1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng một ngân sách bền vững và cải thiện hiệu quả sử dụng vốn

33 290 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Xây dựng một ngân sách bền vững và cải thiện hiệu quả sử dụng vốn
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại Bài tiểu luận
Năm xuất bản 2009
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 404,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sau năm 2008 với tỉ lệ lạm phát ở mức cao ( trên 20%) và có số lượng công nhân bị mất việc cao đã tạo một áp lực nặng nề cho chính phủ và nhà nước ta. Tuy nhiên với những chính sách về kích cầu nói chung và kích cầu đầu tư nói riêng hợp lý chúng ta đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ. Tổng kết tình hình kinh tế trong năm 2009 tăng trưởng GDP 5,2% lạm phát được duy trì ở mức dưới hai con số xóa đói giảm nghèo giảm xuống 11%.

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Sau năm 2008 với tỉ lệ lạm phát ở mức cao ( trên 20%) và có số lượng công nhân bị mất việc cao đã tạo một áp lực nặng nề cho chính phủ và nhà nước ta Tuynhiên với những chính sách về kích cầu nói chung và kích cầu đầu tư nói riêng hợp lý chúng ta đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ.Tổng kết tình hình kinh tế trong năm 2009 tăng trưởng GDP 5,2% lạm phát được duy trì ở mức dưới hai con số xóa đói giảm nghèo giảm xuống 11% Mặc dù vẫn còn những mặt hạn chế cần khắc phục những có thể nói gói kích cầu lần 1 của nước ta đã thực sự góp phần lớn vào việc đưa nước ta thoát khỏi đáy của khủng hoảng để bắt đầu tăng trưởng trở lại Qua thực tiễn trên ta cần rút ra kinh nghiệm để khắc phục hạn chế

và phát huy những mặt tích cực đã đạt được cho các gói kích cầu đầu tư sau

Trang 2

CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ Lí LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ VÀ

KÍCH CẦU ĐẦU TƯ

I NHỮNG VẤN ĐỀ Lí LUẬN CHUNG

1.1 Khái niệm đầu t

Thuật ngữ “đầu t” đợc hiểu với nghĩa chung nhất là sự bỏ ra, sự hy sinh nhữngcái gì đó ở hiện tại ( tiền, của cải vật chất, sức lao động, trí tuệ ) nhằm đạt đợc các kết quả có lợi cho ngời đầu t trong tơng lai Đó có thể là các mục tiêu kinh tế , xã hội, văn hoá,chính trị…

Đầu t trên giác độ nền kinh tế là sự hy sinh giá trị hiện tại gắn với việc tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế Các hoạt động mua bán, phân phối lại, chuyển giao tài sản hiện

có dữa các cá nhân, các tổ chức, không phải là đầu t với nền kinh tế

Còn trong hoạt động kinh doanh, đầu t là sự bỏ vốn( tiền, nhân lực, nguyên liệu, công nghệ vào các hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ nhằm mục đích thu lợi nhuận Đây đợc xem nh bản chất cơ bản của các hoạt động đầu t Kinh doanh cần nghiên cứu đầy đủ các khía cạnh khác nhau của hoạt động đầu t nh : bản chất, đặc

điểm, phân loại, vai trò để có những đối sách thích hợp đối với các đối tác đầu t khác nhau

Mặt khác, có thể hiểu đầu t là việc đa ra một khối lợng lớn vốn nhất định vào qúa trình hoạt động kinh tế nhằm thu đợc một khối lợng lớn hơn sau một khoảng thời gian nhất định

Trang 3

Khái niệm đầu t còn đợc hiểu theo quan niệm tái sản xuất mở rộng, đầu t thực tế là quá trình chuyển hoá vốn thành các yếu tố cần thiết cho việc tạo ra năng lực tái sản xuất, tạo ra những yếu tố cơ bản, tiên quyết cho quá trình sản xuất Đây là hoạt độngmang tính chất thờng xuyên của nền kinh tế

Tuy ở mỗi góc độ khác nhau ngời ta có thể đa ra các quan niệm khác nhau về đầu t, nhng một quan niệm hoàn chỉnh về đầu t phải bao gồm các đặc trng sau đây:

- Công việc đầu t phải bỏ vốn ban đầu

- Đầu t luôn gắn liền với rủi ro, mạo hiểm… Do vậy các nhà đầu t phải nhìn nhận trớc những khó khăn nay để có biện pháp phòng ngừa

- Mục tiêu của đầu t là hiệu quả Nhng ở những vị trí khác nhau, ngời ta cũng nhìn nhận vấn đề hiệu quả không giống nhau Với các doanh nghiêp thờng thiên về hiệu quả kinh tế, tối đa hoá lợi nhuận Còn đối với nhà nớc lại muốn hiệu quả kinh tếphải gắn liền với lợi ích xã hội.Trong nhiều trờng hợp lợi ích xã hội đợc đặt lên hàng

đầu

Tóm lại, hoạt động đầu t là quá trình huy động và sử dụng mọi nguồn lực phục vụ sản xuất kinh doanh nhằm tạo ra sản phẩm cung cấp dich vụ đáp ứng nhu cầu cá nhân và xã hội

1.2 Phõn loại đầu tư

1.2.1 Đầu tư phỏt triển

Đầu tư phỏt triển là bộ phõn cơ bản của đầu tư, là việc chi dựng vốn trong hiện tại

để tiến hành cỏc hoạt động nhằm làm tăng thờm hoặc tạo ra những tài sản vật chất (nhà xưởng thiết bị…) và tài sản trớ tuệ (tri thức, kỹ năng…), gia tăng năng lực sảnxuất, tạo thờm việc làm và vỡ mục tiờu phỏt triển

Đầu tư phỏt triển đũi hỏi rất lớn nhiều loại nguồn lực Theo nghĩa hẹp, nguồn lực sử dụng cho đầu tư phỏt triển là tiền vốn Theo nghĩa rộng, nguồn lực

Trang 4

đầu tư bao gồm cả tiền vốn, đất đai, lao động, máy móc thiết bị, tài nguyên Như vậy, khi xem xét lựa chọn dự án đầu tư hay đánh giá hiệu quả hoạt động đầu tư phát triển cần tính đúng tính đủ các nguồn lực tham gia

Đối tượng của đầu tư phát triển là tập hợp các yếu tố được chủ đầu tư bỏ vốn thựchiện nhằm đạt những mục tiêu nhất định Trên quan điểm phân công lao động xã hội, có hai nhóm đối tượng đầu tư chính là đầu tư theo ngành và đầu tư theo lãnh thổ Trên góc độ tính chất và mục đích đầu tư, đối tương đầu tư chia thành hai nhóm chính: công trình vì mục tiêu lợi nhuận và công trình phi lợi nhuận Trên góc độ xem xét mức độ quan trọng, đối tượng đầu tư chia thành: lọai được khuyếnkhích đầu tư, loại không được khuyến khích đầu tư và loại bị cấm đầu tư Từ góc

độ tài sản, đối tượng đầu tư chia thành: những tài sản vật chất (tài sản thực) và tài sản vô hình Tài sản vật chất, ở đây, là những tài sản cố định được sử dụng cho sản sản xuất kinh doanh của doanh nghịêp và nền kinh tế và tài sản lưu động Tài sản vô hình như phát minh sáng chế, uy tín, thương hiệu…

Kết quả của đầu tư phát triển là sự tăng thêm về tài sản vật chất (nhà xưởng thiết bị…), tài sản trí tuệ (trình độ văn hoá, chuyên môn, khoa học kỹ thuật…) và tài sản vô hình (những phát minh sáng chế, bản quyền…) Các kết quả đạt được của đầu tư góp phần làm tăng thêm năng lực sản xuất của xã hội Hiệu quả của đầu

tư phát triển phản ánh quan hệ so sánh giưã kết quả kinh tế xã hội thu được với chiphí chi ra để đạt kết quả đó Kết quả và hiệu quả đầu tư phát triển cần được xem xét cả trên phương diện chủ đầu tư và xã hội, đảm bảo kết hợp hài hoà giưã các loại lợi ích, phát huy vai trò chủ động sáng tạo của chủ đầu tư, vai trò quản lý, kiểm tra giám sát của cơ quan quản lý nhà nước các cấp Thực tế, có những khoản đầu tư tuy không trực tiếp tạo ra tài sản cố định và tài sản lưu động cho hoạt động sản xuất kinh doanh như đầu tư cho y tế, giáo dục, xoá đói giảm nghèo…nhưng lạirất quan trọng để nâng cao chất lượng cuộc sống và vì mục tiêu phát triển, do đó, cũng được xem là đầu tư phát triển

Trang 5

Mục đích của đầu tư phát triển là vì sự phát triển bền vững, vì lợi ích quốc gia, cộng đồng và nhà đầu tư.Trong đó, đầu tư nhà nước nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tăng thu nhập quốc dân, góp phần giải quyết việc làm và nâng cao đời sống của các thành viên trong xã hội Đầu tư của doanh nghiệp nhằm tối thiểu chi phí, tối đa lợi nhuận, nâng cao khả năng cạnh tranh và chất lượng nguồn nhân lực…

1.1.2 Đầu tư tài chính

Đầu tư tài chính (đầu tư tài sản tài chính) là loại đầu tư trong đó người có tiền bỏ tiền ra cho vay hoặc mua các chứng chỉ có giá trên thị trường tiền tệ, thị trường vốn để hưởng lãi suất định trước (gửi tiết kiệm, mua trái phiếu chính phủ) hoặc lợi nhuận tùy thuộc vào kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty phát hành (mua cổ phiếu )

Đầu tư tài sản tài chính là loại đầu tư không trực tiếp làm tăng tài sản thực (tài sản vật chất) cho nền kinh tế (nếu không xét đến quan hệ quốc tế trong lĩnh vực này) mà chỉ làm tăng giá trị tài sản tài chính cho chủ đầu tư Mua cổ phiếu (đầu tư cổ phiếu) gắn với việc chuyển quyền sở hữu và hoạt động cho vay dẫn đếnchuyển quyền sử dụng, do vậy, hai loại đầu tư này đều thuộc hoạt động đầu tư dịch chuyển Đầu tư tài chính thường được thực hịên gián tiếp thông qua các trunggian tài chính như ngân hàng, công ty chứng khoán Đầu tư tài chính còn có đặc điểm là: chủ đầu tư thường có kỳ vọng thu được lợi nhuận cao khi đầu tư nhưng thực tế lợi nhuận thu được có thể tăng giảm không theo ý muốn Tuy nhiên, đầu tưtài chính là kênh huy động vốn rất quan trọng cho hoạt động đầu tư phát triển và

là một trong những loại hình đầu tư lựa chọn để tối đa hoá lợi ích, giảm thiểu rủi

ro cho các chủ đầu tư

1.2.3 Đầu tư thương mại

Trang 6

Đầu tư thương mại là loại đầu tư mà người cú tiền bỏ tiền ra mua hàng húa

và sau đú bỏn với giỏ cao hơn nhằm thu lợi nhuận do chờnh lệch giỏ khi mua và khi bỏn

Cũng như đầu tư tài chớnh thỡ đầu tư thương mại khụng tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế (khụng xột đến ngoai thương) mà chỉ làm tăng tài sản chớnh của người đầu

tư trong quỏ trỡnh mua đi bỏn lại, chuyển giao quyền sở hữu hàng húa giữa người bỏn với người đầu tư và người đầu tư với khỏch hàng của họ Tuy nhiờn đầu tư thương mại cú tỏc dụng thỳc đẩy quỏ trỡnh lưu thụng của cải vật chất do đầu tư phỏt triển tạo ra từ đú thỳc đẩy đầu tư phỏt triển

1.3 Nguồn vốn đầu tư trong nền kinh tế

1.3.1 Nguồn vốn đầu tư trong nước

1.3.1.1 Nguồn vốn đầu tư nhà nước

Nguồn vốn đầu t nhà nớc bao gồm nguồn vốn của ngân sách nhà nớc, nguồn vốn tín dụng đầu t phát triển của nhà nớc và nguồn vốn đầu t phát triển của doanh nghiệp nhà nớc

Đối với nguồn vốn ngân sách nhà nớc: Đây chính là nguồn chi của ngân sách Nhà nớc cho đầu t Đó là một nguồn vốn đầu t quan trọng trong chiến lựơc phát triểnkinh tế - xã hội của mỗi quốc gia Nguồn vốn này thờng đợc sử dụng cho các dự án kết cấu kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, hỗ trợ cho các dự án của doanh nghiệp

đầu t vào lĩnh vực cần sự tham gia của Nhà nớc, chi cho các công tác lập và thực hiện các quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng, lãnh thổ, quy hoạch xâydựng đô thị và nông thôn

Vốn tín dụng đầu t phát triển của Nhà nớc: Cùng với quá trình đổi mới và mở cửa, tín dụng đầu t phát triển của Nhà nớc ngày càng đóng vai trò đáng kể trong

Trang 7

ớc có tác dụng tích cực trong việc giảm đáng kể việc bao cấp vốn trực tiếp của Nhà nớc Với cơ chế tín dụng, các đợn vị sử dụng nguồn vốn này phải đảm bảo nguyên tắc hoàn trả vốn vay Chủ đàu t là ngời vay vốn phải tính kỹ hiệu quả đầu t, sử dụng vốn tiết kiệm hơn Vốn tín dụng đầu t phát triển của Nhà nớc là một hình thức quá

độ chuyển từ hình thức cấp phát ngân sách sang phơng thức tín dụng đối với các dự

án có khả năng thu hồi vốn trực tiếp

Nguồn vốn đầu t từ doanh nghiệp Nhà nớc: Đợc xác định là thành phần chủ

đạo trong nền kinh tế, các doanh nghiệp Nhà nớc vẫn nắm giữ một khối lợng vốn khá lớn Mặc dù vẫn còn một số hạn chế nhng đánh giá một cách công bằng thì khu vực thì khu vực kinh tế Nhà nớc với sự tham gia của các doanh nghiệp Nhà nớc vẫn

đóng một vai trò chủ đạo trong nền kinh tế nhiều thành phần.Với chủ trơng tiếp tục

đổi mới doanh nghiệp Nhà nớc, hiệu quả hoạt động của khu vực kinh tế này ngày càng đợc khẳng định, tích luỹ của các doanh nghiệp Nhà nớc ngày càng gia tăng và

đóng góp đáng kể vào tổng quy mô vốn đầu t của toàn xã hội

1.3.1.2 Nguồn vốn của dõn cư và tư nhõn

Nguồn vốn từ khu vực t nhân bao gồm phần tiết kiệm của dân c, phần tích luỹ của các doanh nghiệp dân doanh, các hợp tác xã Theo đánh giá sơ bộ, khu vực kinh

tế ngoài Nhà nớc vẫn sở hữu một lợng vốn tiềm năng rất lớn mà cuă đợc huy động triệt để

Cùng với sự phát triển kinh tế của đất nớc, một bộ phận không nhỏ trong dân c có tiềm năng về vốn do có nguồn thu nhập gia tăng hay do tích luỹ tryuền thống Nhìn tổng quan nguồn vốn tiềm năng trong dân c không phải là nhỏ, tồn tại dới dạng vàng, ngoại tệ, tiền mặt … nguồn vốn này xấp xỉ bằng 80% tổng nguồn vốn huy

động của toàn bộ hệ thống ngân hàng Vốn của dân c phụ thuộc vào thu nhập và chi tiêu của các hộ gia đình Quy mô của các nguồn tiết kiệm này phụ thuộc vào:

- Trình độ phát triển của đất nớc (ở những nớc có trình độ phát triển thấp thờng có quy mô và tỷ lệ tiết kiệm thấp)

+ Tập quán tiêu dùng của dân c

Trang 8

+ Chính sách động viên của Nhà nớc thông qua chính sách thuế thu nhập và các khoản đóng góp với xã hội.

1.3.2 Nguồn vốn đầu tư nước ngoài

1.3.2.1 ODA

ODA-Nguồn vốn viện trợ phát triển chính thức (official Development

assistance) là nguồn vốn viện trợ song phương hoặc đa phương với một tỉ lệ viện trợ khụng hoàn lại , phần cũn lại chịu mức lói suất thấp.Cơ chế tài chớnh đối với việc sử dụng ODA là cấp phỏt cho vay toàn bộ hoặc một phần từ ngõn sỏch nhà nước Cỏc dự ỏn ODA thường cú vốn đối ứng là khoản đúng gúp của phớa Việt Nam bằng hiện vật và giỏ trị để chuẩn bị và thực hiện cỏc chương trỡnh, dự ỏn (cú thể dưới dạng tiền đuợc cấp từ ngõn sỏch hoặc nhõn lực, cơ sở vật chất) Nguồn vốn là điểm khỏc biệt lớn nhất giữa dự ỏn ODA với với cỏc dự ỏn khỏc; kốm theo

nú là cỏc yờu cầu, quy định, cơ sở phỏp lý về quản lý và thực hiện của nhà đầu tư

và nhà tài trợ(cú thể đi kốm hoặc khụng đi kốm điều kiện chớnh trị)

1.3.2.2 FDI

FDI- Đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment)

Theo quỹ tiền tệ quốc tế IMF: FDI được định nghĩa là “một khoản đầu tư với những quan hệ lõu dài, theo đú một tổ chứ trong một nền kinh thế (nhà đầu tư trực tiếp) thu được lợi ớch lõu dài từ một doanh nghiệp đặt tại một nền kinh tế khỏc Mục đớch của nhà đầu tư trực tiếp là muốn cú nhiều ảnh hưởng trong việc quản lý doanh nghiệp đặt tại nền kinh tế khỏc đú

Cỏc nhà kinh tế quốc tế định nghĩa : đầu tư trực tiếp nước ngoài là người sở hữu tại nước này mua hoặc kiểm soỏt một thực thể kinh tế của nước khỏc Đú là

Trang 9

một khoản tiền mà nhà đầu tư trả cho một thực thể kinh tế của nước ngoài để có ảnh hưởng quyết định đổi với thực thể kinh tế ấy hoặc tăng thêm quyền kiểm soát trong thực thể kinh tế ấy.

Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 đưa ra khái niệm: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc tổ chức, cá nhân nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền nước ngoái hoặc bất kì tài sản nào được chính phủ Việt Nam chấp thuận

để hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hoặc thành lập xí nghiệp liên doanh hoặc doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài theo quy định của luật này”

Theo gi¸o tr×nh Kinh tÕ §Çu t cña trêng §¹i häc Kinh tÕ Quèc d©n do PGS TSNguyÔn Ngäc Mai lµm chñ biªn th× ®Çu t trùc tiÕp cña níc ngoµi (FDI) lµ vèn cña c¸c doanh nghiÖp vµ c¸ nh©n níc ngoµi ®Çu t sang c¸c níc kh¸c vµ trùc tiÕp qu¶n lý

hoÆc tham gia trùc tiÕp qu¶n lý qu¸ tr×nh sö dông vµ thu håi sè vèn bá ra

Từ những khái niệm trên có thể hiểu một cách khái quát về đầu tư trực tiếp nước ngoài như sau: “đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI tại một quốc gia là việc nhà đầu tư ở một nươc khác đưa vốn bằng tiền hoặc bất kì tài sản nào vào quốc gia đó

để có được quyền sở hữu và quản lý hoặc quyền kiểm soát một thực thể kinh tế tại quốc gia đó, với mục tiên tối đa hoá lợi ích của mình” Tài sản trong khái niệm này, theo thông lệ quốc tế, có thể là tài sản hữu hình (máy móc, thiết bị, quy trình công nghệ, bát động sản, các loại hợp đòng và giáy phép có giá trị …), tài sản vô hình (quyền sở hữu tí tuệ, bí quyết và kinh nghiệm quản lý…) hoặc tài sản tài chính (cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, giấy ghi nợ…) Như vậy FDI bao giờ cũng là một dạng quan hệ kinh tế có nhân tố nước ngoài Hai đặc điểm cơ bản của FDI là:

có sự dịch chuyển tư bản trong phạm vi quốc tế và chủ đầu tư (pháp nhân, thể nhân) trực tiếp tham gia vào hoạt động sử dụng vốn và quản lí đối tượng đầu tư

1.3.2.3 Thị trường vốn quốc tế

Trang 10

Thị trường vốn quốc tế là nơi thực hiện chuyển giao hay mua bán vốn với thời hạn trên một năm giữa những người cư trú và không cư trú Đặc trưng của thị trường vốn với mục đích đầu tư phát triển dài hạn,tham gia vào thị trường vốn quốc tế là chonhs phủ các nước, các công ty đa quốc gia, các ngân hàng thương mại lớn và các tổ chức quốc tế.

Cấu trúc của nó bao gồm thị trường trái phiếu và thị trường cổ phiếu quốc tế

Hoạt động của thị trường vốn quốc tế bao gồm tại các trung tâm tài chính quốc tế lớn trên thế giới được hình thành từ việc quốc tế hoá thị trường vốn của một số nước có nền tài chính mạnh hoặc một số nước có vị thế kinh tế chính trị đặc biệt

2.1 Kích cầu đầu tư

2.1.1 Khái niệm kích cầu đầu tư

 Kích cầu đầu tư là tổng hợp các biện pháp chính sách, các công cụ pháp lý được sử dụng một cách có hệ thống và đồng bộ nhằm thu hút ngày càng nhiều vốn đầu tư để đáp ứng nhu cầu tăng trưởng và phát triển kinh tế xã hội trong một giai đoạn hay một thời kì nhất định

2.1.2 Phân biệt kích cầu đầu tư và kích cầu tiêu dùng

Chúng ta cần lưy ý để phân biệt giữa hai khái niệm kích cầu đầu tư và kích

cầu tiêu dùng Bởi lẽ hai khái niệm này thường hay được nhắc đến cùng nhau Tuynhiên về mặt bản chất thì hai khái niệm này có sự khác nhau Thứ nhất về đối tượng tác động của hai loại hình kích cầu này là khác nhau Trước tiên đó là về kích cầu tiêu dùng đối tượng của nó là về phía cầu trong nền kinh tế, thông qua các chính sách của chính phủ để kích thích tiêu dùng trong nước Chẳng hạn như các chính sách về thuế thu nhập cá nhân, rồi các chính sách hỗ chợ tiêu dùng như các chương chình khuyến mại, mục đích của kích cầu tiêu dùng đó là kích thích tiêu dùng trong nước thông qua đó tạo thêm thị trường cho các doang nghiệp mở rộng sản xuất giúp nền kinh tế lấy lại được đà tăng trưởng trong tình hình nền kinh

Trang 11

tế gặp khó khăn như thời kỳ hậu khủng hoảng Còn xét về kích cầu đầu tư thì dây

là các chính sách trực tiếp tác động đến họat động đầu tư của nền kinh tế nhằm khuyến khích hoạt động đầu tư sản xuất của các doang nghiệp thông qua các chínhsách như lãi suất hay thuế.Tuy nhiên hai loại chính sách kích cầu đầu tư và kích cầu tiêu dùng có qua hệ bổ trợ lẫn nhau, bổ xung cho nhau nhằm phát huy tốt hơn hiệu quả cảu cả hai chính sách tất cả đều hướng đến mục tiêu nhằm thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế

2.2 Các yêu cầu khi áp dụng kích cầu đầu tư

Mỗi động sản xuất kinh doanh rơi vào chỗ đình trệ người ta liền nghĩ đến chuyện kích thích kinh tế mà thường được gọi một cách hình tượng - “kích cầu”.Kích cầu là biện pháp đẩy mạnh chi tiêu ròng của chính phủ (hay còn gọi tiêu dùng công cộng) để làm tăng tổng cầu, kích thích tăng trưởng kinh tế

Biện pháp kích cầu cụ thể có thể là giảm thuế hoặc tăng chi tiêu hoặc cả hai Kích cầu thường chỉ được dùng khi nền kinh tế lâm vào trì trệ hay suy thoái, đang cần vực dậy Kích cầu đặc biệt hay được sử dụng khi nền kinh tế rơi vào trạng tháibẫy thanh khoản, là khi mà chính sách tiền tệ trở nên mất hiệu khi hoạt lực vì lãi suất đã quá thấp

Kích cầu đôi khi còn được gọi là chính sách Keynes vì biện pháp này tác động tới tổng cầu Trong cuốn Lý thuyết tổng quát về việc làm, lãi suất và tiền tệ, John Maynard Keynes cũng nhắc đến việc "chi tiêu thâm hụt" khi cần thiết để giúpnền kinh tế khỏi suy thoái Tư tưởng của Keynes là nếu cần, chính phủ có thể chi tiêu ngân sách mạnh đến mức dẫn tới thâm hụt cả ngân sách nhà nước để kích thích tổng cầu

Theo các nhà kinh tế biện pháp để thúc đẩy kích cầu có hiệu quả là việc thực hiện đảm bảo vừa đúng lúc , trúng đích , vừa đủ

Trang 12

Thứ nhất,là đúng lúc là phải thực hiện kích cầu ngay khi các doanh nghiệp

chưa thu hẹp sản xuất và các hộ gia đình chưa thu hẹp tiêu dùng Nếu thực hiện sớm quá, kích cầu có thể làm cho nền kinh tế trở nên nóng và tăng áp lực lạm phát Nhưng nếu thực hiện chậm quá, thì hiệu quả của kích cầu sẽ giảm Việc thựchiện kích cầu đúng lúc càng phải được chú ý nếu các quá trình chính trị và hành chính để cho một gói kích cầu được phê duyệt và triển khai là phức tạp Thường thì chính phủ phải đệ trình quốc hội kế hoạch kích cầu và phải được cơ quan lập pháp tối cao này thông qua Và, không phải lúc nào công việc này cũng suôn sẻ

Là ta,cần đúng địa chỉ, đúng lúc "Nhiều trường hợp, càng bơm nhiều tiề kíchcầu càng bị thiệt hại Vì vậy, phải tính toán thật kỹ là kích vào đâu, kích cho ai và theo tiêu Hiện nay, mục tiêu kích cầu là chống suy thoái, duy trì tăng trưởng và tạo việc làm Vì vậy, người ta cho rằng, các dự án ưu tiên hưởng phần kích cầu của Chính phủ phải đảm lý do trên không định hướn kích cầu theo kiểu phân biệt đối xử, chỉ ưu tiên cho doanh nghiệp nhà nước hay cho những doanh nghiệp

“lobby” giỏi Những địa chỉ kích cầu phải được tính toán cẩn

Tuy nhiên, thách thức lớn nhất đối với việc thực hiện kích cầu đúng lúc chính là sự thiếu chính xác trong xác định thời điểm chuyên pha của chu kỳ kinh

tế Có trường hợp kinh tế đã chuyển hẳn sang pha suy thoái một thời gian rồi mà công tác thu thập và phân tích số liệu thống kê không đủ khả năng phán đoán ra

Vì vậy kích cầu không đúng chỗ, không đúng lúc và thiếu hiệu quả chẳng những không giúp chống suy giảm kinh tế và bảo đảm an sinh xã hội mà còn tạo thêm những tác nhân gây lạm phát trong tương lai Những tác nhân này không phải đã hoàn toàn biến mất, khi cách nay mới hơn một tháng, chúng ta còn coi chống lạm phát là ưu tiên hang dầu Do đó chúng ta phải nắm thời điểm đúng lúc

để kích cầu nền kinh tế , để đưa nền kinh tế phát triển

Trang 13

Thứ hai,là trúng đích là hướng tới những chủ thể kinh tế nào tiêu dùng

nhanh hơn khoản tài chính được hưởng nhờ kích cầu và do đó sớm gây ra tác độnglan tỏa tới tổng cầu hơn; đồng thời hướng tới những chủ thể kinh tế nào bị tác động bất lợi hơn cả bởi suy thoái kinh tế Thường thì đó là những chủ thể kinh tế

có thu nhập thấp hơn Người có thu nhập cao thường ít giảm tiêu dùng hơn so với người có thu nhập thấp trong thời kỳ kinh tế quốc dân khó khăn Việc hỗ trợ các gia đình có thu nhập thấp để họ không phải giảm tiêu dùng hay thậm chí còn tăng tiêu dùng sẽ tạo ra hiệu ứng lan tỏa, kích thích doanh nghiệp mở rộng sản xuất và thuê mướn thêm lao động Hỗ trợ đó sẽ giúp đưa nền kinh tế tăng lên giúp họ chi tiêu nhiều hơn tao ra cho các doanh nghiệp có điều kiện mở rông kinh doanh tạo

ra nhiều công ăn việc làm cho người lao động

Để kích cầu trúng đich, các nhà hoạch định chính sách thường dựa vào các

mô hình kinh tế lượng để mô phỏng hiệu quả của gói kích cầu qua các kịch bản khác nhau tương ướng với các mục tiêu khác nhau, từ đó tìm ra mục tiêu hợp lý nhất.Họ tìm ra các chính sách khác nhau và tạo ra các gói kích cầu vào đúng thời điểm đó để giúp cho hiệu quả của gói kích cầu đó đạt được mức tối đa trong thời điểm đó

Thứ ba,là vừa đủ tức là khi nền kinh tế bắt đầu phục hồi các gói kích cầu

đã tác dụng vào nền kinh tế một cách mạnh mẽ và đang đưa nền kinh tế trở lại một cách mạnh mẽ Nếu gói kích cầu quá bé thì kích thích sẽ bị hụt hơi và tổng cầu có thể không bị kích thích nữa, khiến cho gói kích cầu trở thành lãng phí sẽ làm hao hụt nền kinh tế và nó sẽ không giải quyết được nền kinh tế trong thời kỳ khủng hoảng Ngược lại gói kích cầu lớn qua tạo ra tác động kéo dài khiến cho nền kinh tế đã hồi phục mà vẫn trong trạng thái tiếp tục được kích thích thì sẽ dẫn tới kinh tế mở rộng quá mức, lạm phát tăng lên Điều này càng được chú ý nếu ngân sách nhà nước và dự trữ ngoại hối nhà nước không dư dật và còn làm cho mức tiêu dung bị giảm sút các doanh nghiệp lại phải thu hẹp sản suất Vì vậy kích cầu vừa đủ sẽ nhanh chóng đưa kinh tế nó trở lai quỹ đạo ban đầu của nó và giúp nền kinh tế phát triển hơn nữa

Trang 14

2.3.1 Điều kiện áp dụng các biện pháp kích cầu

Suy thoái, phục hồi, hưng thịnh, là ba pha trong chu kì của nền kinh tế, đây

là yếu tố khách quan mà không một chính phủ hay một tổ chức nào có thể thay đổiđược Suy thoái kinh tế (tiếng Anh: recession/economic downturn) được định nghĩa trong kinh tế học vĩ mô là sự suy giảm của tổng sản phẩm quốc nội GDP thực trong thời gian hai hoặc hơn hai quý liên tiếp trong năm (nói cách khác, tốc

độ tăng trưởng kinh tế âm liên tục trong hai quý) Tuy nhiên, định nghĩa này

không được chấp nhận rộng rãi Cơ quan nghiên cứu kinh tế quốc gia (NBER) của Hoa Kỳ đưa ra định nghĩa về suy thoái kinh tế còn mập mờ hơn “là sự tụt giảm hoạt động kinh tế trên cả nước, kéo dài nhiều tháng” Suy thoái kinh tế có thểliên quan sự suy giảm đồng thời của các chỉ số kinh tế của toàn bộ hoạt động kinh

tế như việc làm, đầu tư, lợi nhuận doanh nghiệp Các thời kỳ suy thoái có thể đi liền với hạ giá cả (giảm phát), hoặc ngược lại tăng nhanh giá cả (lạm phát) trong thời kì đình lạm

Một sự suy thoái trầm trọng và lâu dài được gọi là khủng hoảng kinh tế Sự tan vỡtàn phá nền kinh tế là suy sụp/đổ vỡ kinh tế.Khi lý thuyết bàn tay vô hình củaAdam Smith sụp đổ với đỉnh điểm là cuộc đại khủng hoảng 1929-1933 phải

Trang 15

nhường lại cho kinh tế học vĩ mô "Keynes" với trọng tâm chính là nêu bật vai tròtăng trưởng tiền lương (để tăng tổng cầu) và vai trò của nhà nước trong việc quản

lý nền kinh tế Từ khi kinh tế học Keynes ra đời với các biện pháp can thiệp củachính phủ vào nền kinh tế để điều chỉnh những méo mó của thị trường thì nền kinh

tế thị trường ở các nước có sự chuyển biến rõ nét Khi nền kinh tế bắt đầu có dấuhiệu suy thoái kéo dài, để tránh tình trạng trở nên tồi tệ hơn, chính phủ các nước

đã áp dụng nhiều chính sách kinh tế vĩ mô và vi mô để kích cầu nhằm đưa nềnkinh tế tăng trưởng trở lại Trong đó kích cầu đầu tư là một biện pháp hữu hiệu củacác chính phủ

2.3.2 Các giải pháp thực hiện kích cầu đầu tư

để thực hiện kích cầu đầu tư hiệu quả, trong tay chính phủ có hai công cụ quan trọng là chính sách tiền tệ và chính sách tài khoá Mỗi chính sách có ưu, nhược điểm khác nhau và tuỳ từng tình hình của từng nước mà mỗi chính phủ có thể sử dụng một hoặc cả hai chính sách để kích cầu đầu tư đạt hiêu quả cao nhất

2.3.2.1 Nhóm chính sách tiền tệ

Chính sách lưu thông tiền tệ hay chính sách tiền tệ là quá trình quản lý hỗ trợ đồng tiền của chính phủ hay ngân hàng trung ương để đạt được những mục đích đặc biệt- như kiềm chế lạm phát, duy trì ổn định tỷ giá hối đoái, đạt được toàn dụng lao động hay tăng trưởng kinh tế Chính sách lưu thông tiền tệ bao gồm việc thay đổi các loại lãi suất nhất định, có thể trực tiếp hay gián tiếp thông qua các nghiệp vụ thị trường mở; qui định mức dự trữ bắt buộc; hoặc trao đổi trên thị trường ngoại hối Các công cụ của chính sách tiền tệ gồm 5 loại :tái cấp vốn, tỉ lệ

dự trữ bắt buộc, nghiệp vụ thị trường mở, lãi suất tín dụng tuy nhiên trong mục này ta chỉ xét 2 công cụ chủ yếu của chính phủ tác động mạnh đến kích cầu đầu tư

a) Công cụ lãi suất tín dụng

Đây được xem là công cụ gián tiếp trong thực hiện chính sách tiền tệ bởi vì sự thay đổi lãi suất không trực tiếp làm tăng thêm hay giảm bớt lượng tiền trong lưu thông, mà có thể làm kích thích hay kìm hãm sản xuất Nó là một công cụ rất lợi hại Cơ chế điều hành lãi suất được hiểu là tổng thể những chủ trương chính sách

và giải pháp cụ thể của Ngân hàng Trung ương nhằm điều tiết lãi suất trên thị trường tiền tệ, tín dụng trong từng thời kỳ nhất định.Về mối quan hệ giữa lãi suất

và đầu tư, mức lãi suất càng thấp thì mức đầu tư càng cao và ngược lại Điều này

Trang 16

có thể giải thích là khi đầu tư, nguồn vốn có thể được tài trợ bằng vốn tự có hay đi vay mượn Bất luận dự án đầu tư được tài trợ bằng phương thức nào, mức lãi suất cũng là một phần chi phí cơ hội của dự án đó Tiền trả lãi cho khoản tiền vay để đầu tư cho sản xuất là chi phí trực tiếp Nhưng nguồn vốn tự có của một doanh nghiệp có thể dùng để cho vay với một mức lãi suất nào đó Tiền lãi mà doanh nghiệp bị mất khi sử dụng nguồn vốn tự có để tài trợ cho dự án riêng của chính mình, thay vì dùng để cho vay được gọi là chi phí cơ hội Mức lãi suất càng thấp thì chi phí cơ hội của dự án càng thấp, càng có nhiều dự án đầu tư mang lại lợi nhuận và vì vậy mức đầu tư sẽ gia tăng

b) tăng hạn mức tín dụng cho các ngân hàng thương mại

Hạn mức tín dụng là mức dư nợ tối đa mà Ngân hàng Trung ương buộc cácNgân hàng thương mại phải chấp hành khi cấp tín dụng cho nền kinh tế Khác vớiloại vay thông thường, ngân hàng không xác định kỳ hạn nợ cho từng món vay màchỉ khống chế theo hạn mức tín dụng, có nghĩa là vào một thời điểm nào đó nếu

dư nợ vay của khách hàng lên đến mức tối đa cho phép, thì khi đó ngân hàng sẽkhông phát tiền vay cho khách hàng.Khi chính phủ tăng hạn mức tín dụng sẽ kíchthích các chủ doanh nghiệp vay vốn để đầu tư phát triển Trong điều kiện nền kinh

tế suy thoái hoặc khủng hoảng, các doanh nghiệp vấp phải khó khăn rất lớn nhưng

đó cũng là cơ hội để các doanh nghiệp khẳng định mình, gia tăng thị phần, xâydựng thương hiệu, thu hút được lao động có tay nghề…

Với các ưu đãi về lãi suất hoặc các khoản cho vay tín dụng khác, là cơ hội cho cácdoanh nghiệp sống và sống khoẻ trong khủng hoảng và cũng góp phần giúp nềnkinh tế tăng trưởng trở lại

c) Hiệu quả của chính sách tiền tệ

Tuy nhiên chính phủ các nước cần phải chú ý đến hiệu quả của chính sách tiền

tệ khi áp dụng để kích cầu đầu tư Trong nhiều trường hợp đầu tư không tăng mặc

dù lãi suất đã giảm đi rất nhiều

Bẫy thanh khoản:

Khi nền kinh tế vào pha suy thoái, ngân hàng trung ương sẽ nới lỏng chínhsách tiền tệ bằng việc giảm lãi suất để kích thích tiêu dùng và kích thích đầu tư tư

Ngày đăng: 18/07/2013, 15:36

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w