1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp tăng cường thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại tỉnh Phú Thọ

102 1K 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải pháp tăng cường thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (Fdi) tại tỉnh Phú Thọ
Người hướng dẫn Cô Trần Mai Hoa
Trường học Trường Đại Học Phú Thọ
Thể loại Chuyên đề tốt nghiệp
Thành phố Phú Thọ
Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 1,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đất nước ta đang ở trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội với xuất phát điểm thấp, là một nước nông nghiệp lạc hậu lại mới trải qua chiến tranh không lâu. Vì thế, để có thể tái thiết đất nước và hơn thế nữa là phát triển, hội nhập kinh tế thế giới thì điều kiện tiên quyết nhất đó chính là cần phải có vốn.

Trang 1

Đối với mỗi địa phương, việc quán triệt đường lối của Đảng và Nhà nướctrong việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài nhằm phát triển kinh tế xã hội, nângcao đời sống người dân là nhiệm vụ hàng đầu trong chủ trương hoạt động Riêngđối với tỉnh Phú Thọ, một tỉnh miền núi, thuộc miền đồi núi và trung du Bắc Bộ,nằm ở cửa ngõ phía Tây Bắc của thủ đô Hà Nội, với nguồn tài nguyên thiên nhiênphong phú, có nhiều tiềm năng để phát triển kinh tế nhưng lại thiếu vốn đầu tư thìviệc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài để tạo một “cú huých” phá vỡ “vòngluẩn quẩn” của tích lũy thấp và thu nhập thấp chính là chìa khóa để tạo sự đột phátrong chiến lược phát triển kinh tế xã hội tỉnh thời gian tới Nhận thức được vấn đềnày, trong quá trình thực tập tốt nghiệp tại sở kế hoạch và đầu tư tỉnh Phú Thọ, em

đã nghiên cứu và hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp: “Giải pháp tăng cường thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại tỉnh Phú Thọ.”

Do phạm vi nghiên cứu của đề tài rộng mà thời gian nghiên cứu hạn chế nênchuyên đề chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu xót nhất định, kính mong côgiáo xem xét và sửa chữa để đề tài được hoàn thiện hơn Sau cùng, em xin cám ơn

cô giáo Trần Mai Hoa và các anh chị ở phòng kinh tế đối ngoại – sở kế hoạch vàđầu tư tỉnh Phú Thọ đã tận tình hướng dẫn giúp đỡ em thực hiện đề tài này

Trang 2

CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀ THU HÚT ĐẦU

TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI

I Lý luận chung về đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)

1 Khái niệm và đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài

1.1 Khái niệm:

Theo quỹ tiền tệ quốc tế IMF thì FDI là: “một hoạt động đầu tư được thực hiệnnhằm đạt được những lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động trên lãnhthổ của một nền kinh tế khác nền kinh tế nước chủ đầu tư, mục đích của chủ đầu tư

là giành quyền quản lý thực sự doanh nghiệp”

Các nhà kinh tế quốc tế định nghĩa: “đầu tư trực tiếp nước ngoài là người sởhữu tại nước này mua hoặc kiểm soát một thực thể kinh tế của nước khác Đó là mộtkhoản tiền mà nhà đầu tư trả cho một thực thể kinh tế của nước ngoài để có ảnhhưởng quyết định đổi với thực thể kinh tế ấy hoặc tăng thêm quyền kiểm soát trongthực thể kinh tế ấy”

Theo luật đầu tư 2005 thì: “FDI là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào ViệtNam vốn bằng tiền hoặc bằng bất kỳ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tưtheo quy định của luật này”, trong đó nhà đầu tư nước ngoài được hiểu là tổ chứckinh tế, cá nhân nước ngoài đầu tư vào Việt Nam”

Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) đưa ra khái niệm: “Đầu tư trựctiếp là hoạt động đầu tư được thực hiện nhằm thiết lập các mối quan hệ kinh tế lâudài với một doanh nghiệp đặc biệt là những khoản đầu tư mang lại khả năng tạo ảnhhưởng đối với việc quản lý doanh nghiệp nói trên bằng cách :

+ Thành lập hoặc mở rộng một doanh nghiệp hoặc một chi nhánh thuộc toànquyền quản lý của chủ đầu tư

+ Mua lại toàn bộ doanh nghiệp đã có

+ Tham gia vào một doanh nghiệp mới

+ Cấp tín dụng dài hạn (> 5 năm)

+ Quyền kiểm soát : nắm từ 10% cổ phiếu thường hoặc quyền biểu quyết trở lên”

Từ những khái niệm trên có thể đưa ra một cách hiểu khái quát về đầu tư trực

tiếp nước ngoài như sau: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một loại hình thức

Trang 3

di chuyển vốn quốc tế Trong đó người chủ sở hữu vốn đồng thời là người trực tiếp quản lý và điều hành hoạt động sử dụng vốn”.

Sự ra đời và phát triển của đầu tư trực tiếp nước ngoài là kết quả tất yếu củaquá trình quốc tế hóa và phân công lao động quốc tế

Vốn trong khái niệm này có thể được hiểu là tài sản hữu hình (máy móc, thiết

bị, quy trình công nghệ, bát động sản, các loại hợp đòng và giáy phép có giá trị …)hoặc tài sản vô hình (quyền sở hữu tí tuệ, bí quyết và kinh nghiệm quản lý…) hoặctài sản tài chính (cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, giấy ghi nợ…)

Như vậy FDI bao giờ cũng là một dạng quan hệ kinh tế có nhân tố nước ngoài.Hai đặc điểm cơ bản của FDI là: có sự dịch chuyển tư bản trong phạm vi quốc tế vàchủ đầu tư (pháp nhân, thể nhân) trực tiếp tham gia vào hoạt động sử dụng vốn vàquản lí đối tượng đầu tư

1.2 Đặc điểm của FDI:

- FDI chủ yếu là đầu tư tư nhân với mục đích hàng đầu là tìm kiếm lợi nhuận(theo cách phân loại ĐTNN của UNCTAD, IMF và OECD, FDI là đầu tư tư nhân)Các nước nhận đầu tư, nhất là các nước đang phát triển cần lưu ý điều này khitiến hành thu hút FDI, phải xây dựng cho mình một hành lang pháp lý đủ mạnh vàcác chính sách thu hút FDI hợp lý để hướng FDI vào phục vụ cho các mục tiêu pháttriển kinh tế, xã hội của nước mình, tránh tình trạng FDI chỉ phục vụ cho mục đíchtìm kiếm lợi nhuận của các chủ đầu tư

- Các chủ đầu tư nước ngoài phải góp một số vốn tối thiểu vào vốn pháp định,tùy theo luật đầu tư nước ngoài (tại Việt Nam, khi liên doanh, số vốn góp của bênnước ngoài phài lớn hơn hoặc bằng 30% vốn pháp định)

- Quyền quản lý xí nghiệp phụ thuộc vào mức độ góp vốn Đối với doanhnghiệp liên doanh và hợp đồng hợp tác kinh doanh thì quyền quản lý doanh nghiệp

và quản lý đối tượng hợp tác tùy thuộc vào mức vốn góp của các bên khi tham gia,còn đối với doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài thì người nước ngoài (chủ đầu tư)

có quyền quản lý hoàn toàn doanh nghiệp

- Lợi nhuận của nhà đầu tư nước ngoài phụ thuộc vào kết quả hoạt động kinhdoanh và được phân chia theo tỷ lệ góp vốn

- Đầu tư trực tiếp nước ngoài được thực hiện thông qua việc xây dựng doanhnghiệp mới, mua lại toàn bộ hoặc từng phần doanh nghiệp đang hoạt động hoặc sátnhập các doanh nghiệp với nhau

Trang 4

- Đầu tư trực tiếp nước ngoài không chỉ gắn liền với di chuyển vốn mà còn gắnliền với chuyển giao công nghệ, chuyền giao kiến thức và kinh nghiệm quản lý vàtạo ra thị trường mới cho cả phía đầu tư và phía nhận đầu tư Nhà đầu tư cùng vớiviệc đưa vốn còn đưa cả công nghệ, bí quyết công nghệ, kỹ năng tiếp thị, quản lý,đào tạo nhân công và các năng lực trong sản xuất kinh doanh cũng như trong vấn đềquản lý doanh nghiệp cho nước tiếp nhận vốn Vốn FDI không chỉ bao gồm vốn đầu

tư ban đầu của chủ đầu tư dưới hình thức vốn pháp định mà nó còn bao gồm cả vốnvay của doanh nghiệp để triển khai và mở rộng dự án cũng như vốn đầu tư trích từlợi nhuận thu được trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp Thông thường, đikèm với dự án FDI là ba yếu tố: hoạt động thương mại (xuất, nhập khẩu), chuyểngiao công nghệ và di cư lao động quốc tế Di cư lao động quốc tế cũng góp phầnvào việc chuyển giao kỹ năng quản lý của doanh nghiệp FDI

- Đầu tư trực tiếp nước ngoài hiện nay gắn liền với các hoạt động kinh doanhquốc tế của các công ty đa quốc gia và quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Chínhsách về FDI của mỗi quốc gia tiếp nhận đầu tư thể hiện chính sách mở cửa và quanđiểm hội nhập quốc tế về đầu tư, đây được coi là nhân tố kéo Mặt khác, các công ty

đa quốc gia, trong chiến lược phát triển của mình sẽ mở rộng phạm vi hoạt động khi

có điều kiện phù hợp

Bên cạnh những đặc điểm trên, FDI còn có một số đặc điểm cơ bản sau:

- FDI ít chịu sự chi phối của chính phủ: FDI do các nhà đầu tư hoặc doanhnghiệp tư nhân thực hiện nên nó ít chịu sự chi phối của chính phủ, đặc biệt là nó ít

bị phụ thuộc vào mối quan hệ giữa nước của chủ đầu tư và nước tiếp nhận đầu tư sovới các hình thức di chuyển vốn quốc tế khác

- FDI tạo một nguồn vốn dài hạn cho nước chủ nhà: FDI thường dài hạn nênkhông dễ rút đi trong thời gian ngắn Do đó nước chủ nhà sẽ được tiếp nhận mộtnguồn vốn lớn bổ sung cho vốn đầu tư trong nước mà không phải lo trả nợ

- Quyền sở hữu và quyền sử dụng vốn gắn liền với chủ đầu tư: Trong thời gianđầu tư, quyền sở hữu và quyền sử dụng vốn gắn liền với chủ đầu tư, thành viên hộiđồng quản trị và việc điều hành, quản lý quá trình sản xuất kinh doanh được phânchia theo tỷ lệ góp vốn Quyền lợi của chủ đầu tư được gắn liền với lợi ích do đầu

tư mang lại

- FDI là hình thức kéo dài “chu kỳ tuổi thọ sản xuất”, “chu kỳ tuổi thọ kỹthuật” và “nội bộ hóa di chuyển kỹ thuật” FDI sẽ giúp cho doanh nghiệp chuyển

Trang 5

giao được công nghệ lạc hậu ở nước mình nhưng dễ được chấp nhận ở nước có trình

độ phát triển thấp hơn và từ đó kéo dài được chu kỳ sản xuất

- Các bên tham gia vào các dự án FDI thường có quốc tịch khác nhau và sửdụng nhiều ngôn ngữ khác nhau Vì mỗi quốc gia có ngôn ngữ riêng nên tất yếutrong FDI sẽ có sự khác nhau về ngôn ngữ Đặc điểm này đòi hỏi phải sử dụng ngônngữ quốc tế và ngôn ngữ nước sở tại trong các văn bản của dự án và trong quá trìnhhoạt động của dự án

- Các dự án FDI chịu sự chi phối của nhiều nguồn luật khác nhau: Một dự ánFDI càng có nhiều bên tham gia thì càng bị chi phối bởi nhiều điều luật khác nhau,nhưng thông thường là sử dụng luật pháp của nước chủ nhà Tuy nhiên, ở một mức

độ nào đó, sự hoạt động của các dự án vẫn bị chịu ảnh hưởng của luật pháp của cácnước bên tham gia đầu tư, luật quốc tế, luật khu vực Vì vậy, trong quá trình hộinhập và phát triển, các quốc gia phải luôn luôn có sự điều chỉnh và sửa đổi luậtpháp của mình sao cho ngày càng gần và phù hợp với thông lệ (practice) quốc tế.Điều này một mặt sẽ tạo điều kiện cho sự mở rộng giao lưu kinh tế giữa các quốcgia, mặt khác sẽ tránh được những tranh chấp, xung đột không đáng có trong quátrình hoạt động, quản lý các dự án FDI

- Trong quá trình thực hiện các dự án FDI, có sự “cọ xát” giữa các nền văn hóakhác nhau, sự “cọ xát” này đòi hỏi cần có sự giao hòa văn hóa giữa các bên liênquan từ đó có được sự hợp tác tốt đẹp Điều này lý giải hiện tượng khi mới đầu tưvào một thị trường nào đó, các nhà đầu tư nước ngoài thường lựa chọn hình thứcdoanh nghiệp liên doanh để giảm bớt rủi ro, nhưng khi đã tìm hiểu và rõ hơn về thịtrường đầu tư thì họ lại có xu hướng đầu tư theo hình thức 100% vốn nước ngoài để

có thể toàn quyền quyết định mà không muốn có sự phụ thuộc hay tranh chấp trongcác quyết định đầu tư

2 Tính tất yếu khách quan của hoạt động FDI

2.1 Lý thuyết kinh tế vĩ mô

Lý thuyết về lợi ích của đầu tư nước ngoài của Mac Dougall:

Với giả thiết:

- Có 2 quốc gia, 1 nước phát triển và 1 nước đang phát triển

- Chỉ có hoạt động đầu tư của hai quốc gia trên, không có sự tham gia của nước thứ3

- Sản lượng cận biên của hoạt động đầu tư giảm dần khi vốn đầu tư tăng

Trang 6

Sơ đồ : Mô hình về lợi ích của FDI

Một nước phát triển có sản lượng cận biên thấp (thừa vốn) sẽ đầu tư sang mộtnước đang phát triển có sản lượng cận biên cao (thiếu vốn)

Nước phát triển Nước đang phát triển

Học thuyết của Mac Dougall mới chỉ trả lời được câu hỏi vì sao cần phải tiếnhành hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài: để tăng năng suất cận biên của vốn

2.1 Lý thuyết kinh tế vi mô:

Trang 7

Nếu như các học thuyết vĩ mô đứng trên góc độ quốc gia để xem xét lý thuyếtFDI thì các học thuyết vi mô lại đứng trên góc độ các doanh nghiệp hoặc các ngànhkinh doanh.

2.1.1 Học thuyết về lợi thế độc quyền (Stephen Hymer - Mỹ)

Khi đầu tư ra nước ngoài, chủ đầu tư có một số bất lợi như: khoảng cách địa lýlàm tăng chi phí vận chuyển các nguồn lực (chuyển giao công nghệ), thiếu hiểu biết

về mội trường xa lạ làm tăng chi phí thông tin, thiết lập mối quan hệ khách hàngmới và hệ thống cung cấp mới cũng mất nhiều chi phí so với các công ty bản địa.Tuy vậy họ vẫn nên tiến hành FDI khi họ có những lợi thế độc quyền (monogolyrights), họ sẽ giảm được chi phí kinh doanh và tăng doanh thu so với các công tybản địa Các lợi thế độc quyền đó có thể là công nghệ (tech innovation) hay nhãnhiệu Khi chọn địa điểm đầu tư, những công ty đa quốc gia sẽ chọn nơi nào có cácđiều kiện (lao động, đất đai,chính trị) cho phép họ phát huy các lợi thế độc quyềnnày Động lực chính trong việc ĐTNQ của các nhà đầu tư ở đây là vì họ có thể giữđộc quyền khai thác kỹ thuật cốt lõi, chúng cũng chiếm vị thế độc quyền, ở cácnước chậm tiến

2.1.2 Học thuyết nội bộ hoá (Internalization)

Theo học thuyết này, FDI tăng khi giao dịch bên trong công ty (InternalTransaction) tốt hơn giao dịch bên ngoài công ty (Market Transaction), IT tốt hơn

MT khi thị trường không hoàn hảo: không hoàn hảo tự nhiên (khoảng cách giữa cácquốc gia làm tăng chi phí vận tải), không hoàn hảo mang tính cơ cấu (rào cảnthương mại như các tiêu chuẩn về sản phẩm, về môi trường; các yêu cầu liên quanđến quyền sở hữu trí tuệ (là một sản phẩm vô hình mang tính thông tin nên dễ bịchia sẻ, khó bảo hộ và dễ bị đánh cắp…), công nghệ (cái không tồn tại như một thựcthể, không có giá, không chứng minh được, quý khi nó mới ) Khi thị trường khônghoàn hảo như vậy, người ta phải tạo ra thị trường bằng cách tạo ra Internal Market,

sử dụng tài sản trong nội bộ công ty mẹ – con, con – con Ví dụ, nếu có vấn đề liênquan đến việc mua các sản phẩm dầu lửa trên thị trường thi một doanh nghiệp cóthể quyết định mua một nhà máy lọc dầu Lợi ích của việc nội bộ hoá là tránh được

độ trễ về thời gian, việc mặc cả khi mua bán và tình trạng thiếu thốn người mua.Hay một ví dụ khác, một doanh nghiệp thép có thể phải đối mặt với tình trạng thiếunguyên liệu cung cấp và chi phí giao dịch cao khi phải mua quặng sắt từ nướcngoài, đặc biệt khi doanh nghiệp này phải mua hàng ở một châu lục khác Tuynhiên, khi doanh nghiệp này mua lại một công ty khai mỏ nước ngoài, tức là tiến

Trang 8

hành việc nội bộ hoá bao gồm cả việc mua luôn quặng sắt và chi phí vận chuyển, nó

sẽ loại bỏ được tình trạng thiếu thốn nguyên liệu Nội bộ hoá phải có những lợi íchlớn hơn chí phí phát sinh khi thành lập mạng lưới công ty mẹ – con thì mới được sửdụng Tuy nhiên lý thuyết này không giải thích lợi ích của nội bộ hoá là gì (là lợithế độc quyền), nó rất chung chung, không đưa ra được các bằng chứng cụ thể vàrất khó kiểm chứng

2.1.3 Lý thuyết chiết trung – Eclectic (Dunning - Đại học Needs Anh – học giả nổi tiếng nhất về FDI trên thế giới)

Học thuyết này kế thừa tất cả những ưu điểm của các học thuyết khác về FDI.Một công ty có lợi thế tiến hành FDI khi có OLI- Ownership Advantages , LocationAdvantage (lợi thế riêng của đất nước – country specific advantages- CSA),Internalization Incentives

Một mô hình được xây dựng khá công phu của Dunning (1977, 1980, 1981a,1981b, 1986, 1988a, 1988b, 1993), tổng hợp các yếu tố chính của nhiều công trìnhkhác nhau lý giải về FDI, và đề xuất rằng có 3 điều kiện cần thiết để một doanhnghiệp có động cơ tiến hành đầu tư trực tiếp Cách tiếp cận này được biết đến dướitên mô hình “OLI”: lợi thế về sở hữu, lợi thế địa điểm và lợi thế nội bộ hoá

Lợi thế về sở hữu của một doanh nghiệp có thể là một sản phẩm hoặc một quitrình sản xuất mà có ưu thế hơn hẳn các doanh nghiệp khác hoặc các doanh nghiệpkhác không thể tiếp cận, ví dụ như bằng sáng chế hoặc kế hoạch hành động(blueprint) Đó cũng có thể là một số tài sản vô hình hoặc các khả năng đặc biệt nhưcông nghệ và thông tin, kỹ năng quản lý, marketing, hệ thống tổ chức và khả năngtiếp cận các thị trường hàng tiêu dùng cuối cùng hoặc các hàng hoá trung gian hoặcnguồn nguyên liệu thô, hoặc khả năng tiếp cận nguồn vốn với chi phí thấp Dù tồntại dưới hình thức nào, lợi thế về quyền sở hữu đem lại quyền lực nhất định trên thịtrường hoặc lợi thế về chi phí đủ để doanh nghiệp bù lại những bất lợi khi kinhdoanh ở nước ngoài Mặc dù các lợi thế về quyền sở hữu mang đặc trưng riêng củamỗi doanh nghiệp, chúng có liên hệ mật thiết đến các năng lực về công nghệ vàsáng tạo và đến trình độ phát triển kinh tế của các nước chủ đầu tư

Thêm vào đó, thị trường nước ngoài phải có lợi thế địa điểm giúp các doanhnghiệp có lợi khi tiến hành sản xuất ở nước ngoài thay vì sản xuất ở nước mình rồixuất khẩu sang thị trường nước ngoài Các lợi thế về địa điểm bao gồm không chỉcác yếu tố về nguồn lực, mà còn có cả các yếu tố kinh tế và xã hội, như dung lượng

Trang 9

trường văn hoá, pháp luật, chính trị và thể chế, và các qui định và các chính sáchcủa chính phủ.

Cuối cùng, MNE phải có lợi thế nội bộ hoá Nếu một doanh nghiệp sở hữu mộtsản phẩm hoặc một qui trình sản xuất và nếu việc sản xuất sản phẩm ở nước ngoài

có lợi hơn xuất khẩu hay cho thuê, thì cũng chưa chắc doanh nghiệp đã xây dựngmột chi nhánh ở nước ngoài Một trong những cách lựa chọn khác là cấp license chomột doanh nghiệp nước ngoài để họ sản xuất sản phẩm hoặc sử dụng qui trình sảnxuất Tuy nhiên, do khó có thể tiến hành trao đổi các tài sản vô hình này trên thịtrường, sản phẩm hoặc quy trình sản xuất sẽ được khai thác trong nội bộ doanhnghiệp hơn là đem trao đổi trên thị trường Đây chính là một lợi thế nội bộ hoá Cách lý giải của mô hình OLI rất dễ hiểu Tại bất cứ thời điểm nào, các doanhnghiệp của một nước, so với các doanh nghiệp của các nước khác, càng nắm giữnhiều các lợi thế về quyền sở hữu, thì họ càng có động cơ mạnh để sử dụng chúngtrong nội bộ hơn là phổ biến ra bên ngoài, họ càng tìm được nhiều lợi ích khi sửdụng chúng ở một nước khác thì họ càng có động cơ để phát triển sản xuất ở nướcngoài Những thay đổi về vị trí của dòng FDI vào hoặc ra của một nước có thể đượcgiải thích bởi những thay đổi về lợi thế địa điểm so với các nước khác, và nhữngthay đổi trong chứng mực mà doanh nghiệp thấy các tài sản này nếu được sử dụngtrong nội bộ sẽ tốt hơn so với khi đem bán trên thị trường (Dunning 1993)

Cho đến nay mô hình OLI của Dunning có thể coi là cách lý giải đầy đủ vànhiều tham vọng nhất về FDI

2.1.4 Lý thuyết về vòng đời quốc tế của sản phẩm (International product life cycle - IPLC) của Raymond Vernon

Lý thuyết này được S Hirsch đưa ra trước tiên và sau đó được R Vernon pháttriển một cách có hệ thống từ năm 1966

Lý thuyết này lý giải cả đầu tư quốc tế lẫn thương mại quốc tế, coi đầu tư quốc

tế là một giai đoạn tự nhiên trong vòng đời sản phẩm Lý thuyết này cho thấy vai tròcủa các phát minh, sáng chế trong thương mại và đầu tư quốc tế bằng cách phân tíchquá trình quốc tế hoá sản xuất theo các giai đoạn nối tiếp nhau Ưu điểm của lýthuyết này là đưa vào được nhiều yếu tố cho phép lý giải sự thay đổi theo ngànhhoặc việc dịch chuyển dần các hoạt động công nghiệp của các nước tiên phong vềcông nghệ, trước tiên là đến các nước "bắt chước sớm", sau là đến các nước "bắtchước muộn"

Hai ý tưởng làm căn cứ xuất phát của lý thuyết này rất đơn giản, đó là:

Trang 10

+Mỗi sản phẩm có một vòng đời, từ khi xuất hiện cho đến khi bị đào thải;vòng đời này dài hay ngắn tuỳ vào từng sản phẩm.

+Các nước công nghiệp phát triển thường nắm giữ những công nghệ độcquyền do họ khống chế khâu nghiên cứu và triển khai và do có lợi thế về quy mô Theo lý thuyết này, ban đầu phần lớn các sản phẩm mới được sản xuất tại nướcphát minh ra nó và được xuất khẩu đi các nước khác Nhưng khi sản phẩm mới đãđược chấp nhận rộng rãi trên thị trường thế giới thì sản xuất bắt đầu được tiến hành

ở các nước khác Kết quả rất có thể là sản phẩm sau đó sẽ được xuất khẩu trở lạinước phát minh ra nó Cụ thể vòng đời quốc tế của một sản phẩm gồm 3 giai đoạn :+ Giai đoạn 1 : Sản phẩm mới xuất hiện cần thông tin phản hồi nhanh xem cóthoả mãn nhu cầu khách hàng không và được bán ở trong nước cũng là để tối thiểuhoá chi phí Xuất khẩu sản phẩm giai đoạn này không đáng kể Người tiêu dùng chútrọng đến chất lượng và độ tin cậy hơn là giá bán sản phẩm Qui trình sản xuất chủyếu là sản xuất nhỏ

+ Giai đoạn 2 : Sản phẩm chín muồi, nhu cầu tăng, xuất khẩu tăng mạnh, cácđối thủ cạnh tranh trong và ngoài nước xuất hiện vì thấy có thể kiếm được nhiều lợinhuận Nhưng dần dần nhu cầu trong nước giảm, chỉ có nhu cầu ở nước ngoài tiếptục tăng Xuất khẩu nhiều (đạt đến đỉnh cao) và các nhà máy ở nước ngoài bắt đầuđược xây dựng (sản xuất mở rộng thông qua FDI) Giá trở thành yếu tố quan trọngtrong quyết định của người tiêu dùng

+ Giai đoạn 3 : Sản phẩm được tiêu chuẩn hóa, thị trường ổn định, hàng hóatrở nên thông dụng, các doanh nghiệp chịu áp lực phải giảm chi phí càng nhiều càngtốt để tăng lợi nhuận hoặc giảm giá để tăng năng lực cạnh tranh Cạnh tranh ngàycàng khốc liệt, các thị trường trong nước trì trệ, cần sử dụng lao động rẻ Sản xuấttiếp tục được chuyển sang các nước khác có lao động rẻ hơn thông qua FDI Nhiềunước xuất khẩu sản phẩm trong các giai đoạn trước (trong đó có nước phát minh rasản phẩm) nay trở thành nước chủ đầu tư và phải nhập khẩu chính sản phẩm đó vìsản phẩm sản xuất trong nước không còn cạnh tranh được về giá bán trên thị trườngquốc tế Các nước này nên tập trung đầu tư cho những phát minh mới

Các hạn chế của lý thuyết này:

Các giả thuyết mà lý thuyết này đưa ra căn cứ chủ yếu vào tình hình thực tếcủa đầu tư trực tiếp của Mỹ ra nước ngoài trong những năm 1950-1960 Nhưng nókhiến tác giả không thể lý giải được đầu tư của Châu Âu sang Mỹ Còn về bản chất

Trang 11

nhau Tác giả chỉ xem xét trường hợp duy nhất đó là những thay đổi về công nghệdiễn ra đồng thời cả đối với đặc điểm của sản phẩm và qui trình sản xuất J.M.Finger (1975) phân biệt hai loại phát minh khác nhau đó là phát minh liên quan đếnđặc điểm sản phẩm và phát minh liên quan đến qui trình sản xuất và chỉ ra rằng xuấtkhẩu của Mỹ bị ảnh hưởng nhiều của sự khác biệt về sản phẩm chứ ít chịu ảnhhưởng của những tiến bộ trong qui trình sản xuất Về thời gian của vòng đời, khôngnhất thiết các giai đoạn khác nhau phải diễn ra tuần tự trong một khoảng thời gianquá ngắn Vòng đời sản phẩm phải đủ dài để đảm bảo sự chuyển giao thực sự sảnxuất trên phạm vi quốc tế.

Trong các nghiên cứu sau, R Vernon đã khẳng định rằng thời gian giữa khibắt đầu sản xuất một sản phẩm mới ở Mỹ đến khi bắt đầu sản xuất ở nước ngoài liêntục được rút ngắn trong giai đoạn 1945-1975 Ngày nay, khoảng thời gian này củamột nửa các sản phẩm tin học là chưa đến 5 năm; trong ngành hoá chất khoảng thờigian này của một nửa các sản phẩm là chưa đến 10 năm Việc giảm thời gian củavòng đời sẽ đe doạ các vị trí đã có được và các yêu cầu về tiêu dùng và làm trầmtrọng hơn sự không ổn định Lý thuyết của Vernon gặp nhiều khó khăn trong việcgiải thích sự di chuyển của một số hoạt động sản xuất như sản xuất các thiết bị theo

đó chu kỳ phụ thuộc vào nhu cầu của các ngành sản xuất hàng tiêu dùng có liênquan chứ không phụ thuộc trực tiếp vào dung lượng thị trường này (A Cotta, 1970).Quan sát này cho thấy một hạn chế quan trọng trật tự qui trình của các giai đoạntrong vòng đời sản phẩm

3 Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài

3.1 Hợp đồng hợp tác kinh doanh

(gọi là bên hợp danh) quy định rõ trách nhiệm và phân chia kết quả cho mỗi bên, đểtiến hành đầu tư vào Việt Nam mà không lập thành một pháp nhân

Hình thức đầu tư này đã xuất hiện từ sớm ở Việt Nam nhưng đáng tiếccho đến nay vẫn chưa hoàn thiện được các quy định pháp lý cho hình thức này.Điều đó đã gây không ít khó khăn cho việc giải thích, hướng dẫn và vận dụng vàothực tế ở Việt Nam Ví dụ như có sự nhầm lẫn giữa hợp đồng hợp tác kinh doanhvới các dạng hợp đồng khác không thuộc phạm vi điều chỉnh của luật đầu tư trựctiếp nước ngoài tại Việt Nam.(như hợp đồng gia công sản phẩm, hợp đồng mauthiết bị trả chậm vv ) Lợi dụng sơ hở này, mà một số nhà đầu tư nước ngoài đã

Trang 12

trốn sự quản lý của Nhà Nước Tuy vậy hợp đồng hợp tác kinh doanh là hình thứcđầu tư trực tiếp nước ngoài dễ thực hiện và có ưu thế lớn trong việc phối hợp sảnphẩm Các sản phẩm kỹ thuật cao đòi hỏi có sự kết hợp thế mạnh của nhiều công tycủa nhiều quốc gia khác nhau Đây cũng là xu hướng hợp tác sản xuất kinh doanhtrong một tương lai gần xu hướng của sự phân công lao động chuyên môn hóa sảnxuất trên phạm vi quốc tế.

3.2 Doanh nghiệp liên doanh

Là doanh nghiệp được hình thành giữa một bên là nước nhận đầu tư (nướcchủ nhà) với một bên là hoặc các bên nước ngoài trong đó các bên cùng đóng gópvốn, cùng kinh doanh và hưởng quyền lợi nghĩa vụ theo tỷ lệ góp vốn

Theo quy định của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, doanh nghiệp liêndoanh được thành lập theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn, có tư cách phápnhân Tỷ lệ góp vốn của bên nước ngoài hoặc các bên nước ngoài do các bên liêndoanh thoả thuận nhưng không được thấp hơn 30% vốn pháp định của doanhnghiệp liên doanh và trong quá trình hoạt động không được giảm vốn pháp định

Doanh nghiệp liên doanh là hình thức đầu tư phổ biến được các nước chủnhà đặc biệt là các nước đang phát triển khuyến khích áp dụng bởi ưu điểm của hìnhthức này là nước nhận đầu tư được tham gia vào điều hành quá trình kinh doanh do

đó tiếp thu được công nghệ tiên tiến đồng thời nâng cao được kinh nghiệm quản lý

3.3 Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài:

Là doanh nghiệp thuộc sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài (tổ chức hoặc cánhân người nước ngoài) do nhà đầu tư nước ngoài thành lập tại nước chủ nhà, tựquản lý và tự chịu trách nhiệm về kết quả sản xuất kinh doanh

Theo quy định của Luật đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp 100% vốnnước ngoài được thành lập theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn, có tưcách pháp nhân

Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là hình thức được các nhà đầu tư nướcngoài ưa chuộng vì được tự mình quản lý và hưởng lợi nhuận do kết quả đầu tư tạo

ra đồng thời giữ được các bí mật về công nghệ

Ngoài ra, còn có một vài dạng đặc biệt của hình thức đầu tư 100% vốn nướcngoài áp dụng đối với các công trình xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật:

+ Hợp đồng xây dựng- kinh doanh- chuyển giao (BOT): Với hình thức này,các chủ đầu tư chịu trách nhiệm tiến hành xây dựng, kinh doanh công trình trong

Trang 13

một thời gian đủ để thu hồi vốn đầu tư và có lợi nhuận hợp lý Saukhi dự án kếtthúc, toàn bộ công trình sẽ được chuyển giao cho nước chủ nhà mà không thu bất cứmột khoản tiền nào

+ Hợp đồng xây dựng- chuyển giao- kinhdoanh (BTO): Khác với hình thứcBTO, sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư chuyển giao công trình cho nước chủ nhà.Chính phủ nước chủ nhà giành cho nhà đầu tư quyền kinh doanh công trình đótrong một thời hạn nhất định để thu hồi vốn đầu tư và có lợi nhuận hợp lý

+ Hợp đồng xây dựng- chuyển giao (BT): Với hình thức này, sau khi xâydựng xong, chủ đầu tư chuyển giao công trình đó cho nước chủ nhà, nước chủ nhà

sẽ tạo điều kiện cho nhà đầu tư nước ngoài thực hiện dự án khác để thu hồi vốn đầu

tư và có lợi nhuận hợp lý

4 Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với nước nhận đầu tư:

4.1 Tác động tích cực của FDI

4.1.1 Là nguồn hỗ trợ cho phát triển

FDI là một trong những nguồn quan trọng để bù đắp sự thiếu hụt về vốn ngoại

tệ của các nước nhận đầu tư, đặc biệt là đối với các nước kém phát triển

Hầu hết các nước kém phát triển đều rơi vào cái “vòng luẩn quẩn” đó là: Thunhập thấp dẫn đến tiết kiệm thấp, vì vậy đầu tư thấp và rồi hậu quả thu lại là thunhập thấp Tình trạng luẩn quẩn này chính là điểm nút khó khăn mà các nước nàyphải vượt qua để hội nhập vào quỹ đạo ta kinh tế hiện đại Nhiều nước lâm vào tìnhtrạng trì trệ của nghèo đói bởi lẽ không lựa chọn và tạo ra điểm đột phá chính xác.Một mắt xích của “vòng luẩn quẩn” này

Trở ngại lớn nhất để thực hiện điều đó đối với các nước kém phát triển là vốnđầu tư và kỹ thuật Vốn đầu tư là cơ sở tạo ra công ăn việc làm trong nước, đổi mớicông nghệ, kỹ thuật, tăng năng suất lao động vv Từ đó tạo tiền đề tăng thu nhập,tăng tích lũy cho sự phát triển của xã hội

Tuy nhiên để tạo ra vốn cho nền kinh tế chỉ trông chờ vào vốn nội bộ thì hậuquả khó tránh khỏi là sẽ tụt hậu trong sự phát triển chung của thế giới Do đó vốnnước ngoài sẽ là một “cú huých” để góp ghần đột phá vào cái “vòng luẩn quẩn” đó.Đặc biệt là FDI nguồn quan trọng để khắc phục tình trạng thiếu vốn mà không gây

nợ cho các nước nhận đầu tư Không như vốn vay nước đầu tư chỉ nhận một phầnlợi nhuận thích đáng khi công trình đầu tư hoạt động có hiệu quả Hơn nữa lượng

Trang 14

vốn này còn có lợi thế hơn nguồn vốn vay ở chỗ Thời hạn trả nợ vốn vay thường cốđịnh và đôi khi quá ngắn so với một số dự án đầu tư, còn thời hạn vốn FDI thì linhhoạt hơn.

Theo mô hình lý thuyết “hai lỗ hổng” của Cherery và Stront có hai cản trởchính cho sự ta của một quốc gia đó là: Tiết kiệm không đủ đáp ứng cho nhu cầu đầu

tư được gọi là “lỗ hổng tiết kiệm”.Và thu nhập của hoạt động xuất khẩu không đáp ứngnhu cầu ngoại tệ cho hoạt động nhập khẩu được gọi là “lỗ hổng thương mại”

Hầu hết các nước kém phát triển, hai lỗ hổng trên rất lớn Vì vậy FDI góp phầnlàm tăng khả năng cạnh tranhvà mở rộng khả năng xuất khẩu của nước nhận đầu tư,thu một phần lợi nhuận từ các công ty nước ngoài, thu ngoại tệ từ các hoạt dộngdịch vụ cho FDI

4.1.2 Chuyển giao công nghệ

Lợi ích quan trọng mà FDI mang lại đó là công nghệ khoa học hiện đại, kỹ sảochuyên môn, trình độ quản lý tiên tiến Khi đầu tư vào một nước nào đó, chủ đầu tưkhông chỉ vào nước đó vốn bằng tiền mà còn chuyển cả vốn hiện vật như máy mócthiết bị, nhuyên vật liệu (hay còn gọi là cộng cứng) trí thức khoa hoạch bí quyếtquản lý, năng lực tiếp cận thị thường (hay còn gọi là phần mềm.) Do vậy đứng vềlâu dài đây chính là lợi ích căn bản nhất đối với nước nhận đầu tư FDI có thể thúcđẩy phát triển các nghề mới, đặc biệt là những nghề đòi hỏi hàm lượng công nghệcao Vì thế nó có tác dụng to lớn đối với quá trình công nghiệp hóa, dịch chuyển cơcấu kinh tế, ta nhanh của các nước nhận đầu tư FDI đem lại kinh nghiệm quản lý,

kỹ năng kinh doanh và trình độ kỹ thuật cho các đối tác trong nước nhận đầu tư,thông qua những chương trình đào tạo và quá trình vừa học vừa làm FDI còn manglại cho họ những kiến thức sản xuất phức tạp trong khi tiếp nhận công nghệ của cácnước nhận đầu tư FDI còn thúc đẩy các nước nhận đầu tư phải cố gắng đào tạonhững kỹ sư, những nhà quản lý có trình độ chuyên môn để tham gia vào các công

ty liên doanh với nước ngoài

Thực tiễn cho thấy, hầu hết các nước thu hút FDI đã cải thiện đáng kể trình

độ kỹ thuật công nghệ của mình Chẳng hạn như đầu những năm 60 Hàn Quốc cònkém về lắp ráp xe hơi, nhưng nhờ chuyển nhận công nghệ Mỹ, Nhật, và các nướckhác mà năm 1993 họ đã trở thành những nước sản xuất ô tô lớn thứ 7 thế giới.Trong điều kiện hiện nay, trên thế giới có nhiều công ty của nhiều quốc giakhác nhau có nhu cầu đầu tư ra nước ngoài và thực hiện chuyển giao công ghệ cho

Trang 15

tiếp thu được các công nghệ thuận lợi nhất Nhưng không phải các nước đang pháttriển được “đi xe miễn phí” mà họ phải trả một khoản “học phí” không nhỏ trongviệc tiếp nhận chuyển giao công nghệ này.

4.1.3 Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

thực hiện mục tiêu quan trọng hàng đầu là đẩy mạnh ta kinh tế Đây cũng là điểmnút để các nước đang phát triển khoát ra khỏi các vòng luẩn quẩn của sự đói nghèo.Thực tiễn và kinh nghiệm của nhiều nước cho thấy, các quốc gia nào thực hiệnchiến lược kinh tế mở của với bên ngoài, biết tranh thủ và phát huy tác dụng của cácnhân tố bên ngoài biến nó thành những nhân tố bên trong thì quốc gia đó tạo đượctốc độ tăng cao

Mức tăng trưởng ở các nước đang phát triển thường do nhân tố tăng đầu

tư, nhờ đó các nhân tố khác như tổng số lao động được sử dụng, năng suất lao độngcũng tăng lên theo Vì vậy có thể thông qua tỷ lệ đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với

ta kinh tế

Rõ ràng hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài đã góp phần tích cực thúc đẩy

ta kinh tế ở các nước đang phát triển Nó là tiền đề, là chỗ dựa để khai thác nhữngtiềm năng to lớn trong nước nhằm phát triển nền kinh tế

4.1.4 Thúc đẩy quá trình dịch chuyển cơ cấu kinh tế

triển nội tại nền kinh tế, mà còn là đòi hỏi của xu hứng quốc tế hóa đời sống kinh tếđang diễn ra mạnh mẽ hiện nay

Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một trong bộ phận quan trọng của hoạt độngkinh tế đối ngoại Thông qua các quốc gia sẽ tham gia ngày càng nhiều vào quátrình phân công lao động quốc tế Để hội nhập vào nền kinh tế giữa các nước trênthế giới, đòi hỏi mỗi quốc gia phải thay đổi cơ cấu kinh tế trong nước cho phù hợpvới sự phân công lao dộng quốc tế Sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế của nước phùhợp với trình độ chung trên thế giới sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động đầu tưnước ngoài Ngược lại, chính hoạt động đầu tư lại góp phần thúc đẩy nhanh quátrình dịch chuyển cơ cấu kinh tế Bởi vì: Một là, thông qua hoạt động đầu tư trựctiếp nước ngoài đã làm xuất hiện nhiều lĩnh vực và ngành kinh tế mới ở các nướcnhận đầu tư Hai là, đầu tư trực tiếp nước ngoài giúp vào sự phát triển nhanh chóngtrình độ kỹ thuật công nghệ ở nhiều nghành kinh tế, góp phần thúc đẩy tăng năngsuất lao động ở một số ngành này và tăng tỷ phần của nó trong nền kinh tế Ba là,

Trang 16

một số ngành được kích thích phát triển bởi đầu tư trực tiếp nước ngoài, nhưngcũng có nhiều ngành bị mai một đi, rồi đi đến chỗ bị xóa bỏ.

tư trực tiếp nước ngoài còn mở rộng thị trường cả trong nước và ngoài nước Đa sốcác dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài đều có phương án bao tiêu sản phẩm Đây gọi

là hiên tượng “hai chiều” đang trở nên khá phổ biến ở nhiều nước đang phát triểnhiện nay

Về mặt xã hội, đầu tư trục tiếp nước ngoài đã tạo ra nhiều chỗ làm việc mới,thu hút một khối lượng đáng kể người lao độngở nước nhận đầu tư vào làm việc tạicác đơn vị của đầu tư nước ngoài Điều đó góp phần đáng kể vào việc làm giảm bớtnạn thất nghiệp vốn là một tình trạng nan giải của nhiều quốc gia Đặc biệt là đốivới các nước đang phát triển, nơi có lực lượng lao động rất phong phú nhưng không

có điều kiện khai thác và sử dụng được Thì đầu tư trực tiếp nước ngoài đước coi làchìa khóa quan trọng để giải quyết vấn đề trên đây Vì đầu tư trực tiếp nước ngoàitạo ra được các điều kiện về vốn và kỹ thuật, cho phép khai thác và sử dụng cáctiềm năng về lao động Ở một số nước đang phát triển số người làm việc trong các

xí nghiệp chi nhánh nước ngoài so với tổng người có việc làm đạt tỷ lệ tương đốicao như Singapore 54,6%, Brazin 23%, Mehico 21% Mức trung bình ở nhiều nướckhác là 10% Ở Việt Nam có khoảng trên100 nghìn người đang làm trong các doanhnghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Đây là con số khá khiêm tốn

Tuy nhiên sự đóng góp của FDI đối với việc làm trong nước nhận đầu tư thụthuộc rất nhiều vào chính sach và khả năng lỹ thuật của nước đó

4.2 Tác động tiêu cực của FDI

Trang 17

Khi nói về vấn đề chuyển giao kỹ thuật thông qua kênh đầu tư trực tiếp nướcngoài ở phần trên,chểng ta đã đề cập đến một nguy cơ là nước tiếp nhận đầu tư sẽnhận nhiều kỹ thuật không thích hợp Các công ty nước ngoài thường chuyển giaonhững công nghệ kỹ thuật lạc hậu và máy móc thiết bị cũ Điều này cũng có thể giảithich là: Một là, dưới sự tác động của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật cho nênmáy móc công nghệ nhanh chóng trở thành lạc hậu Vì vậy họ thường chuyển giaonhững máy móc đã lạc hậu cho các nước nhận đầu tư để đổi mới công nghệ, đổimới sản phẩm, nâng cao chát lượng của sản phẩm của chính nước họ.Hai là, vàogiai đoạn đầu của sự phát triển, hầu hết các nước đều sử dụng công nghệ, sự dụnglao động.Tuy nhiên sau một thời gian phát triển giá của lao động sẽ tăng, kết quả làgiá thánhản phẩm cao Vì vậy họ muốn thay đổi công nghệ bằng những công nghệ

có hàm lượng cao để hạ giá thành sản phẩm Do vậy việc chuyển giao công nghệ lạchậu đã gây thiệt hại cho các nước nhận đầu tư như là:

Rất khó tính được giá trị thực của những máy móc chuyển giao đó Do đónước đầu tư thường bị thiệt hại trong việc tính tỷ lệ góp trong các doanh nghiệp liêndoanh và hậu quả là bị thiệt hại trong việc chia lợi nhuận

Gây tổn hại môi trường sinh thái Do các công ty nước ngoài bị cưỡng chếphải bảovệ môi trường theo các quy định rất chặt chẽ ở các nước công nghiệp pháttriển, thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài họ muốn xuất khẩu môi trường sang cácnước mà biện pháp cưỡng chế, luật bảo vệ môi trường không hữu hiệu

Chất lượng sản phẩm, chi phí sản xuất caovà do đó sản phẩm của các nướcnhận đầu tư khó có thể cạnh tranh trên thị trường thế giới

Thực tiễn cho thấy, tình hình chuyển giao công nghệ của các nước côngnghiệp sang các nước đang phát triển đang còn là vấn đề gay cấn.Ví dụ theo báo cáocủa ngân hàng phát triển Mỹ thì 70% thiệt bị của các nước Mỹ La Tinh nhập khẩu

từ các nước tư bản phát triển là công nghệ lạc hậu.Cũng tương tự, các trường hợpchuyển giao công nghệ ASEAN lúc đầu chưa có kinh nghiệm kiểm tra nên đã bịnhiều thiệt thòi

Tuy nhiên, mặt trái này cũng một phần phụ thuộc vào chính sách công nghệcủa các nước nhận đầu tư Chẳng hạn như Mehico có 1800 nhà máy lắp ráp sảnxuất của các công ty xuyên gia của Mỹ Mội số nhà máy này được chuyển sangMehico để tránh những quy định chặt chẽ về môi thường ở Mỹ và lợi dụng nhữngkhe hở của luật môi trường ở Mehico

4.2.2 Phụ thuộc về kinh tế đối với các nước nhận đầu tư

Trang 18

Đầu tư trực tiếp nước ngoài thường đước chủ yếu do các công ty xuyên quốcgia, đã làm nảy sinh nỗi lo rằng các công ty này sẽ tăng sự phụ thuộc của nền kinh

tế của nước nhận đầu tư vào vốn, kỹ thuật và mạng lưới tiêu thụ hàng hóa của cáccông ty xuyên quóc gia Đầu tư trực tiếp nước ngoài có đóng góp phần vốn bổ sungquan trọng cho quá trình phát triển kinh tế và thực hiện chuyển giao công nghệ chocác nước nhận đầu tư Đồng thời cũng thông qua các công ty xuyên quốc gia lànhững bên đối tác nươc ngoài để chúng ta có thể tiêu thụ hàng hóa vì các công tynày nắm hầu hết các kênh tiêu thụ hàng hóa từ nước này sang nước khác Vậy nếucàng dựa nhiều vào đầu tuu trực tiếp nước ngoài, thì sự phụ thuộc của nền kinh tếvào các nước công nghiệp phát triển càng lớn Và nếu nền kinh tế dựa nhiều vàođầu tư trực tiếp nước ngoài thì sự phát triển của nó chỉ là một phồn vinh giả tạo Sựphồn vinh có được bằng cái của người khác

Nhưng vấn đề này có xảy ra hay không còn phụ thuộc vào chính sách và khảnăng tiếp nhận kỹ thuật của từng nước Nếu nước nào tranh thủ được vốn, kỹ thuật

và có ảnh hưởng tích cực ban đầu của đầu tư trực tiếp nước ngoài mà nhanh chòngphát triển công nghệ nội đại, tạo nguồn tích lũy trong nước, đa dạng hóa thị trrườngtiêu thụ và tiếp nhận kỹ thuật mới cũng như đẩy mạnh nghiên cứu và triển khaitrong nước thì sẽ được rất nhiều sự phụ thuộc của các công ty đa quốc gia

4.2.3 Chi phí cho thu hút FDI và sản xuất hàng hóa không thích hợp Một là: Chi phí của việc thu hút FDI

Để thu hút FDI, các nước đầu tư phải áp dụng một số ưu đãi cho các nhà đầu

tư như là giảm thuế hoặc miễn thuế trong một thời gian khá dài cho phần lớn các dự

án đầu tư nước ngoài Hoặc việc giảm tiền cho họ cho việc thuê đất, nhà xưởng vàmột số các dịch vụ trong nước là rất thấp so với các nhà đầu tư trong nước Haytrong một số lĩnh vực họ được Nhà nước bảo hộ thuế quan Và như vậy đôi khi lợiích của nhà đầu tư có thể vượt lợi ích mà nước chủ nhà nhận được Thế mà, các nhàđầu tư còn tính giá cao hơn mặt bằng quốc tế cho các yếu tố đầu vào Các nhà đầu

tư thường tính giá cao cho các nguyên vật liệu,bán thành phẩm, máy móc thiết bị

mà họ nhập vào để thực hiện đầu tư Việc làm này mang lại nhiều lợi ích cho cácnhà đầu tư chẳng hạn như trốn được thuế, hoặc giấu được một số lợi nhuận thực tế

mà họ kiếm được Từ đó hạn chế cạnh tranh của các nhà đầu tư khác xâm nhập vàothị trường Ngược lại, điều này lại gây chi phí sản xuất cao ở nước chủ nhà và nướcchủ nhà phải mua hàng hóa do các nhà đầu tư nước ngoài sản xuất với giá cao hơn

Trang 19

Tuy nhiên việc tính giá cao chỉ sảy ra khi nước chủ nhà thiếu thông tin, trình

độ kiểm soát, trình độ quản lý, trình độ chuyên môn yếu, hoặc các chính sách củanước đó còn nhiều khe hở khiến cho các nhà đầu tư có thể lợi dụng được

Hai là: Sản xuất hàng hóa không thích hợp

Các nhà đầu tư còn bị lên án là sản xuất và bán hàng hóa không thích hợp chocác nước kém phát triển, thậm chí đôi khi còn lại là những hàng hóa có hại cho khỏecon người và gây ô nhiễm môi trường Ví dụ như khuyến khích dùng thuốclá, thuốctrừ sâu, nước ngọt có ga thay thế nước hoa quả tươi, chất tẩy thay thế xà phòng vv

4.2.4 Những mặt trái khác

Trong một số các nhà đầu tư không phải không có trường hợp hoạt động tìnhbáo, gây rối an ninh chính trị Thông qua nhiều thủ đoạn khác nhau theo kiểu “diễnbiến hòa bình” Có thể nói rằng sự tấn công của các thế lực thù địch nhằm phá hoại

ổn định về chính trị của nước nhận đầu tư luôn diễn ra dưới mọi hình thức tinh vi vàxảo quyệt Trường hợp chính phủ Xanvado Agiende ở Chile bị giật dây lật đổ năm

1973 là một ví dụ về sự can thiệp của các công ty xuyên quốc gia ITT(công ty viễnthông và điện tín quóc tế) và chính phủ Mỹ cam thiệp công việc nội bộ của Chile Mặt khác, mục đích của các nhà đầu tư là kiếm lời, nên họ chỉ đầu tư vàonhững nơi có lợi nhất Vì vậy khi lượng vốn nước ngoài đã làm tăng thêm sự mấtcân đối giữa các vùng,giữa nông thôn và thành thị Sự mất cân đối này có thể gây ramất ổn định về chính trị Hoặc FDI cũng có thẻ gây ảnh hưởng xấu về mặt xã hội.Những người dân bản xứ làm thuê cho các nhà đầu tư có thể bị mua chuộc, biếnchất, thay đổi quan điểm, lối sống và nguy cơ hơn là họ có thể phản bội Tổ Quốc.Các tệ nãnã hội cũng có thể tăng cường với FDI như mại dâm, nghiện hút

Những mặt trái của FDI không có nghĩa là phủ nhận những lợi thế cơbản của nó mà chúng ta chỉ lưu ý rằng không nên quá hy vọng vào FDI và cần phải

có những chính sách, những biện pháp kiểm soát hữu hiệu để phát huy những mặttích cực, hạn chế những mặt tiêu cực của FDI Bởi vì mức độ thiệt hại của FDI gây

ra cho nước chủ nhà nhiều hay ít lại phụ thuộc rất nhiều vào chính sách, năng lực,trình độ quản lý, trình độ chuyên môn của nước nhận đầu tư

II Lý luận chung về thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

1 Khái niệm thu hút vốn FDI

Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có thể hiểu là các biện pháp tácđộng, các chính sách ưu đãi của địa phương nhằm tranh thủ nguồn vốn, công nghệ,

Trang 20

kỹ năng quản lý từ các đơn vị, tổ chức nước ngoài thông qua hình thức đầu tư trựctiếp vào địa phương đó.

2 Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng thu hút vốn FDI trên phương diện là nước tiếp nhận đầu tư

2.1 Quy mô, cấu trúc và giới hạn của thị trường

Khi tiến hành đầu tư ra nước ngoài thì các yếu tố thuộc về môi trường kinh tếcủa nước tiếp nhận đầu tư là một trong những tiêu chí quan trọng hàng đầu mà cácnhà đầu tư xem xét đến

Thứ nhất, các chủ đầu tư có động cơ tìm kiếm thị trường sẽ quan tâm đến các

yếu tố như quy mô thị trường và thu nhập bình quân đầu người; tốc độ tăng trưởng của thị trường; khả năng tiếp cận thị trường khu vực và thế giới; các sở thích đặc biệt của người tiêu dùng ở nước nhận đầu tư và cơ cấu thị trường Đối với các chủ

đầu tư muốn mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm thì quy mô thị trường của nướcnhận đầu tư là một yếu tố rất quan trọng khi chủ đầu tư cân nhắc để lựa chọn địađiểm đầu tư Một nước với dân số đông, GDP bình quân đầu người cao, GDP tăngtrưởng với tốc độ cao, sức mua lớn sẽ có sức hấp dẫn đối với FDI vì đem lại chochủ đầu tư cơ hội tăng thị phần và lợi nhuận

Thị trường trong nước nhận đầu tư cũng rất quan trọng đối với các chủ đầu tư

là các hãng cung ứng dịch vụ Lý do chính trong trường hợp này không phải vì hàngrào thuế quan hay phi thuế quan mà do tính đặc thù của sản phẩm dịch vụ là khôngthể vận chuyển sản phẩm từ nước này sang nước khác, từ nơi này sang nơi khác.Chính vì vậy để đáp ứng nhu cầu dịch vụ ở nước ngoài các công ty dịch vụ phảithiết lập các cơ sở cung ứng ở chính nước đó

Thứ hai, bên cạnh thị trường trong nước, các chủ đầu tư nước ngoài ngày càng

quan tâm nhiều hơn đến khả năng tiếp cận thị trường khu vực và thế giới của hàng hóa sản xuất ra tại nước nhận đầu tư Trong xu thế tăng cường liên kết kinh tế quốc

tế và khu vực ngày nay, những nước tham gia vào nhiều các liên kết quốc tế sẽ cólợi thế trong thương mại quốc tế vì hàng hóa từ nước này xuất khẩu sang các nướcthành viên khác trong liên kết sẽ được hưởng chế độ thương mại ưu đãi hơn hànghóa từ các nước không phải thành viên chảy vào Chính vì vậy chủ đầu tư nướcngoài chỉ cần đầu tư vào một nước có tham gia vào nhiều các liên kết kinh tế khuvực và thế giới sẽ có cơ hội tiếp cận một thị trường rộng lớn hơn rất nhiều thị

Trang 21

trường nước nhận đầu tư Đây là một lợi thế mà các chủ đầu tư nước ngoài khôngthể bỏ qua khi cân nhắc lựa chọn địa điểm đầu tư.

Thứ ba, các chủ đầu tư tìm kiếm nguồn nguyên liệu và tài sản sẽ quan tâm đến

tài nguyên thiên nhiên; lao động chưa qua đào tạo với giá rẻ; lao động có tay nghề; công nghệ, phát minh, sáng chế và các tài sản do doanh nghiệp sáng tạo ra (thương hiệu, ); cơ sở hạ tầng phần cứng (cảng, đường bộ, hệ thống cung cấp năng lượng, mạng lưới viễn thông).

Việc có sẵn các nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú đã từng là yếu tố cơbản thu hút FDI của các nước Vào thế kỷ 19, phần lớn vốn FDI từ Châu Âu, Mỹ vàNhật Bản hướng vào việc khai thác tài nguyên thiên nhiên Cho đến Đại chiến Thếgiới lần thứ hai, 60% tổng FDI trên thế giới liên quan đến việc tìm các nguồn tàinguyên thiên nhiên [44] Nguyên nhân là do trong thời kỳ đó lĩnh vực nông nghiệp

và khai khoáng là những lĩnh vực giữ vai trò quan trọng trong sản xuất toàn cầu.Các nước chủ đầu tư, vốn phụ thuộc nhiều vào nguồn nguyên liệu thô trên thịtrường thế giới, muốn giảm bớt sự phụ thuộc này để đảm bảo tính ổn định cho nềnkinh tế Họ tìm cách đầu tư trực tiếp sang các nước có nhiều tài nguyên để có đượcquyền khai thác lâu dài các nguồn tài nguyên đó Trong khi đó phần lớn các nướcđang phát triển đều thiếu vốn, đặc biệt là thiếu thiết bị, công nghệ khai thác, kỹthuật bán hàng, cơ sở hạ tầng, để khai thác các nguồn lực của mình Chình vì vậytrong giai đoạn này FDI vào khai thác tài nguyên tăng mạnh Từ những năm 1960,tầm quan trọng tương đối của các nguồn tài nguyên thiên nhiên trong thu hút FDI đãgiảm Trong phần lớn các nước chủ đầu tư, chỉ 11% tổng vốn FDI ra trong năm

1990 dành để tìm kiếm các nguồn tài nguyên thiên nhiên so với 25% năm 1970.Trong giai đoạn 1991- 1995, tỷ lệ này nhỏ hơn 5% đối với Đức, Nhật, Anh và Mỹ.[53, tr 62] Lý do là vì các ngành nghề, lĩnh vực mới ra đời và có tầm quan trọngngày càng lớn, các ngành nghề, lĩnh vực cũ trong đó có nông nghiệp và khai khoáng

có tầm quan trọng giảm dần trong nền kinh tế của các nước đang phát triển Thêmvào đó, khi trình độ phát triển đã được nâng cao, khả năng tích lũy vốn trong nội bộnền kinh tế được cải thiện, nhiều doanh nghiệp trong nước nhận đầu tư có đủ vốn vàcông nghệ thích hợp để tự tiến hành khai thác và chế biến các nguồn tài nguyên vậynên các ngành này sẽ không cần đến FDI nữa

Lực lượng lao động dồi dào, trình độ thấp và giá rẻ ở nhiều nước đang pháttriển cũng thu hút được sự quan tâm của các nhà đầu tư nước ngoài Lực lượng nàyđáp ứng được nhu cầu của các doanh nghiệp chế tạo cần nhiều lao động Ngược lại,

Trang 22

những ngành, lĩnh vực, những dự án đầu tư đòi hỏi công nghệ cao thường kèm theoyêu cầu về lao động có trình độ cao, có tay nghề và được đào tạo bài bản.

Không phải lúc nào các chủ đầu tư nước ngoài cũng đem công nghệ cùng vớivốn đi đầu tư ở các nước khác Bản thân họ cũng kỳ vọng tìm được những côngnghệ nghệ, phát minh, sáng chế và các tài sản mới do doanh nghiệp ở nước nhậnđầu tư sáng tạo ra và sở hữu độc quyền Điều này đặc biệt đúng với các dòng vốnFDI chảy giữa các nước công nghiệp phát triển với nhau

Các chủ đầu tư tìm kiếm hiệu quả sẽ chú trọng đến chi phí mua sắm các nguồntài nguyên và tài sản được đề cập ở phần trên, có cân đối với năng suất lao động; cácchi phí đầu vào khác như chi phí vận chuyển và thông tin liên lạc đi/ đến hoặc trongnước nhận đầu tư; chi phí mua bán thành phẩm; tham gia các hiệp định hội nhập khuvực tạo thuận lợi cho việc thành lập mạng lưới các doanh nghiệp toàn khu vực

Khi các chủ đầu tư chú trọng đến việc giảm chi phí thì một trong những chi phíđược các chủ đầu tư chú ý nhiều đó là chi phí lao động Điều này đặc biệt đúngtrong những ngành, những lĩnh vực sử dụng nhiều lao động Các chủ đầu tư sẽ tìmđến những thị trường có nguồn lao động rẻ, phù hợp Tất nhiên chủ đầu tư cũngphải tính toán cân đối giữa tiền lương, chi phí đào tạo, các chi phí khác liên quanđến việc sử dụng lao động với năng suất lao động để quyết định đầu tư ở địa điểmnào có hiệu quả sử dụng lao động cao nhất Các ngành có tỷ trọng chi phí nguyênvật liệu cao trong giá thành sản phẩm lại chú ý nhiều đến việc giảm các chi phí liênquan đến việc mua các nguyên vật liệu,

Cơ sở hạ tầng như cảng, đường bộ, hệ thống cung cấp năng lượng, mạng lướiviễn thông cũng ảnh hưởng nhiều đến hiệu quả hoạt động đầu tư Chính vì vậy khilựa chọn địa điểm đầu tư các chủ đầu tư nước ngoài phải cân nhắc vấn đề này

2.2 Hệ thống chính sách

Hoạt động kinh doanh quốc tế nói chung và đầu tư trực tiếp nước ngoài nóiriêng luôn luôn chịu sự ảnh hưởng trực tiếp của hệ thống chính sách và luật phápcủa nước tiếp nhận đầu tư bao gồm các qui định liên quan trực tiếp đến FDI và cácqui định có ảnh hưởng gián tiếp đến FDI

Các qui định của luật pháp và chính sách liên quan trực tiếp FDI bao gồm: + Các qui định về việc thành lập và hoạt động của các nhà đầu tư nước ngoài(cho phép, hạn chế, cấm đầu tư vào một số ngành, lĩnh vực; cho phép tự do hay hạnchế quyền sở hữu của các chủ đầu tư nước ngoài đối với các dự án; cho phép tự do

Trang 23

hoạt động hay áp đặt một số điều kiện hoạt động; có hay không các ưu đãi nhằmkhuyến khích FDI; ),

+ Các tiêu chuẩn đối xử đối với FDI (phân biệt hay không phân biệt đối xửgiữa các nhà đầu tư có quốc tịch khác nhau, ) và cơ chế hoạt động của thị trườngtrong đó có sự tham gia của thành phần kinh tế có vốn ĐTNN (cạnh tranh có bìnhđẳng hay không; có hiện tượng độc quyền không; thông tin trên thị trường có rõràng, minh bạch không; )

Các qui định này ảnh hưởng trực tiếp đến khối lượng và kết quả của hoạt độngFDI Các qui định thông thoáng, có nhiều ưu đãi, không có hoặc ít có các rào cản,hạn chế hoạt động FDI sẽ góp phần tăng cường thu hút FDI vào và tạo thuận lợi chocác dự án FDI trong quá trình hoạt động Ngược lại, hành lang pháp lý và cơ chếchính sách có nhiều qui định mang tính chất hạn chế và ràng buộc đối với FDI sẽkhiến cho FDI không vào được hoặc các chủ đầu tư không muốn đầu tư Các quiđịnh của luật pháp và chính sách sẽ được điều chỉnh tùy theo định hướng, mục tiêuphát triển của từng quốc gia trong từng thời kỳ, thậm chí có tính đến cả các quihoạch về ngành và vùng lãnh thổ

Bên cạnh đó, một số các qui định, chính sách trong một số ngành, lĩnh vựckhác cũng có ảnh hưởng đến quyết định của chủ đầu tư như:

+ Chính sách thương mại có ảnh hưởng rất lớn đến quyết định lựa chọn địađiểm đầu tư vì FDI gắn với sản xuất và tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ Ví dụ các nướctheo đuổi chiến lược phát triển sản xuất trong nước để thay thế nhập khẩu sẽ thu hútđược nhiều FDI vào sản xuất các hàng tiêu dùng phục vụ nhu cầu trong nước nhưngsau đó một thời gian khi thị trường đã bão hòa nếu nước đó không thay đổi chínhsách thì sẽ không hấp dẫn được FDI

+ Chính sách tư nhân hóa liên quan đến việc cổ phần hóa, bán lại các công ty.Những nước cho phép các nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào quá trình tư nhânhóa sẽ tạo cho các nhà đầu tư nước ngoài nhiều cơ hội, nhiều sự lựa chọn hơn trướckhi quyết định đầu tư

+ Chính sách tiền tệ và chính sách thuế có ảnh hưởng quan trọng đến sự ổnđịnh của nền kinh tế Các chính sách này ảnh hưởng đến tốc độ lạm phát, khả năngcân bằng ngân sách của nhà nước, lãi suất trên thị trường Như vậy các chính sáchnày ảnh hưởng rất nhiều đến quyết định đầu tư Các chủ đầu tư đều muốn đầu tưvào các thị trường có tỷ lệ lạm phát thấp Lãi suất trên thị trường nước nhận đầu tư

sẽ ảnh hưởng đến chi phí vốn, từ đó ảnh hưởng đến thu nhập của các chủ đầu tư

Trang 24

nước ngoài Chính sách thuế của nước nhận đầu tư cũng thu hút được sự quan tâmrất lớn của các chủ đầu tư Thuế thu nhập doanh nghiệp ảnh hưởng trực tiếp đến lợinhuận của các dự án FDI Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao, thuế tiêuthụ đặc biệt, ảnh hưởng trực tiếp đến giá thành sản phẩm Nhìn chung các chủđầu tư đều tìm cách đầu tư ở những nước có các loại thuế thấp.

+ Chính sách tỷ giá hối đoái ảnh hưởng đến giá các tài sản ở nước nhận đầu tư,giá trị các khoản lợi nhuận các chủ đầu tư thu được và năng lực cạnh tranh của cáchàng hóa xuất khẩu của các chi nhánh nước ngoài Một nước theo đuổi chính sáchđồng tiền quốc gia yếu sẽ có lợi trong việc thu hút ĐTNN và xuất khẩu hàng hóa.Chính vì vậy chính sách này ảnh hưởng đến FDI

+ Chính sách liên quan đến cơ cấu các ngành kinh tế và các vùng lãnh thổ(khuyến khích phát triển ngành nào, vùng nào; ngành nào đã bão hòa rồi; ngànhnào, vùng nào không cần khuyến khích, )

+ Chính sách lao động: có hạn chế hay không hạn chế sử dụng lao động nướcngoài; ưu tiên hay không ưu tiên cho lao động trong nước,

+ Chính sách giáo dục, đào tạo, chính sách y tế, ảnh hưởng đến chất lượngnguồn lao động cung cấp cho các dự án FDI

+ Các qui định trong các hiệp định quốc tế mà nước nhận đầu tư tham gia kýkết Ngày nay, các qui định này thường tạo thuận lợi cho FDI vì nó bảo vệ quyền lợicho các nhà đầu tư, hướng tới không phân biệt các chủ đầu tư theo quốc tịch, Nhìn chung các chủ đầu tư nước ngoài thích đầu tư vào những nước có hànhlang pháp lý, cơ chế, chính sách đầy đủ, đồng bộ, thông thoáng, minh bạch và có thể

dự đoán được Điều này đảm bảo cho sự an toàn của vốn đầu tư

2.3 Các yếu tố tạo thuận lợi trong kinh doanh

Bao gồm chính sách xúc tiến đầu tư; các biện pháp ưu đãi, khuyến khích đầutư; giảm các tiêu cực phí bằng cách giải quyết nạn tham nhũng, cải cách thủ tụchành chính để nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy quản lý Nhà nước; nâng caochất lượng các dịch vụ tiện ích xã hội để đảm bảo chất lượng cuộc sống cho các chủđầu tư nước ngoài (các trường song ngữ, chất lượng cuộc sống, ); các dịch vụ hậuđầu tư Từ lâu các nước nhận đầu tư đã ý thức được tầm quan trọng của các yếu tốnày, vì vậy các nước thường tìm cách cải tiến các yếu tố này nhằm tạo thuận lợinhiều hơn cho các chủ đầu tư

Xúc tiến đầu tư bao gồm hoạt động xây dựng và giới thiệu hình ảnh đất nước,

Trang 25

các hoạt động hỗ trợ cho đầu tư và các dịch vụ tạo thuận lợi cho đầu tư Xúc tiếnđầu tư đặc biệt quan trọng đối với các nước mới mở cửa thu hút FDI hoặc vừa thayđổi các chính sách liên quan đến FDI chuyển từ hạn chế sang mở cửa và khuyếnkhích FDI Hoạt động xúc tiến đầu tư lúc này sẽ giúp các chủ đầu tư biết đến nhữngchính sách thuận lợi dành cho FDI mới được ban hành ở nước nhận đầu tư Từ đóchủ đầu tư sẽ cân nhắc và đi đến quyết định có đầu tư hay không vào nước đó Thực

tế cho thấy một số nước đang phát triển không thành công trong thu hút FDI mặc dù

đã đưa ra nhiều cải tiến về chính sách có liên quan đến FDI theo hướng tạo thuận lợi

và dành nhiều ưu đãi cho FDI, lý do vì các chủ đầu tư nước ngoài không được biếtđến các thay đổi này Như vậy hoạt động xúc tiến đầu tư sẽ giúp các chủ đầu tưnước ngoài biết đến và phản ứng kịp thời với các thay đổi trong chính sách FDI củanước nhận đầu tư, đặc biệt hoạt động này giúp các chủ đầu tư phát hiện được các cơhội mới mà nếu tự tìm hiểu thì có thể chủ đầu tư sẽ không kịp thời thấy được các cơhội này Xúc tiến đầu tư sẽ giúp rút ngắn khoảng cách về mặt địa lý giữa nước nhậnđầu tư và chủ đầu tư vì thông tin đến được với chủ đầu tư kịp thời Việc giới thiệumôi trường đầu tư, cơ hội đầu tư có thể được tiến hành thông qua các phương tiệnthông tin đại chúng, cũng có thể qua những cuộc tiếp xúc riêng với các nhà đầu tư.Thậm chí đối với các chủ đầu tư là các TNC, MNC lớn, công tác xúc tiến đầu tư cóthể được tiến hành với riêng từng chủ đầu tư

Các hoạt động hỗ trợ cho đầu tư và các dịch vụ tạo thuận lợi cho đầu tư cũng

có ảnh hưởng nhiều đến chất lượng xúc tiến đầu tư và từ đó ảnh hưởng đến dòngvốn FDI chảy vào một nước Các hoạt động hỗ trợ này có thể là hỗ trợ trong việcnghiên cứu thị trường, tìm kiếm đối tác, cơ hội đầu tư; hỗ trợ trong việc lập hồ sơ

dự án và xin phép đầu tư; hỗ trợ trong quá trình triển khai dự án; hỗ trợ trong suốtquá trình hoạt động của dự án và hỗ trợ khi dự án làm thủ tục để chuẩn bị chấm dứthoạt động Ngày nay, nhiều nước đã áp dụng cơ chế một cửa nhằm giúp các nhà đầu

tư nước ngoài chỉ cần thông qua một đầu mối có thể được hỗ trợ về mọi mặt vàtrong suốt quá trình từ khi tìm kiếm cơ hội đầu tư đến khi chấm dứt hoạt động đầu

tư Cơ chế này đã tạo thuận lợi rất nhiều cho các nhà đầu tư, giúp họ tiết kiệm đượcthời gian và chi phí Với chính sách xúc tiến đầu tư tốt, dòng vốn FDI chảy vào mộtnước có thể tăng lên rất nhiều

Các chính sách ưu đãi, khuyến khích đầu tư (ưu đãi về thuế, ưu đãi tài chính,các ưu đãi khác) cũng là một công cụ mà nhiều nước sử dụng để tăng cường thu hútFDI Các ưu đãi này giúp các chủ đầu tư tăng tỷ suất lợi nhuận, giảm chi phí hoặc

Trang 26

hạn chế được rủi ro Thông thường, các chính sách này được áp dụng riêng cho mộthoặc một số doanh nghiệp hoạt động trong một ngành, một lĩnh vực hay một địabàn nào đó nhằm khuyến khích doanh nghiệp hoạt động theo ý muốn của Chính phủ(muốn điều chỉnh cơ cấu ngành, cơ cấu vùng lãnh thổ, muốn khuyến khích chuyểngiao công nghệ cao, ) Như vậy các ưu đãi đầu tư có thể giúp các nước tăng cườngthu hút FDI có trọng điểm.

Các nghiên cứu của các tác giả ở nhiều nước cho thấy tham nhũng ở nướcnhận đầu tư sẽ làm nản lòng các chủ đầu tư nước ngoài Tham nhũng khiến cho chiphí đầu tư và chi phí kinh doanh tăng lên và các nhà đầu tư không thể dự đoán trướcđược chi phí có thể tăng đến mức nào Tham nhũng cũng làm cho các cơ hội đầu tưtrở nên không chắc chắn Dù đã phải chi tiền cho các quan chức chính phủ nhưngcác nhà đầu tư vẫn không biết chắc mình có được đầu tư hay không vì không cómột ràng buộc chặt chẽ nào từ phía các quan chức này Chính vì vậy, nhiều khikhông cần cân nhắc đến các yếu tố khác, khi thấy một nước có nạn tham nhũngnặng nề, các chủ đầu tư sẽ không tìm đến nước đó nữa

Thủ tục hành chính cũng ảnh hưởng rất nhiều đến chi phí và cơ hội đầu tư.Nhiều trường hợp chỉ vì thủ tục hành chính quá rườm rà, mất nhiều thời gian mà khihoàn thành xong các thủ tục theo đúng qui định của nước nhận đầu tư thì cơ hội đầu

tư cũng đã qua mất Chính vì vậy khi lựa chọn địa điểm đầu tư, các chủ đầu tưthường ưu tiên những nơi, những nước không đòi hỏi phải tiến hành nhiều thủ tụcđầu tư rườm rà Đặc biệt các chủ đầu tư thích tìm đến những địa điểm đầu tư ở đócác thủ tục hành chính cụ thể, rõ ràng, minh bạch vì nó sẽ giúp chủ đầu tư biết ngay

từ đầu nên làm gì và cũng giúp chủ đầu tư tự đánh giá xem liệu dự án của họ cóđược phép tiến hành hay không

FDI là một hoạt động lâu dài, vì vậy khi đầu tư ở đâu thông thường chủ đầu tưnước ngoài sẽ phải có thời gian nhất định sống và làm việc ở đó, có khi họ còn phảimang theo cả gia đình Điều này khiến họ phải cân nhắc đến các dịch vụ tiện ích xãhội của nước nhận đầu tư xem chúng có đảm bảo đáp ứng được nhu cầu cuộc sốngcủa họ hay không Một nước không có các trường học quốc tế dành cho người nướcngoài, chất lượng nhà ở thấp, các dịch vụ vui chơi giải trí nghèo nàn, sẽ khó thuhút được nhiều FDI

3 Các chỉ tiêu đánh giá kết quả và hiệu quả thu hút vốn FDI

3.1 Các chỉ tiêu đánh giá kết quả

Trang 27

-Tổng mức đầu tư đăng ký: là tổng số vốn đầu tư trực tiếp mà các nhà đầu tưnước ngoài cam kết sẽ đầu tư vào địa phương, là toàn bộ chi phí đầu tư và xây dựng(kể cả vốn Sản xuất ban đầu) và là giới hạn chi phí tối đa của dự án được xác địnhtrong quyết định đầu tư.

-Tổng mức đầu tư thực hiện: là tổng số vốn đầu tư trực tiếp mà các nhà đầu tưnước ngoài đã chi để tiến hành các hoạt động của các công cuộc đầu tư bao gồm cácchi phí cho công tác xây dựng, chi phí cho công tác mua sắm và lắp đặt thiết bị, chiphí quản lý và chi phí khác theo quy định của thiết kế dự toán và được ghi trong dự

án đầu tư được duyệt

-Số dự án được đầu tư: là số dự án các nhà đầu tư nước ngoài đăng ký đầu tư

và đã được cấp phép, số dự án được đầu tư nói lên quy mô, mức độ đầu tư trực tiếpnước ngoài tại địa phương

3.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả

- Tỷ lệ vốn đầu tư thực hiện/ vốn đầu tư đăng ký: là tỷ lệ được tính theo phầntrăm giữa tổng mức đầu tư đã được thực hiện so với số vốn đăng ký ban đầu của các

dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI

- Tiến độ hoàn thành công việc: là thời gian công việc hoàn thành sớm hơnhoặc muộn hơn so với kế hoạch dự tính (giá trị tuyệt đối) hoặc là số phần trăm côngviệc được hoàn thành so với kế hoạch dự tính (giá trị tương đối)

4 Kinh nghiệm của một số tỉnh trong thu hút vốn FDI

4.1 Đồng Nai với chủ trương khai thác triệt để lợi thế và truyền thống

để tiến hành xây dựng KCN và các cụm công nghiệp trong địa phương nhằm thu hút FDI

Nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư, tỉnh Đồng Nai đã tập trungquy hoạch bổ sung và tăng cường đầu tư đồng bộ cơ sở hạ tầng các khu, cụm côngnghiệp, khu dân cư và dịch vụ, chọn lọc các dự án đầu tư trên cơ sở xây dựng danhmục ngành nghề khuyến khích đầu tư và tiếp tục cải tiến thủ tục đầu tư, nâng caohiệu lực quản lý Nhà nước

Bên cạnh đó, tỉnh tiếp tục đề nghị Chính phủ cho phép một số khu công nghiệpcủa tỉnh được hưởng quy chế như các khu công nghiệp miền núi và một số khucông nghiệp ưu tiên khác Tỉnh cũng đề nghị Chính phủ dành ngân sách hợp lý đểhình thành Quỹ xúc tiến đầu tư và cho phép tỉnh thí điểm hình thành Quỹ đào tạo có

Trang 28

sự đầu tư của Nhà nước và đóng góp từ các doanh nghiệp trên địa bàn, nhằm đápứng nhu cầu nguồn nhân lực cho các doanh nghiệp.

Đồng Nai đang là tỉnh dẫn đầu về diện tích đất cho nhà đầu tư nước ngoàithuê, số lượng khu công nghiệp, và 2 năm qua còn dẫn đầu về tốc độ thu hút vốnFDI trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam Các chỉ số cho thuê diện tích đất, suấtđầu tư theo diện tích, theo dự án của tỉnh đều cao hơn chỉ số chung của cả nước.Sau 12 năm xây dựng các khu công nghiệp, Đồng Nai đã có 16 khu côngnghiệp tập trung được Chính phủ phê duyệt với tổng diện tích hơn 4.800ha, trong

đó 4 khu đang làm thủ tục mở rộng thêm gần 850ha Ngoài ra, tỉnh còn có 9 khucông nghiệp đang làm quy hoạch chi tiết và lập dự án thành lập với tổng diện tíchhơn 2.050ha

Các khu công nghiệp đã thu hút 661 dự án đầu tư nước ngoài của 26 quốc gia

và vùng lãnh thổ với tổng vốn đăng ký hơn 7,4 tỷ USD, trong đó đã có 448 dự án đivào sản xuất kinh doanh với vốn đầu tư hơn 5,3 tỷ USD, tạo việc làm cho gần200.000 lao động Có nhiều dự án quy mô lớn, có trình độ công nghệ sản xuất caođầu tư vào các lĩnh vực được Nhà nước khuyến khích đầu tư Cơ cấu đầu tư phântheo ngành, cao nhất là ngành dệt, da, may mặc (38,5%), chế biến nông-lâm sản(18%), cơ khí lắp ráp (17%)

Nhờ những chính sách thu hút vốn đầu tư của mình mà hiện tại tổng số khucông nghiệp của Đồng Nai chiếm 15% của cả nước, vốn đấu tư chiếm gần 40% và

số lao động chiếm 34%, tỷ lệ lấp đầy bình quân tại các khu công nghiệp là hơn57% Năm 2009, các doanh nghiệp FDI trên địa bàn tỉnh đã đạt giá trị sản xuất côngnghiệp hơn 120 tỷ đồng, chiếm hơn 60% giá trị sản xuất công nghiệp toàn tỉnh, kimngạch xuất khẩu đạt hơn 3,7 tỷ USD, chiếm hơn 90% kim ngạch xuất khẩu toàntỉnh

4.2 Đường lối “trải thảm đỏ” cho các nhà đầu tư của tỉnh Vĩnh Phúc

Sau khi tái lập,Vĩnh Phúc vẫn là một tỉnh thuần nông, cơ cấu GDP năm 1997như sau: Nông, lâm nghiệp, thuỷ sản (43,35%) - Công nghiệp, xây dựng (39,0%) -Dịch vụ (20,71%) Chỉ sau 8 năm, năm 2005, cơ cấu kinh tế đã chuyển dịch theohướng tích cực: Công nghiệp, xây dựng (52,2%) - nông nghiệp (21,2%) - Dịch vụ(26,6%) Có sự biến đổi một cách nhanh chóng như vậy là do Vĩnh Phúc đã biết lựa

Trang 29

chọn công nghiệp làm ngành kinh tế đòn bảy trong phát triển kinh tế - xã hội củatỉnh Và khai thác ngoại lực, thu hút vốn đầu tư nước ngoài để phát triển côngnghiệp là quan điểm chỉ đạo, xuyên suốt trong quá trình phát triển của ngành này.Trong khi cả nước vẫn chưa thực hiện cải cách hành chính, chưa thực thi cơchế "một dấu, một cửa", Vĩnh Phúc đã tiên phong làm được điều này, các nhà đầu

tư khi đến với Vĩnh Phúc đã rút ngắn được 2/3 thời gian theo quy định của Trungương khi làm thủ tục xin cấp phép đầu tư

"Cơ chế một cửa" trong đường lối thu hút các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoàiđược hiểu như sau:

- "Một cửa" là thực hiện theo một đầu mối, một cơ quan giải quyết

mọi vấn đề liên quan đến nhà đầu tư từ khâu tiếp nhận hồ sơ, thẩm định dự ánđến cấp giấy phép đầu tư theo quy định của pháp luật

- "Một cửa" không phải là một cơ quan làm thay tất cả các công việc

của các ngành liên quan mà là đầu mối khâu nối tổng hợp ý kiến các ngànhtrên cơ sở thống nhất ý kiến của các ngành dưới sự chỉ đạo của UBND tỉnh

- Nhà đầu tư có nguyện vọng đầu tư vào tỉnh Vĩnh Phúc chỉ phải đến

một cơ quan mà không phải đến nhiều cơ quan để liên hệ công tác từ khâukhảo sát ban đầu cho đến khi nhận được giấy phép đầu tư

Cụ thể: Thời hạn cấp phép đầu tư, giấy chứng nhận ưu đãi thời gian tối đa kể

từ ngày Ban Quản lý các Khu công nghiệp và Thu hút đầu tư hoặc Sở Kế hoạch Đầu tư nhận đủ hồ sơ hợp lệ đến khi cấp phép đầu tư được quy định như sau:

- 03 ngày đối với dự án thuộc diện đăng ký cấp phép đầu tư;

- 10 ngày đối với dự án thuộc diện cấp ưu đãi đầu tư;

- 20 ngày đối với dự án thuộc diện phải thẩm định cấp giấy phép đầu tư.Bên cạnh sự thông thoáng, nhanh chóng về thủ tục đầu tư, Vĩnh Phúc đã thựchiện rất nhiều các chính sách ưu đãi đầu tư tại tỉnh như các ưu đãi về giá thuê đấtthậm chí miễn tiền thuê đất, hỗ trợ đền bù giải phóng và san lấp mặt bằng, hỗ trợ lãisuất vay, hỗ trợ kinh phí đào tạo nghề cho lao động của tỉnh, hỗ trợ xây dựng cơ sở

hạ tầng… Vĩnh Phúc còn coi "mọi thành công của tất cả các nhà đầu tư là thànhcông của tỉnh Vĩnh Phúc và mong muốn tất cả các nhà đầu tư vào Vĩnh Phúc đềugặt hái được thành quả " Và chính từ sự trọng thị đó, các nhà đầu tư, đặc biệt là cácnhà đầu tư nước ngoài đã đến với Vĩnh Phúc ngày càng nhiều Họ đến Vĩnh Phúckhông chỉ đem theo vốn liếng, kinh nghiệm, mà điều quan trọng là họ đã đem đếnmột tư duy mới về quy hoạch tổng thể

Trang 30

Bài học kinh nghiệm trong việc thu hút FDI cho tỉnh Phú Thọ

- Thứ nhất cần phải cải tạo hệ thống chính sách, luật pháp tạo một hành lang thông thoáng cho các nhà đầu tư khi tiến hành đầu tư vào tỉnh nhà, đảm bảo thực hiện đúng cơ chế một cửa theo quy định của Nhà nước

- Thứ hai, cần phải tạo một môi trường kinh doanh thuận lợi để hấp dẫn các nhà đầu tư đến với Phú Thọ đó là phải cải thiện hệ thống giao thông, cơ sở hạ tầng, đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng, đáp ứng được yêu cầu công việc của các nhà đầu tư nước ngoài

- Thứ ba, cần phải có các chế độ ưu đãi, khuyến khích đầu tư để hấp dẫn các nhà đầu tư đến với Phú Thọ, quảng bá hình ảnh về môi trường đầu tư Phú Thọ để các nhà đầu tư thấy được những tiềm năng khai thác và bỏ vốn thực hiện đầu tư

Trang 31

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ

Phú Thọ nằm ở vị trí ở ngã ba sông, cửa ngõ phía Tây của thủ đô Hà Nội vàđịa bàn kinh tế trọng điểm phía Bắc, là cầu nối các tỉnh đồng bằng Sông Hồng vớicác tỉnh miền núi Tây Bắc và Đông Bắc, nơi trung chuyển hàng hóa thiết yếu củacác tỉnh miền núi phía Bắc Các hệ thống đường bộ, đường sắt, đường sông từ cáctỉnh phía Tây Đông Bắc đều qui tụ về Phú Thọ rồi mới đi Hà Nội, Hải Phòng và cáctỉnh, thành phố khác trong cả nước Phú Thọ chỉ cách Hà Nội khoảng 80 km tínhtheo đường ô tô, cách sân bay quốc tế Nội Bài 50km, cách cửa khẩu quốc tế LàoCai và cửa khẩu Thanh Thủy – Hà Giang 200km, cách cảng Hải Phòng 170km Thành phố Việt Trì là trung tâm hành chính, kinh tế - xã hội của tỉnh đồng thờicũng là một trong 5 trung tâm lớn của vùng miền núi phía Bắc, có các tuyến trụcgiao thông quan trọng chạy qua như quốc lộ số 2 chạy từ Hà Nội qua Việt Trì điTuyên Quang - Hà Giang đặc biệt là tuyến đường cao tốc Hà Nội – Việt Trì - LàoCai sang Vân Nam - Trung Quốc Đây là tuyến nằm trong hành lang kinh tế CônMinh - Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh Dự báo đoạn Hà Nội - Việt Trì

sẽ có nhịp độ phát triển sớm nền kinh tế cao và đô thị hóa nhanh nên đây là cơ hộicho Phú Thọ để phát triển kinh tế Đường Hồ Chí Minh với cầu Ngọc Tháp cũngtạo ra thuận lợi để Phú Thọ giao lưu kinh tế với bên ngoài

Theo quy hoạch các vùng kinh tế phía Bắc, Sơn Tây, Hòa Lạc đang được xâydựng để trở thành chuỗi đô thị có khoảng 30 - 50 vạn dân, khi ấy cũng sẽ mở ra cơhội mới cho Phú Thọ phát triển, nhất là các huyện phía hữu ngạn sông Hồng như Hạ

Trang 32

Hòa, Tam Nông, Thanh Thủy, Yên Lập, Cẩm Khê, Thanh Sơn, có điều kiện pháttriển mạnh hơn Bên cạnh đó, Phú Thọ còn có hệ thống đường sắt, đường sông chạyqua cũng là một trong những nhân tố tạo điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế -

xã hội

2 Điều kiện tự nhiên

2.1 Đặc điểm địa hình

Địa hình tỉnh Phú Thọ có đặc điểm nổi bật là bị chia cắt tương đối mạnh do có

vị trí nằm ở phía cuối dãy Hoàng Liên Sơn, nơi chuyển tiếp giữa miền núi cao vàmiền núi thấp, gò đồi, độ cao giảm dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam Căn cứ vàođịa hình, chia Phú Thọ thành 2 tiểu vùng sau:

a Tiểu vùng miền núi:

Gồm các huyện Hạ Hoà , Thanh Sơn, Yên Lập, một phần của huyện Cẩm Khê

có tổng diện tích tự nhiên khoảng 182.475,82 ha, dân số khoảng 421.361 người, mật

độ dân số 229 người/km2; độ cao trung bình so với mặt nước biển từ 200-500 m.Đây là khu vực đang gặp rất nhiều khó khăn về hạ tầng cơ sở, giao thông, điệnđường trường trạm, bên cạnh đó dân trí trong tiểu vùng còn thấp lại nhiều dân tộcnên việc khai thác tiềm năng nông lâm khoáng sản để phát triển kinh tế - xã hộicòn hạn chế

b Tiểu vùng trung du đồng bằng:

Bao gồm thành phố Việt Trì, thị xã Phú Thọ và các huyện Phù Ninh, LâmThao, Thanh Thủy, Tam Nông, Đoan Hùng và phần còn lại của huyện Cẩm Khê, HạHoà Diện tích tự nhiên khoảng 169.489,50 ha, dân số khoảng 913.271 người, mật

độ 540 người/ km2, có độ cao trung bình so với mực nước biển từ 50 - 200m Đây

là khu vực có kinh tế - xã hội phát triển, tiềm năng nông lâm, khoáng sản được khaithác tương đối triệt để, là nơi sản xuất nhiều nông sản hàng hoá xuất khẩu như: chè,đậu tương, lạc v.v , có nhiều khu – cụm - điểm công nghiệp bên cạnh đó khuvực còn có điều kiện thuận lợi về giao thông vận tải, có đất đai phù hợp cho phát triểnkhu công nghiệp và đô thị Dải đất ven sông màu mỡ, thuận lợi cho phát triển chè, đậutương, lạc, vừng, cây ăn quả, sản xuất lương thực, chăn nuôi gia súc, gia cầm, nuôitrồng thuỷ sản Tuy vậy ở nhiều nơi đã xuất hiện hiện tượng đất bị thoái hóa Như vậy, Phú Thọ có địa hình đa dạng, phức tạp, vừa có núi, vừa có trung du

và đồng bằng ven song Địa hình bị chia cắt, mức độ cao thấp khác nhau nên việcđầu tư khai thác tiềm năng, phát triển sản xuất, phát triển hạ tầng để phát triển kinh

Trang 33

tế - xã hội phải đầu tư tốn kém nhất là giao thông, thuỷ lợi, cấp điện, cấp nước Tuyvậy, điều đó lại tạo ra cho Phú Thọ một nguồn đất đai đa dạng, phong phú để pháttriển nông lâm nghiệp hàng hoá toàn diện với những cây trồng, vật nuôi có giá trịkinh tế cao phù hợp với thị trường trong nước và thế giới.

2.2 Đặc điểm khí hậu

Phú Thọ có khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm, mùa đông lạnh, nhiệt độ trung bìnhnăm khoảng 230C, lượng mưa trung bình năm vào khoảng 1600 - 1800mm Độ ẩmtrung bình năm khoảng 85-87% Căn cứ vào địa hình Phú Thọ có 3 tiểu vùng khíhậu sau:

- Tiểu vùng I: các huyện phía Bắc: có lượng mưa trung bình/năm là 1800mm,

số ngày mưa là 120-140 ngày/năm Nhiệt độ trung bình khoảng từ 220C đến 230C

Là vùng thuận lợi cho phát triển cây ngắn ngày và cây công nghiệp dài ngày

- Tiểu vùng II: các huyện phía Nam Lượng mưa trung bình/năm dao động từ

1400 đến 1700mm Lượng mưa phân bố không đều chủ yếu tập trung vào các thángmùa mưa Độ ẩm không khí trung bình 82 - 84%, nhiệt độ trung bình 23,30C Thíchhợp cho các cây trồng (nhất là cây trồng ngắn ngày) tăng khả năng quang hợp, tíchlũy vật chất, cho năng suất cây trồng cao

- Tiểu vùng III: các huyện miền núi phía Tây Lượng mưa trung bình/năm1900mm Lượng mưa phân bố mưa không đều, tập trung nhiều vào các tháng 6, 7, 8.Nhiệt độ trung bình từ 21 đến 220C Là vùng có độ ẩm thấp, mùa đông lạnh, hệ số khôhạn cao hơn vùng khác, vì vậy cần chú ý giữ ấm cho cây trồng vào mùa đông

Nhìn chung, Phú Thọ có điều kiện khí hậu phù hợp cho việc sinh trưởng vàphát triển đa dạng các loại cây trồng nhiệt đới, á nhiệt đới và chăn nuôi gia súc, khảnăng cho năng suất và chất lượng cao Tuy vậy nhiều nơi còn bị hạn hán vào mùakhô và úng ngập vào mùa mưa, để khắc phục hạn chế này cần giải quyết tốt vấn đềthủy lợi và bố trí hệ thống cây trồng phù hợp với từng vùng sinh thái

2.3 Tài nguyên thiên nhiên

2.3.1 Tài nguyên đất

Diện tích đất bằng và hơi bằng chiếm 44,4%, diện tích đất dốc chiếm 51,6%tổng diện tích đất toàn tỉnh Diện tích đất dốc lớn đã làm cản trở trong việc bố trí đấtsản xuất nông lâm nghiệp, đầu tư phát triển hạ tầng giao thông, thuỷ lợi tốn kém,giao lưu kinh tế trong và ngoài tỉnh hiện tại gặp nhiều khó khăn

a Tài nguyên nước

Trang 34

*Nguồn nước mặt

Chỉ tính riêng diện tích lưu vực của 3 con sông lớn là sông Lô, sông Hồng vàsông Đà đã có diện tích nước mặt lên đến 14.575 ha, đây là một dung lượng nướcmặt rất lớn Sông Hồng có chiều dài qua tỉnh là 96 km, lưu lượng nước cực đại cóthể đạt 18.000 m3/s ; sông Đà qua tỉnh 41,5 km, lưu lượng nước cực đại 8.800m3/s ; sông Lô qua tỉnh 76 km, lưu lượng nước cực đại 6.610 m3/s Ngoải ra còn cókhoảng 130 sông suối nhỏ cùng hàng nghìn hồ, ao lớn, nhỏ phân bố đều khắp trênlãnh thổ đều chứa nguồn nước mặt dồi dào

*Nguồn nước ngầm

Lượng nước ngầm phân bố ở các huyện Phù Ninh, Lâm Thao, Đoan Hùng, HạHoà và thị xã Phú Thọ nhưng có lưu lượng nước khác nhau Ở Lâm Thao, Nam PhùNinh lưu lượng nước bình quân 30 l/s Ở La Phù - Thanh Thuỷ có mỏ nước khoángnóng, chất lượng nước đạt tiêu chuẩn quốc tế có thể phát triển ngành du lịch nghỉdưỡng, chữa bệnh với quy mô lớn

Như vậy, tài nguyên nước của Phú Thọ rất dồi dào phong phú, đủ điều kiệnđáp ứng cho yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội với cường độ cao Song, bên cạnhviệc khai thác nguồn tài nguyên này, cần phải có quy hoạch để bảo vệ và khai tháchợp lý theo hướng bền vững

b Tài nguyên khoáng sản

Phú Thọ có 215 mỏ và điểm quặng, trong đó có 20 mỏ có quy mô lớn và vừa,

50 mỏ nhỏ và 143 điểm quặng Các khoáng sản có ý nghĩa nổi trội là: Cao lanh,Penpat, trữ lượng khoảng 30,6 triệu tấn, chất lượng tốt; Pyrít, Quarit, đá xây dựng

có ở 55 khu vực với trữ lượng khoảng 935 triệu tấn; cát, sỏi 100 triệu m3 và nướckhoáng nóng

Qua số liệu trên có thể thấy rằng Phú Thọ có nhiều lợi thế để phát triển mạnhcông nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản, công nghiệp giấy, công nghiệp gốm

sứ, công nghiệp xi măng và vật liệu xây dựng Bên cạnh đó, Phú Thọ lại không xacác trung tâm công nghiệp lớn Hà Nội, Hải phòng, Hải Dương nên việc mở rộngliên doanh liên kết với các địa phương trên để phát triển công nghiệp khai thác vàchế biến khoáng sản là rất thuận lợi Tuy nhiên phần lớn các loại khoáng sản kể trênđều phân bổ ở khu vực phía Tây của tỉnh (hữu ngạn sông Hồng) là khu vực lãnh thổ

có hệ thống cơ sở hạ tầng yếu kém, nhất là giao thông thì việc đầu tư đẩy mạnh khaithác trước mắt sẽ còn gặp khó khăn Do vậy cần phải chú ý đầu tư phát triển cho

Trang 35

c Tài nguyên rừng

Toàn tỉnh hiện có khoảng 148.885,67 ha đất lâm nghiệp, trong đó có rừng tựnhiên có diện tích 74.115,67 ha và rừng trồng là 74.704,63 ha, trữ lượng gỗ ước đạtkhoảng 3,5 triệu m3 Rừng tự nhiên phần lớn là rừng non mới phục hồi, nhưng vẫncòn một số rừng tự nhiên mang tính chất rừng quốc gia: Xuân Sơn - Thanh Sơn,Yên Lập, Cẩm Khê, Hạ Hoà với diện tích khoảng 20.000 ha, trong đó còn có nhiềuđộng, thực vật quý hiếm Theo kết quả điều tra hệ động thực ở đây rất phong phú và đadạng, gỗ có từ nhóm 1 đến nhóm 8, động vật có 150 loài, trong đó có 50 loài thú, 100loài chim, các loài thú quý hiếm như gấu , hươu, vượn quần đùi, khỉ bạc má vẫncòn, nhưng số lượng không nhiều Hiện tại gỗ làm nguyên liệu giấy có thể đáp ứngđược 40 - 50% yêu cầu của nhà máy giấy Bãi Bằng Lâm nghiệp đã thu hút gần 5 vạnlao động và đang dần dần lấy lại vị trí quan trọng trong nền kinh tế tỉnh

d Tài nguyên du lịch

Phú Thọ là địa phương có nhiều tiềm năng du lịch với 150 di tích lịch sử, vănhóa, nghệ thuật được xếp hạng, trong đó có những di tích nổi bật như: khu di tíchlịch sử Đền Hùng, Đầm Ao Châu, vườn quốc gia Xuân Sơn, khu Ao Trời - SuốiTiên, khu mỏ nước khoáng nóng La Phù - Thanh Thuỷ Các chiến khu HiềnLương, Minh Hoà, chiến thắng Sông Lô, Tu Vũ, di tích khảo cổ Sơn Vi, gò Mun,rừng quốc gia Xuân Sơn cùng các lễ hội Đền Hùng, Bạch Hạc, Chu Hoá, đánh cá,

mở của rừng, các di tích nghệ thuật: đình Hy Cương; đình Hùng Lô; đền Mẫu Âu

Cơ, đền Hiền Quan; đình Bảo Đà; đình Lâu Thượng; đình Đào Xá Với 21 dân tộcanh em, mỗi dân tộc có đặc thái văn hoá riêng, tạo nên sự độc đáo và phong phú củavùng miền, là động lực thúc đẩy ngành du lịch của tỉnh phát triển nhanh trongnhững năm tới

3 Đặc điểm kinh tế xã hội

Cơ cấu kinh tế từng bước chuyển dịch theo hướng tăng dần tỉ trọng trong cácngành công nghiệp, dịch vụ và giảm tỷ trọng trong các ngành nông lâm nghiệp –

Trang 36

thủy sản Cụ thể năm 2009: công nghiệp – xây dựng: 38.4%; nông – lâm nghiệp,thủy sản: 25.3%; dịch vụ: 36.3%.

Biểu II.1: Cơ cấu GDP theo ngành kinh tế Phú Thọ năm 2009

25.3%

38.4%

Công nghiệp và xây dựng Dịch vụ

Nguồn: Báo cáo đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ KT-XH 2009

Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Phú Thọ

Giá trị kim ngạch xuất khẩu năm 2009 đạt 260 triệu USD, giảm 2.65% so vớinăm 2008 do khó khăn chung của kinh tế thế giới, dự đoán năm 2010 có thể phụchồi và lên đến 300-320 triệu USD

Huy động vốn đầu tư phát triển năm 2009 đạt 6300 tỷ đồng, tăng 10.5% so vớinăm 2008, trong đó vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng 3.5%.Tổng thu ngân sáchNhà nước năm 2009 đạt 1.284,3 tỷ đồng, tăng 10.1% so với năm 2008

Bảng II.1: Một số chỉ tiêu Kinh tế cơ bản (2007 – 2009) của Phú Thọ

Nguồn: Báo cáo đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ KT-XH 2009

Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Phú Thọ

Chỉ tiêu Đơn vị Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009

Tổng sản phẩm trong tỉnh

Nông lâm nghiệp, thủy sản 1.329 1.577 1.654

Trang 37

Nông lâm nghiệp, thủy sản % 27,0 26,0 25,3

Theo thành phần kinh tế

3.2 Đặc điểm văn hóa xã hội

Kết cấu hạ tầng đã và đang được đầu tư và phát triển, 100% số xã có đường ô

tô đến trung tâm (2001); 100% số xã có điện lưới quốc gia (2002), hoàn thành phổcập giáo dục trung học cơ sở (2003), 100% số xã có điện thoại (2004); 100% sốtrạm y tế xã có bác sỹ và 100% thôn bản có cán bộ y tế (2005); hoàn thành xóa nhàtạm cho hộ nghèo

Tỷ lệ hộ nghèo giảm 4.6% xuống còn bình quân toàn tỉnh 17.4% Tổ chức đàotạo nghề trên 20.8 ngàn người Giải quyết việc làm cho 18 ngàn người, trong đó tạođược 10.8 ngàn chỗ làm mới; xuất khẩu lao động trên 3 ngàn người

Tỉnh Phú Thọ từ một trung tâm công nghiệp cũ trở thành một trung tâm côngnghiệp mới của miền Bắc Việt Nam

Bảng II.2: Một số chỉ tiêu Văn hóa – Xã hội cơ bản 2009 của Phú Thọ

Nguồn: Báo cáo đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ KT-XH 2009

Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Phú Thọ

Chỉ tiêu Đơn vị Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009

II Tổng quan về nguồn vốn FDI trên địa bàn tỉnh Phú Thọ

1 Quy mô thu hút vốn FDI

Trang 38

Đại hội đảng VI năm 1986 đã chuyển hướng, đổi mới nền kinh tế nước ta theohướng kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và bắt đầu thu hút đầu tưnước ngoài, nhưng tại tỉnh Phú Thọ phải đến năm 1992 mới có dự án FDI đầu tiênxuất hiện Kể từ đó, tính đến hết tháng 12/2009 toàn tỉnh đã cấp giấy phép đầu tưcho 108 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) với tổng vốn đăng ký 605,95 triệuUSD Hiện còn 85 dự án đã và đang triển khai đầu tư với tổng vốn đăng ký 481,4triệu USD, 23 dự án không thực hiện đã rút giấy phép đầu tư với tổng số vốn là124.6 triệu USD.

Về quy mô dự án: Mức vốn đầu tư đăng ký cấp phép bình quân cho một dự án là

5,61 triệu USD (Khá nhỏ so mức bình quân trên 10 triệu USD của cả nước) Dự án cómức vốn đầu tư đăng ký nhỏ nhất là 0,1 triệu USD và dự án có mức vốn đầu tư đăng kýlớn nhất là 79,1 triệu USD (nhà máy sản xuất sợi, vải pangrim)

Về nguồn vốn: 85 dự án đã và đang thực hiện đầu tư có tổng số vốn đầu tư là

358,9 triệu USD bằng 74,56% so với vốn đăng ký, trong đó vốn tự có của doanhnghiệp là 321,9 triệu USD, chiếm 89,7% số vốn thực hiện và bằng 89,7% vốn thựchiện, vốn vay các ngân hàng trên địa bàn tỉnh 37 triệu USD, chiếm 9,5% so với vốnđầu tư đăng ký và 10,3% số vốn thực hiện

Về địa điểm: Trong các khu công nghiệp có 31 dự án với tổng vốn đăng ký

129,00 triệu USD, trong các cụm công nghiệp có 20 dự án với tổng vốn đầu tư đăng

ký 128,81 triệu USD, ngoài khu công nghiệp, cụm công nghiệp có 34 dự án vớitổng vốn đầu tư đăng ký 234,02 triệu USD đầu tư

Biểu II.2: Cơ cấu quy mô FDI Phú Thọ theo địa điểm đầu tư tính đến 12/2009

Nguồn: Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Phú Thọ

Về tốc độ gia tăng FDI: FDI thu hút được trên địa bàn tỉnh Phú Thọ giai đoạn

2001-2009 thể hiện sự tăng trưởng rất thất thường trong cả số dự án, số vốn đăng kýlẫn quy mô bình quân của 1 dự án FDI

Bảng II.3: Quy mô và tốc độ gia tăng FDI Phú Thọ giai đoạn 2001-2009

Trang 39

STT Năm

Số dự án

Vốn đăng ký (trUSD)

Tốc độ tăng (%)

Quy mô

BQ 1 DA (trUSD)

Tốc độ tăng (%)

Trang 40

Đơn vị: Dự án

Năm 2001, tỉnh mới chỉ thu hút được duy nhất 1 dự án FDI Điều này có thểđược giải thích bởi ảnh hưởng xấu của cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ Châu Á1998-1999 vẫn còn tác động đến luồng FDI của Việt Nam nói chung và Phú Thọnói riêng, bởi các đối tác đầu tư nước ngoài chính của Việt Nam cũng như Phú Thọđều là các quốc gia Đông Á Luồng FDI bắt đầu khởi sắc vào năm 2002 khi trongnăm này, tỉnh thu hút được 8 dự án Số dự án đạt đỉnh điểm vào năm 2003 khi toàntỉnh thu hút được tới 21 dự án FDI lớn nhỏ Sang năm 2004, số dự án tuy khôngbằng 2003 nhưng cũng đạt 9 dự án và con số này tới năm 2005 là 10 dự án Trong 2năm 2006 và 2007, có sự tăng nhẹ trong số lượng dự án Năm 2008, tiếp tục giữ mức

ổn định với số dự án là 14, tuy vậy, đến năm 2009 chỉ còn 5 dự án do tác động của suythoái kinh tế chung của đất nước và thế giới, tâm lý e ngại, chưa muốn mạo hiểm củacác nhà đầu tư Như vậy, sự tăng trưởng trong thu hút số lượng dự án là rất thất thường,tuy nhiên vẫn có dấu hiệu bình ổn trở lại theo hướng tích cực từ sau 2003, năm 2009 có

sự giảm mạnh nhưng dự đoán sẽ trở lại bình thường vào năm 2010

Số vốn đăng ký:

Trong khi lượng vốn đầu tư phát triển toàn tỉnh tăng lên tương đối đều đặn quacác năm thì lượng vốn FDI (đăng ký) lại diễn biến rất bất thường Điều này gây khókhăn cho công tác dự báo FDI của tỉnh trong những năm tới Năm 2001, tỉnh mớithu hút được 1 dự án FDI với lượng vốn khiêm tốn chỉ là 80 tỷ đồng, chiếm 5,44%tổng vốn đầu tư phát triển toàn tỉnh Hai năm tiếp theo là năm 2002 và năm 2003,

Ngày đăng: 18/07/2013, 14:46

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ : Mô hình về lợi ích của FDI - Giải pháp tăng cường thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại tỉnh Phú Thọ
h ình về lợi ích của FDI (Trang 6)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w