1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp quản lý chất thải rắn sinh hoạt thị trấn Pác Miầu huyện Bảo Lâm tỉnh Cao Bằng

67 425 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 711,85 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích của đề tài - Đánh giá hiện trạng, phân loại, thu gom và xử lý rác thải rắn sinh hoạt và đề xuất được các giải pháp quản lý chất thải có hiệu quả.. Việc phân loại chất thải hiện

Trang 1

NÔNG VĂN TUÂN

Tên đề tài:

QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT THỊ TRẤN PÁC MIẦU

HUYỆN BẢO LÂM – TỈNH CAO BẰNG”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Thái Nguyên - 2016

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NÔNG VĂN TUÂN

Tên đề tài:

QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT THỊ TRẤN PÁC MIẦU

HUYỆN BẢO LÂM – TỈNH CAO BẰNG”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khóa luận chuyên ngành khoa học môi trường, tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo PGS.TS Trần Văn Điền đã tận tình hướng dẫn trong suốt quá trình viết khóa luận tốt nghiệp

Tôi xin chân thành cảm ơn quý Thầy, Cô trong khoa Khoa Học Môi Trường - Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên đã tận tình truyền đạt kiến thức trong thời gian học tập tại khoa Với vốn kiến thức được tiếp thu trong quá trình học, không chỉ là nền tảng cho quá trình nghiên cứu khóa luận mà còn là hành trang quý báu để tôi bước vào đời một cách vững vàng tự tin Tôi xin chân thành cảm ơn UBND thị trấn Pác Miầu, UBND huyện Bảo Lâm tỉnh Cao Bằng đã tạo điều kiện cho tôi điều tra, khảo sát để có dữ liệu viết luận văn này

Mặc dù tôi đã rất cố gắng hoàn thành bản luận văn bằng tất cả sự nhiệt tình và năng lực của mình Tuy nhiên, thời gian và năng lực có hạn nên không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được ý kiến đóng góp quý báu của các thầy cô và các bạn

Tác giả luận văn

Nông Văn Tuân

Trang 4

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1: Lượng phát sinh chất thải rắn ở một số nước 9

Bảng 2.2: Lượng CTRSH phát sinh ở các đô thị Việt Nam đầu năm 2007 13

Bảng 2.3: Lượng CTRSH đô thị theo vùng địa lý Việt Nam đầu năm 2007 14

Bảng 4.1: Đặc điểm khí hậu của thị trấn Pác Miầu 23

Bảng 4.2: Bảng hiện trạng sử dụng đất của thị trấn Pác Miầu 24

Bảng 4.3: Phân bố dân cư của thị trấn Pác Miầu 27

Bảng 4.4: Danh sách các trường học của thị trấn Pác Miầu 29

Bảng 4.5: Tổng rác thải phát sinh qua các năm 32

Bảng 4.6: Lượng rác thải của hộ/ ngày (Điều tra 30 hộ) 33

Bảng 4.7: Phân bố dân cư và lượng rác thải sinh hoạt của thị trấn Pác Miầu 34

Bảng 4.8: Lượng rác thải sinh hoạt phát sinh tại cơ quan, trường học,

bệnh việt, khu buôn bán dịch vụ: 35

Bảng 4.9: Thành phần rác thải sinh hoạt của các nhóm hộ trên địa bàn thị trấn Pác Miầu 37

Bảng 4.10: Thiết bị và phương tiện thu gom 42

Bảng 4.11: Mức thu phí vệ sinh môi trường của thị trấn 44

Bảng 4.12: Bảng đánh giá của cộng đồng dân cư về tình hình thu phí vệ sinh môi trường 45

Bảng 4.13: Bảng tỷ lệ % cách xử lý rác của người dân thị trấn 46

Bảng 4.14: Tỷ lệ thu gom rác thải sinh hoạt của các khu tại thị trấn 47

Bảng 4.15: Dự báo dân số thị trấn Pác Miầu 2015 – 2020 50

Bảng 4.16: Dự báo khối lượng rác thải phát sinh của thị trấn Pác Miầu đến 2020 51

Trang 5

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1: Sơ đồ nguồn gốc phát sinh chất thải rắn 5

Hình 4.1: Cơ cấu lao động của thị trấn Pác Miầu 28

Hình 4.2: Nguồn phát sinh rác thải sinh hoạt tại thị trấn Pác Miầu 32

Hình 4.3: Sơ đồ biểu diễn tỷ lệ phần trăm RTSH năm 2014 và 2015 36

Hình 4.4: Thành phần rác thải tại chợ Nông Sản 38

Hình 4.5: Rác thải sinh hoạt phát sinh tại khu chợ Nông Sản 40

Hình 4.6: Rác thải vứt bừa bãi cạnh mương nước chảy 41

Hình 4.7: Sơ đồ hệ thống thu gom và vận chuyển rác thải sinh hoạt

trên địa bàn thị trấn Pác Miầu 42

Hình 4.8: Thu gom rác thải tại thị trấn Pác Miầu 43

Hình 4.9: Đánh giá của người dân về chất lượng thu gom RTSH 49

Trang 6

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

CTRHC : Chất thải rắn hữu CTRSH : Chất thải rắn sinh hoạt

KHCNMT : Khoa học công nghệ môi trường

TP HCM : Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 7

MỤC LỤC

PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục đích của đề tài 2

1.3 Ý nghĩa của đề tài 2

1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 2

1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2

PHẦN 2 TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN 3

2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 3

2.1.1 Tổng quan về chất thải 3

2.1.2 Nguồn phát sinh chất thải rắn 5

2.1.3 Ảnh hưởng của CTR đến môi trường và sức khoẻ cộng đồng 6

2.2 Hiện trạng rác thải sinh hoạt trên Thế giới và Việt Nam 8

2.2.1 Tình hình quản lý, chất thải rắn sinh hoạt trên thế giới 8

2.2.2 Tình hình quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại Việt Nam 12

PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19

3.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 19

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 19

3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 19

3.1.3 Thời gian tiến hành 19

3.2 Nội dung nghiên cứu 19

3.3 Phương pháp nghiên cứu 19

3.3.1 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp 19

3.3.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp 20

3.3.3 Phương pháp tổng hợp phân tích và xử lý số liệu 21

PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 22

4.1 Điều kiện kinh tế - xã hội thị trấn Pác Miầu 22

4.1.1 Vị trí địa lý và ranh giới hành chính 22

4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 26

Trang 8

4.1.3 Cơ sở hạ tầng kỹ thuật 29

4.2 Thực trạng rác thải sinh hoạt trên địa bàn thị trấn Pác Miầu 31

4.2.1 Nguồn phát sinh rác thải 32

4.2.2 Khối lượng rác thải phát sinh 32

4.2.3 Thành phần rác thải sinh hoạt 35

4.2.4 Ảnh hưởng của rác thải sinh hoạt đối với môi trường 39

4.3 Tình hình quản lý, xử lý rác thải tại thị trấn Pác Miầu 41

4.3.1 Thực trạng quản lý CTSH tại thị trấn Pác Miầu 41

4.3.3 Thực trạng xử lý rác thải sinh hoạt tại thị trấn 46

4.4 Thái độ của nhà quản lý, công nhân thu gom và hộ gia đình đối với

công tác quản lý rác thải sinh hoạt 48

4.5 Dự tính khối lượng rác thải sinh hoạt tại thị trấn Pác Miầu

theo giai đoạn 2015 – 2020 49

4.6 Dự báo khối lượng rác thải phát sinh trong thị trấn Pác Miầu đến 2020 50

4.7 Đề xuất biện pháp quản lý, xử lý rác thải sinh hoạt 51

4.7.1 Biện pháp cơ chế chính sách 52

4.7.2 Biện pháp tuyên truyền giáo dục 52

4.7.3 Yêu cầu về dụng cụ đựng chất thải rắn đối với hộ gia đình 53

4.7.4 Tổ chức hệ thống thu gom, xử lý chất thải rắn sinh hoạt 54

4.7.5 Biện pháp công nghệ 54

PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 56

5.1 Kết luận 56

5.2 Đề nghị 56

TÀI LIỆU THAM KHẢO 58

Trang 9

PHẦN 1

MỞ ĐẦU

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Nền kinh tế Việt Nam đang có những bước chuyển mình mạnh mẽ Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đang diễn ra hết sức khẩn trương, bộ mặt xã hội đã có chuyển biến tích cực Cho đến nay, nó không chỉ phát triển

ở các thành phố, khu đô thị lớn của nước ta mà đang mở rộng ra các quận, huyện, và các thị trấn, phạm vi nhỏ hẹp hơn là các làng, xã

Song song, với quá trình phát triển đó, chất lượng cuộc sống của người dân các quận, huyện, nông thôn cũng được nâng cao Mức sống của người dân càng cao thì nhu cầu tiêu dùng các sản phẩm xã hội càng lớn, điều này đồng nghĩa với việc gia tăng lượng rác thải sinh hoạt theo hộ gia đình và nó được thải vào môi trường ngày càng nhiều

Thị trấn Pác Miầu huyện Bảo Lâm nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Cao Bằng, nằm cách Thành Phố Cao Bằng 180km, là nơi có đường quốc lộ 34 chạy qua thuận tiện cho việc giao thương với tỉnh lân cận Vì vậy, các hoạt động kinh tế, dịch vụ của thị trấn tương đối phát triển, đồng thời dân số thị trấn tăng nên như cầu tiêu dùng của người dân cũng tăng theo Các chợ, quán

ăn, dịch vụ phục vụ người dân cũng ngày càng phong phú và đa dạng, dẫn đến lượng rác thải cũng tăng nhiều

Tuy nhiên, điều đáng quan tâm ở đây là chưa có một giải pháp cụ thể nào về việc xử lý các nguồn rác thải phát sinh này Mà rác thải chỉ được thu gom tập trung ở một số bãi rác lộ thiên, không tiến hành xử lý, làm mất vệ sinh công cộng, mất mỹ quan môi trường, gây ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí Đặc biệt, những bãi rác này còn là nguy cơ gây bệnh dịch, nguy hại đến sức khỏe con người

Xuất phát từ thực trạng trên, nhằm tìm ra biện pháp quản lý, xử lý phù hợp góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường do rác thải sinh hoạt Vì vậy,

Trang 10

tôi tiến hành thực hiện đề tài “Đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp quản lý chất thải rắn sinh hoạt thị trấn Pác Miầu - Huyện Bảo Lâm - Tỉnh Cao Bằng”

1.2 Mục đích của đề tài

- Đánh giá hiện trạng, phân loại, thu gom và xử lý rác thải rắn sinh hoạt

và đề xuất được các giải pháp quản lý chất thải có hiệu quả

1.3 Ý nghĩa của đề tài

1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học

Kết quả của đề tài là tài liệu để tham khảo và là cơ sở cho các nghiên cứu khoa học liên quan đến mảng kiến thức này

Giúp cho sinh viên củng cố hệ thống hóa kiến thức đã học và áp dụng vào thực tế Đồng thời tạo điều kiện cho sinh viên nâng cao kiến thức, tích lũy kinh nghiệm thực tế

Vận dụng và phát huy được các kiến thức đã học tập vào thực tế và các kiến thức thực tế giúp nâng cao kiến thức và sự trưởng thành cho bản thân

Từ đó giúp nâng cao ý thức của nhân dân trong việc bảo vệ môi trường

Trang 11

PHẦN 2 TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN 2.1 Cơ sở khoa học của đề tài

+ Chất thải rắn: Là chất thải ở thể rắn, được thải ra từ quá trình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác

+ Chất thải rắn sinh họat: Chất thải rắn phát sinh trong sinh hoạt cá nhân, hộ gia đình, nơi công cộng

+ Phế liệu: Là sản phẩm, Vật liệu bị loại ra trong quá trình sản xuất hoặc tiêu dùng được thu hồi để tái chế, tái sử dụng làm nguyên liệu cho quá trình sản xuất sản phẩm khác

+ Thu gom chất thải rắn: Là hoạt động tập hợp, phân loại, đóng gói và lưu giữ tạm thời chất thải rắn tại nhiều điểm thu gom tới thời điểm hoặc cơ sở được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp nhận

+ Lưu giữ chất thải rắn: Là việc giữ chất thải rắn trong một khoảng thời gian nhất định ở nơi cơ quan có thẩm quyền chấp nhận trước khi chuyển đến

cơ sở xử lý

+ Vận chuyển chất thải rắn: Là quá trình chuyên chở chất thải rắn từ nơi phát sinh, thu gom, lưu giữ, trung chuyển đến nơi xử lý, tái chế, tái sử dụng hoặc chôn lấp cuối cùng

+ Xử lý chất thải rắn: Là quá trình sử dụng các giải pháp công nghệ, kỹ thuật làm giảm, loại bỏ, tiêu huỷ các thành phần có hại hoặc không có ích trong chất thải rắn

Trang 12

+ Chôn lấp chất thải rắn hợp vệ sinh: Là hoạt động chôn lấp phù hợp với các yêu cầu của tiêu chuẩn kỹ thuật về bãi chôn lấp chất thải rắn hợp vệ sinh

+ Phân loại rác tại nguồn: Là việc phân loại rác ngay từ khi mới thải ra hay gọi là từ nguồn Đó là một biện pháp nhằm thuận lợi cho công tác xử lý rác về sau

+ Rác: là thuật ngữ dùng để chỉ chất thải rắn hình dạng tương đối cố

định, bị vứt bỏ từ hoạt động của con người Rác sinh hoạt hay chất thải rắn sinh hoạt là một bộ phận của chất thải rắn, được hiểu là các chất thải rắn phát sinh từ các hoạt động sinh hoạt hàng ngày của con người (Trần Hiếu Nhuệ, 2001) [12]

+ Chất thải là sản phẩm được sinh ra trong quá trình sinh hoạt của con người, sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, giao thông, dịch vụ, thương mại, sinh hoạt gia đình, trường học, các khu dân cư, nhà hàng, khách sạn Ngoài ra, còn phát sinh trong giao thông vận tải như khí thải của các phương tiện giao thông, chất thải là kim loại hoá chất và từ các vật liệu khác (Nguyễn Xuân Nguyên, 2004) [14]

-Tái chế chất thải: thực chất là người ta lấy lại những phần vật chất của sản phẩm hàng hóa cũ và sử dụng các nguyên liệu này để tạo ra sản phẩm mới

- Tái sử dụng chất thải: thực chất có những sản phẩm hoặc nguyên liệu

có quãng đời sử dụng kéo dài, người ta có thể sử dụng được nhiều lần mà không bị thay đổi hình dạng vật lý, tính chất hóa học (Nguyễn Thế Chinh, 2003) [1]

Có rất nhiều cách phân loại chất thải khác nhau Việc phân loại chất thải hiện nay chưa có những quy định chung thống nhất, tuy nhiên bằng những nhìn nhận thực tiễn của hoạt động kinh tế và ý nghĩa của nghiên cứu

quản lý đối với chất thải, có thể chia ra các cách phân loại sau đây:

- Phân loại theo nguồn gốc phát sinh:

+ Chất thải từ các hộ gia đình hay còn gọi là chất thải hay rác thải sinh hoạt được phát sinh từ các hộ gia đình

Trang 13

+ Chất thải từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh, thương mại: Là những chất thải có nguồn gốc phát sinh từ các ngành kinh tế như công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ

- Phân loại chất thải theo thuộc tính vật lý: Chất thải rắn, chất thải lỏng, chất thải khí

- Phân loại chất thải theo tính chất hóa học: theo cách này người ta chia chất thải dạng hữu cơ, vô cơ hoặc theo đặc tính của vật chất như chất thải dạng kim loại, chất dẻo, thủy tinh, giấy, bìa…

- Phân loại theo mức độ nguy hại đối với con người và sinh vật : chất thải độc hại, chất thải đặc biệt Mỗi cách phân loại có một mục đích nhất định nhằm phục vụ cho việc nghiên cứu, sử dụng hay kiểm soát và quản lý chất thải có hiệu quả (Nguyễn Thế Chinh, 2003) [1]

2.1.2 Nguồn phát sinh chất thải rắn

Các nguồn phát sinh CTR chủ yếu từ các hoạt động:

Nông nghiệp, hoạt động xử lý rác thải

Nơi vui chơi, giải trí

Bệnh viện,

cơ sở y tế

Khu công nghiệp, nhà máy, xí nghiệp

Trang 14

2.1.3 Ảnh hưởng của CTR đến môi trường và sức khoẻ cộng đồng

Mức sống của con người càng cao thì lượng rác thải phát sinh ngày càng nhiều Sự thải ra các chất rắn trong quá trình sinh hoạt và sản xuất của con người đã sinh ra hàng loạt các vấn đề ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng, ô nhiễm đất, nước, phá hủy cảnh quan, mất cân bằng sinh thái

2.1.3.1 Ảnh hưởng của chất thải rắn đến sức khoẻ cộng đồng

Một trong những dạng chất thải nguy hại xem là ảnh hưởng đến sức khỏe của con người và môi trường là các chất hữu cơ bền Những hợp chất này vô cùng bền vữmg, tồn tại lâu trong môi trường, có khả năng tích lũy sinh học trong nông sản phẩm, thực phẩm, trong các nguồn nước mô mỡ của động vật gây ra hàng loạt các bện nguy hiểm đối với con người, phổ biến nhất là ung thư Đặc biệt, các chất hữu cơ trên được tận dụng nhiều trong trong đời sống hàng ngày của con người ở các dạng dầu thải trong các thiết bị điện trong gia đình, các thiết bị ngành điện như máy biến thế, tụ điện, đèn huỳnh quang, dầu chịu nhiệt, dầu chế biến, chất làm mát trong truyền nhiệt Theo đánh giá của các chuyên gia, các loại chất thải nguy hại ảnh hưởng đến sức khoẻ cộng đồng nghiêm trọng nhất là đối với khu dân cư khu vực làng nghề, gần khu công nghiệp, bãi chôn lấp chất thải và vùng nông thôn ô nhiễm môi trường do chất thải rắn cũng đã đến mức báo động (Hội bảo vệ thiên nhiên và Môi trường Việt Nam, 2004) [7]

2.1.3.2 Ảnh hưởng của chất thải rắn đến môi trường đất

Đất bị ô nhiễm bởi các nguyên nhân chủ yếu sau:

+ Do thải vào đất một khối lượng lớn chất thải công nghiệp như xỉ than, căng kháng, hóa chất… Các chất ô nhiễm không khí lắng đọng trên bề mặt sẽ gây ô nhiễm đất, tác động đến các hệ sinh thái đất

+ Do thải ra mặt đất những rác thải sinh hoạt, các chất thải của quá trình xử lý nước

+ Do dùng phân hữu cơ trong nông nghiệp chưa qua xử lý các mầm bệnh ký sinh trùng, vi khuẩn đường ruột… đã gây ra các bệnh truyền từ đất cho cây sau đó sang người và động vật…

Trang 15

- Chất thải rắn vứt bừa bãi ra đất hoặc chôn lấp vào đất chứa các chất hữu cơ khó phân huỷ làm thay đổi PH của đất

- Rác còn là nơi sinh sống của cá loài công trùng, gặm nhấm, vi khuẩn, nấm mốc những loài này di động mang các vi trùng gây bệnh truyền nhiễm cho cộng đồng

- Chất thải nguy hại phát sinh từ hoạt động sản xuất công nghiệp, nông nghiệp khi đưa vào môi trường đất sẽ làm thay đổi thành phần cấp hạt, tăng

độ chặt, giảm tính thấm nước, giảm lượng mùn, làm mất cân bằng dinh dưỡng, làm cho đất bị chai cứng không còn khả năng sản xuất

Tóm lại rác thải sinh hoạt là nguyên nhân gây ô nhiễm đất (Hoàng Đức Liên Tống Ngọc Tuấn, 2003) [9]

-2.1.3.3 Ảnh hưởng của chất thải rắn đến môi trường nước

- Nước ngấm xuống đất từ các chất thải được chôn lấp, các hố phân, nước làm lạnh tro xỉ, làm ô nhiễm nước ngầm

- Nước chảy khi mưa to qua các bãi chôn lấp, các hố phân, chảy vào các mương, rãnh, ao, hồ, sông, suối làm ô nhiễm nước mặt

- Nước này chứa các vi trùng gây bệnh, các kim loại nặng, các chất hữu cơ, các muối vô cơ hoà tan vượt quá tiêu chuẩn môi trường nhiều lần

2.1.3.4 Ảnh hưởng của chất thải rắn đến môi trường không khí

- Rác thải hữu cơ phân hủy tạo ra mùi và các khí độc hại như CH4,

CO2, NH3, gây ô nhiễm môi trường không khí

- Khí thoát ra từ các hố hoặc chất làm phân, chất thải chôn lấp chứa rác chứa CH4, H2S, CO2, NH3, các khí độc hại hữu cơ

- Khí sinh ra từ quá trình thu gom, vận chuyển, chôn lấp rác chứa các vi trùng, các chất độc lẫn trong rác

2.1.3.5 Chất thải rắn làm giảm mỹ quan đô thị

Chất thải rắn, đặc biệt là chất thải rắn sinh hoạt nếu không được thu gom, vận chuyển, xử lý thì sẽ làm giảm mỹ quan đô thị Nguyên

Trang 16

nhân của hiện tượng này là do ý thức của người dân chưa cao Tình trạng người dân vứt rác bừa bãi ra lòng lề đường và mương rãnh hở vẫn còn phổ biến gây ô nhiễm nguồn nước và ngập úng khi mưa

2.2 Hiện trạng rác thải sinh hoạt trên Thế giới và Việt Nam

2.2.1 Tình hình quản lý, chất thải rắn sinh hoạt trên thế giới

Theo Nguyễn Thị Anh Hoa (2006) [5], mức đô thị hóa cao thì lượng chất thải tăng lên theo đầu người, ví dụ cụ thể một số nước hiện nay như sau: Canada là 1,7 kg/người/ngày; Australia là 1,6 kg/người/ngày; Thụy Sỹ là 1,3 kg/người/ngày; Trung Quốc là 1,3 kg/người/ngày Với sự gia tăng của rác thì việc thu gom, phân loại, xử lý rác thải là điều mà mọi quốc gia cần quan tâm Ngày nay, trên thế giới

có nhiều cách xử lý rác thải như: công nghệ sinh học, công nghệ sử dụng nhiệt, công nghệ Seraphin Đô thị hóa và phát triển kinh tế thường đi đôi với mức tiêu thụ tài nguyên và tỷ lệ phát sinh chất thải rắn tăng lên tính theo đầu người Dân thành thị ở các nước phát triển phát sinh chất thải nhiều hơn ở các nước đang phát triển gấp 6 lần, cụ thể ở các nước phát triển là 2,8 kg/người/ngày; Ở các nước đang phát triển là 0,5 kg/người/ngày Chi phí quản lý cho rác thải ở các nước đang phát triển

có thể lên đến 50% ngân sách hàng năm Cơ sở hạ tầng tiêu hủy an toàn rác thải thường rất thiếu thốn Khoảng 30 - 60% rác thải đô thị không được cung cấp dịch vụ thu gom

Tiêu chuẩn tạo rác trung bình theo đầu người đối với từng loại chất thải mang tính đặc thù của từng địa phương và phụ thuộc vào mức sống, văn minh, dân cư ở mỗi khu vực Tuy nhiên, dù ở khu vực nào cũng có xu hướng chung của thế giới là mức sống càng cao thì lượng chất thải phát sinh càng nhiều Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới (WB,2004), tại các thành phố lớn như New York tỷ lệ phát sinh chất thải rắn là 1,8kg/người/ngày, Singapore, Hồng Kông là 0,8 - 10 kg/người/ngày

Trang 17

Bảng 2.1: Lượng phát sinh chất thải rắn ở một số nước

nay (% tổng số)

LPSCTRDDT hiện nay (kg/người/ngày)

(Nguồn: World bank, 2005)

Trên thế giới, các nước phát triển đã có những mô hình phân loaị và thu gom rác thải rất hiệu quả như:

Nhật Bản: Các gia đình Nhật Bản đã phân loại chất thải thành 3 loại

riêng biệt và cho vào 3 túi với màu sắc theo quy định: rác hữu cơ, rác vô cơ, giấy, vải, thuỷ tinh, rác kim loại Rác hữu cơ được đưa đến nhà máy xử lý rác thải để sản xuất phân vi sinh Các loại rác còn lại: giấy, vải, thuỷ tinh, kim loại, đều được đưa đến cơ sở tái chế hàng hoá Tại đây, rác được đưa đến hầm ủ có nắp đậy và được chảy trong một dòng nước có thổi khí rất mạnh vào

Trang 18

các chất hữu cơ và phân gải chúng một cách triệt để Sau quá trình xử lý đó, rác chỉ còn như một loại cát mịn và nước thải giảm ô nhiễm Các cặn rác không còn mùi sẽ được đem nén thành các viên gạch lát vỉ hè rất xốp, chúng

có tác dụng hút nước khi trời mưa

Ở một số quốc gia xử lý rác thải ngay tại nguồn như: Thái Lan, Nhật Bản người ta chia rác thành 3 loại cho vào 3 thùng riêng: những chất có thể tái sinh, thực phẩm và các chất độc hại Các loại rác này được thu gom và chở bằng xe ép có màu sắc khác nhau

Rác tái sinh sau khi được phân loại sơ bộ tại nguồn phát sinh được chuyển đến nhà máy phân loại rác để tách ra các loại vật liệu khác nhau, sử dụng trong tái sản xuất Những chất thải thực phẩm chuyển đến nhà máy tái chế phân vi sinh Những chất còn lại sau khi được tái chế hay chế thành phân vi sinh được xử lý bằng phương pháp chôn lấp Chất thải độc hại xử lý bằng phương pháp đốt (Dự án Danida, 2007) [4]

Mỹ: Hàng năm, rác thải sinh hoạt của các thành phố Mỹ lên tới 210

triệu tấn Tính bình quân mỗi người dân Mỹ thải ra 2 kg rác/ngày Hầu như thành phần các loại rác thải trên đất nước Mỹ không có sự chênh lệch quá lớn

về tỷ lệ, cao nhất không phải là thành phần hữu cơ như các nước khác mà là thành phần chất thải vô cơ (giấy các loại chiếm đến 38%), điều này cũng dể lý giải đối với nhịp điệu phát triển và tập quán của người Mỹ là việc thường xuyên sử dụng các loại đồ hộp, thực phẩm ăn sẵn cùng các vật liệu có nguồn gốc vô cơ Trong thành phần rác thải sinh hoạt thực phẩm chỉ chiếm 10,4% và

tỷ lệ các loại kim loại cũng khá cao là 7,7% Như vậy trong rác thải sinh hoạt

Mỹ các loại có thể qua phân loại, xử lý để tái sinh sử dụng chiếm tỷ lệ khá cao (các loại khó hoặc không phân giải được như kim loại, thuỷ tinh, gốm, sứ) chiếm khoảng hơn 20% (Lê Văn Nhương, 2001) [13] Đối với một số rác không thể tái sử dụng đuợc thì được đem đi chôn lấp hoặc thiêu đốt Hiện nay

có tới 55% khối lượng rác thải đem chôn, 17% lượng rác thải đem đốt Đến

Trang 19

nay có khoảng 110 bãi thiêu đố rác thải, trung bình mỗi ngày có khả năng thiêu đốt được khoảng 100 tấn rác thải Việc quản lý khí đốt được giao cho văn phòng bức xạ của cục môi trường phụ trách

Pháp: Ở nước này quy định phải đựng các vật liệu, nguyên liệu,

nguyên tố hay hay nguồn năng lượng nhất định để tạo điều kiện dễ dàng cho việc khôi phục lại các vật liệu thành phần Theo đó đã có các quyết định cấm các cách xử lý hỗn hợp nào đó các hỗn hợp, các tổ hợp thành phần cũng như các phương pháp nhất định Chính phủ có thể yêu cầu các nhà chế tạo và nhà nhập khẩu không sử dụng các loại vật liệu tận dụng để bảo vệ môi trường hoặc giảm bớt sự thiếu hụt một vật liệu nào đó Tuy nhiên cần phải tham khảo

và thương lượng, nhất trí các tổ chức, nghiệp đoàn khi áp dụng đặt các yêu cầu này (Trần Hiếu Nhuệ, 2001) [12]

Singapo: Đây là nước đô thị hoá 100% và là đô thị sạch nhất trên thế

giới Để có được kết quả như vậy, Singapo đầu tư cho công tác thu gom, vận chuyển và xử lý rác đồng thời xây dựng một hệ thống luật pháp nghiêm khắc làm tiền đề cho quá trình xử lý rác thải tốt hơn Rác thải ở Singapo được thu gom và phân loại bằng túi nilon Các chất thải có thể tái chế được, được đưa

về các nhà máy tái chế lại còn các loại chất thải khác được đưa về nhà máy khác để thiêu huỷ Ở Singapo có 2 thành phần chính tham gia vào thu gom và

xử lý các rác thải sinh hoạt từ các khu dân cư và công ty, hơn 300 công ty tư nhân chuyên thu gom rác thải công nghiệp và thương mại Tất cả các công ty này đều được cấp giấy phép hoạt động và chịu sự giám sát kiểm tra trực tiếp của Sở khoa học công nghệ và môi trường Ngoài ra, các hộ dân và các công

ty của Singapo được khuyến khích tự thu gom và vận chuyển rác thải cho các

hộ dân vào các công ty Chẳng hạn, đối với các hộ dân thu gom rác trực tiếp tại nhà phải trả phí 17 đô la Singapo/tháng, thu gom gián tiếp tại các khu dân

cư chỉ phải trả phí 7 đô la Singapo/tháng (Lê Huỳnh Mai, 2009) [10]

Trang 20

2.2.2 Tình hình quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại Việt Nam

2.2.2.1 Tình hình quản lý rác thải tại các đô thị, thành phố ở Việt Nam

Hiện nay ở tất cả các thành phố, thị xã, đã thành lập các công ty môi trường đô thị có chức năng thu gom và quản lý rác thải Nhưng hiệu quả của công việc thu gom, quản lý rác thải còn kém, chỉ đạt từ 30-70% do khối lượng rác phát sinh hàng ngày còn rất lớn Trừ lượng rác thải đã quản

lý số còn lại người ta đổ bừa bãi xuống các sông, hồ, ngòi, ao, khu đất trống làm ô nhiễm môi trường nước và không khí Các chỉ tiêu BOD5, Colifom,

H2S, NH3… của không khí vượt nhiều lần so với tiêu chuẩn cho phép

Bên cạnh đó việc quản lý chất thải rắn tại các đô thị đang ở trong tình trạng rất yếu kém do nhiều nguyên nhân như: lượng thu gom đạt thấp, chất thải không được phân loại, xử lý và các bãi chôn lấp chất thải đó không phù hợp và không đảm bảo các tiêu chuẩn về môi trường theo luật bảo vệ môi trường quy định (Hoàng Đức Liên – Tống Ngọc Tuấn, 2003) [9]

Lượng chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) tại các đô thị ở nước ta đang có

xu thế phát sinh ngày càng tăng, tính trung bình mỗi năm tăng khoảng 10%

Tỷ lệ tăng cao tập trung ở các đô thị đang có xu hướng mở rộng, phát triển mạnh cả về quy mô lẫn dân số và các khu công nghiệp, như các đô thị tỉnh Phú Thọ (19,9%), thành phố Phủ Lý (17,3%), Hưng Yên (12,3%), Rạch Giá (12,7%), Các đô thị khu vực Tây Nguyên có tỷ lệ phát sinh CTRSH tăng đồng đều hàng năm và với tỷ lệ tăng ít hơn (5,0%) Tổng lượng phát sinh CTRSH tại các đô thị loại III trở lên và một số đô thị loại IV là các trung tâm văn hóa, xã hội, kinh tế của các tỉnh thành trên cả nước lên đến 6,5 triệu tấn/năm, trong đó CTRSH phát sinh từ các hộ gia đình, nhà hàng, các chợ và kinh doanh là chủ yếu Lượng còn lại từ các công sở, đường phố, các cơ sở y

tế Chất thải nguy hại công nghiệp và các nguồn chất thải y tế nguy hại ở các

đô thị tuy chiếm tỷ lệ ít nhưng chưa được xử lý triệt để vẫn còn tình trạng chôn lấp lẫn với CTRSH đô thị

Trang 21

Kết quả điều tra tổng thể năm 2006 - 2007 cho thấy, lượng CTRSH

đô thị phát sinh chủ yếu tập trung ở 2 đô thị đặc biệt là Hà Nội và TP Hồ Chí Minh Tuy chỉ có 2 đô thị nhưng tổng lượng CTRSH phát sinh tới 8.000 tấn/ngày (2.920.000 tấn/năm) chiếm 45,24% tổng lượng CTRSH phát sinh từ tất cả các đô thị (bảng 2.2)

Bảng 2.2: Lượng CTRSH phát sinh ở các đô thị Việt Nam đầu năm 2007

STT Loại đô thị

Lượng CTRSH bình quân / người (kg/người/ngày)

(Nguồn: Cục bảo vệ môi trường, 2008)

Tính theo vùng địa lý (hay vùng phát triển kinh tế - xã hội) thì các đô thị vùng Đông Nam bộ có lượng CTRSH phát sinh lớn nhất tới 2.450.245 tấn/năm (chiếm 37,94% tổng lượng phát sinh CTRSH các đô thị loại III trở lên của cả nước), tiếp đến là các đô thị vùng Đồng bằng sông Hồng có lượng phát sinh CTRSH đô thị là 1.622.060 tấn/năm (chiếm 25,12%) Các đô thị khu vực miền núi Tây Bắc bộ có lượng phát sinh CTRSH đô thị thấp nhất chỉ

có 69.350 tấn/năm (chiếm 1,07% ), tiếp đến là các đô thị thuộc các tỉnh vùng Tây Nguyên, tổng lượng phát sinh CTRSH đô thị là 237.350 tấn/năm (chiếm 3,68%) (Hình 2.2) Đô thị có lượng CTRSH phát sinh lớn nhất là tp Hồ Chí Minh (5.500 tấn/ngày), Hà Nội (2.500 tấn/ngày); đô thị có lượng CTRSH phát sinh ít nhất là Bắc Kạn - 12,3 tấn/ngày; Cao Bằng 20 tấn/ngày; tp Đồng Hới

Trang 22

32,0 tấn/ngày; tp Yên Bái 33,4 tấn/ngày và thị xã Hà Giang 37,1 tấn/ngày Tỷ

lệ phát sinh CTRSH đô thị bình quân trên đầu người tại các đô thị đặc biệt và

đô thị loại I tương đối cao (0,84 - 0,96kg/người/ngày); đô thị loại II và loại III

có tỷ lệ phát sinh CTRSH đô thị bình quân trên đầu người là tương đương nhau (0,72 - 0,73 kg/người/ngày); đô thị loại IV có tỷ lệ phát sinh CTRSH đô thị bình quân trên một đầu người đạt khoảng 0,65 kg/người/ngày Tỷ lệ phát sinh CTRSH tính bình quân lớn nhất tập trung ở các đô thị phát triển du lịch như tp Hạ Long 1,38 kg/người/ngày; tp.Hội An 1,08 kg/người/ngày; tp Đà Lạt 1,06 kg/người/ngày; tp Ninh Bình 1,30 kg/người/ngày Các đô thị có tỷ lệ phát sinh CTRSH tính bình quân đầu người thấp nhất là tp Đồng Hới (Tỉnh Quảng Bình) chỉ 0,31 kg/người/ngày; thị xã Kon Tum 0,35 kg/người/ngày; thị

xã Cao Bằng 0,38 kg/người/ngày Trong khi đó tỷ lệ phát sinh bình quân đầu người tính trung bình cho các đô thị trên phạm vi cả nước là 0,73 kg/người/ngày (bảng 2.3)

Bảng 2.3: Lượng CTRSH đô thị theo vùng địa lý Việt Nam đầu năm 2007

STT Đơn vị hành chính

Lượng CTRSH bình quân/đầu người (kg/người/ngày)

Lượng CTRSH đô thị

phát sinh Tấn/ngày Tấn/năm

Trang 23

Với kết quả điều tra thống kê chưa đầy đủ như trên cho thấy, tổng lượng phát sinh CTRSH tại các đô thị ở nước ta ngày càng gia tăng với tỷ lệ tương đối cao (10%/năm) so với các nước phát triển trên thế giới Tổng lượng phát sinh CTRSH tại các đô thị loại III trở lên và một số đô thị loại IV lên khoảng 6,5 triệu tấn/năm (năm 2004: tổng lượng chất thải sinh hoạt của tất cả các đô thị Việt Nam là 6,4 triệu tấn/năm) Dự báo tổng lượng CTRSH đô thị đến năm 2010 vào khoảng hơn 12 triệu tấn/năm và đến năm 2020 khoảng gần

22 triệu tấn/năm Để quản lý tốt nguồn chất thải này, đòi hỏi các cơ quan hữu quan cần đặc biệt quan tâm hơn nữa đến các khâu giảm thiểu tại nguồn, tăng cường tái chế, tái sử dụng, đầu tư công nghệ xử lý, tiêu hủy thích hợp góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường do CTRSH gây ra (Cục Bảo vệ môi trường, 2008) [3]

Rất khó xác định thành phần CTR đô thị, vì trước khi tập trung đến bãi rác đã được thu gom sơ bộ Tuy thành phần CTR ở các đô thị là khác nhau nhưng đều có chung 2 đặc điểm:

- Thành phần rác thải hữu cơ khó phân huỷ, thực phẩm hư hỏng, lá cây,

cỏ trung bình chiếm khoảng 30 - 60%, đây là điều kiện tốt để chôn, ủ hay chế biến CTR thành phân hữu cơ

- Thành phần đất, cát, vật liệu xây dựng và các chất vô cơ khác trung bình chiếm khoảng 20- 40% (Lê Văn Khoa, 2001) [8]

Bên cạnh đó, thành phần và khối lượng CTR thay đổi theo các yếu tố sau đây: điều kiện kinh tế - xã hội, thời tiết trong năm, thói quen và thái độ của xã hội, quản lý và chế biến trong sản xuất, chính sách của nhà nước về

chất thải (Trương Thành Nam, 2009) [11]

Theo báo cáo môi trường quốc gia, tỷ lệ phát sinh chất thải rắn đã tăng tới 0,9 kg lên 1,2 kg/ người/ ngày ở các thành phố lớn, từ 0,5 kg lên 0,65 kg/ người/ ngày tại các đô thị nhỏ Dự báo, tổng lượng chất thải rắn phát sinh có thể tăng lên đến 25 triệu tấn vào năm 2010, 35 triệu tấn vào năm 2015, 45

Trang 24

triệu tấn vào năm 2020 Trong khí đó, tỷ lệ thu gom chất thải rắn ở các vùng

đô thị trung bình đạt khoảng 70%, ở các vùng nông thôn nhỏ đạt dưới 20%

Và phương thức xử lý rác thải chủ yếu là chôn lấp Việc chôn lấp như vậy chiếm quỹ đất ngày càng nhiều, gây ô nhiễm môi trường và nguồn nước ngầm

do nước rỉ rác từ các bãi rác, tăng phát thải khí mêtan (CH4) - một loại khí nhà kính làm gia tăng biến đổi khí hậu Cơ sở hạ tầng, công nghệ về xử lý chất thải còn yếu kém Cả nước có 91 bãi chôn lấp rác thải thì có đến 70 bãi chôn lấp không đạt tiêu chuẩn kỹ thuật, không hợp vệ sinh Ngành công nghiệp tái chế chưa phát triển do chưa được quan tâm đúng mức Một số địa phương đã

và đang thực hiện những dự án 3R, điển hình là Dự án 3R Hà Nội, song nhìn chung mới chỉ thực hiện nhỏ lẻ, không đồng bộ và thiếu định hướng Còn lại các hộ gia đình trong cả nước chưa được trang bị thiết bị để phân loại rác thải tại nguồn Các điểm trung chuyển cũng như vận chuyển rác thải chưa được xây dựng, trang bị đầy đủ để đáp ứng yêu cầu vận chuyển, xử lý riêng từng loại rác thải Nên kể cả rác đã được phân loại tại nguồn (nằm trong dự án 3R) thì khi thu gom rác thải, công nhân môi trường đô thị cũng thường lại gom chung với rác thải chưa phân loại Bên cạnh đó, cộng đồng rộng lớn chưa nhận thấy những lợi ích của việc thực hiện 3R Số lượng doanh nghiệp tham gia áp dụng sản xuất sinh học cũng mới chỉ khoảng 200 trên tổng số 200.000 doanh nghiệp

Chất thải rắn với khối lượng chủ yếu là rác thải sinh hoạt chưa được quản lý tốt đang là yếu tố gây ô nhiễm môi trường ở nước ta Với khối lượng khoảng 15 – 16 triệu tấn năm và dự báo đến năm 2020 khoảng 45 – 50 triệu tấn/năm, xử lý chất thải rắn đang là vấn đề lớn trong công tác quản lý môi trường Nếu thực hiện tốt công tác giảm thiểu, tái sử dụng và tái chế, khả năng có thể giảm được từ 5 – 6 triệu tấn/năm, tái chế, tái sử dụng được 20 –

25 triệu tấn/năm vào năm 2020 Như vậy, khối lượng rác thải cần phải chôn lấp vào năm 2020 chỉ lớn hơn khối lượng rác thải phải chôn lấp hiện nay

Trang 25

không nhiều nếu chúng ta thực hiện tốt công tác giảm thiểu, tái sử dụng và tái chế rác thải

Quản lý chất thải rắn tại các đô thị cũng đang là vấn đề môi trường bức xúc ở nước ta hiện nay Lượng chất thải rắn tại các đô thị được thu gom mới đạt 70% tổng lượng chất thải rắn phát sinh Tại nhiều đô thị chưa có hệ thống phân loại xử lý riêng đối với chất thải nguy hại (từ hoạt động sản xuất công nghiệp, làng nghề và y tế), phần lớn các đô thị chưa có bãi chôn lấp chất thải rắn hợp vệ sinh và vận hành đúng quy trình Trong khi đó, việc tái chế và tái

sử dụng mới chỉ giảm khoảng 10 - 12% khối lượng rác thải

Theo thống kê từ các Sở Tài nguyên và Môi trường, hiện nay số doanh nghiệp không chấp hành quy định về lập báo cáo hoặc Cam kết bảo vệ môi trường chiếm tỷ lệ khá cao (khoảng 55 - 70%); 100% cơ sở có phát sinh nước thải chưa thực hiện việc xin cấp Giấy phép xả nước thải vào nguồn nước; 98% doanh nghiệp được lấy mẫu nước thải công nghiệp trước khi xả thải vào môi trường có hành vi vi phạm về xả nước thải không đạt tiêu chuẩn môi trường theo quy định

Việc kiểm soát lỏng lẻo này có một nguyên nhân quan trọng là do, nước ta chỉ khoảng 7 người/1 triệu dân làm công tác quản lý nhà nước về môi trường, trong khi con số này ở nước láng giềng Trung Quốc là 20 người, so với các nước trong khu vực ASEAN như: Thái Lan là 30 người, Campuchia

là 55 người, Malaysia là 100 người, Singapore là 330 người Đối với các nước phát triển thì con số này còn cao hơn nhiêu, ví dụ như: Canada là 155 người, Anh là 204 người Ngoài nguyên nhân trên thì nguyên nhân chính là do hệ thống chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường vẫn còn thiếu và chưa đồng

bộ, chưa tương thích kịp thời với sự phát triển của nền kinh tế thị trường Các quy định về thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải, chất thải rắn mặc dù

đã được Chính phủ ban hành song còn mang tính hình thức, số kinh phí thu được mới chỉ bằng 1/10 so với tổng kinh phí mà Nhà nước phải chi cho các dịch vụ thu gom và xử lý chất thải

Trang 26

Các chế tài xử phạt vi phạm hành chính còn quá thấp, chưa đủ sức răn

đe, phòng ngừa Bên cạnh đó, các tội phạm về môi trường trong Bộ luật Hình

sự 1999 vẫn chưa thực sự đi vào cuộc sống do không thể xác định được các hậu quả đối với môi trường Các cơ quan chức năng còn lúng túng trong xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường (Bộ tài nguyên & môi

trường, 2010) [15]

Tình hình quản lý rác thải tại một số tỉnh như sau:

Tại Hà Nội: Theo tính toán của Công ty TNHH Nhà nước một thành

viên Môi trường Đô thị (URENCO), mỗi ngày Hà Nội thải ra khoảng 3.000 tấn rác thải sinh hoạt, tức một năm có trên dưới một triệu tấn Hiện nay, ngoài URENCO còn có nhiều đơn vị khác cùng tham gia thu gom rác như Công ty

cổ phần Thăng Long, Công ty cổ phần Tây Đô, Công ty cổ phần Xanh, Hợp tác xã Thành Công nhưng tất cả vẫn không thể thu gom nổi vì lượng rác thải sinh hoạt đang ngày một tăng nhanh Chính vì vậy mà tỉ lệ thu gom rác thải sinh hoạt ở các quận nội thành hiện đạt khoảng 95%, còn các tuyến ngoại thành mới chỉ khoảng 60% Hiện nay, Hà Nội vẫn còn 66% số xã chưa có nơi chôn lấp hoặc xử lý rác thải Khu vực ngoại thành có 361/435 xã, thị trấn đã thành lập tổ thu gom rác; trong đó có 148 xã đã tổ chức chuyển rác đi xử lý, chôn lấp tại bãi rác tập trung của thành phố (đạt tỉ lệ 34%)

Tại Thành phố Hồ Chí Minh: Là một đô thị lớn nên mức độ phát sinh

chất thải rắn đô thị hàng năm tại thành phố Hồ Chí Minh rất cao Bao gồm các loại: rác thải sinh hoạt, rác thải y tế, rác thải công nghiệp, rác thải xây dựng Theo số liệu của Sở Tài nguyên - Môi trường, mỗi ngày trên địa bàn TP.HCM

đổ ra khoảng 5.800 - 6.200 tấn rác thải sinh hoạt, 500 - 700 tấn chất thải rắn công nghiệp, 150 - 200 tấn chất thải nguy hại, 9 - 12 tấn chất thải rắn y tế Nguồn chất thải rắn sinh hoạt chiếm tỷ trọng cao nhất, chủ yếu phát sinh từ các nguồn: hộ gia đình, trường học, chợ, nhà hàng, khách sạn (Hoàng Thị

Kim Chi, 2009) [2]

Trang 27

PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu

- Công tác quản lý rác thải sinh hoạt tại huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng

3.1.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu: thị trấn Pác Miầu, huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng

3.1.3 Thời gian tiến hành

Từ ngày 30 tháng 11 năm 2015 đến 16 tháng 4 năm 2016

3.2 Nội dung nghiên cứu

- Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội vùng nghiên cứu

- Thực trạng rác thải sinh hoạt trên địa bàn thị trấn Pác Miầu

- Tình hình quản lý, xử lý rác thải tại thị trấn Pác Miầu

- Thái độ của nhà quản lý, công nhân thu gom và hộ gia đình đối với công tác quản lý rác thải sinh hoạt

- Dự tính khối lượng rác thải sinh hoạt tại thị trấn Pác Miầu theo giai đoạn 2015 - 2020

- Dự báo khối lượng rác thải phát sinh trong thị trấn Pác Miầu đến 2020

- Đề xuất biện pháp quản lý, xử lý rác thải sinh

3.3 Phương pháp nghiên cứu

3.3.1 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp

* Phương pháp điều tra và khảo sát thực địa

Bằng trực quan tiến hành khảo sát tại một số điểm thu gom, vận chuyển của thị trấn để nắm bắt các thông tin về:

Phương pháp thu gom, tình hình vận chuyển rác thải sinh hoạt

Các tuyến thu và điểm chứa rác (bãi rác) ý thức và thái độ người dân trong vấn đề thu gom rác thải sinh hoạt

Trang 28

Tình trạng môi trường theo đánh giá chủ quan tại khu vực khảo sát, và nơi quản lý rác thải sinh hoạt

* Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi:

Điều tra 90 hộ gia đình bằng bộ câu hỏi đóng để thu thập các số liệu

về khối lượng, thành phần rác thải, công tác thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải sinh hoạt tại địa phương Phân chia làm 3 nhóm hộ để điều tra: gồm nhóm hộ nông nghiệp, nhóm hộ kinh doanh, nhóm hộ viên chức và tiến hành phân phối phiếu điều tra đều trên tất cả khu tại thị trấn Pác Miầu

* Phương pháp phỏng vấn sâu:

Tiến hành phỏng vấn

Đối tượng phỏng vấn là hộ gia đình, cá nhân

Chuẩn bị sẵn câu hỏi trao đổi trực tiếp với người dân của các khu và các vấn đề liên quan đến hiện trạng và công tác thu gom rác thải sinh hoạt tại thị trấn Quá trình phỏng vấn cung cấp cho đề tài những thông tin mà việc quan sát nghiên cứu tài liệu viết không bao quát được

* Phương pháp cân rác

Tiến hành phát cho 30 hộ dân trong khu vực thị trấn túi đựng rác và để rác thải lại để cân Đến từng hộ gia đình thí điểm cân rác vào giờ cố định trong ngày 1lần/ngày trong vòng 30 ngày Từ kết quả cân thực tế rác tại các

hộ gia đình, tính được lượng rác thải trung bình của 1 hộ/ngày, và tỷ lệ lượng rác thải bình quân/người/ngày

3.3.2 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp

Thu thập, tổng hợp tài liệu về: hiện trạng rác thải sinh hoạt, công tác thu gom, vận chuyển, nhân lực và trang thiết bị của thị trấn: Ban tài nguyên môi trường UBND thị trấn Pác Miầu và các ban nghành khác…

Tìm hiểu qua sách báo, mạng internet …

Trang 29

3.3.3 Phương pháp tổng hợp phân tích và xử lý số liệu

Sử dụng các phần mềm phổ biến nhƣ: Word, Exel để tổng hợp và lƣợng hóa những thông tin thu thập đƣợc bằng bảng biểu, biểu đồ minh họa cho các vấn đề nêu ra trong đề tài

Trang 30

PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1 Điều kiện kinh tế - xã hội thị trấn Pác Miầu

4.1.1 Vị trí địa lý và ranh giới hành chính

Thị trấn Pác Miầu là một thị trấn miền núi

Ranh giới thị trấn được xác định:

- Phía Bắc: Giáp với xã Nam Quang, xã Lý Bôn

- Phía Nam: Giáp với xã Mông Ân, xã Thái Học và phần nhỏ với xã Yên Phong của huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang

- Phía Tây: Giáp với xã Quảng Lâm

C

Chế độ mưa: Lượng mưa trung bình năm đạt khoảng 2000 - 2200 mm, tuy nhiên lượng mưa phân bố không đồng đều do chịu sự chi phối chung của chế độ mưa vùng Đông Bắc Bắc Bộ, có những nét đặc trưng như sau:

Từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm sau là mùa khô, lượng mưa thấp chỉ chiếm khoảng 14 - 16% tổng lượng mưa cả năm

Từ tháng 5 đến tháng hết tháng 10 là mùa mưa, lượng mưa lớn chiếm tới 84 - 86% tổng lượng mưa cả năm Trong đó tháng 7 và tháng 8 có lượng

Trang 31

mưa lớn nhất (chiếm gần 40% tổng lượng mưa cả năm) thời gian này thường trùng với mùa mưa nên hay xảy ra lũ, ngập úng cục bộ

Lượng bốc hơi và độ ẩm: Là vùng có lượng bốc hơi lớn, lượng bốc hơi trung bình nhiều năm là 700 - 800 mm

Nhìn chung chênh lệch lượng bốc hơi giữa các tháng trong năm ít hơn

so với chênh lệch lượng mưa

Độ ẩm không khí trên địa bàn huyện Bảo Lâm trung bình là 79 - 87% Như vậy xét tổng thể xã có độ ẩm trong năm tương đối cao, tuy nhiên ở các tháng 01 và tháng 12 thường xảy ra hiện tượng hạn hán ảnh hưởng đến cây trồng, vật nuôi trong thời gian này

Bảng 4.1: Đặc điểm khí hậu của thị trấn Pác Miầu Đặc điểm

Mùa khô: dao động

từ 50 - 56mm

2000 - 2200 (mm)

Trang 32

4.1.1.3 Thủy văn

Sông Gâm là con sông nằm trong khu thị trấn phụ vụ nước sinh hoạt

và tưới tiêu, và một hệ thống thủy văn đa dạng và phong phú cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp

4.1.1.4 Các nguồn tài nguyên

Tài nguyên đất

Bảng 4.2: Bảng hiện trạng sử dụng đất của thị trấn Pác Miầu

Trang 33

Tổng diện tích đất tự nhiên của thị trấn Pác Miầu là: 4.036 (ha), diện tích được đưa vào sử dụng năm 2014 là 629,35 (ha), chiếm 90,92% tổng diện tích đất tự nhiên Phân loại theo mục đích sử dụng thì đất nông nghiệp chiếm 66,1 % (457,50 ha), đất chuyên dùng 18,54% (128,33 ha), đất ở chiếm 6,28% (43,52 ha) và đất chưa sử dụng 9,06% (62,76 ha)

Qua số liệu trên cho thấy mặc dù diện tích đất đã được đưa vào sử dụng khá lớn nhưng do dân số của thị trấn đông nên bình quân đầu người chỉ đạt 118,8 người/km2

(năm 2014), đồng thời diện tích đất mà thị trấn chưa sử dụng cho mục đích nào cũng chiếm tỷ lệ cao nên rất lãng phí, trong khi đó diện tích đất phi nông nghiệp trên địa bàn thị trấn là không có và đất nông nghiệp của thị trấn chiếm đến 66,1% Điều đó cho thấy kinh tế của thị trấn đa số vẫn là nông nghiệp

Tài nguyên nước

Sông, suối trong thị trấn tương đối dày đặc, hệ thống kênh mương được phân bố một cách có hệ thống trong đồng ruộng đảm bảo cung cấp đủ nước tưới cho diện tích đất gieo trồng nông nghiệp

Mực nước ngầm của thị trấn có ở độ sâu trung bình từ 3 - 5m, với chất lượng nguồn nước ngầm khá tốt, có thể khai thác phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt

Nhìn chung nước mặt, nước ngầm trong thị trấn dồi dào, đảm bảo cung cấp đủ nước cho sản xuất nông nghiệp và các hoạt động kinh tế - xã hội khác Tuy nhiên, do điều kiện địa hình, do sự phân bố lượng mưa theo mùa nên hiện tượng hạn hán, úng lụt cục bộ vẫn xảy ra

Tài nguyên khoáng sản

Qua các tài liệu thăm dò khoáng sản của toàn huyện thì trên địa bàn thị trấn Pác Miầu có khoáng sản Barit và chì kẽm đang tập trung đầu tư khai thác

mỏ Tổng Quảng và Bản Trang cung cấp nguyên liệu cho nhà máy CKC và phục vụ xuất khẩu Ngoài ra thị trấn còn có đất sét làm gạch và cát sỏi được phân bố ở một số khu vực quang thị trấn

Ngày đăng: 24/10/2017, 08:32

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm