TÁC ĐỘNG CỦA TRÌNH ĐỘ HỌC VẤN, TIỀM LỰC TÀI CHÍNH VÀ GIA CẢNH CÁ NHÂN ĐẾN QUYẾT ĐỊNH LỰA CHỌN NGHỀ NGHIỆP: LÀM CHỦ HAY LÀM THUÊ
Trang 1Tên công trình:
TÁC ĐỘNG CỦA TRÌNH ĐỘ HỌC VẤN, TIỀM LỰC TÀI CHÍNH
VÀ GIA CẢNH CÁ NHÂN ĐẾN QUYẾT ĐỊNH LỰA CHỌN
NGHỀ NGHIỆP: LÀM CHỦ HAY LÀM THUÊ
Thuộc nhóm ngành: Khoa học xã hội
HÀ NỘI, 2010
Trang 2MỤC LỤC
Trang
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI 5
1.1 Lý do nghiên cứu 5
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 7
1.2.1 Mục tiêu tổng quát 7
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 7
1.3 Phương pháp nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu và số liệu 8
1.3.1 Phương pháp luận 8
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 8
1.3.3 Số liệu 9
1.3.4 Biến 9
1.3.5 Cấu trúc của bài nghiên cứu 9
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 11
2.1 Tiềm lực tài chính 13
2.2 Hoàn cảnh gia đình 16
2.3 Giáo dục 18
CHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG, DOANH NGHIỆP VÀ MÔI TRƯỜNG KINH DOANH VIỆT NAM 29
3.1 THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG VIỆT NAM 29
3.2 DOANH NGHIỆP VIỆT NAM 34
3.3 MÔI TRƯỜNG KINH DOANH 42
CHƯƠNG 4: PHƯƠNG PHÁP LUẬN, PHÂN TÍCH SỐ LIỆU VÀ KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM 48
4.1 Phương pháp luận 48
4.2 Số liệu 49
Trang 34.3 Biến 50
4.4 Phân tích số liệu 51
4.5 Kết quả phân tích thực nghiệm 54
4.5.1 Gia cảnh cá nhân: 54
4.5.2 Tài chính: 56
4.5.3 Trình độ học vấn 61
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH 64
1 Tóm tắt kết quả nghiên cứu 64
2 Khuyến nghị chính sách 65
3 Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo 66
3.1 Hạn chế 66
3.2 Hướng nghiên cứu tiếp theo 67
TÀI LIỆU THAM KHẢO 68
Trang 4DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 1: Tóm tắt các kết quả nghiên cứu trước 26
Bảng 2: Lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc tại thời điểm 1/7 hàng năm 32 Bảng 3 : Lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc tại thời điểm 1/7 hàng năm 33 Bảng 4: Cơ cấu lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc tại thời điểm 1/7 hàng năm phân theo ngành kinh tế 34
Bảng 5 : Tỉ lệ lao động có việc làm phân theo trình độ chuyên môn kỹ thuật phân chia theo khu vực 35
Bảng 6: Tỉ trọng lao động trong nền kinh tế Việt Nam qua các năm: 37
Bảng 7 : Số lượng doanh nghiệp phân theo quy mô vốn đến 31/12/2007 38
Bảng 8: Số lượng doanh nghiệp phân theo quy mô lao động đến 31/12/2007 38
Bảng 9: Số doanh nghiệp hoạt động kinh doanh sản xuất tại thời điểm 31/12 hàng năm: 38
Bảng 10: Đóng góp vào GDP (tính theo %) của các khu vực: 40
Bảng 11: Giá trị sản xuất công nghiệp theo giá thực tế phân theo thành phần kinh tế (theo %): 41
Bảng 12: Thu nhập lao động theo thành phần sở hữu (đơn vị: triệu đồng) 41
Bảng 13: Cơ cấu vốn đầu tư và GDP theo thành phần kinh tế: 42
Bảng 14: Xếp hạng báo cáo môi trường kinh doanh của WB 2008 và (2009) 44
Bảng 15: Thống kê số liệu hồi quy 55
Bảng 16: kết quả hồi quy biến phụ thuộc = 1 nếu làm chủ doanh nghiệp trong khu vực tư nhân 59
Trang 5CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI 1.1 Lý do nghiên cứu
Doanh nghiệp tư nhân đã trở thành một lực lượng chính cho sự tăngtrưởng kinh tế nhanh và xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam trong thời gian gầnđây Bên cạnh một số lượng lớn doanh nghiệp hộ gia đình (trong khu vựckhông chính thức), rất nhiều doanh nghiệp đăng ký mới trong thập kỷ qua làkết quả của sự ra đời Luật Doanh nghiệp trong năm 2000 và 2005 Theo đó,
số doanh nghiệp tư nhân đăng ký mới đã tăng 160.000 doanh nghiệp trongsuốt giai đoạn 2000 – 2005 (Tô Trung Thành và cộng sự, 2009) Sự bùng nổcủa những doanh nghiệp tư nhân đã hấp thụ số lượng lớn số người thât nghiệptrong những thành phố lớn và những nông dân dư thừa ở khu vực nông thôn,
do đó đã có những đóng góp tuyệt vời cho tăng trưởng kinh tế ở Việt Namtrong những năm qua (Perkins và cộng sự, 2008)
Nhận thức được tầm quan trọng của những doanh nghiệp nhỏ đối vớităng trưởng kinh tế; chính phủ Việt Nam đã đưa ra nhiều chính sách khuyếnkhích phát triển doanh nghiệp tư nhân Tuy nhiên, vẫn có sự thiếu hụt nhữngchính sách đồng bộ nhắm tới những cá nhân đang phải đối mặt với sự lựachọn việc trở thành doanh nhân (tự làm chủ) hay trở thành người làm công ănlương
Những yếu tố quyết định sự lựa chọn nghề nghiệp giữa việc tự làm chủ
và làm thuê được đề cập nhiều trong lý thuyết nghiên cứu Thành tựu giáo dục
và các kênh truyền dẫn mà thành tựu giáo dục tác động đến xác suất trở thànhdoanh nhân, được đề cập nhiều trong những nghên cứu như Evans vàJovanovic (1989), De Wit (1993), Bernhardt (1994) và Lee (1999) Kinhnghiệm thị trường, tuổi tác thái độ đối với rủi ro, trạng thái hôn nhân, qui mô
hộ gia đình, đặc điểm hộ gia đình và quá trình đào tạo… những nhân tố khác
có tác động đến sự chọn lựa nghề nghiệp vủa cá nhân (Rees và Shah (1986),
Trang 6Dewit (1993), và Lee (1999)) Một số nhân tố như là nhóm dân tộc, tôn giáo,nhóm nhân tố nhập cư, cá nhân là người nhập cư hay người địa phương cũngđóng vai trò quan trọng trong việc chọn lựa nghề nghiệp (Borjas và Bronars,1989) Ngoài ra, không chỉ những nhân tố về vốn con người, biến vốn tàichính cũng là những nhân tố được phân tích trong nhiều lý thuyết việc làm,bao gồm Kidd (1993), Bernhardt (1994), Blanchower và Oswald (1998) vàConstant và Zimmermann (2006).
Đề tài này không chỉ nghiên cứu trong lý thuyết, mà còn nghiên cứu thựcnghiệm, đã có rất nhiều nghiên cứu về lĩnh vực này Tuy nhiên, hầu hết cáccông việc là những vấn đề tự làm chủ công việc của dân cư trong các quốc giaphát triển như Rees and Shah (1986), Borjas and Bronars (1989), Evans andLeighton (1989), Constant and Zimmermann (2006) Trong khi đó, lĩnh vựcnày vẫn còn đang được nghiên cứu ở các quốc đang phát triển nói chung vàđặc biệt là ở Việt Nam
Hiện thiếu hụt nghiêm trọng các nghiên cứu về những nhân tố đằng sau
sự lựa chọn kinh doanh ở Việt Nam Nghiên cứu của Vijverberg và Haughton(2002) là một trong những nghiên cứu hiếm hoi về chủ đề này, nhưng các tácgiả tập trung vào sự tồn tại và tăng trưởng của những doanh nghiệp hộ giađình, còn những nhà lãnh đạo doanh nghiệp hoặc các doanh nhân không phải
là trung tâm trong những nghiên cứu của họ Do đó, các yếu tố quan trọngđằng sau sự quyết định tự kinh doanh hay là làm công ăn lương chỉ được thảoluận vắn tắt trong những nghiên cứu này Sự thiếu sót trong những nghiên cứuthực nghiệm này ở Việt Nam đã dẫn đến sự thiếu kiến thức về sự chọn lựa củacác cá nhân để trở thành doanh nhân và do đó chính sách hướng tới doanhnhân ở Việt Nam đã bỏ lỡ một khía cạnh quan trọng cho sự phát triển củadoanh nghiệp tư nhân Có kiến thức tốt về những yếu tố quyết định tới sự lựachọn của các cá nhân này, các nhà chức trách có thể cung cấp thông tin phù
Trang 7hợp hơn, có sức thuyết phục và tập trung hỗ trợ cho những doanh nhân tiềmnăng thực sự và do đó tạo ra nhiều cơ hội hơn cho họ để thành công trongkinh doanh.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu tổng quát
Xác định vai trò quan trọng của khu vực việc làm tự chủ (self-employment)
và khu vực doanh nghiệp trong thị trường lao động tại Việt Nam, nghiên cứunày cố gắng bổ sung những khoảng trống nghiêm trọng bằng việc nghiên cứuthực nghiệm và tập trung vào những yếu tố quyết định sự lựa chọn nghềnghiệp của những cá nhân giữa sự tự chủ việc làm hay doanh nhân với ngườilàm công ăn lương Kết quả của nghiên cứu này có thể sẽ rất hữu ích và quantrọng cho các nhà hoạch định chính sách để thực hiện và đưa ra những chínhsách phù hợp cho sự phát triển doanh nghiệp và doanh nhân
- Những yếu tố nào là quan trọng nhất tác động đến lựa chọn nghề nghiệp,
và có mối liên hệ gì đến môi trường kinh doanh mà chính phủ xác lập,
- Dựa trên các kết quả nghiên cứu để đề xuất các khuyến nghị chính sáchnhằm tạo điều kiện thuận lợi ban đầu cho các doanh nghiệp tư nhân pháttriển
Trang 81.3 Phương pháp nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu và số liệu
1.3.1 Phương pháp luận
Xem xét hành vi sự lựa chọn giải thích cho việc quyết định việc làm trongthị trường lao động tại Việt Nam để trở thành một doanh nhân Và để đánhgiá những yếu tố tác động đến xác suất quyết định lựa chọn tự làm chủ (làmthuê cho chính mình) hoặc làm thuê (làm công ăn lương) thì mô hình logitnhư của Hout M và Rosen H (2000) được sử dụng
Hàm Logit sau được sử dụng :
SE = 0, nếu cá nhân quyết định làm công ăn lương) Nhóm các biến điềuchỉnh trong mô hình (C); nhóm các biến đại diện cho trình độ học vấn (E);nhóm các biến đại diện cho tiềm lực tài chính (F); và nhóm biến đại diện cho
gia cảnh cá nhân (H)
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu.
Để có được kết quả ước lượng thuyêt phục nhất, chúng tôi sẽ cố gắng đểthiết lập các mẫu là thuần nhất có thể Vì vậy, chúng tôi tập trung vào hành vitiền lương nhân viên toàn thời gian hoặc doanh nhân trong tất cả các khu vực
đô thị, và do vậy loại trừ thu nhập từ tiền lương bán thời gian, cá nhân trongnhững khu vực nông thôn hoặc hoạt động trong nông nghiệp Trên cơ sở mẫu
Trang 9đó, nghiên cứu sẽ tập trung vào hành vi của những cá nhân trong khu vựcthành thị trong việc quyết định trở thành người làm công ăn lương (hưởngtiền lương toàn thời gian) hay là một doanh nhân (kinh doanh tự chủ).
1.3.3 Số liệu
Nguồn dữ liệu chính cho nghiên cứu này là cuộc khảo sát mức sống chuẩn
hộ gia đình Việt Nam (VHLSS) tiến hành năm 2008 bởi tổng cục thống kê(GSO) với sự hỗ trợ kỹ thuật bởi Ngân hàng Thế Giới (WB) VHLSS baogồm mẫu đại diện là 9189 hộ gia đình tại tám khu vực địa lý của đất nước.Khảo sát này bao gồm một loạt các cá nhân và thuộc tính của các hộ gia đìnhnhư tuổi tác, giáo dục, tình trạng việc làm, ngề nghiệp, y tế, thu nhập và chitiêu, tiết kiệm, nhà ở, tiếp cận với các dịch vụ công, cũng như các đặc tínhvật lý và nhân khẩu học cơ bản, hoạt động kinh tế, cơ sở hạ tầng,… ở mức độchung Giữ liệu lấy từ cuộc khảo sát này thực sự là đầy đủ và rất hữu ích choviệc phân tích ước lượng
1.3.4 Biến
Những biến được sử dụng trong nghiên cứu này được chọn dựa trên các
đề xuất từ các nghiên cứu tổng quan như Bernhardt (1994), Evans vàJovanovic (1989), và Blanch_ower và Oswald (1998), Hout M và Rosen H.(2000) và các dữ liệu có sẵn trong nguồn mà chúng tôi lựa chọn
Các biến này có thể là cấp độ học vấn, kinh nghiệm làm việc trong thịtrường lao động, vị trí, hoạt động kinh tế, trạng thái hôn nhân, số lượng và độtuổi của trẻ em, giới tính, các nguồn tài chính (sở hữu nhà, những thu nhập từlương, những thu nhập từ vốn, và thu nhập khác)
1.3.5 Cấu trúc của bài nghiên cứu
Trang 10Cấu trúc của bài nghiên cứu theo như 7 chương sau:
Chương 1: Chương này sẽ cung cấp những lý do cho việc nghiên cứu.
chương này cũng đề cập đến mục tiêu, phạm vi của bài nghiên cứu và mô tảngắn gọn phương pháp luận và dữ liệu cho nghiên cứu Một vài giả thuyếtcũng sẽ được đề cập đến
Chương 2: Chương này sẽ cung cấp hình ảnh về thị trường lao động Việt
Nam, cả trong lĩnh vực tiền lương nhân viên và trong khu vực tự kinh doanh
và khu vực doanh nghiệp Chương này cũng sẽ cung cấp bối cảnh chung chocác nghiên cứu
Chương 3: Lý thuyết và nhận xét phân tích thực nghiệm sẽ được đề cập
đến trong chương này Việc xem xét sẽ kiểm tra những thiếu sót trong lýthuyết và phân tích thực nghiệm sẽ được bổ xung trong nghiên cứu này.Ngoài ra, chương cũng khuyến cáo một số kỹ thuật, phương pháp luận và cácbiến ứng dụng trong nghiên cứu này
Chương 4: Chương này được dành cho mô tả cẩn thận phương pháp luận,
dữ liệu, biến đo lường cụ thể cho việc phân tích và kết quả ước lượng
Chương 5: Chương này trình bày tóm tắt các kết quả ước lượng và khuyến
nghị chính sách Cuối cùng, các hạn chế của đề tài sẽ được nêu ra và phân tích
kỹ lưỡng, đi kèm với hướng nghiên cứu đề xuất trong tương lai
Trang 11CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC
Sự thiếu hụt nghiên cứu về đề tài này ở Việt Nam cũng là nguyên nhânkhiến các tác giả thực hiện bài nghiên cứu Đa phần các nghiên cứu mới đượcthực hiện ở các nước phát triển, như của Rees và Shah (1986), Blanchflower
và Oswald (1990) hay Le (1999) về Liên hiệp Anh; Evans và Jovanovic(1989) nghiên cứu về Mỹ; Evans (1989) và sau đó là Kidd (1993) ở Australia;
de Wit và Van Winden (1993) ở Hà Lan; Bernhardt (1994) tại Canada,Constant và Zimmermann (2006) về Đức Trong khi đó, lĩnh vực này vẫn cònđang được nghiên cứu ở các quốc đang phát triển nói chung và đặc biệt là ởViệt Nam Không có nhiều các nghiên cứu tương tự tại các nước đang pháttriển, mà trong số ít này có Cunningham và Maloney (1999) về Mexico, Earleand Sakova (2000) về các nền kinh tế chuyển đổi hay của Destré và V.Henrard (2004) về Colombia, Tamvada (2010) về Ấn Độ Nghiên cứu bởiVijverberg và Haughton (2002) hay của Trang Do và Duchêne (2007) là haibài viết hiếm hoi về chủ đề này ở Việt Nam Sau đây, chúng ta sẽ cùng điểmlại các nghiên cứu trước để xem những vấn đề gì đã được giải quyết vànghiên cứu của chúng tôi có thể lấp khoảng trống học thuật nào
Điểm qua một số lý thuyết về tự kinh doanh thì nhiều nghiên cứu xemxét sự khác nhau trong thái độ với rủi ro là nhân tố tác động chính đến quyếtđịnh lựa chọn này Hamilton (1995) cho rằng việc tự kinh doanh vốn đã mangnhiều rủi ro hơn là làm thuê, vì vậy mà người ghét rủi ro sẽ tránh tự đứng rakinh doanh Phái tân cổ điển lại chỉ ra rằng di dân là nhóm người dám chấpnhận rủi ro để cải thiện thu nhập và cuộc sống của mình nên họ có nhiều khảnăng tự làm chủ hơn các nhóm dân số khác Một hướng tiếp cận khác là tập
Trang 12trung vào sự khác biệt trong khả năng quản trị doanh nghiệp, như Jovanovic(1982) nhận định người có kỹ năng quản lý – lợi thế tương đối để điều hànhdoanh nghiệp– có khuynh hướng mở doanh nghiệp từ khi bắt đầu sự nghiệp
và cũng tồn tại được lâu hơn trong thương trường Lý thuyết thứ ba nhấnmạnh vai trò của khả năng tài chính (Evans và Jovanovic, 1989), cho rằngviệc thành lập và vận hành doanh nghiệp cần phải có đủ vốn, mà do nhiều lí
do, không phải ai cũng dễ dàng tiếp cận được
Lý thuyết về những yếu tố quyết định sự lựa chọn và tiến hành kinhdoanh đã được kiểm định trong thực tế Phương pháp được sử dụng nhiềunhất là hồi quy mô hình probit dạng cấu trúc và rút gọn (như của Ree và Shah,
1986 hay Bernhardt,1994) để tính toán xác suất quyết định tự làm chủ của cánhân Cách làm này dựa trên giả định cá nhân sẽ tối đa hóa lợi ích của mìnhqua việc lựa chọn công việc có thu nhập kỳ vọng cao hơn trong tương quanvới chi phí cơ hội, đồng thời cũng chịu ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố khác nhưtrình độ giáo dục, sự tiếp cận nguồn vốn, điều kiện kinh tế, hoàn cảnh giađình, thái độ đối với rủi ro, kinh nghiệm trên thị trường lao động,
Cá nhân (i) sẽ lựa chọn tự kinh doanh nếu mô hình probit cấu trúc sauđược thỏa mãn:
Prob (U ei − U wi > 0) = Prob (M> 0) = Prob [αα 1 + α 2 (lnY ei − lnY wi ) + α 3 lnC i
Trang 13phải thực tế hiển nhiên rằng các mức thu nhập kỳ vọng không thể quan sátđược mà chỉ có số liệu về thu nhập trong trạng thái việc làm hiện tại Parker(2003), Constant và Zimmerman (2006) đề nghị dùng mô hình hai thời kỳcủa Heckman (1979) để ước lượng các mức thu nhập kỳ vọng này:
E(lnY ei |Z i , M> 0) = λ e Z i + π e δ ei +ε ei
E(lnY wi |Z i ,M< 0) = λ w Z i + π w δ wi +ε wi
Destrés và Henrad (2004) trên cơ sở đó đã gợi ý sử dụng công thức củaThomas (2000) khi mà hàm phân phối bị gián đoạn Các vấn đề liên quan đếnchi tiết kỹ thuật của mô hình sẽ được thảo luận kỹ hơn ở chương 4 Cácnghiên cứu sau đã phát triển quá trình thực hiện thành kỹ thuật 3 bước, gồm(1): hồi quy mô hình probit rút gọn về hành vi lựa chọn của cá nhân, sau đó(2): hồi quy ước lượng thu nhập kỳ vọng của mỗi cá nhân (dùng mô hình 2thời kỳ của Heckman, 1979) và (3): sử dụng các giá trị ước lượng này để hồiquy mô hình probit cấu trúc
Hầu hết các nghiên cứu chỉ ra rằng mối quan hệ giữa tiềm lực tài chính
và gia cảnh cá nhân có ảnh hưởng tích cực tới thiên hướng kinh doanh, nhưngảnh hưởng của giáo dục tới xu hướng quyết định lựa chọn tự làm chủ hay việclàm lương lại không rõ ràng
2.1 Tiềm lực tài chính
Liệu cá nhân phải tự cấp vốn cho công việc kinh doanh của mình finance) hay thị trường sẽ cấp vốn là câu hỏi còn bỏ ngỏ Frank Knight(1921), như Evans và Jovanovic (1989) đã dẫn, cho rằng thị trường vốn cungcấp không đủ vốn cho các cá nhân tự đứng ra kinh doanh do lo ngại rủi ro đạođức cũng như lựa chọn ngược, chính vì vậy, cá nhân phải tự huy động vốn và
(self-tự chịu rủi ro khi công việc kinh doanh gặp bất trắc Trong khi đó,Schumpeter (1934, 1950) , lại cho rằng doanh nhân chỉ phải tìm ra các cơ hội
Trang 14tìm kiếm lợi nhuận và đẩy rủi ro sang phía nhà tư bản nào sẵn sàng cấp vốncho họ kinh doanh.
Các nghiên cứu tiêu biểu xem xét tiềm lực tài chính như là yếu tố quyếtđịnh đến lựa chọn nghề nghiệp của cá nhân (theo lý luận của Knight) có thể
kể ra như của Evans và Jovanovic (1989), Bernhardt (1994), Blanchflower vàOswald (1998), hay Destrés và Henrad (2004), rồi Constant và Zimmermann(2006) Sử dụng các cách tiếp cận khác nhau, các nghiên cứu đều chỉ ra rằngràng buộc thanh khoản có vai trò quan trọng, nó vừa là tiền đề để các doanhnhân khởi nghiệp nhưng cũng trở thành rào cản cá nhân tự đứng ra kinhdoanh
Evans và Jovanovic (1989) khi nghiên cứu mẫu gồm 1839 nam giới datrắng ở Mỹ đã nhận thấy có mối tương quan dương giữa xác suất tự làm chủvới số tài sản sở hữu khi và chỉ khi có sự hạn chế về vốn: người có nhiều tàisản hơn có thể khởi nghiệp với mức vốn ban đầu hiệu quả hơn và đạt thunhập cao hơn, còn người nghèo hơn phải dành nhiều hơn trong phần tài sản đã
có cho công việc kinh doanh của mình Tuy nhiên mối tương quan này giảmdần theo thời gian, khi các doanh nghiệp lớn mạnh hơn Một điều đáng chú ýkhác là các doanh nghiệp nhỏ hơn, đối mặt với ràng buộc thanh khoản chặthơn thì lại có xu hướng phát triển ở tốc độ nhanh hơn, trong điều kiện các yếu
tố khác không đổi Các tác giả cũng nhận thấy rằng việc chỉ lựa chọn một nửatrong tổng số quan sát để hồi quy, đi kèm với mô hình tĩnh giản đơn về ràngbuộc thanh khoản là 2 hạn chế trong bài nghiên cứu này và đề xuất thực hiện
mô hình có thêm nhiều biến mang đặc điểm cá nhân hơn để kiểm soát các yếu
tố này
Bernhardt (1994) sử dụng mô hình probit rút gọn và cấu trúc như Rees vàShah(1986) hay Borjas và Bronars (1989) khi nghiên cứu mẫu của Canadacũng cho các kết luận đáng lưu ý Tác giả sử dụng 3 biến giải thích để phản
Trang 15ánh khả năng tài chính của một cá nhân: biến giả phản ánh thu nhập của vợ(=1 nếu vợ có việc làm), biến giả phản ánh sở hữu tài sản cố định (=1 nếuđang sở hữu ngôi nhà đang ở) và biến thu nhập từ đầu tư Việc sở hữu tài sản
có giá trị như ngôi nhà và vợ có việc làm hưởng lương một mặt giảm thiểu rủi
ro do sự dao động trong thu nhập từ việc kinh doanh, mặt khác cải thiện khảnăng huy động vốn Holtz-Eakin, Joulfaian và Rosen (1994) ví von thu nhậpcủa người vợ có vai trò như “tấm lưới an toàn” cho công việc có tính rủi rocao của người chồng Kết quả hồi quy cho thấy các biến đều có ý nghĩa thống
kê cao Destrés và Henrad (2004) khi áp dụng mô hình tương tự choColombia thì chỉ có biến thu nhập từ vốn không có ý nghĩa, do trong thống
kê, giá trị của biến này trong 2 mẫu quan sát không khác nhau nhiều trong khi
ở mẫu Canada, sự chênh lệch là 3,61 lần Constant và Zimmermann (2006)khi nghiên cứu động lực đằng sau quyết định tự kinh doanh của 2 nhóm dân
số là di dân và bản địa ở Đức đều thấy các biến như sở hữu nhà và sự quanngại về tài chính dường như gia tăng khả năng trở thành doanh nhân của cả 2nhóm Với người đàn ông đã kết hôn thì xác suất làm chủ doanh nghiệp cũngtăng lên, song khi có con thì lại giảm đi do trách nhiệm phải có thu nhập ổnđịnh để nuôi cả gia đình tăng lên
Blanchflower và Oswald (1998) thì tiếp cận khả năng tài chính ở góc độkhoản thừa kế hay quà biếu mà cá nhân được hưởng Nhận thấy các nghiêncứu trước của Evans và các cộng sự bỏ ngỏ khả năng ràng buộc tài chính cònphụ thuộc vào các yếu tố khác, hai tác giả lập luận việc được thừa hưởng tàisản do người khác để lại cũng giúp cá nhân khởi nghiệp kinh doanh của mình.Như vậy, kể cả khi không bị ràng buộc trong vấn đề tài chính, vẫn có tươngquan giữa tài sản sở hữu với xu hướng tự làm chủ của cá nhân Việc đượcthừa hưởng sản nghiệp của gia đình cũng có thể dùng để giải thích mối tươngquan này Hai tác giả đi vào nghiên cứu tác động của việc thừa kế lên khả
Trang 16năng tự kinh doanh giữa các nhóm tuổi và đi đến kết luận rằng việc đượcnhận thừa kế có ảnh hưởng tích cực lên xác suất tự đứng ra kinh doanh củamột cá nhân điển hình khi các yếu tố khác không đổi
2.2 Hoàn cảnh gia đình
Nhân tố thứ hai tác động tới quyết định lựa chọn làm thuê hay doanh nhân
là đặc điểm gia đình Tình trạng hôn nhân, số trẻ em phụ thuộc hay công việccủa vợ/chồng là những khía cạnh chính được xem xét đối với nhân tố này.Rees và Shah (1986) sử dụng số liệu từ General Household Survey 1978 với
11794 hộ gia đình và 4762 chủ hộ, áp dụng mô hình probit để xác định chênhlệch thu nhập kỳ vọng giữa làm thuê và làm chủ với giả định cá nhân sẽ lựachọn công việc đem lại thu nhập cao hơn Rhe và Sha cho rằng một người đã
có gia đình sẵn sàng chấp nhận rủi ro hơn so với người chưa có gia đình.Đồng thời sự ủng hộ của gia đình có thể làm giảm đi những đòi hỏi khó khăncủa lựa chọn là doanh nhân hơn là chưa có gia đình
Không nhằm mục đích làm rõ sự khác biệt giữa hai lựa chọn (doanh nhânhay làm thuê), Christopher Dawson, Andrew Henley và Paul Latreille (2009)tìm hiểu mối quan hệ của lựa chọn doanh nhân với các động cơ dẫn tới lựachọn đó, đồng thời xem xét tác động của yếu tố nền, nhân khẩu học của một
cá nhân tới quyết định tự làm chủ Bộ số liệu sử dụng được lấy từ UnitedKingdom Quarterly Labour Force Survey từ 1999 đến 2001, thực hiện với gần
59000 hộ và 138000 cá nhân trong mỗi lần Quy mô số liệu lớn cung cấp chocác tác giả mẫu quan sát lớn, và thuận lợi cho việc phân tích các nhóm quansát đặc biệt Với kết quả điều tra từ các bảng hỏi chi tiết, các tác giả sử dụng
mô hình ước lượng của Satori (2003) để thực hiện các kiểm định Kết quả chothấy, việc có trẻ phụ thuộc làm tăng xác suất lựa chọn doanh nhân Cách giảithích chính xác cho mối quan hệ này thật sự không rõ ràng, nhưng có thể hiểulựa chọn tự làm chủ trong trường hợp này nhằm hướng đến một thời gian làm
Trang 17việc linh hoạt hơn Không có thống kê có ý nghĩa nào chỉ ra mối quan hệgiữa tình trạng hôn nhân và lựa chọn làm doanh nhân, nhưng các hệ số làđáng tin cậy: tiêu cực đối với người có gia đình và tích cực đối với người đãtừng kết hôn (kể cả đã ở góa hay đã ly dị) và những người chưa kết hôn Kếtquả này trái ngược hẳn với Rees và Shah (1986) như nói ở trên.
Nếu trong hai nghiên cứu trên, đặc điểm gia đình chỉ là một phần trongphân tích tác động thì Hout M and Rosen H.(2000) lại xem đó như là vấn đềtrung tâm để phân tích Sử dụng số liệu của General Social Survey(University of Chicago), từ 1973 đến 1996, mẫu quan sát chỉ bao gồm nam từ
25 đến 64 tuổi, làm việc ngoài khu vực nông nghiệp và có trên 15 giờ laođộng 1 tuần Mô hình logit được sử dụng cho phân tích Kết quả cho thấy, nếucha là một doanh nhân thì khả năng người con là doanh nhân cao hơn Ảnhhưởng của cỡ hộ là không đáng kể, khi cỡ hộ lớn hơn sẽ làm giảm xác suất trởthành doanh nhân Tương tự với cấu trúc gia đình, ảnh hưởng là không đáng
kể, tuy nhiên cá nhân cá nhân sống thiếu cả cha và mẹ thì xác suất làm chủthấp hơn (tương tư với ý kiến của Rhe và Sha về sự ủng hộ của gia đình).Tương tự, việc thử đưa thêm biến có con nhỏ cũng không ảnh hưởng nhiềuđến xác suất Người độc thân có xác suất thành doanh nhân thấp hơn cả Tuynhiên, đàn ông đã từng cưới – bất kể tình trạng hôn nhân bây giờ ra sao – lại
có khả năng làm chủ doanh nghiệp cao hơn
Qua một số nghiên cứu ta thấy rằng, tác động của mỗi nhân tố lại khácnhau với mỗi nghiên cứu Trong khi Rees và Shah cho rằng có gia đình ảnhhưởng tích cực đến việc trở thành doanh nhân thì Henley và đồng nghiệp lại
có ý kiến trái ngược, với kết luận của Hout M và Rosen H thì ảnh hưởng củatình trạng hôn nhân lại không rõ ràng Sự sai khác đó có thể do chọn mẫu hayphương pháp khác nhau Để có một đánh giá chính xác cho Việt Nam, chúng
ta cần phải xem xét cụ thể
Trang 182.3 Giáo dục
a Giáo dục có tác động tích cực đáng kể tới người làm thuê (employee),nhưng không ảnh hưởng nhiều tới quyết định tự làm chủ (self-employment)như nghiên cứu của Carolona Castagnetti, Francesco Chelli và Luisa Rosti(2008) Bài nghiên cứu nhấn mạnh vai trò của giáo dục ảnh hưởng tới thunhập cá nhân quết định tự làm chủ Tác giả xây dựng hàm hiệu suất giáo dụcgồm các biến kết quả học tập cuối kỳ và thời gian mà sinh viên hoàn thành sựnghiệp học tập Cũng như các bài nghiên cứu trước tác giả tiến hành hồi quyhàm thu nhập đối với người làm thuê toàn thời gian và người làm chủ bằngviệc kiểm soát lựa chọn của cá nhân Các tác giả ước tính mô hình lựa chọnmẫu bằng phương pháp 2 bước của Heckman (1979) tiến hành kiểm tra lại kếtquả ước lượng bằng mô hình probit với biến nhị phân - nếu cá nhân có mứclương cao trong 2 trạng thái nghề nghiệp Cuối cùng kết quả được chỉ ra giáodục có tác động không đáng kể vào khu vực làm chủ nhưng có tác động đáng
kể vào khu vực làm thuê
b Giáo dục có tác động đáng kể đến quyết định tự làm chủ doanh nghiệpNghiên cứu của Alba-Ramirez và San Segundo (1995) cung cấp kết quảước lượng mô hình với số liệu ở Tây Ban Nha Giáo dục được xét là số nămgiáo dục và bằng cấp giáo dục cao nhất đạt được Kết quả cho thấy tác độngcủa giáo dục đại học là đáng kể và cao hơn đối với cá nhân quyết định tự làmchủ doanh nghiệp Cho kết quả khác biệt hơn, nghiên cứu của Garcia-Mainar
và Montuenga-Gosmez (2005) hỗ trợ tiếp kết quả nghiên cứu về Tây BanNha Ảnh hưởng trở lại cấp giáo dục cao hơn là thấp hơn đối với cá nhânquyết định tự kinh doanh
Rees & Shah (1986) sử dụng bộ số liệu General Household Survey 1978của Anh với khoảng 11,794 hộ gia đình Với mục đích xem xét sự tác độngqua lại giữa tình trạng việc làm và thu nhập, mẫu quan sát chỉ bao gồm những
Trang 19người làm việc đủ thời gian (trên 30 tiếng/tuần), hồi quy probit với biến nhịphân đại diện cho quyết định lựa chọn nghề nghiệp cá nhân, chỉ ra sự khácnhau giữa hai quyết định bằng chênh lệch trong thu nhập đối với mỗi lựachọn Hai tác giả cho rằng giáo dục có ảnh hưởng tới tích cực đến lựa chọn tựlàm chủ Tác động có thể xảy ra theo hai cách Thứ nhất, giáo dục đóng vaitrò như một bộ lọc mà những người được đào tạo cao hơn sẽ muốn đồng bộkhả năng của họ Thứ hai, họ cũng có xu hướng hiểu biết hơn và do đó đánhgiá tốt hơn cơ hội tự làm chủ của mình Kết quả hồi quy cho thấy các biến đặctrưng cho giáo dục tác động tích cực và đáng kể tới thu nhập của người tự làmchủ.
Justin van der Sluis, Mirjam van Praag và Wim Vijverberg nghiên cứutổng quan các nghiên cứu thực nghiệm trước đó đánh giá tác động của giáodục chính thức về sự lựa chọn và tiến hành kinh doanh trong những quốc giaphát triển Sử dụng phương pháp phân tích meta-analysis tác giả miêu tả ảnhhưởng chủ yếu được nhận thấy trong nghiên cứu và giải thích sự mâu thuẫn
về kết quả qua nhiều nghiên cứu trước đó Năm kết luận chính được chỉ ra từphân tích meta-analysis là: Tác động của giáo dục đi đến quyết định lựa chọnkinh doanh là đáng kể; ảnh hưởng của giáo dục tới việc tiến hành kinh doanh
là đáng kể; tác động biên của số năm giáo dục cho một doanh nhân là 6,1%;ảnh hưởng của giáo dục về thu nhập là nhỏ hơn cho các doanh nhân nhưngnhỏ hơn ở Mỹ; Tác động trở lại của giáo dục đến thiên hướng tự kinh doanh ở
Mỹ là cao hơn châu Âu (xem thêm Van Der Sluis và cộng sự)
Peter van der Zwan, Ingrid Verheul, Roy Thurik và Isabel Grilo (2009)
sử dụng dữ liệu năm 2007 khảo sát ở châu Âu về tinh thần kinh doanh,No.192” của hội nghị châu Âu gồm 20.674 quan sát gồm 25 nước thành viên
và Norway, Iceland, US Bằng cách sử dụng một mô hình logit tích lũy, môhình cơ bản đánh giá tác động của các biến giải thích về sự chênh lệch (tỷ lệ
Trang 20hai xác suất) nghiên cứu về tiến trình kinh doanh bao gồm năm cấp độ nghiêncứu "không bao giờ xem xét mở doanh nghiệp", "tư duy về điều đó", "thựchiện các thủ tục", "đang kinh doanh dưới ba năm" và "đang kinh doanh trên
ba năm" Kết quả thu được chỉ ra rằng tác động của giáo dục là tích cực vàđáng kể cho sự chuyển đổi nhận thức đầu tiên ("không bao giờ nghĩ tới" điđến "tư duy tự kinh doanh"), không đáng kể cho sự chuyển đổi tiếp theo ("tưduy" để "thực hiện các bước kinh doanh") và tiêu cực đáng kể khi đi đến cáccấp độ quyết định kinh doanh tiếp theo nữa (nghĩa là "thực hiện các bước" tới
“đang kinh doanh dưới 3 năm” và “đang kinh doanh sau 3 năm") Giáo dụctinh thần kinh doanh xuất hiện thực sự quan trọng đối với việc có ý định tựkinh doanh ban đầu, nhưng không có hiệu lực vào quá trình chuyển đổi trongtương lai Vai trò của người làm gương, cụ thể là thành viên trong gia đình sởhữu doanh nghiệp riêng ảnh hưởng đáng kể đến xu hướng quyết định tự kinhdoanh
Nghiên cứu của Joern H Block, Lennart Hoogerheide và Roy Thurik(2009) khi đo lường ảnh hưởng của trình độ học vấn đến xu hướng quyết định
tự làm chủ doanh nghiệp gặp phải khó khăn là đưa biến đại diện cho trình độhọc vấn vào mô hình như một biến nội sinh Giáo dục xuất hiện như là biếnnguyên nhân trong mô hình kinh tế trong khi nó có mối tương quan trong thực
tế với sai sót trong mô hình (Van der Sluis và cộng sự, 2008) Sự tương quannày có thể qui cho nguyên nhân sai sót trong đo lường hoặc bỏ qua biến.Nguyên nhân khác bao gồm, tự hồi qui với khuyết tật tự tương quan và mẫukhông ngẫu nhiên (Kennedy, 2008) Nghiên cứu của Joern H Block Lennart,Hoogerheide và Roy Thurik (2009) lần đầu tiên đưa giáo dục vào mô hìnhnhư một biến nội sinh bằng cách sử dụng hồi qui biến công cụ và dữ liệu từhơn 10.000 cá nhân ở 27 quốc gia châu Âu và Mỹ, chỉ ra rằng tác động củagiáo dục tới quyết định thành lập doanh nghiệp, có tác động mạnh và tích cực
Trang 21Cá nhân có cấp độ giáo dục cao hơn có khả năng lớn hơn khởi đầu một doanhnghiệp Kết quả nghiên cứu của họ cũng chỉ ra rằng mô hình logit, probitchuẩn đánh giá không đúng mức tác động mạnh mẽ của giáo dục đến quyếtđịnh lựa chọn kinh doanh và có thể đưa đến kết quả sai lệch.
c Giáo dục có tác động tiêu cực tới quyết định lựa chọn làm chủ:
Tamvada, Jagannadha Pawan, Max Planck (2010) tập trung vào lĩnh vựcphi nông nghiêp, trình độ giáo dục cao làm giảm quyết định lựa chọn trởthành người làm chủ qua thời gian và tác động ngược lại trong lĩnh vực nôngnghiệp Tác giả đã tiến hành ước lượng mô hình với 2 khu vực nông nghiệp
và phi nông nghiệp trong 2 năm 2000 và 2004 Tương tự như các nghiên cứutrước biến phụ thuộc là biến nhị phân, các biến tham số là giới, tình trạng hônnhân, giáo dục, khu thành thị, tài sản, biến cấu trúc
Trong lĩnh vực phi nông nghiệp biến giáo dục làm giảm xác suất củangười làm chủ trong năm 2004, và nó có tác động đáng kể trong năm 2000(tương tự, Lucas (1978) và Iyigun và Owen (1999)) Trong lĩnh vực nôngnghiệp, giáo dục làm tăng xác suất trở thành người làm chủ trong cả hai năm.Kết quả cuối cùng cho thấy, người có giáo dục cao dường như trở thànhngười làm chủ trong lĩnh vực phi nông nghiệp năm 2000, nhưng xác suất íthơn trong năm 2004
Tác giả chọn mẫu hẹp hơn là đàn ông đang làm việc trong lĩnh vực phinông nghiệp và nông nghiệp Các biến thể hiện mức giáo dục cao hơn và giáodục kỹ thuật tác động không đáng kể Trong lĩnh vực phi nông nghiệp, giáodục phi chính thức giảm khả năng trở thành người làm chủ Tác động của việc
có bằng kỹ thuật là tiêu cực Tiếp theo, tác giả tiến hành xây dựng mô hìnhvới cá nhân làm việc trong lĩnh vực phi nông nghiệp ở nông thôn, và làm phinông nghiệp ở thành thị Kết quả thực nghiêm cho thấy, giáo dục có tác độngtiêu cực đáng kể Tiến hành nghiên cứu cụ thể hơn với mẫu đàn ông ở thành
Trang 22thị, cho thấy tác động tiêu cực của giáo dục với việc lựa chọn làm chủ của cánhân Trong khu vực nông nghiệp, giáo dục lại có tác động đáng kể đến việcquyết định làm chủ của một cá nhân trong năm 2004, tác động này mạnh hơn
so với năm 2000 Và đặc biệt tác động tới việc lựa chọn làm chủ cao nhất đốivới khu vực giáo dục phi chính thức Cá nhân có bằng cấp giáo dục trong lĩnhvực nông nghiệp có xu hướng quyết định trở thành người làm chủ
Anh T.Le (1999) nghiên cứu về những yếu tố tác động đến quyết định tựkinh doanh cá nhân người nhập cư ở Australia với dữ liệu được sử dụng trongnghiên cứu “Điều tra dân số và nhà ở Australia, 1981 và 1991”, chỉ ra ảnhhưởng tới việc tự kinh doanh bởi cả hai biến vốn con người và vốn phi conngười (xem Le, 1999) Phân tích tập trung miêu tả nhóm dân số, nhóm 15-64làm công ăn lương hoặc tự kinh doanh và thu nhập theo giờ Với biến phụthuộc là thiên hướng tự kinh doanh, sử dụng mô hình logit với 2 mô hình :MH1 bao gồm biến vốn con người, đặc điểm mối quan hệ công việc, địaphương người nhập cư, và tôn giáo, nơi sinh; MH2 bao gồm các biến trong
MH1, nhưng biến enclave được tạo với biến ngôn ngữ của người nhập cư
Kết luận được Le đưa ra từ bài nghiên cứu là hầu hết những biến ảnhhưởng quan trọng là giáo dục, kinh nghiệm thị trường lao động, thành thạotiếng Anh, sở hữu nhà (yếu tố vốn), trạng thái hôn nhân, và trạng thái nghềnghiệp Người không phải quốc tịch Australia tác động tích cực hơn so vớingười có quốc tịch Australia tới xu hướng quyết định tự làm chủ Đặc biệt cánhân có vợ chồng, sở hữu nhà cao hơn trong xu hướng tự kinh doanh Trái lại,giáo dục làm giảm xu hướng tự làm chủ
Guillaume Destrés và Valentine Henrad 2004 thì sử dụng biến đại diệncho giáo dục là “no schooling” (không theo trường lớp), cấp 1, cấp 2 và đạihọc Mẫu quan sát là đàn ông, từ 18-70 tuổi là chủ hộ lấy từ Điều tra Hộ giađình ở Colombia (ENH) tháng 06/1996 Hai tác giả dùng mô hình cấu trúc
Trang 23như của Rees và Shah (1986) hay của Bernhardt (1994), trong đó quyết địnhlựa chọn làm chủ hay làm thuê phụ thuộc phần lớn vào chênh lệch thu nhập
kỳ vọng giữa hai trạng thái Giáo dục cho tác động âm, đối với cấp đại học thìảnh hưởng âm còn lớn hơn, có thể là vì giáo dục đại học mang lại lợi ích lớnhơn cho người làm thuê như de Wit đã chỉ ra (1993)
d Giáo dục không ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn của cá nhân:Trang, Do và Duchêne (2007) sử dụng bộ số liệu Điều tra mức sống ViệtNam (VLSS) năm 2004 Mô hình hồi quy 3 bước: bước 1, hồi quy mô hìnhprobit giảm; bước 2 ước lượng hồi quy thu nhập với 2 trạng thái nghề nghiệp;bước 3 ước lượng mô hình probit để xem xét chênh lệch lợi ích giữa 2 trạngthái Biến giải thích đại diện cho giáo dục là số năm đến trường ở các mức (1-
5, 6-9, 10-12) cấp giáo dục cao hơn là biến giả với mức ít nhất là có 15 nămgiáo dục Ngoài ra, còn biến giả những người có tham gia khóa đào tạo nghề.Kết quả được chỉ ra trong nghiên cứu là giáo dục ảnh hưởng tiêu cực tới xuhướng quyết định tự làm chủ của cá nhân
Trang 24Bảng 1: Tóm tắt các kết quả nghiên cứu trước.
Tác giả, năm Dữ liệu, mẫu
Đo lường
và phương pháp kỹ thuật mô hình
Ảnh hưởng của giáo dục, tiềm lực tài chính và gia cảnh cá nhân
Kết quả phân tích thực nghiệm & Chú ý khác
Mô hình sử dụng biến nhị phân đại diện cho quyết định lựa chọn nghề nghiệp của
cá nhân (MH probit)
Tác động của giáo dục: Ảnh
hưởng hình chữ
U ngược
Tác động tiềm lực tài chính và
gia cảnh cá
có ảnh hưởng tới quyết định của việc
tự làm chủ
- Người đã có gia đình sẵn sàng chấp nhận rủi ro hơn so với người chưa có gia đình
5225 đàn ông, tuổi
14-24, năm 1966 định kỳ tới 1981.
Mô hình probit
Tác động của giáo dục: Ảnh
hưởng tiêu cực
Tiềm lực tài chính như là
một yếu tố quyết định
- Việc thành lập và vận hành doanh nghiệp cần phải có
đủ vốn, mà do nhiều
lí do, không phải ai cũng dễ dàng tiếp cận được.
Bernhardt,
1994
Mẫu được chọn là đàn ông da trắng trong Canada.
Mô hình probit giảm (MH hai khu vực).
Tác động của tiềm lực tài chính là rõ
ràng Như là một yếu tố quyết định sự lựa chọn
- Thu nhập tiềm năng là yếu tố quyết định.
- Tự làm chủ có mức thu nhập cao hơn.
Le, 1999 Tác giả sử dụng dữ
liệu nghiên cứu “Điều tra dân số và nhà ở Australia, 1981 và 1991”
Tập trung miêu tả nhóm 15-64 tuổi làm công ăn lương hay tự
Mô hình logit, probit được tác giả sử dụng trong nghiên cứu Nghiên cứu các yếu tố
Tác động của giáo dục: Ảnh
hưởng tiêu cực
Tác động tiềm lực tài chính và
gia cảnh cá
nhân: Việc có
sở hữu nhà có
- Biến ảnh hưởng quan trọng là giáo dục, kinh nghiệm thị trường lao động, thành thạo tiếng Anh, sở hữu nhà, trạng thái hôn nhân,
và trạng thái nghề
Trang 25kinh doanh và thu nhập theo giờ
tác động đến xu hướng quyết định
tự làm chủ của những người nhập
cư ở Australia
tác động mạnh nghiệp
- Đặc biệt cá nhân
có vợ chồng, sở hữu nhà xác suất cao hơn trong xu hướng
tự kinh doanh
- Giáo dục làm giảm
xu hướng tự làm chủ
Mẫu quan sát: Nam,
25-64 tuổi, làm công việc ngoài nông nghiệp trên 15 giờ lđ/tuần
Mô hình logit, tính toán xác suất một cá nhân quyết định tự làm chủ
Xem xét mối quan
hệ giữa bối cảnh gia đình, và chủng tộc với quyết định kinh doanh
Tác động của giáo dục: Ảnh
hưởng
Gia cảnh cá
nhân: Tác động
tích cực Như là một yếu tố trung tâm
- Cha từng là doanh nhân, khả năng con làm doanh nhân cao hơn
- Cỡ hộ có ảnh hưởng đáng kể, khi
cỡ hộ lớn hơn thì xác suất thành doanh nhân thấp hơn
- Cấu trúc gia đình
có ảnh hưởng không đáng kể
1993 và năm 1998.
Mô hình
logit tương
tự của Vijverberg (1998)
Gia cảnh cá nhân có tác động đáng kể
- Nếu bố mẹ được giáo dục tốt và là doanh nhân, con cái cũng có nhiều khả năng làm chủ.
- Dân thành thị có khả năng làm chủ doanh nghiệp hơn.
MH cấu trúc như của Rees
và Shah (1986) hay của
Tác động của giáo dục: Ảnh
hưởng tiêu cực
Tác động tiềm lực tài chính và
gia cảnh cá
- Ảnh hưởng âm có thể là vì cấp bậc giáo dục cao hơn mang lại lợi ích lớn hơn cho người làm thuê
Trang 26Bernhardt (1994)
Tác động tiềm lực tài chính và
gia cảnh cá
nhân:
Phân tích ảnh hưởng của giáo dục cá nhân tự làm chủ kinh doanh tới sự thành công các công
ty của họ trong thời suy thoái kinh tế và tăng trưởng trở lại trong những năm
1990 ở Phần Lan Van der Sluis
Tác động của giáo dục: Ảnh
hưởng tích cực, không đáng kể
Tác động tiềm lực tài chính và
gia cảnh cá
nhân:
- Một phân tích meta-analysis chỉ có thể được tiến hành trên cơ sở mẫu của nghiên cứu, tất cả được đo lường một loại mối quan hệ nào đó.
- Miêu tả ảnh hưởng chủ yếu được nhận thấy trong nghiên cứu và giải thích sự mâu thuẫn về kết quả qua nhiều nghiên cứu trước đó
- Sự tác động trở lại của giáo dục cao hơn tới quyết định
tự làm chủ ở Mỹ cao hơn châu Âu
Mẫu: những người
Mô hình probit rút gọn
Trang 27đang đi làm (trừ những ng đi học hay trong quân ngũ), từ 20 đến 64 tuổi.
Đỗ Thị Quỳnh
Trang, 2008
Sử dụng dữ liệu từ cuộc điều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam năm 2004 (VHLSS 2004).
Mô hình probit hai thời kỳ
Tác động của giáo dục: Tác
động tích cực tới người làm thuê
Tác động tiềm lực tài chính và
gia cảnh cá
nhân: Tài chính
có tác động tích cực đến KV tự làm chủ Gia cảnh cá nhân ko tác động đến đàn ông nhưng ảnh hưởng tới nữ.
- Thu nhập trung bình của việc làm chủ cao hơn làm công ăn lương.
- Thu nhập trung bình của việc tự làm chủ thấp hơn đối với nữ trong cả 2 khu vực.
- Giáo dục cao xu hướng làm công ăn lương.
Peter van der
Mô hình logit tích lũy
Tác động của giáo dục: Ảnh
hưởng tích cực
và đáng kể
Tác động tiềm lực tài chính và
gia cảnh cá
nhân:
- Giáo dục tinh thần kinh doanh xuất hiện thực sự quan trọng đối với việc
có ý định bắt đầu kinh doanh
- Nhưng không có hiệu lực vào quá trình chuyển đổi trong tương lai, việc
đi đến quyết định thành lập doanh nghiệp
MH logit, Probit
Tác động của giáo dục: Tác
động mạnh và tích cực
Tác động tiềm lực tài chính và
gia cảnh cá
nhân:
- Lần đầu tiên tác giả đưa GD vào MH như một biến nội sinh bằng cách sử dụng hồi qui biến công cụ chỉ ra rằng tác động của giáo dục tới quyết định thành lập doanh
Trang 28nghiệp, có tác động mạnh và tích cực (so với MH logit, probit chuẩn)
- MH logit, probit chuẩn đánh giá không đúng mức tác động mạnh mẽ của
GD đến quyết định lựa chọn kinh doanh
và có thể đưa đến
KQ sai lệch Christopher
2001 Mỗi lần điều tra thu được mẫu với gần
59000 hộ, xấp xỉ
138000 cá nhân trả lời.
Sử dụng
MH logit tương tự Satori (2003).
Gia cảnh cá nhân có tác động.
Giáo dục có ảnh hưởng đáng kể.
Gia cảnh cá nhân có tác động
- Có trẻ em phụ thuộc làm tăng xác suất cho lựa chọn tự làm chủ.
- Những người sở hữu nhà có xu hướng thích tự làm chủ hơn những người phải đi thuê nhà.
Mô hình Geoadditiv
e models được sử dụng
GD làm giảm xác suất lựa chọn tự làm chủ trong KV phi nông nghiệp
- Giáo dục ở khu vực phi chính thức tác động tích cực tới quyết định tự làm chủ của cá nhân.
Trang 29CHƯƠNG 3 ĐẶC ĐIỂM THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG, DOANH NGHIỆP VÀ MÔI
TRƯỜNG KINH DOANH VIỆT NAM.
3.1 THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG VIỆT NAM
Là một nước có quy mô dân số lớn và có độ tuổi trung bình khá trẻ, ViệtNam có nhiều tiềm năng để phát triển kinh tế dựa vào lực lượng lao độnghùng hậu Trong số này, liệu ai sẽ trở thành người làm thuê hay tự đứng rakinh doanh? Một cái nhìn tổng quan về thị trường lao động hẳn sẽ có íchtrong việc nhận dạng ai có khả năng làm chủ hay làm thuê
Số liệu mới nhất từ Tổng cục Thống kê cho thấy lực lượng lao động ởViệt Nam tính đến 1/7/2009 (số người 15 tuổi trở lên có việc làm) là 47,7triệu người – tương đương 55,5% tổng dân số, trong đó khoảng hơn 23,1 triệu
là nữ Sự bùng nổ dân số trong độ tuổi lao động trong 3 thập kỷ trở lại đây tạo
ra đội quân lao động khổng lồ với tốc độ gia tăng hàng năm trên 2,5% Nếutrừ đi số người ra khỏi lực lượng lao động thì ước tính số lao động mới tăngkhoảng 1,1 triệu người mỗi năm Quy mô nền kinh tế ngày càng lớn đẩy tỉ lệthất nghiệp giảm dần xuống còn 2,9% năm 2009, cho dù con số tuyệt đối vẫncòn tăng chậm bởi số việc làm được tạo mới hàng năm chỉ đạt chưa đầy 1triệu Tỉ lệ thất nghiệp của lực lượng lao động trong độ tuổi ở thành thị caohơn ở nông thôn (4,6% so với 2,25%), trong khi tỉ lệ thiếu việc làm ở thànhthị lại thấp hơn (3,3% so với 6,5%), phản ánh tính mùa vụ của sản xuất nôngnghiệp ở nông thôn chưa được tận dụng triệt để và tỉ lệ thất nghiệp thực tế còncao hơn nhiều so với số liệu thống kê
Trang 30Bảng 2: Lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc tại thời điểm 1/7 hàng năm
Nguồn: trích bảng 8, Niên giám thống kê tóm tắt – 2009, Tổng cục Thống kê, 2009
Việt Nam đang bước vào thời kỳ dân số vàng dự kiến kéo dài trong 40năm, khi mà số người trong độ tuổi lao động chiếm tỷ trọng cao trong dân số
và độ tuổi trung bình là khá trẻ Số lao động dưới 35 tuổi chiếm tỷ trọng đôngnhất, hơn 45% tổng số lao động Lực lượng lao động trẻ hứa hẹn sẽ tiếp sứccho quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa khu vực sản xuất, được dẫn dắtbởi khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Hiện tại, khối doanh nghiệp
tư nhân trong nước chiếm tới 85,1% số lao động, từ 2000-2008, trung bìnhmỗi năm có thêm 800 nghìn lao động tham gia khu vực này Với sự chuyểnhướng chính sách từ phía Chính phủ sang hỗ trợ các doanh nghiệp tư nhân thìkhu vực này còn tiếp tục hấp thụ thêm nhiều lao động trong những năm sắptới Khối doanh nghiệp nhà nước đứng thứ hai với 11,5% và khu vực có vốnđầu tư nước ngoài hiện thuê chỉ 3,4% số lao động nhưng lại có lượng đầu tưtrên mỗi lao động cao hơn cả Và so với chỉ 1% lượng lao động làm việc
Trang 31trong khu vực này vào năm 2000, rõ ràng đã có những chuyển biến lớn trongviệc thu hút đầu tư nước ngoài và dịch chuyển lao động sang khu vực này Hiện nay có tới 35,1 triệu người đang làm việc là ở nông thôn, tươngđương gần ¾ tổng số lao động Xu hướng chuyển dịch tỷ trọng lao động giữanông thôn-thành thị là khá mờ nhạt do di cư con lắc hay mùa vụ từ nông thônlên thành thị để tìm việc làm khi mùa vụ nhàn rỗi là phổ biến hơn là di cư rồiđịnh cư Dòng người di cư từ nông thôn lên thành thị tìm kiếm việc làm trongvài năm gần đây để tìm kiếm thu nhập cao hơn tạo ra sức ép về việc giảiquyết chỗ ở, công ăn việc làm cho số dân di cư này Ở Việt Nam, chọn lựa tựkinh doanh trong khu vực phi chính thức sẽ dễ hơn kiếm việc làm thuê vì chỉcần vốn nhỏ và không yêu cầu trình độ quản lý cao.
Bảng 3 : Lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc tại thời điểm 1/7 hàng năm
Nguồn: Bảng 9, Niên giám thống kê tóm tắt - 2009, Tổng cục Thống kê
Xét theo cơ cấu ngành, thì nông-lâm-ngư nghiệp vẫn thu hút phần lớn số laođộng, với 51,9% tổng số lao động hoạt động trong 3 ngành này, tuy nhiênphải ghi nhận đã có một mức giảm đáng kể từ mức 70% giữa thập kỷ 90 cùngvới sự chuyển dịch cơ cấu ngành từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ.Các nhóm ngành chế biến, giao thông - vận tải, tài chính chiếm có tốc độ thunạp lao động nhanh nhất, đưa số lao động phục vụ trong công nghiệp và xây
Trang 32dựng lên gần 21,5% số lao động, còn ngành dịch vụ thu hút 26,6% số laođộng Quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang 2 ngànhcòn lại vẫn sẽ tiếp tục diễn ra, khi mà nền kinh tế tiếp tục vận hành trên conđường công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Bảng 4: Cơ cấu lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc tại thời điểm 1/7 hàng năm phân
theo ngành kinh tế
Tổng số (%) 100,00 100,00 100,00 100,000 100,00
Nông – lâm – ngư nghiệp 57,10 55,37 53,90 52,62 51,92
Công nghiệp và xây dựng 18,20 19,23 19,98 20.83 21,54
để tin rằng nguồn lao động đông đảo, trẻ tuổi, tay nghề thấp này sẽ gia nhậpđội quân lao động giá rẻ chứ không tự đứng ra làm chủ bởi hạn chế trong tiếpcận vốn và khả năng điều hành doanh nghiệp Tỉ lệ lao động chưa qua đào tạo
ở nông thôn cao hơn so với thành thị, phản ánh khả năng tiếp cận các cơ sởgiáo dục đào tạo không bình đẳng giữa 2 khu vực và những người di dân từnông thôn lên thành thị kiếm việc làm thì phần lớn trong số này có trình độthấp và không cạnh tranh được các vị trí đòi hỏi tay nghề và kỹ năng cao.Tuy nhiên có thể nhận thấy xu hướng gia tăng số lao động qua đào tạo,lao động chất lượng cao và sự giảm sút lao động không có kỹ năng trong 2năm thống kê được (xem bảng phía dưới) Những nỗ lực cải thiện chất lượngnguồn nhân lực từ Chính phủ là đáng ghi nhận Nguồn nhân lực chất lượng
Trang 33cao không chỉ là động lực thúc đẩy quá trình phát triển lâu dài, phá vỡ bẫy thunhập trung bình mà còn mở ra cho người lao động nhiều cơ hội lựa chọn nghềnghiệp hơn.
Bảng 5 : Tỉ lệ lao động có việc làm phân theo trình độ chuyên môn kỹ thuật phân chia theo
khu vực
Chưa qua đào tạo
Sơ cấp, có chứng chỉ nghề
Công nhân
kỹ thuật
Trung học chuyên nghiệp
Cao đẳng và đại học trở lên
20.0
7 4.47 5.18 5.65 6.26 Theo khu vực
27.6
9 8.97 9.80
16.1 3
17.5 2 Nông thôn/Rural 77.0
9
73.3
3 1.50 2.04
16.1 9
Trang 34thuộc hàng thấp, khoảng 2,8 triệu đồng/người/tháng, bằng một nửa lương củalao động trong ngành khai thác mỏ, hay chỉ 1/3 lương trong ngành tài chínhtín dụng Với mức thu nhập thấp và không ổn định bởi tính mùa vụ của nôngnghiệp, việc chuyển sang tự kinh doanh có lẽ không phải là quyết định phùhợp cho các đối tượng này mà thay bằng di cư lên thành thị tìm kiếm việc làmthuê.
3.2 DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
Theo định nghĩa Luật Doanh nghiệp 2005, “doanh nghiệp” là tổ chứckinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinhdoanh theo quy định luật pháp nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinhdoanh Đối với mọi nền kinh tế, doanh nghiệp luôn được coi là lực lượng chủcông, do vậy việc xây dựng và phát triển doanh nghiệp phải coi là nhiệm vụhàng đầu Đối với nước ta đang trong quá trình đổi mới và phát triển, nhiệm
vụ này càng có ý nghĩa cấp bách, quyết định thành công trong sự nghiệp côngnghiệp hóa hiện đại hóa đất nước Thực tiễn cho thấy những doanh nghiệpkinh doanh hiệu quả thường đem lại tốc độ tăng trưởng kinh tế trong phạm vi
cả nước, cũng như trong từng địa phương
Trước 1986, không có khu vực kinh tế tư nhân chính thức tại Việt Nam.Khu vực kinh tế nhà nước, bao gồm cả doanh nghiệp nhà nước (DNNN) hoặckhu vực hợp tác xã đóng vai trò chủ đạo Các khu vực tự làm việc có tồn tạitrong nền kinh tế tuy nhiên kích thước của nó khá nhỏ và không có số liệuthống kê về nó Đối mặt với sự lan rộng của khủng hoảng kinh tế xã hội,Chính phủ Việt Nam đã đã phải tiến hành một chương trình cải cách kinh tếtrong những năm cuối của thập kỷ 1980 Do đó các doanh nghiệp tư nhântrong khu vực kinh tế đã chính thức được thấy “ánh sáng cuối đường hầm”khoảng 20 năm trước đây Cùng với sự đầu tư trực tiếp nước ngoài, cơ cấu