Theo đà phát triển của đất nước trong thời kỳ đổi mới theo nền kinh tế thị trường thì ngày càng có thêm nhiều dự án đầu tư đã và đang được thực hiện. Nguồn vốn để suy trì và thực hiện những dự án này cũng rất phong phú, đa dạng. Ở Việt Nam hiện nay, nguồn vốn đầu tư cho các dự án phát triển chủ yếu lấy từ ngân sách Trung ương và các địa phương, từ các thành phần kinh tế và từ nhân dân.
Trang 1ĐỀ TÀI: TÁC ĐỘNG HAI MẶT CỦA ODA TỚI PHÁT TRIỂN KINH
TẾ Ở VIỆT NAM
LỜI MỞ ĐẦU
Theo đà phát triển của đất nước trong thời kỳ đổi mới theo nền kinh tế thịtrường thì ngày càng có thêm nhiều dự án đầu tư đã và đang được thực hiện Nguồnvốn để suy trì và thực hiện những dự án này cũng rất phong phú, đa dạng Ở ViệtNam hiện nay, nguồn vốn đầu tư cho các dự án phát triển chủ yếu lấy từ ngân sáchTrung ương và các địa phương, từ các thành phần kinh tế và từ nhân dân Tuy nhiêncũng có một nguồn vốn quan trọng khác là từ vốn viện trợ chính thức (ODA) từ cácnhà tài trợ (Chính phủ các nước phát triển hay các tổ chức Quốc tế) cũng đượcChính phủ Việt Nam coi trọng và tập trung thu hút Hơn 25 năm qua, Việt Namcũng đã đạt được nhiều thành tựu trong lĩnh vực này: đầu tư bằng vốn ODA chiếmkhoảng 12% tổng đầu tư xã hội, 28% vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước, 50% vốntín dụng đầu tư phát triển từ Nhà nước Chính nhờ những tác động tích cực củanguồn vốn ODA mà trong những năm qua kinh tế Việt Nam đã có những bước tăngtrưởng đáng kể, dần khẳng định được vị thế nước nhà trên trường quôc tế Tuynhiên, bên cạnh đó, vốn ODA cũng có những tác động tiêu cực tới phát triển kinh
tế Do đó, đặt ra yêu cầu cho các nhà quản lý và sử dụng ODA phải có những chínhsách phù hợp để sử dụng có hiệu quả nguồn vốn này
Trang 2Chương I: Những vấn đề lý luận chung về ODA
I Khái quát về ODA
1 Khái niệm ODA
Hỗ trợ phát triển chính thức hay còn gọi là Viện trợ phát triển chính thức(thường được gọi tắt là ODA) là các khoản viện trợ không hoàn lại hoặc các khoảncho vay với những điều kiện ưu đãi hoặc hỗn hợp các khoản trên được cung cấp bởicác nhà nước, các tổ chức kinh tế, tài chính quốc tế và các tổ chức phi chính phủnhằm hỗ trợ cho phát triển kinh tế-xã hội ở những nước đang và chậm phát triểnđược tiếp nhận nguồn vốn này
ODA bao gồm các khoản viện trợ không hoàn lại, viện trợ có hoàn lại, hoặctín dụng ưu đãi của các Chính phủ, các tổ chức liên Chính phủ, các tổ chức phiChính phủ, các tổ chức thuộc hệ thống Liên hiệp quốc, các tổ chức tài chính quốc tếdành cho các nước đang và chậm phát triển
2 Đặc điểm của nguồn vốn ODA
2.1 Vốn ODA mang tính ưu đãi
Vốn ODA có thời gian cho vay( hoàn trả vốn dài), có thời gian ân hạn dài.Chẳng hạn, vốn ODA của WB, ADB, JBIC có thời gian hoàn trả là 40 năm và thờigian ân hạn là 10 năm
Thông thường, trong ODA có thành tố viện trợ không hoàn lại( cho không),đây cũng chính là điểm phân biệt giữa viện trợ và cho vay thương mại Thành tốcho không được xác định dựa vào thời gian cho vay, thời gian ân hạn và so sánh lãisuất viện trợ với mức lãi suất tín dụng thương mại Sự ưu đãi ở đây là so sánh vớitập quán thương mại quốc tế
Sự ưu đãi còn thể hiện ở chỗ vốn ODA chỉ dành riêng cho các nước đang vàchậm phát triển, vì mục tiêu phát triển Có hai điều kiện cơ bản nhất để các nướcđang và chậm phát triển có thể nhận được ODA là:
Điều kiện thứ nhất: Tổng sản phẩm quốc nội( GDP) bình quân đầu ngườithấp Nước có GDP bình quân đầu người càng thấp thì thường được tỷ lệ viện trợ
Trang 3không hoàn lại của ODA càng lớn và khả năng vay với lãi suất thấp và thời hạn ưuđãi càng lớn.
Điều kiện thứ hai: Mục tiêu sử dụng vốn ODA của các nước này phải phùhợp với chính sách và phương hướng ưu tiên xem xét trong mối quan hệ giữabên cấp và bên nhận ODA Thông thường các nước cung cấp ODA đều có nhữngchính sách và ưu tiên riêng của mình, tập trung vào một số lĩnh vực mà họ quantâm hay có khả năng kỹ thuật và tư vấn Đồng thời, đối tượng ưu tiên của cácnước cung cấp ODA cũng có thể thay đổi theo từng giai đoạn cụ thể Vì vậy, nắmbắt được xu hướng ưu tiên và tiềm năng của các nước, các tổ chức cung cấp ODA làrất cần thiết
Về thực chất, ODA là sự chuyển giao có hoàn lại hoặc không hoàn lại trongnhững điều kiện nhất định một phần tổng sản phẩm quốc dân từ các nước phát triểnsang các nước đang phát triển Do vậy, ODA rất nhạy cảm về mặt xã hội và chịu sựđiều chỉnh của dư luận xã hội từ phía nước cung cấp cũng như từ phía nước tiếpnhận ODA
2.2 Vốn ODA mang tính ràng buộc
ODA có thể ràng buộc ( hoặc ràng buộc một phần hoặc không ràng buộc)nước nhận về địa điểm chi tiêu Ngoài ra mỗi nước cung cấp viện trợ cũng đều cónhững ràng buộc khác và nhiều khi các ràng buộc này rất chặt chẽ đối với nướcnhận Ví dụ, Nhật Bản quy định vốn ODA của Nhật đều được thực hiện bằng đồngYên Nhật
Vốn ODA mang yếu tố chính trị: Các nước viện trợ nói chung đều khôngquên dành được lợi ích cho mình vừa gây ảnh hưởng chính trị vừa thực hiện xuấtkhẩu hàng hoá và dịch vụ tư vấn vào nước tiếp nhận viện trợ Chẳng hạn, Bỉ, Đức
và Đan Mạch yêu cầu khoảng 50% viện trợ phải mua hàng hoá dịch vụ của nướcmình Canada yêu cầu tới 65% Nhìn chung 22% viện trợ của DAC phải được sửdụng để mua hàng hoá và dịch vụ của các quốc gia viện trợ
Kể từ khi ra đời cho tới nay, viện trợ luôn chứa đựng hai mục tiêu cùng tồntại song song Mục tiêu thứ nhất là thúc đẩy tăng trưởng bền vững và giảm nghèo ởcác nước đang phát triển Động cơ nào đã thúc đẩy các nhà tài trợ đề ra mục tiêunày? Bản thân các nước phát triển nhìn thấy lợi ích của mình trong việc hỗ trợ, giúp
Trang 4đỡ các nước đang phát triển để mở mang thị trường tiêu thụ sản phẩm và thị trườngđầu tư Viện trợ thường gắn với các điều kiện kinh tế xét về lâu dài, các nhà tài trợ
sẽ có lợi về mặt an ninh, kinh tế, chính trị khi kinh tế các nước nghèo tăng trưởng.Mục tiêu mang tính cá nhân này được kết hợp với tinh thần nhân đạo, tính cộngđồng Vì một số vấn đề mang tính toàn cầu như sự bùng nổ dân số thế giới, bảo vệmôi trường sống, bình đẳng giới, phòng chống dịch bệnh, giải quyết các xung độtsắc tộc, tôn giáo v.v đòi hỏi sự hợp tác, nỗ lực của cả cộng đồng quốc tế không phânbiệt nước giàu, nước nghèo Mục tiêu thứ hai là tăng cường vị thế chính trị của cácnước tài trợ Các nước phát triển sử dụng ODA như một công cụ chính trị: xác định
vị thế và ảnh hưởng của mình tại các nước và khu vực tiếp nhận ODA Ví dụ, NhậtBản hiện là nhà tài trợ hàng đầu thế giới và cũng là nhà tài trợ đã sử dụng ODA nhưmột công cụ đa năng về chính trị và kinh tế ODA của Nhật không chỉ đưa lại lợiích cho nước nhận mà còn mang lại lợi ích cho chính họ Trong những năm cuốithập kỷ 90, khi phải đối phó với những suy thoái nặng nề trong khu vực, Nhật Bản
đã quyết định trợ giúp tài chính rất lớn cho các nước Đông nam á là nơi chiếm tỷtrọng tương đối lớn về mậu dịch và đầu tư của Nhật Bản, Nhật đã dành 15 tỷ USDtiền mặt cho các nhu cầu vốn ngắn hạn chủ yếu là lãi suất thấp và tính bằng đồngYên và dành 15 tỷ USD cho mậu dịch và đầu tư có nhân nhượng trong vòng 3 năm.Các khoản cho vay tính bằng đồng Yên và gắn với những dự án có các công ty Nhậttham gia
Viện trợ của các nước phát triển không chỉ đơn thuần là việc trợ giúp hữunghị mà còn là một công cụ lợi hại để thiết lập và duy trì lợi ích kinh tế và vị thếchính trị cho các nước tài trợ Những nước cấp tài trợ đòi hỏi nước tiếp nhận phảithay đổi chính sách phát triển cho phù hợp vơí lợi ích của bên tài trợ Khi nhận việntrợ các nước nhận cần cân nhắc kỹ lưỡng những điều kiện của các nhà tài trợ không
vì lợi ích trước mắt mà đánh mất những quyền lợi lâu dài Quan hệ hỗ trợ phát triểnphải đảm bảo tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào công việcnội bộ của nhau, bình đẳng và cùng có lợi
2.3 ODA là nguồn vốn có khả năng gây nợ
Khi tiếp nhận và sử dụng nguồn vốn ODA do tính chất ưu đãi nên gánh
nặng nợ thường chưa xuất hiện Một số nước do không sử dụng hiệu quả ODA có
Trang 5thể tạo nên sự tăng trưởng nhất thời nhưng sau một thời gian lại lâm vào vòng nợnần do không có khả năng trả nợ Vấn đề là ở chỗ vốn ODA không có khả năng đầu
tư trực tiếp cho sản xuất, nhất là cho xuất khẩu trong khi việc trả nợ lại dựa vào xuấtkhẩu thu ngoại tệ Do đó, trong khi hoạch định chính sách sử dụng ODA phải phốihợp với các nguồn vốn để tăng cường sức mạnh kinh tế và khả năng xuất khẩu
3 Phân loại ODA
3.1 Theo nguồn vốn cung cấp
Xét theo nguồn vốn cung cấp ODA được phân thành ODA song phương vàODA đa phương
ODA song phương là hình thức nước này viện trợ, tài trợ cho nước khác.ODA đa phương là là hình thức nhiều nước hình thành một quỹ (hoặc tổchức) để viện trợ, tài trợ cho một nước
3.2 Theo tính chất
Gồm có viện trợ không hoàn lại và viện trợ có hoàn lại
Viện trợ không hoàn lại là các khoản cho không, không phải trả lại
Viện trợ có hoàn lại là các khoản vay ưu đãi (tín dụng với điều kiện “mềm”)Viện trợ hỗn hợp: gồm một phần cho không, phần còn lại thực hiện theo hìnhthức tín dụng (có thể là ưu đãi hoặc thương mại)
3.3 Theo mục đích
Được chia thành hỗ trợ cơ bản và hỗ trợ kỹ thuật
Hỗ trợ cơ bản là những nguồn lực được cung cấp để đầu tư xây dựng cơ sở
hạ tầng kinh tế, xã hội và môi trường Đây thường là những khoản cho vay ưu đãi
Hỗ trợ kỹ thuật là những nguồn lực dành cho chuyển giao tri thức, côngnghệ, xây dựng năng lực, tiến hành nghiện cứu cơ bản hay nghiên cứu tiền đầu tư,phát triển thế chế và nguồn nhân lực…loại hỗ trợ này chủ yếu là viện trợ khônghoàn lại
3.4 Theo điều kiện
Theo điều kiện ODA được chia thành:
ODA không ràng buộc nước nhận: việc sử dụng nguồn tài trợ không bị ràngbuộc bởi nguồn sử dụng hay mục đích sử dụng
ODA có ràng buộc nước nhận:
Trang 6+ Bởi nguồn sử dụng: có nghĩa là việc mua sắm hàng hóa, trang thiết bị haydịch vụ bằng nguồn vốn ODA chỉ giới hạn cho một số công ty do nước tài trợ sỏhữu hoặc kiểm soát (đối với viện trợ song phương), hoặc các công ty của các nướcthành viên (đối với viện trợ đa phương)
+ Bởi mục đích sử dụng: chỉ được sử dụng cho một số lĩnh vực nhất địnhhoặc một số dự án cụ thể
3.5 Theo đối tượng sử dụng
Được chia thành hỗ trợ dự án và hỗ trợ phi dự án
Hỗ trợ dự án là hình thức chủ yếu của ODA để thực hiện các dự án cụ thể Nó cóthể là hỗ trợ cơ bản hoặc hỗ trợ kỹ thuật, có thể là cho không hoặc vay ưu đãi
Hỗ trợ phi dự án bao gồm các loại hình như sau:
+ Hỗ trợ cán cân thanh toán: thường là hỗ trợ tài chính trực tiếp (chuyển giaotiền tệ) hoặc hỗ trợ hàng hóa, hỗ trợ qua nhập khẩu Ngoại tệ hoặc hàng hóa đượcchuyển qua hình thức này có thể được sử dụng để hỗ trợ ngân sách
+ Hỗ trợ trả nợ
+ Viện trợ chương trình là khaonr ODA dành cho một mục đích tổng quátvới thời gian nhất định mà không phải xác định một cách chính xác nó sẽ được sửdụng như thế nào
II Vai trò của ODA trong chiến lược phát triển kinh tế của các nước đang và chậm phát triển
1 ODA là nguồn vốn bổ sung quan trọng cho đầu tư phát triển
Đối với các nước đang phát triển khoản viện trợ và cho vay theo điều kiệnODA là nguồn tài chính quan trọng Nhiều nước đã tiếp thu một lượng vốn ODAkhá lớn như một bổ sung quan trọng cho phát triển
Sau chiến tranh thế giới thứ II, nhiều nước châu Á thiếu vốn để khôi phục vàphát triển nền kinh tế Đầu tư vào cơ sở hạ tầng đòi hỏi một lượng vốn lớn, lãi suấtthấp, thời gian thu hồi vốn lâu, nhiều rủi ro Vì vậy các nước gặp nhiều khó khăntrong việc thu hút vốn vốn FDI vào lĩnh vực này Nhiều nước đã tranh thủ đượcnguồn vốn ODA từ các nước giàu Ví dụ như,trong giai đoạn đầu phát triển kinh tế,Đài Loan đã nhận được viện trợ của Hoa kỳ lên tới 1,482 tỷ USD Vốn viện trợ đãgóp phần đáng kể trong quá trình phát triển kinh tế của Đài Loan, từ một nước nhận
Trang 7viện trợ Đài Loan đã trở thành nước cung cấp viện trợ Hiện nay Nhật Bản là nhà tàitrợ hàng đầu thế giới, nhưng trước đây Nhật Bản cũng từng là nước nhận viện trợ,với sự giúp đỡ của Hoa Kỳ, các nước trên thế giới, các tổ chức tài chính quốc tế nhưWB,Quỹ Nhi đồng Liên hiệp quốc và các tổ chức Liên hiệp quốc khác
Do tính chất ưu đãi, vốn ODA thường dành cho đầu tư vào cơ sở hạ tầngkinh tế xã hội như đầu tư vào đường xá, cầu cảng, công trình điện, công trình cấpthoát nước và các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa và phát triển nguồn nhân lực
Nhiều công trình hạ tầng kinh tế xã hội như sân bay, bến cảng, đường caotốc, trường học, bệnh viện, trung tâm nghiên cứu khoa học mang tầm cỡ quốc gia ởThái Lan, Singapore, Indonexia và cả Việt Nam… đã được xây dựng bằng nguồnvốn ODA của Nhật Bản, Hoa kỳ, WB, ADB và một số nhà tài trợ khác
2 ODA giúp cho việc tiếp thu những thành tựu khoa học, công nghệ hiện đại, và phát triển nguồn nhân lực
Những lợi ích quan trọng mà ODA mang lại cho các nước nhận tài trợ làcông nghệ, kỹ thuật hiện đại, kỹ xảo chyên môn và trình độ quản lý tiên tiến Cácnhà tài trợ còn ưu tiên đầu tư cho phát triển nguồn nhân lực vì họ tin tưởng rằngviệc phát triển một quốc gia quan hệ mật thiết tới việc phát triển nguồn nhân lực.Đây mới chính là lợi ích căn bản, laua dài đối với nước nhận tài trợ Có điều lànhững lợi ích này khó có thể mà lượng hóa được
Thông qua các dự án ODA các nhà tài trợ có những hoạt động nhằm giúp cácnước nhận tài trợ nâng cao trình độ khoa học công nghệ và phát triển nguồn nhânlực như: hợp tác kỹ thuật, cử chuyên gia, cung cấp thiết bị và vật liệu độc lập…(được thể hiển rõ trong ODA của Nhật Bản)
Hợp tác kỹ thuật là bôk phận quan trọng trong ODA (đặc biệt của Nhật Bản),bao gồm hàng loạt hoạt động rộng rãi từ việc xuất bản và cung cấp sách, tài liệu kỹthuật bằng nhiều thứ tiếng, các chương trình huấn luyện, đào tạo cán bộ chuyên môn…
Việc cử chuyên gia là một hình thức hợp tác kỹ thuật đã có lịch sử lâu dài.Việc này được tiến hành ký kết giữa hai bên và theo nhiều cách khác nhau Trongmỗi trường hợp, mục đích chính là chuyển giao hiểu biết, công nghệ chỗ các nướcđang phát triển thông qua định hướng, điều tra và nghiên cứu, góp ý… việc cải tiến
Trang 8trình độ công nghệ kỹ thuật của các nước đang phát triển cuối cùng sẽ góp phần vào
sự phát triển kinh tế xã hội của họ
Cung cấp thiết bị và vật liệu độc lập cũng là một bộ phận của chương trìnhhợp tác kỹ thuật Ở đây, cung cấp thiết bị kỹ thuật có nghĩa là cung cấp các thiết bị
và vật liệu với tư cách là một bộ phận của chương trình hợp tác kỹ thuật Nhưng đểphân biệt sự cung cấp đó với sự cung cấp thiết bị trong khuôn khổ viện trợ chungkhông hoàn lại ta gọi chung đó là cung cấp thiết bị và vật liệu độc lập
3 ODA giúp cho việc điều chỉnh cơ cấu kinh tế
Do dân số tăng quá nhanh, sản xuất tăng chậm và cung cách quản lý kinh tế, tàichính kém hiệu quả, các nước đang phát triển đặc biệt là các nước Châu Phi đang vấpphải nhiều khó khăn kinh tế như nợ nước ngoài và thâm hụt cán cân kinh tế ngày càngtăng Để giải quyết các vấn đề này, các quốc gia đang cố gắng hoàn thiện cơ cấu kinh
tế bằng cách phôi hợp với Ngân hàng thế giới, Quỹ tiền tệ thế giới và các tổ chức quốc
tế khác tiến hành chính sách điều chỉnh cơ cấu Chính sách này dự định chuyển chínhsách kinh tế Nhà Nước đóng vai trò trung tâm sang chính sách khuyến khích nền kinh
tế phát triển theo định hướng phát triển khu vực kinh tế tư nhân
Thế giới đã thừa nhận sự cần thiết của loại hình viện trợ này đối với cácnước đang phát triển và Nhật Bản cũng chú trọng tới loại hình này Nhật Bản tíchcực tham gia hỗ trợ cho các cuộc cải cách này Đặc biệt từ năm 1988 đến 1990,Nhật đã dành khoảng 52 tỷ Yên để cấp viện trợ không hoàn lại dưới dạng tổng tàitrợ với các tổ chức quốc tế Nhật Bản cũng đã cấp viện trợ không hoàn lại nhằm hỗtrợ cho việc điểu chỉnh cơ cấu kinh tế ở Châu Phi và các nước đang phát triển khác
4 ODA góp phần tăng khả năng thu hút FDI và tạo điều kiện để mở rộng đầu tư phát triển trong nước
Các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài khi quyết định bỏ vốn đầu tư vào mộtnước, trước hết họ quan tâm tới khả năng sinh lợi của vốn đầu tư tại nước đó Họcảnh giác trước những nguy cơ làm tăng phí tổn đầu tư
Một số cơ sở hạ tầng yếu kém như hệ thống giao thông chưa hoàn chỉnh,phương tiện thông tin liên lạc thiếu thốn và lạc hậu, hệ thống cung cấp năng lượng(điện, nhiên liệu) không đủ cho nhu cầu sẽ làm nản lòng các nhà đầu tư vì rằngnhững phí tổn mà họ phải trả cho việc sử dụng những tiện nghi hạ tầng sẽ lên cao,
Trang 9chưa kể đến thiệt hại như hoạt động của nhà máy, xí nghiệp phải dừng vì mất điện,công trình đang xây dựng phải bỏ dở vì không có nước.
Một hệ thống ngân hàng lạc hậu cũng là lý do làm cho các nhà đầu tư e ngại,
vì những chậm trễ, ách tắc trong hệ thống thanh toán và sự thiếu thốn các dịch vụngân hàng hỗ trợ cho đầu tư sẽ làm phí tổn đầu tư gia tăng, dẫn tới hiệu quả đầu tưgiảm sút
Nhưng vậy, đầu tư của Chính phủ vào việc nâng cấp, cải thiện và xây dựngmới các cơ sở hạ tầng, hệ thống tài chính, ngân hàng đều hết sức cần thiết, nhằmlàm cho môi trường đâu tư trở nên hấp dẫn hơn Nhưng vốn đầu tư cho việc xâydựng cơ sở hạ tầng rất lớn, trong nhiều trường hợp, các nước đang phát triển phảidựa vào nguồn vốn ODA để bổ sung cho vốn đâu tư hạn hẹp từ ngân sách Nhànước Một khi môi trường đầu tư được cải thiện sẽ làm tăng sức hút dòng vốn FDI
Mặt khác, việc sử dụng vốn ODA để đầu tư cải thiện cơ sở hạ tầng sẽ tạođiều kiện cho các nhà đầu tư trong nước tập trung đầu tư vào các công trình sảnxuất kinh doanh có khả năng mang lại lợi nhuận
Rõ ràng là ODA ngoài việc bản thân nó là một nguồn vốn bổ sung quantrọng cho các nước đang và chậm phát triển, nó còn có tác dụng làm tăng khả năngthu hút vốn từ nguồn FDI và tạo điều kiện để mở rộng đầu tư phát triển trong nước,góp phần thực hiện thành công chiến lược hướng ngoại
Trang 10Chương II: Tác động hai mặt của ODA tới phát triển kinh tế ở Việt Nam
giai đoạn 1993-2008
I Thực trạng thu hút, sử dụng và quản lý ODA ở VN trong những năm gần đây
1 Các nhà tài trợ ODA cho Việt Nam
Theo tập quán tài trợ quốc tế, hàng năm các nhà tài trợ tổ chức Hội nghị việntrợ quốc tế để vận động tài trợ cho các quốc gia đang phát triển Đối với Việt Nam,sau Hội bàn tròn về viện trợ phát triển dành cho Việt Nam diễn ra lần đầu tiên vàonăm 1993, các hội nghị viện trợ tiếp theo được đổi tên thành Hội nghị Nhóm tư vấncác nhà tài trợ dành cho Việt Nam (gọi tắt là Hội nghị CG) và Việt Nam từ vị thế làkhách mời đã trở thành Đồng chủ trì Hội nghị CG cùng với Ngân hàng Thế giới.Địa điểm tổ chức Hội nghị CG cũng thay đổi từ việc tổ chức tại nước tài trợ như tạiPháp, Nhật Bản, sang về tổ chức tại Việt Nam
Trong thời gian qua, cộng đồng tài trợ tại Việt Nam đã được mở rộng rấtnhiều và hiện có 51 nhà tài trợ, bao gồm 28 nhà tài trợ song phương và 23 nhà tàitrợ đa phương đang hoạt động thường xuyên tại Việt Nam Ngoài các nước là thànhviên của Tổ chức OECD-DAC còn có các nhà tài trợ mới nổi như Trung Quốc, Ấn
độ, Hung-ga-ri, Séc,
Các nhà tài trợ song phương: Ai-xơ-len, Anh, Áo, Ba Lan, Bỉ, Ca-na-đa,
Cô-oét, Đan Mạch, Đức, Hà Lan, Hàn Quốc, Hungari, I-ta-lia, Lúc-xem-bua, Mỹ,
Na-uy, Nhật Bản, Niu-di-lân, Ôt-xtrây-lia, Phần Lan, Pháp, Séc, Tây Ban Nha, TháiLan, Thuỵ Điển, Thuỵ Sĩ, Trung Quốc, Xin-ga-po
Các nhà tài trợ đa phương gồm:
- Các định chế tài chính quốc tế và các quỹ: nhóm Ngân hàng Thế giới
(WB), Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), Ngân hàngĐầu tư Bắc Âu (NIB), Quỹ Phát triển Bắc Âu (NDF), Quỹ Phát triển quốc tế củacác nước xuất khẩu dầu mỏ OPEC (OFID - trước đây là Quỹ OPEC), Quỹ Kuwait;
- Các tổ chức quốc tế và liên chính phủ: Ủy ban châu Âu (EC), Cao uỷ Liên
hợp quốc về người tỵ nạn (UNHCR), Quỹ Dân số của Liên hợp quốc (UNFPA),Chương trình Phát triển công nghiệp của Liên hợp quốc (UNIDO), Chương trình
Trang 11Phát triển của Liên hợp quốc (UNDP), Chương trình phối hợp của Liên hợp quốc vềHIV/AIDS (UNAIDS), Cơ quan Phòng chống ma tuý và tội phạm của Liên hợpquốc (UNODC), Quỹ Đầu tư Phát triển của Liên hợp quốc (UNCDF), Quỹ môitrường toàn cầu (GEF), Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF), Quỹ Quốc tế vàPhát triển nông nghiệp (IFAD), Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liênhợp quốc (UNESCO), Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), Tổ chức Nông nghiệp vàLương thực (FAO), Tổ chức Y tế thế giới (WHO).
Ngoài nguồn vốn tài trợ ODA, ở Việt nam còn có khoảng 600 các tổ chứcphi Chính phủ quốc tế hoạt động với số tiền viện trợ hàng năm lên đến 200 triệuUSD trong nhiều lĩnh vực khác nhau, liên quan trực tiếp đến đời sống người dân tạicác vùng nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc
2 Các lĩnh vực ưu tiên chủ yếu của một số nhà tài trợ lớn dành cho Việt Nam:
Nhà tài trợ Ưu tiên toàn cầu Ưu tiên ở Việt Nam
-Tăng trưởng kinh tế, ổn địnhdân số và sức khoẻ
-Phát triển đô thị; GTVT; giáodục; khai thác mỏ
-Cơ sở hạ tầng; phát triển khuvực tư nhân; môi trường-Thúc đẩy phát triển kinh tế
và tăng phúc lợi-Cân bằng về mậu dịch quốctế; ổn định tỷ giá hối đoái
-Hạ tầng kinh tế và dịch vụ-Hỗ trợ cải cách kinh tế, pháttriển hệ thống giao thông-Cứu trợ nạn nhân chiến tranh
và trẻ em mồ côi-Phát triển nhân lực; GTVT;thông tin liên lạc
-Hỗ trợ kinh tế và tài chính;
hỗ trợ thiết chế & quản lý
-Xoá đói giảm nghèo; GTVT-Hỗ trọ cán cân thanh toán vàđiều chỉnh cơ cấu
3 Tình hình huy động và sử dụng vốn ODA trong thời gian qua ở Việt Nam:
Thông qua 15 Hội nghị Nhóm tư vấn các nhà tài trợ dành cho Việt Nam (gọitắt là Hội nghị CG) thường niên, tổng vốn ODA đã được các nhà tài trợ cam kết đạt42,438 tỷ USD với mức cam kết năm sau cao hơn năm trước, kể cả những năm kinh
tế thế giới gặp khó khăn như khủng hoảng tài chính khu vực châu Á vào năm 1997
Trang 12Số vốn ODA cam kết nói trên được giải ngân dựa trên tình hình thực hiệncác chương trình và dự án được ký kết giữa Chính phủ và các nhà tài trợ Từ năm
1993 đến hết tháng 10 năm 2008, Chính phủ Việt Nam và các nhà tài trợ đã ký cácđiều ước quốc tế cụ thể về ODA với tổng số vốn đạt 35,217 tỷ USD, chiếm 82,98%tổng vốn ODA cam kết trong thời kỳ này, trong đó vốn ODA vay ưu đãi chiếmkhoảng 80%, vốn ODA không hoàn lại chiếm khoảng 20%
Trong những năm qua, nhiều dự án đầu tư bằng ODA đã hoàn thành và đưavào sử dụng góp phần tăng trưởng kinh tế, xoá đói giảm nghèo như: Nhà máy nhiệtđiện Phú Mỹ, nhà máy thuỷ điện Sông Hinh, một số dự án giao thong quan trọngnhư Quốc lộ 5, quốc lộ 1A, cầu Mỹ Thuận… Nhiều trường học đã được xây dựngmới, cải tạo hầu hết ở các tỉnh Một số bện viện lớn ở các thành phố, thị xã nhưBệnh viện Bạch Mai (Hà Nội), bệnh viện Chợ Rẫy (TP Hồ Chí Minh), nhiều trạm y
tế xã đã được cải tạo và xây mới Các chương trình dân số phát triển, chăm sóc sứckhoẻ bà mẹ và trẻ em, tiêm chủng mở rộng được thực hiện một cách có hiệu quả
Việt Nam nhận thức rằng cam kết vốn ODA mới chỉ là sự ủng hộ về chínhtrị của cộng đồng tài trợ quốc tế, việc giải ngân nguồn vốn này nhằm tạo ra cáccông trình, sản phẩm kinh tế - xã hội cụ thể để đóng góp vào quá trình phát triển củađất nước mới là quan trọng
Trong thời kỳ 1993-2008 (tính đến hết tháng 10 năm 2008), tổng vốn ODAgiải ngân đạt 22,065 tỷ USD, chiếm 52% tổng vốn ODA cam kết và 62,65% tổngvốn ODA ký kết
Có thể nhận thấy trong thời kỳ này tình hình giải ngân vốn ODA có nhữngcải thiện nhất định với chiều hướng tích cực qua các năm Tuy nhiên, mức giải ngânnày vẫn chưa đạt mục tiêu đề ra trong các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm
và tỷ lệ giải ngân vẫn còn thấp hơn mức trung bình của thế giới và khu vực đối vớimột số nhà tài trợ cụ thể
Mức giải ngân ODA khác nhau giữa các nhà tài trợ và giữa các loại hình dự
án Các dự án hỗ trợ kỹ thuật thường có mức giải ngân cao (chủ yếu là chi chochuyên gia, mua sắm thiết bị, máy móc và đào tạo) Các dự án đầu tư xây dựngthường giải ngân chậm (chi phí nhiều thời gian cho công tác chuẩn bị như đền bù, didân và tái định cư)
Trang 13BIỂU ĐỒ CAM KẾT, KÝ KẾT, GIẢI NGÂN TỪ 1993 - 2008
Bảng 1: Cam kết, ký ký kết và giải ngân vốn ODA giai đoạn 1993 - 2007
Đơn vị: Triệu USD
Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Bảng 2: Tỷ lệ giải ngân vốn ODA của Việt nam và một số nước ASEAN
giai đoạn 2001-2005
Nhà tài trợ Tỷ lệ giải ngân bình quân
của 1 số nước ASEAN
Tỷ lệ giải ngân bình quân của Việt Nam
Trang 14Nhật Bản ( JBIC) 15%/năm 9.3%/năm
Nguồn: Bộ kế hoạch và đầu tư
4 Những hạn chế còn tồn tại trong quá trình huy động, sử dụng và quản
lý nguồn vốn ODA ở Việt Nam trong thời gian qua
4.1 Các hạn chế trong quá trình thu hút và sử dụng ODA ở Việt Nam thời gian qua
Có thể nhận thấy trong thời kỳ 1993-2008 tình thình thu hút và sử dụng vốnODA ở Việt Nam đã có những cải thiện với chiều hướng tích cực qua các năm Tuynhiên, vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề hạn chế
Đó là sự thiếu chủ động trong quá trình vận động, thu hút vốn ODA, yếukém trong khâu lập kế hoạch, phân bổ vốn ODA còn dàn trải và thiếu công bằng,nhiều dự án triển khai còn chậm, chất lượng chưa đảm bảo, không đáp ứng đượcyêu cầu của nhà tài trợ Đặc biệt, tiến độ giải ngân còn chậm, tỷ lệ giải ngân thấpgây khó khăn cho quá trình thực hiện
Mặc dù mức giải ngân cam kết không ngừng tăng cao trong các năm nhưngmức giải ngân này vẫn chưa đạt mục tiêu đề ra trong các kế hoạch phát triển kinh tế
- xã hội 5 năm và tỷ lệ giải ngân vẫn còn thấp hơn mức trung bình của thế giới vàkhu vực đối với một số nhà tài trợ cụ thể
Mức giải ngân ODA khác nhau giữa các nhà tài trợ và giữa các loại hình dự
án Các dự án hỗ trợ kỹ thuật thường có mức giải ngân cao (chủ yếu là chi chochuyên gia, mua sắm thiết bị, máy móc và đào tạo) Các dự án đầu tư xây dựngthường giải ngân chậm (chi phí nhiều thời gian cho công tác chuẩn bị như đền bù, didân và tái định cư)
Việc phân bổ vốn ODA theo vùng lãnh thổ còn nhiều bất cập chưa đáp ứngđược nhu cầu của những nơi cần được hỗ trợ nhiều hơn, hiệu quả hơn Theo UNDP,vùng duyên hải Bắc trung bộ và Đồng bằng Sông cửu Long là những vùng đang bịthiệt thòi nhất về sử dụng vốn ODA Trong khi các vùng này chiếm gần 70% sốngười nghèo của cả nước nhưng họ mới chỉ nhận được 44% các khoản giải ngânODA trực tiếp
Trang 154.2 Các hạn chế trong quản lý nhà nước về vốn ODA
4.2.1.Trước hết là trong công tác vận động vốn ODA
Việc vận động ODA đã được thực hiện với nhiều hình thức phong phú ởtất cả các cấp từ Trung ương đến cơ sở cũng như ở các cơ quan đại diện củanước ta ở nước ngoài Được tiến hành từ dưới lên, do các chủ dự án, các Bộ vàđịa phương trực tiếp xây dựng Quá trình này có ưu điểm là thể hiện được trênnhu cầu thực tế của mỗi địa phương, mỗi ngành Tuy nhiên, việc chủ dự án tựmình tiến hành xây dựng dự án mà không tham khảo các cơ quan có liên qua sẽdẫn đến một số vấn đề sau:
- Các dự án được đề nghị không phù hợp với quy hoạch phát triển chung củangành, địa phương hoặc không phù hợp với yêu cầu của các nhà tài trợ
- Có sự chồng chéo giữa ngành và địa phương trong việc xây dựng danh mục
dự án
- Tốn kém về kinh phí chuẩn bị dự án đối với chủ dự án; tạo ra gánh nặng đốivới các cơ quan quản lý cấp trên trong việc đánh giá cân đối nhu cầu vốn ODA củacác địa phương và ngành
4.2.2.Về công tác thẩm định, phê duyệt vốn ODA
Công tác thẩm định và phê duyệt các dự án ODA là một khâu hết sức quantrọng bảo đảm hiệu quả và chất lượng của các dự án ODA Tuy nhiên, trên thực tếcông tác này ở Việt Nam gặp nhiều khó khăn
- Do thời gian phê duyệt luận chứng khả thi, thiết kế kỹ thuật kéo dài, tìnhhình thực tế có nhiều thay đổi nên nhiều dự án đòi hỏi phải có sự điều chỉnh chophù hợp với thực tế Tuy nhiên, việc phê duyệt những thay đổi của cả hai phía làchủ dự án và nhà tài trợ thường bị chậm trễ
- Trong quá trình thẩm định còn gặp một số mâu thuẫn giữa những quy địnhcủa Nhà nước và yêu cầu của các nhà tài trợ nước ngoài
- Thủ tục phê duyệt thiết kế chi tiết, tổng dự toán, nội dung đấu thầu của phíaViệt Nam (do Bộ Xây Dựng tiến hành) bị chậm trễ, không chính xác cả trước và saukhi ký kết hiệp định vay vốn ưu đãi Thủ tục hành chính còn nhiều yếu kém, gây phiền
hà cho các nhà tài trợ và các nhà thầu, ảnh hướng trực tiếp tới hiệu quả của dự án
Trang 16Nhiều dự án có phương án cho vay lại không phù hợp, đến kỳ trả nợ dự ánkhông trả được nợ và xin hoãn nợ, dự án không có năng lực bố trí vốn đối ứng đểthực hiện các nghĩa vụ của mình như đã cam kết v.v
4.2.3 Về công tác bố trí vốn đối ứng cho các dự án ODA
Việc cấp vốn đối ứng gặp vướng mắc do Việt Nam lấy vốn đối ứng từ nguồnngân sách nhà nước, chủ yếu từ danh mục chi cho đầu tư phát triển Khoản chi nàylại phụ thuộc nhiều vào khoản thu ngân sách nhà nước trong năm Vì vậy, khi có sự
cố hay bất trắc trong nguồn thu thì vốn đối ứng không đủ cung cấp theo kế hoạchđặt ra Từ khi ban hành Luật ngân sách mới, các Bộ và địa phương đã chủ động điềuchuyển vốn đối ứng giữa các dự án thuộc phạm vi mình quản lý nên đã tránh đượctình trạng trên Tuy nhiên, các Bộ, địa phương chủ quản chưa làm tốt công tác tổnghợp nhu cầu vốn đối ứng, chỉ đơn giản cộng nhu cầu vốn đối ứng của từng dự ánriêng lẻ thuộc bộ, địa phương mình quản lý trình các cấp có thẩm quyền Đây chính
là tâm lý ỷ lại vào cấp trên, không phát huy vai trò chủ động sáng tạo trong quátrình lập kế hoạch
4.2.4 Về công tác giám sát, theo dõi và đánh gái các dự án ODA
Tuy hệ thống các quy định về việc giám sát, theo dõi dự án đã được ban hànhđầy đủ, nhưng do thiếu các chế tài nên công tác này còn bị coi nhẹ và chưa thực sựđáp ứng các nhu cầu đề ra
Bên cạnh đó các chính sách về thuế, chính sách cho vay lại và thủ tục rút vốncho các chương trình, dự án ODA vẫn còn tồn tại nhiều yếu kém
Các chính sách tài chính trong nước (thuế, cơ chế cho vay lại, các định mứcchi phí về chuyên gia và ban quản lý dự án ) nặng về xử lý theo vụ việc thay vì cómột chính sách nhất quán, được công bố trước làm cơ sở cho việc tính toán và lựachọn các phương án sử dụng các nguồn vốn đầu tư phù hợp Các văn bản hướngdẫn của các Bộ, ngành và địa phương về việc thực hiện các chính sách trong nướcđối với ODA còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý ngày càng cao,nhiều nội dung còn mâu thuẫn, hay thay đổi, khó dự đoán trước, nhiều thủ tục cònphiền hà, kém minh bạch làm khó cả cho cơ quan thụ hưởng lẫn nhà tài trợ
Trang 17II Đánh giá tác động của ODA tới phát triển kinh tế ở Việt Nam trong giai đoạn 1993-2008:
1 Đánh giá những tác động tích cực của ODA tới phát triển kinh tế ở Việt Nam trong giai đoạn 1993-2008
1.1 ODA làm tăng tổng vốn đầu tư xã hội, từ đó hỗ trợ phát triển kinh
Nhờ có sự hỗ trợ bởi các khoản vốn và những kinh nghiệm phát triển quýbáu từ nguồn ODA, cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội của Việt Nam đã được cải thiện
và Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu trong các lĩnh vực như xã hội, y tế, giáodục, tăng cường thể chế, bảo vệ môi trường, phát triển nông thôn, đặc biệt là trongcông tác xóa đói giảm nghèo Kể từ năm 1993 đến nay, đã có tới 22 tỉ USD đượcgiải ngân trong tổng số 42,5 tỉ USD vốn ODA cam kết Cho đến gần đây, Việt Namluôn được coi là một trong những quốc gia sử dụng hiệu quả vốn ODA nhất trên thếgiới, đưa tỷ lệ đói nghèo giảm từ khoảng 58% năm 1992 xuống khoảng 15% năm
2007 Tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam luôn tăng cao và ổn định so với cácnước trong khu vực và trên Thế giới trong những năm gần đây
1.2 ODA hỗ trợ phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng
Cũng giống như các nước đang phát triển khác, Việt Nam thường được nhậnnhiều ODA nhằm mục tiêu cải thiện cơ sở hạ tầng, đặc biệt trong lĩnh vực giaothông vận tải, truyền thông và năng lượng
Hơn 4,5 tỷ USD vốn ODA với 101 dự án do Trung ương quản lý đã và đang
được thực hiện để phát triển ngành giao thông vận tải, chủ yếu tập trung cho đường
bộ, đường biển và giao thông nông thôn
Trang 18Vốn ODA đã được sử dụng để khôi phục, nâng cấp và xây dựng mới 3.676 kmđường quốc lộ; khôi phục và cải tạo khoảng 1.000 km đường tỉnh lộ; Quốc lộ 5, quốc
lộ 1A (đoạn Hà Nội-Vinh; đoạn TP Hồ Chí Minh-Cần Thơ, TP Hồ Chí Minh-NhaTrang); làm mới và khôi phục 188 cầu, chủ yếu trên các Quốc lộ 1, Quốc lộ 10, Quốc
lộ 18 với tổng chiều dài 33,7 km; cải tạo và nâng cấp 10.000 km đường nông thôn vàkhoảng 31 km cầu nông thôn quy mô nhỏ; Cầu Mỹ Thuận; xây dựng mới 111 cầunông thôn với tổng chiều dài 7,62 km (khẩu độ bình quân khoảng 25 – 100 m)
Vốn ODA đã đầu tư nâng cấp giai đoạn 1 cho cảng Hải Phòng để có thể bốcxếp được 250.000 TEV/năm; nâng cấp cảng Sài Gòn có công suất bốc xếp từ 6,8triệu tấn/năm lên 8,5 triệu tấn/năm; xây dựng mới cảng nước sâu Cái Lân; cải tạocảng Tiên Sa, Đà Nẵng
Nguồn vốn ODA đầu tư cho việc phát triển ngành điện với tổng cam kết chođến năm 2003 là 3,7 tỷ USD, hiện chiếm 40,3% trong tổng vốn đầu tư với 7 nhàmáy điện lớn (Phú Mỹ 1, Phú Mỹ 2, Hàm Thuận - Đa Mi, Sông Hinh, Đa Nhim,Phả Lại 2, Trà Nóc) có công suất thiết kế chiếm 40% tổng công suất của các nhàmáy điện ở Việt Nam xây dựng trong kế hoạch 5 năm 1996 – 2000 Tổng công suấtphát điện tăng thêm do đầu tư bằng nguồn vốn ODA là 3.403 MW, bằng tổng côngsuất điện từ trước cho tới năm 1995 Trong ngành năng lượng điện, vốn ODA cònđầu tư để phát triển hệ thông đường dây và mạng lưới điện phân phối điện, bao gồmcác dự án đường dây 500 KV Plâyku – Phú Lâm, đường dây 220 KV Tao Đàn –Nhà Bè, gần 50 trạm biến áp của cả nước, cải tạo nâng cấp mạng lưới điện thành thị
và nông thôn ở trên 30 tỉnh và thành phố
1.3 ODA đã có tác dụng tích cực trong tăng cường năng lực, phát triển thể chế trên nhiều lĩnh vực, đào tạo nguồn nhân lực, xây dựng pháp luật, cải cách hành chính
Nhiều cơ quan đã được tăng cường năng lực với một lượng lớn các cán bộđược đào tạo và tái đào tạo về khoa học, công nghệ và kinh tế ODA cũng mang lạinhững kinh nghiệm quốc tế có giá trị đối với sự nghiệp phát triển của nhiều lĩnh vựckinh tế, xã hội, khoa học, công nghệ và bảo vệ môi trường, quản lý nhà nước, phápluật
Trang 19Với sự hỗ trợ kỹ thuật của ODA, một số bộ luật quan trọng đã được chuẩn bịđúng hạn và được Chính phủ trình Quốc hộ thông qua góp phần đáp ứng yêu cầu cảicách thể chế trong tiến trình của Việt Nam gia nhập WTO như Luật Đầu tư, Luật Đấuthầu, Luật Phòng chống tham nhũng ; ODA có vai trò quan trọng hỗ trợ Việt Namxây dựng và hoàn thiện khung thể chế, pháp lý (xây dựng và hoàn thiện các Luật, cácvăn bản dưới Luật) thông qua việc cung cấp chuyên gia quốc tế, những kinh nghiệm vàtập quán tốt của quốc tế và khu vực trong lĩnh vực pháp luật đặc biệt trong bối cảnhViệt Nam chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế.
Việc cải thiện và nâng cao chất lượng trang thiết bị cũng như trình độ khámchữa bệnh thông qua các dự án viện trợ không hoàn lại tại hai bệnh viện lớn là ChợRẫy và Bạch Mai và các dự án hợp tác kỹ thuật của Nhật Bản trong lĩnh vực y tếcũng đã góp phần nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ y bác sỹ cũng như trangthiết bị khám chữa bệnh, qua đó cải thiện đời sống của nhân dân, đặc biệt là dânnghèo thành thị
Thông qua chương trình tài trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ giai đoạn 1 do NhậtBản tài trợ, Ngân hàng Nhà nước đã hỗ trợ phát triển sản xuất cho 105 doanhnghiệp vừa và nhỏ, tạo nhiều công ăn việc làm ổn định Ngoài số vốn 216 tỷ VNDcho vay lại, các Ngân hàng thực hiện tham gia đóng góp khoảng 130 tỷ VND vàngười vay cuối cùng góp khoảng 256 tỷ VND, nâng tổng số vốn đầu tư cho nềnkinh tế lên khoảng 602 tỷ VND
Nguồn vốn ODA có vai trò tích cực hỗ trợ phát triển năng lực con ngườitrong việc đào tạo và đào tạo lại hàng vạn cán bộ Việt Nam trong thời gian qua trênrất nhiều lĩnh vực Tổng nguồn vốn ODA dành cho giáo dục và đào tạo ước khoảng
550 triệu USD, chiếm khoảng 8,5 – 10% tổng kinh phí giáo dục và đào tạo, đã gópphần cải thiện chất lượng và hiệu quả của công tác giáo dục và đào tạo, tăng cườngmột bước cơ sở vật chất kỹ thuật cho việc nâng cao chất lượng dạy và học, như dự
án giáo dục tiểu học, trung học và đại học, dự án đào tạo nghề
1.4 ODA góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế
ODA đã góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóahiện đại hóa, cải thiện các dịch vụ kinh tế xã hội