1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp hoàn thiện phương pháp phân tích tài chính tại Công ty Bảo hiểm BIDV

101 508 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải pháp hoàn thiện phương pháp phân tích tài chính tại Công ty Bảo hiểm BIDV
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Tài chính
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2008
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 0,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề xuất hệ thống giải pháp nhằm hoàn thiện phương pháp phân tích tài chính tại Công ty Bảo hiểm BIDV.

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nền kinh tế Việt Nam đang trong quá trình chuyển đổi theo hướng kinh tế thịtrường, mở cửa và hội nhập kinh tế khu vực cũng như toàn cầu Kinh doanh có hiệuquả là một trong những yêu cầu có tính sống còn để doanh nghiệp tồn tại được trongnền kinh tế thị trường đầy rủi ro và biến động

Môi trường kinh doanh ngày càng biến động phức tạp, một mặt tạo ra những

cơ hội kinh doanh đem lại hiệu quả cao, một mặt đó là những thách thức, những rủi

ro mà doanh nghiệp có thể gặp phải Do đó, để có được những quyết định tại chínhkịp thời, đúng đắn nhà quản trị tài chính doanh nghiệp đều quan tâm đến phân tíchtài chính Nó là công cụ giúp nhà quản lý, nhà kinh doanh, chủ doanh nghiệp, vànhững người quan tâm nắm được thực trạng và tiềm năng tài chính, đánh giá đượcmức độ rủi ro và khả năng sinh lời của doanh nghiệp, từ đó có những giải pháp hữuhiệu nhất cho mỗi hoạt động của mình

Lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm là một lĩnh vực rất phức tạp, việc đánh giá,kiểm soát tình hình tài chính và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp là rất khókhăn Hầu hết các doanh nghiệp bảo hiểm ở Việt Nam là các doanh nghiệp mới hoạtđộng, kinh nghiệm, khả năng phân tích tài chính còn nhiều hạn chế Đặc biệt cácdoanh nghiệp bảo hiểm chưa có được phương pháp phân tích tài chính phù hợp để

có thể đánh giá, kiểm soát và dự báo được tình hình tài chính của doanh nghiệp,chất lượng phân tích tài chính chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu của người sửdụng, chưa là công cụ tích cực phục vụ cho việc ra quyết định tài chính Công tyBảo hiểm BIDV cũng là một trong những doanh nghiệp đó

Nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của Công ty Bảo hiểm BIDV trong thời giantới Việc hoàn thiện phương pháp phân tích tài chính là đòi hỏi cấp thiết Góp phầnđáp ứng đòi hỏi này, đề tài “Hoàn thiện phương pháp phân tích tài chính tại Công tyBảo hiểm BIDV” được lựa chọn nghiên cứu

2 Mục đích nghiên cứu

Trang 2

- Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về phương pháp phân tích tài chínhdoanh nghiệp.

- Phân tích, đánh giá thực trạng phương pháp phân tích tài chính tại Công tyBảo hiểm BIDV

- Đề xuất hệ thống giải pháp nhằm hoàn thiện phương pháp phân tích tài chínhtại Công ty Bảo hiểm BIDV

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp

- Phạm vi nghiên cứu: Phương pháp phân tích tài chính tại Công ty Bảo hiểmBIDV

- Vấn đề được nghiên cứu trên góc độ của Công ty

- Thời gian nghiên cứu: Nghiên cứu phương pháp phân tích tài chính tại Công

ty bảo hiểm BIDV trong giai đoạn 2006 – 2008

4 Phương pháp nghiên cứu

Dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch

sử, các phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong quá trình thực hiện luận văn là:

- Phương pháp thống kê, so sánh;

- Phương pháp tổng hợp và phân tích;

- Phương pháp điều tra, khảo sát thực tế;

- Phương pháp nghiên cứu tình huống;

5 Những đóng góp của đề tài

- Hệ thống hóa các vấn đề cơ bản về phương pháp phân tích tài chính doanhnghiệp

- Đánh giá thực trạng phân tích tài chính Tại Công ty Bảo hiểm BIDV

- Đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện phương pháp phân tích tài chính tại Công

ty Bảo hiểm BIDV

Trang 3

6 Nội dung nghiên cứu

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận vănbao gồm 03 chương

Chương 1: Các vấn đề cơ bản về phương pháp phân tích tài chính của doanh

nghiệp bảo hiểm

Chương 2: Thực trạng phương pháp phân tích tài chính tại Công ty Bảo hiểm

BIDV

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện phương pháp phân tích tài chính tại Công ty

Bảo hiểm BIDV

Trang 4

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH TÀI

CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM 1.1 Khái quát về doanh nghiệp bảo hiểm

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của doanh nghiệp bảo hiểm

Trong cuộc sống sinh hoạt cũng như hoạt động sản xuất kinh doanh hàng ngày

dù đã luôn ý thức ngăn ngừa và đề phòng nhưng con người vẫn luôn phải đối mặtvới nguy cơ xảy ra những rủi ro bất ngờ như: các rủi ro thiên tai, tai nạn bất ngờ đốivới con người, ốm đau, bệnh tật, mất việc làm, trộm cắp Bất kể do những nguyênnhân gì, khi rủi ro xảy ra thường gây cho con người những khó khăn trong cuộcsống như mất hoặc giảm thu nhập, phá hoại tài sản làm ngừng trệ sản xuất kinhdoanh của các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân và làm ảnh hưởng đến đời sống kinh

tế - xã hội nói chung

Để đối phó với những rủi ro, con người đã có nhiều biện pháp khác nhau nhằmkiểm soát cũng như khắc phục hậu quả của rủi ro gây ra như các biện pháp tránh nérủi ro, ngăn ngừa tổn thất, giảm thiểu tổn thất, tự chấp nhận rủi ro bằng hình thứcvay mượn hay lập các quỹ dự phòng để khắc phục tổn thất do rủi ro gây ra Mặc dùcác biện pháp kiểm soát rủi ro rất hiệu quả trong việc ngăn chặn hoặc giảm thiểu rủi

ro nhưng khi rủi ro đã xảy ra, người ta không thể lường hết được hậu quả Nhiều khitổn thất là quá lớn chúng ta không thể vay mượn hay các quỹ dự phòng không đủ đểkhắc phục tổn thất Mặt khác, việc tự chấp nhận rủi ro bằng hình thức vay mượnhay lập quỹ dự phòng để khắc phục tổn thất do rủi ro gây ra sẽ dẫn đến việc nguồnvốn không được sử dụng một cách tối ưu hoặc đi vay thì sẽ bị động và còn gặp phảinhiều vấn đề gia tăng lãi suất Để khắc phục những nhược điểm này và tìm raphương thức để quản lý rủi ro một cách hiệu quả nhất cho các tổ chức cũng như cánhân thì phương thức quản lý rủi ro bằng hình thức bảo hiểm ra đời

Hình thức bảo hiểm sơ khai xuất phát trong lĩnh vực hàng hải khi các chủ tầu,các nhà buôn bán, những người vận tải luôn tìm kiếm những hình thức bảo đảm an

Trang 5

toàn cho quyền lợi của mình Đầu tiên là vào khoảng thế kỷ thứ 5 trước Côngnguyên người ta đã tìm cách giảm nhẹ tổn thất toàn bộ một lô hàng bằng cách sannhỏ lô hàng của mình ra làm nhiều chuyến hàng Đây là cách phân tán rủi ro, tổnthất và có thể coi đó là hình thức nguyên khai của bảo hiểm Tiếp đó là việc các chủtàu tập hợp thành lập hội tương hỗ, các thành viên sẽ phải đóng góp phí hình thànhmột quỹ để chi trả cho những tổn thất phát sinh Vào thế kỷ XIV, đã xuất hiện cáchợp đồng bảo hiểm hàng hải đầu tiên mà theo đó một người bảo hiểm cam kết vớingười được bảo hiểm sẽ bồi thường những thiệt hại về tài sản mà người được bảohiểm phải gánh chịu khi có thiệt hại xảy ra trên biển, đồng thời với việc nhận mộtkhoản phí Ngày nay, với việc phát triển mạnh mẽ khoa học kỹ thuật, cuộc sống vậtchất, tinh thần ngày một nâng cao, nhu cầu đảm bảo an toàn, ổn định khi có nhữngtổn thất xảy ra, điều này đã tạo điều kiện cho ngành bảo hiểm ngày một phát triển

và đã xuất hiện rất nhiều loại hình bảo hiểm mới như bảo hiểm con người, bảo hiểmtài sản, bảo hiểm nông nghiệp, bảo hiểm kỹ thuật

Từ việc khái quát quá trình hình thành hình thức bảo hiểm để quản lý rủi ro,giảm thiểu những biến động khi tổn thất xảy ra ta có thể hiểu khái niệm bảo hiểmtheo một số nghĩa như sau:

“Bảo hiểm là một phương thức lập quỹ dự trữ bằng tiền do những người cócùng khả năng gặp một loại rủi ro nào đó đóng góp tạo nên”

“Bảo hiểm là hoạt động thể hiện người bảo hiểm cam kết bồi thường (theo quyluật thống kê) cho người tham gia bảo hiểm trong từng trường hợp xảy ra rủi rothuộc phạm vi bảo hiểm với điều kiện người tham gia nộp một khoản phí cho chínhanh ta hoặc người thứ ba” Điều này có nghĩa là người tham gia bảo hiểm chuyểngiao rủi ro cho người bảo hiểm bằng cách nộp khoản phí để hình thành quỹ dự trữ.Khi người tham gia gặp rủi ro dẫn đến tổn thất, người bảo hiểm lấy quỹ dự trữ trợcấp hoặc bồi thường thiệt hại thuộc phạm vi bảo hiểm cho người tham gia

Cũng như các loại hình doanh nghiệp khác, doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH)

là những tổ chức kinh tế được thành lập, hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực kinh

Trang 6

doanh bảo hiểm.

Theo Luật kinh doanh bảo hiểm số 24/2000/QH10 ngày 09 tháng 12 năm 2000thì DNBH là doanh nghiệp được thành lập, tổ chức và hoạt động theo quy định củaLuật Kinh doanh bảo hiểm và các quy định khác của pháp luật có liên quan để kinhdoanh bảo hiểm và tái bảo hiểm

DNBH hoạt động dựa trên cơ sở của việc hình thành và sử dụng các quỹ bảohiểm Quỹ bảo hiểm được hình thành trên cơ sở sự đóng góp của những người thamgia bảo hiểm, DNBH cung cấp chứng chỉ bảo hiểm cho những người tham gia bảohiểm Các quỹ bảo hiểm này sẽ được dùng để chi trả cho những tổn thất có thể xảy

ra đối với người tham gia bảo hiểm để họ có thể khắc phục được những hậu quả củatổn thất Thực chất đây là khoản đóng góp của một số đông những người tham gia

để chi trả cho một số người không may gặp phải rủi ro để có thể bù đắp, khắc phụcnhững tổn thất, đảm bảo ổn định cuộc sống, đảm bảo sản xuất kinh doanh

Chính từ đặc thù kinh doanh trong lĩnh vực bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm

có những đặc điểm riêng khác với những loại hình doanh nghiệp khác, cụ thể:

Hoạt động của DNBH luôn gắn với dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm: DNBH

hoạt động thông qua việc hình thành và sử dụng các quỹ bảo hiểm Các quỹ bảohiểm được hình thành trên cơ sở sự đóng góp của người tham gia bảo hiểm Cácquỹ này DNBH sẽ dùng để chi trả bồi thường cho những tổn thất có thể xảy ra trongthời gian bảo hiểm Những tổn thất có thể phát sinh bất cứ lúc nào trong thời hạnbảo hiểm, tần suất, mức độ tổn thất cũng không thể dự đoán trước đối với từng hợpđồng bảo hiểm mà hoạt động bảo hiểm dựa trên nguyên tắc số đông bù số ít Do đó,trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm, DNBH luôn phải trích lập các khoản dựphòng để đảm bảo khả năng thanh toán khi có những tổn thất phát sinh Các quỹ dựphòng chủ yếu như: Dự phòng phí chưa được hưởng dùng để bồi thường cho tráchnhiệm sẽ phát sinh trong thời gian còn hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm trong nămtiếp theo; Dự phòng bồi thường cho những khiếu nại chưa được giải quyết; Dựphòng bồi thường cho các dao động lớn: dùng để bồi thường khi có dao động lớn vềtổn thất hoặc tổn thất lớn xảy ra sau khi đã trừ hai loại dự phòng nghiệp vụ trên

Trang 7

không đủ để trả tiền bồi thường thuộc phần trách nhiệm của doanh nghiệp bảohiểm; Dự phòng toán học: đây là khoản dự phòng lớn nhất đối với loại hình bảohiểm nhân thọ dùng để chi trả cho khách hàng khi đáo hạn hợp đồng hoặc khi ngườiđược bảo hiểm tử vong Phần vốn tự có của doanh nghiệp bảo hiểm chiếm tỷ trọngthấp trong tổng nguyồn vốn hoạt động Do đó trong hoạt đông kinh doanh củamình, doanh nghiệp phải đảm bảo nhu cầu chi trả bồi thường khi tổn thất xảy ra,đặc biệt đối với những tổn thất lớn mang tính thảm họa Từ đó cho thấy việc phântích khả năng thanh toán và tình hình quản lý các quỹ bảo hiểm có ý nghĩa rấtquan trọng.

Hoạt động kinh doanh bảo hiểm có vốn pháp định lớn: Do yêu cầu đảm bảo

khả năng thanh toán đối với các doanh nghiệp bảo hiểm được yêu cầu rất cao, cácdoanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ khi thành lập và hoạt động thì yêucầu về mức vốn pháp định là rất lớn

Việc đánh giá, phân tích hiệu quả kinh doanh rất phức tạp: Điều này xuất

phát từ đặc điểm sản phẩm bảo hiểm là sản phẩm của “chu trình hạch toán đảongược” Không giống như các sản phẩm khác, giá cả sản phẩm bảo hiểm – phí bảohiểm được xác định dựa trên những số liệu ước tính về các chi phí có thể phát sinhtrong tương lai như chi bồi thường (trả tiền bảo hiểm), chi hoa hồng, chi tái bảohiểm Trong khi giá cả của những sản phẩm thông thường được xác định trên cơ

sở chi phí thực tế phát sinh

Ngoài ra sản phẩm bảo hiểm là sản phẩm có “hiệu quả xê dịch” tức là doanhnghiệp bảo hiểm thu phí bảo hiểm của người tham gia bảo hiểm và thực hiện bồithường khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra Do vậy, nếu rủi ro xảy ra ít thì doanh nghiệp

có lợi nhuận lớn hơn dự kiến Ngược lại, nếu rủi ro xảy ra với tần suất hoặc với quy

mô lớn hơn dự kiến, doanh nghiệp bảo hiểm có thể bị lỗ

Điều này có nghĩa là nếu như trong các lĩnh vực kinh doanh khác, hiệu quảkinh doanh có thể xác định được khá chính xác ngay tại thời điểm sản phẩm đượctiêu thụ thì trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm, hiệu quả kinh doanh khó có thể xácđịnh được ngay tại thời điểm sản phẩm được bán

Trang 8

DNBH là những trung gian đầu tư: Các doanh nghiệp bảo hiểm là các tổ

chức tài chính trung gian giữ một vai trò quan trọng trong nền kinh tế Các kháchhàng trả phí cho các doanh nghiệp bảo hiểm để đổi lấy sự cam kết sẽ được đảm bảo

về tài chính trong trường hợp xảy ra tổn thất Như vậy các, doanh nghiệp bảo hiểmnắm trong tay một lượng vốn tạm thời rất lớn Hiện nay, đầu tư tài chính luôn làmột phần không thể thiếu trong hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm

Hoạt động của DNBH luôn gắn với hoạt động TBH: Một đặc điểm nữa là

các tài sản, công trình được bảo hiểm thường có giá trị lớn hơn rất nhiều khả năngtài chính của các DNBH Do đó, đểm bảo đảm an toàn trong hoạt đông kinh doanhbảo hiểm, phòng tránh rủi ro như khi tổn thất xảy ra mang tính thảm họa hay tích tụ

và tăng cường năng lực tài chính cho các DNBH; do vậy, DNBH phải thực hiện cácbiện pháp dàn trải rủi ro, trong đó phương pháp truyền thống là TBH để giảm thiểucác rủi ro này Cho nên việc quan tâm đến hoạt động TBH cũng được đưa vàotrong hoạt động phân tích tài chính

Hoạt động của DNBH luôn được quản lý chặt chẽ: Hoạt động của DNBH

liên quan đến nhiều mặt, nhiều lĩnh vực hoạt động của nền kinh tế, liên quan đến lợiích đông đảo cá nhân và các tổ chức hoạt động trong nền kinh tế quốc dân, đặc biệtđối với doanh nghiệp có kinh doanh loại hình bảo hiểm nhân thọ Vì vậy, tình hìnhtài chính của DNBH có ảnh hưởng lớn đến sức khỏe của nền kinh tế và tâm lý củachúng Do đó, DNBH luôn luôn được sự quan tâm thường xuyên và chặt chẽ củacác cơ quan kiểm tra giám sát thừa hành pháp luật, và chính bản thân trong mỗidoanh nghiệp bảo hiểm phải luôn kiện toàn hệ thống thanh tra kiểm soát nội bộ Vìvậy, vịec phân tích đánh giá thực trạng tài chính của DNBH không chỉ là nhu cầucấp thiết phục vụ cho hoạt động của các nhà quản trị doanh nghiệp, mà còn là đòihỏi bắt buộc của Cơ quan quản lý bảo hiểm

Hoạt động của DNBH luôn gặp nhiều rủi ro: Hoạt động của DNBH chứa

đựng nhiều rủi ro cả về tần suất và mức độ, trong đó một số loại rủi ro DNBH cóthể chủ động phòng ngừa, còn một loại rủi ro khác DNBH chỉ có thể khống chếtrong phạm vi nhất định, ví dụ như rủ ro về khả năng thanh toán của các DNBH

Trang 9

khác khi nhận một phần rủi ro từ bản thân DNBH được nghiên cứu Do đó trongquá trình hoạt động DNBH phải luôn cảnh giác, nghiên cứu, phân tích, đánh giá, dựbáo và có những biện pháp phòng ngừa từ xa có hiệu quả Ngoài ra, điều này đòihỏi DNBH phải tự đánh giá được khả năng tự chịu rủi ro của mình.

Hoạt động bảo hiểm có sự cạnh tranh rất gay gắt: Sản phẩm bảo hiểm là sản

phẩm vô hình và có chu kỳ kinh doanh ngược, KQKD không thể xác định chính xácvào thời điểm cung cấp sản phẩm Thêm vào đó thị trường bảo hiểm Việt Nam làthị trường mới phát triển, các số liệu đánh giá về hiệu quả của ngành là chưa có Sựxuất hiện ngày càng nhiều các doanh nghiệp bảo hiểm mới cùng với việc Việt Namchính thức ra nhập WTO từ tháng 11/2006 và thực hiện cam kết WTO thì Việt Nam

sẽ phải mở cửa thị trường bảo hiểm, cho phép các doanh nghiệp bảo hiểm 100%vốn nước ngoài được phép thành lập và được phép kinh doanh bình đẳng như cácdoanh nghiệp bảo hiểm trong nước và đặc biệt sau 5 năm ra nhập WTO sẽ cho phépcác doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài được phép thành lập chi nhánh tại ViệtNam Điều này sẽ tạo sức ép cạnh tranh rất lớn, các doanh nghiệp bảo hiểm trongnước, trong đó có Công ty Bảo hiểm BIDV sẽ bị chia sẻ thị trường, biến động vềnhân sự giữa các công ty bảo hiểm

1.1.2 Hoạt động chủ yếu của doanh nghiệp bảo hiểm

Trong bất kỳ một doanh nghiệp nào, không chỉ là các doanh nghiệp thươngmại nói chung mà DNBH nói riêng tất cả đều phải có những hoạt động cơ bản đểnhằm phục vụ cho mục đích phát triển cũng như tồn tại của doanh nghiệp mình CácDNBH kinh doanh trong lĩnh vực bảo hiểm, do đó ngoài những đặc điểm chung thìhoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm cũng mang những đặc thù riêng Các hoạtđộng chủ yếu của DNBH có thể khái quát là: Hoạt động khai thác bảo hiểmgốc, hoạt động kinh doanh TBH và hoạt động đầu tư

Khai thác bảo hiểm gốc

Khai thác bảo hiểm gốc là hoạt động chủ yếu, đóng vai trò quan trọng và nòngcốt trong tất cả các hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm Hoạt động khai thác bảo

Trang 10

hiểm gốc của doanh nghiệp dựa trên việc doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận quản lý

và chuyển giao rủi ro cho người tham gia bảo hiểm và người tham gia bảo hiểmđóng một khoản phí bảo hiểm cho rủi ro đó trên cơ sở tính chất cũng như mức độrủi ro của người tham gia bảo hiểm Người tham gia bảo hiểm sẽ nhận được tiền bồithường khi có sự kiện được bảo hiểm xảy ra để khắc phục những hậu quả của tổnthất và khôi phục tình trạng tài chính ban đầu, đảm bảo hoạt động sản xuất kinhdoanh

Hoạt động kinh doanh bảo hiểm phải tuân thủ theo các nguyên tắc có tính quyluật đó là nguyên tắc: Số đông bù số ít, tức là dùng phí bảo hiểm của nhiều ngườitham gia bảo hiểm để chi trả cho một số ít người không may gặp rủi ro Khi triểnkhai nghiệp vụ bảo hiểm, các doanh nghiệp bảo hiểm cần đảm bảo nguyên tắc này

Tái bảo hiểm

Hoạt động TBH là một trong những hoạt động quan trọng của DNBH Thôngqua hoạt động này, DNBH sẽ thực hiện chuyển giao rủi ro của người tham gia bảohiểm cho một DNBH khác hoặc công ty TBH Ngược lại, DNBH cũng nhận bảohiểm một phần hay toàn bộ rủi ro mà DNBH khác đã chấp nhận Thông qua hoạtđộng chuyển, nhượng, nhận TBH, doanh nghiệp bảo hiểm đã thực hiện việc chuyểngiao rủi ro cho người tham gia bảo hiểm và tiến hành phân tán rủi ro đảm bảo ổnđịnh kinh doanh và an toàn cho doanh nghiệp, vừa phát triển mối quan hệ kinh tếvới các nước

Phí bảo hiểm đóng trước dựa trên xác suất rủi ro dự tính theo số liệu thống

kê quá khứ, tuy nhiên nhà bảo hiểm có thể phải đối mặt với rủi ro của chính mình,khi xác suất rủi ro dự tính không đúng với xác suất rủi ro thực tế dẫn đến việc phíbảo hiểm thu được không đáp ứng khả năng chi trả bồi thường vì vậy để bảo vệ chochính mình các DNBH đã sử dụng các hình thức phân tán rủi ro đó là đồng bảohiểm và TBH Trong đó, hình thức TBH là sự phân tán rủi ro mà người bảo hiểmphải gánh chịu cho những người bảo hiểm khác TBH là sự bảo hiểm cho những rủi

ro mà nhà bảo hiểm phải gánh chịu bởi những nhà bảo hiểm khác TBH là sự bảo

Trang 11

hiểm mới được thực hiện bởi một hợp đồng mới là hợp đồng TBH cho những rủi ro

đã được bảo hiểm trước đó nhằm chi trả bồi thường cho những cam kết đã đượcthực hiện trước và cả hai hợp đồng cùng diễn ra trong một thời gian Hoạt độngTBH nhằm các mục đích sau:

- An toàn: Một trong số những lý do để mua bảo hiểm là người được bảo hiểm

muốn giảm bớt lo âu về sự không chắc chắn của tổn thất Mua bảo hiểm tạo ra yếu

tố an tâm DNBH cũng tìm kiếm sự an toàn, an tâm và đạt được những điều nàybằng việc mua TBH

- Ổn định: DNBH gốc cũng có thể tránh sự biến động trong các khoản chi bồi

thường trong mọt năm và qua các năm bằng việc mua TBH Một lần nữa đây là mộtđộng lực tương tự như động lực khiến người được bảo hiểm mua bảo hiểm của cácDNBH gốc

- Năng lực: DNBH có thể có giới hạn về tài chính đối với mức độ rủi ro mà họ

có thể chấp nhận Hầu hết các trường hợp là như vậy, dù công ty lớn đến mức nào

đi nữa, điều muốn nói ở đây là dịch vụ có thể bị từ chối hay chỉ được chấp nhận mộtphần Bằng cách mua TBH, DNBH có thể gọi là DNBH gốc, có khả năng tăng nănglực của họ để chấp nhận dịch vụ

- Thảm họa: DNBH gốc không thể tránh khỏi khả năng gặp phải rủi ro thảm

họa lớn Điều này có thể dẫn đến những khó khăn về tài chính mà DNBH muốntránh bằng cách mua TBH để chuyển nhượng phần lớn rủi ro đó cho công ty TBH

Hoạt động đầu tư

Về bản chất, phí bảo hiểm là một khoản phải trả Người tham gia bảo hiểmđóng phí cho các DNBH để đổi lấy sự cam kết sẽ được đảm bảo về tài chính trongtrường hợp có xảy ra tổn thất Có thể nói hoạt động kinh doanh bảo hiểm gốc đó làquá trình huy động vốn thông qua hình thức bán chứng chỉ bảo hiểm Với đặc điểmkinh doanh bảo hiểm là sản phẩm bảo hiểm có chu kỳ kinh doanh sản xuất đảongược tiền bán sản phẩm thu hồi trước, còn cam kết bồi thường trả tiền bảo hiểmđược thực hiện sau khi mua sản phẩm được một khoảng thời gian nhất định nào đó

Trang 12

khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra Chính bởi vì thế, trong tay các nhà bảo hiểm có mộtquỹ tài chính rất lớn, tuy nhiên quỹ này sẽ không được sử dụng để bồi thường haychi trả hết ngay, mà sẽ còn một lượng tiền nhàn rỗi, dư thừa chưa được sử dụng đến.

Do đó, doanh nghiệp bảo hiểm sẽ sử dụng lượng phí bảo hiểm mà người tham giabảo hiểm đóng góp chưa sử dụng đến để thực hiện hoạt động đầu tư sinh lời

Hoạt động đầu tư tài chính luôn là một phần không thể thiếu trong hoạt độngcủa các DNBH Việc đầu tư nguồn vốn nhàn rỗi vừa là quyền lợi cũng đồng thời làtrách nhiệm của các DNBH với khách hàng Việc tăng cường hoạt động đầu tư hiệuquả, an toàn sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp bù đắp một phần chi phí tronghoạt động kinh doanh bảo hiểm, điều này sẽ tạo điều kiện cho việc cung cấp nhữngdịch vụ được tốt hơn, sẽ giúp bù đắp một phần phí bảo hiểm mà người tham gia bảohiểm phải đóng Ngược lại hoạt động đầu tư kém hiệu quả, không an toàn có thểdẫn đến thua lỗ, phá sản như vậy quyền lợi của người tham gia bảo hiểm khôngđược đảm bảo

Thực tế tại những nước có nền kinh tế phát triển thì các DNBH (đặc biệt là cácDNBH nhân thọ) là nguồn cung cấp chính cho các quỹ đầu tư trên thị trường vốn.Nguồn vốn của các DNBH chủ yếu được hình thành từ vốn nhàn rỗi (được trích lậpcho các quỹ dự phòng nghiệp vụ theo quy định của pháp luật)

Hoạt động đầu tư của DNBH luôn được kiểm soát chặt chẽ nhằm đảm bảonguyên tắc an toàn, sinh lời và đảm bảo khả năng thanh toán khi có các sự kiện bảohiểm xảy ra Chính vì lẽ đó nhà nước đã có những quy định, giới hạn lĩnh vực đầu

tư của các DNBH

1.1.3 Phân tích tài chính doanh nghiệp bảo hiểm

Tài chính doanh nghiệp là các quan hệ kinh tế phát sinh gắn liền với quá trìnhtạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ trong quá trình hoạt động kinh doanhcủa doanh nghiệp nhằm đạt tới mục tiêu của doanh nghiệp

Phân tích tài chính là sử dụng một tập hợp các khái niệm, phương pháp và cáccông cụ cho phép xử lý các thông tin kế toán và các thông tin khác về quản lý nhằm

Trang 13

đánh giá tình hình tài chính của một doanh nghiệp, đánh giá rủi ro, mức độ và chấtlượng hiệu quả của doanh nghiệp đó Phân tích tài chính có thể được hiểu như làquá trình kiểm tra, xem xét các số liệu tài chính hiện hành và quá khứ, nhằm mụcđích đánh giá, xem xét và dự tính các rủi ro, tiềm năng của doanh nghiệp trongtương lai làm cơ sở cho việc ra quyết định tài chính và đánh giá doanh nghiệp mộtcách chính xác.

Việc phân tích tài chính là mối quan tâm của nhiều đối tượng khác nhau nhưHội đồng quản trị, Ban (Tổng) Giám đốc, các nhà đầu tư, các cổ đông, các chủ nợ,các nhà cho vay tín dụng, các nhân viên Ngân hàng, thuế, các nhà quản lý, các cơquan quản lý bảo hiểm và người lao động Mỗi đối tượng lại quan tâm theo giác độ

và với mục tiêu khác nhau, cụ thể:

Đối với các nhà quản trị doanh nghiệp

Phân tích tài chính doanh nghiệp đối với nhà quản trị doanh nghiệp nhằm đápứng các mục tiêu sau:

- Tạo thành các chu kỳ đánh giá đều đặn về các hoạt động kinh doanh tronggiai đoạn đã qua, tiến hành cân đối tài chính, khả năng sinh lợi, khả năng thanhtoán, trả nợ, rủi ro tài chính doanh nghiệp

- Định hướng các quyết định của Ban lãnh đạo như quyết định đầu tư, tài trợ,chiến lược phát triển sản phẩm, thị trường và phân chi lợi tức cổ phần…

- Là cơ sở cho các dự báo tài chính: kế hoạch đầu tư, kế hoạch tài chính…

- Phân tích tài chính nhằm kiểm soát các mặt hoạt động của doanh nghiệp.Trên cơ sở đó đưa ra các biện pháp quản lý thích ứng để thực hiện các mục tiêu củadoanh nghiệp

Phân tích tài chính làm nổi bật tầm quan trọng của dự báo tài chính và là cơ sởcho các nhà quản trị, làm sáng tỏ không chỉ chính sách tài chính mà còn làm rõ cácchính sách phát triển kinh doanh chung

Đối với các nhà đầu tư

Các cổ đông (cá nhân hoặc doanh nghiệp)

Quan tâm trực tiếp đến tính toán các giá trị của doanh nghiệp vì họ giao vốn

Trang 14

cho doanh nghiệp và có thể phải chịu rủi ro.

Thu nhập của cổ đồng là tiền lời được chia (lợi tức cổ phần) và thặng dư giá trịcủa vốn Hai yếu tố này phần lớn chịu ảnh hưởng của lợi nhuận thu được của doanhnghiệp Do vậy, các nhà đâu tư thường đến tiến hành đánh giá khả năng sinh lợi,tiền lời bình quân cổ phiếu của doanh nghiệp, chính sách phân phối lợi nhuận củadoanh nghiệp, triển vọng phát triển của doanh nghiệp, các lợi ích khác có thể thuđược từ doanh nghiệp

Phân tích tài chính đối với nhà đầu tư là để đánh giá doanh nghiệp và ước đoángiá trị cổ phiếu, dựa vào việc nghiên cứu các báo biểu tài chính, khả năng sinh lời,phân tích rủi ro trong kinh doanh để quyết định đầu tư hay không đầu tư

Đối với người cho vay

Nhà cho vay quan tâm tới tình hình tài chính để nhận biết khả năng vay và trả

nợ của khách hàng Từ đó có quyết định cho vay hay không, cho vay bao nhiêu,thời hạn ra sao v.v

Ngoài ra, phân tích tài chính doanh nghiệp cũng rất cần thiết đối với nhữngngười hưởng lương trong doanh nghiệp, cơ quan thuế, thanh tra v.v Dù họ côngtác ở các vị trí khác nhau, nhưng họ đều muốn biết về hoạt động của doanh nghiệp

mà họ quan tâm nhằm thực hiện tốt hơn công việc của họ

Các vấn đề cơ bản cần được giải đáp trong quá trình phân tích tài chính doanhnghiệp là hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, những điểm mạnh và điểm yếu củadoanh nghiệp, khó khăn hiện tại của doanh nghiệp, khả năng sinh lời của doanhnghiệp và mức độ rủi ro ro về tài chính

Thực chất hoạt động DNBH là quá trình thực hiện quản lý rủi ro, phân tán rủi

ro cho người tham gia bảo hiểm trên có sở sự đóng góp của người tham gia bảohiểm để hình thành các quỹ bảo hiểm dùng để chi trả cho những sự cố được bảohiểm xảy ra Các quỹ bảo hiểm là các khoản phải trả cho những người tham gia bảohiểm khi có sự cố xảy ra Do đó, đối với DNBH thì yêu cầu đảm bảo về khả năngthanh toán, đảm bảo an toàn là đặc biệt quan trọng Hoạt động phân tích tài chínhđối với DNBH ngoài việc thực hiện phân tích toàn diện về tình hình tài chính của

Trang 15

doanh nghiệp thì còn phải tập trung phân tích chuyên sâu theo từng chuyên đề Cácnội dung phân tích tài chính chủ yếu của DNBH:

- Phân tích cơ cấu tài sản và nguồn vốn của doanh nghiệp: giúp cho ngườiphân tích tìm hiểu sự thay đổi về giá trị, tỷ trọng của tài sản, nguồn vốn qua các thời

kỳ như thế nào, sự thay đổi này bắt nguồn từ những dấu hiệu tích cực hay thụ độngtrong quá trình sản xuất kinh doanh, có phù hợp với việc nâng cao năng lực tàichính, tính tự chủ về tài chính, khai thác nguồn vốn và sử dụng hiệu quả tài sản củadoanh nghiệp hay không

- Phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng nguồn vốn: Trong quá trình tiếnhành hoạt động kinh doanh thì các loại tài sản và nguồn vốn của doanh nghiệp luônluôn biến động và tại mỗi thời điểm khác nhau thì sự biểu hiện của các loại tài sản

và nguồn vốn cũng không giống nhau Vì vậy, việc phân tích diễn biến nguồn vốn

và sử dụng vốn là rất cần thiết vì nó giúp cho doanh nghiệp đánh giá được tính chấthợp lý của toàn bộ quá trình tổ chức tạo lập vốn và sử dụng vốn doanh nghiệp

- Phân tích tình hình tài chính qua Báo cáo KQKD: Báo cáo kết quả hoạt độngkinh doanh là một bản báo cáo tài chính tổng hợp phản ánh tình hình và kết quảhoạt động kinh doanh theo từng loại hoạt động của doanh nghiệp Nội dung của báocáo kết quả hoạt động kinh doanh thay đổi theo từng thời kỳ tùy thuộc vào yêu cầuquản lý, nhưng khi đánh giá khái quát tình hình tài chính thì phân tích Báo cáo kếtquả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm phải phản ánh được nhữngnội dung cơ bản: Phí bảo hiểm gốc; Phí TBH; Dự phòng phí; Hoa hồng TBH; Chibồi thường bảo hiểm gốc; Chi bồi thường TBH; Tăng giảm các khoản dự phòng;Chi phí hoạt động kinh doanh; Chi phí quản lý doanh nghiệp; Lãi; Lỗ

- Phân tích báo cáo lưu chuyển tiền tệ: Báo cáo lưu chuyển tiền tệ chính là mộtbáo cáo tài chính tổng hợp phản ánh việc hình thành và sử dụng lượng tiền phát sinhtrong kỳ Báo cáo lưu chuyển tiền tệ thực chất là một báo cáo cung cấp thông tin vềnhững sự kiện và nghiệp vụ kinh tế có ảnh hưởng đến tình hình tiền tệ của mộtdoanh nghiệp trong kỳ báo cáo

Trang 16

- Phân tích hiệu quả sử dụng vốn: Hiệu quả sử dụng vốn là vấn đề then chốtgắn liền với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Phân tích hiệu quả sử dụngvốn có tác dụng đánh giá chất lượng công tác quản lý kinh doanh trong doanhnghiệp Trên cơ sở đó đề ra các biện pháp nhằm nâng cao hơn nữa kết quả sản xuấtkinh doanh, hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.

- Phân tích khả năng thanh toán của doanh nghiệp: Doanh nghiệp bảo hiểmhoạt động trên cơ sở sự đóng góp phí bảo hiểm của người tham gia bảo hiểm đểhình thành nên các quỹ dùng để chi trả khi sự kiện bảo hiểm sảy ra Phí bảo hiểmngười tham gia bảo hiểm đóng trước và việc chi trả bảo hiểm được thực hiện sau và

có thời gian và mức độ không xác định Do đó, đảm bảo khả năng thanh toán đốivới doanh nghiệp bảo hiểm luôn được coi trọng nhằm đảm bảo quyền lợi bảo hiểmcho người tham gia bảo hiểm

- Phân tích hoạt động đầu tư: Đầu tư là hoạt động rất quan trọng đối với cácdoanh nghiệp bảo hiểm Các doanh nghiệp bảo hiểm với lượng vốn nhàn dỗi rất lớn

từ các quỹ dự phòng bảo hiểm, các doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện hoạt động đầu

tư nhằm mục đích sinh lời một phần nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh, mộtphần hỗ trợ người tham gia bảo hiểm

- Phân tích trích lập quỹ dự phòng: Hoạt động của doanh nghiệp luôn gắn vớiviệc hình thành các quỹ dự phòng Đây là các khoản quỹ dùng để chi trả trongtương lai, nếu việc trích lập không đây đủ sẽ ảnh hưởng đến khả năng chi trả trongtương lai, nếu trích quá lớn sẽ ảnh hưởng đến KQKD hiện tại Do đó các doanhnghiệp bảo hiểm cần phân tích, đánh giá việc trích lập các quỹ dự phòng theo từngnghiệp vụ để đảm bảo hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

- Phân tích hoạt động TBH: Đây là một trong những hoạt động chính củadoanh nghiệp bảo hiểm Hoạt động TBH ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạtđộng của doanh nghiệp, ảnh hưởng đến khả năng đảm bảo an toàn cho doanhnghiệp Doanh nghiệp bảo hiểm thường phải cấn đối giữa đảm bảo an toàn chodoanh nghiệp và đảm bảo hiệu quả kinh doanh

Trang 17

1.2 Phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp bảo hiểm

1.2.1 Các phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp bảo hiểm

Để đảm bảo việc phân tích tài chính được chính xác, kịp thời, đánh giá đượccác mặt mạnh, các mặt yếu của một doanh nghiệp, tìm ra nguyên nhân khách quan

và chủ quan giúp cho từng đối tượng lựa chọn và đưa ra được những quyết định phùhợp thì người phân tích đã vận dụng các công cụ và biện pháp nhằm tiếp cận đánhgiá tình hình tài chính của doanh nghiệp

Như vậy, phương pháp phân tích họat động tài chính doanh nghiệp là hệ thốngcác công cụ và biện pháp nhằm tiếp cận nghiên cứu đánh giá các sự kiện, hiệntượng, quan hệ, các mối liên hệ bên trong và bên ngoài, các luồng chuyển dịch vàbiến đổi tài chính trong hoạt động kinh tế của doanh nghiệp

Về mặt lý thuyết, có nhiều phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp.Người phân tích tài chính sẽ lựa chọn kết hợp các phương pháp phân tích để tiếnhành phân tích toàn diện tình hình tài chính doanh nghiệp hay thực hiện phân tíchtài chính theo chuyên đề Xuất phát từ đặc điểm của hoạt động kinh doanh bảo hiểmthì ngoài việc thực hiện phân tích toàn diện tình hình tài chính của doanh nghiệpcòn cần phải đặc biệt quan tâm đến việc phân tích khả năng thanh toán, khả năngcân đối vốn của doanh nghiệp Do đó các phương pháp phân tích tài chính chủ yếuđược áp dụng trong các DNBH là: Phương pháp so sánh, phương pháp hệ số,phương pháp loại trừ hay phương pháp phân tích nhân tố, phương pháp tương quan

và hồi quy bội, phương pháp tách đoạn (Dupont) Cụ thể như sau:

1.2.1.1 Phương pháp so sánh

Phương pháp so sánh là phương pháp đối chiếu sự kiện (chỉ tiêu) kinh tếnghiên cứu với sự kiện (chỉ tiêu) được chọn làm gốc so sánh nhằm nghiên cứu sựbiến động và xác định mức độ biến động của chỉ tiêu phân tích

So sánh cũng là phương pháp được sử dụng phổ biến nhất trong phân tích đểxác định xu hướng, mức độ biến động của chỉ tiêu phân tích Khi sử dụng phươngpháp so sánh vào phân tích tài chính của doanh nghiệp thì cần chú ý đến các vấn đề sau:

Thứ nhất: Xác định gốc để so sánh:

Trang 18

Việc xác định gốc so sánh tùy thuộc vào mục đích của phân tích Gốc so sánhđược chọn là gốc về mặt không gian và thời gian Kỳ phân tích được chọn là kỳthực hiện hoặc kỳ kế hoạch, hoặc kỳ kinh doanh trước Giá trị so sánh có thể chọn

là số tuyệt đối, số tương đối, hoặc là số bình quân Cụ thể:

* Khi nghiên cứu nhịp độ biến động của các chỉ tiêu, số gốc để so sánh là trị

số của chỉ tiêu kỳ này

* Khi nghiên cứu nhịp điệu thực hiện nghiệm vụ kinh doanh trong từngkhoảng thời gian trong một năm thường so sánh với cùng kỳ năm trước

* Khi đánh giá mức độ biến động so với các mục tiêu đã dự kiến, trị số thực tế

sẽ được so sánh với mục tiêu nêu ra (kế hoạch, dự toán…)

* Khi nghiên cứu khả năng đáp ứng nhu cầu thị trường có thể so sánh số thực

tế với mức hợp đồng hoặc tổng nhu cầu…

* Khi xác định vị trí của doanh nghiệp thì gốc so sánh được xác định là giá trịtrung bình của ngành hay chỉ tiêu phân tích của đối thủ cạnh tranh

Các số kỳ trước, kế hoạch, hoặc từng kỳ năm trước gọi chung là kỳ gốc Thời

kỳ chọn để phân tích gọi tắt là kỳ phân tích

Khi so sánh mức đạt được trên các chỉ tiêu ở đơn vị khác nhau, ngoài các điềukiện đã nêu, cần đảm bảo điều kiện khác, như: cùng phương hướng kinh doanh,điều kiện kinh doanh tương tự như nhau

Thứ hai: Về điều kiện so sánh:

Để phép so sánh có ý nghĩa thì điều kiện tiên quyết là các chỉ tiêu được sửdụng phải đồng nhất Trong thực tế thường điều kiện có thể so sánh được giữ cácchỉ tiêu kinh tế cần được quan tâm cả về thời gian và không gian

* Về mặt thời gian: là các chỉ tiêu được tính trong cùng một khoảng thời gianhạch toán phải thống nhất trên 3 mặt sau:

- Phải cùng phản ánh nội dung kinh tế,

- Phải cùng một phương pháp tính toán,

- Phải cùng một đơn vị đo lường,

* Về mặt không gian: Các chỉ tiêu cần phải được quy đổi về cùng quy mô và

Trang 19

điều kiện kinh doanh tương tự như nhau:

Ví dụ: Nghiên cứu chỉ tiêu lợi nhuận trước thuế của hai doanh nghiệp A là100tr.đ, doanh nghiệp B là 50tr.đ Nếu ta vội vàng kết luận là doanh nghệp A hiệuquả kinh doanh gấp 2 doanh nghiệp B là chưa có cơ sở vững chắc, cho dù cùng thờigian kinh doanh như nhau, nhưng nếu như cho biết thêm về quy mô vốn hoạt độngcủa doanh nghệp A gấp 4 lần vốn họat động của doanh nghiệp B, thì kết luận trên sẽ

là ngược lại, B hiệu quả hơn A chứ không phải A hiệu quả hơn B

* Để đảm bảo tính đồng nhất người ta cần phải quan tâm tới phương diệnđược xem xét mức độ đồng nhất có thể chấp nhận được, độ chính xác cần phải có,thời gian phân tích được cho phép v.v…

Để đáp ứng các mục tiêu nghiên cứu thường người ta sử dụng những kỹ thuật

so sánh sau:

- So sánh bằng số tuyệt: là kết quả của phép trừ giữa trị số của kỳ phân tích

so với kỳ gốc của các chỉ tiêu kinh tế, kết quả so sánh biểu hiện khối lượng quy mô của các hiện tượng kinh tế

- So sánh bằng số tương đối: là kết quả của phép chia, giữa trị số của kỳphân tích so với kỳ gốc của các chỉ tiêu kinh tế, kết quả so sánh biểu hiện kết cấu,mối quan hệ, tốc độ phát triển, mức phổ biến của các hiện tượng kinh tế

- So sánh bằng số bình quân: số bình quân là dạng đặc biệt của số tuyệt đối,biểu hiện tính chất đặc trưng chung về mặt số lượng, nhằm phản ánh đặc điểmchung của một đơn vị, một bộ phận, hay tổng thể chung có cùng một tính chất

- So sánh mức biến độ tương đối điều chỉnh theo hướng quy mô chung: làkết quả so sánh của phép trừ giữa trị số của kỳ phân tích với trị số kỳ gốc đã đượcđiều chỉnh theo hệ số của chỉ tiêu có liên quan theo hướng quyết định quy môchung

Công thức:

Mức biến động

tương đối = Chỉ tiêu kỳ phân tích - Chỉ tiêu kỳ gốc x Hệ số điều chỉnh

Trang 20

Tùy theo mục đích, yêu cầu của phân tích, tính chất và nội dung của các chỉtiêu kinh tế mà người ta sử dụng kỹ thuật so sánh phù hợp.

Thứ ba: hình thức so sánh: Quá trình phân tích theo kỹ thuật của phương pháp

so sánh có thể thực hiện theo ba hình thức:

- So sánh theo chiều ngang: là việc so sánh, đối chiếu tình hình biến động cả

về số tuyệt đối và số tương đối trên từng chỉ tiêu trong các báo cáo kế toán – tàichính Thực chất của việc phân tích này là phân tích sự biến động về quy mô củatừng khoản mục trong các báo cáo kế toàn – tái chính Qua đó, xác định được mứcbiến động (tăng hay giảm) về quy mô của chỉ tiêu phân tích và mức độ ảnh hưởngcủa từng chỉ tiêu nhân tố đến chỉ tiêu phân tích Chẳng hạn, phân tích tình hình biếnđộng về quy mô tài sản, nguồn hình thành tài sản (số tổng cộng), tình hình biếnđộng về quy mô từng khoản, từng mục ở cả hai bên tài sản và nguồn hình thành tàisản trên bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp

- So sánh theo chiều dọc: là việc sử dụng các tỷ lệ, các hệ số thể hiện mốitương quan giữa các chỉ tiêu trong từng báo cáo tài chính, giữa các báo cáo tài chínhcủa doanh nghiệp Thực chất của việc phân tích theo chiều dọc trên các báo cáo tàichính là phân tích sự biến động về cơ cấu hay những quan hệ tỷ lệ giữa các chỉ tiêutrong hệ thống báo cáo tài chính doanh nghiệp Chẳng hạn, phân tích tình hình biếnđộng về cơ cấu tài sản và nguồn vốn trên bản cân đối kế toán của doanh nghiệp,hoặc phân tích các mối quan hệ tỷ lệ giữa lơi nhuận với doanh thu, với tổng giá vốnhàng bán, với tổng tài sản, trên các báo cáo tài chính doanh nghiệp hiện là quátrình so sánh nhằm xác định tỷ lệ quan hệ tương quan giữa các chỉ tiêu từng kỳ củacác báo cáo kế toán – tài chính, nó còn được gọi là phân tích theo chiều dọc (cùngcột của báo cáo)

- So sánh xác định xu hướng và tính liên hệ của các chỉ tiêu: các chỉ tiêu riêngbiệt hay các chỉ tiêu tổng cộng trên báo cáo được xem xét trong mối quan hệ với cácchỉ tiêu phản ánh quy mô chung và chúng có thể được xem xét nhiều kỳ (từ 3 đến 5năm hoặc lâu hơn) để cho ta thấy rõ hơn xu hướng phát triển của các hiện tượngnghiên cứu

Trang 21

Phương pháp so sánh là một trong những phương pháp rất quan trọng Nóđược sử dụng rộng rãi và phổ biến nhất trong bất kỳ một hoạt động phân tích nàocủa doanh nghiệp Trong phân tích tình hình hoạt động tài chính doanh nghiệp, nóđược sử dụng rất đa dạng và linh hoạt.

1.2.1.2 Phương pháp phân tích hệ số (tỷ số)

Phương pháp phân tích hệ số là phương pháp dựa trên ý nghĩa tỷ lệ của cáclượng tài chính trong các quan hệ tài chính, sự biến đổi của các tỷ số do sự biến đổicủa các lượng tài chính để đánh giá hoạt động tài chính và hoạt động kinh doanhcủa doanh nghiệp Đây là phương pháp được các nhà phân tích tài chính sử dụngchủ yếu vì qua phương pháp này giúp người phân tích đánh giá toàn bộ tình hình tàichính và các nội dụng tài chính quan trọng trong thời gian ngắn, đảm bảo độ chínhxác cao và dễ sử dụng cho mọi đối tượng

Đây là phương pháp có tính hiện thực cao với các điều kiện được áp dụngngày càng được bổ sung và hoàn thiện hơn Vì:

- Nguồn thông tin kế toán và tài chính được cải tiến và cung cấp đầy đủ hơn là

cơ sở để hình thành những tham chiếu tin cậy nhằm đánh giá một hệ số của mộtdoanh nghiệp hay một nhóm doanh nghiệp

- Việc áp dụng tin học cho phép tích lũy dữ liệu và thúc đẩy nhanh quá trìnhtính toán hàng loạt các hệ số

- Phương pháp này giúp các nhà phân tích khai thác có hiệu quả những số liệu

và phân tích một cách hệ thống hàng loạt hệ số theo chuỗi thời gian liên tục hoặctheo từng giai đoạn

Các hệ số thường dùng trong phân tích tài chính:

* Các chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán:

- Hệ số khả năng thanh toán hiện hành

- Hệ số khả năng thanh toán nhanh

- Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạng

- Hệ số khả năng thanh toán nợ dài hạn

* Các chỉ tiêu phản ánh cơ cấu tài chính và tình hình đầu tư:

Trang 22

- Số vòng quay các khoản phải thu

- Vòng luân chuyển vốn lưu động

- Hiệu suất sử dụng tài sản

* Các chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời:

- Lợi nhuận thuần trên doanh thu

- Khả năng sinh lời căn bản

- Lợi nhuận thuần trên tổng tài sản

- Lợi nhuận thuần trên vốn chủ sở hữu

-

1.2.1.3 Phương pháp loại trừ

Phương pháp loại trừ là phương pháp được sử dụng nhằm xác định mức độảnh hưởng cụ thể của từng nhân tố đến các chỉ tiêu phân tích và được thực hiệnbằng cách: khi xác định sự ảnh hưởng của nhân tố này thì loại trừ ảnh hưởng củanhân tố khác

Các nhân tố có thể làm tăng, có thể làm giảm, thậm chí có những nhân tốkhông ảnh hưởng gì đến KQKD của doanh nghiệp Nó có thể là những nhân tốkhách quan, có thể là nhân tố chủ quan, có thể là nhân tố số lượng, có thể là nhân tốthứ yếu, có thể là nhân tố tích cực và có thể là nhân tố tiêu cực

Để có xác định được mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến kết quả của cáchoạt động tài chính, phương pháp loại trừ có thể được thực hiện bằng hai cách:Cách một: dựa vào sự ảnh hưởng trực tiếp của từng nhân tố và được gọi là

“Phương pháp số chênh lệch”

Trang 23

Cách hai: thay thế sự ảnh hưởng lần lượt từng nhân tố và được gọi là “Phươngpháp thay thế liên hoàn”

a) Phương pháp thay thế liên hoàn

Phương pháp thay thế liên hoàn là tiến hành lần lượt thay thế từng nhân tốtheo một trình tự nhất định Nhân tố nào được thay thế nó sẽ xác định mức độ ảnhhưởng của nhân tố đó đến chỉ tiêu phân tích Còn các chỉ tiêu chưa được thay thếphải giữ nguyên kỳ kế hoạch, hoặc kỳ kinh doanh trước (gọi tắt là kỳ gốc) Đối vớicác chỉ tiêu phân tích có bao nhiêu nhân tố ảnh hưởng thì có bấy nhiêu nhân tố phảithay thế và cuối cùng tổng hợp sự ảnh hưởng của tất cả các nhân tố bằng một phépcộng đại số

Trong cả quá trình thay thế liên hoàn, trình tự sắp xếp các nhân tố không đượcđảo lộn

Việc sắp xếp các nhân tố theo trình tự: nhân tố số lượng đứng trước nhân tốchất lượng, trường hợp nhiều nhân tố số lượng hay nhiều nhân tố chất lượng thìnhân tố chủ yếu đứng trước nhân tố thứ yếu

Trường hợp 1: Chỉ tiêu phân tích Q có quan hệ với các nhân tố ảnh hưởng a,

b, c dưới dạng tính số, thể hiện thông qua biểu thức Q = a.b.c

Trong đó: a là nhân tố số lượng chủ yếu;

b là nhân tố số lượng thứ yếu;

Xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố a, b, c đến chỉ tiêu phân tích:

- Ảnh hưởng của nhân tố a: ∆Qa = a1bkck - akbkck

- Ảnh hưởng của nhân tố b: ∆Qb = a1b1ck - akbkck

- Ảnh hưởng của nhân tố c: ∆Qc = a1b1c1 - akbkck

Trang 24

Tổng hợp lại: tổng đại số mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đúng bằng đốitượng phân tích: ∆Q = ∆Qa + ∆Qb + ∆Qc

Trường hợp 2: Chỉ tiêu phân tích Q có quan hệ với các nhân tố ảnh hưởng a,

b, c dưới dạng tính số và thương số, thể hiện thông qua biểu thức:

Q = c

Trong đó: a là nhân tố số lượng chủ yếu;

b là nhân tố số lượng thứ yếu;

c là nhân tố chất lượng;

Số kỳ kế hoạch của chỉ tiêu phân tích là: Qk = ck

Số thực tế được xác định là: Q1 = c1

Xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố a, b, c đến chỉ tiêu phân tích:

- Ảnh hưởng của nhân tố a: ∆Qa = ck - ck

- Ảnh hưởng của nhân tố b: ∆Qb = ck - ck

- Ảnh hưởng của nhân tố c: ∆Qc = c1 - ck

Tổng hợp lại: tổng đại số mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đúng bằng đốitượng phân tích: ∆Q = ∆Qa + ∆Qb + ∆Qc

Trên cơ sở phân tích sự ảnh hưởng và xác định mức độ ảnh hưởng của từngnhân tố, nhằm đưa ra kiến nghị những giải pháp xác thực, nhằm không ngừng nângcao kết quả hoạt động đầu tư tài chính và họat động khác của doanh nghiệp

b) Phương pháp số chênh lệch

Phương pháp số chênh lệch là phương pháp dựa vào sự ảnh hưởng trực tiếpcủa từng nhân tố đến chỉ tiêu phân tích Bởi vậy, trước hết phải biết được số lượngcác chỉ tiêu nhân tố ảnh hưởng, mối quan hệ giữa các chỉ tiêu nhân tố với chỉ tiêuphân tích, từ đó xác định được công thức lượng hóa sự ảnh hưởng của nhân tố đó.Bằng các giả định và ký hiệu như trên, có thể khái quát mô hình chungphương pháp số chênh lệch nhằm xác định sự ảnh hưởng lần lượt từng nhân tố đếnchỉ tiêu phân tích như sau:

Trường hợp 1: Các nhân tố: a, b, c có quan hệ tích số với chỉ tiêu phân tích Q.Như vậy, chỉ tiêu Q được xác định cụ thể như sau: Q = a.b.c

Trang 25

Số kỳ kế hoạch chỉ tiêu phân tích là : Qk = akbkck

Số kỳ thực hiện chỉ tiêu phân tích là: Q1 = a1b1c1

Các nhân tố ảnh hưởng xác định như sau:

- Ảnh hưởng của nhân tố a: ∆Qa = (a1 – ak)bkck

- Ảnh hưởng của nhân tố b: ∆Qb = a1(b1 – bk)ck

- Ảnh hưởng của nhân tố c: ∆Qc = a1b1(c1 – ck)

Các nhân tố ảnh hưởng xác định như sau:

- Ảnh hưởng của nhân tố a: ∆Q = (a1 – ak)

- Ảnh hưởng của nhân tố b: ∆Q = a1 ( - ) ck

- Ảnh hưởng của nhân tố c: ∆Q = (c1 – ck)

Tổng hợp lại: ∆Q = ∆Qa + ∆Qb + ∆Qc

c) Phương pháp liên hệ cân đối

Cơ sở của phương pháp này là sự cân bằng về lượng giữa hai mặt của các yếu

tố và quá trình kinh doanh Dựa vào nguyên lý của sự cân bằng về lượng giữa haimặt của các yếu tố và quá trình kinh doanh, người ta có xây dựng phương phápphân tích mà trong đó, các chỉ tiêu nhân tố có quan hệ với chỉ tiêu phân tích đượcbiểu hiện dưới dạng là tổng số hoặc hiệu số Bởi vậy, để xác định sự ảnh hưởng vàmức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến chỉ tiêu phân tích chỉ cần xác định mứcchênh lệch của từng nhân tố giữa hai kỳ (thực tế so với kế hoạch, hoặc thực tế sovới các kỳ kinh doanh trước), giữa các nhân tố mang tính chất độc lập

Giả sử chỉ tiêu cần phân tích là A chịu ảnh hưởng của các nhân tố x, y, z vàmối quan hệ giữa ba chỉ tiêu nhân tố với chỉ tiêu phân tích được biểu hiện dướidạng tổng số kết hợp với hiệu số, như sau:

Trang 26

A = x + y – z

- Kỳ kế hoạch: Ak = xk + yk - zk

- Kỳ thực hiện: A1 = x1 + y1 – z1

Đối tượng phân tích:

- Số tuyệt đối: ∆A = A1 – Ak = (x1 + y1 – z1) – (xk + yk - zk)

- Số tương đối: 100

- Ảnh hưởng của nhân tố x: ∆Ax = (x1 – xk)

- Ảnh hưởng của nhân tố y: ∆Ay = (y1 – yk)

- Ảnh hưởng của nhân tố z: ∆Az = (z1 – zk)

- Tổng hợp, phân tích và kiến nghị: ∆A = ∆Ax + ∆Ay + ∆Az

Trên cơ sở xác định sự ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đếnchỉ tiêu phân tích cần rút ra những nguyên nhân và kiến nghị những giải pháp nhằmđưa các quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tiếp theo đạt được nhữngkết quả cao hơn

1.2.1.4 Phương pháp hồi quy tương quan

Là phương pháp sử dụng số liệu của quá khứ, những dữ liệu đã diễn ra theothời gian hoặc diễn ra tại cùng một thời điểm để thiết lập (quy tụ lại) mối quan hệgiữa các hiện tượng và sự kiện có liên quan Mối quan hệ này được biểu diễn dướidạng phương trình được gọi là phương trình hồi quy Dựa vào phương trình hối quyngười ta có thể giải thích kết quả đã diễn ra, ước tính và dự báo những sự kiện sẽxảy ra trong tương lai

Hai kỹ thuật thường được sử dụng trong phân tích hồi quy là phương pháp hồiquy đơn và hội quy bội

a) Phương pháp hồi quy đơn

Phương pháp hồi quy đơn (Hồi quy đơn biến): được dùng để xem xét mốiquan hệ giữa một chỉ tiêu là kết quả vận động của một hiện tượng kinh tế (trongphương trình hồi quy chỉ tiêu kết quả được gọi là biến phụ thuộc, chỉ tiêu nguyênnhân được gọi là biến độc lập)

Trang 27

Mối liên hệ giữa nguyên nhân phát sinh và kết quả của hiện tượng kinh tếthường có quan hệ tỷ lệ thuận hoặc quan hệ tỷ lệ nghịch.

* Trường hợp tồn tại quan hệ thuận: thường được gọi là quan hệ trực tuyến, làmối quan hệ theo một hướng xác định giữa các chỉ tiêu phân tích Trong trường hợpnày người ta thường sử dụng làm hồi quy, được biểu hiện qua phương trình tuyến tính có dạng sau:

Để xác định các thông số a và b ta cần phải giải hệ phương trình

Theo nhà toán học Kramer các thông số a và b được xác định như sau:

Sau khi đã xác định được các thông só theo công thức trên ta đưa về cong thức

dự đoán, trong đó Y là mục tiêu dự đoán (biến số phụ thuộc), tương ứng với X biếnđộng (biến số độc lập)

Trang 28

Ví dụ mối quan hệ giữa năng suất lao động với tỷ suất chi phí tiền lương.Trong trường hợp này người ta có thể sử dụng hàm hồi quy mà phương trình códạng là:

Tương tự mối quan hệ thuận, từ dạng phương trình này với n số lần quan sát tathành lập được hệ phương trình tuyến tính như sau:

Theo Kramer, ta có thể xác định các thông số a và b căn cứ hệ phương trìnhnhư sau:

Căn cứ các thông số được xác định, ta đưa về công thức dự đoán, trong đó Ymục tiêu dự đoán (biến số phụ thuộc), tương ứng với X biến số độc lập (là mức độhoạt động dự kiến)

Công thức dự đoán:

Y = a +

b) Phương pháp hồi quy bội

Phân tích hồi quy bội là kỹ thuật nhằm khai triển một phương trình ước tính sửdụng nhiều biến số độc lập Trong hoạt động kinh doanh có nhiều loại chi phí phụthuộc vào nhiều hoạt động khác nhau: ví dụ như chi phí vận chuyển hàng hóa phụthuộc vào cả trọng lượng của hàng hóa và vào quãng đường vận chuyển Hoặc chiphí sản xuất chung phụ thuộc vào nhiều hoạt động của doanh nghiệp khác nhau

Trang 29

Hoặc chi phí sưởi ấm (ở các nước lạnh) phụ thuôc vào cả số giờ máy hoạt động vàvào nhiệt độ bên ngoài

Phương trình hồi quy bội có dạng tổng quát sau:

Y = a + b1X1 + b2X2 + + bnXn

Trong đó:

- Y là biến số phụ thuộc cần dự đoán

- X1 Xn là giá trị của các biến số độc lập có ảnh hưởng đến giá trị của Y;

- b1 bn là các hệ số của các biến số độc lập, a là phần cố định (như hồi quyđơn)

Chẳng hạn, một số chuyên gia đưa ra hệ số dùng để phân tích Công ty phá sản

sẽ cao hơn các doanh nghiệp có chỉ số sinh lời cao

Hiện nay trên thế giới với trình độ tin học hóa cao, các công ty lớn trên thếgiới thường sử dụng phương pháp này như là một phương pháp chính để thực hiệnviệc phân tích tài chính Các mô hình phân tích được xây dựng và lập trình để phântích nhiều chỉ tiêu tài chính và phi tài chính (như chỉ tiêu về lao động, môi trườngkinh doanh ) Số liệu đầu vào của các mô hình là số liệu của nhiều năm, điều nàylàm cho kết ủa phân tích đạt hiệu quả cao, mang tính dự báo cao

Trang 30

1.2.1.5 Phương pháp tách đoạn (DuPont)

Phân tích Dupont là phương pháp phân tích bằng cách chia một chỉ tiêu phầnphân tích thành những bộ phận có liên hệ với nhau để đánh giá tác động của từng bộphận lên kết quả sau cùng Phương pháp này thường được sử dụng để đánh giátrong nội bộ công ty để có cái nhìn cụ thể và ra quyết định xem nên cải thiện tìnhhình tài chính công ty bằng cách nào

Mô hình Dupont thường được vận dụng trong phân tích khả năng sinh lời củatài sản, có dạng:

ROA = Lãi gộp x Vòng quay tổng tài sản

ROA = = x

ROA: Tỷ suất lợi nhuận theo tài sản

Từ mô hình phân tích trên cho thấy, để nâng cao khả năng sinh lời của mộtđồng tài sản mà doanh nghiệp đang sử dụng, quản trị doanh nghiệp phải nghiên cứu

và xem xét có những biện pháp gì cho việc nâng cao không ngừng khả năng sinh lờicủa quá trình sử dụng tài sản của doanh nghiệp

Trang 31

Sơ đồ 1.1: Mô hình phân tích tài chính Dupont

Từ mô hình phân tích tài chính Dupont ở trên cho thấy, số vòng quay của tàisản cang cao, điều đó chứng tổ rằng sức sản xuất tài sản của doanh nghiệp càng lớn

Để nâng cao số vòng quay của tài sản, một mặt phải tăng quy mô về doanh thuthuần, mặt khác phải sử dụng tiết kiệm và hợp lý về cơ cấu của tổng tài sản Nhưvậy tổng doanh thu thuần và tổng tài sản bình quân có quan hệ mật thiết với nhau,thông thường chúng có quan hệ cùng chiều

Từ mô hình phân tích trên cho thấy, tỷ lệ lãi theo doanh thu thuần lại phụthuộc vào hai nhân tố cơ bản Đó là tổng lợi nhuận thuần và doanh thu thuần Hainhân tố này lại có quan hệ cùng chiều Nghĩa là nếu doanh thu thuần tăng thì cũnglàm cho lợi nhuận thuần tăng

Dùng mô hình DuPont được vận dụng trong phân tích khả năng sinh lời củavốn chủ sở hữu:

ROE = Lãi gộp x Vòng quay tổng tài sản x Hệ số sử dụng vốn

ROE = = x x

Tỷ suất lợi nhuận theo tài sản

Tỷ lệ lãi theo doanh thu Vòng quay của tài sản

Tổng tài sản ngắn hạn

Tổng tài sản dài hạn

Chi phí ngoài

sản xuất

Chi phí sản xuất

Vốn vật tư hàng hóa

Vốn bằng tiền, phải thu

Trang 32

Từ mô hình phân tích tài chính DuPont ở trên cho thấy, số vòng quay của tàisản càng cao, hệ số sử dụng vốn chủ sở hữu càng lớn thì thì khả năng sinh lời củavốn chủ sở hữu càng lớn Để tăng hệ số sử dụng vốn chủ sở hữu thì doanh nghiệpcần phải cân đối giữa vốn chủ sở hữu và sử dụng đòn bẩy tài chính (công cụ nợ).Tuy nhiên, khi sử dụng công cụ này doanh nghiệp cần quan tâm đảm bảo khả năngthanh toán của doanh nghiệp, đặc biệt là đối với doanh nghiệp bảo hiểm.

Ngoài ra, sử dụng phương pháp phân tích DuPont cho phép chúng ta đánh giáđược nhiều nhân tố tác động bằng cách phân chia chỉ tiêu phân tích thành nhiều chỉtiêu thành phần để phân tích, đánh giá những tác động của từng chỉ tiêu thành phầnđến chỉ tiêu phân tích Mô hình dưới đây cho phép phân tích tác động của đòn bẩytài chính (công cụ nợ), thuế, vòng quay tài sản, hệ số sử dụng vốn chủ sở hữu đếnkhả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu

ROE = = x x x x

Phân tích tài chính dựa vào mô hình DuPont có ý nghĩa rất lớn đối với quản trịdoanh nghiệp Điều đó không chỉ được biểu hiện ở chỗ: Có thể đánh gái hiệu quảkinh doanh một cách sâu sắc và toàn diện Đồng thời, đánh giá đầy đủ và kháchquan đến những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Từ

đó, đề ra được hệ thống các biện pháp tỉ mỉ và xác thực nhằm tăng cường công táccải tiến tổ chức quản lý doanh nghiệp, góp phần không ngừng nâng cao hiệu quảkinh doanh của doanh nghiệp ở các kỳ kinh doanh tiếp theo

1.2.2 Hoàn thiện phương pháp phân tích tài chính của doanh nghiệp bảo hiểm

“Hoàn thiện” là từ được sử dụng phổ biến và rất thông dụng hàng ngày trongcuộc sống cũng như trong sách báo, như hoàn thiện một ngôi nhà, hoàn thiện chínhsách, hoàn thiện hệ thống pháp luật, hoàn thiện 4 kỹ năng nghe – nói – đọc – viết Tuy nhiên, hiểu thế nào là hoàn thiện lại là vấn đế không đơn giản Việc đánh giánhư thế nào là hoàn thiện cũng rất khó khăn, nó phụ thuộc vào từng điều kiện, quanđiểm, mục đích và từng thời kỳ nhất định Do tính phức tạp đó nên hiện nay có rất

Trang 33

nhiều quan niệm khác nhau về hoàn thiện tùy theo các tiêu thức đánh giá, các góc

độ nhìn nhận khác nhau

Để hiểu hoàn thiện là gì chúng ta hay điểm qua vài quan điểm điển hình sau:

Từ điển Tiếng việt đã giải thích khái niệm hoàn thiện như sau:

“Hoàn thiện là đạt đến tốt, trọn vẹn và đầy đủ đến mức không cần phải làmthêm gì nữa”

Theo nghĩa Hán – Việt: Hoàn thiện là hai từ Hán – Việt ghép lại Chữ “hoàn”với nghĩa của nó bao gồm là đã xong một công việc, hoặc đã tạo lên một sự hoànchỉnh của bất cứ chủ thể hay sự vật, đồ vật nào cũng như sự trở về nguyên trạng banđầu Chữ “Thiện” là đại diện cho những đức tính tốt, việc làm tốt, có tác dụng tíchcực của con người Ghép hai từ “hoàn thiện” với nhau ta được câu hoàn chỉnh, cónghĩa là chỉ một công việc, một người, sự vật hay đồ vật đạt đến tốt toàn phần, tuy

có thể không phải là tuyệt đối nhưng nó là mục tiêu không ngừng nghỉ, phấn đấu đểđạt đến điều đó

Hoàn thiện không phải là công việc được thực hiện trong một sớm một chiều

mà nó phải được thực theo một quá trình, từng bước Không thể áp đặt một cách tùytiền mà phải căn cứ vào từng điều kiện nhất định, từng thời kỳ nhất định Mỗi một

cá nhân, mỗi một tổ chức hay doanh nghiệp luôn thay đổi để phù hợp với nhữngthay đổi điều kiện thức tại và hướng tới một điều tốt đẹp hơn do đó quá trình hoànthiện là một mục tiêu không ngừng nghỉ

Qua những khái niệm trên, tác giả cho rằng: “Hoàn thiện tức là làm cho tốthơn, đầy đủ hơn, phù hợp hơn, đáp ứng được mức độ nào đó của yêu cầu đặt ra ởhiện tại và mục tiêu trong tương lai gắn liền với từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể.Hoàn thiện là một quá trình và là mục tiêu không ngừng nghỉ, luôn luôn phấn đấuphấn đấu để đạt đến điều đó”

Mục tiêu phân tích tài chính của người phân tích là đi tới những dự đoán tàichính, dự đoán kết quả trong tương lại của doanh nghiệp, trên cơ sở đó mà đưa rađược những quyết định phù hợp Mỗi một đối tượng khác nhau, trong từng thời kỳ

có yêu cầu về kết quả phân tích tài chính khác nhau Để có kết quả phân tích tài

Trang 34

chính được chính xác, kịp thời, phản ánh được thực trạng tình hình tài chính củadoanh nghiệp, thuận tiện cho việc đánh giá, nhà phân tích sẽ lựa chọn sử dụngnhững phương pháp phân tích tài chính phù hợp với điều kiện của người phân tích.

Có rất nhiều phương pháp phân tích tài chính khác nhau Mỗi phương phápphân tích cho phép đánh giá những nội dung, khía cạnh khác nhau, có thể cho phépđánh giá tình hình tài chính hiện tại hay dự báo trong tương lai Mỗi một phươngpháp khi áp dụng đều có những điều kiện riêng, do đó không phải phương phápphân tích phù hợp với doanh nghiệp này thì sẽ phù với doanh nghiệp khác Khi vậndung các phương pháp phân tích cần xem xét đến điều kiện cụ thể về cơ sở vật chất,con người, quy mô của từng doanh nghiệp

Như vậy, một phương pháp phân tích tài chính hoàn thiện phải đảm bảo đượccác yêu cầu sau:

- Đảm bảo tính đơn giản: Có rất nhiều phương pháp phân tích tài chính khácnhau, tuy nhiên yêu cầu phương pháp phân tích tài chính phải đơn giản, dễ hiểu.Người phân tích có thể dễ dàng áp dụng phương pháp phân tích trong quá trìnhphân tích tài chính và kết quả phân tích đem lại cũng phải dễ hiểu, dễ sử dụng đốivới những người sử dụng kết quả này Nếu kết quả đưa ra quá phức tạp mà người sửdụng không hiểu hết, không giải thích được thì những kết quả đó cũng sẽ có ý nghĩakhông lớn và không hiệu quả

- Đảm bảo tính trực quan: Việc phân tích tài chính được thể hiện theo nhiềuhình thức khác nhau Tuy nhiên, để kết quả phân tích tài chính được thể hiện sinhđộng, dễ nhìn, dễ nhận biết, dễ đánh giá thì phương pháp phân tích cho phép sửdụng kết hợp thể hiện kết quả phân tích bằng những con số, bằng hình ảnh, biểu đồhay đồ thị Điều này tạo điều kiện cho những người sử dụng kết quả phân tích tàichính được thuận tiện, dễ nhìn nhận và đánh giá

- Đảm bảo tính tiện dụng: Đảm bảo tính tiện dụng nghĩa là phương pháp phântích tài chính có thể được dùng để đánh giá, phân tích nhiều nội dung phân tích tàichính khác nhau Có thể dễ dàng sử dụng kết hợp với các phương pháp phân tíchkhác trong việc phân tích tài chính của doanh nghiệp Trong quá trình phân tích,

Trang 35

người phân tích có thể sử dụng một phương pháp để đánh giá hoặc sử dụng đồngthời nhiều phương pháp, các phương pháp có thể được sử dụng để phân tích một chỉtiêu tài chính cũng có thể được sử dụng để phân tích tài chính toàn diện hay thựchiện phân tích tài chính theo chuyên đề

- Đảm bảo tính hiệu quả: Mục tiêu phân tích tài chính của người phân tích làtìm ra điểm mạnh, điểm yếu về tình hình tài chính của doanh nghiệp và đưa raphương hướng, giải pháp khắc phục Để đảm bảo việc thực hiện các quyết định tàichính đúng đắn, đem lại hiệu quả cao thì các kết quả phân tích tài chính phải phảnánh chính xác, kịp thời tình tình tài chính của doanh nghiệp Hiệu quả hoạt độngkinh doanh của doanh nghiệp sẽ là tiêu chí quan trọng đánh giá tính hiệu quả củaphương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp

- Đảm bảo khả năng dự báo: Hoạt động của doanh nghiệp luôn hướng đếntương lai, các quyết định quản trị doanh nghiệp được thực hiện ở hiện tại nhằm đạtmột kết quả trong tương lai theo như mục đích của nhà quản trị Để đảm bảo đượcđiều này, phương pháp phân tích không chỉ đánh giá ở thực tại mà còn đánh giáđược su hướng, dự báo được tình hình tài chính trong tương lai như: dự báo nhu cầu

về vốn, dự báo về khả năng thanh toán, dự báo về KQKD trong tương từ đó giúpnhà quản trị đưa ra những quyết định tài chính đúng đắn kịp thời và xây dựng kếhoạch phát triển trong tương lai Như vậy, khả năng dự báo là một yêu cầu rất quantrọng khi xây dựng các phương pháp phân tích tài chính được áp dụng

- Đảm bảo tính phù hợp: Đây là một yêu cầu rất quan trọng trong việc lựachọn và áp dụng các phương pháp phân tích tài chính khác nhau Mỗi một doanhnghiệp có những điều kiện khác nhau như trình độ của người phân tích, khả năngnhận thức của nhà quản trị, khả năng tài chính dùng để phân tích, thông tin dùng đểphân tích Do đó, khi chúng ta vận dụng áp dụng phương pháp phân tích tài chínhnào cần phải xem xét đánh giá xem có phù hợp với doanh nghiệp của mình không

Sự phù hợp thể hiện ở việc các cán bộ phân tích có thể áp dụng một cách dễ dàngkhông, nguồn thông tin có đảm bảo cho quá trình phân tích không, chi phí dùng để

Trang 36

phân tích có hợp lý không, thời gian để phân tích có kịp thời không, kết quả phântích có đảm bảo phục vụ tốt cho công tác ra quyết định không

- Đảm bảo về thời gian phân tích: Trong phân tích tài chính doanh nghiệp thìthời gian phân tích là một chỉ tiêu rất quan trọng Thời gian phân tích tài chính baogồm: thời gian thu thập thông tin, thời gian phân tích và thời gian báo cáo kết quảphân tích cho các đối tượng sử dụng thông tin Thời gian phân tích tài chính mà quángắn, sẽ không đủ cho người phân tích có thể thu thập thông tin, phân tích đánh giáchính xác tình hình tài chính để có thể trở thành cơ sở tin cậy cho việc ra quyết địnhtài chính Nhưng các quyết định tài chính mang tính thời điểm, do đó thời gian phântích tài chính quá dài có thể làm lỡ mất cơ hội kinh doanh, tốn kém chi phí củadoanh nghiệp, kết quả của quá trình phân tích sẽ không còn ý nghĩa, các quyết địnhtài chính có thể sẽ không còn giá trị

Thời gian phân tích phụ thuộc vào các nhân tố như trình độ, phẩm chất củangười phân tích, nhận thức của nhà quản trị về hoạt động phân tích tài chính, côngtác tổ chức phân tích tài chính, quy mô và phạm vi hoạt động của doanh nghiệp,mức độ phù hợp của phương pháp, kỹ thuật và nội dung phân tích tài chính, mức độthuận lợi trong việc tìm kiếm thông tin và cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt độngphân tích Trên cơ sở đánh giá các nhân tố này, tùy theo điều kiện và hoàn cảnh cụthể mà mỗi doanh nghiệp phải tự đặt ra tiêu chuẩn về thời gian phân tích tài chínhtối thiểu cần thiết cho mình Mức độ phù hợp về thời gian phân tích là kết quả tổnghợp của các nhân tố trên tác động đến hoạt động phân tích

Thời gian phân tích tài chính hợp lý khi kịp thời giúp cho nhà quản trị nhanhchóng có những điều chỉnh kịp thời về mặt tài chính, nắm bắt được những cơ hộitrong kinh doanh hoặc hạn chế những rủi ro về tài chính cho doanh nghiệp Mặtkhác, thời gian phân tích tìa chính hợp lý cũng cho thấy trình độ của cán bộ phântích tốt, quy trình phân tích phù hợp, cho phép thu thập và xử lý thông tin tốt

Do đó, khi lựa chọn phương pháp phân tích doanh nghiệp cần đảm bảo thờigian phân tích hợp lý, trên cơ sở sự phù hợp về trình độ, phẩm chất của người phântích; trình độ của nhà quản trị về phân tích tài chính, đảm bảo nội dung phân tích tài

Trang 37

chính, đảm bảo về cơ sở vật chất cho hoạt động phân tích tài chính, đảm bảo sự phùhợp của thông tin phân tích tài chính

- Đảm bảo chi phí phân tích: Hoạt động phân tích tài chính là hoạt động khátốn kém về thời gian, công sức và tiền bạc Căn cứ vào tính chất của chi phí chúng

ta có thể chia chi phí phân tích tài chính thành 3 nhóm: Chi phí phòng ngừa; chi phíkiểm tra, đánh giá và chi phí sai hỏng, thất bại

Chi phí phân tích tài chính là một bộ phận của chi phí sản phẩm và được thuthập thông qua hệ thống số sách kế toán Bởi vậy, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữaphòng phân tích tài chính và phòng kế toán để công tác thu thập và báo cáo chi phíchất lượng phân tích được hiệu quả, chính xác và thuận tiện Nếu chi phí phân tíchtài chính mà cao, sẽ là gánh nặng cho doanh nghiệp, lợi nhuận của doanh nghiệp sẽgiảm sút Ngược lại, nếu chi phí phân tích tài chính mà quá thấp thì không đủ nguồnlực cho hoạt động phân tích tài chính, chất lượng phân tích không được đảm bảotheo yêu cầu Vấn đề của mỗi doanh nghiệp là phải tự xác định mức chi phí phântích tài chính phù hợp với yêu cầu quản trị tài chính của doanh nghiệp mình

Do đó phương pháp phân tích tài chính phải đảm bảo chi phí dùng để phântích hợp lý mà vẫn đảm bảo kết quả phân tích được chính xác, đáp ứng được mụctiêu của nhà quản trị

Để đánh giá một phương pháp phân tích tài chính là hoàn thiện là rất khó, cóphương pháp phân tích tài chính phù hợp với doanh nghiệp này nhưng lại khôngphù hợp với doanh nghiệp khác, có những phương pháp phân tích phù hợp trongviệc thực hiện phân tích nhanh các kết quả tài chính để có thể đưa ra những quyếtđịnh kịp thời nhưng lại không phù hợp khi đánh giá, phân tích chuyên sâu khi thựchiện phân tích theo chuyên đề Mục đích của việc vận dụng các phương pháp phântích tài chính là để cho ra các kết quả phân tích tài chính chính xác, kịp thời, tạođiều kiện cho việc ra quyết định đúng đắn, khắc phục được những điểm yếu củadoanh nghiệp

Trang 38

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới lựa chọn phương pháp phân tích tài chính của doanh nghiệp bảo hiểm

Việc xây dựng và lựa chọn các phương pháp phân tích tài chính được áp dụngđối với mỗi doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp bảo hiểm nói riêng chịu tácđộng của nhiều nhân tố Các phương pháp phân tích được áp dụng phải đảm bảotính đơn giản, tiện dụng, hiệu quả, có khả năng dự báo và phù hợp với tình hình vàkhả năng của doanh nghiệp Thông thường, có thể chia thành hai nhóm nhân tố cơbản ảnh hưởng đến việc xây dựng và lựa chọn phương pháp phân tích tài chínhtrong doanh nghiệp đó là nhóm nhân tố chủ quan và nhóm nhân tố khách quan

1.3.1 Nhân tố chủ quan

Nhân tố chủ quan là những nhân tố thuộc về phía doanh nghiệp, mà doanhnghiệp có thể chủ động kiểm soát, điều chỉnh để đảm bảo thực hiện phân tích tàichính đạt kết quả tốt Các nhân tố chủ quan tác động đến việc lựa chọn phươngpháp phân tích tài chính doanh nghiệp bao gồm: mục đích phân tích, nhân tố về conngười, thông tin phân tích và cơ sở vật chất cho quá trình phân tích

Mỗi một doanh nghiệp chứa đựng những đặc thù riêng biệt về lịch sử hìnhthành, đặc điểm loại hình doanh nghiệp, quá trình phát triển, quy mô, cơ sở vật chất

kỹ thuật, nguồn nhân lực Không có một phương pháp phân tích nào phù hợp vớitất cả các loại hình doanh nghiệp, đồng thời không thể có sẵn đầy đủ những thôngtin chính xác về đối tượng cần phân tích, đánh giá Vì vậy, phân tích tài chính vừamang tính khoa học, vừa mang tính nghệ thuật Tính khoa học thể hiện trong cácnguyên tắc, nội dung khoa học của từng phương pháp phân tích được lựa chọn, tínhnghệ thuật thể hiện trong việc phân tích, đánh giá thông tin, lựa chọn phương phápphân tích tài chính phù hợp với từng loại hình doanh nghiệp, phù hợp với mục đích,nội dung cần phân tích và phù hợp với điều kiện doanh nghiệp

- Mục tiêu phân tích tài chính

Mục tiêu của việc phân tích tài chính cung cấp thông tin cho người sử dụngthông tin nhằm mục đích ra quyết định Như vậy, mỗi một đối tượng sẽ cần nhữngthông tin tài chính khác nhau, do đó yêu cầu về nội dung thông tin khác nhau Đối

Trang 39

với nhà quản trị doanh nghiệp họ cần những thông tin đánh giá về thực trạng tàichính của doanh nghiệp, thực hiện cân bằng tài chính, khả năng thanh toán, khảnăng sinh lợi, tình hình rủi ro về tài chính và dự đoán tình hình tài chính trongtương lai để giúp cho nhà quản trị có thể đưa ra những quyết định lựa chọn phương

án kinh doanh tối ưu, phát huy được tiềm năng của doanh nghiệp

Ngoài ra, phân tích tài chính nhằm cung cấp kịp thời, đầy đủ, chính xác cácthông tin kinh tế cần thiết cho chủ doanh nghiệp, các nhà đầu tư và những người sửdụng thông tin tài chính khác của doanh nghiệp Cung cấp các thông tin về tình hình

sử dụng vốn, khả năng khai thác vốn, hiệu quả sản xuất kinh doanh giúp cho doanhnghiệp khắc phục các thiếu sót còn tồn tại Cung cấp các thông tin về tình hình công

nợ, doanh thu và khả năng sinh lời cũng như ảnh hưởng làm thay đổi điều kiện hoạtđộng, giúp cho doanh nghiệp dự đoán chính xác tương lai của mình

Không phải lúc nào người sử dụng cũng cần những thông tin như nhau để raquyết định, mà tại mỗi thời điểm khác nhau nhu cầu sử dụng thông tin khác nhau,yêu cầu về nội dung phân tích khác nhau Do đó, người phân tích sẽ phải sem xét để

có phương án phân tích hợp lý nhằm cung cấp thông tin kịp thời, chính xác và đúngđối tượng

Trên cơ mục tiêu phân tích, người phân tích sẽ xác định rõ nội dung phân tích.Phân tích toàn diện để đánh giá thực trạng tài chính doanh nghiệp, hay chỉ phân tíchtrên một báo cáo tài chính, như: Phân tích bảng cân đối kế toán hay phân tích báocáo KQKD, phân tích tình hình và khả năng thanh toán, phân tích hiệu quả kinhdoanh, hay phân tích khả năng sinh lời theo vốn, hoặc phân tích tình hình biến động

về cơ cấu tài sản, nguồn vốn,

Như vậy, việc xác định rõ mục tiêu phân tích là cung cấp những thông tin gì,cho đối tượng sử dụng thông tin nào sẽ ảnh hưởng rất lớn đến việc vận dụng và ápdụng các phương pháp phân tích tài chính trong việc đánh giá trình hình tài chínhdoanh nghiệp, nhằm cung cấp thông tin cho người sử dụng

- Nhóm nhân tố con người

Con người là chủ thể trực tiếp trong việc phân tích tài chính doanh nghiệp

Trang 40

cũng như việc vận dụng các phương pháp phân tích tài chính trong việc phân tíchtài chính doanh nghiệp và sử dụng kết quả phân tích tài chính doanh nghiệp Mỗimột phương pháp phân tích tài chính có ưu điểm, nhược điểm và điều kiện áp dụngriêng Việc nắm vững đặc điểm, điều kiện áp dụng của từng phương pháp sẽ chophép người phân tích thấy được ý nghĩa ẩn dấu đằng sau những con số, những chỉtiêu phân tích Nếu người phân tích không hiểu hết nội dung các phương pháp phântích trên thì kết quả tính toán sẽ sai lệch, kết luận dựa trên kết quả này sẽ sai vớithực tế, chất lượng phân tích sẽ không được đảm bảo.

Như vậy, kết quả phân tích tài chính cũng như việc vận dụng các phươngpháp, công cụ phân tích phụ thuộc rất nhiều vào trình độ, kinh nghiệm của ngườiphân tích cũng như nhận thức của nhà quản trị doanh nghiệp Mỗi cán bộ phân tích

có trình độ chuyên môn, kinh nghiệm khác nhau, do đó họ sẽ có cách làm và nhìnnhận tình hình tài chính theo ý kiến chủ quan của mình Nếu có đội ngũ chuyên giaphân tích nhiều về số lượng và mạnh về chất lượng thì sẽ là điều kiện thuận lợi để

có thể cho phép áp dụng nhiều phương pháp phân tích khác nhau; đồng thời có đủlực lượng, thời gian để tiến hành phân tích, lựa chọn phương pháp phân tích thíchhợp nhất đối với từng doanh nghiệp cụ thể cũng như lựa chọn phương pháp khácnhau để thẩm định kết quả của các phương pháp đã chọn để phân tích

Ngoài ra, một yếu tố nữa ảnh hưởng đến phương pháp phân tích là trình độhiểu biết và tập quán, thói quen của người phân tích Nếu nhà phân tích vẫn chưa cóđiều kiện để tiếp cận với các phương pháp phân tích tiên tiến thì nhu cầu và khảnăng sử dụng nhiều phương pháp phân tích khác nhau vào việc phân tích là hạn chế.Trong trường hợp này, họ thường có xu hướng chấp nhận phương pháp phân tíchthông thường, dễ sử dụng Ngược lại, nếu các nhà phân tích có trình độ hiểu biếtcao, có điều kiện và thói quen sử dụng nhiều phương pháp phân tích tiên tiến khácnhau thì sẽ thuận lợi và là tiền đề để áp dụng các phương pháp khác nhau và phântích tài chính

Bên cạnh trình độ, kinh nghiệm của người phân tích thì nhận thức về phân tíchtài chính của nhà lãnh đạo doanh nghiệp cũng ảnh hưởng rất lớn đến việc sử dụng

Ngày đăng: 18/07/2013, 15:17

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.1: Mô hình phân tích tài chính Dupont - Giải pháp hoàn thiện phương pháp phân tích tài chính tại Công ty Bảo hiểm BIDV
Sơ đồ 1.1 Mô hình phân tích tài chính Dupont (Trang 31)
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức nhân sự TRỤ SỞ CHÍNH - Giải pháp hoàn thiện phương pháp phân tích tài chính tại Công ty Bảo hiểm BIDV
Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức nhân sự TRỤ SỞ CHÍNH (Trang 47)
Bảng 2.1: Bảng phân tính quy mô, cơ cấu tài sản và nguồn vốn của Công - Giải pháp hoàn thiện phương pháp phân tích tài chính tại Công ty Bảo hiểm BIDV
Bảng 2.1 Bảng phân tính quy mô, cơ cấu tài sản và nguồn vốn của Công (Trang 52)
Bảng 2.2: Khả năng thanh toán của Công ty Bảo hiểm BIDV năm 2008 - Giải pháp hoàn thiện phương pháp phân tích tài chính tại Công ty Bảo hiểm BIDV
Bảng 2.2 Khả năng thanh toán của Công ty Bảo hiểm BIDV năm 2008 (Trang 55)
Bảng 2.3: Phân tích báo cáo KQKD của Công ty Bảo hiểm BIDV năm 2008 - Giải pháp hoàn thiện phương pháp phân tích tài chính tại Công ty Bảo hiểm BIDV
Bảng 2.3 Phân tích báo cáo KQKD của Công ty Bảo hiểm BIDV năm 2008 (Trang 57)
Bảng 2.6: Phân tích quy mô, cơ cấu đầu tư tại Công ty Bảo hiểm - Giải pháp hoàn thiện phương pháp phân tích tài chính tại Công ty Bảo hiểm BIDV
Bảng 2.6 Phân tích quy mô, cơ cấu đầu tư tại Công ty Bảo hiểm (Trang 62)
Bảng 2.7: Phân tích hiệu quả  hoạt động đầu tư tại Công ty Bảo hiểm BIDV năm 2008 - Giải pháp hoàn thiện phương pháp phân tích tài chính tại Công ty Bảo hiểm BIDV
Bảng 2.7 Phân tích hiệu quả hoạt động đầu tư tại Công ty Bảo hiểm BIDV năm 2008 (Trang 63)
Bảng 2.8: Phân tích hoạt động tái bảo hiểm  của công ty bảo hiểm BIDV năm 2008 - Giải pháp hoàn thiện phương pháp phân tích tài chính tại Công ty Bảo hiểm BIDV
Bảng 2.8 Phân tích hoạt động tái bảo hiểm của công ty bảo hiểm BIDV năm 2008 (Trang 65)
Sơ đồ 3.2: Hệ thống thông tin quản trị tại Công ty Bảo hiểm BIDV - Giải pháp hoàn thiện phương pháp phân tích tài chính tại Công ty Bảo hiểm BIDV
Sơ đồ 3.2 Hệ thống thông tin quản trị tại Công ty Bảo hiểm BIDV (Trang 78)
Bảng 3.1: Báo cáo kết quả HĐKD của Công ty Bảo hiểm BIDV năm 2008 - Giải pháp hoàn thiện phương pháp phân tích tài chính tại Công ty Bảo hiểm BIDV
Bảng 3.1 Báo cáo kết quả HĐKD của Công ty Bảo hiểm BIDV năm 2008 (Trang 84)
Sơ đồ 3.3: Mô hình phương pháp phân tích tài chính động - Giải pháp hoàn thiện phương pháp phân tích tài chính tại Công ty Bảo hiểm BIDV
Sơ đồ 3.3 Mô hình phương pháp phân tích tài chính động (Trang 87)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w