Tư tưởng kinh tế của Chủ tịch Hồ Chí Minh là mẫu mực của sự vận dụng sáng tạo những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin và những quy luật kinh tế khách quan vào điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam. Những tư tưởng đó đã hướng cho Đảng ta hoạch định đường lối, chính sách kinh tế trong từng thời kỳ, từng giai đoạn của cách mạng vừa đảm bảo kháng chiến thắng lợi, vừa kiến quốc thành công.
Trang 1Tại sao Hồ Chí Minh chủ trương thực hiện cơ cấu hàng hóa nhiều thành
phần trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội ở Việt nam
A.ĐẶT VẤN ĐỀ
Tư tưởng kinh tế của Chủ tịch Hồ Chí Minh là mẫu mực của sự vận dụng sáng tạo những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin và những quy luật kinh tế khách quan vào điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam Những tư tưởng
đó đã hướng cho Đảng ta hoạch định đường lối, chính sách kinh tế trong từng thời kỳ, từng giai đoạn của cách mạng vừa đảm bảo kháng chiến thắng lợi, vừa kiến quốc thành công
Sự nghiệp đổi mới của nhân dân ta ngày càng đi vào chiều sâu, càng đòi hỏi nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh một cách toàn diện và đầy đủ hơn Thực
tế cho thấy tư tưởng Hồ Chí Minh đang ăn sâu, tỏa sáng trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta Cùng với lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đang ngày càng giữ vai trò chủ đạo trong đời sống kinh tế, tinh thần, xã hội
Nước ta đang trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội vì vậy việc đề
ra một đường lối, một chiến lược phát triển kinh tế phù hợp là hết sức quan trọng Trong những năm gần đây, do tiếp thu tư tưởng Hồ Chí Minh và dưới sự lãnh đạo của Đảng, nền kinh tế nước ta đã có nhiều tiến triển, cơ cấu kinh tế, có
sự chuyển dịch tiến bộ và phù hợp hơn với điều kiện mỹ quan trong nước Một trong những nguyên nhân làm nên sự tăng trưởng đó là việc bước đầu hình thành nền kinh tế nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản
lý của Nhà nước
Để có cái nhìn cụ thể hơn về nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở
nước ta theo chủ trương của Hồ Chí Minh em đã chọn “ Tại sao Hồ Chí Minh chủ trương thực hiện cơ cấu hàng hóa nhiều thành phần trong thời kỳ quá
độ lên Chủ nghĩa xã hội ở Việt nam?” làm đề tài nghiên cứu trong phạm vi tiểu
luận môn học này
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 2B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I Những quan điểm lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin về mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất.
1.1 Lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất.
Để nâng cao hiệu quả trong sản xuất và giảm bớt lao động nặng nhọc, con người không ngừng cải tiến, hoàn thiện và chế tạo ra những công cụ sản xuất mới ngày càng tinh sảo và hiện đại Đồng thời với sự tiến bộ của công cụ, tri thức khoa học, trình độ chuyên môn kĩ thuật và mọi kỹ năng kỹ sảo của người lao động cũng ngày càng phát triển Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất ấy, quan hệ sản xuất cũng hình thành và biến đổi cho phù hợp với tính chất
và trình độ của lực lượng sản xuất, sự phù hợp đó là động lực cho lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ Lực lượng sản xuất là nội dung, là phương thức còn quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của nó.Trong mối quan hệ giữa nội dung và hình thức thì nội dung quyết định hình thức, hình thức phụ thuộc vào nội dung, nội dung thay đổi trước, sau đó hình thức thay đổi theo Chính vì thế cần khẳng định lực lượng sản xuất quyết định sự hình thành, phát triển và biến đổi của quan hệ sản xuất
1.2 Quan hệ sản xuất tác động trở lại tới lực lượng sản xuất
Lực lượng sản xuất là nhân tố thường xuyên biến đổi, phát triển không ngừng, trong khi đó quan hệ sản xuất mà đặc biệt là nhân tố sở hữu về tư liệu sản xuất lại có tính ổn định lâu dài Quan hệ sản xuất khi đã được xác lập thì nó độc lập tương đối với lực lượng sản xuất, trở thành những cơ sở và những thể chế xã hội và nó không thể biến đổi đồng thời với lực lượng sản xuất mà thường
có xu hướng lạc hậu hơn so với lực lượng sản xuất Khi đó nó tác động trở lại đối với lực lượng sản xuất, có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất Nếu quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực
Trang 3lượng sản xuất, nó sẽ trở thành động lực thúc đẩy, định hướng và tạo điều kiện cho lực lượng sản xuất phát triển.Ngược lại nếu lạc hậu hơn so với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất sẽ là xiềng xích kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất
Sở dĩ quan hệ sản xuất có thể tác động mạnh mẽ trở lại đối với lực lượng sản xuất( thúc đẩy hoặc kìm hãm), vì nó quy định mục đích của sản xuất, quy định hệ thống tổ chức quản lý sản xuất và quản lý xã hội, quy định phương thức phân phối và phần của cải ít hay nhiều mà người lao động được hưởng Do đó
nó ảnh hưởng đến thái độ quảng đại quần chúng lao động-lực lượng sản xuất chủ yếu của xã hội, nó tạo ra những điều kiện kích thích hoặc hạn chế việc cải tiến công cụ lao động, áp dụng những thành tựu của khoa học và kĩ thuật vào sản xuất, hợp tác và phân phối lao động
Tuy nhiên không thể hiểu một cách đơn giản tính tịch cực của quan hệ sản xuất chỉ là vai trò của hình thức sở hữu, mỗi kiểu quan hệ sản xuất là một hệ thống, một chỉnh thể hữu cơ gồm ba mặt: quan hệ sở hữu, quan hệ quản lý và quan hệ phân phối Chỉ trong chỉnh thể đó, quan hệ sản xuất mới trở thành động lực thúc đẩy con người hành động nhằm phát triển sản xuất
Tóm lại, quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất nói chung, quan hệ
sản xuất nói riêng với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là quy luật chung của sự phát triển xã hội Dưới tác động của quy luật này xã hội là
sự phát triển kế tiếp nhau từ thấp lên cao của phương thức sản xuất, tuy nhiên sự phù hợp này phải là sự phù hợp biện chứng, sự phù hợp không loại trừ mâu thuẫn
Lực lượng sản xuất như chúng ta đã thấy luôn luôn nằm trong mối quan
hệ biện chứng với quan hệ sản xuất Lực lượng sản xuất được phát triển nhanh hay chậm về số lượng hay chất lượng cũng như tốc độ hiệu quả phù hợp của nó phụ thuộc vào nhiều vấn đề như: quan hệ sản xuất có phù hợp với nó hay không Chẳng hạn khi lực lượng sản xuất chưa phát triển đến trình độ cao, nhu cầu xã hội chưa phải là một tất yếu thì việc đa dạng các quan hệ sở hữu thông qua sự tồn tại của nhiều thành phần kinh tế khác nhau, sẽ mở ra những khả năng cho
Trang 4lực lượng sản xuất tiếp tục phát triển Ngược lại, nếu giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất có những mâu thuẫn thì không những quan hệ sản xuất lỗi thời
mà ngay cả quan hệ sản xuất đi quá với lực lượng sản xuất cũng sẽ cản trở kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất Nhưng quan hệ sản xuất luôn luôn được đổi mới hoàn thiện cho phù hợp với lực lượng sản xuất thì khi đó quá trình biến đổi tích lũy về lượng của lực lượng sản xuất sẽ nhanh hơn, mâu thuẫn giữa chúng sẽ được giải quyết kịp thời Do đó bước nhảy vọt trong sự phát triển của
nó có thể diễn ra sớm hơn Chính việc hoàn thiện quan hệ sản xuất quyết định những nhịp độ tiến bộ khoa học kĩ thuật vào sự tiến bộ của lực lượng sản xuất
II Cơ sở lý luận của Hồ Chí Minh chủ trương phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần.
Khi tổ quốc còn đang bị thực dân nước ngoài dày xéo, theo Hồ Chí Minh trong điều kiện nước ta- sản xuất nhỏ lạc hậu, có chiến tranh, cho nên phải phát triển nhiều thành phần kinh tế Tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế phát triển ở nước ta lúc này trước hết để tạo ra nhiều của cải vật chất cho xã hội Nền sản xuất nhỏ lạc hậu, năng suất lao động thấp, sản phẩm làm ra không đủ đáp ứng được yêu cầu của xã hội Trong khi đó kẻ thù lại đánh phá ác liệt, bao vây
cô lập cách mạng Việt Nam Để đảm bảo cuộc sống của nhân dân, để cung cấp kịp thời cho cuộc kháng chiến ngày càng phát triển và mở rộng, tất yếu chúng ta phải phát triển nhiều thành phần kinh tế
Hơn nữa mỗi thành phần kinh tế bao giờ cũng có một giai cấp, tầng lớp xã hội đại diện Quan tâm phát triển các thành phần kinh tế cũng có nghĩa là quan tâm đến lợi ích của các giai cấp và tầng lớp trong xã hội từ đó mới có thể đoàn kết được mọi lực lượng trong dân tộc, cô lập kẻ thù, tăng cường sức mạnh cho cuộc kháng chiến Như vậy, phát triển nhiều thành phần kinh tế của nước ta lúc này không chỉ để tạo ra nhiều sản phẩm, đáp ứng yêu cầu đa dạng phức tạp trong xã hội, mà điều quan trọng hơn là để đoàn kết tất cả các lực lượng trong mặt trận dân tộc thống nhất nhằm đẩy mạnh sản xuất, phục vụ đắc lực cho cuộc kháng chiến đi đến thắng lợi
Trang 5Trong “Thường thức chính trị” viết vào năm 1953 Hồ Chí Minh cho rằng nước ta (vùng tự do) nên kinh tế còn tồn tại những thành phần kinh tế: Kinh tế địa chủ phong kiến bóc lột địa tô; kinh tế quốc doanh có tính chất xã hội chủ nghĩa; kinh tế hợp tác xã tiêu thụ và hợp tác xã cung cấp, các hội đổi công nông thôn, có tính chất nửa xã hội chủ nghĩa; kinh tế cá nhân của nông dân và của thủ công mỹ nghệ; kinh tế tư bản của tư nhân; kinh tế tư bản quốc gia
Phát triển các thành phần kinh tế trên là để thực hiện chính sách kinh tế của Đảng và Chính phủ nước ta lúc đó là: Công tư đều lợi, chủ thợ đều lợi, công nông giúp nhau, lưu thông trong ngoài
Như vậy, ngay trong điều kiện kháng chiến, Hồ Chí Minh đã thấy được tính tất yếu của nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta bảo đảm sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ của lực lượng sản xuất còn là thủ công lạc hậu manh mún hiện có Phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần lúc đó vừa
là để kiến thiết đất nước, vừa là để phục vụ kịp thời cho cuộc kháng chiến lâu dài gian khổ của nhân dân Nó vừa đáp ứng yêu cầu trước mắt đoàn kết tất cả các lực lượng có thể đoàn kết được trong dân tộc, đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi, vừa đáp ứng yêu cầu lâu dài của cách mạng Việt Nam là xây dựng chế
độ dân chủ mới tạo tiền đề từng bước, tiến lên theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Ngày nay, trong công cuộc đổi mới đất nước, tư tưởng xây dựng nền kinh
tế nhiều thành phần của Hồ Chí Minh vẫn là tư tưởng chỉ đạo rất quan trọng để đưa nền kinh tế từng bước đi lên chủ nghĩa xã hội
Từ sản xuất nhỏ đi lên, xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần còn là lâu dài ở nước ta Đã có một thời, do nóng vội, chủ quan, chúng ta đã cố tình dùng biện pháp hành chính, cưỡng bức để xóa đi các thành phần kinh tế “ phi xã hội chủ nghĩa”, và tưởng rằng như thế là sớm có chủ nghĩa xã hội Chúng ta không hiểu rằng làm như vậy là trái với quy luật khách quan, là triệt tiêu cả nhiều mặt tích cực của các thành phần kinh tế mà lẽ ra nó phải được nuôi dưỡng, khuyến khích để phục vụ xã hội, để hỗ trợ cho thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa mới
Trang 6ra đời còn rất non yếu Đó là một trong những nguyên nhân dẫn nước ta lâm vào thời kỳ khủng hoảng kinh tế xã hội nghiêm trọng
III Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về thực hiện cơ cấu hàng hóa nhiều thành phần.
Nhận thức rõ tính tất yếu của của nền kinh tế nhiều thành phần trong thời
kỳ quá độ, để xây dựng nền kinh tế trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp thực hiện đường lối kháng chiến: toàn dân, toàn diện , trường kỳ và tự lực cánh sinh bảo đảm cơ sở vật chất kỹ thuật, trước hết là lương thực thực phẩm cho cuộc kháng chiến, Hồ Chí Minh đã xác định nước ta phải phát triển 6 thành phần kinh
tế khác nhau:
Kinh tế địa chủ phong kiến
Kinh tế quốc doanh
Kinh tế hợp tác xã
Kinh tế cá nhân
Kinh tế tư bản tư nhân
Kinh tế tư bản quốc gia
Kinh tế địa chủ phong kiến bóc lột địa tô là thành phần kinh tế đã lỗi thời Tuy nhiên để thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc, thu hút số địa chủ vừa
và nhỏ theo cách mạng, ủng hộ kháng chiến, Hồ Chí Minh không chủ trương xóa bỏ thành phần kinh tế này một cách giản đơn mà chỉ thực hiện giảm tô, giảm tức Từ đó tạo điều kiện cho thành phần kinh tế này đóng góp cho cuộc kháng chiến thắng lợi
Kinh tế quốc doanh tồn tại ở các cơ sở sản xuất kinh doanh của nhà nước,
là của chung của nhân dân, phục vụ lợi ích của xã hội Đây là thành phần kinh tế mới ra đời trong chế độ dân chủ mới, chỉ có nó mới đáp ứng được những yêu cầu to lớn và quan trọng của toàn xã hội, đáp ứng kịp thời những yâu cầu to lớn của cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc ta Theo Hồ Chí Minh, “nó là nền
Trang 7tảng và sức lãnh đạo của nền kinh tế dân chủ mới Cho nên chúng ta phải ra sức phát triển nó và nhân dân ta phải ủng hộ nó”
Kinh tế hợp tác xã, theo Hồ Chí Minh đã có tính chất nửa xã hội chủ nghĩa Ở đó, “nhân dân góp nhau để mua những thứ mình cần dùng, hoặc để bán những thứ mình sản xuất không phải kinh qua các con buôn” Ở nông thôn, những người nông dân có các hội đổi công Họ giúp nhau sản xuất, khắc phục những khó khăn lúc thời vụ, lúc thiếu lao động, chống lại thiên tai…cũng từ đó
mà tăng cường tình làng nghĩa xóm, đoàn kết cộng đồng Thành phần kinh tế này sẽ ngày càng được củng cố và phát triển cùng với sự đi lên của xã hội
Kinh tế cá nhân của nông dân và thợ chủ công là thành phần kinh tế cá thể
tự cấp, tự túc Họ sở hữu một ít tư liệu sản xuất nhỏ bé, lạc hậu và do đó năng suất lao động rất thấp, “ít có gì bán và cũng ít khi mua gì” Tuy nhiên, trong điều kiện kháng chiến, đất nước còn nghèo nàn lạc hậu, lại đang bị kẻ thù bao vây tứ phía, thì đó cũng là lực lượng cần thiết cho cuộc xây dựng kinh tế nước nhà
Kinh tế tư bản tư nhân là thành phần kinh tế của giai cấp tư sản dân tộc Mặc dù giai cấp tư sản có bóc lột đối với công nhân nhưng đồng thời họ cũng góp phần vào phát triển kinh tế đất nước Giai cấp tư sản nước ta cũng là mới ra đời, còn non yếu Trả lời một nhà báo nước ngoài,năm 1947 Hồ Chí Minh nói rõ: “Chúng tôi không chủ trương giai cấp tranh đấu vì một lẽ tầng lớp tư sản việt Nam đã bị kinh tế thực dân đè nén không cất đầu lên được, khiến cho kinh tế Việt Nam đã bị tiêu diệt, dân cùng tài tận Trái lại, chúng tôi chủ trương làm cho
tư sản Việt Nam phát triển” Họ có nhiều kinh nghiệm sản xuất, sử dụng vốn, sử dụng khoa học kỹ thuật…, “cho nên Chính Phủ cần giúp họ phát triển Nhưng
họ phải phục tùng sự lãnh đạo của kinh tế quốc gia, phải hợp với lợi ích của đại
đa số nhân dân”
Kinh tế tư bản quốc gia là thành phần kinh tế do nhà tư bản(kể cả trong nước và ngoài nước) và nhà nước “hùn vốn” với nhau để kinh doanh trong đó Nhà nước giữ vai trò lãnh đạo Đây là thành phần kinh tế mà Lênin rất coi trọng trong điều kiện của một nước kém phát triển đi lên Theo Lênin, thành phần kinh
tế này là “nửa xã hội chủ nghĩa” và sẽ còn tồn tại lâu dài trong thời kỳ quá độ
Trang 8lên chủ nghĩa xã hội, ở đó giai cấp công nhân phải chấp nhận để giai cấp bóc lột đến một mức độ nào đó để học tập kinh nghiệm của nó Lênin coi đó là “trả học phí” cho giai cấp tư sản
Ở nước ta, Hồ Chí Minh cũng rất coi trọng thành phần kinh tế này Theo Người “Nhà tư bản thì không khỏi bóc lột Nhưng Chính Phủ ngăn cấm họ bóc lột công nhân quá tay Điều đó nói lên sự khác nhau cơ bản giữa nhà tư bản trong chủ nghĩa tư bản với nhà tư bản trong chế độ dân chủ mới Nó cũng thể hiện vai trò lãnh đạo của nhà nước đối với thành phần kinh tế này Hồ Chí Minh còn chỉ rõ: “ Vì lợi ích dài lâu, anh chị em thợ cũng để cho chủ được số lợi hợp
lý, không yêu cầu quá mức Chủ và thợ đều tự giác tăng gia sản xuất lợi cả đôi bên”
Khi chế độ dân chủ mới ở nước ta ra đời và phát triển, giai cấp địa chủ phong kiến ngày càng bị thu hẹp, thành phần kinh tế địa chủ phong kiến bóc lột địa tô ngày càng mất dần vị trí và sẽ bị thủ tiêu trong xã hội Vì vậy theo Hồ Chí Minh, trong chế độ dân chủ mới sẽ còn 5 thành phần kinh tế chính được xếp theo thứ tự ưu tiên như sau:
Kinh tế quốc doanh ( thuộc chủ nghĩa xã hội, vì nó là của chung của nhân dân);
Các hợp tác xã ( nó là nửa chủ nghĩa xã hội, và sẽ tiến đến chủ nghĩa xã hội);
Kinh tế của cá nhân, nông dân và thủ công nghệ (có thể tiến dần vào hợp tác xã tức là nửa chủ nghĩa xã hội);
Tư bản của tư nhân;
Tư bản của nhà nước (như nhà nước hùn vốn với tư bản tư nhân để kinh doanh)
Trong năm loại ấy, loại kinh tế quốc doanh là kinh tế lãnh đạo và phát triển mau hơn cả Cho nên kinh tế ta sẽ phát triển theo hướng chủ nghĩa xã hội chứ không theo hướng chủ nghĩa tư bản
IV Thực tiễn chứng minh tính đúng đắn của chủ trương thực hiện cơ cấu hàng hóa nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên CNXH
Trang 94.1.Sự thành công trong thời kì thực hiện chính sách kinh tế mới(NEP) tại liên Xô.
Sự tồn tại khách quan của nhiều thành phần kinh tế trong quá trình xây dựng CNXH đã được V.I Lênin đề cập ngay từ những ngày đầu của chính quyền Xô Viết Theo Lênin, trong nền kinh tế của thời kỳ quá độ có sự xen kẽ của những yếu tố, những bộ phận nhỏ, những mảnh của chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội Nền kinh tế trong thời kỳ quá độ sẽ không thuần nhất và ở đó vẫn tồn tại nhiều thành phần kinh tế đan xen và tác động lẫn nhau, đó là những yếu
tố của 5 thành phần kinh tế xã hội khác nhau (kinh tế gia trưởng, tiểu sản xuất hàng hoá, chủ nghĩa tư bản tư nhân, chủ nghĩa tư bản nhà nước và CNXH) Những tư tưởng của Lênin đã được triển khai vào công cuộc xây dựng đất nước
Xô viết và đã hình thành lý luận về một mô hình kinh tế của thời kỳ quá độ đi lên CNXH Những luận điểm trên đây của Lênin , trong một thời gian dài đã không được các Đảng Cộng sản và các nước xã hội chủ nghĩa nhận thức và vận dụng đúng đắn trong quá trình lãnh đạo cách mạng xã hội chủ nghĩa cũng như trong tổ chức xây dựng chủ nghĩa
Ngày 8-3-1921, tại Đại hội X Đảng Cộng sản (b) Nga, V.I.Lê-nin - lãnh
tụ thiên tài của giai cấp công nhân Nga và cách mạng thế giới đã đề xướng với Đảng việc áp dụng Chính sách kinh tế mới (NEP) và đã được Đại hội chấp thuận Ở vào thời điểm đó, thực hiện NEP tại nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Xô viết Nga là một quyết định dũng cảm, táo bạo, sáng suốt của V.I.Lê-nin và những người Cộng sản Nga NEP không thuần tuý là một chính sách kinh tế với
ý nghĩa là một công cụ quản lý vĩ mô về kinh tế - xã hội của Chính quyền Xô viết, nó có tầm rộng lớn mang tính chất một giải pháp cơ bản có tính tổng thể về kinh tế, chính trị, xã hội, để cải cách kinh tế NEP bao gồm nhiều nội dung liên quan đến các lĩnh vực kinh tế, chính trị và xã hội, biểu hiện tập trung nhất trên năm vấn đề cơ bản, đó là: 1) Thực hiện chế độ thu thuế lương thực, cho phép tự
do buôn bán lúa mì, coi thương nghiệp là mắt xích chủ yếu, là hình thức cơ bản của các mối liên hệ kinh tế giữa công nghiệp với nền nông nghiệp hàng hoá, giữa thành thị với nông thôn, và sự liên minh giai cấp về kinh tế giữa công nhân
Trang 10với nông dân; 2) Áp dụng những hình thức khác nhau của chủ nghĩa tư bản nhà nước, coi đó là mắt xích trung gian để xây dựng chủ nghĩa xã hội; 3) Sử dụng các các quan hệ hàng hoá - tiền tệ, thực hiện khuyến khích lợi ích vật chất và tinh thần đối với mọi người lao động, khai thác mọi nguồn lực để phát triển lực lượng sản xuất, củng cố và hoàn thiện quan hệ sản xuất mới; 4) Thực hiện kế hoạch điện khí hoá nước Nga, coi đó như một trong những điều kiện tiên quyết cho sự ra đời của chế độ xã hội chủ nghĩa; 5) Củng cố Chính quyền Xô viết, tăng cường vai trò của quản lý, kết hợp chặt chẽ các biện pháp hành chính, tổ chức và kinh tế; thực hiện chế độ kiểm kê kiểm soát của nhà nước chuyên chính
vô sản đối với đời sống kinh tế - xã hội, trên cơ sở liên minh kinh tế để tăng cường củng cố liên minh công nông về chính trị
Nhờ NEP, nước Cộng hoà được giải thoát khỏi một cuộc khủng hoảng để thực hiện những công việc của một đất nước vừa thoát khỏi chiến tranh bắt tay vào công việc cải tạo và xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chế độ mới, xây dựng nhà nước chuyên chính vô sản, củng cố liên minh công nông… những công việc chủ yếu của một đất nước khi bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội
Ngoài ra, tính đúng đắn của chủ trương cơ cấu hàng hóa nhiều thành phần của Hồ Chí Minh trong thời kỳ quá độ lên CNCH còn được thể hiện ở sự thành công của các nước NIC trong khu vực như: Hàn Quốc, Đài Loan, Xingapo, Hồng Công…
4.2 Sự thành công của công cuộc đổi mới kinh tế của nước ta giai đoạn (1986-2000)
4.2.1 Nội dung của đường lối đổi mới kinh tế của nước ta giai đoạn (1986-2000)
Trải qua 10 năm thực hiện hai kế hoạch 5 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội(1976-1980) và (1981-1985), nhân dân ta đạt được những thành tựu và tiến
bộ đáng kể trong đấu tranh bảo vệ Tổ quốc Đồng thời chúng ta cũng gặp không
ít khó khăn và yếu kém, chủ yếu là do sai lầm khuýet điểm gây ra, dẫn đến khủng hoảng kinh tế-xã hội Để khắc phục sai lầm khuyết điểm, đưa đất nước