1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng chính sách thuế nhập khẩu đối với mặt hàng thép và tác động của thuế nhập khẩu với sự phát triển của ngành thép Việt Nam

37 1,3K 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực Trạng Chính Sách Thuế Nhập Khẩu Đối Với Mặt Hàng Thép Và Tác Động Của Thuế Nhập Khẩu Với Sự Phát Triển Của Ngành Thép Việt Nam
Người hướng dẫn Cô Nguyễn Thị Liên Hương
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh tế
Thể loại bài làm
Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 302 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực trạng chính sách thuế nhập khẩu đối với mặt hàng thép và tác động của thuế nhập khẩu với sự phát triển của ngành thép Việt Nam

Trang 1

A - LỜI MỞ ĐẦU

Thép từ khi ra đời đã trở nên hữu dụng với những tính năng đặc biệt củamình và cho đến ngày nay đã là mặt hàng rất phổ biến, phục vụ nhiều mặt cho đờisống chúng ta Ngành thép trở thành ngành chủ chốt đối với nền kinh tế của nhiềunước trong đó không thể không kể đến Việt Nam Hiện nay ngành thép của ViệtNam trải qua quãng thời gian dài phát triển đã có những bước nhảy vọt đáng kể gópphần tích cực tạo đà phát triển cho kinh tế nước nhà Suốt quãng thời gian đó ngànhthép phát triển đầy biến động Đặc biệt trong thời gian gần đây, dưới ảnh hưởngcủa cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu ngành cũng chịu ảnh hưởng không nhỏ.Cũng phải thừa nhận đây vẫn đang còn là ngành công nghiệp non trẻ, sản xuất cònphụ thuộc khá nhiều vào bên ngoài Chúng ta phải nhập khẩu lượng khá lớn thépđặc biệt là phôi thép làm nguyên liệu cho sản xuất thép Hầu hết các năm nước tanhập siêu thép Chính vì vậy chính sách thuế nhập khẩu hết sức quan trọng, phảicân nhắc cẩn thận để có thể đưa ra những chính sách thích hợp, kịp thời

Nhận thấy tầm quan trọng trên nên em quyết định chọn đề tài này để nghiên cứu

Bài làm đã nhận được nhiều sự giúp đỡ từ phía giáo viên hướng dẫn là côNguyễn Thị Liên Hương.Dù đã có nhiều cố gắng song do kiến thức còn hạn chế,nguồn tài liệu chưa phong phú, hạn chế về thời gian nên bài làm còn nhiều thiếusót Vì vậy em mong nhận được sự góp ý của thầy cô để bài của em được hoànthiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 2

B - NỘI DUNG

1 Một số vấn đề cơ bản về thuế nhập khẩu và khái quát chung về ngành thép Việt Nam

1.1 Một số vấn đề cơ bản về thuế nhập khẩu

Thuế nhập khẩu là một loại thuế mà một quốc gia hay vùng lãnh thổ đánhvào hàng hóa có nguồn gốc từ nước ngoài trong quá trình nhập khẩu Thuế nhậpkhẩu hiện nay thường do cơ quan chuyên trách tiến hành thu, đây là một biện phápnhằm tạo sự đồng bộ và cũng nhằm giúp cho việc quản lí đối với hàng hóa xuấtkhẩu, nhập khẩu

Thuế nhập khẩu đưa ra chủ yếu nhằm mục đích tăng thu ngân sách tuy nhiêncũng còn có thể để phục vụ nhiều mục tiêu khác nhau của nhà nước ví dụ như đểthực hiện bảo hộ, giảm nhập khẩu, chống hành vi bán phá giá Thuế nhập khẩu đưa

ra luôn gắn liền với một mục đích thương mại nào đó Mỗi chính sách thuế chỉ ápdụng cho tùy từng thời kì chứ không phải áp dụng chung cho cả giai đoạn phát triểncủa đất nước Việc áp dụng chính sách thuế như thế nào phụ thuộc rất nhiều vàoquan điểm của từng nước ở tùng thời kì và tùy thuộc vào các cam kết quốc tế thamgia Luôn cần có sự quản lí của nhà nước nhưng không phải tất cả những chínhsách của nhà nước để ra đều thích hợp Chính vì thế chính sách thuế nhập khẩuluôn phải được cân nhắc kĩ đảm bảo cho các mục tiêu quan trọng của đất nước

1.2 Khái quát về ngành thép Việt Nam

1.2.1 Sơ lược về sự phát triển của ngành thép

Ngành thép Việt Nam bắt đầu được xây dựng từ đầu 1960 Mẻ gang đầu tiêntiên được cho ra lò từ khu liên hợp gang thép Thái Nguyên do Trung Quốc giúpnước ta xây dựng vào năm 1963 Công suất thiết kế khi đó của cả khu gang thép là

100 000 tấn/năm Song do chiến tranh và khó khăn nhiều mặt, 15 năm sau, Khuliên hợp gang thép Thái Nguyên mới có sản phẩm thép cán Năm 1975, Nhà máy

Trang 3

luyện cán thép Gia Sàng do Đức (trước đây) giúp đã đi vào sản xuất Công suất

thiết kế của cả Khu liên hợp gang thép Thái Nguyên lên đến 10 vạn tấn/năm (T/n)

Giai đoạn từ 1976 đến 1989: Ngành thép gặp rất nhiều khó khăn do kinh tế

đất nước lâm vào khủng hoảng, ngành thép không phát triển được và chỉ duy trìmức sản lượng từ 40 ngàn đến 85 ngàn tấn thép/năm

Giai đoạn từ 1989 đến 1995: Thực hiện chủ trương đổi mới, mở cửa của

Đảng và Nhà nước, ngành thép bắt đầu có tăng trưởng, sản lượng thép trong nước

đã vượt mức trên 100 ngàn tấn/năm

Thời kỳ 1996 - 2000: Ngành thép vẫn giữ được mức độ tăng trưởng khá cao,

tiếp tục được đầu tư đổi mới và đầu tư chiều sâu: Đã đưa vào hoạt động 13 liêndoanh, trong đó có 12 liên doanh cán thép và gia công, chế biến sau cán Sản lượngthép cán của cả nước đã đạt 1,57 triệu tấn, gấp 3 lần so với năm 1995 và gấp 14 lần

so với năm 1990 Đây là giai đoạn có tốc độ tăng trưởng cao nhất.Hiện nay, thànhphần tham gia sản xuất và gia công, chế biến thép ở trong nước rất đa dạng, baogồm nhiều thành phần kinh tế cùng tham gia Ngoài Tổng công ty Thép Việt Nam

và các cơ sở quốc doanh thuộc địa phương và các ngành, còn có các liên doanh, cáccông ty cổ phần, công ty 100% vốn nước ngoài và các công ty tư nhân Tính đếnnăm 2002, Việt Nam có khoảng 50 doanh nghiệp sản xuất thép xây dựng (chỉ tínhcác cơ sở có công suất lớn hơn 5.000 tấn/năm), trong đó có 12 dây chuyền cán,công suất từ 100 ngàn đến 300 ngàn tấn/năm

Sau 10 năm đổi mới và tăng trưởng, ngành thép Việt Nam đã đạt một số chỉtiêu như sau:- Luyện thép lò điện đạt 500 ngàn tấn/năm- Công suất cán thép đạt 2,6triệu tấn/năm (kể cả các đơn vị ngoài Tổng công ty Thép Việt Nam)- Riêng Tổngcông ty Thép Việt Nam đã đạt công suất cao và giữ vai trò quan trọng trong ngànhthép Việt Nam, có công suất:- Luyện cán thép đạt 470 ngàn tấn/năm:- Cán thép đạt

760 ngàn tấn/năm- Sản phẩm thép thô (phôi và thỏi) huy động được 78% công suấtthiết kế;- Thép cán dài (thép tròn, thép thanh, thép hình nhỏ và vừa) đạt tỷ lệ huy

Trang 4

động 50% công suất;- Sản phẩm gia công sau cán (ống hàn, tôn mạ các loại) huyđộng 90% công suất.

Tuy nhiên, ngành thép Việt Nam hiện vẫn trong tình trạng kém phát triển sovới một số nước trong khu vực và trình độ chung của thế giới Sự yếu kém này thể

hiện qua các mặt sau: Thứ nhất, Năng lực sản xuất phôi thép (thép thô) quá nhỏ bé,

chưa sử dụng có hiệu quả các nguồn quặng sắt sẵn có trong nước để sản xuất phôi

Do đó các nhà máy cán thép và các cơ sở gia công sau cán còn phụ thuộc chủ yếuvào phôi thép nhập khẩu và bán thành phẩm gia công khác, nên sản xuất thiếu ổn

định Thứ hai, Chi phí sản xuất lớn, năng suất lao động thấp, mức tiêu hao nguyên

liệu, năng lượng cao, chất lượng sản phẩm chưa ổn định Điều đó dẫn tới khả năng

cạnh tranh thấp, khả năng xuất khẩu hạn chế Thứ ba, Hiệu quả sản xuất kinh doanh

chưa cao, còn dựa vào sự bảo hộ của Nhà nước và trang thiết bị của Tổng công tyThép Việt Nam phần lớn thuộc thế hệ cũ, trình độ công nghệ ở mức độ thấp hoặctrung bình, lại thiếu đồng bộ, hiện đại mức độ tự động hoá thấp, quy mô sản xuấtnhỏ Chỉ có một số ít cơ sở mới xây dựng (chủ yếu các cơ sở liên doanh hoặc 100%

vốn nước ngoài) đạt trình độ trang bị và công nghệ tương đối hiện đại Thứ tư, Cơ

cấu mặt hàng mất cân đối, mới chỉ tập trung sản xuất các sản phẩm dài (thanh vàdây) phục vụ chủ yếu cho xây dựng thông thường, chưa sản xuất được các sảnphẩm dẹt (tấm, lá) cán nóng, cán nguội Sản phẩm gia công sau cán mới có ống hànđen, mạ kẽm, tôn mạ kẽm, mạ mầu Hiện tại ngành thép chưa sản xuất được théphợp kim, thép đặc phục vụ cho cơ khí quốc phòng Nguồn nhân lực của ngành théphiện chỉ chiếm 2,8% tổng lực lượng lao động của ngành công nghiệp Nói cáchkhác mới thu hút được 0,8% lao động của cả nước

Như vậy, nhìn chung ngành thép Việt Nam vẫn ở tình trạng sản xuất nhỏ,phân tán, thiếu bền vững, phụ thuộc vào lượng phôi thép và bán thành phẩm nhậpkhẩu Chưa có các nhà máy hiện đại như khu liên hợp luyện kim làm trụ cột, chủđộng sản xuất phôi nên ngành thép Việt Nam chưa đủ sức chi phối và điều tiết thị

Trang 5

trường trong nước khi có biến động lớn về giá phôi thép hoặc sản phẩm thép cántrên thị trường khu vự và thế giới

Thép là ngành sản xuất có tốc độ phát triển tương đối nhanh Trong 10 nămtrở lại đây bình quân hàng năm tăng 20% về sản lượng Sản xuất thép đáp ứng 55%nhu cầu nội địa.vì ngành thép là ngành hết sức quan trọng trong cơ cấu nền kinh tếquốc dân Ở một nền kinh tế còn phải gia tăng phát triển và hoàn thiện cơ sở hạtầng trong nhiều năm tới như Việt Nam, thì muốn tăng trưởng GDP, bắt buộcngành thép – ngành nguyên vật liệu cơ bản, phải có sự tăng trưởng

Kết thúc năm 2009, ngành thép Việt Nam đã đạt được kết quả khá tốt Sảnxuất thép xây dựng tăng trưởng 25%, tiêu thụ vượt trên 30% so với năm 2008 Sảnxuất và tiêu thụ thép cán nguội khoảng 500 nghìn tấn; ông thép hàn khoảng 570nghìn tấn; và tôn mạ kẽm, sơn phủ màu khoảng 850 nghìn tấn

Tổng lượng thép xuất khẩu của Việt Nam năm 2009 chỉ đạt trên 571.000 tấnvới kim ngạch xuất khẩu trên 444 triệu USD

Trong khi đó, năm 2009, Việt Nam đã nhập khẩu gần 6 triệu tấn thép cácloại, trong đó có thép cán nguội, thép cuộn là những sản phẩm trong nước tự sảnxuất được và đã dư thừa

Ba tháng đầu năm 2010, đã có 57.000 tấn thép cuộn và 68.000 tấn thép mạcác loại được nhập về trong tổng số 1,7 triệu tấn thép thành phẩm nhập vào ViệtNam

Tính toán của VSA cho thấy, nếu hạn chế nhập khẩu hai loại thép này trongthời gian tới sẽ tiết kiệm được khoảng 700 triệu USD, góp phần giảm nhập siêucũng như giảm bớt khó khăn cho các doanh nghiệp sản xuất thép trong nước

Những năm gần đây, ngoài việc nhập khẩu thép phế, phôi thép là nguyên liệu bắtbuộc cho sản xuất thì tình trạng nhập khẩu nhiều sản phẩm trong nước đã sản xuấtđược và đang dư thừa gây nhiều thiệt hại cho ngành thép nói riêng và nền kinh tếnói chung

Trang 6

Chính vì vậy, ngành thép trở thành ngành kinh tế tiêu tốn lượng ngoại tệ lớn,

tỷ lệ nhập khẩu cao Hiệp hội Thép Việt Nam (VSA) đã đề xuất nhiều giải phápcho vấn đề này

1.2.2 Đặc điểm ngành thép Việt Nam

Cũng giống như các nước đang phát triển khác, sự phát triển của ngành thépViệt Nam bị coi là đi theo chiều ngược khi công nghiệp cán có trước công nghiệpluyện, phần lớn do hạn chế về vốn đầu tư và chính sách phát triển ngành

Về trình độ công nghệ, trang thiết bị có thể chia ra 4 mức sau:

+Loại tương đối hiện đại: Gồm các dây chuyền cán liên tục của 2 Công tyliên doanh VINA KYOEI, VPS và một số dây chuyền cán thép mới sẽ xây dựngsau năm 2000

Trang 7

+Loại trung bình: Bao gồm các dây chuyền cán bán liên tục như Vinausteel,NatSteelvina, Tây Đô, Nhà Bè, Biên Hòa, Thủ Đức (SSC) Gia Sàng, Lưu Xá(TISCO) và các công ty cổ phần, công ty tư nhân (Vinatafong, Nam Đô, Hải Phòngv.v )

+Loại lạc hậu: Bao gồm các dây chuyền cán thủ công mini của các nhà máyNhà Bè, Thủ Đức, Tân Thuận, Thép Đà Nẵng, Thép miền Trung và các cơ sở khácngoài Tổng công ty thép Việt Nam

+Loại rất lạc hậu: Gồm các dây chuyền cán mini có công suất nhỏ(<20000T/n) và các máy cán của các hộ gia đình, làng nghề

b,

Đối với phôi thép :

Có khoảng 14 doanh nghiệp sản xuất phôi thép với công suất thiết kế đạt hơn

2 triệu tấn/năm, đáp ứng khoảng 40% nhu cầu nguyên liệu phôi để cán thép Có tới60% nhu cầu phải nhập khẩu từ nước ngoài

1.2.2 Vai trò của ngành thép ngành thép

Sự ra đời của kim loại thép đã góp phần lớn vào quá trình phát triển của loàingười Thép đã xuất hiện ngày càng nhiều trong các công trình xây dựng và nhanhchóng phát triển dần thay thế các nguyên liệu khác như đá, gỗ do có tính bền và dễchế tạo Thép là vật tư chiến lược không thể thiếu của ngành công nghiệp, xây dựng

và quốc phòng, có vai trò hết sức quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiệnđại hoá đất nước Ngành thép cần được xác định là ngành công nghiệp được ưu tiênphát triển

Thép trở thành nguyên liệu chính trong các ngành công nghiệp khác nhưcông nghiệp đóng tàu, phương tiện vận chuyển, sản xuất máy móc… Có thể thấythép đang ngày càng hỗ trợ đắc lực cho cuộc sống của con người

Nhận thấy tầm quan trọng của ngành thép, hầu hết các quốc gia trong đó cóViệt Nam đều giành nhiều ưu đãi cho ngành thép phát triển Với mục tiêu côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Việt Nam luôn coi ngành thép là ngành công

Trang 8

nghiệp trụ cột của kinh tế, thúc đẩy phát triển nhằm đáp ứng tối đa nhu cầu về sảnphẩm thép cho các ngành công nghiệp khác và tăng cường xuất khẩu Mối quan hệgiữa ngành thép và các ngành khác là quan hệ 2 chiều cùng hỗ trợ nhau phát triển.Chính phủ cũng dành nhiều chính sách khuyến khích các thành phần kinh tế khácđầu tư vào ngành thép nhằm tận dụng tối đa nguồn vốn và nhân lực nhàn rỗi củacác ngành, thúc đẩy phát triển kinh tế, đảm bảo việc làm cho người lao động.

Về cơ bản ngành thép Việt Nam đã đáp ứng được nhu cầu về thép cán xâydựng, tôn mạ, kẽm mạ màu, ống hàn cỡ nhỏ và một phần nhu cầu về thép lá cánnguội của thị trường trong nước

1.2.3 Tình hình xuất nhập khẩu

1.2.3.1 Về xuất khẩu

Thép nội một phần để sản xuất được vẫn phải nhập khẩu lượng lớn nguyênliệu, phôi thép tuy nhiên một số sản phẩm của ngành không những đắp ứng đủ nhucầu trong nước mà còn có để xuất khẩu

Trang 9

Thống kê về thị trường xuất khẩu thép Việt Nam 4 tháng đầu năm 2010

Thị trường

4 tháng năm 2010 4 tháng năm 2009 Tăng, giảm so với cùng kỳ năm

2009 Lượng

(tấn)

Trị giá (USD)

Lượng (Tấn)

Trị giá (USD) Lượng (%) Trị giá (%) Tổng kim

Philipin 10.764 8.916.146 5.843 4.805.887 +84,22 +85,52 Xingapo 10.662 8.376.069 1.432 1.261.679 +644,55 +563,88 TháiLan 10.449 10.756.974 7.824 5.721.156 +33,55 +88,02 Thổ Nhĩ Kỳ 1.717 3.973.863 432 568.019 +297,45 +599,6

+ Các loại thép mà trong nước chưa sản xuất đáp ứng đủ nhu cầu :

-Thép nguyên liệu dẹt cán nóng ( thép tấm dày, lá và băng cuộn cán nóng )

Trang 10

-Thép hình cỡ lớn

-Thép đặc chủng

-Thép hợp kim chất lượng cao

+ Đối với thép xây dựng : mặc dù công suất sản xuất trong nước dư thừanhưng do thép ngoại có ưu thế về giá nên thép xây dựng được nhập khẩu, chủ yếu

từ Trung Quốc

Theo thống kê, nhập khẩu sắt thép trong 5 năm trở lại đây đạt mức tăngtrưởng trung bình gần 20%/năm Kết thúc năm 2007, tổng kim ngạch nhập khẩu sắtthép của Việt Nam đạt 5,1 tỷ USD tương đương 7,8 triệu tấn, tăng 66% về trị giá và37% về lượng so với năm 2006, nếu so với năm 2005 thì tăng 73% về trị giá vàtăng 42% về lượng Về thị trường nhập khẩu: Đạt được tiến độ nhập khẩu sắt théptrong năm 2007 là có nhiều sự cố gắng của các doanh nghiệp, cộng với những hỗtrợ không nhỏ từ các cơ quan quản lý trong việc điều hành cơ chế một cách linhhoạt và hợp lý Chính những việc này đã giúp các doanh nghiệp hoàn thành tốt

công tác nhập khẩu của mình Năm 2007, Việt Nam đã nhập khẩu sắt thép từ gần

70 thị trường trên thế giới Trong đó, nhập khẩu sắt thép từ Trung Quốc đạt 2,3 tỷUSD, tăng 59% so với năm 2006, chiếm 45% tổng kim ngạch nhập khẩu sắt thépcủa Việt Nam Tuy nhiên, năm 2008, nhập khẩu sắt thép của Việt Nam từ TrungQuốc có thể sẽ giảm do nguồn cung từ Trung Quốc không còn dồi dào như trước,cộng với giá thành sản phẩm chiếm ưu thế không nhiều so với các thị trường khác

Năm 2007, nhập khẩu sắt thép của Việt Nam từ Nhật Bản cũng tăng đáng kể,đạt kim ngạch hơn 676 triệu USD, tăng 37% so với năm 2006 Đáng chú ý, nhậpkhẩu sắt thép từ Đài Loan và Malaysia tăng rất mạnh, đạt kim ngạch lần lượt là567,8 triệu USD và 383,8 triệu USD Như vậy, với việc nhập khẩu sắt thép từTrung Quốc không còn thuận lợi như trước, rất có thể trong năm 2008 các doanhnghiệp Việt Nam sẽ chuyển sang nhập khẩu sắt thép từ các thị trường khác như Đài

Trang 11

Loan, Malayxia, Hàn Quốc, Nga,… vì khoảng cách địa lý, đường vận chuyển từcác thị trường này cũng có nhiều thuận lợi

Ngoài 4 thị trường Trung Quốc, Nhật Bản, Đài Loan và Malayxia chiếm77% tổng kim ngạch nhập khẩu sắt thép của Việt Nam, đạt gần 4 tỷ USD, nhậpkhẩu sắt thép của Việt Nam từ hầu hết các thị trường còn lại đều tăng mạnh so vớinăm 2006, cụ thể:

+ Nhập khẩu từ Hàn Quốc tăng 36,9%, đạt 284,9 triệu USD;

+ Nhập khẩu từ Thái Lan tăng 116%, đạt 207 triệu USD;

+ Nhập khẩu từ Nga tăng 28,7%, đạt 179 triệu USD;

+ Nhập khẩu từ Inđônêxia tăng 22,9%, đạt 74 triệu USD;…

Về chủng loại nhập khẩu: Năm 2007, nhập khẩu các mặt hàng sắt thép chínhnhư thép cuộn, thép tấm, phôi thép, tháp hình… đều tăng mạnh Theo số liệu, mặthàng thép cuộn nhập khẩu mạnh nhất, đạt trên 2 tỷ USD tương đương 3,3 triệu tấn,chiếm 40% tổng kim ngạch nhập khẩu sắt thép của Việt Nam Trong đó, nhập khẩu

từ Trung Quốc đạt 827 triệu USD tương đương 1,4 triệu tấn, tăng 77% về trị giá và31% về lượng so với năm 2006, nhập khẩu từ Nhật Bản đạt 345,9 triệu USD tươngđương 558 ngàn tấn, tăng 44% về trị giá và 30% về lượng so với năm 2006 Nhưvậy, nhập khảu thép cuộn của Việt Nam từ hai thị trường đã chiếm tới hơn 1/2 tổngkim ngạch nhập khẩu thép cuộn của Việt Nam

Giá nhập khẩu thép cuộn từ Trung Quốc thấp hơn khá nhiều so với các thịtrường khác Theo số liệu, giá nhập khẩu thép cuộn trung bình cả năm 2007 từTrung Quốc tăng hơn 150 USD/tấn so với năm 2006, đạt 581,5 USD/tấn, trong đótháng 12/07 đạt mức cao kỷ lục, đạt 676,8 USD/tấn, tăng 8% so với tháng trước và18% so với cùng kỳ năm 2006 Tuy nhiên, giá nhập khẩu thép cuộn trung bình năm

2007 từ Nhật Bản – thị trường có giá sát với Trung Quốc nhất, cũng cao hơn 30USD/tấn so với Trung Quốc, đạt 619 USD/tấn trong đó tháng 12/07 đạt 620,57

Trang 12

USD/tấn, tăng 1% so với tháng trước và 6,4% so với cùng kỳ năm 2006 Các thịtrường còn lại đều đạt mức trung bình trên 650 USD/tấn.

Chủng loại sắt thép được nhập khẩu nhiều thứ hai trong năm 2007 là théptấm, đạt hơn 994 triệu USD tương đương 1,4 triệu tấn, tăng 62% về trị giá và 30%

về lượng Trong đó nhập khẩu từ Trung Quốc đạt hơn 900 triệu USD tương đương1,3 triệu tấn và nhập khẩu từ Nhật Bản đạt 479,3 triệu USD tương đương 742 ngàntấn Như vậy, nhập khẩu thép tấm của Việt Nam trong năm 2007 chủ yếu đượcnhập từ Trung Quốc và Nhật Bản

Ngoài hai chủng loại trên, nhập khẩu các chủng loại còn lại như thép hình,thép lá, thép không gỉ… của Việt Nam trong năm 2007 cũng tăng đáng kể so vớinăm 2006

Năm 2008, nhập khẩu sắt thép của Việt Nam tăng từ 15-20% về lượng, ước

đạt 9,36 triệu tấn Mặc dù phải đương đầu với những khó khăn do thiên tai bão lụt

và nhất là do tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới làm cho nhu cầu hànghoá trên thị trường toàn cầu bị suy giảm nghiêm trọng, nhưng kim ngạch xuất nhậpkhẩu các mặt hàng của nước ta trong năm 2008 vẫn đạt kết quả khả quan

Theo số liệu thống kê từ Tổng cục Hải quan, cả năm 2008, Việt Nam đãnhập khẩu 5,7 triệu tấn sắt thép các loại với trị giá hơn 5 tỉ USD, tăng 3,36% vềlượng và 34,97% về trị giá so với năm 2007

Có thể thấy, diễn biến lượng nhập khẩu thép năm 2008 của Việt Nam hoàntoàn trái ngược với năm 2007 Đón đầu được sự tăng giá mạnh của thị trường thếgiới, các doanh nghiệp đã tranh thủ nhập rất nhiều trong 3 tháng đầu năm với tổngcộng 2,78 triệu tấn, gần bằng một nửa lượng nhập khẩu trong cả năm 2007 Từtháng 4 trở đi, do lượng hàng tồn kho lớn và giá thế giới tăng cao nên lượng nhậpkhẩu giảm rất mạnh trong hầu hết các tháng còn lại của năm Đến tháng 12, lượngtồn kho và giá giảm, các doanh nghiệp đã bắt đầu tăng nhập khẩu trở lại Dự báotrong năm 2009, nước ta vẫn cần phải nhập khẩu thêm 5 triệu tấn sắt thép bởi theo

Trang 13

tin từ Hiệp hội thép Việt Nam, trong năm nay, dự kiến nhu cầu thép các loại trên cảnước là hơn 10,5 triệu tấn Tuy nhiên, dự kiến sản xuất trong nước mới đạt khoảng5,5 triệu tấn, còn lại 5 triệu tấn vẫn phải nhập khẩu Cụ thể đối với thép xây dựng,năm nay trong nước và xuất khẩu cần khoảng 4,95 triệu tấn, trong đó sản xuất nộiđịa đáp ứng 4,15 triệu tấn Với phôi thép, nhu cầu trong nước và xuất khẩu khoảng4,9 triệu tấn, trong đó sản xuất trong nước đạt gần 2,9 triệu tấn, đáp ứng trên 60%nhu cầu trong nước Số còn lại là các loại thép khác như thép hình, thép chế tạo,thép dẹt…

Để đảm bảo mức cân đối trên, Bộ Công Thương yêu cầu ngành thép tậptrung rà soát quy hoạch ngành, đẩy nhanh tiến độ các dự án sản xuất phôi và cánthép đang triển khai, đảm bảo cân đối nguyên liệu cho sản xuất phù hợp yêu cầu thịtrường, trong đó có khai thác quặng, thu mua và nhập khẩu thép phế Bên cạnh đó,doanh nghiệp thép cũng cần củng cố, phát triển và đổi mới hệ thống phân phối đểđảm bảo kiểm soát được nguồn hàng và giá cả, nắm bắt cơ hội tìm kiếm và mởrộng thị trường xuất khẩu

Về giá nhập khẩu: Năm 2007, giá thép nhập khẩu khá ổn định trong suốt cảnăm thì năm 2008 lại có sự biến động rất mạnh Trong 9 tháng đầu năm 2008, giáthép nhập khẩu liên tục tăng mạnh, lên gấp 2 lần Tháng 10 và tháng 11, giá nhậpkhẩu giảm dần và đến tháng 12 thì giảm gần 1 nửa về mức 699 USD/T, thấp hơn sovới đầu năm 2008 và cả cùng kỳ năm 2007 Tính chung cả năm 2008, giá thép nhậpkhẩu tăng trung bình 30,6%, đạt 875 USD/T

Về chủng loại nhập khẩu: thép cuộn cán nóng vẫn là loại thép được nhậpkhẩu nhiều nhất với 1,63 triệu tấn, trị giá 1,2 tỉ USD, giảm 3,52% về lượng nhưngtăng 41,83% về trị giá Tiếp đến là chủng loại thép tấm cán nóng với lượng nhậpkhẩu 1,12 triệu tấn, trị giá 852,7 triệu USD, tăng 0,61% về lượng và 27,98% về trịgiá Bên cạnh đó, một số loại có lượng nhập khẩu tăng mạnh so với năm 2007 như

Trang 14

thép tấm cán nguội (tăng 267,86%), thép lá cán nóng (tăng 30,15%), thép không gỉ(tăng 26,3%), thép dây (tăng 21%)…

Năm 2008, giá các loại thép nhập khẩu đều tăng mạnh so với năm 2007.Trong đó, tăng mạnh nhất là thép thanh (tăng 57%), thép dây (tăng 51,54%), thépcuộn cán nguội (tăng 47%), thép lá cán nguội (tăng 40,43%)…

Về thị trường nhập khẩu: năm 2008, thị trường cung cấp thép cho Việt Nam

có sự chuyển dịch lớn Chính sách hạn chế xuất khẩu thép của Trung Quốc trongnhững tháng đầu năm đã khiến cho doanh nghiệp Việt Nam đẩy mạnh tìm kiếm đốitác từ các nước khác Đến cuối năm, Trung Quốc thả lỏng xuất khẩu thì Việt Namlại hạn chế nhập khẩu do tồn kho nhiều Do vậy, lượng nhập khẩu từ Trung Quốcnăm 2008 đã giảm mạnh 21,25% so với năm 2007, xuống còn 2,3 triệu tấn, chiếm

tỉ trọng 39% Giảm mạnh so với năm 2007 (với tỉ trọng về lượng nhập khẩu từTrung Quốc là 49,5%) Trong khi đó, lượng nhập khẩu thép từ các nước Hàn Quốc,

Ấn Độ, Ucraina, Mêhicô, Thuỵ Điển và nhiều thị trường khác trong năm 2008 tăngrất mạnh

Năm 2009, Việt Nam nhập khẩu gần 6 triệu tấn thép, nhập cả những sản

phẩm trong nước tự sản xuất được và đã dư thừa như thép cán nguội, thép cuộn Cógần 222.000 tấn thép cuộn nhập khẩu vào VN trong sáu tháng đầu năm 2010, tăngđến 124% so với cùng kỳ năm ngoái

Chỉ tính riêng tháng 6-2010 đã có 41.000 tấn thép cuộn nhập khẩu từ cácnước khu vực ASEAN, chiếm 41% trong tổng lượng nhập khẩu hằng tháng hiệnnay của mặt hàng này So với giá thép sản xuất trong nước, giá thép nhập khẩuđang rẻ hơn 500.000-700.000 đồng/tấn, do chi phí sản xuất thép trong nước caohơn

Theo số liệu thống kê, kim ngạch nhập khẩu sản phẩm từ sắt thép tháng6/2010 của Việt Nam đạt 164,5 triệu USD, tăng 25,19% so với tháng 5/2010, nâng

Trang 15

tổng kim ngạch 6 tháng đầu năm 2010 đạt 750,2 triệu USD, tăng 19,80% so vớicùng kỳ năm ngoái

Nếu như 5 tháng đầu năm 2010, Việt Nam nhập khẩu chủ yếu sản phẩm này

từ thị trường Trung Quốc và 6 tháng đầu năm 2010, Trung Quốc tiếp tục dẫn đầu

về kim ngạch nhập khẩu sản phẩm này của Việt Nam

Tháng 6/2010, Việt Nam đã nhập khẩu 43,8 triệu USD sản phẩm từ sắt thép từ thịtrường Trung Quốc, tăng 15,27% so với tháng 6/2009, chiếm 26,65% kim ngạchmặt hàng này trong tháng, nâng tổng kim ngạch 6 tháng đầu năm lên 187,7 triệuUSD, tăng 9,31% so với cùng kỳ năm ngoái

Thị trường đứng thứ hai sau Trung Quốc là Nhật Bản, với kim ngạch nhậpkhẩu sản phẩm này trong tháng là 33,8 triệu USD, tăng 52,02% so với tháng6/2009, nâng tổng kim ngạch 6 tháng đầu năm 2010 lên 162,9 triệu USD, chiếm21,72% kim ngạch nhập khẩu mặt hàng sản phẩm từ sắt thép trong 6 tháng đầunăm, tăng 35,55% so với cùng kỳ

Đứng thứ ba là thị trường Hàn Quốc, với kim ngạch trong tháng đạt 26,9triệu USD, tăng 67,11% so với tháng 6/2009, nâng kim ngạch 6 tháng đầu năm lên95,8 triệu USD, tăng 30,34% so với cùng kỳ

Đáng lưu ý, trong tháng 6/2010, kim ngạch nhập khẩu sản phẩm từ sắt thép

từ thị trường Thái lan tăng trưởng đột biến so với tháng 6/2009 Tháng 6/2010, ViệtNam đã nhập khẩu 7,5 triệu USD sản phẩm từ sắt thép từ thị trường Thái Lan, tăng1040,98% so với tháng 6/2009, nâng tổng kim ngạch 6 tháng đầu năm 2010 lên37,6 triệu USD, tăng 30,73% so với cùng kỳ

Bên cạnh những thị trường tăng trưởng về kim ngạch, còn có những thịtrường có kim ngạch giảm như: Singapo giảm 50,50% so với cùng kỳ; Ngagiảm38,76%; Idnonesia giảm 19,90% ; Pháp giảm 25,13%

Trang 16

Giá sắt thép nhập khẩu tháng 6/2010 tăng 2,5% so với tháng 5/2010 và tăng30,2% so với cùng kỳ năm trước Tính chung cho 6 tháng đầu năm 2010 giá nhậpkhẩu mặt hàng sắt thép tăng 14,1% so với cùng kỳ năm 2009.

+ Nhóm nhập khẩu có kim ngạch lớn nhất - Sắt hoặc thép không hợp kimcán phẳng (cán nóng) rộng trên 600mm, chưa phủ mạ hoặc tráng (HS 72.08) giátăng 5,7% so với tháng trước và tăng 46,3% so với cùng kỳ năm 2009, tính chungcho 6 tháng đầu năm, mặt hàng này tăng 18,3% so với 6 tháng đầu năm 2009 Mặthàng sắt thép dạng cuộn, dày dưới 3mm (HS 72.08.39) là mặt hàng nhập khẩu chủđạo trong nhóm, giá tăng 2,9% so với tháng 5/2010 và tăng 49,1% so với cùng kỳnăm 2009 (Trung Quốc và Nhật Bản vẫn tiếp tục là hai thị trường lớn nhập khẩumặt hàng này, đơn giá trung bình tại 2 thị trường lần lượt là 674 USD/tấn (CIF) và

678 USD/tấn (CIF)) Sắt hoặc thép dạng cuộn, dày từ 3mm đến dưới 4,75 mm (HS72.08.38) có kim ngạch nhập khẩu lớn thứ 2 trong nhóm, giá nhập khẩu tăng 3,9%

so với tháng 5/2010 và tăng 59,3% so với cùng kỳ năm 2009, tính chung cho 6tháng đầu năm thì mặt hàng này tăng 32,3% so với cùng kỳ năm trước

+ Nhóm có kim ngạch nhập khẩu lớn thứ 2 - Thép không gỉ, cán phẳng, rộngtrên 600mm (HS 72.19) giá giảm 0,5% so với tháng 5/2010, nhưng tăng 18,4% sovới cùng kỳ năm trước Trong nhóm này, mặt hàng Thép không gỉ cán nguội, dày

từ 0,5mm đến dưới 1mm (HS 72.19.34) có kim ngạch lớn nhất, giá tăng 4,9% sovới tháng trước và 27,6% so với tháng 6/2009; đơn giá trung bình nhập khẩu từ thịtrường Đài Loan ở mức 2.715 USD/tấn (CIF)

+ Giá nhập khẩu phôi thép (HS 72.07) tiếp tục tăng 2,4% so với tháng5/2010 và tăng 27,4% so với tháng 6/2009, tính chung 6 tháng đầu năm 2010 giáphôi thép nhập khẩu tăng 21,4% so với 6 tháng đầu năm 2009 Phôi thép có mặt cắthình vuông (C<0,25%) (HS 72.07.11) có giá nhập khẩu tăng 13,6% so với thángtrước và 48,5% so với cùng kỳ năm 2009; đơn giá trung bình nhập khẩu từ NhậtBản ở mức 565 USD/tấn (CIF), từ thị trường Thái Lan ở mức 553 USD/tấn (CIF)

Trang 17

Thống kê thị trường nhập khẩu sản phẩm từ sắt thép

Ngày 06/06/2010, Đơn vị tính: USD

Thị trường Tháng

6/2010 6 tháng/2010

Tháng 6/2009 6 tháng/2009

Tăng giảm

KN so với tháng 6/2009 (%)

Tăng giảm

KN so với 6 tháng/2009 (%)

Trang 18

1.3 Thuận lợi và thách thức với ngành thép khi Việt Nam hội nhập

1.3.1 Thách thức :

Ngành thép Việt Nam thời gian qua đã có những bước tiến vượt bậc, nănglực cạnh tranh đã có những cải thiện tuy nhiên vẫn còn những mặt hạn chế khiếnnăng lực cạnh tranh của thép nội địa còn thấp Đặc biệt khi nước ta đang ngày càngtham gia hội nhập sâu rộng vào thị trường quốc tế thì với những ưu thế của mình,thép ngoại nhập khẩu đang trở thành điều đáng lo ngại đối với các doanh nghiệpkinh doanh và sản xuất thép trong nước

Những mặt hạn chế có thể thấy ở thép nội địa :

+ Đầu tư và sản xuất thép phát triển nhanh nhưng thiếu bền vững Điều này

là do tình trạng đầu tư ồ ạt, dàn trải, mất cân đối cung cầu, quá tập trung vào lợinhuận ngắn hạn, phá vỡ quy hoạch

Trước nhu cầu thép xây dựng ngày càng tăng cao, cộng với sức hút về lợinhuận trong ngắn hạn, nhiều dự án quy mô lớn trong ngành thép liên tục được cấpgiấy phép trong thời gian qua như liên hợp thép Tycoons (Dung Quất) tổng đầu tư1,056 tỷ USD, công suất 4,5 triệu tấn/năm, dự án liên doanh Posco-Vinasin (KhánhHòa), tổng đầu tư 4 tỷ USD, công suất 4-5 triệu tấn/năm… Dự báo nhu cầu thépthành phẩm của Việt Nam đến 2020 chỉ tương đương 18 triệu tấn/năm trong khihàng loạt liên hợp thép ra đời dự kiến lượng cung sẽ gấp 3-4 lần nhu cầu Điều nàylàm phá vỡ quy hoạch, mất cân bằng cung-cầu thi trường

Công suất cán vượt khoảng 2 lần công suất luyện 80% lượng phôi thép đượcsản xuất từ thép phế liệu và khả năng tự đáp ứng về phôi thép cho cán thép xâydựng chỉ vào khoảng 45-50% Do đó chất lượng và giá cả và sản phẩm của thép nộiđịa phụ thuộc nhiều vào thị trường thế giới khiến ngành thép Việt Nam trở nên rấtnhạy cảm và dễ chịu tác động tiêu cực của biến động thị trường thép trên thế giới

Ngày đăng: 18/07/2013, 15:17

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w