LỜI MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết Trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự điều hành của Chính phủ nền sản xuất nông nghiệp, đời sống người nông dân cũng như cơ sở hạ tầng giao t
Trang 1I LỜI MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết
Trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự điều hành của Chính phủ nền sản xuất nông nghiệp, đời sống người nông dân cũng như cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn đã cơ bản thay đổi và đạt được những thành tựu to lớn Năng suất, chất lượng và hiệu quả của sản xuất nông nghiệp phát triển với tốc độ khá cao, bền vững; hàng hóa nông sản được phân phối rộng khắp các vùng miền trên toàn quốc nhờ hệ thống cơ sở hạ tầng đường bộ đã có bước phát triển vượt bậc so với những năm trước Tuy nhiên, đứng trước công cuộc công nghiệp hóa và hiện đại hóa nông thôn nhiều thách thức được đặt ra Phát triển cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn là yêu cầu cấp thiết và có tính chất sống còn đối với xã hội, để xóa bỏ rào cản giữa thành thị và nông thôn, rút ngắn khoảng cách phân hóa giàu nghèo và góp phần mang lại cho nông thôn một bộ mặt mới, tiềm năng để phát triển
Nông dân và nông thôn luôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc, là cơ sở và lực lượng quan trọng để phát triển kinh tế-xã hội Hiện nay, ở nước ta trên 75% dân số sống ở nông thôn với 73% lực lượng lao động làm việc, sinh sống nhờ vào hoạt động sản xuất nông lâm ngư nghiệp, sản phẩm nông nghiệp trong nước là nguồn cung cấp lương thực thực phẩm cho tiêu dùng, tạo nguyên liệu cho nền sản xuất công nghiệp, cung cấp trực tiếp và gián tiếp cho các ngành kinh tế khác phát triển, tạo sự ổn định, đảm bảo sự bền vững cho xã hội phát triển Tuy nhiên, trong mỗi giai đoạn phát triển, do điều kiện và bối cảnh khác nhau vị trí, vai trò của nông nghiệp, nông thôn cũng dần thay đổi và xuất hiện những yếu tố mới Giai đoạn tới nông nghiệp, nông thôn trong sẽ được mở rộng và nâng cao hơn so với trước, nhằm đảm bảo an ninh lương thực, cung cấp các dịch vụ cơ bản, giúp duy trì lạm phát ở mức thấp cho nền kinh tế, ổn định kinh tế vĩ mô và đời sống tối thiểu cho người lao động, kiểm soát môi trường và sinh thái
Trang 2Đứng trước yêu cầu phát triển đất nước, Đảng, Nhà nước chủ trương xây dựng một nền nông nghiệp theo hướng hiện đại, đồng thời xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng hiện đại, cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển công nghiệp, lấy nông dân là vị trí then chốt trong mọi sự thay đổi cần thiết, với ý nghĩa phát huy nhân tố con người, khơi dậy và phát huy mọi tiềm năng của nông dân vào công cuộc xây dựng nông thôn mới
Hệ thống giao thông nói chung được coi là huyết mạch đối với nền kinh tế quốc dân, giao thông nông thôn có một vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển nông nghiệp, nông thôn Giao thông nông thôn phát triển sẽ tạo ra điều kiện hết sức thuận lợi đối với sản xuất kinh doanh nông nghiệp, tạo ra cơ hội tốt hơn trong việc tổ chức sản xuất nông nghiệp hiệu quả, trong đó có thể kể đến những thuận lợi trong trồng trọt, chăm sóc, thu hoạch các loại cây trồng trên đồng ruộng, làm giảm thời gian lao động của nông dân
Giao thông nông thôn phát triển cũng góp phần tích cực trong việc thực hiện tập trung, chuyên môn hoá, cơ giới hoá trong nông nghiệp, từ đó tạo điều kiện để nông nghiệp chuyển biến sang nền sản xuất hàng hoá
Giao thông nông thôn phát triển cũng tạo ra khả năng tiếp cận thị trường tiêu thụ, nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hoá nông sản trên thị trường Hệ thống giao thông nông thôn thuận lợi làm rút ngắn khoảng cách từ nơi sản xuất đến thị trường tiêu thụ nông sản phẩm, làm hạn chế một cách thấp nhất những rủi ro về mất phẩm chất hàng hoá nông sản do vận chuyển, tạo ra khả năng giảm chi phí vận chuyển nông sản phẩm
Việt nam là nước có mạng lưới đường nông thôn tương đối rộng khắp nhưng phần lớn đường nông thôn không có mặt phủ chịu thời tiết, đường hẹp và xuống cấp nghiêm trọng 70% cư dân nông thôn sống trong điều kiện không có những con đường
có mặt phủ chịu mọi thời tiết quanh năm Chất lượng mạng lưới đường sá quyết định
Trang 3sự lưu thông hàng hóa và rút ngắn khoảng cách giàu nghèo giữa các khu vực, các vùng sản xuất gắn với tiêu thụ sản phẩm Trong điều kiện kinh tế nông thôn, nông nghiệp nước ta còn ở trình độ thấp, thị trường hạn hẹp và bị chia cắt, thì việc tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa hệ thống giao thông nông thôn là một giải pháp quan trọng thúc đẩy nông nghiệp phát triển
Xuất phát từ nhu cầu của thực tế chúng tôi tiến hành nghiên cứu: “ GIAO THÔNG NÔNG THÔN TRONG CÔNG CUỘC XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI VÀ HIỆN ĐẠI HÓA NÔNG THÔN”.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Hệ thống hóa một số vấn đề về lý luận chính sách phát triển đường nông thôn
- Thực trạng và một số thực tiễn về phát triển đường nông thôn
- Đề xuất định hướng chính sách phát triển đường nông thôn
1.3 Phạm vi nghiên cứu
- Không gian: Trên địa bàn cả nước
- Chủ đề: Chính sách phát triển đường nông thôn
1.4 Phương pháp thu thập thông tin
Thông tin thứ cấp: Các thông tin ở cấp TW của Việt Nam và các nước, các báo cáo khoa học, truy cập thông tin trên internet về cơ chế chính sách
1.5 Phương pháp phân tích
- Diễn giải ý kiến
- Thặng dư sản xuất
Trang 4II CƠ SỞ LÝ LUẬN 2.1 Một số khái niệm cơ bản
- Phát triển là sự tăng trưởng cộng thêm các thay đổi cơ bản trong cơ cấu nền kinh tế, sự tăng lên của sản phẩm quốc dân do ngành công nghiệp tạo ra, sự đô thị hóa, sự tham gia của các dân tộc trong quá trình tạo ra các thay đổi nói trên là những nội dung của sự phát triển Phát triển là sự nâng cao phúc lợi của nhân dân, nâng cao các tiêu chuấn sống, cải thiện giáo dục, sức khỏe và đảm bảo sự bình đẳng cũng như các quyền công dân Phát triển còn được định nghĩa là sự tăng trưởng bền vững các tiêu chuẩn sống bao gồm tiêu dùng vật chất, giáo dục và bảo vệ môi trường (Quyền Đình Hà, 1995)
- Nông thôn với điều kiện hiện nay ở Việt Nam, nhìn nhận dưới góc độ quản lý
có thể hiểu “ nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp cư dân, trong đó có nhiều nông dân Tập hợp cư dân này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hoá – xã hội và môi trường trong một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác”
(Giáo trình phát triển nông thôn, Nhà xuất bản nông ngiệp Hà Nội, trang 11)
- Phát triển nông thôn là một phạm trù rộng được nhận thức với rất nhiều quan điểm khác nhau
+ Theo tài liệu chuyên ngành về phát triển nông thôn của Ngân hàng Thế giới (1975): “Phát triển nông thôn là một chiến lược nhằm cải thiện các điều kiện sống về kinh tế và xã hội của một nhóm người cụ thể - người nghèo ở vùng nông thôn được
Trang 5hưởng lợi từ sự phát triển.” (Giáo trình phát triển nông thôn, Nhà xuất bản nông
ngiệp Hà Nội, trang 19)
+ Trong điều kiện của Việt Nam, tổng hợp quan điểm từ các chiến lược phát triển kinh tế xã hội của Chính phủ, thuật ngữ này có thể hiểu như sau: “Phát triển nông thôn là một quá trình can thiệp có chủ ý một cách bền vững về kinh tế, xã hội, văn hoá và môi trường, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân nông thôn Quá trình này trước hết là do chính người dân nông thôn và có sự hỗ trợ tích cực
của Nhà nước và các tổ chức khác.” (Giáo trình phát triển nông thôn, Nhà xuất bản
nông ngiệp Hà Nội, trang 20)
- Phát triển đường nông thôn là một chiến lược được vạch ra nhằm cải thiện đời sống kinh tế và xã hội của những người dân ở nông thôn, nhất là những người nghèo, người ở vùng đặc biệt khó khăn, vùng sâu, vùng xa Nó đòi hỏi phải làm mới, cải tạo, nâng cấp và mở rộng đường nông thôn Thông qua những hoạt động đó, nó góp phần nâng cao đời sống dân cư, nhất là góp phần cải thiện đời sống của những người nghèo nhất trong số những người đang tìm kế sinh nhai ở các vùng nông thôn và để họ tự lực thực hiện quá trình phát triển của mình
- “Chính sách là tập hợp các chủ trương và hành động về phương diện nào đó của nền kinh tế - xã hội do Chính phủ thực hiện Nó bao gồm các mục tiêu mà Chính phủ muốn đạt được và cách làm để đạt được các mục tiêu đó.” Vì thế, “chính sách nông nghiệp là tập hợp các chủ trương và hành động của Chính phủ nhằm thay đổi
môi trường cho nông nghiệp phát triển.” (Đỗ Kim Chung, 2007, Bài giảng về chính sách nông nghiệp).
2.2 Đặc điểm của chính sách phát triển đường nông thôn
- Nhằm giải quyết các vấn đề phát triển nông thôn với ba mục tiêu đan xen nhau: mục tiêu kinh tế, mục tiêu xã hội, mục tiêu môi trường
- Nông thôn là đối tượng chính của quá trình lập chính sách
Trang 6- Sự thành công của chính sách phụ thuộc vào môi trường tự nhiên, kinh tế, xã hội của cộng đồng
2.3 Nhân tố ảnh hưởng tới chính sách phát triển đường nông thôn
- Những nhân tố tích cực:
+ Ý chí chính trị
+ Tăng trưởng kinh tế và các cơ hội của tăng trưỏng
+ Phi tập trung và chính sách hợp tác giữa Nhà nước và tư nhân
+ Các dự án cơ sở hạ tầng nông thôn nói chung và đường nông thôn nói riêng đang được ưu tiên
+ Xoá bỏ những quy định luật lệ, xoá bỏ quan liêu
+ Tiếp cận với khoa học kỹ thuật
- Những nhân tố cản trở
+ Kỹ năng quản lý và kỹ thuật còn hạn chế
+ Yêu cầu lớn về cung cấp hệ thông đường nông thôn
+ Tiếp cận với thông tin còn hạn chế
+ Thiếu tuân thủ những quy chuẩn trong các kế hoạch
+ Việc khuyến khích và khen thưởng để thực hiện các hoạt động còn hạn chế + Vốn Chính phủ bị ứ đọng
2.4 Tác động của chính sách phát triển đường nông thôn
Chương trình phát triển đường nông thôn tác động đến sự phát triển nông thôn trên cả 3 phương diện: kinh tế, xã hội và môi trường
2.4.1 Tác động về kinh tế
Trang 7- Chương trình phát triển đường nông thôn mang đến những tác động gián tiếp đến đời sống nhân dân như: thay đổi giá đầu ra, đầu vào, giá dịch vụ; cơ cấu ngành nghề; việc làm…
- Là phương tiện để khắc phục những nhược điểm và khuyếm khuyết của cơ chế thị trường:
+ Liệu cơ chế thị trường có tạo ra sự phát triển đồng đều giữa các vùng, các ngành? Sự phát triển là không đồng đều, nguồn lực được tập trung vào các ngành kinh
tế, vào các vùng để đầu tư để có lợi nhuận cao nhất Vì vậy, nông nghiệp, các vùng sâu, vùng xa ít được đầu tư đển trở nên phát triển chậm hơn so với các ngành công nghiệp, du lịch
+ Liệu dân nghèo và nông dân ở các vùng sâu, vùng xa có được lợi qua chính sách hỗ trợ giá của Chính phủ
+ Nhờ có đường nông thôn tốt nông dân bán sản phẩm với giá cao hơn, việc lưu thông hàng hoá được dễ dàng hơn,…
2.4.2 Tác động về xã hội
- Thu nhập bình quân đầu người tăng lên, làm tăng năng lực xoá đói giảm nghèo Có thể nói đường nông thôn góp phần làm tăng năng lực xoá đói giảm nghèo trong nông thôn do:
+ Dân ở những nơi có đường đi lại thuận tiện có thu nhập cao hơn 26% so với những nơi không có đường
+ Cứ ở xa đường thêm 3 km thì năng suất lúa giảm 400 kg/ha
+ Năng suất lúa giảm 26% ở những thửa ruộng mà đường không có khả năng qua lại
Trang 8+ Cải thiện điều kiện sống như hoàn thiện cơ sở hạ tâng phúc lợi công cộng (trường học, trạm y tế, nơi vui chơi giải trí…)
- Tác động đến sự công bằng xã hội trong nông thôn
- Tác động đến tính tự lập của người dân trong các hoạt động sản xuất
- Tác động tới việc giao lưu văn hoá của nhân dân giữa các địa phương
- v.v…
2.4.3 Tác động về môi trường
- Mức độ che phủ của rừng
- Ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm không khí…
2.4.4 Tác động đến sản lượng nông nghiệp
Q1
s2
s1
c a
b
d
Q2
- Chính sách làm đường cung dịch chuyển sang phải
- Thặng dư sản xuất tăng từ a lên a+b+c
- Nông dân chi thêm là d -Tiết kiêm là b
- Sản lượng tăng từ Q1 đến Q2: c
Trang 92.4.5 Tác động đến giá cổng trại
Q1
Q0
Pf
Pr
Sf Sr
Df
Dr
Bản chất của chính sách là giảm chênh lệch giữa giá cổng trại và giá của người tiêu dùng (giảm chi phí vân chuyển nhờ có giao thông tốt)
- Khi có chính sách phát triển đường nông thôn Sr chuyển gần Sf, Df chuyển gần về Dr
- Giá cổng trại tăng
- Giá tiêu dùng giảm
Trang 10III THỰC TIỄN ĐƯỜNG NÔNG THÔN Ở VIỆT NAM
3.1 Thực trạng và những tồn tại của phát triển đường nông thôn ở Việt Nam
Đầu năm 2005, Hội nghị về giao thông nông thôn (với sự góp mặt của nhiều nhà hoạch định chính sách, người hoạt động trong lĩnh vực này từ 64 tỉnh, thành, các
bộ ngành liên quan và các nhà tài trợ WB, DFID, ADB, JBIC) đánh giá, chỉ có 1/3 đường nông thôn Việt Nam giúp người dân tiếp cận các dịch vụ và các thị trường
Các chuyên gia cho rằng, vấn đề lớn nhất của giao thông nông thôn tại Việt Nam là sự không cân đối giữa nguồn cho đầu tư và vốn cho bảo trì bảo dưỡng đường, cùng với sự thiếu vốn cho phát triển đường nông thôn ở các vùng nghèo nhất Bên cạnh đó, việc sử dụng vốn trong các dự án đầu tư còn chưa thực sự hiệu quả, chưa hết hiện tượng tham nhũng và lãng phí…
Bà Đoàn Thị Phin - Viện phó Viện chiến lược phát triển giao thông vận tải (Bộ Giao thông vận tải) cho biết, năm 2000 Việt Nam có đến 750 xã không có đường cơ bản Trong năm 2002 – 2004, với 17.760 tỷ đồng vốn của Chính phủ (trung bình 5.920 tỷ đồng/năm), Việt Nam đã xây mới 17.501 km đường, 9.893 cầu, nâng cấp 2.228 km đường; số xã không có đường cơ bản chỉ còn lại 200 Đến nay, 172.473 km đường nông thôn đã được xây dựng, bao phủ 98% các vùng nông thôn Việt Nam
Tới cuối năm 2005, đường nông thôn đã được xây dựng mới và nâng cấp ở tất
cả các vùng Tỷ lệ xã có đường ô tô đến trung tâm xã đã đạt 94,2%; có 64 tỉnh, thành phố đạt 100% Tỷ lệ xã có đường liên thôn được nhựa hoặc bê tông hoá đạt 33%,; có
18 tỉnh, thành phố đạt trên 50%; trong đó có 3 tỉnh (Hà Nam, Cần Thơ, Thái Bình) đạt trên 91% Cả nước có 280 xã có đường liên thôn được nhựa hoặc bê tông hoá 100%
Mặc dù có nhiều tiến bộ, nhưng về đường nông thôn vẫn còn nhiều khó khăn
Tỷ lệ xã chưa có đường ô tô đến trung tâm xã ở một số xã ở một số tỉnh còn lớn, như:
Cà Mau 69.7%, Vĩnh Long 37,2%, Bạc Liêu 34,2%, Lai Châu 23,4% Tỷ lệ xã có
Trang 11đường liên thôn được nhựa hoặc bê tông hoá nhìn chung còn thấp, ở một số địa phương còn thấp hơn nhiều, thậm chí dưới 5%, như Cao Bằng, Lai Châu, Yên Bái, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Lào Cai, Long An,…
Trong thời gian tới, Chính phủ quyết tâm sẽ huy động đủ nguồn lực để đảm bảo hoàn thành đường cơ bản tới các xã còn lại Từ nay đến năm 2007, Chính phủ quyết tâm xây dựng đường cơ bản cho các xã này thông qua huy động nguồn vốn của Chính phủ, của các nhà tài trợ và bằng việc phát hành trái phiếu ước tính 3.000 tỷ đồng Việt Nam
Hiện nay, Bộ Giao thông vân tải với sự hỗ trợ của các nhà tài trợ đang xây dựng những chiến lược quan trọng cho phát triển giao thông nông thôn bao gồm: Kế hoạch phát triển ngành 2006 – 2010 và cập nhật chiến lược giao thông nông thôn Bộ Giao thông vận tải cũng đang thiết kế dự án giao thông nông thôn 3, với nguồn vốn khoảng 13.000 triệu USD và do Ngân hàng Thế giới cùng DFID tài trợ (Viện chiến lược phát triển giao thông - Bộ Giao thông vận tải)
3.2 Thực tiễn chính sách phát triển đường nông thôn
- Nghị định 186/2004/NĐ-CP ngày 05 tháng 11 năm 2004 của Chính phủ quy định về quản lý và bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ Nghị định này mới phân câp hệ thống đường huyện và xã, còn mạng lưới đường thôn xóm thì chưa được phân cấp
- Chính sách của Nhà nước: Quyết định số: 132/2001/QĐ-TTg Về cơ chế tài chính thực hiện chương trình phát triển đường giao thông nông thôn, Nhà nước khuyến khích các địa phương huy động mọi nguồn lực và tổ chức thực hiện có hiệu quả chương trình phát triển cơ sở hạ tầng đường giao thông nông thôn Nguồn vốn đóng góp của dân và hỗ trợ của ngân sách Nhà nước:
- Chính sách đầu tư: Mở và nâng cấp đường giao thông nông thôn theo Quyết định 132/2001/QĐ - TTg của Thủ tướng Chính phủ, với tinh thần Nhà nước và dân