1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả kinh tế cây chè trên địa bàn xã phúc xuân thành phố thái nguyên

73 337 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 787,08 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những yếu tố như: Điều kiện tự nhiên, địa hình, đất đai, nguồn nước, kinh nghiệm thực tiễn, các giống chè, cách áp dụng kĩ thuật reo trồng, cách chăm sóc, lượng phân bón, các chính sách

Trang 1

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Thái Nguyên, tháng 5 năm 2016

Trang 2

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Giảng viên hướng dẫn: ThS Lưu Thị Thuỳ Linh

Thái Nguyên, tháng 5 năm 2016

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong khoảng thời gian 4 năm học tập tại trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, em đã tiếp thu được rất nhiều kiến thức quý báu từ các thầy cô để có thể hoàn thành khoá luận này và vững bước trên con đường mình đã chọn Trang đầu tiên của khoá luận này em xin gửi đến ban giám hiệu, quý thầy cô giảng dạy tại khoa Kinh tế và phát triển nông thôn một lời cảm ơn chân thành nhất Các thầy cô đã trực tiếp dạy dỗ, dìu dắt và truyền đạt cho em kiến thức nghề nghiệp trong thời gian học tâp tại trường

Và đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Th.s Lưu Thị Thuỳ Linh

người đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ, góp ý kiến cho em để em có thể hoàn thành báo cáo tốt nghiệp này

Em xin gửi lời cám ơn đến ban lãnh đạo, cán bộ chuyên môn, người dân

xã Phúc Xuân- thành phố Thái Nguyên đã tận tình hướng dẫn và cung cấp cho

em những thông tin số liệu cần thiết trong suốt quá trình thực tập để em có cơ

sở hoàn thành đề tài này

Trong quá trình thực tập và viết khoá luận, bản thân em đã cố gắng khắc phục mọi khó khăn nhưng do thời gian có hạn trình độ chuyên môn còn hạn chế nên đề tài không khỏi những thiếu sót, kính mong quý thầy cô và các bạn quan tâm góp ý để khoá luận của em được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cám ơn!

Thái Nguyên, 1 tháng 6 năm 2016

Sinh viên

Trịnh Thị Ngân Hà

Trang 4

ASEAN : Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

WTO : Tổ chức thương mại thế giới

KHKT : Khoa học kỹ thuật

ĐVT : Đơn vị

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Diện tích, năng suất, sản lượng chè của một số nướctrên thế

giới năm 201 21

Bảng 2.2: Tình hình nhập khẩu chè thế giới giai đoạn 2002 – 2010 22

Bảng 2.3 Diện tích, năng suất, sản lượng chè Việt Nam giai đoạn 2004-2011 24

Bảng 2.4: Tình hình xuất khẩu chè của Việt Nam năm 2011 25

Bảng 2.5: Cơ cấu giống chè ở Thái Nguyên 31

Bảng 4.1 Diện tích và năng suất của một số giống chè trong 3 năm gần đây 40

Bảng 4.2 Một số thông tin chung về các hộ điều tra 41

Bảng 4.3 Tình hình sản xuất chè của các hộ giai đoạn 2013-2015 42

Bảng 4.4 Chi phí đầu vào cho 1 sào chè của các nhóm hộ điều tra năm 2015 43

Bảng 4.5: So sánh HQKT giữa giống chè TRI 777, chè Kim Tuyênvà chè Trung du 44

Bảng 4.9 : Những thuận lợi, khó khăn trong sản xuất chè của hộ 45

Bảng 4.10: Phân tích ảnh hưởng của trình độ học vấn của chủ hộ đến HQKT của hộ trồng chè 49

Bảng 4.11 Phân tích ảnh hưởng của điều kiện kinh tế hộ đến HQKTcủa hộ trồng chè 50

Bảng 4.12: Phân tích ảnh hưởng của tiếp cận KHKT đến HQKT của hộ trồng chè 52

Trang 6

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 2.1 Sơ đồ kênh tiêu thụ chè của xã Phúc Xuân 34 Hình 4.1: Biểu đồ % Diện tích trồng chè xã Phúc Xuân năm 2015 40 Hình 4.3: Biểu đồ Phân tích ảnh hưởng của cận KHKT đến HQKT của hộ trồng chè 53

Trang 7

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN 2

DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT ii

DANH MỤC CÁC BẢNG iii

DANH MỤC CÁC HÌNH iv

MỤC LỤC v

Phần 1: MỞ ĐẦU 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài 2

1.3 Ý nghĩa của đề tài 2

Phần 2:CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 4

1.1 Cơ sở lý luận 4

1.1.1 Khái niệm về cây chè 4

1.1.2 Đặc điểm của các giống chè 5

1.1.3 Đặc điểm kinh tế kỹ thuật của sản xuất chè 7

1.1.4 Những nhân tố ảnh hưởng tới sản xuất chè 8

1.1.5 Hiệu quả kinh tế 16

2.2 Cơ sở thực tiễn 18

2.2.1 Tình hình sản xuất chè trên thế giới 18

2.2.2.Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè trong nước 23

2.2.3 Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè tại tỉnh Thái Nguyên 31

2.2.4 Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè của xã Phúc Xuân 32

Phần 3:ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 35

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu: 35

3.1.2 Phạm vi nghiên cứu: 35

3.2 Câu hỏi nghiên cứu 35

3.3 Phương pháp nghiên cứu 35

3.3.1 Phương pháp thu thập số liệu 35

3.3.2 Phương pháp điều tra phỏng vấn: 36

3.3.3 Phương pháp chọn mẫu 36

3.3.4 Phương pháp tổng hợp, so sánh 36

Trang 8

3.3.5 Phương pháp xử lý số liệu 36

Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 37

4.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 37

4.1.1 Đặc điểm tự nhiên 37

4.1.2 Tài nguyên 38

4.1.3 Nhân lực 39

4.2 Thực trạng sản xuất chè trên địa bàn xã Phúc Xuân- TP Thái Nguyên trong những năm gần đây 39

4.2.1 Diện tích trồng chè của xã Phúc Xuân 39

4.2.2 Một số loại giống chè được trồng và diện tích trong 3 năm gần đây tại xã Phúc Xuân 40

4.2.3 Đặc điểm chung của các hộ trồng chè 40

4.2.4 Tình hình sản xuất của các hộ trồng chè 43

4.3 Những thuận lợi, khó khăn trong việc sản xuất và kinh doanh chè 45

4.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả kinh tế của cây chè tại địa phương 49

4.4.1 Ảnh hưởng của trình độ học vấn 49

4.4.2 Ảnh hưởng của điều kiện kinh tế hộ 50

4.4.3 Ảnh hưởng của tiếp cận khoa học kỹ thuật 52

4.4.4 Ảnh hưởng của giống chè 53

Phần5:CÁC GIẢI PHÁP 55

5.1 Một số giải pháp phát triển sản xuất chè trên địa bàn xã 55

5.2 Một số giải pháp phát triển sản xuất nâng cao hiệu quả phát triển cây chè cho xã Phúc Xuân thành phố Thái Nguyên 57

5.3 Kiến nghị 60

KẾT LUẬN 62

TÀI LIỆU THAM KHẢO 64

Trang 9

Phần 1

MỞ ĐẦU

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Ở nước ta, chè là một cây công nghiệp lâu năm, nó thích ứng với các vùng miền núi và trung du phía Bắc, cây chè giúp chống xói mòn, phủ xanh đất trống đồi trọc, thu hút lao động nhàn rỗi Cây chè được coi là một sản phẩm có giá trị cao, góp phần không nhỏ vào công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước

Thái Nguyên là vùng chè trọng điểm của cả nước, đứng thứ 2 sau tỉnh Lâm Đồng Nghề trồng và chế biến chè đã đem lại hiệu quả lớn về kinh tế, xã hội trên địa bàn tỉnh Hiện nay, diện tích chè của tỉnh có hơn 18.600 ha, trong

đó có gần 17.000 ha chè kinh doanh, năng suất đạt 109 tạ/ha, sản lượng đạt gần 185 nghìn tấn.Trong đó có 9 vùng chè đặc sản, trong đó có vùng chè Tân Cương của thành phố Thái Nguyên có hương vị thơm ngon nổi tiếng.Vùng chè đặc sản Tân Cương gồm các xã Phúc Trìu, Phúc Xuân, Tân Cương [1]

Xã Phúc Xuân, chè là cây kinh tế chủ lực, toàn xã có 1400 hộ thân thì có đến hơn 1100 hộ sản xuất, kinh doanh chè Toàn xã có gần 300 ha chè trong

đó có 270 ha chè kinh doanh Diện tích chè giống mới (TRI 777, Kim Tuyên, Phúc Vân Tiên…) Diện tích chè giống mới của xã chiếm khoảng 40% Năng suất chè bình quân đạt 80 triệu/năm [11] Trong những năm qua việc sản xuất chè của xã đã có những bước phát triển, tuy nhiên so với tiềm năng của địa phương thì việc sản xuất, kinh doanh chế biến chè còn bộc lộ nhiều tồn tại cần phải xem xét và giải quyết Vậy thực trang phát triển sản xuất chè của xã Phúc Xuân như thế nào? Những yếu tố như: Điều kiện tự nhiên, địa hình, đất đai, nguồn nước, kinh nghiệm thực tiễn, các giống chè, cách áp dụng kĩ thuật reo trồng, cách chăm sóc, lượng phân bón, các chính sách khuyến khích phát triển sản xuất của nhà nước hay việc tìm đầu ra cho sản phẩm…Thì có những

Trang 10

yếu tố hay nguyên nhân nào ảnh hưởng tới hiệu quả kinh tế cây chè trên địa bàn? Cần có những phương hướng và giải pháp nào nhằm phát huy lợi thế, khắc phục những yếu kém còn tồn tại để nâng cao hiệu quả kinh tế của cây chè xã Phúc Xuân? Trước những thực tế đó, đòi hỏi phải có sự đánh giá đúng thực trạng, thấy rõ mặt được và các mặt còn tồn tại để từ đó đề ra các giải pháp phát triển sản xuất – chế biến – tiêu thụ chè của xã, nhằm nâng cao chất lượng chè, phát huy những tiềm năng sẵn có và đề ra những biện pháp để

khắc phục các tồn tại gặp phải, việc nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu các yếu

tố ảnh hưởng tới hiệu quả kinh tế cây chè trên địa bàn xã Phúc Xuân thành phố Thái Nguyên” sẽ góp phần giải quyết các vấn đề trên

1.2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài

* Mục tiêu chung

Đánh giá được thực trạng, hiệu quả kinh tế cũng như các yếu tố ảnh hưởng tới năng suất và sản lượng chè từ đó đưa ra được một số giải pháp nhằm phát triển sản xuất chè, nâng cao thu nhập và đời sống cho hộ nông dân

* Mục tiêu cụ thể:

-Hệ thống hoá được lý luận và thực tiễn về sản xuất chè và hiệu quả kinh tế

- Đánh giá được thực trạng sản xuất chè trên địa bàn xã Phúc Xuân- TP Thái Nguyên trong những năm gần đây

- Đánh giá hiệu quả kinh tế cuả cây chè tại xã Phúc Xuân thành phố Thái Nguyên

- Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả kinh tế của cây chè trên địa bàn xã Phúc Xuân

- Đề xuất một số giải pháp nhằm duy trì và không ngừng nâng cao hiệu quả kinh tế của cây chè

1.3 Ý nghĩa của đề tài

* Ý nghĩa trong học tập và Nghiên cứu

- Áp dụng kiến thức đã học trong nhà trường vào thực tế

Trang 11

- Nâng cao kiến thức thực tế

- Có thêm kinh nghiệm cho công việc sau khi ra trường

- Bổ sung tư liệu cho học tập

Trang 12

Phần 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Khái niệm về cây chè

Cây chè có tên khoa học là Camellia sinensis là loài cây mà lá và chồi

của chúng được sử dụng để sản xuất thức uống Cây chè có thân thẳng và tròn, phân nhánh liên tục thành một hệ thống cành và chồi Thân, cành, bộ lá tạo thành tán cây chè, để mọc tự nhiên có dạng vòm đều Lá mọc ra từ các mấu, chồi mọc ra từ nách lá Theo chức năng thì chồi có hai loại: chồi dinh dưỡng mọc ra lá và chồi sinh thực mọc ra nụ, hoa, quả Theo vị trí trên cành, chồi có 3 loại là chồi ngọn, chồi nách và chồi ngủ Lá chè có 3 loại: lá vảy ốc rất nhỏ và cứng, mọc ỏ ddiemr sinh trưởng, lá cá nhỏ phát triển không đầy đủ, kích thước nhỏ, hình thuôn, mép không hoặc ít răng cưa, mọc tiếp theo là các lá vảy ốc, lá thật gồm một phiến lá và một phiến chè mọc tiếp theo các lá cá, mới mọc là lá non, tiếp theo là các lá bánh tẻ rồi đến lá già tùy theo trình độ sinh trưởng [4]

Hoa và quả cây của cây chè: Hoa bắt đầu nở trên cây chè 2 – 3 tuổi, từ chồi sinh thực ở nách lá, hoa lưỡng tính, tràng có 5 – 9 cánh màu trắng hay phớt hồng Quả chè có hình tròn hay hình tam giác tựy vào số hạt bên trong,

vỏ quả màu xanh, khi chín có màu nâu rồi nứt ra Hạt chè có vỏ sảnh màu nâu, ít khi đen, hạt to nhỏ tựy vào giống chè và chất dinh dưỡng [4]

Hệ rễ gồm có rễ cọc, rễ trần màu nâu hay nâu đỏ và dễ hút hay dễ hấp thụ < 1mm, màu vàng ngà, rễ trụ dài hay ngắn tựy theo giống chè, chất đất, chế độ làm đất và chất dinh dưỡng [4]

Chè là cây công nghiệp dài ngày có giá trị kinh tế cao, nó có vị trí quan trọng trong đời sống sinh hoạt và đời sống kinh tế, văn hóa của con người Sản phẩm chè hiện nay được tiêu dùng ở khắp các nước trên thế giới, kể cả

Trang 13

các nước không trồng chè cũng có nhu cầu lớn về chè Ngoài tác dụng giải khát chè còn có nhiều tác dụng khác như kích thích thần kinh làm cho thần kinh minh mẫn, tăng cường hoạt động của cơ thể, nâng cao năng lực làm việc, tăng sức đề kháng cho cơ thể…

Đối với nước ta sản phẩm chè không chỉ để tiêu dùng nội địa mà còn là mặt hàng xuất khẩu quan trọng để thu ngoại tệ góp phần xây dựng đất nước Đối với người dân thì cây chè đã mang lại nguồn thu nhập cao và ổn định, cải thiện đời sống kinh tế văn hóa xã hội, tạo ra công ăn việc làm cho bộ phận lao động dư thừa nhất là ở các vùng nông thôn Nếu so sánh cây chè với các loại cây trồng khác thì cây chè có giá trị kinh tế cao hơn hẳn, vì cây chè có chu kỳ kinh tế dài, nó có thể sinh trýởng, phát triển và cho sản phẩm liên tục khoảng

30 - 40 năm, nếu chăm sóc tốt thì chu kỳ này còn kéo dài hơn nữa [6]

Mặt khác chè là cây trồng không tranh chấp đất đai với cây lương thực,

nó là loại cây trồng thích hợp với các vùng đất trung du và miền núi Chính vì vậy cây chè không chỉ mang lại giá trị kinh tế mà còn góp phần cải thiện môitrường, phủ xanh đất trống đồi núi trọc Nếu kết hợp với trồng rừng theo phương thức Nông - Lâm kết hợp sẽ tạo nên một vành đai xanh chống xói mòn rửa trôi, góp phần bảo vệ một nền nông nghiệp bền vững

Như vậy, phát triển sản xuất chè đã và đang tạo ra một lượng của cải vật chất lớn cho xã hội, tăng thu nhập cho người dân, cải thiện mức sống ở khu vực nông thôn Nó góp phần vào việc thúc đẩy nhanh hơn công cuộc Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, giảm bớt chênh lệch về kinh tế xã hội giữa thành thị và nông thôn, giữa vùng núi cao và đồng bằng

1.1.2 Đặc điểm của các giống chè

a) Giống chè TBKT Kim Tuyên

* Nguồn gốc

Giống vô tính của Đài Loan, được chọn lọc từ tổ hợp lai hữu tính giữa

mẹ là giống Ôlong lá to của địa phương và bố là giống Raiburi của Ấn Độ vào

Trang 14

năm 1975 Nhập nội vào Việt Nam từ 1994 Trồng ở các tỉnh Lâm Đồng, Yên Bái, Phú Thọ, Lạng Sơn

* Đặc điểm

Dạng thân bụi, thế cây hơi đứng Thế lá ngang, kích thước lá nhỏ (dài lá 6,8cm, rộng lá 3,43cm) răng cưa mờ, có 8 đôi gân lá Màu sắc xanh đậm, trơn bóng, mép lượn sóng, lá non phớt tím Búp non có tuyết, trọng lượng búp 1 tôm 3 lá: 0,52g Bật mầm sớm, sức sinh trưởng mạnh, mật độ búp trung bình

Trong điều kiện thâm canh tăng lượng phân bón hữu cơ và có tưới tiêu cho năng suất khá cao Khả năng chống chịu sâu bệnh tốt hơn các giống Ôlong Thanh Tâm và giống Vân Xương Trong điều kiện thâm canh và ở vùng cao nguyên giống ít bị sâu bệnh hơn so điều kiện không thâm canh hoặc

ở vùng đồi núi thấp

* Chất lượng

Có nội chất tốt, hàm lượng tanin 28,50%, đường khử là 0,59%, chất hòa tan là 39,52%, axít amin là 1,58% và cafein tổng số là 132mg/gck… Chế biến chè xanh và chè Ôlong có chất lượng cao, nhưng thích hợp cho chè Ôlong hơn chè xanh

b) Giống chè TRI 777

* Nguồn gốc

Giống có nguồn gốc Shan Mộc Châu, được Srilanka nhập nội, chọn lọc

và đưa vào sản xuất Năm 1977 ta nhập về trồng

* Đặc điểm

Trang 15

TRI 777 có lá màu xanh đậm, thuôn dài Diện tích lá 25 – 35cm2, khối lượng búp 0,7 – 0,8 g, tán rộng 1 – 1,4 m, búp có màu trắng, thích hợp ở độ cao trên 600 m so với mặt biển

Giống có đặc tính nhân cành thấp, tán rộng trung bình nên có khả năng trồng dày, hương vị thơm đặc trưng, chất lượng cao, thích hợp cho chế biến chè xanh

* Năng suất: Chè 10-25 tuổi được thâm canh cho năng suất 5-6 tấn/ha Chè ủ đất xấu, kém thâm canh năng suất chỉ đạt 2,5-3 tấn búp/ha

Chất lượng khá Chế biến chè đen, chè xanh đạt tiêu chuẩn xuất khẩu, tanin trên 26,3% Chất hoà tan 51,4%, cánh chè nhỏ, dễ xoăn

1.1.3 Đặc điểm kinh tế kỹ thuật của sản xuất chè

Cây chè có đặc điểm từ sản xuất đến chế biến đòi hỏi phải có kỹ thuật khá cao từ khâu trồng, chăm sóc, thu hoạch đến chế biến và bảo quản Vì thế

để phát triển ngành chè hàng hóa đạt chất lượng cao cần phải quan tâm, chú trọng từ những khâu đầu tiên, áp dụng những chính sách đầu tư hợp lý, loại

bỏ dần những phong tục tập quán trồng chè lạc hậu… Để tạo ra được những sản phẩm hàng hóa có sức cạnh tranh cao, thu hút khách hàng và các nhà đầu

tư sản xuất trong và ngoài nước Nếu coi cây chè là cây trồng mũi nhọn thìc

Trang 16

ần phải thực hiện theo hướng chuyên môn hóa để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm chè góp phần tăng thu nhập cải thiện đời sống người dân trồng chè

1.1.4 Những nhân tố ảnh hưởng tới sản xuất chè

a) Nhóm nhân tố về điều kiện tự nhiên

+ Đất đai và địa hình: Trong nhóm yếu tố này thì đất đai là yếu tố quan trọng nhất, nó quyết định chủ yếu tới năng suất cây trồng, các thông số cần quan tâm tới như diện tích đất, chất lượng đất do độ phì tự nhiên và độ phì nhân tạo quyết định Khi người sản xuất tiến hành canh tác như bón phân, phun tuốc trừ sâu bệnh thì các chất này sẽ ngấm vào đất, tùy thuộc vào đặc tính của mỗi lhoại mà thời gian lưu đọng lâu hay ngắn, chúng ta phải đặc biệt chú ý đến độ PH, hàm lượng NO-

3 và dư lượng thuốc bảo vệ thực vât, hàm lượng kim loại nặng trong đất vì nó ảnh hưởng lớn tới không chỉ năng xuất

mà cả chất lượng của sản phẩm bên cạnh đất đai thì nguồn nước cũng là yếu

tố quan trọng tác động lớn tới năng suất, chất lượng chè Yếu tố đất đai cho phép quyết định chè được phân bổ trên những vùng địa hình khác nhau

Muốn chè có chất lượng cao và hương vị đặc biệt cần phải trồng chè ở

độ cao nhất định Đa số những nơi trồng chè trên thế giới thường có độ cao cách mặt biển từ 500 - 800m So với một số cây trồng khác, cây chè yêu cầu

về đất không nghiêm ngặt Nhưng để cây sinh trưởng tốt, có tiềm năng năng suất cao thì đất trồng chè phải đạt yêu cầu: đất tốt, nhiều mùn, có độ sâu, chua

và thoát nước Độ pH thích hợp là 4,5 - 6, đất phải có độ sâu ít nhất là 60cm, mực nước ngầm phải dưới 1 m Địa hình có ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng và chất lượng chè Chè trồng ở trên núi cao có hương vị thơm và mùi

vị tốt hơn vùng thấp, nhưng lại sinh trưởng kém hơn ở vùng thấp

+ Thời tiết khí hậu: Cùng với địa hình, đất đai, các yếu tố: nhiệt độ, ẩm

độ trong không khí, lượng mưa, thời gian chiếu sáng và sự thay đổi mùa đều

Trang 17

ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, sản lượng và chất lượng chè Cây chè bắt đầu sinh trưởng được ở nhiệt độ >10 độ C Nhiệt độ trung bình hàng năm để cây chè sinh trưởng và phát triển bình thường là 12,5 độ C, cây chè sinh trưởng và phát triển tốt nhất trong điều kiện nhiệt độ từ 15 -23 độ C Mùa đông cây chè tạm ngừng sinh trưởng, mùa xuân cây độ chè sinh trưởng trở lại Cây chè yêu cầu lượng tích nhiệt hàng năm từ 3000 – 4000 độ C Nhiệt độ quá cao và quá thấp đều ảnh hưởng đến việc tích luỹ tanin trong chè, nếu nhiệt độ vượt quá 35 độ C liên tục kéo dài sẽ dẫn đến cháy lá chè Nhiệt độ thấp kết hợp với khô hạn là nguyên nhân hình thành nhiều búp mù

Cây chè tiến hành quang hợp tốt nhất trong điều kiện ánh sáng tán xạ, ánh sáng trực xạ trong điều kiện nhiệt độ không khí cao không có lợi cho quang hợp và sinh trưởng của chè Tuỳ theo giống và tuổi của chè mà yêu cầu ánh sáng cũng khác nhau Thời kỳ cây con, giống chè lá to yêu cầu ánh sáng ít hơn trong thời kỳ cây trưởng thành và giống lá chè nhỏ

Do cây chè là cây thu hoạch lấy búp non và lá non nên cây ưa ẩm, cần nhiều nước Yêu cầu lượng mưa bình quân trong năm khoảng 1.500 mm và phân bố đều trong các tháng Lượng mưa và phân bố lượng mưa ảnh hưởng đến thời gian sinh trưởng và thu hoạch của cây chè Cây chè yêu cầu độ ẩm cao trong suốt thời kỳ sinh trưởng là khoảng 85%

Ở nước ta các vùng trồng chè có điều kiện thích hợp nhất cho cây chè phát triển cho năng suất và chất lượng cao vào các tháng 5, 6, 7, 8, 9 và 10 trong năm

b) Nhóm nhân tố về kỹ thuật

+ Ảnh hưởng của giống chè: Chè là loại cây trồng có chu kỳ sản xuất dài, giống chè tốt có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sản xuất Do vậy, việc nghiên cứu chọn, tạo và sử dụng giống tốt phù hợp cho từng vùng sản xuất được các nhà khoa học và người sản xuất quan tâm từ rất sớm

Trang 18

Năm 1905, Trạm nghiên cứu chè đầu tiên trên thế giới được thành lập trên đảo Java Đến năm 1913, Cohen Stuart đã phân loại các nhóm chè dựa theo hình thái Tác giả đã đề cập đến vấn đề chọn giống chè theo hướng dit ruyền sản lượng, đồng thời ông cũng đề ra tiêu chuẩn một giống chè tốt Theo ông, để chọn được một giống tốt theo phương pháp chọn dòng cần phải trải qua 7 bước:

1 Nghiên cứu vật liệu cơ bản

2 Chọn hạt

3 Lựa chọn trong vườn ươm

4 Nhân giống hữu tính và vô tính

Để đáp ứng yêu cầu kế hoạch sản xuất chè ở Việt Nam và góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội, môi trường của sản xuất chè cần áp dụng đồng bộ các giải pháp, trong đó nghiên cứu và triển khai giống chè mới là giải pháp rất quan trọng, cần thiết cho việc phát triển cây chè cả về trước mắt và lâu dài

+ Tưới nước cho chè: Chè là cây ưa nước, trong búp chè có hàm lượng

Trang 19

nước lớn, song chè rất sợ úng và không chịu úng Chè gặp khô hạn sẽ bị cằn cỗi, hạn chế việc hút các chất dinh dưỡng từ đất, khô hạn lâu ngày sẽ làm giảm sản lượng thậm chí còn chết Do đó, việc tưới nước cho chè là biện pháp giữ ẩm cho đất để cây sinh trưởng phát triển bình thường, cho năng suất và chất lượng cao

+ Mật độ trồng chè: Để có năng suất cao cần đảm bảo mật độ trồng chè cho thích hợp, mật độ trồng chè phụ thuộc vào giống chè, độ dốc, điều kiện

cơ giới hóa Nhìn chung tùy điều kiện mà ta bố trí mật độ chè khác nhau, nếu mật độ quá thưa hoặc quá dầy thì sẽ làm cho năng suất sản lượng thấp, lâu khép tán, không tận dụng được đất đai, không chống được xói mòn và cỏ dại,

vì vậy cần phải bố trí mật độ chè cho hợp lý

+ Đốn chè: Đốn chè là biện pháp kỹ thuật không những có ảnh hưởng đến sinh trưởng phát triển của cây chè mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, chất lượng chè Do vậy, kỹ thuật đốn chè đã được nhiều nhà khoa học chú ý nghiên cứu Kỹ thuật đốn chè ở Việt Nam đã được đề cập từ lâu, đầu tiền từ những kinh nghiệm của thực tiến sản xuất

Trước năm 1945 nhân dân vùng Thanh Ba -Phú Thọ đã có kinh nghiệm đốn chè kinh doanh: "Năm đốn - năm lưu" Những công trình nghiên cứu về đốn chè ở Trại Thí nghiệm chè Phú Hộ - Phú Thọ từ năm 1946 - 1967

đã đi đến kết luận hàng năm đốn chè tốt nhất vào thời gian cây chè ngừng sinh trưởng và đã đề ra các mức đốn hợp lý cho từng loại hình đốn:

Đốn Phớt: Đốn hàng năm, đốn cao hơn vết đốn cũ 3 - 5cm, khi cây chè cao hơn 70cm thì hàng năm đốn cao hơn vết đốn cũ 1 - 2cm

Trang 20

Ngọc Quỹ (1980) đều cho thấy: đốn chè có tác dụng loại trừ các cành già yếu, giúp cho cây chè luôn ở trạng thái sinh trưởng dinh dưỡng, hạn chế ra hoa, kết quả, kích thích hình thành búp non, tạo cho cây chè có bộ lá, bộ khung tánthích hợp, vừa tầm hái

+ Bón phân: Bón phân cho chè là một biện pháp kỹ thuật quan trọng nhằm tăng sự sinh trưởng của cây chè, tăng năng suất và chất lượng chè Trong quá trình sinh trưởng, phát triển, cây chè đã lấy đi một lượng phân rất cao ở trong đất, trong khi đó chè lại thường được trồng trên sườn đồi, núi cao, dốc, nghèo dinh dưỡng Cho nên, lượng dinh dưỡng trong đất trồng chè ngày càng bị thiếu hụt Chính vì vậy, để đảm bảo cho cây chè sinh trưởng tốt và cho năng suất cao, chất lượng tốt, đảm bảo được mục đích canh tác lâu dài, bảo vệ môi trường và duy trì thu nhập thì bón phân cho chè là một biện pháp không thể thiếu được

Nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nước đều cho thấy hiệu quả của bón phân cho chè chiếm từ 50 - 60% Hiệu quả của các biện pháp nông học đối với năng suất chè, kết quả nghiên cứu trong 10 năm cho (1988-1997) ở Phú Hộ cho thấy: Đạm có vai trò hàng đầu, sau đó đến Lân

và Kali đối với sinh trưởng của chè nhỏ tuổi Đạm và Lân có ảnh hưởng lớn hơn đối với cây chè nhỏ tuổi, lớn hơn vai trò của tổ hợp Đạm và Kali

Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón đến sinh trưởng và năng suất chè

ở các giai đoạn khác nhau, tác giả Chu Xuân Ái, Đinh Thị Ngọ, Lê Văn Đức

1998 cho thấy: phân lân có vai trò với sinh trưởng cả về đường kính thân, chiều cao cây, độ rộng tán của cây con Bón phân cân đối giữa N, P, K cho năng suất cao hơn hẳn so với chỉ bón đạm và kali hoặc chỉ bón mỗi đạm Thời

kỳ đầu của giai đoạn kinh doanh, sự sinh trưởng tán chè tiếp tục đòi hỏi đủ phân P, K nên cơ sở bón đủ đạm Như vậy, cây chè cần được cung cấp N, P,

K với lượng cân đối hợp lý và thường xuyên Tuy nhiên, mỗi giai đoạn cây

Trang 21

cần với liều lượng khác nhau với nguyên tắc: từ không đến có, từ ít đến nhiều, bón đúng lúc, đúng cách, đúng đối tượng và kịp thời Nếu bón phân hợp lý sẽ giúp cho cây chè sinh trưởng và phát triển tốt, tăng khả năng chống chịu với điều kiện thời tiết bất thuận, sâu bệnh dẫn đến tăng năng suất

+ Hái chè: Thời điểm, thời gian và phương thức hái có ảnh hưởng đến chất lượng chè nguyên liệu, hái chè gồm một tôm hai lá là nguyên liệu tốt cho chế biến chè, vì trong đó chứa hàm lượng Polyphenol và Caphein cao, nếu hái quá già thì không những chất lượng chè giảm mà còn ảnh hưởng đến sinhtrưởng phát triển của cây chè

+ Vận chuyển và bảo quản nguyên liệu: Nguyên liệu chè sau khi thu hái có thể đưa thẳng vào chế biến, có thể để một thời gian nhưng không quá 10h do nhà máy chế biến ở xa hoặc công suất máy thấp Do vậy khi thu hái không để dập nát búp chè

+ Công nghệ chế biến: Tùy thuộc vào mục đích của phương án sản phẩm mà ta có các quy trình công nghệ chế biến phù hợp với từng nguyên liệu đầu vào, nhìn chung quá trình chế biến gồm hai giai đoạn sơ chế và tinh chế thành phẩm

Chế biến chè đen gồm các công đoạn: Hái búp chè Làm héo Vò Lên men - Sấy khô - Vò nhẹ - Phơi khô Chè đen thường được sơ chế bằngmáy móc hiện đại với năng suất chất lượng cao, trong các khâu này đòi hỏi quy trình kỹ thuật phải nghiêm ngặt tạo hình cho sản phẩm và kích thích các phản ứng hóa học trong búp chè

-Chế biến chè xanh: Là phương pháp chế biến được người dân áp dụng rất phổ biến từ trước đến nay, quy trình gồm các công đoạn: từ chè búp xanh (1 tôm 2 lá) sau khi hái về đưa vào chảo quay xử lý ở nhiệt độ 100 độ C với thời gian nhất định rồi đưa ra máy vò để cho búp chè săn lại, đồng thời giảm bớt tỷ lệ nước trong chè Sau khi vò xong lại đưa chè vào quay xử lý ở nhiệt

độ cho đến khi chè khô hẳn (chú ý nhiệt độ phải giảm dần) Sau khi chè khô

Trang 22

ta có thể đóng bao bán ngay hoặc sát lấy hương rồi mới bán, khâu này tùy thuộc vào khách hàng Đặc điểm của chè xanh là có màu nước xanh óng ánh,

vị chát đậm, hương vị tự nhiên, vật chất khô ít bị biến đổi

Chế biến chè vàng: Yêu cầu của việc chế biến khác với chè xanh và chè đen, chè vàng là sản phẩm của một số dân tộc ít người trên các vùng núi cao, được chế biến theo phương pháp thủ công

c)Nhóm yếu tố thị trường

- Thị trường các yếu tố đầu vào:

Thị trường các yếu tố đầu vào bao gồm: lao động, vốn, vật tư (giống, phân bón, hóa chất, dịch vụ…) thị trường các yếu tố đầu vào có ảnh hưởng trực tiếp đến cung sản phẩm, đến hiệu quả sản xuất kinh doanh chè Sự phát triển và hoạt đông hiệu quả của thị trường yếu tố đầu vào không những có thể đáp ứng tốt nhu cầu đầu vào của sản xuất kinh doanh sản phẩm nông nghiệp nói chung và chè nói riêng về mặt số lượng, chất lượng, chủng loại, thời điểm,

mà còn cả về phương diện giá cả, góp phần nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và năng lực cạnh tanh của sản phẩm chè trên thị trường

- Thị trường đầu ra:

Tại xã Phúc Xuân thị trường đầu ra chủ yếu là bán cho thương lái và hợp tác xã Vì vậy, vấn đề thị trường là yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng quyết định đến mọi hoạt động sản xuất hàng hóa nói chung và sản xuất kinh doanh chè nói riêng Sản xuất cái gì?Sản xuất cho ai?Với số lượng bao nhiêu? Là do thị trường quyết định Thị trường vừa là mục tiêu vừa là động lực của mọi hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hóa

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thu nhập và mức sống của người dân ngày càng được nâng cao, để phát triển sản xuất chè chúng ta không chỉ

Trang 23

dừng lại ở việc sản xuất ra những sản phẩm thô mà phải hướng tới những sản phẩm đa dạng và có giá trị cao, đạt tính thẩm mỹ nâng cao giá trị cho sản phẩm chè, góp phần đảm bảo lợi ích cho người sản xuất

d) Cơ sở hạ tầng kinh tế kỹ thuật

Cơ sở hạ tầng kinh tế kỹ thuật bao gồm: hệ thống giao thông, thủy lợi, điện, thông tin liên lạc, phương tiện vận tải, cơ sở chế biến, trung tâm thương mại… tác động rất lớn đến sản xuất, chế biến, giao thương hàng hóa nói chung và chè nói riêng Hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế kỹ thuật có phát triển

sẽ tạo tiền đề cho việc thực hiện thâm canh sản xuất chè, áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ trong bảo quản, chế biến sản phẩm, tăng cường thông thương buôn bán hàng hóa, khuyến khích đầu tư nước ngoài Đồng thời cho phép tiết kiệm chi phí hạ giá thành sản phẩm, nâng cao giá trị của sản phẩm trên thị trường trong nước và quốc tế

e Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước:

Chủ trương, chính sách của Đảng là yếu tố ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh

tế nói chung và sự phát triển của ngành chè nói riêng Ở nước ta các chính sách lớn có tác động trực tiếp, gián tiếp đến quá trình sản xuất chế biến lưu thông tiêu thụ chè bao gồm:

+Chính sách kinh tế nhiều thành phần: Thừa nhận hộ là đơn vị kinh tế

tự chủ, đổi mới quản lý đối với các HTX, đổi mới doanh nghiệp Nhà nước khuyến khích phát triển kinh tế cá thể, kinh tế tư nhân

+Chính sách đất đai: Giao ruộng đất cho các gia đình nông dân và sử dụng

ổn định lâu dài với các quyền chuyển nhượng, chuyển đổi, thừa kế, thế chấp cho thuê theo quy định của pháp luật Giúp các hộ nông dân yên tâm đầu tư thâm canh sản xuất

+Chính sách vốn và đầu tư vốn nông nghiệp nông thôn: Nghiên cứu chọn

tạo giống chè, nghiên cứu ứng dụng công nghệ vi sinh như bảo quản chế biến

Trang 24

+Chính sách về thị trường nông sản: chính sách giá nông sản, chính

sách marketing hàng nông sản

+Chính sách xã hội nông thôn, chính sách khuyến nông, khuyến lâm,

chính sách xóa đói giảm nghèo, chính sách tạo việc làm…

Trên đây là những nhân tố ảnh hưởng đến sản xuất, kinh doanh chè.Để phát triển ngành hàng này cần phải xem xét tất cả các nhân tố đó trong quá trình tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh chè

1.1.5 Hiệu quả kinh tế

Hiệu quả kinh tế của một hiện tượng (hoặc quá trình) kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (nhân lực, tài lực, vật lực, tiền vốn) để đạt được mục tiêu xác định [18] Từ khái niệm khái quát này, có thế hình thành công thức biểu diễn khái quát phạm trù hiệu quả kinh

tế như sau:

H = K/C Với H là hiệu quả kinh tế của một hiện tượng (quá trình kinh tế) nào đó; K là kết quả thu được từ hiện tượng (quá trình) kinh tế đó và C là chi phí toàn bộ để đạt được kết quả đó Và như thế cũng có thể khái niệm ngắn gọn: hiệu quả kinh tế phản ánh chất lượng hoạt động kinh tế và được xác định bởi

tỷ số giữa kết quả đạt được với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó

Quan điểm này đã đánh giá được tốt nhất trình độ sử dụng các nguồn lực

ở mọi điều kiện “động” của hoạt động kinh tế Theo quan niệm như thế hoàn toàn có thể tính toán được hiệu quả kinh tế trong sự vận động và biến đổi không ngừng của các hoạt động kinh tế, không phụ thuộc vào quy mô và tốc độ biến động khác nhau của chúng

Từ định nghĩa về hiệu quả kinh tế như đã trình bày ở trên, chúng ta có thể hiểu hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (lao động, máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu

và tiền vốn) nhằm đạt được mục tiêu mà doanh nghiệp đã xác định

Trang 25

- Một số chỉ tiêu phân tích và cách tính hiệu quả

+Tổng giá trị sản xuất (GO) được xác định là giá trị bằng tiền của toàn

bộ sản phẩm chè sản xuất ra(thường là một năm) trên một đơn vị diện tích

GO : Tổng giá trị sản xuất

Qi : Khối lượng sản phẩm loại i

Pi : Đơn giá sản phẩm loại i

+Chi phí trung gian(IC) :Là toàn bộ các khoản chi phí vật chất thường xuyên và dịch vụ sản xuất.Trong quá trình sản xuất chè chi phí trung gian bao gồm các chi phí trung gian bao gồm các khoản chi phí như: giống, phân bón, thuốc trừ sâu, làm đất…

+Giá trị tăng (VA) là phần giá trị tăng thêm của quá trình sản suất kinh doanh.VA được thể hiện bằng công thức :

VA = GO – IC

+Thu nhập hỗn hợp (MI) là thu nhập thuần túy của người sản xuất , bao gồm thu nhập của công lao động và lợi nhuận mà họ có thể nhận được khi sản xuất một đơn vị diện tích.Thu nhập hỗn hợp được tính theo công thức sau :

MI = VA – (A + T) Trong đó :

A là phần khấu hao tài sản cố định và cho phí phân bổ

T là thuế sản xuất

+Thu nhập hỗn hợp/ngày công lao động

Chỉ tiêu này cho biết giá trị thu nhập của một ngày công lao động được hoạch toán trong trồng chè của nôn hộ

+Thu nhập hỗn hợp/chi phí vật chất

Chỉ tiêu này cho biết khả năng thu nhập của một đồng vốn đầu tư cho sản xuất chè

+Lợi nhuận : Pr = GO – TC

Trang 26

Trong đó : GO là giá trị sản xuất, TC là tổng chi phí

-Các tiêu chí thể hiện hiệu quả để đánh giá hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp người ta dùng nhiều phương pháp và chỉ tiêu khác nhau, trong phương pháp thường dùng là:

Hiệu quả theo chi phí trung gian

+ Giá trị sản xuất trên một đòng chi phí GO/IC

+ Giá trị gia tăng trên một đòng chi phí VA/IC

+ Thu nhập hỗn hợp trên một đồng chi phí MI/IC

Hiệu quả kinh tế = kết quả thu được – chi phí sản xuất

Hay H = Q/C [6]

2.2 Cơ sở thực tiễn

2.2.1 Tình hình sản xuất chè trên thế giới

Trên thế giới chỉ có khoảng hơn 30 nước là có điều kiện tự nhiên thích hợp để trồng chè trong khi đó hầu hết các quốc gia trên thế giới đều dùng chè với mức độ khác nhau Các nước trồng chè đã tận dụng ưu thế đó để phát triển sản xuất, có những nước xem chè là cây trồng chính của đất nước như Kenya, Ấn Độ

Sau đây là kinh nghiệm sản xuất chè của một số nước trên thế giới

* Trung Quốc: Là nước phát hiện và sử dụng chè sớm nhất trên thế giới Chè trở thành thứ nước uống giải khát phổ thông trong mọi tầng lớp nhân dân

Trang 27

và được coi là 1 trong 7 thành phẩm quan trọng của đời sống nhân dân Trung Hoa Trung Quốc là nước có điều kiện tự nhiên rất phù hợp với sản xuất chè, tận dụng lợi thế này, Trung Quốc xây dựng các vùng chè nguyên liệu, đa dạng hoá các giống chè có năng suất và chất lượng cao Xây dựng các nghiên cứu chè cả nước, xây dựng các trường đại học và cơ sở nghiên cứu ở các tỉnh Xuất bản các tạp chí, sách tham khảo và phổ biến tài liệu khoa học kỹ thuật trồng và chế biến chè Đặc biệt Trung Quốc rất chú trọng phát triển văn hoá trà: xây dựng các nhà bảo tàng văn hoá, biên soạn các tác phẩm về trà, tổ chức các lễ hội văn hoá trà, 11 trà sử, trà pháp Điều này đã thu hút nhiều du khách và nâng cao được vị thế của chè Trung Quốc trên thị trường thế giới

* Ấn Độ: Đây cũng là nước có truyền thống lâu đời về phát triển chè, có hai vùng sản xuất chè nguyên liệu lớn là vùng Assam và vùng chè Kerala Các vùng chè này rất quan tâm đến việc phát triển khoa học kỹ thuật tập trung tại các trạm nghiên cứu chè Tocklai, UPASI, xuất bản các tạp chí nghiên cứu về chè Ngoài ra, Ấn Độ còn thành lập các trung tâm đấu giá chè lớn trên toàn quốc như: Calcuta, Guwahati, Siliguri,

* Nga: Nga là một nước sản xuất chè lớn và cũng là một trong những nước tiêu thụ chè lớn nhất thế giới hiện nay Ngành chè ở Nga rất chú trọng phát triển khoa học kỹ thuật đặc biệt ở khâu trồng chè Người ta trồng chè theo từng hàng, khoảng cách giữa các hàng là 1,5-1,75cm, khoảng cách giữa các cây là 0,35cm, lượng hạt giống dùng cho 1 ha là 150 kg Khi phân chia lô chè người ta đặc biệt chú ý tới độ thẳng của từng hàng chè và san phẳng mặt đất giữa các hàng chè để khi cơ giới hoá thì quá trình như đốn chè, thu hoạch búp và các quá trình canh tác khác không bị sai lệch khi làm việc

* Nhật Bản: Nhật Bản vốn là nước sản xuất và xuất khẩu chè xanh lâu đời trên thế giới Nhật Bản là nước trồng chè có nền kinh tế phát triển, do đó giá nhân công cao thêm vào đó là khả năng công nghệ cao nên họ chủ yếu tiến hành cơ giới hoá trên đồi chè Nhà nước coi trọng đầu tư vào nông nghiệp

ở khâu giống tốt và các biện pháp quản lý chăm bón vườn chè bằng hoá chất

Trang 28

Nhà nước ban hành chế độ khen thưởng và đăng ký giống chè nên đã thông qua được trên 60 giống chè mới Vườn chè có năng suất 18 tấn búp/ha phải tuân theo quy trình bón nghiêm ngặt: N 540 kg, P2O5 180 kg, K2O 270 kg, bón nhiều lần Sử dụng cơ khí nhỏ trong công tác chăm sóc Hầu hết các nước sản xuất chè chính trên thế giới như Ấn Độ đều là những nước đang phát triển Việc phát triển ngoài mục đích đem về cho đất nước một nguồn ngoại tệ lớn mà nó còn giúp thực hiện các mục đích xã hội khác Những nước này mở rộng sản xuất dựa vào lực lượng lao động nông thôn dồi dào, giá nhân công

rẻ Tuy vậy do coi trọng phát triển chè họ cũng đầu tư 12 vào công nghệ chế biến cho năng suất cao, chất lượng tốt, từ đó nâng cao giá thành và uy tín sản phẩm xuất khẩu trên thị trường thế giới [7]

Ngày nay, cây chè được trồng rộng rãi trên thế giới từ 420 Bắc (Gruzia) đến 270

Nam (Achentina), với lịch sử có từ rất lâu đời khoảng hơn 4.000 năm Trong đó, châu Á vẫn chiếm vị trí chủ đạo về diện tích và sản lượng, sau đó là châu Phi và ít nhất là châu Đại Dương, độ cao trồng chè khá lớn, phân bố từ 0m đến 220m so với mặt nước biển (Carr - 1972) [7] Phân loại các quốc gia sản xuất chè theo sản lượng cho thấy: Sản lượng đạt trên 20 vạn tấn/năm gồm

3 nước: Ấn Độ, Trung Quốc và Srilanca (chiếm trên 60% tổng sản lượng chè trên thế giới) Sản lượng đạt trên 10 vạn tấn có 5 nước: Inđônêxia, Kênia, Nhật Bản, Liên Xô cũ và Thổ Nhĩ Kỳ Sản lượng đạt trên 5 vạn tấn có 12 nước, trong đó có Việt Nam Bốn quốc gia sản xuất và xuất khẩu chè lớn là

Ấn Độ, Trung Quốc, Kênia và Srilanca [7] Theo số liệu tổng hợp của FAO (2010) (bảng 2.1), tính đến năm 2004 diện tích chè thế giới tương đối cao đã đạt 2,46 triệu ha trong đó diện tích chè của châu Á chiếm 86,7%, châu Phi là 8,05% Trung Quốc là nước có diện tích chè lớn nhất thế giới với diện tích 943,10 nghìn ha Năng suất trung bình trên thế giới đạt được 12,99 tạ khô/ha, Nhật Bản là nước có năng suất bình quân cao nhất thế giới đạt 20,21 tạ khô/ha; Sản lượng chè khô trên toàn thế giới đạt 3,197 triệu tấn Đứng đầu thế giới là Ấn Độ có sản lượng cao nhất đạt 845,50 nghìn tấn (chiếm 26,4% tổng sản lượng chè trên thế giới)

Trang 29

Bảng 2.1 Diện tích, năng suất, sản lượng chè của một số nước

trên thế giới năm 2015

(ha)

Năng suất (tạ khô/ha)

Sản lượng khô (tấn)

(Nguồn: Theo FAO Start Ciation 2015)

Tình hình tiêu thụ chè trên thế giới Theo số liệu thống kê, hàng năm có

115 nước thường phải nhập khẩu chèbao gồm: 34 nước (châu Phi), 29 nước (châu Á), 28 nước (châu Âu), 19 nước (châu Mỹ), 5 nước (châu Đại Dương) [7] Thương mại chè thế giới bị ảnh hưởng bởi rất nhiều thay đổi, do nhiều nước nhập khẩu chè đứng trước những cuộc khủng hoảng chính trị và suythoái kinh tế liên tục Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ tại Châu Á cuối những năm 90 của thế kỷ trước đã ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động xuất nhập khẩu các mặt hàng nông sản như chè Trên thị trường hiện nay ngày càng xuất hiện nhiều loại đồ uống thay thế như: nước giải khát có ga, cà phê đồng thời lượng chè vận chuyển sang các nước nhập khẩu truyền thống liên tục giảm, tình trạng này đã khiến cho sản lượng nhập khẩu chè năm 2007 giảm 2,5% so với năm 2015 Trước tình hình đó, các nước xuất khẩu chè đã phải nâng cao chất lượng, đa dạng hoá sản phẩm cũng như tăng cường xúc tiến thương mại

Trang 30

Bảng 2.2: Tình hình nhập khẩu chè thế giới giai đoạn 2008 – 2015

(Đơn vị tính: 1000 tấn)

Thế giới

So năm trước (%)

(Nguồn: Theo FAO Start Ciation 2015)

Kết quả là sản lượng nhập khẩu đã tăng lên, đạt mức tăng trưởng 3,0% trong năm 2012 và 3,6% trong năm 2013 Năm 2015 nhập khẩu chè trên toàn thế giới đạt mức 1,59 triệu tấn, tăng 4,3% so với năm 2014 Các nước Anh, Nga, Pakistan là những thị trường nhập khẩu chè chủ yếu Hàng năm Anh, Nga nhập từ 120 đến 180 nghìn tấn; còn Mỹ, Pakistannhập khoảng 80 - 120 nghìn tấn Khu vực các nước phát triển nhập khẩu chè nhiều hơn các nước đang phát triển Người ta thống kê rằng, những nước sản xuất chè lớn nhất thế giới cũng là những nước tiêu thụ nhiều chè nhất Tỷ trọng tiêu dùng chè so với tổng sản lượng của các nước xuất khẩu chủ yếu chiếm trên dưới 50% và

có xu hướng tăng tỷ trọng tiêu dùng so với sản lượng sản xuất ra Qua bảng số liệu bảng 2.1 cho ta thấy: Hai nước có diện tích, sản lượng chè lớn nhất là ấn

Độ và Trung Quốc cũng là hai nước có nhu cầu tiêu thụ chè lớn nhất thế giới Các nước còn lại như Anh, Mỹ sẽ là thị trường tiềm năng cho những nước

xuất khẩu chè

Trang 31

2.2.2.Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè trong nước

Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, nóng ẩm, Việt Nam có điều kiện tự nhiên thích hợp cho cây chè sinh trưởng và phát triển, tuy nhiên cây chè chỉ thực sự được quan tâm và đầu tư sản xuất bắt đầu từ những năm đầu thế kỷ 20 trở lại đây

Trước năm 1892, nhân dân ta chủ yếu dùng chè dưới dạng chè tươi, chè nụ Sau khi người Pháp chiếm đóng Đông Dương cây chè bắt đầu được chú ý và khai thác Lịch sử phát triển chè Việt Nam được chia thànhcác giai đoạn sau:

+ Giai đoạn 1890-1945: Những đồn điền chè đầu tiên thành lập ở Tĩnh Cương (Phú Thọ) với diện tích 60 ha, ở Đức Phổ (Quảng Nam) là 230 ha, ở giai đoạn này 2 tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi đã có 1.900 ha chè

Trong những năm 1925 - 1940 người Pháp đã mở thêm các đồn điền chè ở Cao nguyên Trung bộ với diện tích khoảng 2.750 ha Đến năm 1938 Việt Nam đã có 13.405 ha chè với sản lượng 6.100 tấn chè khô Diện tích chè phân phối chủ yếu ở vùng Bắc bộ và Cao nguyên Trung bộ, trong đó 75% diện tích do người Việt Nam quản lý

Đến năm 1939, Việt Nam đạt sản lượng 10.900 tấn chè khô, đứng thứ 6 trên thế giới sau Ấn Độ, Trung Quốc, Srilanca, Nhật Bản, Inđônêxia

Giai đoạn này có 3 cơ sở nghiên cứu chè được thành lập đầu tiên đó là: Trạm nghiên cứu chè Phú Hộ thành lập năm 1918 sau đó vào năm 1927 là trạm nghiên cứu chè Playcu (Gia Lai - Kon Tum) và Trạm Nghiên cứu chè Bảo Lộc (Lâm Đồng) năm 1931 Đặc điểm nổi bật giai đoạn này là diện tích chè bị phân tán, sản xuất mang tính tự cung tự cấp, kỹ thuật canh tác thô sơ, nên giới kinh doanh chèchỉ hoạt động mang tính cầm chừng

+ Giai đoạn 1945-1954: Do ảnh hưởng của chiến tranh, sản xuất chè bị đình trệ, diện tích năng suất, sản lượng chè giảm nhanh

+ Giai đoạn 1954-1990: Sau chiến tranh, sản xuất chè được phục hồi trở lại Nhiều cơ sở sản xuất chè được thành lập Năm 1970 chè được phát

Trang 32

triển mạnh ở cả nông trường quốc doanh, hợp tác xã chuyên canh và hộ gia đình Các cơ sở nghiên cứu chè Phú Hộ (PhúThọ), Bảo Lộc (Lâm Đồng) được củng cố và phát triển, một số vấn đề như giống, kỹ thuật canh tác và chế biến được đầu tư nghiên cứu Nhiều tiến bộ kỹ thuật được áp dụng rộng rãi vào sản xuất đã góp phần tăng nhanh sản lượng và diện tích chè ở Việt Nam

Từ năm 1980-1990 diện tích chè tăng từ 46,9 nghìn ha lên đến

60 nghìn ha (tăng 28%), sản lượng chè tăng từ 21,0 nghìn tấn lên 32,2 nghìn tấn khô (tăng 53,3%) Giai đoạn này công nghiệp chế biến phát triển mạnh, nhiều nhà máy chế biến chè xanh, chè đen được thành lập với sự giúp đỡ của Liên Xô, Trung Quốc, sản phẩm chế biến chủ yếu được xuất khẩu sang các nước Đông Âu và Liên Xô (cũ)

+ Giai đoạn 1990 đến nay: Những năm gần đây, Việt Nam đã có nhiều

cơ chế chính sách đầu tư ưu tiên phát triển cây chè Cây chè được xem là cây trồng có khả năng xoá đói, giảm nghèo và làm giàu của nhiều hộ nông dân

Do đó diện tích, năng suất và sản lượng chè không ngừng tăng lên từ năm 90 trở lại đây [7]

Bảng 2.3 Diện tích, năng suất, sản lƣợng chè Việt Nam giai đoạn 2008 -2015

(ha)

Năng suất (tạ khô/ha)

Sản lƣợng khô (tấn)

Xuất khẩu (tấn khô)

Trang 33

Qua bảng số liệu 2.3 cho thấy:

Diện tích, năng suất và sản lượng xuấtkhẩu chè giai đoạn này tăng trưởng mạnh Năm 2015 diện tích chè cho thu hoạch đã tăng lên đạt 122.700

ha, tăng 76,55% (tăng 53.200 ha) so với năm 2008; Năng suất bình quân đạt 9,97 tạ khô/ha; Sản lượng đạt 122.400 tấn khô,tăng 74,11% (tăng 52.100 tấn)

so với năm 2008, kim ngạch xuất khẩu năm 2015 đạt trên 101 triệu USD

Hiện nay, nước ta có trên 150 đầu mối xuất khẩu chè, chè Việt Nam hiện đã thâm nhập vào thị trường khoảng 40 nước trong đó chủ yếu là Irắc, Pakistan và Đài Loan ngoài ra là các thị trường như Nga, Anh, Mỹ, Nhật Bản Thương hiệu chè Việt nam mang tên VINATEA đã trở nên tin cậy, gần gũi và quen thuộc với rất nhiều quốc gia nhập khẩu, phân phối và tiêu thụ chè Thậm chí ngay cả quốc gia xuất khẩu chè lớn nhất trên thế giới là ấn Độ cũng nhập khẩu sản phẩm chè của Việt Nam

Bảng 2.4: Tình hình xuất khẩu chè của Việt Nam năm 2015

Thị trường Số lượng (tấn) (USD/tấn) Đơn giá Giá trị

Trang 34

Năm 2015, sản lượng chè xuất khẩu đạt 97.749 tấn, tăng 11,12% so với sản lượng xuất khẩu năm 2014 Đứng đầu danh sách nhập khẩu chè Việt Nam năm 2015 là Pakistan, Đài Loan, Ấn Độ và Nga Tuy nhiên, thị phần chè Việt Nam ở những nước này vẫn còn nhỏ bé và đang bị cạnh tranh gay gắt, I- rắc

là thị trường có giá xuất khẩu cao hơn các nước khác, nhưng từ đầu năm 2003

do ảnh hưởng của chiến tranh, xuất khẩu chè ở thị trường này đang gặp phải những khó khăn nghiêm trọng Ngành chè nhiều năm nay vẫn phải đối mặt vấn đề chất lượng, giá chè xuất khẩu của Việt Nam thường chỉ bằng 65 - 70% giá chè xuất khẩu của nhiều nước

Trong những tháng đầu năm 2012 giá chè xuất khẩu chỉ đạt bình quân khoảng 1.006 USD/tấn Xuất khẩu có những mối lo ngại bởi nhiều nguyên nhân, theo hiệp hội chè Việt Nam (Vitas) mạng lưới cơ sở chế biến chè phát triển quá nhanh và đầy tính tự phát, không tương xứng với vùng nguyên liệu Nhiều cơ sở Doanh nghiệp không đủ điều kiện về sản xuất vẫn tham gia chế biến, lưu thông và xuất khẩu, gây nên tình trạng hỗn loạn Hiện nay cả nước

có khoảng 250 cơ sở chế biến chè công nghiệp với năng lực khoảng 70.000 tấn/năm, song nguồn nguyên liệu chỉ đáp ứng được 88% yêu cầu

Bên cạnh đó, sự phát triển nhanh các cơ sở chế biến chè tư nhân (tăng gấp 3 lần về số lượng, công suất tăng gấp 2 lần so với năm 2000 với công nghệ sản xuất thủ công, lạc hậu đã đẩy giá chè búp tươi lên cao và giảm chất lượng sản phẩm, khiến uy tín mặt hàng chè Việt Nam đối với người tiêu dùng thế giới bị lung lay [7] Mới đây, Vitas đã đưa ra cảnh báo khả năng ngành chè mất thị trường EU sau khi khách hàng ở Anh và nhiều nước châu Âu có thông báo về việc dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trong các sản phẩm chè xuất khẩu của Việt Nam vượt ngưỡng cho phép nhiều lần

Để nâng cao an toàn, chất lượng và uy tín chè Việt Nam cần đưa nhanh tiến bộ khoa học công nghệ, cơ cấu giống mới đáp ứng yêu cầu thị trường Doanh nghiệp chè phải đăng ký và đạt các tiêu chuẩn quản lý chất lượng ISO

Trang 35

và HACCP, đưa ra các yếu tố văn hoá vào xây dựng thương hiệu chè Việt Nam, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho người trồng chè Thấy được những khó khăn và thử thách trên, ngay từ những năm cuối thập niên 90, các doanh nghiệp chè Việt Nam đã bắt đầu thực hiện những giải pháp và bước đi chuẩn bị tiến tới hội nhập với nền kinh tế khu vực và toàn cầu, sẵn sàng chấp nhận cạnh tranh đặc biệt là thị trường tiêu thụ chè để tồntại và phát triển Những năm gần đây thực hiện quá trình đổi mới ngành chè Việt Nam

đã có những bước phát triển quan trọng Sau quyết định số 43/1999/QĐ-TTg ngày 9/3/1999 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án phát triển chè Việt Nam giai đoạn 2005 - 2010 Nhiều tiến bộ kỹ thuật được áp dụng, nhiều chương trình khoa học công nghệ đã được tiến hành nghiên cứu khảo nghiệm, kết quả tuyển chọn, nhân lai, nhập mới các giống chè quý đến nay Việt Nam

đã có 130 giống trong tập đoàn quỹ gen chè [5] Có giống được trồng phổ biến như: TRI 777, Kim Tuyên, Phúc Vân Tiên, Bát Tiên, Thuý Ngọc, Keo

Am Tích, Hùng Đỉnh Bạch… Việc đưa các giống mới trồng bằng cành sẽ là tiền đề cho việc nâng cao chất lượng chè cả về nội chất lẫn ngoại hình và đa dạng hoá các sản phẩm chè Việt nam

Tất cả những yếu tố trên nhằm tạo ra lợi thế cạnh tranh cho ngành chè Việt Nam, phấn đấu thực hiện mục tiêu sản phẩm chè Việt Nam đạt chất lượng cao, từng bước khẳng định vị thế của chè Việt Nam trên thị trường chè Quốc tế

-Nhận định và dự báo:

Theo Hiệp hội chè Việt Nam, dự kiến đến năm 2020 sản lượng chè toàn ngành đạt 250.000 tấn (tăng 43%) Trong đó xuất khẩu đạt 182.000 tấn (chiếm 73% tổng sản lượng) với tỷ trọng: Chè xanh và chè đặc sản 60.000 tấn, chè đen OTD 73.000 tấn và chè CTC 49.000 tấn Đơn giá xuất khẩu bình quân đến năm 2020 đạt 1,99 USD/kg Việt Nam là nước có tiềm năng về đất đai, khí hậu thuận lợi cho phát triển cây chè; là nước sản xuất chè cho các

Trang 36

nước XHCN Trong những năm qua, ngành chè đã góp phần sử dụng hiệu quả đất đai ở vùng trung du, miền núi, đặc biệt là Trung du Miền núi Bắc Bộ, đã tạo công ăn việc làm cho hàng vạn người lao động, góp phần xoá đói giảm nghèo, chuyển nền kinh tế tự cấp tự túc của đồng bào dân tộc miền núi bằng một nền kinh tế sản xuất hàng hoá, góp phần phân công lao động giữa miền ngược và miền xuôi Chè cũng đem lại nguồn lợi tương đối lớn cho Ngân sách Nhà nước [7]

a) Sản xuất chè với phát triển nông nghiệp

Chè là cây trồng rất lâu đời ở Việt Nam, đến nay xác định được 33 tỉnh

có khả năng thích hợp nhất để trồng chè, tập trung chủ yếu ở Trung du Miền núi Bắc Bộ và Tây Nguyên Bên cạnh ưu thế về khí hậu, đất đai của tự nhiên nhiệt đới Việt Nam có lợi cho sinh trưởng cây chè (mùa hái chè dài, thời gian kiến thiết ngắn) và các nguồn gen phong phú (chè rừng miền núi), cây chè còn có nghĩa to lớn đối với người dân:

Những năm gần đây, việc triển khai giao đất và khoán chè cho người lao động theo Nghị định của Chính phủ cùng với những giải pháp của ngành chè Việt Nam được giải quyết tốt việc làm cho người lao động Cùng với cơ chế

và phương thức mua chè thuận lợi cho người lao động đã tạo động lực khuyến khích người lao động phấn khởi chủ động đầu tư thâm canh chè để đạt năng suất, chất lượng cao Ở trung du miền núi người dân có tập quán trồng lúa nương với thu nhập thấp hơn rất nhiều so với trồng chè Điều này dẫn tới quan điểm chuyển sang trồng chè thay vì lúa nương trong nhân dân miền núi

- Trồng chè đúng kỹ thuật sẽ tạo ra một thảm thực vật có tác dụng phủ xanh đất trống đồi núi trọc

- Cây chè là cây không kén đất như cà phê, ca cao, hồ tiêu, năng suất lại tương đối ổn định, ít biến động hàng năm không lớn ngay cả những năm thiên tai, hạn hán Nhìn chung đây là loại đất trồng đứng về mặt kinh doanh tương đối ổn định

Ngày đăng: 24/10/2017, 10:04

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w