa bàn nội thành Hà Nội 1164.2.2 Phương hướng đảm bảo thu nhập cho lao động di cư làm thuê trong khu vực phi chính thức trên địa bàn nội thành Hà Nội 122
4.3 Những giải pháp chủ yếu để đảm bảo thu nhập của người lao động di cư làm thuê trong khu vực phi chính thức trên địa bàn Hà Nội 125
4.3.1 Nâng cao năng lực bản thân người lao động di cư 1264.3.2 Cải thiện điều kiện làm việc và mối quan hệ chủ thợ đối với lao động di cư làm thuê trong khu vực phi chính thức để tăng tiền công, tiền thưởng cho người lao động 1274.3.3 Tạo cơ chế để nguồn cung và nguồn cầu về lao động di cư làm thuê trong khu vực phi chính thức dễ dàng tương tác và gặp nhau trên thị trường lao động 1294.3.4 Tăng cường vai trò của Nhà nước trong hoàn thiện luật pháp, cơ chế chính sách và phối hợp giữa các cơ quan chức năng 1314.3.5 Tăng cường vai trò của các tổ chức xã hội để đảm bảo thu nhập cho lao động
di cư làm thuê trong khu vực phi chính thức 1354.3.6 Tăng cường quan hệ tương tác giữa khu vực chính thức và khu vực phi chính thức, đặc biệt là phát triển kinh tế tư nhân nhằm tạo cơ hội việc làm và thu nhập ổn định cho lao động di cư làm thuê trong khu vực phi chính thức 136
Tiểu kết chương 4 137 KẾT LUẬN 138 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 140 TÀI LIỆU THAM KHẢO 141 PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BHXH Bảo hiểm xã hội
BHYT Bảo hiểm y tế
BHXHTN Bảo hiểm xã hội tự nguyện
BHYTTN Bảo hiểm y tế tự nguyện
BHTNg Bảo hiểm thất nghiệp
EIS Việc làm trong khu vực phi chính thức
FE Lao động làm việc chính thức
GDP Tổng sản phẩm quốc nội
ILO Tổ chức lao động quốc tế
IE Lao động làm việc phi chính thức KTPCT Kinh tế phi chính thức
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Phân bổ phiếu khảo sát và phỏng vấn như sau 17Bảng 1.2 Thang đánh giá Likert 18Bảng 2.1: Quan niệm về việc làm trong khu vực phi chính thức của một số quốc gia
trên thế giới 28Bảng 3.1 Một số chỉ tiêu chủ yếu bình quân đầu người của Hà Nội 51Bảng 3.2 Cơ cấu tổng sản phẩm trên địa bàn Hà Nội theo giá hiện hành phân theo
khu vực kinh tế 52Bảng 3.3 Cơ cấu tổng sản phẩm trên địa bàn Hà Nội theo giá hiện hành phân theo
loại hình kinh tế ĐV tính % 52Bảng 3.4: Di cư vào thành phố Hà Nội 2004-2014 53Bảng 3.5 Địa bàn của những người nhập cư đến Hà Nội 54Bảng 3.6 Tình hình lao động trong các hộ kinh doanh chính thức và phi chính thức
trên địa bàn Thành phố Hà Nội giai đoạn 2007 - 2009 54Bảng 3.7: Cơ cấu hộ sản xuất kinh doanh và việc làm theo nhóm ngành kinh tế 55Bảng 3.8: Biến động mức thu nhập bình quân và trung vị của lao động theo nhóm
ngành và vị thế công việc 56Bảng 3.9: Số lượng, tỷ lệ lao động di cư làm thuê trong khu vực phi chính thức và
giúp việc gia đình trên địa bàn Hà Nội theo mẫu điều tra 63Bảng 3.10: Về giới và độ tuổi của lao động di cư làm thuê trong khu vực phi chính
thức và giúp việc gia đình trên địa bàn Hà Nội theo theo mẫu điều tra 64Bảng 3.11: Trình độ học vấn và đào tạo của lao động di cư làm thuê trong khu vực
phi chính thức trên địa bàn Hà Nội theo mẫu điều tra 65Bảng 3.12: Số lượng, tỷ lệ lao động di cư làm thuê trong khu vực phi chính thức và giúp
việc gia đình trên địa bàn Hà Nội theo thời gian làm việc theo mẫu điều tra 67Bảng 3.13: Số lượng lao động di cư làm thuê trong khu vực phi chính thức và giúp
việc gia đình trên địa bàn Hà Nội theo tình trạng độc hại của công việc theo mẫu điều tra 68Bảng 3.14: Số lượng lao động di cư làm thuê trong khu vực phi chính thức và phục
vụ gia đình trên địa bàn Hà Nội theo tình trạng thay đổi công việc theo mẫu điều tra 69Bảng 3.15: Số lượng lao động di cư làm thuê trong khu vực phi chính thức và giúp
việc gia đình trên địa bàn Hà Nội theo tình trạng ký kết hợp đồng làm việc theo mẫu điều tra 70
Trang 9Bảng 3.16 Thu nhập bình quân chung của lao động di cư làm thuê trong khu vực phi
chính thức trên địa bàn Hà Nội qua điều tra 71Bảng 3.17: Thu nhập bình quân của lao động di cư làm thuê trong khu vực phi chính
thức trên địa bàn Hà Nội theo ngành nghề làm việc theo mẫu điều tra 72Bảng 3.18: Thu nhập bình quân chung của lao động di cư theo giới tính làm thuê trong
khu vực phi chính thức trên địa bàn Hà Nội theo mẫu điều tra 73Bảng 3.19: Thu nhập bình quân của lao động di cư theo giới tính làm thuê trong khu
vực phi chính thức trên địa bàn Hà Nội làm việc trong từng ngành nghề theo điều tra 75Bảng 3.20: Thu nhập bình quân chung của lao động di cư theo độ tuổi làm thuê trong khu
vực phi chính thức trên địa bàn Hà Nội làm việc theo mẫu điều tra 76Bảng 3.21: Thu nhập bình quân của lao động di cư theo độ tuổi làm thuê trong khu
vực phi chính thức trên địa bàn Hà Nội làm việc trong từng ngành nghề theo mẫu điều tra 78Bảng 3.22: Thu nhập bình quân chung của lao động di cư làm thuê trong khu vực phi
chính thức trên địa bàn nội thành Hà Nội theo trình độ văn hoá 79Bảng 3.23: Ảnh hưởng của trình độ văn hóa đến thu nhập bình quân của lao động di
cư làm thuê trong khu vực phi chính thức trên địa bàn Hà Nội (tính theo từng ngành nghề) 80Bảng 3.24: Thu nhập bình quân chung của lao động di cư làm thuê trong khu vực phi
chính thức trên địa bàn Hà Nội theo trình độ đào tạo 81Bảng 3.25: Thu nhập bình quân của lao động di cư làm thuê trong khu vực phi chính thức
trên địa bàn Hà Nội theo trình độ đào tạo 83Bảng 3.26: Thu nhập bình quân chung của lao động di cư làm thuê theo thời gian làm
việc trong khu vực phi chính thức 84Bảng 3.27: Thu nhập bình quân của lao động di cư làm thuê theo thời gian làm thuê
trong khu vực phi chính thức của từng ngành nghề 85Bảng 3.28 Thu nhập bình quân chung của lao động di cư làm thuê theo môi trường
làm việc trong khu vực phi chính thức 86
Bảng 3.29 Thu nhập bình quân chung của lao động di cư làm thuê theo tình trạng
thay đổi chỗ làm việc trong khu vực phi chính thức trên địa bàn nội thành
Hà Nội 87Bảng 3.30 Thu nhập bình quân của lao động di dân làm thuê theo tình trạng thay đổi
chỗ làm việc trong khu vực phi chính thức trên địa bàn nội thành Hà Nội theo ngành nghề 88
Trang 10Bảng 3.31 Thu nhập bình quân chung của lao động di cư làm thuê theo tình trạng
hợp đồng lao động làm việc trong khu vực phi chính thức trên địa bàn nội thành Hà Nội theo ngành nghề 89Bảng 3.32: Thu nhập bình quân của lao động di dân làm thuê theo tình trạng hợp đồng
lao động trong từng ngành nghề của khu vực phi chính thức trên địa bàn
nội thành Hà Nội 89Bảng 3.33: Chi tiêu của lao động di cư làm thuê trong khu vực phi chính thức trên địa
bàn Hà Nội theo mẫu điều tra 90Bảng 3.34: Chi tiêu của lao động di cư làm thuê trong khu vực phi chính thức trên địa
bàn Hà Nội theo ngành nghề (theo mẫu điều tra) 91Bảng 3.35: Đánh giá của lao động theo ngành nghề về biến đổi đời sống sau khi họ
thực hiện di cư làm thuê trong khu vực phi chính thức trên địa bàn Hà Nội theo mẫu điều tra (Điểm đánh giá từ 1-5, trong đó 5 là cao nhất) 93Bảng 3.36: Biến đổi thu nhập của gia đình có lao động di cư làm thuê trong khu vực
phi chính thức trên địa bàn Hà Nội theo mẫu điều tra 94Bảng 3.37: Đánh giá của lao động theo ngành nghề về biến đổi điều kiện sống của gia
đình sau khi họ thực hiện di cư làm thuê trong khu vực phi chính thức và giúp việc gia đình trên địa bàn Hà Nội (theo mẫu điều tra Điểm đánh giá
từ 1-5, trong đó 5 là cao nhất) 95Bảng 3.38: Đánh giá của lao động theo ngành nghề về tác động của việc họ thực hiện
di cư làm thuê trong khu vực phi chính thức trên địa bàn Hà Nội đến việc phụ thêm chi phí cho sinh hoạt của gia đình (theo mẫu điều tra) 96
Bảng 3.39 Biến đổi thu nhập tác động đến sự phát triển chung của xã hội (điểm đánh
giá từ 1-5, trong đó 5 là cao nhất) 97Bảng 3.40: Lao động và thu nhập của hộ gia đình có người di cư 98Bảng 3.41 So sánh thu nhập của người lao động trong khu vực chính thức và phi
chính thức ở Hà Nội 99Bảng 3.42 Cơ cấu thu nhập của lao động di cư làm thuê trong khu vực phi chính thức
ở Hà Nội qua điều tra 99Bảng 3.43: Đánh giá về trình độ, kỹ năng, thái độ và sức khỏe của người lao động
làm thuê trong khu vực phi chính thức trên địa bàn Hà Nội (điểm đánh giá
từ 1-5, trong đó 5 là cao nhất) 101Bảng 3.44 Đánh giá về điều kiện làm việc và quan hệ chủ thợ (điểm từ 1 đến 5 trong
đó, 5 là tốt nhất) 103Bảng 3.45: Đánh giá nhu cầu lao động phi chính thức trên địa bàn Hà Nội (điểm đánh
giá từ 1-5, trong đó 5 là cao nhất) 105
Trang 11Bảng 3.46 Ý kiến đánh giá về môi trường chính sách, tổ chức quản lý của nhà nước
đối với khu vực phi chính thức 106Bảng 4.1 Mức độ khó khăn của lao động di cư làm thuê ở thành phố hiện nay
(điểm từ 1 đến 5, trong đó 5 là khó khăn nhất) 115Bảng 4.2 Nhìn nhận, đánh giá về hiện tượng lao động di cư đến Hà Nội làm việc
trong khu vực phi chính thức 117Bảng 4.3 Thứ tự ưu tiên cho việc hoàn thiện các yếu tố tăng thu nhập của lao động
di cư làm thuê trong khu vực phi chính thức (Điểm từ 1 đến 5, trong đó 5
là ưu tiên cao nhất) 125
Trang 12DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1: Phân bố % thanh niên di cư đến khu vực phi chính thức ở Hà Nội theo
tiện nghi sinh hoạt tại nơi ở hiện tại 58Hình 3.2 Phân bố % thanh niên di cư thông báo về điều kiện môi trường sống tại
nơi cư trú hiện tại 59
Trang 13MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của đề tài luận án
Dưới tác động của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH), tình trạng di cư từ nông thôn ra thành phố làm việc đang ngày càng có xu hướng gia tăng
cả trong khu vực chính thức (KVCT) và khu vực phi chính thức (KVPCT) Năm 2010, khu vực kinh tế phi chính thức (KTPCT) cả nước ta chiếm trên 11 triệu việc làm trong tổng số việc làm cả nước - chiếm khoảng 1/4 tổng việc làm chính và 1/2 số việc làm phi nông nghiệp Nếu cộng thêm cả những việc làm phụ thì KTPCT có trên 12,4 triệu việc làm Theo ước tính, Việt Nam có khoảng 8,4 triệu hộ SXKD PCT, trong đó 7,4 triệu người coi việc làm PCT của mình là chính và 1 triệu hộ coi đó là việc làm thứ hai (Đặng Tiến, 2010)
Người lao động di cư ra thành phố làm việc trong KVPCT làm nhiều công việc khác nhau, nhìn chung là thu nhập thấp, việc làm bấp bênh không ổn định, gần như không có bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm thất nghiệp (BHTNg) và phần lớn vẫn chưa được hưởng lợi từ những chính sách đặc thù Năm
2010 trên 50% số lao động làm việc tại khu vực này thu nhập thấp hơn 1,4 triệu đồng/người/tháng, trong khi có tới 30% số lao động phải làm việc trên 60 giờ/tuần, phần lớn người lao động phải làm việc từ 49 giờ đến 52 giờ/tuần (Đặng Tiến, 2010)
Vấn đề đặt ra là làm thế nào để cải thiện điều kiện tăng thu nhập của người lao động di cư ra thành phố làm thuê trong khu vực này?
Cho đến nay, ở nước ta đã có nhiều nghiên cứu có liên quan đến vấn đề lao động, việc làm, thu nhập và đời sống của người lao động làm việc trong khu vực phi chính thức Tuy nhiên, việc nghiên cứu một cách có hệ thống các yếu tố tác động đến thu nhập của đối tượng này hầu như vẫn chưa được thực hiện một cách thỏa đáng Nhiều vấn đề đặt ra đòi hỏi phải làm sáng tỏ
Hà Nội là một trong số những thành phố có lực lượng lao động di cư làm việc trong khu vực phi chính thức rất lớn Năm 2010 tại thành phố Hà Nội thì khu vực KTPCT là nguồn cung cấp việc làm cho số lượng lớn người lao động và lực lượng lao động này chiếm khoảng 30% tổng số lao động của thành phố Nếu loại bỏ hoạt động nông nghiệp thì tại Hà Nội, có 300.000 hộ SXKD phi chính thức với 470.000 lao động (Minh Bắc, 2010) Người lao động di cư làm việc trong KVPCT
ở Hà Nội cũng nằm trong tình trạng chung là thu nhập thấp, việc làm bấp bênh, không tiếp cận được sự hỗ trợ các chính sách trợ giúp của nhà nước, không tham
Trang 14gia BHXH, BHYT và BHTNg, Nhà nước hầu như chưa quản lý đối với khu vực này, vì thế thiếu các chính sách phát triển và đảm bảo quyền lợi cho người lao động trong khu vực phi chính thức nói chung cũng như đối với lao động làm thuê trong
khu vực phi chính thức nói rêng Vì vậy việc nghiên cứu đề tài “Thu nhập của lao động di cư làm thuê trong khu vực phi chính thức trên địa bàn nội thành Hà Nội” có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cấp bách
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục tiêu
Trên cơ sở lý luận về thu nhập của lao động di cư làm thuê trong khu vực phi chính thức tại các đô thị, luận án phân tích thực trạng và đề xuất quan điểm, phương hướng và giải pháp đảm bảo thu nhâp của lao động di cư làm thuê trong khu vực phi chính thức trên địa bàn nội thành Hà Nội
2.2 Nhiệm vụ
Thứ nhất, tổng quan những nghiên cứu đã được công bố ở trong và ngoài nước liên quan đến thu nhập của lao động di cư làm việc trong khu vực phi chính thức tại các đô thị, chỉ ra khoảng trống nghiên cứu về lý luận, về không gian, thời gian, trên cơ
sở đó xác định đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài Luận án
Thứ hai, luận giải những vấn đề lý luận và thực tiễn về thu nhập của lao động di
cư làm thuê trong khu vực phi chính thức và các yếu tố tác động đến thu nhập của lao động di cư ra thành phố làm thuê trong khu vực phi chính thức
Thứ ba, phân tích thực trạng thu nhập của lao động di cư làm thuê trong khu vực phi chính thức trên địa bàn nội thành Hà Nội hiện nay, chỉ ra những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế về thu nhập của lao động di cư làm thuê trong khu vực phi chính thức trên địa bàn nội thành Hà Nội
Thứ tư, đề xuất quan điểm, phương hướng và giải pháp nhằm đảm bảo thu nhập hợp pháp của lao động di cư làm thuê trong khu vực phi chính thức trên địa bàn thành phố Hà Nội
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luận án là thu nhập của lao động di cư làm thuê trong khu vực phi chính thức tại đô thị
Trang 15Lao động di cư vào làm việc tại các đô thị có hai loại: làm những công việc hợp pháp và công việc bất hợp pháp, nên thu nhập trong khu vực này cũng được hình thành từ những hoạt động hợp pháp và từ hoạt động bất hợp pháp: buôn bán hàng cấm, mại dâm, kinh doanh trốn thuế Phạm vi nghiên cứu của Luận án là thu nhập của lao động di cư làm thuê ở những ngành nghề hợp pháp
Đến lượt nó, lao động di cư làm thuê trong các ngành nghề hợp pháp cũng có hai loại
Loại thứ nhất, di cư ổn định là lao động di cư cùng cả gia đình ra thành phố sinh sống, mua hoặc thuê nhà ở là làm việc dài hạn ở thành phố Luận án không nghiên cứu thu nhập của loại lao động này
Loại thứ hai, là di cư tạm thời, tức những lao động có gia đình sống ở nông thôn, còn bản thân người lao động làm trong khu vực phi chính thức ở thành phố quanh năm, thời vụ hoặc di cư con lắc Loại di cư tạm thời cũng có 2 nhóm:
+ Nhóm 1: làm tự do, không làm thuê cho ai cả, ví dụ đó có thể là dịch vụ xe
ôm, đạp xích lô, bán hàng rong, buôn đồng nát, thậm chí làm chủ một cửa hàng buôn bán nhỏ ) Thu nhập của những lao động ấy không thuộc phạm vi nghiên cứu của Luận án này
+ Nhóm 2: làm thuê trong khu vực phi chính thức và được chủ trả công Luận
án nghiên cứu thu nhập của nhóm này
Tóm lại, đối tượng nghiên cứu của Luận án là thu nhập của lao động di cư làm thuê trong khu vực phi chính thức tại đô thị
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Thu nhập của lao động di cư làm thuê trong khu vực phi chính thức tại đô thị bao gồm:
(i) Tiền công
(ii) Tiền thưởng và các khoản thu nhập thêm khác của lao động di cư
(iii) Các khoản trợ cấp, trợ giúp của nhà nước, các tổ chức xã hội
Trang 16Người lao động di cư ra thành phố làm thuê ở nhiều lĩnh vực Luận án này đề cập đến người lao động làm thuê trong bốn lĩnh vực là:
i) Xây dựng và phục vụ xây dựng;
ii) Sản xuất tiểu thủ công nghiệp, sửa chữa ô tô, xe máy;
iii) Phục vụ trong các cửa hàng, cửa hiệu;
iv) Giúp việc gia đình
Các yếu tố tác động đến thu nhập của người lao động di cư ra thành phố làm thuê trong khu vực phi chính thức có thể nhóm thành bốn nhóm chính là:
i) Nhóm yếu tố liên quan đến cung cầu lao động;
ii) Nhóm yếu tố liên quan đến điều kiện làm việc và quan hệ chủ - thợ; iii) Nhóm yếu tố liên quan đến bản thân người lao động;
iv) Nhóm yếu tố liên quan đến chính sách và sự hỗ trợ của nhà nước;
v) Nhóm yếu tố quan hệ giữa khu vực chính thức và PCT;
Về không gian, nghiên cứu tại bốn quận nội thành Hà Nội là Hai Bà Trưng, Hoàng Mai, Thanh Xuân và Hà Đông
Về thời gian, số liệu thu thập thực trạng trong những năm 2010-2015; đề xuất giải pháp đến năm 2020 và tầm nhìn đến 2030
4 Những đóng góp mới của Luận án
Về lý luận, luận án xây dựng được khung lý thuyết về thu nhập của lao động di
cư làm thuê trong khu vực PCT trên cơ sở làm rõ sự biến đổi của thu nhập và các nhân
tố tác động đến sự biến đổi đó Luận án làm rõ thu nhập của lao động làm thuê trong khu vực phi chính thức bao gồm tiền công, các khoản thu nhập khác mà chủ sử dụng lao động trả cho người lao động như tiền thưởng, và các khoản thu nhập từ trợ giúp của nhà nước và xã hội Sự biến đổi của thu nhập chịu sự tác động của năng lực bản thân người lao động, điều kiện làm việc và quan hệ chủ thợ, quan hệ cung cầu lao động trên thị trường, cơ chế chính sách và vai trò tổ chức quản lý của nhà nước đối với khu vực PCT và tác động của sự phát triển khu vực chính thức đến khu vực PCT
Về thực tiễn, từ các số liệu thông tin từ điều tra khảo sát, luận án phân tích thực trạng thu nhập của lao động di cư làm thuê trong khu vực PCT trên địa bàn nội thành
Hà Nội; so sánh thu nhập giữa các nhóm đối tượng lao động, cũng như thu nhập của các ngành nghề; từ đó chỉ ra những mặt được và những vướng mắc, khó khăn cần tháo
Trang 17gỡ về thu nhập của lao động di cư làm thuê trong khu vực PCT trên địa bàn nội thành
Hà Nội Trên cơ sở đó, luận án đề xuất các quan điểm, phương hướng và giải pháp nhằm đảm bảo thu nhập hợp pháp của lao động di cư làm thuê trong khu vực PCT trên địa bàn nội thành Hà Nội
5 Kết cấu Luận án
Gồm phần mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo, các phụ lục và 4 chương
Chương 1: Tổng quan và phương pháp nghiên cứu
Chương 2: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về thu nhập của lao động di cư làm thuê trong khu vực phi chính thức tại các đô thị
Chương 3: Thực trạng thu nhập của lao động di cư làm thuê trong khu vực phi chính thức trên địa bàn nội thành Hà Nội
Chương 4: Phương hướng và giải pháp nhằm đảm bảo thu nhập của lao động di
cư làm thuê trong khu vực phi chính thức trên địa bàn nội thành Hà Nội
Trang 18Chương 1 TỔNG QUAN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.1 Tổng quan nghiên cứu có liên quan đến chủ đề Luận án
1.1.1 Những nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến chủ đề Luận án
Đã có nhiều nhà nghiên cứu nước ngoài đã công bố các công trình về di dân và hiện trạng về việc làm, thu nhập và đời sống của người lao động di dân làm việc tại các thành phố nói chung, khu vực phi chính thức nói riêng, Có thể nêu lên một số công trình như sau:
Trước hết là những nghiên cứu về khu vực phi chính thức
Đã có nhiều nghiên cứu về khu vực PCT Nghiên cứu của Hart (1973) đã đưa ra
thuật ngữ “Khu vực kinh tế phi chính thức” để mô tả một khu vực kinh tế truyền thống
ở các nền kinh tế đang phát triển Nguyên gốc, sự phân biệt giữa khu vực kinh tế chính thức và PCT là dựa trên sự phân biệt giữa lao động được trả lương và lao động tự làm ILO (2002) đã đưa ra khái niệm rộng rãi hơn khi coi Kinh tế phi chính thức bao gồm Khu vực KTPCT và Việc làm PCT
Ở Việt Nam, năm 2007, Viện Khoa học Thống kê và Đơn vị nghiên cứu Phát triển, Thể chế và Phân tích Dài hạn (DIAL) đã thiết kế một lược đồ điều tra để thu thập thông tin về khu vực KTPCT và việc làm phi chính thức ở Việt Nam Lược đồ này được xây dựng có sự tham khảo các khuyến nghị của các tổ chức quốc tế, có điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện của Việt Nam
Thứ hai, nghiên cứu về lao động phi chính thức
Theo cơ quan Thống kê Liên hợp quốc đã đưa ra khái niệm về lao động làm thuê của khu vực phi chính thức ở một số quốc gia Braxin coi đó là lao động làm thuê không có sổ lương; Mehicô coi đó là lao động làm thuê không tiếp cận được các dịch
vụ chăm sóc sức khỏe của nhà nước và tư nhân qua công việc của họ; Theo quan niệm của Parama, đó là lao động làm thuê không có hợp đồng lao động, cộng với lao động làm thuê có hợp đồng lao động nhưng không được trả bảo hiểm xã hội trực tiếp (không bao gồm lao động làm thuê đã nghỉ hưu hoặc được hưởng trợ cấp không được tiếp tục thanh toán bảo hiểm xã hội)”; Mali coi đó là lao động làm thuê không được người chủ đóng bảo hiểm xã hội, và không có trong danh sách được thưởng năm và trả chi phí
ốm đau; Cộng hoà Moldova gọi đó là lao động làm thuê mà người chủ không phải đóng bảo hiểm xã hội, hoặc là không được thưởng năm (hoặc hoa hồng), hoặc những
Trang 19người không được trả chi phí khi bị ốm hoặc bị tai nạn; Liên bang Nga gọi đó là lao động làm thuê không hợp đồng; Nhật Bản quan niệm đó là lao động làm thuê không được đăng ký bất kỳ loại bảo hiểm xã hội nào; Ấn Độ coi đó là lao động làm thuê không được hưởng bảo hiểm xã hội, thưởng năm hoặc trả chi phí khi bị ốm” (Tổ chức Lao động Quốc tế - ILO, 2007)
Thứ ba, nghiên cứu về việc làm phi chính thức và việc làm của lao động khu
vực phi chính thức
Hội nghị Thống kê lao động quốc tế 15 và 17 xác định năm loại việc làm theo tình trạng công việc là lao động tự làm, chủ sử dụng lao động, lao động gia đình, lao động làm công và thành viên của nhà sản xuất theo ba loại đơn vị sản xuất kinh doanh là khu vực kinh tế chính thức, khu vực kinh tế phi chính thức và hộ gia đình Theo đó đã xác định rõ các dạng việc làm phi chính thức (Tổ chức Lao động Quốc tế ILO, 2002)
Theo Linh trúc (2004), tại các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam, lực lượng lao động tham gia vào nền kinh tế phi chính thức chiếm một phần khá lớn Tại Việt Nam, việc làm trong khu vực phi chính thức phần lớn những việc làm mới đã được tạo ra từ khu vực kinh tế phi chính thức Họ gồm những lao động (LĐ) làm việc trong các DN phi chính thức (quy mô sản xuất nhỏ hoặc không phù hợp với quy định pháp luật); trong các doanh nghiệp chính thức nhưng công việc không được sự bảo vệ của xã hội, luật lao động; người làm việc trong hộ gia đình (giúp việc nhà) và lao động
ăn lương trong nhiều khu vực, kể cả khu vực Nhà nước, nhưng công việc không ổn định
Dễ nhận ra nhất là những người làm việc tự do (buôn bán, khuân vác, dịch vụ đơn giản) hay tự nguyện làm công cho người khác mà không hề được ký hợp đồng lao động
Nghiên cứu của Roxana Maurizio về Lao động phi chính thức và nghèo đói ở
Châu mỹ La tinh Trường hợp của Argentina, Brazin, Chile và Peru (Jean-Pierre, Đỗ
Hoài Nam và cộng sự, 2013) đã phân tích một số đặc điểm của lao động làm việc phi
chính thức (IE) và việc làm trong khu vực phi chính thức (EIS) tại bốn quốc gia là Argentina, Brazil, Chile và Peru
Thứ tư, nghiên cứu về di dân tìm làm việc phi chính thức tại các đô thị
Công trình Life earnings and Rural-Urban Migration (Kiếm sống và di cư nông
thôn thành thị) của tác giả: Robert.E Lucas, Jr tháng 6/2002 đã nghiên cứu thực trạng
di dân ở các nước Brazil, Philippin, Hàn Quốc, Mexico và phương thức kiếm sống của dân di cư ở các nước này
Công trình The earnings experience of rural-urban migrants in Korea (Kinh
nghiệm kiếm sống của người dân di cư nông thôn thành thị ở Hàn Quốc) của các tác
Trang 20giả Bun Song Lee (Đại học Seoul) và Joshep.M Phillip ( Đại học Creighton), Thời báo Kinh tế quốc tế, mùa đông năm 1997 đã phân tích kinh nghiệm thu được qua việc nghiên cứu dân di cư Hàn Quốc, cung cấp các dữ liệu dân di cư toàn quốc năm 1983
và các chính sách về lao động, việc làm, thu nhập và các chính sách xã hội khác đối với dân nhập cư
Công trình với tựa đề: Social factors of migration from rural to urban areas
with special reference to developing countries: the case of Korea (Các yếu tố xã hội của di cư nông thôn thành thị ở các nước đang phát triển: Nghiên cứu tình huống của Hàn Quốc) của tác giả Hyung Kook Kim, tốt nghiệp Đại Học Seoul, được xuất bản tại Pari, tháng 5/1980 đã phân tích rõ thực trạng di dân Hàn Quốc từ năm 1961 đến năm
1975, phân tích các thói quen di dân từ nông thôn ra thành thị (Seoul) Trên cơ sở đó
đã đề xuất các chính sách giải quyết thực trạng di dân từ nông thôn lên thành thị, các chiến lược phát triển kinh tế và chính sách dịch chuyển dân số
Công trình Rural-urban migration and the social mobility of individuas in
Republic of Korea: an analysis of life history data (Di cư nông thôn thành thị và biến động xã hội của người dân ở Hàn Quốc: Phân tích cuộc sống dựa trên số liệu thống kê) của Tai Hwan Kwon (Đại học quốc gia Seoul) và Kwang Hee Jun (Đại học quốc gia Chung Nam), đăng trong Thời báo kinh tế và phát triển Hàn quốc, tháng 12/1990 trên
cơ sở nguồn dữ liệu dân di cư từ năm 1949 đến năm 1983 đã nghiên cứu ảnh hưởng của di dân nông thôn, thành thị đến yếu tố xã hội của mỗi cá nhân; So sánh dân di cư
và dân bản địa, rút ra những kết luận về sự thành công của người dân di cư so với dân bản địa
Ngoài ra nhiều công trình có liên quan như Kim Kyeong-Duk, 2012 Chính sách
công nghiệp hoá nông thôn và thu nhập nông hộ ở Hàn Quốc: Tình trạng di cư nóng
từ nông thôn ra thành phố Du Peng (1998) Dân cư trôi nổi tại các thành phố lớn: vấn
đề và những biện pháp đối phó
Thứ năm, nghiên cứu về thu nhập của lao động phi chính thức
Cũng đã có một số công trình đưa ra phương pháp luận nghiên cứu về thu nhập của lao động làm thuê trong khu vực phi chính thức
Nghiên cứu của Roxana Maurizio về Lao động phi chính thức và nghèo đói ở
Châu mỹ La tinh Trường hợp của Argentina, Brazin, Chile và Peru (Jean-Pierre, Đỗ
Hoài Nam và cộng sự, 2013) không những phân tích đặc điểm của lao động làm việc
phi chính thức (IE) và việc làm trong khu vực phi chính thức (EIS) mà còn phân tích sự phân khúc thu nhập và tình trạng nghèo đói của lao động khu vực phi chính thức tại bốn
Trang 21quốc gia là Argentina, Brazil, Chile và Peru; nghiên cứu cũng chỉ ra nguyên nhân của sự phân khúc thu nhập và nguyên nhân nghèo đói gắn với trạng thái phi chính thức
Nghiên cứu của Viện Khoa học Thống kê (2012) về Khu vực phi chính thức
trong thống kê tài khoản quốc gia: Một số vấn đề phương pháp luận thì tài khoản thu nhập lần đầu của lao động làm thuê trong khu vực phi chính thức Nghiên cứu này chỉ
ra, thu nhập của lao động khu vực phi chính thức gồm hai khoản: i)Tiền lương, tiền công bằng tiền hay hiện vật; ii) Tiền thưởng, các khoản phúc lợi (Viện Khoa học Thống kê (2012 b)
Thứ sáu, những nghiên cứu về vai trò và những khó khăn thách thức đối với
lao động trong khu vực phi chính thức
Theo Linh trúc (2004), tỷ lệ đóng góp 30 - 60% vào thu nhập quốc gia của NLĐ trong các khu vực kinh tế phi chính thức cho thấy nền kinh tế này đã thực hiện được chức năng thiết yếu là tạo ra việc làm và tăng phúc lợi cho cả nhà sản xuất lẫn người tiêu dùng Khu vực này sử dụng nguồn lực vốn cố định một cách hiệu quả thông qua việc kết hợp nguồn vốn thấp với số lượng LĐ đông Đồng thời, tiết kiệm nhu cầu vốn lưu động bằng cách chia khâu sản xuất và tiêu thụ hàng hóa thành những quy mô nhỏ,
dễ quản lý Mặt khác, đối với những người nghèo, dân nhập cư, không bằng cấp, hộ khẩu, tay nghề thấp… thì việc được chấp nhận vào làm trong các DN phi chính thức là bước khởi đầu khả thi nhất để họ có thể tạo thu nhập, học tập, nâng cao tay nghề
Tuy nhiên, hiện nay, đối tượng LĐ này vẫn chưa được xã hội công nhận đúng mức cả về mặt pháp lý lẫn tâm lý Khó mà tìm thấy một công đoàn dành cho những người bán hàng rong hay trẻ em bán vé số, đánh giày Sự đánh giá của nhiều "người thành phố" đối với "dân nhập cư, dân hàng rong, trẻ đường phố" vẫn có phần xem thường, thương hại
Đồng Bá Hướng (2007) trong bài Di dân từ nông thôn vào đô thị - hiện trạng
và thách thức cho phát triển đô thị đăng trên Tạp chí Cộng sản điện tử số 14/2007 (134) đã chỉ ra những khó khăn, thách thức của người lao động từ nông thôn vào làm việc tại các đô thị, trong đó có lao động làm việc trong khu vực phi chính thức, nhất là vấn đề về tay nghề, nhà ở và tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản khác
Theo Linh Trúc (2004) Phần lớn LĐ trong khu vực kinh tế phi chính thức đều phải chấp nhận điều kiện làm việc kém, thu nhập thấp, không được hưởng quyền, nghĩa vụ lao động, quỹ phúc lợi xã hội, dịch vụ công ích cũng như không có cơ hội
để thăng tiến, tiếp cận với các nguồn lực tín dụng, khoa học kỹ thuật Nghiêm trọng hơn là tình trạng bóc lột, lạm dụng tình dục, sức lao động đối với phụ nữ, trẻ em Đơn
Trang 22giản vì họ ít được sự bảo vệ của công đoàn, pháp luật Các hoạt động tương trợ về xã hội, pháp lý cũng chưa tiếp cận sát với những đối tượng này Họ hoạt động gần như đơn độc, mối liên kết gần nhất, bền chặt nhất chính là giữa những người đồng cảnh ngộ "phi chính thức" với nhau
Theo Đặng Tiến (2010), điều kiện làm việc của NLĐ khu vực này rất khó khăn như: Thu nhập thấp, việc làm bấp bênh không ổn định, gần như không có BHXH và phần lớn vẫn chưa được hưởng lợi từ những chính sách đặc thù Tuy nhiên, các chính sách đó lại đóng góp rất lớn vào quá trình xóa đói, giảm nghèo Kết quả điều tra LĐ việc làm khu vực KTPCT tại TP.HCM năm 2008, điều kiện làm việc của NLĐ khó khăn, tạm bợ, thời gian làm việc nhiều và thu nhập thấp Không kể LĐ làm nông nghiệp, Hà Nội hiện có 132.300 người và TP.HCM là 343.700 người đang làm việc trong khu vực phi chính thức, chưa tính tới những người chủ đơn vị, người tự kinh doanh Trong đó, trên 60% không có hợp đồng với chủ sử dụng, 37% thỏa thuận miệng giữa đôi bên và chỉ khoảng 0,5% có hợp đồng lao động ngắn hạn hoặc dài hạn Những lao động này phần lớn không được hưởng bất kỳ một khoản phúc lợi nào từ hoạt động SXKD nơi mình làm việc Chỉ có khoảng 0,6% số LĐ được chia lợi nhuận, 0,8% được trả lương cho những ngày nghỉ lễ tết Do khu vực KTPCT không đăng ký kinh doanh nên pháp luật LĐ và BHXH dường như vẫn chỉ đứng bên ngoài, do vậy NLĐ làm việc nhiều nhưng thu nhập và các chế độ đãi ngộ rất thấp Đóng góp khoảng 20% vào GDP, nhưng làm cách nào để những LĐ này tiếp cận được với các chính sách, các dịch vụ xã hội đang là một thách thức lớn cần quan tâm
Gần đây nhất, trong nghiên cứu của Tống Thu Huyền (2016) về giảm nghèo của người nhập cư tại các đô thị lớn ở nước ta đã phân tích xu hướng di cư vào ba thành phố lớn nước ta là Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng Theo tác giả người lao động di cư vào các thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng có thu nhập bình quân thấp hơn so với thu nhập của người lao động sở tại, hơn ½ số người có thu nhập không ổn định; hơn 70% có trình độ giáo dục trung học phổ thông trở xuống, khó khăn trong tiếp cận bảo hiểm y tế, 91,29% lao động phổ thông nhập cư là thuê phòng trọ Như vậy vấn đề giải quyết việc làm và gắn liền với nó là ổn định thu nhập
và đời sống (y tế, giáo dục, nhà ở) là những vấn đề cần được quan tâm đối với người lao động nhập cư của các cấp chính quyền đô thị ở nước ta hiện nay
Thứ bảy, những nghiên cứu liên quan đến các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập
của lao động làm việc trong khu vực phi chính thức
Phạm Quý Thọ (2000) trong đề tài Cấp bộ Ảnh hưởng của di dân từ nông thôn
ra thành thị và việc làm của dân cư trong giai đoạn CNH, HĐH đã phân tích quy mô
Trang 23di dân từ nông thôn ra thành thị (Hà Nội), ảnh hưởng của di dân nông thôn đến việc làm và mức sống, chỉ ra hiện trạng hoạt động kinh tế và việc làm của lao động di cư, mức sống của người di dân từ nông thôn ra Hà Nội làm việc trong khu vực chính thức nói chung, khu vực phi chính thức nói riêng; đồng thời đã đề xuất một số biện pháp để điều tiết di dân nông thôn thành thị nhằm tạo việc làm và nâng cao mức sống như quy hoạch và mở rộng phát triển kinh tế xã hội Hà Nội, hình thành và phát triển các hình thức dịch vụ, hoàn thiện chính sách quản lý nhân khẩu
Đặng Duy Anh (2008) Bảo trợ xã hội và di cư lao động từ nông thôn ra thành
thị, trình bày tại Hội thảo An sinh xã hội tổ chức tại trường Đại học Kinh tế quốc dân
đã đề cập đến vấn đề nhu cầu bảo trợ xã hội cho lao động di cư nông thôn thành thị, phân tích những vấn đề có liên quan tới bảo trợ xã hội dưới góc độ lao động di cư, đề xuất một số giải pháp như hỗ trợ việc làm, tăng tiền lương tối thiểu, giảm chi phí di cư giúp cho lao động di cư ổn định cuộc sống, chăm sóc sức khỏe, chống tệ nạn xã hội, hòa nhập và phát triển
Gần đây nhất trong Nhiệm vụ hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ theo nghị định thư năm 2011 về Chính sách xã hội đối với di dân nông thôn - thành thị: Kinh nghiệm Hàn Quốc và vận dụng cho Việt Nam do Mai Ngọc Cường (2013)
Trường Đại học Kinh tế quốc dân chủ trì đã có khuyến nghị “Đối với người lao động
di cư ra làm việc trong khu vực phi chính thức tại các thành phố cần có chính sách
nâng cao năng lực tự tạo việc làm cho lao động ở khu vực phi chính thức, đặc biệt là các lao động nhập cư làm việc trong khu vực phi chính thức; tuyên truyền, phổ biến kiến thức pháp luật cho người lao động di cư đang làm việc trong khu vực phi chính thức; Có chính sách hỗ trợ việc hình thành và phát triển “mạng lưới xã hội” của lao động di cư làm việc trong khu vực phi chính thức tại các thành phố lớn trong toàn quốc giúp người lao động nhập cư nhanh chóng “hòa nhập” tại nơi đến trong vấn đề việc làm, thu nhập cũng như bảo hiểm xã hội và các vấn đề phúc lợi khác; thường xuyên kiểm tra, giám sát và có các biện pháp cứng rắn đối với những người vi phạm Luật lao động để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người lao động”
Ngoài ra còn có nhiều công trình nghiên cứu một số khía cạnh có liên quan đến
di dân, việc làm, thu nhập và đời sống của người lao động trong khu vực phi chính
thức khác như Rolf Jensen, Donald M Pappard JR., Vũ Thị Minh Thắng, 2009, Di cư
“Tuần hoàn” của phụ nữ ở Việt Nam: Một nghiên cứu về người bán hàng rong tại Hà Nội ; Mai Ngọc Anh (2012) Nghiên cứu thực nghiệm tình trạng thu nhập, chi tiêu của
nông hộ có lao động di cư ở một số tỉnh Bắc Trung Bộ Việt Nam Lê Xuân Bá (2009):
Hiện tượng di dân đến thành phố: nhận định và đề xuất chính sách Nguyễn Đình Cử
Trang 24(2012) Di dân: Thực trạng, xu hướng và khuyến nghị chính sách Nguyễn Hữu Dũng (2012) Hoàn thiện môi trường thể chế thực hiện chính sách xã hội trong điều kiện di
dân nông thôn - thành thị ở nước ta. Lê Bạch Dương, Khuất Thu Hồng (Đồng chủ
biên), 2008, Di dân và bảo trợ xã hội ở Việt Nam trong thời kỳ quá độ sang nền kinh tế
thị trường Đào Bích Hà, 2009, Hiện trạng công việc và đời sống của nữ nhập cư làm
giúp việc tại TP Hồ Chí Minh Bùi Thị Hạnh, Nguyễn Thị Thiềng, 2012, Chất lượng
cuộc sống của thanh niên nông thôn di cư đến Hà Nội làm việc trong khu vực phi chính thứ c Đỗ Minh Khuê và cộng sự (2007), Những vấn đề an sinh xã hội của nhóm
dân cư lao động trong khu vực kinh tế phi chính thức ở đô thị Trịnh Duy Luân (2012)
Di dân nông thôn - đô thị ở Việt Nam hiện nay và kinh nghiệm của Hàn Quốc giai đoạn 1960-1985. Kỷ yếu Hội thảo “Chính sách xã hội đối với di dân nông thôn-thành
thị” Bùi Sỹ Lợi (2012) Quan điểm và phương hướng hoàn thiện chính sách xã hội
trong điều kiện di dân nông thôn-thành thị ở nước ta những năm tới Nguyễn Đình
Long, Nguyễn Hoài Nam (2012) Vấn đề lao động nông thôn di cư ra thành thị ở nước
ta hiện nay: Thực trạng và khuyến nghị Vũ Hoàng Ngân (2008): Một số giải pháp
nhằm nâng cao mức sống của người di cư tới Hà Nội Lưu Bích Ngọc, Nguyễn Thị
Thiềng, 2011, Chăm sóc sức khỏe của thanh niên di cư làm việc trong khu vực phi
chính thức tại Hà Nội , Bùi Minh Quỳnh Như, 2007, Thanh thiếu niên nhập cư ở Hà
Nội: Điều kiện sống, nhận thức và hành vi của họ đối với sức khỏe sinh sản, Tạp chí
Xã hội học số 2 (98) Trần Quỳnh (1993): Người thủ đô tìm việc làm - gánh nặng quá
tải của Hà Nội , Nguyễn Nam Phương (2001): Thực trạng việc làm của người chuyển
cư từ nông thôn tới Hà Nội Lê Châu Thành (1998) Dân nhập cư với vấn đề phát triển
đô thị lớn như Thành phố Hồ Chí Minh Nguyễn Thị Thiềng và cộng sự, 2009, Báo
cáo nghiên cứu Thanh thiếu niên di cư làm việc trong khu vực phi chính thức tại Hà
Nội , Hà Nội - 5/2009, 213 trang Hoàng Bá Thịnh, 2012, Lao động nữ di cư làm việc ở
khu vực phi chính thức và mức độ tiếp cận an sinh xã hội, Tham luận Hội thảo quốc tế
An sinh xã hội cho khu vực nông thôn Việt Nam - Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt
Nam Minh Bắc (2010) Chính sách nào cho khu vực kinh tế phi chính thức? Yến Hoa - Hữu Tài (2013) Người lao động ở khu vực kinh tế phi chính thức: Thiệt thòi đủ điều;
Đặng Tiến (2010) Việc làm tại khu vực kinh tế phi chính thức: Hàng triệu lao động
chưa được hưởng an sinh xã hội ; Linh Trúc (2004) Lao động phi chính thức - ít lợi
ích, nhiều thiệt thòi.
1.1.2 Những khoảng trống và câu hỏi nghiên cứu
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu đã được công bố trong nước và ngoài nước đã đề cập đến những khía cạnh khác nhau, ở các mức độ khác nhau liên quan đến
Trang 25vấn đề việc làm, thu nhập và đời sống của người lao động di cư tới làm việc tại các thành phố, kể cả trong khu vực chính thức cũng như trong khu vực phi chính thức Tuy nhiên, việc phân tích vấn đề này chỉ mới nêu lên những nét chấm phá, mang tính chất
mô tả hiện trạng thu nhập thấp của người lao động làm việc trong khu vực phi chính thức là chính Nhưng thu nhập thấp là so với chuẩn nào? Ngành nghề nào có thu nhập thấp? Vì sao thu nhập của họ lại thấp? Thì hầu như chưa có sự phân tích thỏa đáng Có thể nói cho đến nay chưa có một công trình nào đề xuất một cách có hệ thống, có tính chất thuyết phục về các biện pháp nâng cao thu nhập cho người lao động di cư ra thành phố làm việc trong khu vực phi chính thức Trong khi đó, tình hình di cư ra thành phố làm việc trong khu vực phi chính thức vẫn đang có xu hướng gia tăng, việc nghiên cứu các yếu tố nhằm nâng cao thu nhập của đối tượng này đang đặt ra nhiều vấn đề phải giải quyết cả về lý luận và thực tiễn Có thể nêu lên những vấn đề sau đây đang đòi hỏi phải có câu trả lời rõ ràng, có hệ thống và căn cứ khoa học thuyết phục hơn:
Thứ nhất, lao động di cư ra thành phố làm thuê trong khu vực phi chính thức
có những đặc điểm gì?
Thứ hai, thu nhập của lao động di cư ra thành phố làm thuê trong khu vực phi
chính thức bao gồm những bộ phận nào?
Thứ ba, những yếu tố nào tác động đến thu nhập của lao động di cư ra thành
phố làm thuê trong khu vực phi chính thức? Trong các yếu tố đó, yếu tố nào có tác động làm tăng thu nhập, yếu tố nào làm giảm thu nhập của người lao động?
Thứ tư, thực trạng các yếu tố tác động đến thu nhập của người lao động di cư
đến Hà Nội làm thuê trong khu vực phi chính thức hiện nay như thế nào? Mức độ tác động của các yếu tố này ra sao? Những thành tựu và hạn chế là gì? Nguyên nhân nào hạn chế thu nhập của người lao động di cư ra thành phố làm thuê ở khu vực phi chính thức?
Thứ năm, làm thế nào để hoàn thiện các yếu tố tác động đến thu nhập của
người lao động di cư ra thành phố Hà Nội làm thuê trong khu vực phi chính thức những năm tới?
1.2 Về phương pháp nghiên cứu
1.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu được thiết kế nhằm làm rõ các yếu tố tác động đến thu nhập của lao động làm thuê trong khu vực phi chính thức
Thứ nhất, là thu nhập và cơ cấu thu nhập của người lao động Đối với lao động
Trang 26làm thuê, nó bao gồm tiền lương, tiền công; tiền thưởng và các khoản thu khác hỗ trợ
từ chủ sử dụng lao động, như tiền nhà ở, quần áo, ; Các khoản trợ cấp, trợ giúp của nhà nước, các tổ chức xã hội…
Thứ hai, là các yếu tố tác động đến thu nhập của lao động bao gồm:
Nhóm yếu tố liên quan đến bản thân người lao động như tinh thần, thái độ, ý thức của người lao động, thời gian và cường độ lao động, kỹ năng nghề nghiệp của người lao động; ngành nghề mà họ làm việc
Nhóm yếu tố liên quan đến chủ thuê lao động như tính chất ngành nghề mà người lao động làm việc, trình độ khoa học công nghệ và trình độ quản lý của chủ kinh doanh cũng như mối quan hệ chủ thợ;
Nhóm yếu tố liên quan đến cung cầu lao động
Nhóm yếu tố liên quan đến chính sách và tổ chức quản lý của nhà nước như các chính sách về tiền công, về thời gian làm việc, hợp đồng lao động, các chính sách hỗ trợ của nhà nước; công tác tổ chức quản lý, kiểm tra giám sát của nhà nước và phối hợp trong quản lý thực hiện chế độ chính sách đối với lao động phi chính thức; Tác động của khu vực chính thức đến KVPCT
Từ đó, khung nghiên cứu của Luận án được cụ thể như sau:
Khung nghiên cứu của Luận án
Yếu tố tác động đến
thu nhập
Thu nhập của lao động làm thuê khu vực phi chính thức
Các tiêu chí nghiên cứu
1.Nhóm yếu tố liên quan đến
bản thân người lao động;
2 Nhóm yếu tố về điều kiện
Các khoản trợ cấp, trợ giúp của nhà nước, các
tổ chức xã hội…
1 Các tiêu
chí liên quan đến yếu tố tác động
2 Các tiêu chí về thu
nhập
Trang 271.2.2 Phương pháp tiếp cận nghiên cứu
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu truyền thống như duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, tiếp cận so sánh, kết hợp với các phương pháp khác như phân tích thống kê mô tả, tiếp cận hệ thống, liên ngành… để làm rõ thu nhập và tác động của các nhân tố đến thu nhập Các phân tích được sử dụng với mục đích tìm ra những thuận lợi, khó khăn trong việc nâng cao thu nhập, từ đó có khuyến nghị phương hướng
và giải pháp nhằm cải thiện điều kiện nâng cao thu nhập của các nhóm lao động di cư
ra thành phố làm thuê trong khu vực phi chính thức Cụ thể là:
Sử dụng và phân tích thống kê mô tả: đề tài sử dụng phương pháp này để phân tích tài liệu từ các công trình đã công bố để làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn điều tra khảo sát về thu nhập và yếu tố tác động đến thu nhập của lao động di cư làm thuê trong khu vực phi chính thức tại các thành phố nói chung, trên địa bàn thành phố
Hà Nội nói riêng
Tiếp cận hệ thống: Theo cách tiếp cận này, đề tài trước tiên sẽ làm rõ đặc điểm lao động việc làm của các nhóm đối tượng lao động di cư ra thành phố làm thuê trong khu vực phi chính thức; xác định các yếu tố tác động đến thu nhập của các nhóm đối tượng này; phân tích đánh giá thực trạng các yếu tố tác động đến thu nhập của các nhóm đối tượng nghiên cứu trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay; đề xuất phương hướng và giải pháp cải thiện các yếu tố tác động đến thu nhập của các nhóm người lao động di cư làm thuê trong khu vực phi chính thức trên địa bàn thành phố Hà Nội những năm tới
Tiếp cận liên ngành: Việc nâng cao thu nhập của người lao động nói chung, người lao động khu vực phi chính thức nói riêng không chỉ là trách nhiệm của các chủ doanh nghiệp, của bản thân người lao động mà còn là trách nhiệm của nhà nước, trực tiếp là các Sở Lao động Thương binh và Xã hội, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính,
Sở Công Thương, các cơ sở đào tạo, các quận huyện… cũng như các đơn vị chức năng trực thuộc sự quản lý của các phòng ban ở các Sở này Do đó, việc cải thiện các yếu tố tác động đến thu nhập của người lao động di cư làm thuê trong khu vực phi chính thức trên địa bàn thành phố không chỉ phụ thuộc vào trách nhiệm và năng lực của các chủ thuê lao động và bản thân người lao động, mà còn là sự phối kết hợp trong tổ chức triển khai hoạt động của các cơ quan quản lý của chính quyền địa phương trên địa bàn nghiên cứu Cách tiếp cận này do đó giúp đề tài có cái nhìn tổng quát đối với việc cải thiện điều kiện nâng cao thu nhập cho các nhóm đối tượng lao động di cư làm việc trong khu vực phi chính thức trên địa bàn Hà Nội
Trang 281.2.3 Phương pháp thu thập số liệu
Thứ nhất, thu thập số liệu sơ cấp
Để thu thập tài liệu sơ cấp, đề tài tiến hành điều tra, phỏng vấn ba nhóm đối tượng là người lao động, các chủ kinh doanh thuê lao động và cán bộ quản lý trên địa bàn 4 quận nội thành của thành phố Hà Nội là Quận Hai Bà Trưng, Quận Hoàng Mai, Quận Thanh Xuân và Quận Hà Đông Sở dĩ chọn 4 quận này là vì đây là các quận giáp ranh với khu vực nông thôn, trong đó có hai quân mới thành lập là quận Hoàng Mai và Quận Hà Đông và số cơ sở sản xuất phi chính thức ở các quận này cũng khá phát triển
Về số lượng mẫu phiếu Hiện nay có nhiều quan niệm khác nhau về số lượng mẫu phiếu phục vụ nghiên cứu các đề tài luận án tiến sỹ Có ý kiến cho rằng mẫu phiếu khoảng 100-150 (Nunnally anh Burnstein, 1994), có ý kiến khoảng 200 (Hoelter, 1983) Cũng có ý kiến là kích thước mẫu bằng 4-5 lần số biến trong bảng câu hỏi (Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Mai Trang, 2007) Với dự kiến bảng hỏi khoảng 55 đến 60 nhận định nên dự phiếu số phiếu điều tra và phỏng vấn là 360 phiếu cụ thể như sau:
Đối với các nhóm đối tượng lao động, tác giả sẽ tiến hành khảo sát trên địa bàn 4 quận Toàn thành phố sẽ điều tra 240 lao động thuộc bốn nhóm ngành là xây dựng và phục vụ xây dựng; sản xuất tiểu thủ công nghiệp, sửa chữa ô tô, xe máy; phục vụ trong các cửa hàng, cửa hiệu; giúp việc gia đình
Đối với chủ sử dụng lao động, luận án tiến hành điều tra khảo sát 60 đối tượng trong cả bốn nhóm trên, mỗi nhóm 15 hộ
Đối với đội ngũ cán bộ quản lý: tác giả sẽ phỏng vấn 60 phiếu cán bộ lãnh đạo, quản lý và các nhà khoa học các cấp Trong đó 30 phiếu cấp quận và phường, 30
phiếu cấp thành phố, sở ban ngành và các cơ quan chức năng trực tiếp quản lý (Xem
bảng 1.1)
Thứ hai, xây dựng bảng hỏi và tiến hành điều tra khảo sát thu thập số liệu sơ
cấp theo cơ cấu trên, Luận án tiến hành xây dựng các bảng hỏi ba nhóm đối tượng là người lao động di cư làm thuê trong khu vực phi chính thức, chủ kinh doanh và cán
bộ quản lý nhà nước Các bảng hỏi này nhằm thu thập được đánh giá cảm nhận của các đối tượng có liên quan đến những vấn đề về các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của lao động làm thuê khu vực phi chính thức
Trang 29Bảng 1.1 Phân bổ phiếu khảo sát và phỏng vấn như sau Cán bộ quản lý Khu vực sản xuất kinh doanh
Quận, Phường Xây dựng và phục vụ xây
dựng
Sản xuất tiểu thủ công nghiệp, sửa chữa ô
tô, xe máy
Phục vụ trong các cửa hàng,
cửa hiệu
Giúp việc gia đình Lao động
cư làm thuê trong khu vực phi chính thức về điều kiện môi trường tự nhiên, môi trường xã hội, tính chất ngành nghề, về quan hệ chủ thợ và các chính sách của nhà nước đối với họ
Đối với nhóm đối tượng là các chủ kinh doanh, bảng hỏi nhằm thu thập được những ý kiến đánh giá của chủ kinh doanh về tinh thần, thái độ, sức khỏe, kỹ năng của người lao động và các chủ trương, chính sách, tổ chức quản lý
Đối với đội ngũ cán bộ quản lý: bảng hỏi thu thập ý kiến đánh giá được tình hình di cư vào thành phố làm việc trong khu vực phi chính thức Tình hình điều kiện lao động, việc làm như cường độ lao động, thời gian lao động, tình trạng sức khỏe,
kỹ năng của người lao động; trình độ tổ chức, quản lý và công nghệ của tiểu chủ cũng như chủ kinh doanh, quan hệ chủ - thợ và thu nhập của người lao động Đánh giá về các chủ trương chính sách của nhà nước đã ban hành có liên quan đến lao động làm thuê trong khu vực phi chính thức, công tác tổ chức quản lý lao động làm thuê trên địa bàn
Trang 30Thứ ba, các thước đo và thang đo đánh giá mức độ quan trọng và thực tế của
các nhóm yếu tố tác động đến thu nhập của người lao động được xây dựng bằng cách
sử dụng thang đo Likert 5 điểm Để thuận tiện cho việc nhận xét khi sử dụng giá trị trung bình đánh giá mức độ tác động đối với từng yếu tố tới thu nhập của người lao động tác giả quy ước
Bảng 1.2 Thang đánh giá Likert
1.2.4 Phương pháp phân tích dữ liệu
+ Về kỹ thuật phân tích, các kỹ thuật chính được sử dụng bao gồm:
Kỹ thuật phân tích dữ liệu định tính thông thường trên cơ sở tập hợp các ý chính nổi bật qua các cuộc khảo sát, phỏng vấn theo các nhóm đối tượng, hoặc với sự trợ giúp của phần mềm exel
Kỹ thuật phân tích số liệu điều tra: Kỹ thuật phân tích thông thường như thống
kê mô tả nhằm nêu ra bức tranh tổng thể và đa chiều về hiện trạng thu nhập của lao động làm thuê khu vực phi chính thức
+ Về công cụ phân tích và nghiên cứu, các công cụ chính sẽ được sử dụng là phần mềm máy tính chuyên dụng Với những công cụ phần mềm chuyên dụng của máy tính sẽ cho phép xử lý các số liệu điều tra đã thu thập được trong quá trình khảo sát thực tế (cụ thể là SPSS và các phần mềm phân tích tiên tiến khác như AMOS)
Trang 31Tiểu kết chương 1
Trong Chương 1, Luận án đã tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước về việc làm và thu nhập của lao động làm thuê trong khu vực phi chính thức và trình bày các phương pháp nghiên cứu của Luận án Các vấn đề có liên quan đến chủ đề nghiên cứu mà nhiều tác giả trong và ngoài nước đã đề cập đến bao gồm: i) Nghiên cứu về
khu vực phi chính thức; ii) Nghiên cứu về lao động phi chính thức; về việc làm phi
chính thức và việc làm của lao động khu vực phi chính thức; về di dân tìm việc làm phi chính thức tại các đô thị; về thu nhập của lao động làm thuê trong khu vực phi chính thức iii) Nghiên cứu về vai trò và những khó khăn thách thức đối với lao động trong khu vực phi chính thức; iv) Nghiên cứu liên quan đến các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của lao động làm thuê trong khu vực phi chính thức
Trên cơ sở đó, Luận án đã chỉ ra những khoảng trống như: Thu nhập của người lao động di cư ra thành phố làm thuê trong khu vực phi chính thức có những đặc điểm
gì và bao gồm những khoản nào? Những yếu tố nào tác động đến thu nhập của lao động
di cư ra thành phố làm thuê trong khu vực phi chính thức? Trong các yếu tố đó, yếu tố nào có tác động làm tăng thu nhập, yếu tố nào làm giảm thu nhập của người lao động?
Trên cơ sở đó đã lựa chọn mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận
án, xây dựng khung nghiên cứu và các phương pháp lựa chọn để nghiên cứu chủ đề
Trang 32Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THU NHẬP CỦA LAO ĐỘNG DI CƯ LÀM THUÊ TRONG KHU VỰC PHI
CHÍNH THỨC TẠI CÁC ĐÔ THỊ 2.1 Một số vấn đề về khu vực phi chính thức và lao động di cư làm thuê
trong khu vực phi chính thức
2.1.1 Một số vấn đề về khu vực phi chính thức
2.1.1.1 Quan niệm về khu vực phi chính thức
Thuật ngữ "khu vực phi chính thức" lần đầu tiên được sử dụng ở Kenya cách đây khoảng 40 năm, từ đó bắt đầu hình thành hệ thống quan điểm và phương pháp tiếp cận đầu tiên liên quan đến khu vực kinh tế phi chính thức (Viện Khoa học Lao động và
Xã hội, 2012) Khái niệm khu vực phi chính thức đã được tiếp tục thảo luận và phát triển ở Mỹ Latinh trong những năm 1980 (CLing cùng các cộng sự, 2010) Sau đó, đến năm 1993, ILO và Cơ quan thống kê của Liên hợp quốc đã đạt được sự đồng thuận chung về một định nghĩa cho khu vực phi chính thức (Hussmanns 2010) Các nước thuộc tổ chức OECD cũng áp dụng cách tiếp cận này (OECD 2009) Theo sự đồng thuận chung này, khu vực phi chính thức được hiểu là:
“Khu vực phi chính thức” mang đặc trưng chung bao gồm các cơ sở sản xuất kinh doanh, hoạt động với quy mô nhỏ, có mức độ tổ chức thấp, không phân biệt yếu tố đầu vào cho sản xuất, kinh doanh là lao động hay vốn hoặc nếu có phân biệt thì ở mức độ thấp, và với mục tiêu chính là việc tạo thu nhập và việc làm cho những người có liên quan
Ở khía cạnh vận hành hoạt động sản xuất kinh doanh, khu vực này được xác định dựa trên cơ sở những quy định cụ thể của từng quốc gia, thường là những cơ sở sản xuất kinh doanh không có tư cách pháp nhân, thuộc sở hữu của hộ gia đình, sản xuất ít nhất là một số sản phẩm cung cấp ra thị trường, có thể có quy định giới hạn hoặc không giới hạn về số lượng người lao động, và (hoặc) không cần đăng ký theo các quy định pháp luật liên quan của quốc gia, ví dụ như các quy định về nghĩa vụ thuế, an sinh xã hội, hoặc các quy định theo đạo luật khác
Theo cách hiểu trình bày ở trên, định nghĩa về khu vực phi chính thức gồm hai phần rõ rệt Phần đầu của định nghĩa đề cập đến những đặc trưng về tài sản, vật chất được thừa nhận như những đặc điểm thực tế và những nét chung của các doanh nghiệp khu vực phi chính thức, đó là quy mô hoạt động nhỏ lẻ và mức độ tổ chức thấp (Cling cùng các cộng sự, 2010) Phần này giúp chúng ta hiểu về khu vực phi chính thức nói
Trang 33chung Tuy nhiên, với cách thể hiện từ ngữ chưa rõ ràng như vậy, nó không chỉ ra được tiêu chí để xác định sự khác biệt
Phần thứ hai của định nghĩa liên quan đến khía cạnh vận hành sản xuất kinh doanh Nó chỉ ra rằng để nhận dạng và tiếp cận khu vực này, từng quốc gia có quy định chính thức theo pháp luật tương ứng Khía cạnh này liên quan đến tình trạng không thực hiện đầy đủ các yêu cầu của pháp luật, hoặc không cần thực hiện đăng ký
Vì lý do này, định nghĩa về khu vực phi chính thức từ khía cạnh vận hành hoạt động sản xuất kinh doanh chủ yếu dựa trên hệ thống pháp luật tương ứng, có thể đưa ra các tiêu chí phân biệt rõ ràng và phù hợp (hệ thống pháp luật tương ứng càng cụ thể thì việc xác định thế nào là cơ sở thuộc khu vực phi chính thức càng rõ ràng)
Nhằm hướng tới một định nghĩa hoàn chỉnh, cần lưu ý rằng nhiều quốc gia đã quyết định không đưa các hoạt động nông nghiệp vào định nghĩa khu vực phi chính thức (khía cạnh hoạt động) - do bản chất đặc thù và cụ thể của các hoạt động này về quy định pháp luật, về mức độ thu nhập, tính mùa vụ và hình thức tổ chức lao động Hơn nữa cũng cần phải phân biệt các hoạt động của khu vực phi chính thức với nền kinh tế ngầm (ví dụ như thị trường chợ đen) hay nền kinh tế bất hợp pháp (ví dụ như bán thuốc không theo đơn) là những hoạt động với mục đích cố ý trốn thuế hoặc các nghĩa vụ đóng góp an sinh xã hội khác, và đó là hành vi vi phạm pháp luật lao động hoặc các quy định hành chính, pháp luật khác
Từ định nghĩa quốc tế, xét khía cạnh vận hành hoạt động sản xuất kinh doanh, khu vực kinh tế phi chính thức bao gồm các cơ sở sản xuất kinh doanh không có tư cách pháp nhân thuộc sở hữu của hộ gia đình có số lao động dưới mức phải đăng ký theo quy định của pháp luật, và (hoặc) không đăng ký theo luật pháp quốc gia Do tính chất này, không thể đưa ra định nghĩa mô tả tính chất “tĩnh” của khu vực kinh tế phi chính thức Việc đưa ra định nghĩa nhất thiết phải gắn với quy định pháp luật hiện hành về đăng ký kinh doanh
Việt Nam đã ban hành quy định pháp luật về đăng ký kinh doanh đối với doanh nghiệp và đăng ký kinh doanh hộ gia đình Đăng ký kinh doanh hộ gia đình được quy định tại điều 49-56 của Nghị định số 43/2010/NĐ-CP Nhưng điều đáng lưu ý là không phải tất cả các hộ kinh doanh đều đăng ký Luật pháp quy định rõ: “Hộ gia đình sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, làm muối và những người bán hàng rong, quà vặt, buôn chuyến, kinh doanh lưu động, làm dịch vụ có thu nhập thấp không phải đăng ký, trừ trường hợp kinh doanh các ngành, nghề có điều kiện” (Chính phủ, 2010) không phải đăng ký kinh doanh Hộ kinh doanh nhỏ với thu nhập thấp không phải đăng ký kinh doanh, trừ khi họ tiến hành kinh doanh các ngành, nghề kinh doanh có điều kiện
Trang 34Điều này có nghĩa là tất cả các hộ kinh doanh với mức thu nhập thấp hơn một ngưỡng quy định nào đó sẽ được miễn đăng ký Điều này cũng áp dụng cho người buôn bán nhỏ, bán hàng rong, kinh doanh lưu động, v.v Uỷ ban nhân dân các tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương quyết định mức thu nhập là căn cứ áp dụng, theo đó quyết định
hộ kinh doanh có phải đăng ký hay không Hộ kinh doanh thường xuyên sử dụng trên mười lao động phải đăng ký kinh doanh như một doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp
Theo cách hiểu quốc tế, khu vực phi chính thức là tất cả các cơ sở sản xuất kinh doanh không phải hoặc không thực hiện đăng ký kinh doanh Các hoạt động nông nghiệp không tính vào khu vực này do bản chất đặc thù của nó (Cling cùng các cộng
sự 2010, Pierre, 2012) Theo đó, khu vực phi chính thức ở Việt Nam bao gồm:
• Hộ kinh doanh nhỏ (không cần phải đăng ký theo quy định của pháp luật)
• Hộ sản xuất kinh doanh theo luật phải đăng ký kinh doanh nhưng trốn không đăng ký kinh doanh
• Các doanh nghiệp, theo luật doanh nghiệp phải đăng ký kinh doanh nhưng trốn không đăng ký kinh doanh
Như vậy, khu vực kinh tế phi chính thức gồm các nhóm doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh không chính thức khác nhau Tính không chính thức thể hiện và bao gồm cả hai nhóm, một nhóm là hộ kinh doanh không đăng ký nhưng hợp pháp vì
họ có mức thu nhập thấp dưới ngưỡng quy định, một nhóm khác là hộ kinh doanh theo quy định phải đăng ký nhưng họ không đăng ký, tức là hoạt động trái luật và thu nhập của họ vượt ngưỡng quy định, hoặc họ sử dụng trên 10 lao động Ước tính có đến 78%
hộ kinh doanh không chính thức có thể đang hoạt động trái luật trên toàn quốc bởi vì thu nhập của họ vượt ngưỡng quy định (Cling và cộng sự, 2010)
2.1.1.2 Vai trò của khu vực phi chính thức trong nền kinh tế
Hiện nay trái với các dự đoán trước đây, khu vực kinh tế phi chính thức và việc làm phi chính thức đã không biến mất khi kinh tế tăng trưởng và phát triển Khu vực kinh tế phi chính thức không chỉ tiếp tục tồn tại trong những thập kỷ vừa qua mà còn gia tăng ở nhiều nước dưới tác động của toàn cầu hóa, và ngày càng gia tăng từ cuối thập kỷ qua khi cuộc khủng hoảng tài chính quốc tế diễn ra Các chiến lược giảm thiểu chi phí và sự cạnh tranh toàn cầu khiến các doanh nghiệp chính thức (kể cả các công ty
đa quốc gia) ngày càng thuê nhiều lao động bên ngoài khu vực phi chính thức, nơi những người lao động không được hưởng các lợi ích của hệ thống bảo hộ lao động (Portes và những người khác, 1989) Từ cuối những năm 1980, De Soto (1994) cho
Trang 35rằng nhiều lao động phi chính thức “lựa chọn” khu vực này để tránh các thủ tục của nhà nước vừa bó buộc, vừa không hiệu quả Nhiều nhà khoa học khác cũng nhấn mạnh rằng việc gia nhập khu vực phi chính thức có thể là sự lựa chọn dựa trên sở thích cá nhân và các đặc điểm của từng loại công việc (Perry và những người khác, 2007)
Ở Việt Nam, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra vị trí, vai trò của khu vực kinh tế PCT Tựu trung lại, có thể nhìn nhận ý nghĩa tầm quan trọng và vị trí vai trò của khu vực phi chính thức trên các khía cạnh sau đây:
Thứ nhất, khu vực PCT đóng vai trò quan trọng trong chuyển đổi việc làm từ
khu vực nông nghiệp sang khu vực công nghiệp, dịch vụ Nhờ có sự phát triển của khu vực kinh tế PCT mà các quốc gia tiến hành công nghiệp hóa đã giải quyết được tình trạng dư thừa lao động của khu vực nông thôn Thực tiễn cho thấy, trong điều kiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa (CNH, HĐH, ĐTH), việc phát triển các khu công nghiệp, khu đô thị dẫn đến tình trạng ở các vùng nông thôn, vùng quê đã lấy
đi một diện tích khá lớn đất đai nông nghiệp, dẫn đến tình trạng dư thừa lao động trong nông thôn Do mất đất, người dân phải rời bỏ đồng quê, rời bỏ nghề nghiệp quen thuộc
là gắn bó với đồng ruộng với con trâu cái cày để kiếm sống tại các đô thị và làm việc trong khu vực kinh tế PCT Chính vì thế, khu vực kinh tế PCT có vị trí quan trọng trong việc đáp ứng chuyển đổi việc làm từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ trong quá trình CNH, HĐH, ĐTH đất nước
Thứ hai, khu vực kinh tế PCT có vai trò vô cùng lớn trong giải quyết việc làm
cho cả khu vực thành thị cũng như khu vực nông thôn Nhiều nghiên cứu về khu vực kinh tế PCT ở Việt Nam cho thấy, “tại nông thôn, trong ba việc làm thì có hai việc làm thuộc khu vực kinh tế phi chính thức Tại thành thị, nơi các hoạt động kinh tế chính thức tập trung đông đảo, tỷ lệ này cũng chiếm tới 41%; Năm 2004 khu vực phi chính thức của Việt Nam mang lại hơn 10 triệu việc làm, chiếm khoảng 27,7% lực lượng lao động cả nước và chiếm 55,7% số lao động phi nông nghiệp” (Thành Trung, 2009)
Khu vực kinh tế PCT cũng đóng góp quan trọng cho GDP của quốc gia, trước hết là các quốc gia đang phát triển Chẳng hạn ở Việt Nam “năm 2004 khu vực này đóng góp 20% cho GDP Hiện nay, tại Hà Nội khu vực phi chính thức sử dụng tới 30% lực lượng lao động, tại TP.HCM là 32,9% và một phần ba số hộ gia đình tại hai thành phố lớn nhất nước có nguồn thu nhập từ khu vực trên” (Thành Trung, 2009)
Thứ ba, khu vực kinh tế phi chính thức đáp ứng kịp thời các nhu cầu trong nhiều lĩnh vực cả về sản xuất và đời sống, góp phần đảm bảo các điều kiện cho sự phát triển kinh tế - xã hội bình thường Nhiều ý kiến cho rằng,” nếu không có “phi chính
Trang 36thức”, chắc chắn rất nhiều lĩnh vực sản xuất, dịch vụ, phân phối trong nền kinh tế sẽ bị
tê liệt Các bà nội trợ và hầu hết các hộ gia đình ở thành phố sẽ mất đi một nguồn cung ứng rau quả, thực phẩm, hàng hóa nhanh - rẻ - tiện lợi từ các gánh hàng rong, trong các chợ cóc và trên các vỉa hè ” (Thành Trung, 2009)
2.1.2 Lao động di cư làm thuê trong khu vực phi chính thức tại các đô thị
2.1.2.1 Quan niệm về lao động di cư
Cùng với quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa diễn ra trong những thập kỷ qua, các trung tâm đô thị và vùng ngoại ô phụ cận ngày càng trở thành điểm đến thu hút đối với những người thiếu việc làm, có thu nhập thấp từ khu vực nông thôn Do vậy, hiện tượng di cư từ nông thôn tới thành thị diễn ra ngày càng phổ biến Di cư nông thôn - thành thị được nhìn nhận là quá trình diễn ra sự kết hợp giữa nguồn nhân lực thiếu việc làm ở khu vực nông thôn và các cơ sở vật chất cho hoạt động sản xuất ở khu vực thành thị để tạo ra động lực mới cho sự phát triển kinh tế
Di cư là hiện tượng nhân khẩu học chịu tác động tổng hoà của nhiều yếu tố khác nhau như tự nhiên, xã hội, kinh tế, chính trị, tôn giáo, tâm lý Theo nghĩa rộng
di cư có thể được hiểu là sự di chuyển bất kỳ của con người trong không gian Di cư đồng nghĩa với khái niệm "sự vận động của dân cư" hay là toàn bộ sự di chuyển của
con người trong không gian Theo nghĩa hẹp "di cư là sự di chuyển của con người từ
một đơn vị lãnh thổ này đến một đơn vị lãnh thổ khác mang đặc trưng thay đổi nơi
cư trú theo những chuẩn mực về không gian và thời gian nhất định" (Phạm Quý Thọ, 2001)
Như vậy có thể hiểu, lao động di cư là những người lao động đã di dời khỏi địa
bàn cư trú chính thức của họ để đến làm việc với mục đích mưu sinh tại một địa bàn khác 2.1.2.2 Phân loại lao động di cư
Khái niệm di cư gắn liền với các yếu tố về không gian, về thời gian và nơi cư trú
- Lao động di cư ra nước ngoài, tìm kiếm cơ hội việc làm và thu nhập tại nước ngoài Lao động này không nằm trong phạm vi nghiên cứu của Luận án
- Lao động đi cư trong nước: 2 loại
+ Di cư ổn định: Lao động chuyển cả gia đình đến địa bàn mới, mua nhà hoặc thuê nhà, sinh sống ổn định dài hạn tại địa bàn mới Họ cũng tìm kiếm các cơ hội về việc làm và thu nhập tại nơi sinh sống mới Xét về bản chất, bộ phận này là lao động nhập cư, nên không thuộc phạm vi nghiên cứu của Luận án
Trang 37+ Di cư không ổn định, nhưng trong lao động di cư không ổn định lại bao gồm các loại sau:
o Lao động di cư làm việc tự do: thu nhập của họ có thể cao hoặc không cao, nhưng họ không làm thuê cho ai cả Họ có thể là chủ một gánh hàng rong, là những người buôn chuyến, cung ứng các dịch vụ theo nhu cầu của thị trường Những lao động di cư này cũng không thuộc phạm vi nghiên cứu của Luận án
o Lao động di cư làm thuê có hợp đồng tại khu vực chính thức, loại này cũng không thuộc phạm vi nghiên cứu của Luận án
o Lao động di cư làm thuê, có hợp đồng hoặc không có hợp đồng tại khu vực phi
chính thức Thu nhập của loại lao động này là đối tượng nghiên cứu của Luận
án Địa bàn cụ thể là nội thành Hà Nội
2.1.2.3 Đặc điểm của lao động di cư làm thuê trong khu vực phi chính thức tại các đô thị
- Thứ nhất, đa số lao động di cư ra làm thuê trong khu vực phi chính thức tại
thành phố có nguồn gốc từ nông thôn, nguồn gốc xuất thân của họ là nông dân, hoặc con em nông dân làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp và khu vực nông thôn Vì thế
mà trình độ văn hóa của họ thấp, sự hiểu biết về pháp luật và chấp hành ý thức, kỷ luật lao động rất hạn chế Do đặc thù công việc và đặc thù về trình độ nhận thức cũng như thiếu sự ràng buộc chặt chẽ giữa chủ với thợ nên tình trạng nhảy việc thường diễn ra làm cho lao động thiếu ổn định về nghề nghiệp và nơi làm việc Có thể hôm nay họ làm công việc cho chủ này ngày mai lại chuyển sang làm việc cho chủ khác; hôm nay đang làm nhân viên bán hàng ở các cửa hàng cửa hiệu, ngày mai chuyển sang là lao động sản xuất tiểu thủ công nghiệp,…
Cũng do là lao động di cư từ nông thôn ra thành phố, từ nông nghiệp sang làm việc trong các ngành nghề dịch vụ, tiểu thủ công nghiệp hầu hết lao động này chưa qua đào tạo, phải làm những công việc giản đơn nên họ thường mặc cảm với nguồn gốc xuất thân và công việc của mình; thêm nữa, thường gia đình và bản thân họ là những người thuộc diện thu nhập thấp, đời sống khó khăn, nên rất khó có cơ hội tiếp cận các dịch vụ về giáo dục, chăm sóc sức khỏe cộng đồng
- Thứ hai, xét trên mặt bằng chung của nguồn cung về lao động tại các đô thị,
thì lao động di cư làm việc trong khu vực phi chính thức đa số là có trình độ học vấn thấp, ít vốn, không có điều kiện để mở doanh nghiệp và thậm chí không kiếm được việc làm ở khu vực chính thức Trong giai đoạn đầu của thời kỳ đô thị hóa, để tồn tại
Trang 38những đối tượng này tham gia vào khu vực phi chính thức làm những công việc như bán buôn nhỏ lẻ, hàng rong, dịch vụ, lao động thủ công chuyên chở bằng xe thô sơ Địa bàn của họ có thể nói khái quát là ngoài trời gồm lòng lề đường, các công trường, chợ búa Khi kinh tế phát triển, đời sống người dân đô thị, đặc biệt từ những gia đình có điều kiện kinh tế khá giả đã phát sinh nhiều nhu cầu về dịch vụ mà bản thân họ không muốn làm hoặc không có thời gian, điều kiện để làm Những gia đình này sẵn sàng thuê người giúp việc theo giờ, theo ngày và theo tháng để giải quyết những công việc của gia đình Chính điều này hình thành một thị trường lao động thu hút lao động nhàn rỗi với trình độ học vấn thấp cho khu vực phi chính thức nơi đô thị Tuy nhiên, dù làm việc dưới bất kỳ hình thức nào thì lao động trong khu vực phi chính thức nhìn chung phải chấp nhận điều kiện làm việc kém, thu nhập thấp cũng như không có cơ hội thăng tiến và không được thụ hưởng các quyền lợi chính trị - xã hội khác (Nguyễn Thị Hậu, 2011);
- Thứ ba, lao động di cư làm thuê trong khu vực phi chính thức tại các đô thị là
bộ phận lao động rất dễ bị tổn thương
Vì phần đông có trình độ học vấn thấp, ít hiểu biết về pháp luật nên hầu hết các lao động di cư làm việc trong khu vực phi chính thức không có bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế Do không có hợp đồng lao động, hoặc chỉ có hợp đồng lao động ngắn hạn hoặc hợp đồng miệng nên thời gian lao động của họ thường bị kéo dài hơn thời gian
do luật định; chế độ nghỉ ngơi không bảo đảm; khi ốm đau không được chăm sóc sức khỏe Cuộc sống tạm bợ nơi đô thị làm cho họ dễ bị rơi vào nguy cơ bị lạm dụng, bị bóc lột, đặc biệt là chị em phụ nữ Ngoài những khó khăn mà chị em phải đối mặt như nam giới thì chị em luôn phải đối phó với tệ nạn cướp bóc, trấn lột, bạo hành, buôn bán phụ nữ, xâm hại tình dục; đặc biệt là số nữ thanh niên làm việc trong các nhà hàng, khách sạn, các quán karaoke, vũ trường, những tụ điểm vui chơi giải trí Mặt khác, bản thân người lao động di cư làm thuê trong khu vực phi chính thức cũng không mặn mà với việc mua các loại bảo hiểm tự nguyện Có nhiều lí do, trong đó có
cả lý do mức đóng bảo hiểm vượt khả năng so với mức thu nhập của người lao động di cư Thực tế này làm ảnh hưởng tiêu cực tới chất lượng cuộc sống và quyền của lao động di cư, đặc biệt là phụ nữ vì có hơn 80% lao động nữ khi di cư ra thành phố có mang theo con, và không có chính sách riêng biệt về y tế và giáo dục dành cho các nhóm con của người di cư
Trang 392.2 Những vấn đề cơ bản về thu nhập của lao động di cư làm thuê trong khu vực phi chính thức tại đô thị
2.2.1 Thu nhập của người lao động di cư làm thuê trong khu vực phi chính thức
2.2.1.1 Việc làm trong khu vực phi chính thức
Việc làm trong khu vực phi chính thức ở các đô thị tồn tại từ rất lâu đời Trong thời kỳ đô thị trung cổ sự khác biệt giữa khu vực chính thức và phi chính thức hầu như không tồn tại Nhưng từ thời kỳ cận đại, sự phát triển của hai khu vực này có sự khác biệt rõ rệt Sự hình thành của các nhà máy, công sở, cơ sở dịch vụ công hình thành một tầng lớp xã hội làm công ăn lương theo quy định về hành chính về giờ giấc và các yếu
tố khác Sự phát triển của khu vực đô thị không chỉ thúc đẩy sự phát triển của khu vực chính thức mà còn tạo điều kiện thúc đẩy khu vực kinh tế phi chính thức
Việc di cư ồ ạt của lao động nông thôn đến thành thị với học vấn thấp tất yếu dẫn đến tình trạng lao động di cư thay vì tham gia thị trường lao động trong khu vực
chính thức sẽ tìm cơ hội việc làm trong khu vực kinh tế phi chính thức Việc làm của
lao động phi chính thức theo tiêu chí phân loại của Hệ thống tình trạng việc làm quốc
tế (ICSE-93) bao gồm các nhóm sau: người tự làm, người chủ, trợ giúp của lao động gia đình, lao động làm thuê và thành viên của hợp tác xã Với cách phân chia như vậy người lao động phi chính thức có thể làm ở các doanh nghiệp thuộc khu vực phi chính
thức, và hộ gia đình tại các khu đô thị Tuy nhiên cũng nên lưu ý, các hộ gia đình sản
xuất ra hàng hoá để tự tiêu dùng, hộ gia đình sản xuất ra dịch vụ dành riêng cho hộ hoặc cá nhân trong hộ không hưởng lương (như tự làm việc nhà, chăm sóc các thành viên trong hộ) cho nhu cầu tự tiêu dùng của hộ không được xem xét là việc làm của lao động trong khu vực phi chính thức Trong phạm vi nghiên cứu này, Luận án chỉ
xem xét việc làm của lao động di cư làm thuê trong khu vực phi chính thức Theo đó,
lao động di cư làm thuê trong khu vực phi chính thức là các lao động di cư làm thuê trong các đơn vị kinh tế thuộc khu vưc phi chính thức ( Xem Phụ lục 3, bảng 1, ô 6)
Di cư nông thôn thành thị không dẫn đến tình trạng nông thôn hoá thành thị, càng không phải sự dịch chuyển nghèo đói ra thành phố Sự có mặt của họ không góp phần làm tăng tình trạng thất nghiệp nơi đô thị Đa số người di cư đều có việc làm dù không liên tục và ổn định trong khu vực phi chính thức của nền kinh tế bởi người di cư sẵn sàng làm tất cả mọi công việc người dân thành phố chẳng muốn dúng tay Người
di cư chấp nhận làm những công việc từ đào móng nhà, phá bê tông, chở gạch đất, khuân vác thuê, bán hàng, phụ việc, chạy xích lô, xe ôm, bán vé số, giúp việc nhà, chăm non trẻ nhỏ, chăm sóc người ốm
Trang 40Có nhiều quan niệm khác nhau về việc làm trong khu vực phi chính thức Trên những góc nhìn khác nhau, ở các nước khác nhau, các nhà nghiên cứu đã đưa ra các khái niệm như ở bảng sau:
Bảng 2.1: Quan niệm về việc làm trong khu vực phi chính thức
của một số quốc gia trên thế giới
Braxin Điều tra mẫu
quốc gia về hộ gia đình
Việc làm không có trong sổ lương
Mê hi cô Điều tra quốc gia
Mali Điều tra lực
lượng lao động
2004
Việc làm không được người chủ đóng bảo hiểm xã hội,
và không có trong danh sách được thưởng năm và trả chi phí ốm đau
Cộng hoà
Moldova
Điều tra lực lượng lao động
Việc làm mà người chủ không phải đóng bảo hiểm xã hội, hoặc là không được thưởng năm (hoặc hoa hồng), hoặc những người không được trả chi phí khi bị ốm hoặc bị tai nạn
Liên bang Nga Điều tra Dân số
về các vấn đề việc làm
Việc làm không được hưởng bảo hiểm xã hội, thưởng năm hoặc trả chi phí khi bị ốm
Nguồn: Cơ quan Thống kê của ILO