1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu 80 năm ngày truyền thống của ngành tổ chức xây dựng Đảng

35 509 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm Hiểu 80 Năm Ngày Truyền Thống Của Ngành Tổ Chức Xây Dựng Đảng
Tác giả Trương Thị Nghĩa
Trường học Trường Đại Học
Chuyên ngành Tổ Chức Xây Dựng Đảng
Thể loại Bài Viết
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 248,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Câu 1: Hãy nêu những mốc lịch sử quan trọng trong đánh dấu sự trưởng thành và phát triển của ngành tổ chức xây dựng Đảng từ ngày thành lập Đảng Cộng Sản Việt Nam cho đến nay?

Trang 1

lời mở đầu

Mùa xuân năm 1930 Đảng Cộng sản Việt Nam đợc thành lập đánh dấu một bớcngoặt quan trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam Trải qua 80 năm chiến đấu và tr-ởng thành Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân gơng cao ngọn cờ độc lậpdân tộc và chủ nghĩa xã hội vợt qua muôn vàn khó khăn thử thách làm nên nhữngchiến thắng vĩ đại Thắng lợi của Cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nớc ViệtNam dân chủ cộng hoà ra đời đã xoá bỏ chế độ thực dân nửa phong kiến mở ra kỷnguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội Thắng lợi của các cuộc khángchiến oanh liệt giải phóng dân tộc bảo vệ Tổ quốc, đánh thắng thực dân cũ và mới,hoàn thành cách mạng dân chủ nhân dân, thống nhất Tổ quốc, đa cả nớc đi lên chủnghĩa xã hội, góp phần quan trọng vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hoàbình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội

Trong suốt 80 năm qua, Đảng ta luôn chú trọng công tác tổ chức xây dựng

Đảng, đây là bộ phận hợp thành có tính chất quyết định thắng lợi toàn bộ sự nghiệpcách mạng của Đảng của dân tộc Công tác tổ chức xây dựng Đảng đã góp phần to lớnvào sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc, góp phần xây dựng Đảng thực sự làmột chính đảng cách mạng, có bản lĩnh chính trị vững vàng, hết lòng, hết sực phục vụnhân dân Hệ thống tổ chức trong Đảng không ngừng đợc củng cố và đổi mới, đội ngũcán bộ làm công tác tổ chức của Đảng có đức có tài thờng xuyên đợc giáo dục và trởngthành phát triển không ngừng về số lợng và chất lợng, phấn đấu vì mục tiêu lý tởng của

Đảng

Năm 2010 là năm có nhiều sự kiện trọng đại của dân tộc, là năm diễn ra Đại hội

Đảng các cấp tiến tới Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI Cùng chung dòng chảy hàohùng của đất nớc, Đảng bộ Công an Trung ơng tổ chức cuộc thi “Tìm hiểu 80 nămngày truyền thống của ngành tổ chức xây dựng Đảng” Đây là dịp cho mỗi cán bộ đảngviên đợc ôn lại truyền thống về ngành xây dựng Đảng, về Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.Qua cuộc thi này mỗi cán bộ chiến sĩ Bộ T lệnh Cảnh sát cơ động càng thấy rõ hơntrách nhiệm của mình nguyện đi theo Đảng, góp phận xây dựng Đảng ngày càng trongsạch vững mạnh

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

TèM HIỂU 80 NĂM NGÀY TRUYỀN THễNG NGÀNH

TỔ CHỨC XÂY DỰNG ĐẢNG

Trang 2

Câu 1: Hãy nêu những mốc lịch sử quan trọng trong đánh dấu sự trưởng thành

và phát triển của ngành tổ chức xây dựng Đảng từ ngày thành lập Đảng Cộng Sản ViệtNam cho đến nay?

Câu 2: Những bài học kinh nghiệm chủ yếu về công tác tổ chức xây dựng Đảngtrong 80 năm qua của Đảng Cộng Sản Việt Nam?

Câu 3: Theo đồng chí, để xây dựng đội ngũ cán bộ có đức, có tài đáp ứng yêucầu nhiệm vụ mới, góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao nănglực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, công tác cán bộ cần được đổi mới như thế nào?(bài viết không quá 1 500 từ)

Câu 4: Hãy viết về một tấm gương tiêu biểu nhất trong đội ngũ cán bộ đã hoặcđang làm công tác tổ chức xây dựng Đảng mà đồng chí biết? (bài viết không quá 1 000từ)

Câu 5: Hiện nay người cán bộ làm công tác tổ chức xây dựng Đảng cần cónhững tiêu chuẩn, phẩm chất gì?

Câu 1: Hãy nêu những mốc lịch sử quan trọng trong đánh dấu sự trưởng thành và phát triển của ngành tổ chức xây dựng Đảng từ ngày thành lập Đảng Cộng Sản Việt Nam cho đến nay?

1 Công tác tổ chức xây dựng Đảng trong thời kỳ Đảng lãnh đạo nhân dân xây dựng lực lượng cách mạng và đấu tranh giành chính quyền 1930-1945.

Trang 3

Trong những ngày đầu tháng 2 năm 1930, với sự chủ trì của đồng chí Nguyễn

Ái Quốc, những đại biểu của Đông Dương Cộng sản Đảng và An Nam Cộng sản Đảng

đã họp Hội nghị tại Hương Cảng (Trung Quốc) để thành lập một Đảng Cộng sản thốngnhất ở Việt Nam, lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam Đảng Cộng sản Việt Nam rađời đánh dấu “một bước ngoặc vô cùng quan trọng trong lịch của cách mạng ViệtNam” (*), đồng thời cũng mở đầu cho sự hình thành và phát triển công tác tổ chức củaĐảng

Từ ngày 14 tháng 10 đến cuối tháng 10 năm 1930, Hội nghị Ban Chấp hành

Trung ương lâm thời của Đảng tiến hành tại Hương Cảng (Trung Quốc) Hội nghịthông qua Luận cương chính trị của Đảng do đồng chí Trần Phú khởi thảo, các ánNghị quyết về tình hình và nhiệm vụ cần kiếp của Đảng; về vận động các giới quầnchúng; Điều lệ Đảng và các Điều lệ của một số đoàn thể quần chúng; đổi tên ĐảngCộng sản Việt Nam thành Đảng Cộng sản Đông Dương (theo sự chỉ đạo của quốc tếCộng sản); bầu đồng chí Trần Phú làm Tổng Bí thư đầu tiên của Ban Chấp hành Trungương Đảng

(Điều lệ Đảng được thông qua tại Hội nghị này có quy định: Trung ương cử racác bộ, trong đó có Bộ Tổ chức kiêm giao thông Đây là lý do Bộ Chính trị Ban Chấphành Trung ương Đảng (khoá IX) quyết định lấy ngày 14 tháng 10 làm Ngày truyềnthống của Ngành Tổ chức xây dựng Đảng)

Giai đoạn 1930 – 1935

Công tác tổ chức xây dựng Đảng trong năm 1930 và năm 1931 là lựa chọnnhững người ưu tú kết nạp vào Đảng; xây dựng, củng cố các tổ chức của Đảng, khimới thành lập, Đảng có 50 chi bộ với hơn 200 Đảng viên, đến tháng 4 năm 1931 đã có

250 chi bộ với hơn 2400 Đảng viên Các tổ chức quần chúng Cách mạng Công hội,Nông hội, Phụ nữ Liên hiệp hội, Hội Cứu tế đỏ, Đoàn TNCS Đông Dương… do Đảnglãnh đạo lần lượt ra đời Sau cao trào Xô Viết - Nghệ Tĩnh, công tác tổ chức của Đảngtập trung vào bảo toàn lực lượng cách mạng, bảo vệ Đảng, khôi phục hệ thống tổchức, tiếp tục phát triển Đảng viên và các Đoàn thể quần chúng

Trang 4

Đại hội đại biểu lần thứ I của Đảng họp tại Ma Cao (Trung Quốc) từ ngày 27đến ngày 31/3/1935, đề ra nhiệm vụ khôi phục hệ thống tổ chức của Đảng từ Trungương đến cơ sở Đại hội thông qua Điều lệ của Đảng và Điều lệ của các tổ chức quầnchúng; thông qua tuyên ngôn Điều lệ quy định “Trung ương cử ra các bộ như: a) bộtruyên tuyền, cổ động và huấn luyện; b) bộ Tài chính; c) bộ tổ chức kiêm giao thông”.Đồng chí Lê Hồng Phong được bầu làm Tổng thư ký tức Tổng Bí thư của Đảng Từgiữa năm 1936 đến tháng 3 năm 1938, Đồng chí Hà Huy Tập được bầu làm Tổng thư

ký, tức Tổng Bí thư của Đảng

Giai đoạn 1936-1939

Nhiệm vụ chính trị ở giai đoạn này là lãnh đạo quần chúng đấu tranh đòi dânsinh, dân chủ tự do cơm áo, hoà bình, chống bọn thực dân phản động ở thuộc địa vàtay sai của chúng,… “Hoàn cảnh mới, nhiệm vụ mới bắt buộc Đảng ta phải có conđường chánh trị mới, con đường chánh trị mới lại bắt buộc phải có một đường tổ chứcmới” (*) Từ chủ trương đó, các tổ chức của Đảng đã được củng cố và phát triển, đưa

ra một số hoạt động của Đảng ra công khai, nửa công khai, hợp pháp, cử một số ngườiứng cử vào viện dân biểu, Hội đồng quản hạt, Hội đồng thành phố Đó là những côngtác tổ chức nổi bật ở giai đoạn này, thể hiện nghệ thuật tổ chức của Đảng ta Hội nghịTrung ương toàn thể tháng 9 -1937 bầu bổ sung đồng chí Nguyễn Văn Cừ vào BanThường vụ Trung ương và Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương tháng 3-1938 bầuđồng chí giữ chức vụ Tổng bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Qua cao trào dânchủ 1936 -1939, uy tín của Đảng được tăng cường, công tác tổ chức của Đảng trưởngthành thêm một bước

Giai đoạn 1940-1945

Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khoá I) tại Pắc Bó, CaoBằng tháng 5-1941 quyết định nhiều vấn đề về tổ chức, có ý nghĩa chiến lược như:Thành lập Việt nam độc lập đồng minh (Việt Minh) thay thế Mặt trận dân tộc thốngnhất phản đế Lập các Hội Cứu quốc thay Hội phản đế Bỏ khẩu hiệu thành lập Chínhphủ liên bang cộng hoà dân chủ Đông Dương; nêu chủ trương thành lập nước Việt

Trang 5

Nam dân chủ cộng hoà Hội nghị bầu Đồng chí Trường Chinh làm Tổng Bí thư BanChấp hành Trung ương Đảng

Ngày 01/12/1941, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra chỉ thị về công tác tổchức của Đảng, nêu phương châm công tác tổ chức là: “Rộng rãi, thực tế, khoa học”.Sau chỉ thị đó, công tác tổ chức đã được triển khai trên nhiều mặt

Trong mười lăm năm (1930-1945) Công tác tổ chức của Đảng đã có bước pháttriển lớn, tích luỹ được nhiều kinh nghiệm quý báu về xây dựng Đảng và tổ chức, vậnđộng quần chúng tham gia các phong trào cách mạng Từ 200 Đảng viên khi mớithành lập, đến cách mạng Tháng Tám 1945, tuy chỉ có 5000 Đảng viên, nhưng Đảng

đã lãnh đạo tiến hành thắng lợi cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhândân

2 Công tác tổ chức xây dựng Đảng thời kỳ 1945-1954

Giai đoạn 1947-1954.

19-12-1946, kháng chiến toàn quốc Công tác tổ chức của Đảng trong giai đoạnnày góp phần tiến hành hai nhiệm vụ vừa kháng chiến vừa kiến quốc

Ngày 31-8-1947, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra quyết định số 10NQ/TW

về thành lập các Đảng đoàn, các cơ quan chuyên môn và các chi bộ đặc biệt: “từ trên

Trang 6

xuống dưới, các cấp bộ Hội (Đảng) có những cơ quan chuyên môn chính là: tổ chức,kiểm soát, tuyên truyền, huấn luyện, tài chính, dân vận Các cơ quan chuyên môn củaTrung ương gọi là Bộ (Bộ Tổ chức, Bộ Tuyên truyền…), ở các khu, tỉnh, huyện gọi làBan (Ban Tổ chức, Ban Huấn luyện…) Những cơ quan phụ thuộc vào các bộ gọi làBan, phụ thuộc vào các ban gọi là các tiểu ban (Ban Công vận Trung ương, tiểu banCông vận khu…)” Ngày 3-12-1948 Ban Thường vụ Trung ương ra Nghị quyết về tổchức, chức năng, nhiệm vụ và bố trí cán bộ phụ trách các bộ Bộ tổ chức Trung ương(bao gồm một số ban: đảng vụ, công vận, nông vận, phụ vận, kiểm tra, kinh tế tàichính, giao thông liên lạc, trù bị đại hội…) do đồng chí Hoàng Quốc Việt giữ chức vụchủ nhiệm, các đồng chí Trần Đăng Ninh, Nguyễn Lương Bằng, Tôn Đức Thắng, LêVăn Lương là uỷ viên Bộ Tổ chức và phân công các đồng chí uỷ viên phụ trách cácBan Đồng chí Lê Văn Lương phụ trách Ban Đảng vụ.

Từ ngày 11 đến ngày 19 tháng 2 năm 1951, Đại hội đại biểu toàn quốc lần IIcủa Đảng họp tại xã Vinh Quang, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang, đã thông quabáo cáo chính trị, báo cáo về tổ chức và Điều lệ Đảng; quyết định đưa Đảng ra hoạtđộng công khai và lấy tên là Đảng Lao động Việt Nam Các nghị quyết định của ĐạiHội Đảng chỉ rõ mục tiêu của công tác xây dựng Đảng ở thời kỳ này và đảm bảo choĐảng “tăng cường lãnh đạo chính quyền, lãnh đạo quân đội và lãnh đạo toàn dânkháng chiến chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ” đến thắng lợi hoàn toàn; “pháttriển chế độ dân chủ nhân dân tiến lên chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam” Chủ tịch

Hồ Chí Minh được bầu làm Chủ tịch Đảng; đồng chí Trường Chinh tiếp tục bầu làmTổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng

Ngày 16-4-1951, Ban Chấp hành Trung ương (Khóa II) đã ra Nghị quyết số 09/

TW về thành lập các Ban và Tiểu ban của Trung ương, trong đó có Ban Tổ chứcTrung ương (trước đó là Ban Đảng vụ) và cử đồng chí Lê Văn Lương làm TrưởngBan Ban Tổ chức Trung ương trực thuộc ban Thường vụ Trung ương, có cơ cấu bộmáy và nhận sự chuyên trách; có chức năng và nhiệm vụ tương tự như Ban Tổ chứcTrung ương các thời kỳ sau này Ban từng bước được kiện toàn góp phần to lớn vào

Trang 7

công tác xây dựng Đảng và vào thắng lợi chung của cuộc kháng chiến, kiến quốc củanhân dân ta.

3 Công tác tổ chức xây dựng Đảng thời kỳ 1955 -1975:

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng tiến hành tại Hà Nội từ ngày 5đến ngày 10-9-1960, đã tổng kết 30 năm công tác xây dựng Đảng, nhấn mạnh chủnghĩa Mác-Lê-nin là nền tảng tư tưởng, là kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng;thông qua Điều lệ Đảng (sửa đổi ) và kế hoạch nhà nước 5 năm lần thứ nhất (1961-1965) Đồng chí Hồ Chí Minh được tiếp tục bầu làm chủ tịch Đảng và đồng chí LêDuẩn được bầu làm Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng

Đồng chí Lê Đức Thọ được Bộ chính trị phân công làm Trưởng ban Tổ chứcTrung ương từ 1957 Khi Trung ương phân công đồng chí Lê Đức Thọ trực tiếp lãnhđạo cuộc đấu tranh ngoại giao với Mỹ tại Hội nghị Paris, đồng chí Lê Văn Lươngđược phân công thay đồng chí Lê Đức Thọ làm Trưởng ban Tổ chức Trung ương

Thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước là thắng lợi của đườnglối chính trị, quân sự, ngoại giao đúng đắn và cũng là thắng lợi trong công tác tổ chứctình hình của Đảng Trong 20 năm đó, các cơ quan tổ chức và đội ngũ cán bộ làmcông tác tổ chức dù hoạt động ở địa phương hay tiền tuyến, ở vùng địch tạm chiếmhay vùng giải phóng, dù phải đấu tranh trong các trại giam tàn bạo của nhà tù Mỹ-nguỵ hay nơi biên cương hẻo lánh, đều trung thành với Đảng, với Tổ Quốc, nổ lựcphấn đấu, hy sinh hoàn thành nhiệm vụ Hàng ngàn cán bộ làm công tác tổ chức đãanh dũng hi sinh Tổ quốc và Đảng đời đời nhớ ơn các đồng chí đó!

4 Công tác tổ chức xây dựng Đảng thời kỳ từ 1975 đến nay.

Trang 8

Việt Nam Đồng chí Lê Duẩn được bầu làm Tổng Bí thư Chấp hành Trung ươngĐảng.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 5 của Đảng (27 đến 31-3-1982) tại Hà Nội,chủ trương tiếp tục đường lối tổ chức của Đảng do đại hội IV vạch ra và nhấn mạnhnăm yêu cầu đối với công tác tổ chức của Đảng: Đảo đảm thấu suốt đường lối; cải tiến

sự lãnh đạo của Đảng gắn với đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, củng cố cơ sở Đảng; đổimới đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, xây dựng đội ngũ cốt cán; phát huy truyền thống đoànkết thống nhất của Đảng Đồng chí Lê Duẩn được bầu lại làm Tổng Bí thư

Sau Đại hội, công tác tổ chức xây dựng Đảng tập trung vào việc củng cố hệthống tổ chức của Đảng, tiến hành xây dựng các quy chế làm việc của cấp uỷ và tổchức Đảng, đề cao trách nhiệm của tập thể và cá nhân, khắc phục những yếu kém, nhất

là tính thụ động, ỷ lại cấp trên; kết hợp tăng cường sự lãnh đạo của Đảng với sự kiệntoàn các cơ quan chính quyền, cải tiến tổ chức và cơ chế quản lý, nâng cao tính chiếnđấu của đội ngũ đảng viên; tiếp tục tiến hành việc kiểm tra đảng viên và phát thẻ đảngviên; đưa những người không đủ tư cách ra khỏi Đảng

Ngày 14-7-1986 Ban Chấp hành Trung ương Đảng bầu đồng chí Trường Chinhlàm Tổng Bí thư, thay đồng chí Lê Duẩn vừa từ trần

Giai đoạn từ 1986 đến nay: Tiến hành sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (15 đến 18-12-1986) tại Hà Nội,

đề ra đường lối đổi mới toàn diện, vạch rõ nhiệm vụ của công tác xây dựng Đảng là:Xây dựng Đảng thật sự ngang tầm một Đảng cầm quyền có trọng trách lãnh đạo toàndân thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược Đảng phải đổi mới tư duy, trước hết

là tư duy kinh tế; đổi mới tổ chức; đổi mới đỗi ngũ cán bộ; đổi mới phong cách lãnhđạo và công tác, khẳng định xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổchức nhân tố quyết định sự phát triển của cách mạng Đồng chí Nguyễn Văn Linhđược bầu làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Từ năm 1980 đến tháng 6 năm

1991, đồng chí Nguyễn Đức Tâm, uỷ viên Bộ Chính trị được cử làm Trưởng Ban Tổchức Trung ương

Trang 9

Thực hiện Nghị quyết Đại hội VI, công tác tổ chức xây dựng Đảng trong nhiệm

kỳ này tập trung vào việc chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện các chủ trương, chính sách đổimới; tiếp tục thực hiện Nghị quyết 34/NQ-TW của Bộ Chính trị khoá V về kiện toàn

tổ chức; Nghị quyết 04 của Bộ Chính trị về “Làm trong sạch và nâng cao sức chiếnđấu của tổ chức Đảng và bộ máy nhà nước, làm lành mạnh các quan hệ xã hội”

Đại hội đại biểu lần thứ VII của Đảng (24 đến 27-6-1991) tại Hà Nội chỉ rõ: “đểlãnh đạo thắng lợi công cuộc đổi mới cũng như toàn bộ sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa

xã hội về bảo vệ Tổ quốc, Đảng phải tự đổi mới và chỉnh đốn để có kiến thức, nănglực và sức chiến đấu mới, khắc phục có hiệu quả các hiện tượng tiêu cực và các mặtyếu kém, khôi phục và nâng cao uy tín của Đảng trong nhân dân Đảng phải được xâydựng vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức, thực sự là đội tuyên phong củagiai cấp công nhân, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân laođộng và của cả dân tộc” Đồng chí Đỗ Mười được bầu Tổng Bí thư Ban Chấp hànhTrung ương Đồng chí Lê Phước Thọ uỷ viên Bộ Chính trị được cử làm Trưởng Ban

Tổ chức Trung ương

Bộ Chính trị khoá VII căn cứ vào Nghị quyết Đại hội VII về chủ trương tiếnhành tổng kết công tác xây dựng Đảng, Quyết định thành lập tiểu ban Tổng kết xâydựng Đảng thời kỳ 1975-1995, rút ra những bài học bổ ích của công tác xây dựngĐảng trên cả ba mặt chính trị, tư tưởng và tổ chức

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng (28-6 đến 01-7-1996) tại HàNội, khẳng định tính chất đúng đắn của đường lối đổi mới toàn diện do Đại hội VI đề

ra Đại hội chỉ ra 6 bài học chủ yếu qua mười năm thực hiện đổi mới Trong đó, có bàihọc tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, lấy lãnh đạo phát triển kinh tế làm nhiệm

vụ trọng tâm, xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt Đồng chí Đỗ Mười tiếp tục đượclàm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Tại Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấphành Trung ương Đảng khoá VIII (tháng 12-1997) đồng chí Lê Khả Phiêu được bầulàm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương thay đồng chí Đỗ Mười thôi giữ chứcTổng Bí thư để làm cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng Bộ Chính trị khoá VIII

Trang 10

cử đồng chí Nguyễn Văn An, uỷ viên Bộ Chính trị làm Trưởng Ban Tổ chức Trungương.

Trong nhiệm kỳ khoá VIII, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đề ra và chỉ đạothực hiện nhiều Nghị quyết quan trọng về công tác tổ chức, cán bộ: Nghị quyết Hộinghị Trung ương 3 về “chiến lược cán bộ trong thời kỳ Công nghiệp hoá, hiện đại hoáđất nước”, về “phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tiếp tục xây dựng Nhà nướccộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong sạch, vững mạnh” (18-6-1997); Nghị quyếthội Trung ương 6 (lần 2) “về một số vấn đề cơ bản và cấp bách trong công tác xâydựng Đảng hiện nay” (02-02-1999); Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 “về một sốvấn đề tổ chức, bộ máy của hệ thống chính trị về tiền lương, trợ cấp xã hội thuộc ngânsách Nhà nước” (16-8-1999) Thực hiện các Nghị quyết đó, Đảng tiếp tục được củng

cố về chính trị, tư tưởng và tổ chức; Nhà nước tiếp tục được tăng cường về chức năngquản lý nền hành chính được cải cách một bước; Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể quầnchúng tiếp tục được đổi mới về nội dung và phương pháp hoạt động; quyền làm chủcủa nhân dân trên các lĩnh vực được phát huy; một số chính sách và quy chế bảo đảmquyền làm chủ, trước hết ở cơ sở bước đầu được thực hiện

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng được tiến hành tại Hà Nội từngày 12 đến ngày 22 tháng 4 năm 2001, Quyết định tiếp tục tăng cường công tác xâydựng, chỉnh đốn Đảng, củng cố mối quan hệ mật thiết bỡi nhân dân; tập trung làm tốt

4 công tác quan trọng là: Giáo dục tư tưởng chính trị, rèn luyện đạo đức cách mạng,chống chủ nghĩa cá nhân; tiếp tục đổi mới công tác cán bộ; xây dựng, củng cố các tổchức cơ sở Đảng; đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng Đồng chí Nông Đức Mạnhđược bầu làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Bộ Chính trị cử đồngchí Trần Đình Hoan, uỷ viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng làm Trưởng Ban

Tổ chức Trung ương

Trải qua hơn 70 năm đấu tranh giành chính quyền, kháng chiến chống giặcngoại xâm, xây dựng, bảo vệ đất nước và tiến hành sự nghiệp đổi mới toàn diện theođịnh hướng xã hội chủ nghĩa, công tác tổ chức xây dựng Đảng không ngừng được duy

Trang 11

trì và phát triển Trong quá trình cách mạng, hệ thống các cơ quan tổ chức và đội ngũcán bộ làm công tác tổ chức của Đảng ngày càng trưởng thành, tích luỹ được nhiềukinh nghiệm phong phú, đúc kết từ thực tiễn sinh động của quá trình cách mạng và củacông tác xây dựng Đảng qua các thời kỳ, góp phần to lớn vào những thắng lợi vẻ vangtrong sự nghiệp cách mạng của Đảng và của dân tộc ta.

Câu 2: Những bài học kinh nghiệm chủ yếu về công tác tổ chức xây dựng Đảng trong 80 năm qua của Đảng Cộng Sản Việt Nam?

Thời đại ngày nay vẫn đang là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản đi lên chủnghĩa xã hội Đi lên chủ nghĩa xã hội là con đường tất yếu nhưng có thể bằng nhiềuhình thức, biện pháp khác nhau, thích hợp với hoàn cảnh, điều kiện lịch sử cụ thể.Hiện nay, sự phát triển mạnh mẽ của xã hội Trung Quốc và những thành công to lớncủa Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới là minh chứng thực tiễn cho sự nhận định củaV.I.Lê-nin: “chừng nào chúng ta chưa thực hiện được chủ nghĩa cộng sản toàn vẹn thìkhông một hình thức nào là vĩnh viễn cả Chúng ta không cho là chúng ta đã biết rõcon đường chính xác Nhưng chắc chắn và nhất định chúng ta sẽ đi tới chủ nghĩa cộngsản”

Trước những biến động, khủng hoảng và đổ vỡ của mô hình chủ nghĩa xã hộihiện thực ở Đông Âu và Liên Xô, trước những khó khăn của tình hình kinh tế - xã hộitrong nước, nhưng dưới ngọn cờ của Cách mạng Tháng Mười vĩ đại, Đảng ta vẫnvững vàng bản lĩnh chính trị, tin tưởng vào tương lai của chủ nghĩa xã hội Chính vìvậy, dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng đã vượt qua biết bao gian nan thửthách để đưa công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa tiếnlên một cách vững chắc Trong hoàn cảnh quốc tế hiện nay, khi nước ta đã gia nhập

Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), hoà nhập đầy đủ vào nền kinh tế thế giới, nhữngbài học của Cách mạng Tháng Mười và con đường lịch sử của hệ thống các nước xãhội chủ nghĩa Liên Xô và Đông Âu càng trở nên có ý nghĩa thiết thực đối với cáchmạng Việt Nam, nhất là đối với công tác xây dựng Đảng cầm quyền- một yếu tố có ý

Trang 12

nghĩa quyết định thành bại của công cuộc xây dựng phát triển đất nước, thực hiện mụctiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh Những bài học cóthể rút ra từ thực tế lịch sử ấy là gì?

1.Đảng phải kiên định với chủ nghĩa Mác – Lê Nin tư tưởng Hồ Chí Minh, đồngthời phải tôn trọng thực tiến, biết vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lê Nin, tưtưởng Hồ Chí Minh vào những hoàn cảnh lịch sử cụ thể

Sự kiện Liên Xô và Đông Âu sụp đổ là thực tế đau xót nhưng Cách MạngTháng Mười đâu phải là “sự lầm lạc lịch sử” như luận điệu sai trái của những kẻ cốtình xuyên tạc và phủ nhận Những khuyến điểm sai lầm, trong thực tiễn xây dựng chủnghĩa xã hội, thậm chí cả những biến dạng, lệch lạc của chủ nghĩa xã hội có thể làm đổ

vỡ một thể chế, làm tan rã một đảng, một nhà nước ở những thời điểm và tình huốngmang tính bi kịch, nhưng không vì thế mà chiều hướng lịch sử có thể thay đổi Trongtrường hợp thất bại của mô hình xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu, không thểchối cãi được rằng, nguyên nhân và trách nhiệm đầu tiên là thuộc về các đảng cộngsản và công tác xây dựng đảng, thể hiện trước hết có thể nhận ra là việc không trungthành, kiên định với chủ nghĩa Mác - Lê Nin theo 2 chiều hướng: một mặt, xa rời mụctiêu cách mạng và những nguyên tắc căn bản trong xây dựng và hoạt động của Đảng;mặt khác, vận dụng một cách máy móc, giáo điều những nguyên lý của chủ nghĩa Mác– Lê Nin, chủ quan, nóng vội, không đếm xỉa đến thực tiễn cũng như những yêu cầucuộc sống đang đặt ra

Ngày nay, khi đã có đội lùi lịch sử nhất định để nhìn lại công cuộc “cải tổ” ởLiên Xô thời kỳ những năm 80 của thế kỷ XX, có thể thấy, bộ phận lãnh đạo tối caocủa Đảng đã xuất phát từ những mong muốn chủ quan để đề ra và thực hiện nhữngchủ trương, biện pháp nhằm cứu vãn tình hình khủng hoảng Đó là công cuộc “cải tổ”

từ trên xuống, từ những ngôn từ nặng chất lý luận giáo điều, những triết lý thuần túy

lý thuyết, không đáp ứng những đòi hỏi cụ thể, thực hiện của các tầng lớp nhân dân

Có thể so sánh cuộc “cải tổ” ở Liên Xô như việc xây dựng nhà từ nóc xây xuống.Những sai lầm ấy là nguyên nhân dẫn Đảng tới sự suy yếu, mất sức chiến đấu, mất uy

Trang 13

tín trong xã hội, chia rẻ nội bộ, không đưa ra được những đường lối, chủ trương đúngđắn và kết cục là tự đánh mất vai trò lãnh đạo xã hội.

Từ bài học ấy cũng như từ chính thực tiễn công cuộc đổi mới của đất nước ta chothấy, chỉ có trung thành với lý tưởng và mục tiêu của cách mạng Tháng Mười, của chủnghĩa Mác – Lê-Nin, của chủ nghĩa xã hội khoa học, Đảng mới có thể đoàn kết, xâydựng đội ngũ vững mạnh giữ vai trò lãnh đạo xã hội, thực hiện thành công sự nghiệpxây dựng và phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa Tuy nhiên mộtĐảng trung thành với chủ nghĩa Mác – Lê-Nin, bao hàm sự trung thành đồng thời với

mục tiêu cách mạng mà học thuyết khoa học làm nên bản chất của học thuyết đó.

Trên cơ sở phân tích lịch sử một cách biện chứng, sâu sắc, các nhà kinh điển của chủnghĩa Mác Lê nin đã chi ra rằng, xã hội loài người tất yếu đi tới chủ nghĩa cộng sản.Điều này không phụ thuộc vào mong muốn hay ý chí của một hay nhiều người nào đó,

mà là quy luật vận động tất yếu của lịch sử Song, con đường đi tới chủ nghĩa cộng sảngắn liền với cuộc cách mạng về sự phát triển toàn diện của con người cùng các mốiquan hệ xã hội và xây dựng các yếu tố nhằm bảo đảm những điều kiện vật chất cho sựtồn tại và phát triển của chế độ đó Đó là một cuộc cách mạng triệt để nhất, khoa họcnhất, đòi hỏi sự sáng tạo lớn nhất trong lịch sử loài người từ trước tới nay

Chủ nghĩa Mác Lê Nin hình thành trên cơ sở phương pháp khoa học và đòi hỏiứng xử với nó một cách khoa học C.Mác và Ph.Ăng-ghen đã nhiều lần nhắc lại rằng,học thuyết của mình chỉ là “những nguyên lý tổng quát” và do đó “bất cứ ở đâu và bất

cứ lúc nào, việc áp dụng những nguyên lý đó cũng phải tuỳ theo hoàn cảnh lịch sửđương thời V.I Lê-nin đã nhiều lần nhắc đi, nhắc lại rằng, lý luận của chủ nghĩa Mác

là kim chỉ nam cho hành động cách mạng không phải là giáo điều, nó mang tính sángtạo và luôn luôn cần phải được bổ sung bằng sự tổng kết những bài học từ thực tiễncách mạng” Chính V.I Lê nin cũng là người đã tiếp nhận và vận dụng học thuyếtcách mạng của C.Mác, Ph Ăng-ghen vào điều kiện lịch sử cụ thể của nước Nga mộtcách đầy sáng tạo, mà tiêu biểu nhất là nhận thức mới về thời cơ và điều kiện nổ racuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa

Trang 14

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh nguyên tắc “lý luận phải liên hệ với thựctế” Người nói “ Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc căn bản củachủ nghĩa Mác – Lê-nin Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thi hành thực tiễn mùquáng Lý luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý luận suông” Người nhấn mạnhrằng, học tập, tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lê-nin là “học tập tinh thần của chủ nghĩa Mác– Lê-nin , học tập lập trường, quan điểm và phương của chủ nghĩa Mác – Lê-nin” đểvận dụng vào việc “phân tích và giải quyết các vấn đề cụ thể của cách mạng nước ta,cho hợp với điều kiện đặc biệt của nước ta” Ngay từ những năm tháng đầu tiên đónnhận học thuyết cách mạng Mác – Lê-nin, tổ chức ra Đảng cộng sản để tiến hành cuộccách mạng giải phóng dân tộc, giành độc lập cho đất nước, tự do cho nhân dân, HồChí Minh đã nhận thức và hành động nhất quán theo tinh thần ấy Người đã vận dụnghọc thuyết cách mạng xã hội chủ nghĩa vào tình hình cụ thể của Việt Nam, một nướcthuộc địa với nền sản xuất nông nghiệp lạc hậu, với đặc điểm hình thành dân tộc gắnliền với cuộc đấu tranh chinh phục thiên nhiên khắc nghiệt và cuộc đấu tranh kiêncường chống ngoại xâm, bảo vệ không gian sinh tồn của cộng đồng Trong điều kiện

ấy, quan điểm cơ bản, nhất quán của Hồ Chí Minh thể hiện ngay từ những văn kiện

đầu tiên của Đảng nhà độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội nhằm thực hiện

mục tiêu sống còn là đánh đổ đế quốc, thực dân, “làm cho nước An Nam được độclập”

Những thành tựu to lớn của đất nước ta giành được trong công cuộc đổi mớidưới sự lãnh đạo của Đảng chính là một bằng chứng đầy sức thuyết phục về phươngpháp khoa học, quan điểm “lý luận gắn với thực tế” Có thể nói rằng, những thành tựu

đó không tách rời sự đổi mới tư duy xuất phát từ những điều kiện kinh tế, xã hội cụthể của đất nước để từ bỏ dứt khoát cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung, quan liêu,bao cấp sang xây dựng nền kinh tế thị trường nhiều thành phần, định hướng xã hội chủnghĩa, mở ra những khả năng to lớn trong việc khai thác các tiềm năng trong xã hội đểphát triển kinh tế, mở rộng sản xuất, cải thiện đời sống nhân dân

Trang 15

Ngày nay khi nước ta đã gia nhập tổ chức Thương mại thế giới, nền kinh tếnước ta hội nhập đầy đủ vào hệ thống kinh tế toàn cầu, quan hệ chính trị, văn hoá,khoa học của nhà nước ta ngày càng mở rộng, đời sống văn hoá tinh thần và trình độnhận thức của người dân ngày càng được nâng lên Điều kiện đòi hỏi của Đảng ta càngphải kiêm định mục tiêu và con đường cách mạng đã chọn, trung thành với chủ nghĩaMác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những nguyễn tắc trong xây dựng và hoạtđộng của Đảng; đồng thời phải luôn luôn đề phòng chủ nghĩa giáo điều, cơ hội, luônluôn gắn bó lý luận với thực tiễn, xuất phát từ những yêu cầu của thực tiễn để phântích, vận dụng sáng tạo những nguyên lý khoa học của chủ nghĩa Mác – Lê-nin vàoviệc giải quyết những nhiệm vụ chính trị

2 Đảng phải liên hệ mật thiết với dân, lấy dân làm “gốc” “Chở thuyền là dân vàlật thuyền cũng là dân ” – bài học lịch sử đó mang tính phổ quát, không phải chỉ riêngcủa dân tộc ta Trong sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa, nhân dân không chỉ làquần chúng cách mạng, lực lượng thực hiện các nhiệm vụ chính trị để làm nên lịch sử,hơn thế, nhân dân chính là mục đích phát triển của chế độ Nói cách khác, mục đíchcuối cùng, quyết định của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa là nhằm phục vụ cho sựphát triển toàn diện của nhân dân trong cộng đồng dân tộc-của con người trong xã hội

Vì thế, sự liên hệ giữa Đảng với dân là một trong những điều kiện quyết định sự tồntại và vai trò chính trị thực tế của Đảng trong xã hội

Đảng liên hệ mật thiết với dân, lấy dân làm gốc thể hiện ở những bình diện, cấp

độ khác nhau như: Cán bộ, đảng viên sống gần gũi, chia sẻ với dân; Đảng thấu hiểutâm tư, nguyện vọng của dân; các đường lối, chủ trương của Đảng bảo vệ, phát triểnnhững lợi ích toàn diện, hợp lý của dân; dân tin tưởng, tự tham gia thực hiện cácnhiệm vụ chính trị do Đảng đề ra; dân trở thành hệ thống giám sát, bảo vệ Đảng, pháthiện, cảnh báo và lên án những biểu hiện sai trái trong bộ máy Đảng, Nhà nước; Đảngphải trở thành người đại diện cho quyền lợi, quyền lực cho giai cấp và dân tộc Đócũng chính là những điều kiện rất quan trọng bảo đảm sức mạnh cũng như khả năng

Trang 16

của Đảng trong việc đưa ra và thực hiện thắng lợi những nhiệm vụ xây dựng và pháttriển đất nước, bảo vệ sự bền vững của chế độ.

Trong những biến cố ở Liên Xô và Đông Âu trước đây có thể thấy một hiệntượng rất đáng suy nghĩ là người dân quay lưng lại với Đảng, không quan tâm hoặc làdửng dưng trước những biến cố dẫn đến sự sụp đổ của chế độ mà chính cha ông họ đãdựng nên, chính bản thân họ đã góp công sức để xây dựng Thậm chí, một bộ phậncông nhân đã trực tiếp tham gia vào những cuộc đình công, biểu tình, gây nên tìnhtrạng mất trật trự, rối loạn trong xã hội, chống lại Đảng và chính quyền Xô -Viết Nếuđem so sánh tình trạng này với không khí cách mạng sôi sục của các tầng lớp công-nông-binh trong thời kỳ cách mạng Tháng Mười, trong cuộc nội chiến và trong cuộcchiến tranh vệ quốc vĩ đại có thể thấy một sự tương phản tuyệt đối Vậy, nguyên nhânnào dẫn đến sự tương phản tuyệt đối này?

Có thể tìm thấy nguyên nhân sự tương phản này trong lời cảnh báo của V.I nin về nguy cơ quan liêu hoá xuất hiện trong quá trình Đảng cầm quyền, nguy cơ về

Lê-sự xa rời nhân dân của Đảng Người đã yêu cầu rất nghiêm khắc: “cần phải dùngnhiều hình thức và phương pháp kiểm tra từ dưới lên… để nhổ đi nhổ lại cho sạch hếtnhững cỏ rác bệnh quan liêu” Rất tiếc là Đảng cộng sản Liên Xô và Đảng khác ởĐông Âu đã không quan tâm đúng mức đến những lời cảnh báo này Hệ thống tổ chứccủa các Đảng đã dần dần trở nên hành chính hoá, hoạt động như một bộ máy quanliêu, ngày càng xa rời nhân dân Thậm chí, ngay cả khi có dấu hiệu cụ thể về một phậntrong nhân dân, nhất là công nhân đã có những phản ứng tiêu cực đối với Đảng, vớichế độ, họ cũng không có những chính sách, biện pháp cần thiết để cứu vãn tình hình

Có thể nói rằng, căn bệnh quan liêu, xa rời nhân dân đã làm cho đảng đánh mất chỗđứng trong nhân dân, cũng có nghĩa là đánh mất cơ sở quan trọng nhất cho sự tồn tại

và vai trò chính trị của mình trong xã hội

Trong lịch sử gần tám thập kỷ xây dựng phát triển và lãnh đạo cách mạng ViệtNam, cả từ lý luận đến hành động thực tế, Đảng ta luôn luôn thấm nhuần và tuân theonguyên tắc liên hệ mật thiết với dân, “lây dân làm gốc” Đối với cá nhân lãnh tụ, Hồ

Trang 17

Chủ Tịch khẳng định rõ ràng rằng: “tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, làlàm sao cho nước ta hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng

có cơm ăn, áo mặt, ai cũng được học hành” Đối với đảng viên, Hồ Chí Minh nhấnmạnh: “đảng viên nào không được dân tên, dân phục, dân yêu thì chưa xứng đáng làmột người đảng viên của Đảng lao động Việt Nam” Đối với Đảng, Người chỉ ra mộtcách rõ ràng rằng: “ngoài lợi ích của nhân dân, Đảng không có lợi ích nào khác” Đốivới Nhà Nước, Đảng ta khẳng định về mặt lý luận và đề ra các chủ trương, chính sáchthực tế nhằm xây dựng: “Nhà Nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, donhân dân, vì nhân dân” Và xã hội xã hội chủ nghĩa mà Đảng ta lãnh đạo nhân dân xâydựng là “xã hội dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh; do nhân dân làmchủ” Tất cả những điều ấy đều là hợp lý, đúng đắn, có sự bảo đảm từ thực chất khoahọc của hệ thống lý luận, từ tôn chỉ, mục đích đến những chủ trương chính sách cụthể, từ cơ chế hoạt động, những hành động thực tế, và quan trọng nhất là từ nhữngthành quả to lớn mọi mặt, từ những giá trị tinh thần, văn hoá, tri thức đến những lợiích vật chất mà Đảng, Nhà nước đã đem lại cho giai cấp, cho nhân dân, và cho đântộc

Ngày nay, với những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử của hơn 20 năm thựchiện đường lối đổi mới, đất nước ta đã có thế và lực mới, đang đứng trước những thời

cơ, thuận lợi lớn cho sự phát triển Tuy nhiên, những thách thức, khó khăn cũng khôngnhỏ, trong đó những nguy cơ đe doạ ảnh hưởng trực tiếp, mạnh mẽ đến nhận thức, tưtưởng, sự ổn định, việc làm, thu nhập và những giá trị tinh thần, vật chất khác của cáctầng lớp nhân dân Đó là sự xuất hiện của những vụ phá sản, của nạn thất nghiệp, sựphân hoá giàu nghèo tăng lên, những tệ nạn xã hội diễn biến phức tạp, sự xâm nhậpcủa những giá trị văn hoá tiêu cực… Mặt khác, sự sa sút về phẩm chất chính trị, đạođức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên; hiện tượng tham nhũng, lãng phí lantràng, chưa thể khắc phục triệt để; sự hạn chế về trình độ chuyên môn, về nhận thức,thái độ của không ít cán bộ trong triển khai thực hiện các chủ trưởng của Đảng, chínhsách của Nhà Nước, trong giao tiếp, xử lý các công việc liên quan đến người dân đang

Ngày đăng: 18/07/2013, 15:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w