Hoạt động sản xuất kinh doanh ngày càng phát triển thì nhu cầu tập trung, luân chuyển hàng hoá, vật tư ngày càng lớn. Tuy trong khi đó, hiện nay tại các doanh nghiệp bỏ ra chi phí cho các biện pháp an toàn chỉ chiếm một tỉ lệ rất nhỏ so với tổng nguồn vốn đầu tư. Vì vậy, cùng các điều kiện tự nhiên ngày càng khắc nghiệt và những rủi ro tiềm ẩn khiến cho nguy cơ cháy nổ ngày càng cao...
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Hoạt động sản xuất kinh doanh ngày càng phát triển thì nhu cầu tập trung, luân chuyển hàng hoá, vật tư ngày càng lớn Tuy trong khi đó, hiện nay tại các doanh nghiệp bỏ ra chi phí cho các biện pháp an toàn chỉ chiếm một tỉ lệ rất nhỏ so với tổng nguồn vốn đầu tư Vì vậy, cùng các điều kiện tự nhiên ngày càng khắc nghiệt và những rủi ro tiềm ẩn khiến cho nguy cơ cháy nổ ngày càng cao
Theo các chuyên gia kinh tế, trong nền kinh tế thị trường để bảo toàn nguồn vốn của mình, các doanh nghiệp cần sử dụng các biện pháp an toàn như trích lập quỹ
dự trữ để phục vụ công tác bảo hiểm doanh nghiệp Tuy nhiên từ những vụ việc đã xảy ra thời gian vừa qua, thì việc tham gia bảo hiểm tài sản, mà cụ thể là bảo hiểm hoả hoạn, vẫn là phương án tối ưu nhất Có thể nói rằng, bảo hiểm hoả hoạn giúp đảm bảo an toàn nguồn vốn cũng như tài sản cho hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp và hạn chế tối đa mức ảnh hưởng của các rủi ro đến hoạt động sản xuất kinh doanh, đảm bảo cho các doanh nghiệp có khả năng phục hồi hoạt động nếu xảy
ra rủi ro hoả hoạn Khi tham gia bảo hiểm hoả hoạn, doanh nghiệp còn được các Công ty bảo hiểm tư vấn về các biện pháp phòng tránh tổn thất và thực hiện chính sách quản lý rủi ro nhằm đảm bảo an toàn cao nhất
Bên cạnh đó,ngày 28/7/2007quyết định số 28/7/2007/ QĐ- BTC ngày 24/4/2007 ban hành Quy tắc và Biểu phí bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc chính thức có hiệu lực Do đó em chọn đề tài “ Tình hình kinh doanh bảo hiểm hỏa hoạn và bảo hiểm cháy nổ bắt buộc tại công ty cổ phần bảo hiểm bưu điện PTI” để nghiên cứu sâu hơn về hai loại hình bảo hiểm hỏa hoạn nói chung và bảo hiểm cháy nổ bắt buộc nói riêng được triển khai tại PTI trong năm 2007-2009 và đưa ra những ý kiến đề xuất nhằm phát triển hơn nữa nghiệp vụ bảo hiểm hỏa hoạn
Trang 2CHƯƠNG I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HIỂM HỎA HOẠN
1.1 Tổng quan về thị trường bảo hiểm hỏa hoạn
Bảo hiểm cháy là một loại hình bảo hiểm có bề dày lịch sử, hiệp hội bảo hiểm hoả hoạn (BHHH) đầu tiên ra đời ở Đức năm 1591 với tên là Feuer Casse ở Anh, chính phủ đã rất quan tâm tới việc thực hiện những biện pháp chống cháy và cho phép các công ty bảo hiểm tư nhân tổ chức hoạt động dịch vụ chống cháy với điều kiện là đội chữa cháy phải được đào tạo và trang bị đầy đủ các phương tiện PCCC Như vậy, cùng với việc nhận bảo hiểm, các công ty bảo hiểm cũng đồng thời cung cấp thiết bị và nhân viên PCCC
Vào đầu thế kỷ 17, đã xảy ra rất nhiều vụ cháy mà điển hình là vụ cháy ở Luân đôn năm 1666 - vụ cháy kéo dài 5 ngày, thiêu huỷ gần như toàn bộ thành phố Điều này
đã thúc đẩy sự ra đời và phát triển của bảo hiểm hoả hoạn Trong thời gian xây dựng lại thành phố, Nicholas Barton (Tiến sĩ vật lý -sau này chuyển sang lĩnh vực xây dựng) đã tiến hành bảo hiểm hoả hoạn cho các ngôi nhà mới xây dựng Ban đầu ông điều khiển công ty theo kiểu công ty tư nhân nhưng sau đó, năm 1680/81 ông đổi thành công ty cổ phần mang tên "The Fire office" Một số công ty khác theo đó ra đời, trong đó có Hand in Hand năm 1696 và Sun Fire office năm 1710
Công ty bảo hiểm đầu tiên thành công ở Mỹ là công ty bảo hiểm tương hỗ (do Benjamin Franklin và một số thành viên khác sáng lập năm 1752) Philadelphia Contributonship chuyên bảo hiểm cháy cho nhà cửa Công ty cổ phần được thành lập
ở Mỹ năm 1792 là The Insurance Company of Noth America
Xuất phát từ nhu cầu thực tế, bảo hiểm hoả hoạn đã có sự phát triển mạnh mẽ
và trở thành nghiệp vụ truyền thống của nhiều công ty bảo hiểm với số phí hàng năm rất cao
Kinh doanh bảo hiểm nói chung và nghiệp vụ bảo hiểm hỏa hoạn nói riêng đều dựa trên rủi ro, nền kinh tế càng phát triển thì các công cụ và biện pháp làm hạn chế rủi ro cũng ngày càng được tăng cường và hiện đại, tuy nhiên rủi ro không vì thế
mà hoàn toàn không xảy ra, hơn nữa khi hỏa hoạn xảy ra thì tổn thất rất khó lường
Trang 3Thị trường bảo hiểm hỏa hoạn Việt Nam những năm gần đây cũng cho thấy tiềm năng để phát triển về nghiệp vụ này cũng cho thấy còn rất lớn.
*Tình hình cháy nổ ở Việt Nam:
- Theo thống kê của Cục Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy (PCCC) và Cứu nạn, cứu hộ (thuộc Tổng cục Cảnh sát - Bộ Công an), trong năm 2009, cả nước đã xảy ra 1.948 vụ cháy, trong đó có 1.677 vụ cháy ở các cơ sở và nhà dân, 271 vụ cháy rừng làm 62 người chết và 145 người bị thương Tổng thiệt hại về tài sản ước tính khoảng 500 tỉ đồng và gần 1.400ha rừng bị xóa sổ Bên cạnh đó, cũng xảy ra 18 vụ
nổ, làm chết 16 người, bị thương 42 người, thiệt hại về tài sản ước tính 1,3 tỉ đồng
So với năm 2008, số vụ cháy nổ trong năm 2009 tuy giảm về lượng nhưng lại tăng mức thiệt hại về người Điển hình là số người bị chết vì cháy tăng 19% và chết trong các vụ nổ tăng 52% Nguyên nhân gây cháy phần lớn là do thiếu ý thức, sơ suất trong sinh hoạt khi sử dụng thiết bị điện và vi phạm quy định về PCCC Đặc biệt, từ đầu năm 2010 đến nay, số vụ cháy xảy ra liên tiếp trên địa bàn cả nước, nhiều doanh nghiệp bị thiêu rụi cả nhà xưởng, thiết bị sản xuất, trong đó có những vụ làm 7 người chết
Ở Việt Nam, bảo hiểm hoả hoạn bắt đầu được thực hiện từ năm 1989 sau khi
có Quyết định số 06/TCQĐ ngày 17-01-1989 của Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành Quy tắc về bảo hiểm hoả hoạn Đến nay, do sự tối ưu của bảo hiểm hoả hoạn, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 130/2006/NĐ-CP ngày 08-11-2006 quy định chế độ bảo hiểm cháy nổ bắt buộc Tuy nhiên, đến cuối năm 2009, trong số hơn 30.000 cơ
sở thuộc diện quy định, chỉ có hơn 15% tham gia mua bảo hiểm bắt buộc Nếu tính cả những trường hợp mua bảo hiểm tự nguyện, tỉ lệ này cũng chỉ vào khoảng 42%
1.2 Sự cần thiết khách quan
Theo luật phòng cháy và chữa cháy, hỏa hoạn được hiểu là trương hợp xảy ra cháy không kiểm soát được có thể gây thiệt hại về người, tài sản và ảnh hưởng môi trường Hỏa hoạn là loại rủi ro khó lường, thường gây hậu quả thiệt hại rất lớn
Theo số liệu thống kê hàng năm trên thế giới có khoảng 5 triệu vụ hỏa hoạn lớn, nhỏ gây thiệt hại hàng trăm tỷ đô la Các vụ hỏa hoạn không chỉ xảy ra ở các nước có nền kinh tế chậm phát triển mà còn xảy ra ở các nước có nên kinh tế phát triển như Anh, Pháp, Mỹ…nơi mà nền khoa học, công nghệ đã đạt đỉnh cao của sự hiện đại và an toàn thì hỏa hoạn vẫn xảy ra ngày một tăng cả về số lượng và mức độ nghiêm trọng
Trang 4Ở Việt Nam, hàng năm cũng xảy ra nhiều vụ hỏa hoạn lớn, ước tính thiệt hại
về tài sản lên đến hàng trăm tỷ đồng Điển hình một số vụ hỏa hoạn xảy ra gây thiệt hại lớn như: Năm 2000, Công ty may Hải Sơn thiệt hại 7,5 tỷ, Công ty Muraya Việt Nam thiệt hại 6,25 tỷ đồng, Công ty trách nhiệm hữu hạn Thịnh Khang thiệt hạ 6,2 tỷ Năm 2004, cháy ở công ty interfood thiệt hại hơn 4,5 triệu đô la…Năm 2006, tại công ty trách nhiệm hữu hạn PanPack Việt Nam thuộc khu công nghiệp Loteco ( Đồng Nai) đã xảy ra cháy lớn làm thiệt hại18 tỷ đồng; hỏa hoạn cũng đã xảy ra tại Công ty trách nhiệm hữu hạn place ( Khu chế xuất Tân Thuận- Thành phố HCM) làm thiệt hại 16 tỷ đồng; hay vụ cháy do mạng điện bị sự cố tại xưởng sản xuất đế giày Công ty TNHH Hóa Công Chyan Hwei( Khu Công Nghiệp Tân Định, Bình Dương)
đã thiêu cháy tài sản lên đến 34 tỷ đồng, năm 2010 tại công trình xây dựng dây chuyền 2 Nhà máy ximăng Nghi Sơn đóng tại Khu kinh tế Nghi Sơn đã xảy ra vụ cháy nghiêm trọng làm thiệt hại 10 tỷ đông…
Để đối phó với hỏa hoạn, con người đã sử dụng rất nhiều biện pháp khác nhau như các biện pháp phòng cháy, chữa cháy; đào tạo nâng cao trình độ kiến thức và ý thức, thông tin tuyên truyền về phòng cháy chữa cháy…tuy nhiên, hỏa hoạn vẫn xảy
ra làm cho các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân phải gánh chịu những tổn thất rất nặng
nề Để đối phó với hậu quả đó, bỏa hiểm vẫn được coi là một trong các biện pháp hữu hiệu nhất Khi tham gia bảo hiểm hỏa hoạn, ngoài việc được bồi thường những thiệt hại về tài sản do hỏa hoạn gây ra, người được bảo hiểm còn nhận được các dịch
vụ tư vấn về công tác phòng cháy chữa cháy từ phía công ty bảo hiểm giúp cho người được bảo hiểm lựa chọn được các biện pháp phòng cháy, chữa cháy có hiệu quả nhất
Mặt khác, trong điều kiện nền kinh tế thị trường, các tổ chức, doanh nghiệp,
cá nhân đều phải tự chủ về tài chính Hoạt động sản xuất, xây dựng, đầu tư, khai thác…ngày một gia tăng khối lượng hàng hóa, vật tư luân chuyển và tập trung rất lớn; công nghệ sản xuất đa dạng và phong phú Cho nên nếu hỏa hoạn xảy ra, họ phải đương đầu với rất nhiều khó khăn về tài chính, thậm chí bị phá sản Do đó, bên cạnh việc tích cực phòng cháy, chữa cháy thì bảo hiểm hiểm hỏa hoạn thực sự là một giá
đỡ cho các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân tham gia bảo hiểm
1.3 Đặc điểm của bảo hiểm hoả hoạn
Mặc dù bảo hiểm hỏa hoạn đã được triển khai từ rất lâu trên thế giới, nhưng ở Việt Nam đây vẫn là một trong những nghiệp vụ bảo hiểm được triển khhai khá muộn Khi tổ chức triển khai nghiệp vụ bảo hiểm này, người ta phải tính đến một số đặc điểm chủ yếu sau đây:
Trang 5- Thiệt hại do hỏa hoạn gây ra là rất lớn và không ai lường trước được Vì vậy, khi triển khai nghiệp vụ, công tác đề phòng và hạn chế tổn thất luôn được đặt lên hàng đầu.
- Các loại tài sản khác nhau thì khả năng xảy ra hỏa hoạn cũng khác nhau Ngay cả bản thân một loại tài sản, nếu được làm bằng các nguyên vật liệu khác nhau thì khả năng xảy ra hỏa hoạn cũng khác nhau Cho nên, việc tính phí bảo hiểm hỏa hoạn rất phức tạp
- Công tác đánh giá và quản lý rủi ro, công tác giám định bồi thường tổn thất trong nghiệp vụ bảo hiểm này cũng rất phức tạp, đòi hỏi cán bộ phải có trình độ chuyên sâu
- Vì mức độ thiệt hại do hỏa hoạn gây ra rất lớn, cho nên các công ty bảo hiểm khi triển khai nghiệp vụ này đồng thời phải triển khai các công việc như tái bảo hiểm, bảo hiểm gián đoạn kinh doanh…
- Ở Việt Nam, sau khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, các cá nhân, doanh nghiệp và các tổ chức đã có những tài sản giái trị rất lớn, khả năng xảy ra hỏa hoạn đối với những loại tài sản này rất khác nhau Cho nên, nhu cầu tham gia bảo hiểm hỏa hoạn ngày một tăng Vì vậy, nghiệp vụ bảo hiểm này luôn được coi là một trong những nghiệp vụ bảo hiểm chủ yếu nhất
1.4 Nội dung cơ bản của bảo hiểm hoả hoạn
1.4.1 Đối tượng bảo hiểm
Đối tượng bảo hiểm hỏa hoạn là tài sản thuộc quyền sở hữu và quản lý hợp pháp của các đơn vị sản xuất kinh doanh, dịch vụ, các tổ chức và cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế trong xã hội Đối tượng này được cụ thể hóa như sau:
- Công trình xây dựng, vật kiến trúc đã đưa và sử dụng( trừ đất đai)
- Máy móc thiết bị, phương tiện lao động phục vụ sản xuất kinh doanh
- Sản phẩm, vật tư, hàng hóa dự trữ trong kho
- Nguyên vật liệu, sản phẩm làm dở, thành phẩm, thành phẩm trên dây truyền sản xuất
- Các loại tài sản khác( kho, bãi, chợ, cửa hàng, khách sạn…)
1.4.2 Phạm vi bảo hiểm
Trang 6Phạm vi bảo hiểm là giới hạn các rủi ro được bảo hiểm và giới hạn trách nhiệm của công ty bảo hiểm Trong bảo hiểm hỏa hoạn, công ty bảo hiểm có trách nhiệm bồi thường các thiệt hại và chi phí sau:
- Những thiệt hại do những rủi ro được bảo hiểm gây ra cho tài sản được bảo hiểm
- Những chi phí cần thiết và hợp lý để hạn chế bớt tổn thất tài sản được bảo hiểm trong và sau khi hỏa hoạn xảy ra
- Những chi phí dọn dẹp hiện trường sau khi hỏa hoạn xảy ra
1.4.2.1 Rủi ro được bảo hiểm
Trong bảo hiểm hỏa hoạn, rủi ro được bảo hiểm bao gồm :
- Rủi ro chính: “ Rủi ro hỏa hoạn’- Rủi ro A
Rủi ro này thực chất bao gồm : Cháy, sét và nổ
+ Cháy: cháy chỉ được co là hỏa hoạn khi hội tụ đủ 3 yếu tố: phải thực sự có phát lửa, lửa đó không phải là lửa chuyên dung, lửa đó phải là bất ngờ hay ngẫu nhiên phát ra
Khi có đủ 3 yếu tố trên và có thiệt hại về vật chất do những nguyên nhân được cho là hợp lý gây ra, những thiệt hại đó sẽ được bồi thường cho dù là do bị hỏa hoạn hoặc do nhiệt hoặc khói
+ Sét: Công ty bảo hiểm sẽ chịu trách nhiệm bồi thường khi tài sản được bảo hiểmbị phá hủy trực tiếp do sét đánh hoặc do sét đánh gây ra hỏa hoạn Nếu sét đánh
mà không gây hỏa hoạn hoặc không phá hủy trực tiếp tài sản thì không thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường
Cần lưu ý rằng, khi sét đánh phá hủy trực tiếp các thiết bị điện tử thì được bồi thường, còn sét đánh làm thay đổi dòng điện dẫn đến thiệt hại cho thiết bị điện tử thì không được bồi thường
+ Nổ : Nổ là hiện tượng cháy xảy ra rất nhanh tạo một áp lực lớn kèm tho tiếng động mạnh, phát sinh do sự giãn nở đột ngột của chất rắn, lỏng hoặc khí.Nổ trong rủi ro A bao gồm:
Nổ nồi hơi phục vụ sinh hoạt
Hơi đốt phục vụ sinh hoạt, thắp sáng hoặc sưởi ấm trong một ngôi nhà, không phải nhà xưởng làm các công việc sử dụng hơi đốt
Các trường hợp nổ gây ra hỏa hoạn đã nghiễm nhiên được bảo hiểm Như vậy
ở đây chỉ còn lại những thiệt hai do nổ mà không gây hỏa hoạn:
Trang 7-Tổn thất hoặc thiệt hại do nổ mà không gây hỏa hoạn thì không được bồi thường, trừ trường hợp nổ nồi hơi, khí phục vụ sinh hoạt, với điều kiện là sự nổ đó không phải là do các nguyên nhân loại trừ.
Tổn thất hoặc thiệt hại do nổ xuất phát từ: Thiệt hại ban đầu do hỏa hoạn được bồi thường nhưng những tổn thất do hậu quả của nổ thì không được bồi thường
- Rủi ro phụ - rủi ro B
Ngoài những rủi ro chính, các công ty bảo hiểm còn có thể bảo hiểm cho các rủi ro phụ Rủi ro phụ có được bảo hiểm hay không còn tùy thuộc vào hợp đồng bảo hiểm; đồng thời, rủi ro này chỉ được bảo hiểm khi đi kèm theo các rủi ro chính Các rủi ro phụ bao gồm: máy bay và các phương tiện hàng không khác hoặc thiết bị trên các phương tiện đó rơi vào, nổi loạn, bạo động dân sự, đình công, bể xưởng, động đất, lửa ngầm dưới đất, giông bão, hệ thống chữa cháy rò rỉ nước…
1.4.2.2 rủi ro loại trừ
Trong bảo hiểm hỏa hoạn, ngoài các điểm loại trừ riêng cho những rủi ro, các loại trừ chung được áp dụng như sau:
- Động đất, núi lửa phun hay những biến động khác của thiên nhiên
- Tài sản tự lên men hoặc tự tỏa nhiệt
- Tài sản chịu tác động của một quá trình xử lý có dùng nhiệt
- Tổn thất do hành động cố ý hoặc đồng lõa của người được bảo hiểm gây ra
- Những tổn thất xảy ra do:
+ Gây rối, quần chúng nổi dậy, bãi công, sa thải công nhân trừ khi rủi ro này được ghi nhận là được bảo hiểm trong giấy chứng nhận bảo hiểm, nhưng chỉ với phạm vi bảo hiểm đã quy định tại rủi ro đó
+ Chiến tranh, xâm lược, hành động thù địch của nước ngoài, chiến sự ( dù có tuyên chiến hay không tuyên chiến), nổi loạn, nội chiến, khởi nghĩa, cách mạng, binh biến, bạo động, đảo chính,…
+ Những hành động khủng bố
- Những tổn thất mà nguyên nhân gây ra có liên quan đến nguyên liệu vũ khí hạt nhân; phóng xạ ion hóa hay nhiễm phõng xạ từ nhiên liệu hạt nhân hoặc từ chất thải hạt nhân do bốc cháy nguyên liệu hạt nhân
- Những tổn thất xảy ra đối với máy móc, thiết bị điện hay các bộ phận của thiết bị điện do chạy quá tải, quá áp lực, đoản mạch, tự đốt nóng, rò điện do bất kỳ nguyên nhân nào kể cả do sét đánh
Trang 8- Hàng hóa nhận ủy thác hay ký gửi trừ những hàng hóa đó được xác nhận trong giấy chứng nhận bảo hiểm là được bảo hiểm và người được bảo hiểm trả them phí bảo hiểm theo tỷ lệ quy định.
- Tiền bạc, kim loại, đá quý, chứng khoán, thư bảo lãnh, tem phiếu, tài liệu, bản thảo, sổ sách kinh doanh, tài liệu lưu trữ trong máy tính điện tử, bản mẫu, văn bằng, khuôn mẫu, bản vẽ, tài liệu thiết kế trừ khi những hạng mục này được xác nhận trong giấy chứng nhận là được bảo hiểm
- Chất nổ nhưng không bao gồm nhiên liệu xăng, dầu
- Người, động vật và thực vật sống
- Những tài sản mà vào thời điểm xảy ra tổn thất được bảo hiểm theo đơn bảo hiểm hàng hải hoặc lẽ ra được bảo hiểm theo đơn bảo hiểm hàng hải, trừ phần thiệt hại vượt quá số tiền được bồi thường theo đơn bảo hiểm hàng hải hoặc lẽ ra được bồi thường theo đơn bảo hiểm hàng hải
- Tài sản bị cướp hay bị mất cắp Trong trường hợp tài sản bị cướp, mất cắp trong khi xảy ra hỏa hoạn mà người được bảo hiểm không chứng minh được là mất cấp thì vẫn được bồi thường
- Những thiệt hại mang tính chất hậu quả dưới bất kỳ hình thức nào trừ thiệt hại về tiền thuê nhà được xác nhận trong giấy chúng nhận bảo hiểm là được bảo hiểm
- Những thiệt hại gây ra cho bên thứ ba và những thiệt hại trong phạm vi mức miễn thường…
1.4.3 Giá trị bảo hiểm và số tiền bảo hiểm
a) Giá trị bảo hiểm
Giá trị bảo hiểm trong đơn bảo hiểm hỏa hoạn chính là giá trị của tài sản được bảo hiểm Gía trị này được được tính trên giá cơ sở của giá trị mua mới hoặc giá trị thực tế của tài sản tại thời điểm tham gia bảo hiểm Tuy vậy, do đối tượng bảo hiểm hỏa hoạn rất phức tạp và thường có giá trị rất lớng, cho nên khi xác định giá trị bảo hiểm người tâ chia ra làm các loại như sau:
- Giá trị bảo hiểm của ngôi nhà( nhà xưởng, văn phòng, nhà ở) được xác định trên cơ sở giá trị mới hoặc giá trị còn lại
+ Giá trị mới là gía trị khi mới xây của ngôi nhà bao gồm cả chi phí khảo sát thiết kế
+ Giá trị còn lại là giá trị mới sau khi đã trừ đi hao mòn do sử dụng theo thời gian
Trang 9- Tương tự, giá trị bảo hiểm của máy móc thiết bị và các loại tài sản cố định khác được xác định trên cơ sở gía mua mới( bao gồm cả chi phí vận chuyển, lắp đặt nếu có) hoặc giá trị còn lại.
- Giá trị bảo hiểm của thành phẩm và bán thành phẩm được xác định dựa trên
cơ sở giá thành sản xuất
- Giá trị bảo hiểm của hàng hóa, vật tư trong kho, của hàng được xác định dựa theo giá trị bình quân hoặc giá trị tối đa của các loại vật tư, hàng hóa có mặt trong thời gian bảo hiểm
b) Số tiền bảo hiểm
Số tiền bảo hiểm là giới hạn bồi thường tối đa của công ty bảo hiểm trong trường hợp tài sản được bảo hiểm bị tổn thất toàn bộ Số tiền bảo hiểm còn là căn cứ
để xác định được số tiền bảo hiểm Do đó, việc xác định số tiền bảo hiểm có ý nghĩa hết sức quan trọng Cơ sở để xác định số tiền bảo hiểm là giá trị bảo hiểm
Đối với tài sản cố định thì số tiền bảo hiểm căn cứ vào giá trị bảo hiểm của tài sản đó Còn đối với tài sản lưu động thì do giá trị thường xuyên bị biến động nên số tiền bảo hiểm có thể xác định theo giá trị trung bình hoặc giá trị tối đa
Trong trường hợp bảo hiểm theo giá trị trung bình, người được bảo hiểm phải ước tính và thông báo giá trị số hàng hóa trung bình có trong kho, trong cửa hàng cho công ty bảo hiểm biết Trong thời gian bảo hiểm thì giá trị trung bình này được coi là
số tiền bảo hiểm và phí bảo hiểm được tính trên cơ sở giá trị trung bình này Khi có tổn thất xảy ra thuộc phạm vi bảohiểm thì công ty bảo hiểm bồi thường phần thiệt hại thực tế nhưng không vượt quá giá trị trung bình đã khai báo
Trong trường hợp bảo hiểm theo giá trị tối đa thì người được bảo hiểm phải ước tính giá trị hàng hóa vật tư tối đa có thể đạt được vào một thời điểm nào đó trong thới gian bảo hiểm rồi thông báo cho công ty bảo hiểm biết Phí bảo hiểm được tính trên cơ sở giá trị tối đa này và thường được thu thước một phần Trong trường hợp tổn thất xảy ra thuộc phạm vi bảo hiểm thì công ty bảo hiểm bồi thường thiệt hại thực tế nhưng không vượt quá giá trị tối đa đã được khai báo Người được bảo hiểm thông báo cho công ty bảo hiểm biết số vật tư, hàng hóa tối đa hiện có trong tháng hoặc quý trước đó ( thời gian thông báo do thỏa thuận giữa người được bảo hiểm và công ty bảo hiểm) Cuối thời gian bảo hiểm, trên cơ sở giá trị được thông báo công ty bảo hiểm tính giá trị số vật tư, hàng hóa tối đa bình quân của cả thời hạn bảo hiểm và điều chỉnh tăng hoặc giảm phí bảo hiểm Nếu phí bảo hiểm tính được trên cơ sở giá trị tối đa bình quan nhiều hơn số phí đã nộp thì người được bảo hiểm trả cho công ty
Trang 10bảo hiểm số tiền còn thiếu Trong thời gian bảo hiểm nếu có tổn thất thuộc phạm vi bảo hiểm sẽ được công ty bảo hiểm bồi thường và số tiền bồi thường vượt quá giá trị tối đa bình quân thì phí bảo hiểm được tính dựa trên số tiền bồi thường đã trả Trong trường hợp này thì số tiền được bồi thường được coi là số tiền bảo hiểm.
Việc áp dụng bảo hiểm theo giá trị tối đa rất phức tạp do đó đòi hỏi công ty bảo hiểm phải biết giá trị vật tư, hàng hóa được bảo hiểm, theo dõi chặt chẽ số vật tư, hàng hóa trong suốt thời gian được bảo hiểm Những tài sản có giái trị lớn khiến người được bảo hiểm khó có thể tái bảo hiểm vì tính phức tạp và khó khăn
Ngược lại, bảo hiểm theo giá trị trung bình lại đơn giản và dễ theo dõi đồng thời có lợi về tính phí bảo hiểm Nếu một loại hàng hóa được bảo hiểm mà giá trị ít bị biến động trên thị trường thì áp dụng phương pháp này rất thuận tiện
1.4.4 Phí bảo hiểm
a) Các nhân tố ảnh hưởng tới phí bảo hiểm
Do đối tượng của bảo hiểm hoả hoạn đa dạng về chủng loại, giá trị và mức độ rủi ro nên có nhiều yếu tố làm ảnh hưởng đến phí bảo hiểm hoả hoạn Do đó không thể áp dụng một biểu phí cố định cho tất cả các loại công trình, tài sản có mức độ rủi
ro và việc phòng cháy khác nhau Các công ty bảo hiểm sẽ áp dụng mức tỷ lệ phí khác nhau cho tất cả các ngành sản xuất kinh doanh, dịch vụ, sau đó điều chỉnh tỷ lệ phí theo các yếu tố tăng hoặc giảm phí Sau đây là một số yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến phí bảo hiểm hoả hoạn:
- Vật liệu xây dựng: Tuỳ theo các yếu k,kết hợp vật liệu xây dựng có thể chịu đựng được lâu dài hay không đối với chất nóng, người ta chia làm 3 loại
+ Vật liệu nặng khó bắt lửa và có khả năng chịu được lửa tố như bê tong, cốt thép, đá…loại này được sử dụng để xây dựng công trình loại D
+ Vật liệu trung gian: Là vật liệu nhiều chất hoá hoặc trộn với vật liệu thiên nhiên, khẳ năng chịu lửa không tốt bằng vật liệu nặng, loại này được sử dụng để xây dựng công trình loại N
+ Vật liệu nhẹ: Loại này dễ bắt lửa và không có sức chịu lửa, thường được sử dụng để xây dựng công trình loại L
- Ảnh hưởng của các tầng nhà: Khi xảy ra hoả hoạn, lửa hoặc hơi nóng sẽ được truyền lên qua các tầng nhà, qua các cầu thang lên xuống, qua lỗ hổng hoặc qua cửa sổ làm cho các tầng nhà có thể bị sập kéo theo các thiệt hại bên trong Do đó, sức chịu đựng của các tầng nhà cũng là một yếu tố ảnh hưởng đến phí bảo hiểm
Trang 11- Phòng cháy, chữa cháy: Đây là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến phí bảo hiểm Căn cứ vào công tác này để công ty bảo hiểm điều chỉnh phí bảo hiểm Nếu công tác phòng cháy, chữa cháy được trang bị tốt, hạn chế thấp nhất rủi ro xảy ra thì phí bảo hiểm sẽ được tính thấp hơn Vị trí gần hay xa nguồn nước, đội cứu hoả cũng ảnh hưởng tới phí bảo hiểm.
- Cách phân chia đơn vị rủi ro: Khoảng cách phân chia hoặc tường chống cháy cũng ảnh hưởng tới phí bảo hiểm Các đơn vị rủi ro càng gần nhau, phí bảo hiểm cBàng cao và ngược lại
- Bao bì đóng gói, chủng loại hàng hoá, cách thức xếp đặt: Tuỳ từng loại hàng hoá, bao gói hay cách thức xếp đặt hàng hoá mà phí bảo hiểm phải căn cứ vào đó mà xác định
b) Xác định phí bảo hiểm hoả hoạn
Phí bảo hiểm hoả hoạn được xác định theo công thức
- Xác định tỷ lệ phí thuần theo phân loại
Đây là cách kết hợp các đơn vị có thể so sánh với nhau cùng một loại, sau đó, tính tỷ lệ mỗi loại phản ánh số tổn thất và các chi phí khác của loại đó Phương pháp này phù hợp với những tài sản tương đồng nhất vơi nhau như nhà ở của dân cư, các nhà thờ…Nhưng khi xác định tỷ lệ theo phân loại, cần xét các yếu tố ảnh hưởng đến
tỷ lệ phí như:
+ Loại vật liệu xây dựng
+ Khả năng phòng cháy, chữa cháy
Trang 12+ Người sử dụng( chủ ở hay cho thuê).
+ Những vật bố trí xung quanh bên ngoài
- Xác đinh tỷ lệ phí thuần theo danh mục
Theo phương pháp này, các bước xác định tỉ lệ phí bảo hiểm bao gồm:
Bước 1: Rà soát lại các danh mục tài sản tham gia bảo hiểm hoả hoạn, sau đó phân loại từng loại tài sản theo danh mục khác nhau( bởi vì mỗi loại tài sản có khả năng bị hoả hoạn khác nhau)
Bước 2: Căn cứ vào ngành nghề sản xuất kinh doanh để chọn một tỷ lệ phí thích hợp trong bảng tỷ lệ phí có sẵn
Bước 3: Điều chỉnh tỷ lệ phí đã chọn theo các yếu tố tăng hoặc giảm
Việc điều chình này phải căn cứ vào: Vật liệu xây dựng; công tác phòng cháy, chữa cháy…Tất cả những yếu tố này đều có thể làm tăng hoặc giảm tỷ lệ phí bảo hiểm
Trong nghiệp vụ bảo hiểm hoả hoạn, công ty bảo hiểm cần phải quan tâm đến các yếu tố làm giảm mức độ rủi ro vì những yếu tố này là cơ sở để giảm mức phí cơ bản Tuy nhiên, tổng mức giảm phí về các thiết bị và phương tiện phòng cháy, chữa cháy của mỗi đơn vị rủi ro không quá 45% Các yếu tố làm giảm rủi ro thường bao gồm:
- Thiết bị phòng cháy, chữa cháy;
- Việc trực, kiểm tra, canh gác;
- Thiết bị phương tiện chữa cháy như: Công trình có hệ thống phun nước; có
hệ thống dập cháy bằng CO2; có hệ thống tự động dập tắt tia lửa điện; có ôtô chữa cháy và nhân viên chữa cháy; gần đội cứu hoả công cộng…
PTI áp dụng các yếu tố làm tăng hoặc giảm phí như sau:
Loại D ( discount class)- giảm tối đa 10% nếu kết cấu các công trình xây dựng đảm bảo các điều kiện sau:
Trang 13Tường bao không chịu lực, là loại khó cháy hoặc làm bằng vật liệu không cháy.
Mái: Loại khó cháy với lớp phủ ngoài bằng vật liệu không cháy, không kèm theo bất cứ vật liệu nào phí bề mặt dưới; Mái cứng
Loại N( Neutal class): Không tăng giảm phí
+ Các công trình loại này không đạt các tiêu chuẩn như loại D: mức độ chịu lửa kém hơn, các bộ phận chịu lực tối thiểu phải được làm bằng vật liệu khó cháy hoặc phần lớn chúng được làm bằng vật liệu không cháy
+ Mái cứng
Loại L (Loading class) : Tăng phí 10%, là các công trình không đạt yêu cầu chịu lửa như loại D và N
Tăng phí:
♦ Các yếu tố làm tăng mức độ rủi ro:
+ Các công trình có máy móc, thiết bị phụ trợ có thể làm tăng thêm mức độ rủi ro, khả năng xảy ra tổn thất như dây chuyền sơn trong một phân xưởng sản xuất, thiết bị sấy khô, chiết xuất, chế biến gỗ hoặc chất dẻo (nhựa), gia công vật liệu nhân tạo…
Tuy nhiên:
Không tính tăng phí nếu các máy móc, thiết bị phụ trợ trên được lắp trong phòng, khu vực ngăn cách với bên ngoài bằng tường ngăn( chống) cháy và / hoặc được lắp đặt hệ thống chữa cháy tự động để bảo vệ riêng( có hệ thống báo cháy và chiếm không quá 10% diện tích của cả đơn vị rủi ro)
Tăng phí tùy từng trường hợp cụ thể, tối đa 15%( do người bảo hiểm tự đánh giá)
♦ Có điều kiện đặc biệt không thuận lợi đối với rủi ro được bảo hiểm như:
Có các nguồn nhiệt (lửa) không được ngăn cách chống cháy ( không tách biệt hoàn toàn), có không khí, lò sưởi bị đốt nóng bởi dầu hay khí đốt ở nơi làm việc
Có thiết bị sưởi ấm bằng tia hồng ngoại, dầu…
Tuy nhiên: không tính thêm phí nếu không có các vật dễ cháy được sản xuất hay cất chữ gần đó
Thiếu các trang thiết bị chữa cháy thích hợp, thiếu các biển báo phòng cháy chữa cháy
Thiết kế không đạt yêu cầu hoặc việc sửa chữa không đảm bảo chất lượng
Có dây chuyền sản xuất tự động hóa ( không có người điều khiển) nhưng không được trang bị các thiết bị báo cháy tự động thích hợp( theo đúng tiêu chuẩn)
Trang 14Tăng phí tùy từng trường hợp cụ thể, tối đa 10%
♦ Các công trình có trung tâm máy tính nhưng không được ngăn cách bằng tường chống cháy ( không có hệ thống PCCC riêng biệt và phù hợp) Tỷ lệ tăng phí không quá 5%( người bảo hiểm tự đánh giá)
♦ Có khả năng bị ( xảy ra rủi ro) phá hoại ( cố tình gây cháy) Tỷ lệ tăng phí tối đa 5%
Giảm phí
♦ Biện pháp và trang thiết bị phòng cháy, báo cháy, chữa cháy
Có hệ thống báo cháy tự động được nối thẳng tới trạm cứu hỏa công cộng: giảm 8% phí
Có hệ thống báo cháy tự động được nối với phòng thường trực, đội cứu hỏa của xí nghiệp, trạm công an hay cơ quan có trách nhiệm khác giảm 6% phí
Có bộ phận báo cháy thuộc hệ thống chữa cháy được lắp đặt cố định: giảm 5% phí
Việc trực/kiểm tra/canh gác được thực hiện 24/24 giờ, cứ 2 giờ một làn có người tuần tra và có thể lien lạc ngay bằng điện đài hay nút bấm khi cần phát lệnh báo động: giảm 5% phí
♦ Các thiết bị và phương tiện chữa cháy:
Trang 15phút bà dễ tiếp cận chữa cháy- [(r)-áp dụng hiện hành]
10 ( 05-r)
Số liệu: phòng bảo hiểm tài sản kỹ thuật PTI
♦ Xét mức tăng, giảm phí theo tỷ lệ tổn thất trong quá khứ ( so với phí bảo hiểm):
- Nếu trong 5 năm gần nhất số tiền bồi thường cho Người được bảo hiểm dưới 20% tổng số phí bảo hiểm thu được thì có thể giảm tới 15% phí bảo hiểm, nếu dưới 50% thì có thể giảm tới 10% phí bảo hiểm
- Ngược lại ( nếu trong 5 năm gần nhất số tiền bồi thường bằng 120% số phí bảo hiểm thu được thì tăng 10% phí bảo hiểm-r) nếu quá 150% thì tăng ít nhất 10%( 15%-r)
♦ Xét mức giảm phí theo mức miễn thường
Mức miễn thường tối thiểu bắt buộc, không giảm phí là 0,2% trên số tiền bảo hiểm, nhưng tối thiểu theo bản thỏa thuận giữa các công ty bảo hiểm cụ thể là:
Bảng 1: Mức miễn thường tối thiểu
Trang 16Rủi ro Số tiền bảo hiểm Mức miễn thường
Số liệu: phòng bảo hiểm tài sản kỹ thuật PTI
Nếu khách hàng muốn lựa chọn và hoặc chấp nhận những mức miễn thường cao hơn để được giảm phí bảo hiểm thì có thể áp dụng các tỷ lệ giảm phí theo mức miễn thường như sau:
Bảng 2: Tỷ lệ giảm phí theo mức miễn thường Đơn vị tính: %
Các tỷ lệ phí tương ứng với số tiền bảo hiểm tính bằng US$
60Tr Đến
90 Tr Đến
Việc đóng phí gắn liền với hiệu lực của hợp đồng Hiệu lực của hợp đồng được ghi nhận trong giấy chứng nhận bảo hiểm Thông thường hiệu lực hợp đồng bắt đầu khi người tham gia bảo hiểm nộp phí và kết thúc vào ngày 16 giờ ngày cuối cùng của thời hạn bảo hiểm Tuỳ theo yêu cầu của người được bảo hiểm, công ty bảo hiểm
Trang 17nhận bảo hiểm với thời hạn 1 năm hoặc bảo hiểm ngắn hạn( tháng, quý) Sauk hi kết thúc thời hạn bảo hiểm, người được bảo hiểm có thể đóng phí tiếp và yêu cầu tái tục hợp đồng bảo hiểm.
1.4.5 Giám định và bồi thường tổn thất
a) Giám định tổn thất
Giám định tổn thất là cơ sở xác định chính xác số tiền bồi thường Khi tổn thất xảy ra, người được bảo hiểm phải kịp thời thông báo cho công ty bảo hiểm bằng văn bản, điện thoại, điện tín hoặc fax Thông báo phải đảm bảo các nội dung:
- Địa điểm, thời gian xảy ra tổn thất
- Đối tượng thiệt hại
- Dự đoán nguyên nhân xảy ra tổn thất
Sau khi được nhận thông báo, công ty bảo hiểm cừ ngay nhân viên có trách nhiệm đến hiện trường làm công tác giám định Khi giám định thường phải làm rõ các vấn đề sau:
- Thời điểm xảy ra hoả hoạn và kết thúc hoả hoạn
- Nguyên nhân gây ra hoả hoạn
- Thống kê toàn bộ số tài sản bị thiệt hại
- Công tác phòng cháy chữa cháy và ngăn ngừa thiệt hại khi hoả hoạn xảy ra
- Lời khai của nhân chứng
Sau đó lập biên bản giám định có đầy đủ chữ ký của các bên liên quan: Công
an, cảnh sát phòng cháy, thuế vụ, chính quyền sở tại…Đây là cơ sở để công ty bảo hiểm dự trù số tiền bồi thường một lần hay nhiều lần cho người được bảo hiểm
b) Bồi thường tổn thất
Bồi thường là trách nhiệm chủ yếu của công ty bảo hiểm khi xảy ra rủi ro được bảo hiểm Để giải quyết bồi thường, công ty bảo hiểm yêu cầu người được bảo hiểm hoàn thiện một bộ hồ sơ yêu cầu bồi thường Hồ sơ yêu cầu bồi thường gồm các loại giấy tờ:
- Hoá đơn, chứng từ liên quan đến việc sửa chữa hoặc thay thế mới tài sản;
- Chứng từ liên quan đến các chi phí…
Trang 18Để xác định được số tiền bồi thường, công ty bảo hiểm phải xác định được giá trị tổn thất thực tế Giá trị tổn thất thực tế được xác định theo giá trị thực tế của tài sản tại thời điểm xảy ra tổn thất Cách thức xác định tuỳ thuộc vào từng loại đối tượng bảo hiểm.
- Đối với công trình kiến trúc: Cơ sở tính giá trị tổn thất là lấy chi phí xây dựng trừ đi khấu hao
- Đối với máy móc thiết bị và tài sản khác: Nếu tổn thất có thể sửa chữa được thì cơ sở tính giá trị tổn thất là chi phí sửa chữa Nếu không sửa chữa được hoặc sửa chữa được nhưng chi phí sửa chữa lớn hơn gía trị của tài sản thì cơ sở tính giá trị tổn thất là chi phí mua mới trừ đi khấu hao
- Đối với thành phẩm: Cơ sở tính giá trị tổn thất là giá thành sản xuất, bao gồm chi phí nguyên vật liệu, tiền công lao động, khấu hao tài sản cố định, chi phí quản lý; nếu giá thành sản xuất cao hơn giá bán thì tính theo giá bán
- Đối với bán thành phẩm: Cơ sở tính giá trị tổn thất là chi phí sản xuất tính đến thời điểm xảy ra tổn thất
- Đối với hàng hoá dự trữ trong kho, cửa hàng: Cơ sở tính giái trị tổn thất là giá mua theo hoá đơn mua hàng
Căn căn cứ vào bản giám định và giá trị thiệt hại, người bảo hiểm sẽ xét bồi thường theo các trường hợp:
- Đối với tổn thất toàn bộ hay ước tính: Công ty bảo hiểm sẽ bồi thường theo giá trị tổn thất thực tế trên thị trường nhưng không vượt quá số tiền bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm và trừ đi mức khấu trừ
- Đối với tổn thất bộ phận: Số tiền bồi thường được tính như sau:
+ Trường hợp 1: Nếu tại thời điểm xảy ra tổn thất, tổng giá trị tài sản lớn hơn hoặc bằng STBH, thì số tiền bồi thường sẽ là:
Số tiền bồi thường =giá trị tổn thất thực tế*(số tiền bảo hiểm/ Tổng giá trị tài sản tại thời điểm xảy ra tổn thất)
+ Trường hợp 2: Nếu tại thời điểm xảy ra tổn thất, tổng giá trị tài của tài sản nhỏ hơn STBH, thì số tiền bồi thường sẽ là:
STBT= Giá trị tổn thất thực tế
- Nếu tại thời điểm xảy ra tổn thất, tài sản được bảo hiểm bằng một hợp đồng bảo hiểm khác thì trách nhiệm của công ty bảo hiểm chỉ giới hạn trong phần tổn thất phân bổ cho hợp đồng mà mình bảo hiểm theo tỷ lệ: Cụ thể:
Trang 19+ Trường hợp 1: Nếu tại thời điểm xảy ra tổn thất, tổng giá trị của tài sản lớn hơn hoặc bằng STBH, số tiền bồi thường sẽ là:
STBT= Giá trị tổn thất thực tế x ( Số tiền bảo hiểm/ Tổng giá trị tài sản tại thời điềm xảy ra tổn thất)x tỷ lệ phí bảo hiểm
+ Trường hợp 2: Nếu tại thời điểm xảy ra tổn thất, tổng giá trị của tài san nhỏ hơn STBH, số tiền bồi thường sẽ là:
STBT = Giá trị tổn thất thực tế * tỷ lệ bảo hiểm
Ngoài ra nếu đến thời điểm xảy ra tôn thất, người tham gia bảo hiểm không nộp đầy đủ mức phí theo quy định, thì số tiền bồi thường của công ty bảo hiểm được tính như sau:
Số tiền bồi thường = Giá trị tổn thất thực tế*( Phí bảo hểm đã đóng/ Phí bảo hiểm lẽ ra phải đóng)
1.4.6 Bảo hiểm cháy nổ bắt buộc
1.4.6.1 Các văn bản pháp luật liên quan
Chế độ bảo hiểm cháy nổ bắt buộc được quy định tại:
Nghị định 130/2006/NĐ-CP ngày 08/11/2006- Quy định chế độ bảo hiểm cháy nổ bắt buộc
Nghị định 35/2003/ N Đ-CP ngày 04 – 4 – 2003 của Chính Phủ quy định chi tết thi hành một số điều của luận phòng cháy chữa cháy
Thông tư liên tịch số 41/2007/TTLT-BTC-BCA ngày 24/4/2007- Hướng dẫn
về bảo hiểm cháy nổ bắt buộc
Quyết định 28/2007/QĐ-BTC ngày 24/4/2007- Quy tắc và biểu phí bảo hiểm cháy nổ bắt buộc: quyết định này được đăng công báo ngày 14/2007 và có hiệu lực thi hành bắt đầu từ ngày 28/7/2007
1.4.6.2 Các rủi ro được bảo hiểm
Tổn thất vật chất bất ngờ gây ra do cháy, nổ không lường trước được xảy ra đối với tài sản được bảo hiểm theo danh mục tài sản mà Người được bảo hiểm kê khai Theo đó:
Cháy là phản ứng hóa học có tỏa nhiệt và phát sang do nổ hoặc bất kỳ nguyên nhân nào khác
Nổ là phản ứng hóa học gây ra việc giải phóng khí và năng lượng đột ngột với khối lượng lớn đồng thời phát ra âm thanh và ảnh hưởng vật lý đến các vật xung
Trang 20quanh nhưng loại trừ thiệt hại tới bản thân nồi hơi, bình chứa, máy móc sử dụng áp lực và chất liệu chứa trong chúng.
Các đối tượng phải tham gia:
Người phải tham gia mua bảo hiểm cháy nổ bắt buộc là các cơ quan, tổ chức
và cá nhân có cơ sở sản xuất,kinh doanh có nguy hiểm về cháy nổ, cụ thể là người có quyền sở hữu, được giao quản lý sử dụng, được kinh doanh khai thác các cơ sở nguy hiểm về cháy nổ cụ thể:
- Cơ sở sản xuất vật liệu nổ, cơ sở khai thác, chế biến dầu mỏ và sản phẩm dầu mỏ, khí đốt; cơ sở sản xuất, chế biến hàng hoá khác cháy được có khối tích từ 5.000 m3 trở lên
- Kho vật liệu nổ, kho dầu mỏ và sản phẩm dầu mỏ, kho khí đốt hoá lỏng; cảng xuất nhập vật liệu nổ, cảng xuất nhập dầu mỏ và sản phẩm dầu mỏ, cảng xuất nhập khí đốt hoá lỏng
- Cửa hàng kinh doanh xăng dầu, khí đốt hoá lỏng
- Nhà máy điện; trạm biến áp từ 110 KV trở lên
- Chợ kiên cố, bán kiên cố thuộc thẩm quyền quản lý trực tiếp của ủy ban nhân dân cấp huyện trở lên; các chợ kiên cố, bán kiên cố khác, trung tâm thương mại, siêu thị, cửa hàng bách hoá có tổng diện tích các gian hàng từ 300m2 trở lên hoặc có khối tích từ 1.000 m3 trở lên
- Nhà ở tập thể, nhà chung cư, khách sạn, nhà khách, nhà nghỉ cao từ 5 tầng trở lên hoặc có khối tích từ 5.000 m3 trở lên
- Bệnh viện tỉnh, bộ, ngành; các cơ sở y tế khám chữa bệnh khác có từ 50 giường trở lên
- Rạp hát, rạp chiếu phim, hội trường, nhà văn hoá, nhà thi đấu thể thao trong nhà có thiết kế từ 200 chỗ ngồi trở lên, vũ trường, câu lạc bộ trong nhà, cơ sở dịch vụ vui chơi giải trí và phục vụ công cộng khác trong nhà có diện tích từ 200 m2 trở lên; sân vận động 5.000 chỗ ngồi trở lên
- Nhà ga, cảng hàng không; cảng biển, cảng sông, bến tàu thuỷ, bến xe khách cấp tỉnh trở lên; bãi đỗ có 200 xe ôtô trở lên; nhà ga hành khách đường sắt loại 1, loại
2 và loại 3; ga hàng hoá đường sắt loại 1 và loại 2
- Cơ sở lưu trữ, thư viện, bảo tàng, di tích lịch sử, nhà hội chợ, triển lãm thuộc thẩm quyền quản lý trực tiếp của Bộ, cơ quan ngang Bộ, tỉnh, thành phố trực thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
- Cơ sở phát thanh, truyền hình, cơ sở bưu chính viễn thông cấp tỉnh trở lên
Trang 21- Trung tâm chỉ huy, điều độ, điều hành, điều khiển với quy mô khu vực và quốc gia thuộc mọi lĩnh vực.
- Kho hàng hoá, vật tư cháy được hoặc hàng hoá vật tư không cháy đựng trong các bao bì cháy được có khối tích từ 5.000 m3 trở lên; bãi hàng hoá, vật tư cháy được có diện tích từ 500 m2 trở lên
- Trụ sở cơ quan, văn phòng làm việc, cơ sở nghiên cứu từ 6 tầng trở lên hoặc có khối tích từ 25.000 m3 trở lên
- Hầm mỏ khai thác than và các khoáng sản khác cháy được; công trình giao thông ngầm có chiều dài từ 400 m trở lên; công trình trong hang hầm trong hoạt động có sản xuất, bảo quản, sử dụng chất cháy, nổ và có khối tích từ 1.000 m3 trở lên
- Cơ sở và công trình có hạng mục hay bộ phận chính nếu xẩy ra cháy nổ ở đó sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng tới toàn bộ cơ sở, công trình hoặc có tổng diện tích hay khối tích của hạng mục, bộ phận chiếm từ 25% tổng diện tích trở lên hoặc khối tích của toàn bộ cơ sở, công trình mà các hạng mục hay bộ phận đó trong quá trình hoạt động thường xuyên có số lượng chất nguy hiểm cháy, nổ thuộc một trong các trường hợp sau đây :
a) Khí cháy với khối lượng có thể tạo thành hỗn hợp dễ nổ chiếm từ 5% thể tích không khí trong phòng trở lên hoặc có từ 70 kg khí cháy trở lên;
b) Chất lỏng có nhiệt độ bùng cháy đến 610C với khối lượng có thể tạo thành hỗn hợp dễ nổ chiếm từ 5% thể tích không khí trong phòng trở lên hoặc các chất lỏng cháy khác có nhiệt độ bùng cháy cao hơn 610C với khối lượng từ 1.000 lít trở lên;
c) Bụi hay xơ cháy được có giới hạn nổ dưới bằng hoặc nhỏ hơn 65 g/m3 với khối lượng có thể tạo thành hỗn hợp dễ nổ chiếm từ 5% thể tích không khí trong phòng trở lên; các chất rắn, hàng hoá, vật tư là chất rắn cháy được với khối lượng trung bình từ 100 kg trên một mét vuông sàn trở lên;
d) Các chất có thể cháy, nổ hoặc sinh ra chất cháy, nổ khi tác dụng với nhau với tổng khối lượng từ 1.000 kg trở lên;
đ) Các chất có thể cháy, nổ hoặc sinh ra chất cháy, nổ khi tác dụng với nước hay với ô xy trong không khí với khối lượng từ 500 kg trở lên
Đối tượng được phép bán bảo hiểm cháy nổ bắt buộc gồm các doanh nghiệp bảo hiểm đang hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam được phép kinh doanh bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc
Trang 22CHƯƠNG II TÌNH HÌNH TRIỂN KHAI NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM HỎA HOẠN VÀ
BẢO HIỂM CHÁY NỔ BĂT BUỘC TẠI PTI
2.1 Thị trường bảo hiểm cháy nổ bắt buộc
2.1.1 Kết quả việc mua, bán bảo hiểm cháy, nổ:
Sau hơn hai năm triển khai thực hiện quy định chế độ BHCNBB kết quả của việc kinh doanh bảo hiểm cháy, nổ của các doanh nghiệp bảo hiểm đã có sự tăng lên đáng kể theo đó doanh thu tăng lên so với trước khi có quy định chế độ BHCNBB, tuy nhiên số lượng cơ sở, tổ chức, doanh nghiệp tham gia BHCNBB vẫn còn hạn chế,
Trang 23nhiều cơ sở thuộc diện phải mua BHCNBB chưa tự giác tham gia BHCNBB còn có hiện tượng né tránh việc mua BHCNBB Theo báo cáo của 47 đơn vị cảnh sát PCCC các địa phương thì kết quả việc mua, bán bảo hiểm cháy nổ cụ thể như sau :
Tổng cơ sở có nguy hiểm cháy, nổ thuộc đối tượng phải mua , bán BHCNBB trên toàn quốc là: 30.256 cơ sở
Tổng số cơ sở đã mua BHCNBB và tự nguyện từ tháng 7/2007 đến nay là: 12.712 cơ sở chiếm 42% trong tổng số cơ sở bắt buộc phải mua BHCNBB( 12.712/30.256 cơ sở) trong đó, tổng số cơ sở đã mua BHCNBB là: 4.748
cơ sở chiếm 15,7% ( 4.748/30.256 cơ sở) Tổng số cơ sở đã mua BHCNBB tự nguyện là : 7.964 cơ sở chiếm 26,3%(7.964/30.256)
Tổng giá trị tài sản được tính cho phần mua BHCNBB ( cả bắt buộc và tự nguyện ) là: 5.174.857 tỷ đồng Trong đó, tổng giá trị tài sản được tính cho phần mua BHCNBB là 266.857 tỷ đồng chiếm 5, 16 %( 266.857/5.174.857 tỷ đồng) và tổng giá trị tài sản được tính cho phần mua BHCNBB là : 4.908.000 tỷ đồng chiếm 94,84%( 4.908.000/5.174.857 tỷ đồng)
Tổng phí mua bảo hiểm tài sản nói chung, trong đó có BHCNBB là: 2.634,2 tỷ đồng Trong đó, tổng số phí mua BHCNBB là: 180 tỷ đồng chiếm 6,83% ( 180/2.634,2 tỷ đồng) và tổng số phí mua BHCNBB là: 2.454,2 tỷ đồng chiếm 93,17%(2.454,2/2.634,2 tỷ đồng)
1.2 Việc thực hiện trách nhiệm nộp 5% phí BHCNBB cho hoạt động PCCCCăn cứ vào thống kê doanh thu của các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm cháy, nổ thì số tiền tính tới thời điểm 10/9/2009, các doanh nhiệp kinh doanh bảo hiểm cháy, nổ cần phải trích nộp theo quy định là:
- Số phí phải trích nộp theo hợp đồng BHCNBB là: 9 tỷ đồng( 180 tỷ đồng x 5%)
- Theo báo cáo thì những cơ sở đã mua bảo hiểm cháy, nổ tự nguyện ( bảo hiểm cháy, nổ và mọi rủi ro tài sản) đa phần đều thuộc đối tượng phải mua BHCNBB, ước tính khoảng 80%, phí BHCNBB trong đó các hợp đồng bảo hiểm cháy, nổ và mọi rủi ro tài sản chiếm khoảng 60% đến 70% Do đó, nếu theo quy định thì số phí ước tính phải trích nộp từ phần BHCNBB trong các hợp đồng bảo hiểm cháy, nổ và mọi rủi ro tài sản sẽ là 58,9 tỷ đồng( 2.454,2 tỷ đồng x 80% x 60% x 5%)
Như vậy, tổng cộng số phí các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm cháy, nổ cần phải trích nộp là 67,9 tỷ đồng.Nhưng hiện tại thời điểm này, tổng cộng các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm cháy nổ mới chuyển được 4,57 tỷ đồng chiếm 50,77%
Trang 24số phí phải trích nộp theo các hợp đồng BHCNBB (4,57/9 tỷ đồng) và chỉ được 6.73% số phí phải chuyển theo quy định ( 4,57/67,9 tỷ đồng).
2.1.3 Nhận xét và đánh giá
Việc thực hiện quy định chế độ BHCNBB của các đối tượng là các cơ sở có nguy hiểm cháy, nổ thuộc diện phải mua BHCNBB và các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm cháy, nổ chưa đạt yêu cầu đề ra, chỉ có 15,7% số cơ sở thuộc diện phải mua BHCNBB đã mua bảo hiểm cháy nổ bắt buộc Còn lại nếu mua bảo hiểm cháy, nổ thì chủ yếu tham gia mua dưới hình thức là bảo hiểm cháy và rủi ro đặc biệt
Hầu hết các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm đều chưa thực hiện việc tách riêng phí bảo hiểm cháy nổ bắt buộc trong các hợp đồng bảo hiểm trọn gói bao gồm
cả BHCNBB theo đúng quy định tại khoản 2, mục III, thông tư liên tịch số 41/2007/TTLT-BTC-BCA Tuy nhiên riêng có tổng công ty cổ phần bảo hiểm PJICO đã có hướng dẫn việc tách riêng phí BHCNBB trong các hợp đồng hỏa hoạn
và rủi ro đặc biệt hoặc bảo hiểm mọi rủi ro bao gồm cả BHCNBB Bảo Việt cũng có
mã hàng hóa BHCNBB riêng, nhưng qua kiểm tra báo cáo doanh thu BHCNBB và các hợp đồng bảo hiểm thì thấy khi thực hiện hợp đồng dưới dạng bảo hiểm hỏa hoạn
và rủi ro đặc biệt hoặc bảo hiểm tự nguyện và không trích nộp 5% phí cho hoạt động PCCC
Sau khi có quyết định 1436/QĐ-BCA( C11) của Bộ Công An, do có sự tăng cường kiểm tra và kiến nghị của cơ quan cảnh sát PCCC, nên từ tháng 9/2008 đến 9/2009 số lượng BHCNBB đã tăng đáng kể
Kể từ khi Nghị định số 130/2006/NĐ-CP và Thông tư liên tịch số 41/2007/TTLT-BTC-BCA có hiệu lực đến nay nhiều công ty kinh doanh bảo hiểm chưa thực hiện trách nhiệm chuyển 5% tổng số kinh phí bán bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc để phục vụ cho các hoạt động PCCC theo quy định hoặc chỉ chuyển một phần kinh phí rất nhỏ về tài khoản phục vụ cho hoạt động PCCC
2.1.4 Những tồn tại khó khăn, vướng mắc trong việc thực hiên quy định bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc và nguyên nhân.
1- Biểu phí BHCNBB chưa phù hợp với thực tế, cao hơn 2-3 lần thậm chí gấp
4 lần so với phí bảo hiểm cháy nổ tự nguyện trên thị trường mà các doanh nghiệp bảo hiểm đưa ra, và điều kiện tham gia lại cao hơn BHCNBB tự nguyện như phải có giấy chứng nhận đủ điều kiện về PCCC của cơ quan Cảnh sát PCCC
2- Trong quá trình thực hiện quy định chế độ bảo hiểm BHCNBB, vẫn có vấn
đề phát sinh là doanh nghiệp bảo hiểm chỉ thực hiện việc ký kết hợp đồng BHCNBB
Trang 25với bên mua khi bên mua đã có giấy chứng nhận đủ điều kiện về PCCC hoặc có biên bản kết luận cơ sở đủ điều kiện về PCCC Do đó, nhiều cơ sở do khách quan hoặc chủ quan chưa có giấy chứng nhận đủ điều kiện về PCCC, hoặc đã có nhưng chủ cơ
sở lại giấu đi để mua bảo hiểm theo hình thức tự nguyện với mức phí thấp hơn Việc cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện về PCCC hoặc biên bản kết luận cơ sở đủ điều kiện về PCCC cho các cơ sở có nguy hiểm cháy nổ thuộc diện mua BHCNBB gặp không ít khó khăn đó là:
- Nhiều cơ sở chưa thể đáp ứng ngay và đầy đủ các điều kiện về PCCC quy định tại Điều 9 Nghị định 35/2003/Nghị định 35/2003/NĐ-CP như: nhiều cơ sở do xây dựng trước đây nên không có bản thẩm duyệt thiết kế về PCCC hoặc còn có những thiếu sót, tồn tại khó khắc phục ngay được như thiếu lối thoát nạn trong nhà cao tầng hoặc lối thoát nạn không đảm bảo tiêu chuẩn; khoảng cách an toàn, hệ thống PCCC, hệ thống điện tại các chợ không đảm bảo theo đúng tiêu chuẩn, do đó cơ quan Cảnh sát PCCC chưa thể cấp được giấy chứng nhận đủ điều kiện về PCCC
- Theo quy định tại Điều 5 Nghị định 130/CP những đối tượng phải mua BHCNBB được quy định tại Phụ lục 1 của nghị định 35/2003/NĐ-CP,đối tượng thuộc diện phải cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện về PCCC được quy định tại Phụ lục 2 của nghị định 35/3003/NĐ-CP, như vậy có rất nhiều đối tượng thuộc diện phải mua BHCNBB nhưng không thuộc diện phải cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện về PCCC, những đối tượng này theo quy định của Nghị định 130/CP để mua BHCNBB thì phải được cơ quan cảnh sát PCCC có biên bản kết luận xác nhận cơ sở có đủ điều kiện về PCCC, việc ra biên bản này tại nhiều địa phương còn gặp khó khăn vì nhiều
lý do khác nhau, bên cạnh đó mẫu biên bản này chưa được cấp có thẩm quyền chính thức ban hành
3- Nhiều địa phương chưa công khai danh sách các cơ sở thuộc diện phải mua BHCNBB thấy rõ được trách nhiệm và cả các doanh nghiệp bảo hiểm biết về đối tượng mình sẽ bán bảo hiểm
4- Sự phối hơp giữa doanh nghiệp bảo hiểm với lực lượng cảnh sát PCCC chưa thường xuyên và chặt chẽ, chưa có biện pháp đồng bộ để triển khai thực hiện chế độ BHCNBB
5-Công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục về việc thực hiện chế độ bảo hiểm BHCNBB còn hạn chế Lãnh đạo một số địa phương và nhiều cơ sở chưa nhận thức được đầy đủ về vấn đề này
Trang 266- Ý thức tham gia và việc chấp hành quy định của pháp luật về thực hiện chế
độ BHCNBB của nhiều cơ sở, doanh nghiệp vẫn còn nhiều hạn chế
7- Theo quy định tại điểm 2 của phụ lục 2 ban hành theo quyết định số 28/2007 QĐ-BTC ngày 24/4/2007 thì đối với các tài sản được bảo hiểm có tổng giá trị từ 30 triệu đô la mỹ trở lên thì phí bảo hiểm sẽ do doanh nghiệp bảo hiểm và bên mua bảo hiểm thỏa thuận Lợi dụng mục này, nhiều đơn vị đã thực hiện việc mua bảo hiểm bằng hợp đồng tổng toàn bộ tài sản của các đơn vị trực thuộc đưa tổng giá trị hợp đồng lên trên 30 triệu đô la mỹ và như vậy phí BHCNBB là phí thỏa thận và thấp hơn rất nhiều so với phí bảo hiểm khi mua bảo hiểm bằng các hợp đồng riêng lẻ của từng cơ sở trực thuộc( ví dụ Tổng công ty dầu khí Việt Nam đã mua bảo hiểm bằng
01 hợp đồng cho toàn bộ các công ty thành viên)
8- Hiện nay các công ty bảo hiểm nước ngoài tham gia thị trường bảo hiểm tại Việt Nam ( Sam Sung vina, AIG Việt Nam…) thường không thực hiện BHCNBB và
hạ phí bảo hiểm xuống rất thấp và ký hợp đồng bảo hiểm chủ yếu dưới hình thức tự nguyện Do quốc tế không có hình thức BHCNBB nên khi tái bảo hiểm hoặc bán bảo hiểm qua biên giới, phí bảo hiểm là do thỏa thuận giữa 2 bên và trong hợp đồng không trích nộp 5% cho hoạt động PCCC( ví dụ như dầu khí việc tái bảo hiểm ra nước ngoài là chủ yếu, các công ty bảo hiểm Việt Nam chỉ giữ lại một phần rất nhỏ, khoảng 10-20%)
9- Các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm do phải cạnh tranh, nên có hiện tượng cạnh tranh phi kỹ thuật đối với nghiệp vụ bảo hiểm cháy nổ Mặc dù biểu phí BHCNBB được Bộ Tài Chính quy định theo quyết định số 28/2007 QĐ – BTC ngày 24/4/2007 nhưng nhiều doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm khi bán bảo hiểm vãn tự
hạ phí xuống rất nhiều lần so với quy định
10-Hiện nay, có khoảng hơn 10 Công ty môi giới, chuyên kinh doanh tư vấn môi giới về bảo hiểm.Các Công ty này thường ít quan tâm tư vấn cho cơ sở thuộc diện phải mua BHCNBB thực hiện mua BHCNBB theo quy định, mà thường hướng cho cơ sở mua bảo hiểm dưới hình thức tự nguyện vì phí bảo hiểm rất thấp Hầu hết các doanh nghiệp có vốn đầu tư của nước ngoài khi ký hợp đồng bảo hiểm đều thông qua các công ty môi giới này
11- Chế tài xử phạt đối với việc không thực hiện quy định BHCNBB còn thấp chưa đủ sức răn đe Nhiều cơ sở, doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận xử phạt để không thực hiện quy định BHCNBB
2.2 Sơ lược về công ty bảo hiểm PTI
Trang 27Công ty Cổ phần Bảo hiểm Bưu điện (PTI) là doanh nghiệp cổ phần được thành lập theo Giấy phép số 3633/GP-UB ngày 1 tháng 8 năm 1998 do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân Thành phố Hà Nội cấp với thời gian hoạt động là 25 năm Vốn điều lệ ban đầu của công ty là 70 tỷ đồng Công ty đã được cấp Giấy chứng nhận đủ tiêu chuẩn và điều kiện hoạt động kinh doanh bảo hiểm số 10/TC/GCN ngày 18 tháng 6 năm 1998 của Bộ Tài chính Ngày 01 tháng 2 năm 2007, PTI nhận Giấy phép số 41A GP/KDBH của Bộ Tài Chính cho phép Công ty bổ sung nâng vốn điều lệ lên 105 tỷ đồng Tiếp theo đó, ngày 21 tháng 04 năm 2008, PTI nhận Giấy phép điều chỉnh số 41A/GPĐC1/KDBH của Bộ Tài chính cho phép Công ty bổ sung nâng vốn điều lệ lên 300 tỷ đồng
PTI hoạt động theo Luật Kinh doanh Bảo hiểm và Điều lệ hoạt động của công
ty đã được Đại Hội đồng Cổ đông thông qua Lĩnh vực hoạt động kinh doanh chính của PTI bao gồm: Kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ, tái bảo hiểm, giám định tổn thất và đầu tư tài chính
PTI là công ty cổ phần bảo hiểm do 7 tổng công ty lớn như Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam( VNPT), Tổng Công ty Cổ phần Tái Bảo hiểm quốc gia Việt Nam (VINARE), Tổng Công ty Cổ phần Bảo Minh, Tổng Công ty Xây dựng Hà Nội (HACC), Tổng Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu xây dựng Việt Nam (VINACONEX), Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam (VIB), Công ty cổ phần Thương mại Bưu chính Viễn thông (COKYVINA) góp vốn thành lập
Kết quả sau 11 năm hoạt động, PTI đã dần từng bước ổn định và phát triển, bước đầu Công ty đã khẳng định được vị thế của mình với trên 4% thị phần Bảo hiểm phi nhân thọ, hiện tại là doanh nghiệp đứng thứ năm trên thị trường bảo hiểm Việt Nam Công ty có mạng lưới gồm 1 Hội sở giao dịch và 21 Chi nhánh rộng khắp trên toàn quốc, đứng thứ tư về mạng lưới trên thị trường Với kết quả hoạt động kinh doanh xuất sắc của mình, PTI đã được bầu chọn Thương hiệu mạnh năm 2008 và là doanh nghiệp phát triển bền vững năm 2008 Công ty cũng đã được cấp giấy chứng nhận TCVN ISO 9001:2008
♦ Ngành nghề kinh doanh gồm:
Kinh doanh bảo hiểm gốc:
- Bảo hiểm sức khỏe và bảo hiểm tai nạn con người;
- Bảo hiểm tài sản và thiệt hại;
- Bảo hiểm hàng hóa vận chuyển đường bộ, đường biển, đường sông, đường sắt và đường không;
Trang 28- Bảo hiểm trách nhiệm chung;
- Bảo hiểm xe cơ giới;
- Bảo hiểm cháy, nổ;
- Bảo hiểm thiệt hại kinh doanh;
- Bảo hiểm vệ tinh;
- Bảo hiểm tàu
Kinh doanh tái bảo hiểm: Nhận và nhượng tái bảo hiểm đối với tất cả các nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ
Giám định tổn thất: Giám định, điều tra, tính toán, phân bổ tổn thất, đại lý giám định tổn thất, yêu cầu người thứ ba bồi hoàn
Tiến hành hoạt động đầu tư trong các lĩnh vực sau:
- Mua trái phiếu chính phủ;
- Mua cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp;
- Kinh doanh bất động sản;
- Góp vốn vào các doanh nghiệp khác;
- Cho vay theo quy định của Luật tổ chức tín dụng;
- Gửi tiền tại các tổ chức tín dụng
Các hoạt động khác theo quy định của pháp luật
♦ Cơ cấu tổ chức Công ty
Đại hội đồng Cổ đông (ĐHĐCĐ)
Đại hội đồng Cổ đông là cơ quan quyền lực cao nhất của Công ty Đại hội đồng cổ đông quyết định tổ chức lại và giải thể Công ty, quyết định định hướng phát triển của Công ty, bổ nhiệm, miễn nhiệm thành viên Hội đồng Quản trị, thành viên Ban Kiểm soát
Hội đồng Quản trị (HĐQT)
Hội đồng Quản trị là cơ quan quản trị cao nhất của Công ty, có đầy đủ quyền hạn để thay mặt ĐHĐCĐ quyết định các vấn đề liên quan đến mục tiêu và lợi ích của Công ty, ngoại trừ các vấn đề thuộc quyền hạn của Đại hội đồng Cổ đông Hội đồng Quản trị do Đại hội đồng cổ đông bầu ra Cơ cấu Hội đồng Quản trị hiện tại bao gồm:
- Ông Đỗ Ngọc Bình : Chủ tịch Hội đồng Quản trị
- Ông Phạm Anh Tuấn : Uỷ viên HĐQT
- Ông Mai Xuân Dũng : Ủy viên HĐQT
- Ông Hồ Công Trung : Ủy viên HĐQT
Trang 29- Ông Hàn Ngọc Vũ : Ủy viên HĐQT
Ban Tổng Giám đốc
Ban Tổng Giám đốc bao gồm Tổng Giám đốc và các Phó Tổng Giám đốc
do HĐQT quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm Tổng Giám đốc là người đại diện theo pháp luật của Công ty, là người điều hành cao nhất mọi hoạt động kinh doanh hàng ngày của Công ty Cơ cấu Ban Tổng Giám đốc hiện tại như sau:
- Ông Phạm Anh Tuấn : Tổng Giám đốc
- Bà Trần Thị Minh : Phó Tổng Giám đốc
- Ông Nguyễn Đức Bình : Phó Tổng Giám đốc
- Ông Nguyễn Trường Giang : Phó Tổng Giám đốc
Ban kiểm soát Ban Kiểm soát do Đại hội đồng Cổ đông bầu ra, nhiệm vụ thay mặt cổ đông để kiểm soát mọi hoạt động kinh doanh, quản trị và điều hành của Công ty Cơ cấu Ban kiểm soát hiện tại như sau:
- Ông Nguyễn Quốc Kế : Trưởng Ban Kiểm soát
- Ông Đỗ Anh Tuấn : Uỷ viên
- Bà Nguyễn Thị Thúy Hồng : Uỷ viên
ty
- Phòng Bảo hiểm Hàng hải: Phòng Bảo hiểm Hàng hải có chức năng tham mưu cho Ban Tổng Giám đốc trong việc quản lý, chỉ đạo công tác chuyên môn nghiệp vụ bảo hiểm Hàng hải thống nhất trong toàn Công ty
- Phòng Bảo hiểm Xe Cơ giới: Phòng Bảo hiểm Xe Cơ giới có chức năng tham mưu cho Ban Tổng Giám đốc trong việc quản lý, chỉ đạo công tác chuyên môn nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới thống nhất trong toàn Công ty
- Phòng Bảo hiểm Con người: Phòng Bảo hiểm Con người có chức năng tham mưu cho Ban Tổng Giám đốc trong việc quản lý, chỉ đạo công tác chuyên môn nghiệp vụ bảo hiểm con người thống nhất trong toàn Công ty
- Phòng Quản lý Đại lý: Phòng Quản lý Đại lý có chức năng tham mưu cho Ban Tổng Giám đốc Công ty trong việc ban hành các chính sách nhằm xây
Trang 30dựng, phát triển, quản lý thống nhất và giám sát chặt chẽ hoạt động của hệ thống Đại lý của Công ty trên toàn quốc
- Phòng Tái bảo hiểm: Phòng Tái bảo hiểm có chức năng tham mưu cho Ban Tổng Giám đốc Công ty trong việc quản lý, chỉ đạo và tổ chức thực hiện công tác nhượng và nhận tái bảo hiểm
♦ Khối Kinh tế:
Có chức năng kinh doanh, tham mưu và giúp Ban Tổng Giám đốc Công ty quản lý, chỉ đạo các công tác liên quan đến Kế toán Tài chính, Kế hoạch và Đầu
tư tài chính theo đúng khuôn khổ pháp luật:
- Phòng Tài chính – Kế toán: Phòng Tài chính – Kế toán có chức năng tham mưu cho Ban Tổng Giám đốc Công ty trong việc quản lý, chỉ đạo, kiểm tra và giám sát lĩnh vực Tài chính – Kế toán theo quy định của Nhà nước và Công ty Thực hiện công tác Tài chính – Kế toán tại Văn phòng Công ty
- Phòng Kế hoạch: Phòng kế hoạch có chức năng tham mưu cho Ban Tổng Giám đốc Công ty trong việc tổ chức, thực hiện các mặt như: Lập và thực hiện kế hoạch kinh doanh; Nghiên cứu và phát triển thị trường sản phẩm; Tuyên truyền, quảng cáo
- Phòng Đầu tư: Phòng Đầu tư có chức năng tham mưu cho Ban Tổng Giám đốc Công ty trong việc tổ chức, thực hiện các mặt như: Quản lý nguồn vốn - quỹ, Đầu tư tài chính; Quản lý cổ đông
♦ Khối Quản lý bao gồm các phòng:
-Phòng Tổng hợp – Pháp chế: Phòng Tổng hợp – Pháp chế có chức năng tham mưu cho Ban Tổng Giám đốc Công ty trong việc chỉ đạo điều hành các Phòng tại Văn phòng Công ty để thực hiện chương trình, kế hoạch công tác, quy chế làm việc và trực tiếp tổ chức thực hiện các công tác như: Công tác tổng hợp, thư ký, công tác pháp chế, công tác hành chính quản trị, công tác tuyên truyền, quảng cáo, công tác quan hệ quốc tế, đối ngoại, khánh tiết
- Phòng Tổ chức Cán bộ: Phòng Tổ chức Cán bộ có chức năng tư vấn, tham mưu cho Ban Tổng Giám đốc thống nhất quản lý công tác tổ chức, cán bộ, tuyển dụng, đào tạo, lao động tiền lương và thi đua khen thưởng theo đúng chính sách, chế
độ quy định của Nhà nước và của Công ty
- Phòng Công nghệ Thông tin: Phòng Công nghệ Thông tin có chức năng tham mưu cho Ban Tổng Giám đốc Công ty trong việc quản lý, chỉ đạo các lĩnh vực như: Nghiên cứu việc ứng dụng Công nghệ Thông tin vào quản lý và hoạt động
Trang 31kinh doanh của Công ty, tổ chức thực hiện công tác thống kê, thu thập, quản lý và cung cấp thông tin hỗ trợ cho hoạt động kinh doanh và quản lý của Công ty.
Trang 32
Sơ đồ tổ chức bộ máy hoạt động của PTI
2.3 Triển khai nghiệp vụ bảo hiểm hỏa hoạn.
2.3.1 Xác định điểm mạnh của công ty để tiếp cận khách hàng tiềm năng
Chiến lược phát triển của PTI là hướng vào thị trường bán lẻ, trong đó chú trọng tới khách hàng là người tiêu dùng cá nhân Với bối cảnh hiện nay và trong vòng từ 5-10 năm tới, người tiêu dùng Việt Nam sẽ sử dụng nhiều các sản phẩm bảo hiểm cho là cần thiết như: sản phẩm bảo hiểm có tính bắt buộc, sản phẩm bảo hiểm
có tỷ lệ tổn thất cao, cần thiết phải mua (ví dụ bảo hiểm vật chất ô tô )
Chính vì vậy sứ mệnh của PTI là đem đến người tiêu dùng những sản phẩm
có tính thiết thực với giá cả cạnh tranh nhất, chất lượng phục vụ tốt (điều đó được hiểu là PTI sẽ chưa đưa ra nhiều sản phẩm đón trước nhu cầu dài hạn) Để trở thành nhà cung cấp sản phẩm bảo hiểm hàng đầu trên thị trường bán lẻ, PTI phải có hệ thống bán hàng rộng khắp Hiện nay và trong vòng 5 năm tới, PTI sẽ dựa vào thế mạnh rộng khắp của mạng lưới Vnpost Hoàn thành được sứ mệnh trên, PTI sẽ là doanh nghiệp đứng đầu trong thị trường bán lẻ
Đại hội cổ đông
Hội đồng quản trị
Ban tổng giám đốcBan kiểm soát
Hội sở giao dịch và các chi nhánhCác Phòng
Hệ thống tổng đại lý, đại lý và văn phòng đại diện 64 tỉnh, thành phố