Cuối năm 2006 Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại quốc tế WTO. Cùng với việc hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, các doanh nghiệp Việt Nam có rất nhiều cơ hội để phát triển, mở rộng kinh doanh, tuy nhiên cũng đứng trước những thách thức không nhỏ.
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Cuối năm 2006 Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên thứ 150của tổ chức thương mại quốc tế WTO Cùng với việc hội nhập kinh tế quốc tếngày càng sâu rộng, các doanh nghiệp Việt Nam có rất nhiều cơ hội để pháttriển, mở rộng kinh doanh, tuy nhiên cũng đứng trước những thách thứckhông nhỏ Đó là các doanh nghiệp Việt Nam buộc phải quan tâm nhiều hơnđến năng suất, chất lượng và hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh Cólàm như vậy, các doanh nghiệp Việt Nam mới có thể có được khả năng cạnhtranh trên thị trường quốc tế Và vì vậy, việc triển khai và áp dụng hệ thốngISO 9000 đối với các doanh nghiệp Việt Nam trở nên cần thiết hơn bao giờhết Áp dụng thành công hệ thống ISO 9000 sẽ giúp các doanh nghiệp ViệtNam thay đổi tư duy quản lý, có tầm nhìn chiến lược trong kinh doanh, làm
ăn có bài bản, không theo kiểu trước mắt Ngoài ra một hệ thống quản lý chấtlượng phù hợp ISO 9000 sẽ giúp công ty quản lý hoạt động sản xuất kinhdoanh một cách có hệ thống và kế hoạch, giảm thiểu và loại trừ các chi phíphát sinh sau kiểm tra, chi phí bảo hành và làm lại Cải tiến liên tục hệ thốngnhư theo yêu cầu của tiêu chuẩn sẽ dẫn đến cải tiến liên tục chất lượng sảnphẩm
Trong bối cảnh hiện tại, các doanh nghiệp xây dựng cũng sớm nhậnthấy sự cần thiết của việc triển khai và áp dụng hệ thống ISO 9000 đối vớiTổng công ty cũng như các đơn vị thành viên của mình.Tuy vậy, vẫn tồn tạiphần lớn các doanh nghiệp xây dựng nhận thức hệ thống quản lý chất lượngISO 9000 chỉ là hình thức, là một tấm bằng để phục vụ mục đích đấu thầuthành công Phần lớn các doanh nghiệp xây dựng có chứng nhận ISO 9000 cho
Trang 2hệ thống của mình nhưng vẫn quản lý theo cách cũ của mình Điều này dẫn đếntình trạng hệ thống chất lượng không phát huy được sức mạnh, chi phí cho việc
áp dụng lớn hơn rất nhiều so với lợi ích trước mắt thu được từ việc có chứngchỉ để “quảng cáo” Nguyên nhân chính của việc áp dụng máy móc, quan liêunày là do phần lớn các doanh nghiệp xây dựng Việt Nam chưa thực sự nhânthức được lợi ích lâu dài của hệ thống quản lý chất lượng ngoài mục tiêu đơngiản nhất là có chứng chỉ để nâng cao uy tín cũng như thoả mãn yêu cầu cóchứng chỉ của hồ sơ đấu thầu thi công lắp đặt
Tổng công ty Xuất nhập khẩu và xây dựng Việt Nam (viết tắt là Tổngcông ty Vinaconex) đã nhận được chứng chỉ ISO 9000 từ năm 2004 doBureau Veritas Quality International đánh giá chứng nhận Đến thời điểmhiện tại, Tổng công ty đã được BVQI đánh giá tái chứng vào đầu năm 2008.Tuy nhiên, hệ thống quản lý chất lượng theo ISO 9000 tại Tổng công tyVinaconex vẫn dừng lại ở mức độ duy trì, chưa thật sự chú trọng đến công táccải tiến Điều đó dẫn đến hệ thống quản lý chất lượng chưa thật sự đóng góptích cực vào hoạt động sản xuất kinh doanh, mang lại hiệu quả rõ rệt chodoanh nghiệp
Xuất phát từ thực tế của các doanh nghiệp xây dựng Việt Nam hiện naytrong việc triển khai và áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩnISO 9000 nói chung và Tổng công ty Vinaconex nói riêng, học viên xin được
chọn đề tài “ Hoàn thiện hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO
9000 tại Tổng công ty cổ phần Xuất Nhập Khẩu Xây Dựng Việt Nam – Vinaconex “ nhằm góp phần giải quyết vấn đề thực sự cần thiết đã đề cập
trên
Trang 32 Mục tiêu của đề tài
Trên cơ sở trình bày một cách hệ thống về thực trạng áp dụng ISO 9000tại Tổng công ty Xuất nhập khẩu và xây dựng Việt Nam nhằm đánh giánhững thành công cũng như những hạn chế của hệ thống quản lý chất lượng,
từ đó đề ra những giải pháp góp phần hoàn thiện HTQLCL theo tiêu chuẩnISO 9000 tại doanh nghiệp
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là tình hình triển khai và áp dụng hệ thống quản
lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9000 tại Tổng công ty Vinaconex”
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu: nghiên cứu tại Tổng công ty Vinaconex
Số liệu sử dụng trong luận văn để tổng hợp, phân tích, đánh giá trongphạm vi từ năm 2003 – 2008 Giải pháp hoàn thiện áp dụng cho hệ thốngquản lý của Tổng công ty theo tiêu chuẩn ISO 9000 cho đến năm 2015
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn, học viên sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiêncứu, trong đó chủ yếu là phương pháp phân tích và tổng hợp, phương phápđịnh tính, định lượng và các công cụ thống kê khảo sát thực tế
5 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, luận văn gồm 3 chương:
+ Chương 1: Khái quát về hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu
chuẩn ISO 9000.
+ Chương 2: Thực trạng tình hình áp dụng hệ thống quản lý chất
lượng theo tiêu chuẩn ISO 9000 tại Tổng công ty Vinaconex.
Trang 4+ Chương 3: Giải pháp hoàn thiện hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9000 tại Tổng công ty Vinaconex.
Trang 5CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ HỆ THỐNG QUẢN LÝ CHẤT
LƯỢNG THEO TIÊU CHUẨN ISO 9000
1.1 Khái niệm và vai trò của quản lý chất lượng
1.1.1 Khái niệm quản lý chất lượng
Chất lượng không tự nhiên sinh ra, nó là kết quả của sự tác động hàngloạt yếu tố có liên quan chặt chẽ với nhau Muốn đạt được chất lượng mongmuốn cần phải quản lý một cách đúng đắn các yếu tố này Quản lý chất lượng
là một khía cạnh của chức năng quản lý để xác định và thực hiện chính sáchchất lượng Hoạt động quản lý trong lĩnh vực chất lượng được gọi là quản lýchất lượng
Hiện nay đang tồn tại các quan điểm khác nhau về quản lý chất lượng.Theo GOST 15467-70, quản lý chất lượng là xây dựng, đảm bảo và duytrì mức chất lượng tất yếu của sản phẩm khi thiết kế, chế tạo, lưu thông vàtiêu dùng Điều này được thực hiện bằng cách kiểm tra chất lượng có hệthống, cũng như những tác động hướng đích tới các nhân tố và điều kiện ảnhhưởng tới chất lượng sản phẩm
A.G.Robertson, một chuyên gia người Anh về chất lượng cho rằng:
Quản lý chất lượng được xác định như là một hệ thống quản trị nhằmxây dựng chương trình và sự phối hợp các cố gắng của những đơn vị khácnhau để duy trì và tăng cường chất lượng trong tổ chức thiết kế, sản xuất saocho đảm bảo nền sản xuất có hiệu quả nhất, đồng thời cho phép thoả mãn đầy
đủ các yêu cầu của người tiêu dùng
A.V.Feigenbaum, nhà khoa học người Mỹ cho rằng:
Quản lý chất lượng là một hệ thống hoạt động thống nhất có hiệu quảcủa những bộ phận khác nhau trong một tổ chức ( một đơn vị kinh tế ) chịutrách nhiệm triển khai các tham số chất lượng, duy trì mức chất lượng đã đạt
Trang 6được và nâng cao nó để đảm bảo sản xuất và tiêu dùng sản phẩm một cáchkinh tế nhất, thoả mãn nhu cầu của tiêu dùng.
Trong các tiêu chuẩn công nghiệp Nhật Bản (JIS) xác định: quản lý
chất lượng là hệ thống các phương pháp sản xuất tạo điều kiện sản xuất tiếtkiệm những hàng hoá có chất lượng cao hoặc đưa ra những dịch vụ có chấtlượng thoả mãn yêu cầu của người tiêu dùng
Giáo sư, tiến sĩ Kaoru Ishikawa, một chuyên gia nổi tiếng trong lĩnh vực quản lý chất lượng của Nhật Bản đưa ra định nghĩa quản lý chất lượng
có nghĩa là: Nghiên cứu triển khai, thiết kế sản xuất và bảo dưỡng một số sản
phẩm có chất lượng, kinh tế nhất, có ích nhất cho người tiêu dùng và bao giờcũng thoả mãn nhu cầu của người tiêu dùng
Philip Crosby, một chuyên gia người Mỹ về chất lượng định nghĩa quản lý chất lượng: là một phương tiện có tính chất hệ thống đảm bảo việc
tôn trọng tổng thể tất cả các thành phần của một kế hoạch hành động
Tổ chức tiêu chuẩn hoá quốc tế ISO 9000 cho rằng: quản lý chất lượng
là một hoạt động có chức năng quản lý chung nhằm mục đích đề ra chínhsách, mục tiêu, trách nhiệm và thực hiện chúng bằng các biện pháp như hoạchđịnh chất lượng , kiểm soát chất lượng, đảm bảo chất lượng và cải tiến chấtlượng trong khuôn khổ một hệ thống chất lượng
1.1.2 Vai trò của quản lý chất lượng
Quản lý chất lượng không chỉ là bộ phận hữu cơ của quản lý kinh tế màquan trọng hơn nó là bộ phận hợp thành của quản trị kinh doanh Khi nềnkinh tế và sản xuất – kinh doanh phát triển thì quản trị chất lượng càng đóngvai trò quan trọng và trở thành nhiệm vụ cơ bản, không thể thiếu được củadoanh nghiệp và xã hội
Trang 7Tầm quan trọng của quản lý chất lượng, được quyết định bởi:
- Vị trí của công tác quản lý kinh tế và quản trị kinh doanh Bởi theoquan điểm hiện đại thì quản lý chất lượng chính là quản lý có chất lượng, làquản lý toàn bộ quá trình sản xuất – kinh doanh
- Tầm quan trọng của chất lượng sản phẩm đối với phát triển kinh tế, đờisống của người dân và sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp Với nền kinh tếquốc dân, đảm bảo và nâng cao chất lượng sản phẩm sẽ tiết kiệm được lao động
xã hội do sử dụng hợp lý, tiết kiệm tài nguyên, sức lao động, công cụ lao động,tiền vốn; nâng cao chất lượng cũng có ý nghĩa là tăng năng suất Với người tiêudùng, đảm bảo và nâng cao chất lượng sẽ thoả mãn được các yêu cầu của ngườitiêu dùng, sẽ tiết kiệm cho người tiêu dùng và góp phần cải thiện nâng cao chấtlượng cuộc sống, góp phần phát triển sản xuất kinh doanh
Do vậy, chất lượng sản phẩm là vấn đề sống còn của doanh nghiệp Tầmquan trọng của quản lý chất lượng ngày càng được nâng lên, do đó phải khôngngừng nâng cao trình độ quản lý chất lượng và đổi mới không ngừng công tácquản lý chất lượng Nó là trách nhiệm của các cấp quản lý, trước hết là củadoanh nghiệp, mà người chịu trách nhiệm chính là giám đốc doanh nghiệp
1.2 Hệ thống quản lý chất lượng
1.2.1 Thực chất hệ thống quản lý chất lượng
Để cạnh tranh và duy trì được chất lượng với hiệu quả kinh tế cao, đạtđược mục tiêu đã đề ra, doanh nghiệp phải có chiến lược, mục tiêu đúng Từchiến lược và mục tiêu này, phải có chính sách hợp lý, một cơ cấu tổ chức vànguồn lực phù hợp Vì vậy, để vận hành tổ chức có hiệu quả, cần có một cơchế để hài hoà mọi nỗ lực của doanh nghiệp, hướng toàn bộ nỗ lực của doanhnghiệp nhằm thực hiện định hướng đã đặt ra Hệ thống quản lý chất lượng làmột trong những cơ chế này Hệ thống này phải xuất phát từ quan điểm hệ
Trang 8thống, đồng bộ, giúp doanh nghiệp liên tục cải tiến chất lượng, đáp ứng yêucầu khách hàng và những bên có quan tâm.
Hệ thống quản lý chất lượng là một tập hợp các yếu tố có liên quan và tương tác để lập chính sách và mục tiêu chất lượng và đạt được các mục tiêu đó.
Tập hợp các yếu tố trên bao gồm:
- Cơ cấu tổ chức
- Các quá trình có liên quan đến chất lượng, sản phẩm, dịch vụ
- Các quy tắc điều hành, tác nghiệp
- Nguồn lực, bao gồm cơ sở hạ tầng, nhân lực…
Hệ thống quản lý chất lượng giúp các doanh nghiệp phân tích yêu cầucủa khách hàng và các bên quan tâm, xác định các quá trình sản sinh ra sảnphẩm được khách hàng chấp nhận và duy trì được các quá trình đó trong điềukiện được kiểm soát HTQLCL có thể dùng làm cơ sở cho hoạt động cải tiếnchất lượng liên tục, ngày càng thoả mãn hơn các yêu cầu của khách hàng vàcác bên quan tâm HTQLCL đem lại lòng tin cho doanh nghiệp và kháchhàng
Hệ thống quản lý chất lượng phải đáp ứng các yêu cầu sau:
- Xác định rõ sản phẩm và dịch vụ cùng với các quy định kỹ thuật chocác sản phẩm đó, các quy định này đảm bảo thoả mãn yêu cầu của kháchhàng
- Các yếu tố kỹ thuật, quản trị và con người ảnh hưởng đến chất lượngsản phẩm phải được thực hiện theo kế hoạch đã định, hướng về giảm, loại trừ
và quan trọng nhất là phòng ngừa sự không phù hợp
- Các yêu cầu của HTQLCL khác với yêu cầu đối với sản phẩm Cácyêu cầu đối với sản phẩm có thể quy định bởi khách hàng hay chính doanhnghiệp, dựa trên các yêu cầu của khách hàng hay bởi các chế định Các yêu
Trang 9cầu đối với sản phẩm và trong một số trường hợp, các quá trình gắn với chúng
có thể quy định trong các tài liệu như quy định kỹ thuật, tiêu chuẩn cho sảnphẩm, tiêu chuẩn quá trình, các thoả thuận ghi trong các hợp đồng hay cácyêu cầu pháp chế
1.2.2 Chức năng của hệ thống quản lý chất lượng
Hệ thống quản lý chất lượng cũng như bất kỳ hệ thống nào đều phảiđược quản lý và vì thế quản lý hệ thống chất lượng là một chức năng củadoanh nghiệp
Hệ thống quản lý chất lượng thực hiện 4 chức năng cơ bản sau:
- Thiết kế và phát triển hệ thống quản lý chất lượng
- Thực hiện hệ thống quản lý chất lượng
- Thẩm định hệ thống quản lý chất lượng
- Duy trì hệ thống quản lý chất lượng.
1.2.3 Vai trò của hệ thống quản lý chất lượng
Hệ thống quản lý chất lượng là một bộ phận hợp thành quan trọng của
hệ thống quản trị kinh doanh Nó có quan hệ và tác động qua lại với các hệthống khác trong hệ thống quản trị kinh doanh như hệ thống quản trịMarketing, hệ thống quản trị công nghệ, hệ thống quản trị tài chính, hệ thốngquản trị nhân sự Hệ thống quản lý chất lượng không chỉ là kết quả của hệthống khác mà nó còn đặt yêu cầu cho các hệ thống quản lý khác
Tổ chức tốt hệ thống quản lý chất lượng sẽ có ý nghĩa, tác dụng trêncác mặt:
- Bảo đảm sản phẩm và dịch vụ thoả mãn các yêu cầu của khách hàng
- Duy trì các tiêu chuẩn mà công ty đạt được một cách thành công
- Cải tiến tiêu chuẩn trong những lĩnh vực cần thiết
- Kết hợp hài hoà các chính sách và sự thực hiện của tất cả các bộ phậnphòng ban
Trang 10- Cải tiến hiệu quả.
- Tạo sự ổn định và giảm thiểu sự biến động
- Loại bỏ sự phức tạp và giảm thời gian xử lý
- Tập trung quan tâm đến chất lượng
- Bảo đảm sản phẩm và dịch vụ được phân phối đúng lúc
- Giảm chi phí hoạt động
1.3 Hệ thống quản lý chất lượng ISO 9000
Tổ chức tiêu chuẩn hoá quốc tế ( International Organization forStandardization – ISO ) được thành lập năm 1947 Đây là một tổ chức phiChính phủ ISO có khoảng hơn 200 ban kỹ thuật có nhiệm vụ biên soạn vàban hành ra các tiêu chuẩn Tiêu chuẩn ISO 9000 do ban kỹ thuật TC 176 banhành lần đầu tiên vào năm 1987 Bộ tiêu chuẩn này được soát xét lại lần thứnhất vào năm 1994, soát xét lại lần thứ hai vào tháng 12/2000, soát xét lần thứ
ba năm 2008 Việt Nam là thành viên của ISO từ năm 1977 và là thành viênthứ 72
ISO 9000 đề cập đến các lĩnh vực tiêu chuẩn hoá và quản lý chất lượng
Nó được quy tụ kinh nghiệm của quốc tế trong lĩnh vực quản lý và đảm bảochất lượng trên cơ sở phân tích các quan hệ giữa người mua và người cungứng
Thực chất của Bộ tiêu chuẩn ISO 9000 là chứng nhận hệ thống đảmbảo chất lượng, áp dụng các biện pháp cải tiến chất lượng không ngừng đểthoả mãn khách hàng và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, chứ khôngphải là kiểm định chất lượng sản phẩm Bộ tiêu chuẩn nhấn mạnh đến nhu cầuphải theo dõi sự thoả mãn khách hàng, theo sát các nguyên tắc của quản lýchất lượng, bảo đảm sự nhất quán giữa tiêu chuẩn và hướng dẫn
1.3.1 Nguyên tắc của quản lý chất lượng theo ISO 9000
Trang 11Nguyên tắc 1: Định hướng vào khách hàng Chất lượng là sự thoả mãn
khách hàng, chính vì vậy việc quản lý chất lượng phải nhằm đáp ứng mục tiêu
đó Quản lý chất lượng là không ngừng tìm hiểu các nhu cầu của khách hàng
và xây dựng nguồn lực để đáp ứng các nhu cầu đó một cách tốt nhất
Nguyên tắc 2: Vai trò lãnh đạo Lãnh đạo công ty thống nhất mục đích,
định hướng vào môi trường nội bộ của công ty, huy động toàn bộ nguồn lực
để đạt được mục tiêu của công ty
Nguyên tắc 3: Sự tham gia của mọi người Con người là yếu tố quan
trọng nhất cho sự phát triển Việc huy động con người một cách đầy đủ sẽ tạocho họ kiến thức và kinh nghiệm thực hiện công việc, đóng góp cho sự pháttriển của công ty
Nguyên tắc 4: Phương pháp quá trình Quá trình là một hoạt động hoặc
một tập hợp các hoạt động sử dụng các nguồn lực để biến các đầu vào thànhcác đầu ra Mỗi một tổ chức, để hoạt động có hiệu quả, phải nhận ra được vàquản lý được các quá trình có mối quan hệ tương tác, qua lại lẫn nhau ở bêntrong tổ chức đó Thông thường, mỗi một đầu ra của một quá trình lại trởthành đầu vào của một quá trình tiếp theo Việc nhận thấy được và quản lýđược một cách có hệ thống các quá trình có mới tương tác qua lại trong một
tổ chức được coi là một “cách tiếp cận theo quá trình” Mục đích của bộ tiêuchuẩn quốc tế ISO 9000 là khuyến khích việc áp dụng cách tiếp cận theo quátrình để quản lý một tổ chức
Cách tiếp cận trên nhấn mạnh tầm quan trọng của:
- Việc hiểu và đáp ứng các yêu cầu của khách hàng
- Xem xét giải quyết vấn đề trong quá trình thực hiện để tạo ra giá trịgia tăng
- Có được kết quả về tính hiệu lực và hiệu quả của mục tiêu
- Cải tiến liên tục quá trình trên cơ sở đo lường đối tượng
Trang 12Nguyên tắc 5: Quản lý theo phương pháp hệ thống Việc quản lý một
cách có hệ thống sẽ làm tăng hiệu quả và hiệu lực hoạt động của công ty
Nguyên tắc 6: Cải tiến liên tục Cải tiến liên tục là mục tiêu của mọi
công ty và điều này càng trở nên đặc biệt quan trọng trong sự biến độngkhông ngừng của môi trường kinh doanh như hiện nay Tổ chức phải thườngxuyên nâng cao tính hiệu lực và hiệu quả của hệ thống quản lý chất lượngthông qua việc sử dụng chính sách chất lượng, mục tiêu chất lượng, các kếtquả đánh giá, việc phân tích dữ liệu, các hành động khắc phục, phòng ngừa vàxem xét của lãnh đạo
Tổ chức phải thực hiện hành động khắc phục, loại bỏ nguyên nhân của
sự không phù hợp để ngăn ngừa sự tái diễn, phải xác định hành động nhằmloại bỏ nguyên nhân của sự không phù hợp tiềm ẩn để ngăn chặn sự xuất hiệncủa chúng
Nguyên tắc 7: Quyết định dựa trên thực tế Các quyết định và hành
động có hiệu lực dựa trên sự phân tích dữ liệu và thông tin
Nguyên tắc 8: Quan hệ cùng có lợi với bên cung cấp Thiết lập mối
quan hệ cùng có lợi với bên cung ứng và sẽ nâng cao khả năng tạo ra giá trịcủa cả hai bên
1.3.2 Đối tượng và các trường hợp áp dụng ISO 9000
Bộ tiêu chuẩn quốc tế ISO 9000 có thể áp dụng cho các đối tượng và trường hợp sau:
- Các tổ chức có mong muốn giành được lợi thế nhờ việc thực thi hệthống quản lý chất lượng này
- Các tổ chức có mong muốn giành được sự tin tưởng từ các nhà cungcấp của họ
- Những người sử dụng sản phẩm
Trang 13- Các tổ chức đánh giá hoặc kiểm tra hệ thống quản lý chất lượng đểxác định mức độ phù hợp của nó đối với bộ tiêu chuẩn ISO 9000 ( ví dụ cáckiểm tra viên, cơ quan chứng nhận…).
- Các tổ chức cung cấp dịch vụ tư vấn hoặc đào tạo về hệ thống quản lýchất lượng thích hợp cho tổ chức đó
1.3.3 Nội dung của Bộ tiêu chuẩn ISO 9000:2000
Bộ tiêu chuẩn ISO 9000 lần đầu tiên được ban hành vào năm 1987 Lầnsửa đổi thứ nhất được diễn ra vào năm 1994 và phiên bản này sẽ có giá trị đếnnăm 2003 ( tồn tại song song với phiên bản mới ) Lần sửa đổi thứ hai tháng12/2000, và lần sửa đổi này ra đời phiên bản ISO 9000:2000 Phiên bản này
có nhiều thay đổi về cấu trúc và nội dung tiêu chuẩn so với phiên bản cũ,nhưng sự thay đổi này không gây trở ngại cho các doanh nghiệp trong việcxây dựng, duy trì hệ thống quản lý chất lượng ISO 9000 Phiên bản ISO9000:2000 có tác động tích cực hơn tới hoạt động quản lý chất lượng tại mỗidoanh nghiệp
Thay vì tồn tại nhiều tiêu chuẩn, phiên bản mới chỉ còn 3 tiêu chuẩn:
- ISO 9000: hệ thống quản lý chất lượng - cơ sở và thuật ngữ
- ISO 9001: hệ thống quản lý chất lượng – các yêu cầu
- ISO 9004: hệ thống quản lý chất lượng - hướng dẫn cải tiến hiệu quảhoạt động
Về cấu trúc, từ 20 yêu cầu theo phiên bản cũ nay được tổ chức lại theo cách tiếp cận quá trình và phân nhóm theo các hoạt động của tổ chức thành 5 phần chính:
- Các yêu cầu chung của Hệ thống quản lý chất lượng gồm cả các yêucầu về hệ thống văn bản, tài liệu và hồ sơ
Trang 14- Trách nhiệm của lãnh đạo – trách nhiệm của lãnh đạo cao cấp đối vớiHTQLCL, gồm cam kết của lãnh đạo, định hướng vào khách hàng, hoạchđịnh chất lượng và thông tin nội bộ.
- Quản lý nguồn lực - gồm các yêu cầu về cung cấp nguồn lực cần thiếtcho HTQLCL, trong đó có các yêu cầu về đào tạo
- Tạo sản phẩm - gồm các yêu cầu về sản phẩm và dịch vụ, trong đó cóviệc xem xét hợp đồng, mua hàng, thiết kế, sản xuất, đo lường và hiệu chuẩn
- Đo lường, phân tích và cải tiến - gồm các yêu cầu cho các hoạt động
đo lường, trong đó có việc đo lường sự thoả mãn khách hàng, phân tích dữliệu và cải tiến liên tục
Bộ tiêu chuẩn ISO 9000:2000 có một số thay đổi chủ yếu so với ISO 9000-1994:
- Tiêu chuẩn mới chú trọng hơn vào việc tăng cường hiệu quả của hệthống quản lý nhằm đáp ứng và vượt quá sự mong đợi của khách hàng bằngviệc không ngừng cải tiến, nâng cao chất lượng sản phẩm thay vì chỉ chútrọng vào việc đảm bảo chất lượng theo tiêu chuẩn trước đây
- Coi trọng cải tiến liên tục: đây là yêu cầu mang tính thực tế vì môitrường luôn luôn thay đổi, sự cạnh tranh ngày càng gay gắt, nếu doanh nghiệpkhông cải tiến liên tục thì sẽ không có chỗ đứng trên thị trường
- Đề cao sự thoả mãn khách hàng: khách hàng là người quyết định,khách hàng ngày nay có sự lựa chọn rộng rãi hơn, có yêu cầu ngày càng caohơn, vì thế đề cao ‘sự thoả mãn khách hàng’ phải là một trong những tiêu chíquan trọng
- Tiếp tục đề cao vai trò của lãnh đạo, đặc biệt qua các yêu cầu cải tiếnliên tục trên các lĩnh vực, đề cao yêu cầu pháp lý liên quan đến hoạt động của
tổ chức Xác định việc xây dựng và lượng hoá các mục tiêu chất lượng đối vớicác bộ phận trong quản lý
Trang 151.3.4 Bộ tiêu chuẩn ISO 9001:2008 đối với hệ thống quản lý chất lượng
Ngày 14 tháng 11 năm 2008, Tổ chức tiêu chuẩn hoá quốc tế ban hànhtiêu chuẩn ISO 9001:2008 Đây là phiên bản tiêu chuẩn quốc tế mới nhấtđược nhiều tổ chức tại 175 quốc gia áp dụng như khuôn khổ đối với các hệthống quản lý chất lượng tại các quốc gia này ISO 9001:2008 là phiên bảnthứ 4 của tiêu chuẩn
ISO 9001:2008 không đưa ra các yêu cầu mới so với phiên bản năm
2000 đã bị thay thế, mà chỉ làm sáng tỏ những yêu cầu hiện có của ISO 9001:
2000 dựa vào kinh nghiệm áp dụng trong 8 năm qua và đưa ra những thay đổihướng vào việc cải thiện nhằm tăng cường tính nhất quán với tiêu chuẩn ISO14001: 2004 về hệ thống quản lý môi trường
Các thay đổi của ISO 9001:2008 so với ISO 9001:2000:
Bảng 1.1 : các thay đổi của ISO 9001:2008 so với ISO 9001:2000
Các yêu cầu của
HTQLCL
Nội dung thay đổi
1.Phạm vi - Làm rõ khái niệm sản phẩm là bất kỳ mọi sản phẩm có
chủ đích
- Làm rõ nghĩa yêu cầu pháp định, chế định, hợp pháp
- Yêu cầu chế định và pháp luật nghiêm khắc hơn
2.Tiêu chuẩn viện
4.Hệ thống quản
lý chất lượng
- Loại hình và quy mô của việc kiểm soát áp dụng chocác quá trình dùng nguồn bên ngoài phải được xác địnhtrong HTQLCL
Trang 16- Hệ thống tài liệu bao gồm cả hồ sơ, không chỉ tài liệu.5.Cam kết của
- Nhấn mạnh việc đào tạo hoặc hành động khác để đạtđược các năng lực cần thiết
- Hệ thống thông tin được đưa vào chung với cơ sở hạtầng
- Làm rõ môi trường làm việc: bao gồm cả các yếu tố vật
lý, môi trường…
7 Tạo sản phẩm - Hoạt động sau giao hàng được xác định chi tiết hơn
( bảo hành, các nghĩa vụ trong hợp đồng như bảo trì, dịch
vụ bổ sung như tái chế sản phẩm loại bỏ )
- Làm rõ nghĩa quá trình xem xét thiết kế và phát triển,kiểm tra và xác nhận giá trị sử dụng có những mục đíchkhác nhau và được thực hiện tách biệt hay kết hợp mộtcách thích hợp
- Làm rõ đầu ra của thiết kế phải cung cấp thông tinkhông chỉ cho mua hàng, sản xuất và cung cấp dịch vụ
và phải bao gồm cả bảo quản sản phẩm
- Giải thích rõ hơn hệ quả của quá trình đặc biệt trong7.5.2
- Tài sản của khách hàng được nhấn mạnh “bao gồm sởhữu trí tuệ và dữ liệu cá nhân”
- Làm rõ nghĩa bảo toàn sản phẩm để phù hợp yêu cầu
Trang 17- Nhấn mạnh hành động khắc phục và xử lý khắc phụctrong đánh giá nội bộ.
- Bổ sung phần ghi chú nhằm nhấn mạnh mức độ vàphương pháp theo dõi đo lường cho mỗi quá trình cầnphải quan tâm tới tác động của chúng lên sự phù hợp vớiyêu cầu của sản phẩm hay hiệu lực của HTQLCL
- Nhấn mạnh kiểm tra tính hiệu lực của hành động khắcphục, phòng ngừa
( Nguồn: Bureau Veritas Certification Vietnam - Báo cáo tại Hội nghị khách hàng thường niên tổ chức ngày 19 tháng 12 năm 2009 tại Hà Nội ).
1.3.5 Vai trò và lợi ích của Bộ tiêu chuẩn ISO 9000
1.3.5.1 Vai trò của Bộ tiêu chuẩn ISO 9000
Hệ thống quản lý chất lượng ISO 9000 là một hệ thống quản lý chấtlượng so với các hệ thống quản lý khác có nhiều ưu điểm và được áp dụngrộng rãi ở các doanh nghiệp Có thể coi nó là giấy thông hành để doanhnghiệp đi vào thị trường thế giới
Bộ tiêu chuẩn ISO 9000 về hệ thống chất lượng được xây dựng trêntriết lý: “nếu hệ thống sản xuất và quản lý tốt thì sản phẩm và dịch vụ mà hệ
Trang 18thống đó sản xuất ra sẽ tốt” ISO 9000 nhấn mạnh vào việc phòng ngừa, mụctiêu là nhằm ngăn ngừa những khuyết tật về chất lượng.
1.3.5.2 Lợi ích của Bộ tiêu chuẩn ISO 9000
Việc áp dụng ISO 9000 đem đến một số lợi ích quan trọng như sau:
Cung ứng cho xã hội các sản phẩm có chất lượng tốt Một hệ thốngquản lý chất lượng phù hợp với ISO 9000 sẽ giúp công ty quản lý hoạt độngsản xuất – kinh doanh một cách có hệ thống và kế hoạch, giảm thiểu và loạitrừ các chi phí phát sinh sau kiểm tra, chi phí bảo hành và làm lại Cải tiếnliên tục hệ thống chất lượng, theo yêu cầu của tiêu chuẩn sẽ dẫn đến cải tiếnliên tục chất lượng sản phẩm Như vậy, hệ thống quản lý chất lượng rất cầnthiết để cung cấp các sản phẩm có chất lượng
Tăng năng suất và giảm giá thành: thực hiện hệ thống quản lý chấtlượng theo tiêu chuẩn ISO 9000 giúp công ty tăng năng suất và giảm giáthành HTQLCL theo ISO 9000 sẽ cung cấp các phương tiện giúp cho mọingười thực hiện công việc đúng ngay từ đầu và có sự kiểm soát chặt chẽ, qua
đó, sẽ giảm khối lượng công việc làm lại và chi phí xử lý sản phẩm sai hỏng
và giảm được lãng phí về thời gian, nguyên vật liệu, nhân lực và tiền bạc.Đồng thời, nếu công ty có HTQLCL phù hợp với tiêu chuẩn ISO 9000 sẽgiảm được chi phí kiểm tra, tiết kiệm được cho cả công ty và khách hàng
Tăng tính cạnh tranh của công ty: có được một hệ thống quản lý chấtlượng phù hợp tiêu chuẩn ISO 9000 sẽ đem đến cho doanh nghiệp lợi thếcạnh tranh, vì thông qua việc chứng nhận hệ thống quản lý chất lượng phùhợp với ISO 9000, doanh nghiệp sẽ có bằng chứng đảm bảo với khách hàng làcác sản phẩm họ sản xuất phù hợp với chất lượng mà họ đã cam kết Trongthực tế, phong trào áp dụng ISO 9000 được định hướng bởi chính người tiêudùng, những người luôn mong muốn được bảo đảm rằng sản phẩm mà họmua về có chất lượng đúng như chất lượng mà nhà sản xuất đã khẳng định
Trang 19Một số hợp đồng mua hàng ghi rõ, sản phẩm mua phải kèm theo chứng nhận
hệ thống chất lượng phù hợp với tiêu chuẩn ISO 9000 Một số doanh nghiệp
đã bỏ lỡ cơ hội kinh doanh chỉ vì họ thiếu giấy chứng nhận ISO 9000
Tăng uy tín của công ty về đảm bảo chất lượng: áp dụng hệ thống quản
lý chất lượng theo ISO 9000 sẽ cung cấp bằng chứng khách quan để chứngminh chất lượng sản phẩm, dịch vụ của công ty và chứng minh cho kháchhàng thấy rằng các hoạt động của công ty đều được kiểm soát Hệ thống quản
lý chất lượng còn cung cấp những dữ liệu để sử dụng cho việc xác định hiệuquả quá trình, các thông số về sản phẩm, dịch vụ nhằm không ngừng cải tiếnhiệu quả hoạt động và nâng cao sự thoả mãn khách hàng, do vậy nâng cao uytín của công ty về chất lượng sản phẩm
1.4 Đặc điểm của các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây dựng ở nước ta
1.4.1 Khái niệm và phân loại công trình xây dựng
1.4.1.1 Khái niệm công trình xây dựng
Theo Nghị định số 209/2004/NĐ-CP của Chính phủ về Quản lý chất lượng công trình xây dựng, công trình xây dựng được định nghĩa:
Công trình xây dựng là kết tinh của các thành quả khoa học- công nghệ
và tổ chức sản xuất của toàn xã hội ở một thời kỳ nhất định Nó là sản phẩm
có tính liên ngành, trong đó những lực lượng tham gia chế tạo sản phẩm chủyếu: chủ đầu tư, nhà thầu tư vấn, nhà thầu thi công xây dựng, các nhà sản xuấtcác yếu tố đầu vào cho dự án như thiết bị công nghệ, vật tư, thiết bị xây dựng;các nhà cung ứng; các tổ chức dịch vụ ngân hàng tài chính; các cơ quan quản
lý nhà nước có liên quan
Công trình xây dựng chính là sản phẩm được tạo thành bởi sức laođộng của con người, vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình, đượcliên kết định vị với đất, có thể bao gồm phần dưới mặt đất, phần trên mặt đất,
Trang 20phần dưới mặt nước và phần trên mặt nước, được xây dựng theo thiết kế.Công trình xây dựng bao gồm công trình xây dựng công cộng, nhà ở, côngtrình công nghiệp, giao thông, thuỷ lợi, năng lượng và các công trình khác.
1.4.1.2 Phân loại công trình xây dựng
Theo Nghị định số 16/2005/NĐ-CP của Chính phủ về Quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình thì công trình xây dựng được phân loại như sau:
Công trình dân dụng: bao gồm nhà ở ( nhà chung cư, nhà ở riêng lẻ ) vàcông trình công cộng ( công trình văn hoá, công trình giáo dục, công trình y tế,công trình thương nghiệp, công trình dịch vụ, nhà làm việc, khách sạn, nhàkhách, nhà phục vụ giao thông, nhà phục vụ thông tin liên lạc, tháp thu phát sóngphát thanh, phát sóng truyền hình, nhà ga, bến xe, công trình thể thao các loại )
Công trình công nghiệp: gồm công trình khai thác than, khai thácquặng; công trình khai thác dầu khí; công trình hoá chất và hoá dầu; côngtrình kho xăng dầu, khí hoá lỏng và tuyến ống phân phối khí, dầu; công trìnhluyện kim; công trình cơ khí, chế tạo; công trình công nghiệp điện tử - tinhọc; công trình năng lượng; công trình công nghiệp nhẹ; công trình côngnghiệp thực phẩm; công trình công nghiệp vật liệu xây dựng; công trình sảnxuất và kho chứa vật liệu nổ công nghiệp
Công trình giao thông gồm công trình đường bộ; công trình đường sắt;công trình đường thuỷ; cầu; hầm; sân bay
Công trình thuỷ lợi gồm: hồ chứa nước; đập; công trình thuỷ nông; đê;kè
- Công trình hạ tầng kỹ thuật gồm công trình cấp nước, thoát nước; nhàmáy xử lý nước thải; công trình xử lý chất thải: bãi chứa, bãi chôn lấp rác;nhà máy xử lý rác thải; công trình chiếu sáng đô thị
1.4.2 Đặc điểm của các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây dựng ở nước ta
Trang 211.4.2.1 Địa bàn hoạt động rộng
Một công ty xây dựng luôn phải trải hoạt động của mình đồng thời tạimột số địa điểm gồm:
- Văn phòng chính của công ty với các phòng ban quản lý chung
- Một số công trường tại những điểm khác nhau
- Một số công ty còn có một số xưởng sản xuất cấu kiện, vật liệu xâydựng như kết cấu thép, cấu kiện bê tông, bê tông trộn sẵn ,vật liệu ốp lát…
Một hợp đồng thi công được thực hiện đồng thời ở hai địa điểm: vănphòng công ty và công trình xây dựng Công trường là nơi diễn ra các hoạtđộng chủ yếu của quá trình thi công một công trình, cần phải tập trung quản
lý chất lượng Tuy nhiên khác với văn phòng công ty, công trường nào cũngchỉ tồn tại trong một thời hạn nhất định, cùng với quá trình thi công côngtrình Vì vậy cần thực hiện và phối hợp việc quản lý chất lượng ở cả hai địađiểm này Ví dụ: vấn đề kiểm soát tài liệu Trong quá trình thực hiện hợpđồng, tại cả hai địa điểm văn phòng công ty và công trường đều có giao dịch,trao đổi thông tin, tài liệu, bản vẽ Mọi thông tin, tài liệu có liên quan đến chấtlượng và giá thành như các bản vẽ, chỉ dẫn và các tài liệu về sửa đổi cần đượcchuyển về lưu trữ ở văn phòng công ty đồng thời phải thường xuyên phânphối tài liệu kịp thời từ văn phòng công ty tới công trường để thực hiện
Công trường là địa điểm sản xuất chủ yếu nhưng công ty thường xuyênphải tổ chức và triển khai những công trường mới Công ty cần lập và thực thinhững quy trình bằng văn bản để đảm bảo đáp ứng các yêu cầu của hệ thốngquản lý chất lượng
1.4.2.2 Sản phẩm xây dựng là các công trình có nhiều điểm khác biệt so với các ngành khác
Những đặc điểm của công trình xây dựng có ảnh hưởng lớn đếnphương thức tổ chức sản xuất và quản lý kinh tế trong ngành xây dựng, làm
Trang 22cho các công việc này có nhiều đặc điểm khác biệt so với ngành khác Các công trình xây dựng thường có các đặc điểm sau:
- Là những công trình, nhà cửa được xây dựng và sử dụng tại chỗ vàphân bố tản mạn ở nhiều nơi trên lãnh thổ Đặc điểm này làm cho sản xuấtxây dựng có tính lưu động cao và thiếu ổn định
- Phụ thuộc chặt chẽ vào điều kiện địa phương nơi đặt công trình xâydựng và điều kiện thời tiết khi thi công Do đó, nó có tính đa dạng và cá biệtcao về công dụng, cách cấu tạo và cách chế tạo
- Thường có kích thước và chi phí lớn, có thời gian kiến tạo và sử dụnglâu dài Do đó, những sai lầm về xây dựng có thể gây nên các lãng phí lớn,tồn tại lâu dài và khó sửa chữa
- Phần kết cấu xây dựng chủ yếu đóng vai trò nâng đỡ và bao che,không tác động trực tiếp lên đối tượng lao động trong quá trình sản xuất, trừmột số loại công trình đặc biệt như đường ống, công trình thuỷ lực, lò luyệngang thép…
- Liên quan đến nhiều ngành cả về phương diện cung cấp các yếu tốđầu vào, thiết kế và chế tạo sản phẩm cả về phương diện sử dụng sản phẩmcủa xây dựng làm ra
- Liên quan đến cảnh quan và môi trường tự nhiên, do đó liên quannhiều đến lợi ích cộng đồng, nhất là đến dân cư của địa phương nơi đặt côngtrình
- Mang tính chất tổng hợp về kỹ thuật, kinh tế, xã hội, văn hoá nghệthuật và quốc phòng
1.4.4.3 Sản phẩm xây dựng chịu tác động của nhiều bên liên quan
Thi công xây dựng đa phần luôn có phát sinh Trong quá trình xâydựng một công trình thường luôn có những thay đổi, bổ sung do yêu cầu củakhách hàng cũng như do điều kiện khách quan Các sửa đổi được nhanh
Trang 23chóng thoả thuận và thực hiện cho kịp tiến trình thi công nhưng lại thườngkhông được ghi chép, lập hồ sơ đầy đủ khiến cho việc thanh toán sau này rấtkhó khăn và chậm trễ Về thực chất, đây là những sửa đổi, bổ sung cho hợpđồng đã được thoả thuận Chúng ảnh hưởng tới cả tiến độ và giá thành củacông trình.
Một đặc điểm nữa của yêu cầu đối với sản phẩm của xây lắp là cáccông trình xây dựng phải chịu sự kiểm soát chặt chẽ của xã hội Công trìnhsau khi hoàn thành phải được nhà chức trách kiểm tra về các mặt an toàn( bền vững, ổn định, an toàn về cháy, về điện), vệ sinh bảo vệ môi trường ( xử
lý chất thải ) mới được phép đưa vào khai thác, sử dụng
1.4.4.4 Nhân lực xây dựng luôn biến động
Trong quá trình thi công một công trình luôn có sự thay đổi về nhânlực Công trình đòi hỏi việc hoàn thành tuần tự nhiều công việc chuyên mônkhác nhau như đào móng, xây thô, hoàn thiện, lắp đặt điện nước Trên côngtrường có nhiều kỹ sư, đội thợ lần lượt tới làm việc tại những thời điểm khácnhau Vì vậy, thông tin về hệ thống quản lý cần phải được truyền đạt đầy đủ,chính xác và kịp thời tới những người làm việc trên công trường để tránh gây
ra sai hỏng, chậm trễ do thiếu hoặc hiểu sai thông tin gây ra
Ngoài ra, ngay nhân lực của một đội thi công cũng hay biến động, thayđổi Lực lượng lao động giản đơn trong xây dựng thường là lao động nôngnhàn, thanh niên chờ việc hoặc lao động địa phương Ngay trong đội ngũcông nhân kỹ thuật cũng có nhiều người thấy công việc trong xây dựng nặngnhọc, vất vả phải chịu bụi bặm, mưa nắng nên coi đây chỉ là công việc nhấtthời, thường tìm cách chuyển nghề Vì vậy, khi áp dụng hệ thống quản lý chấtlượng cần chú ý tới một đặc điểm của thi công xây dựng là luôn có nhiềucông nhân mới, chưa thạo việc và tay nghề còn non kém
Trang 24Tham gia xây lắp một công trình còn có một số nhà thầu phụ và nhàthầu chính phải trách nhiệm về chất lượng, tiến độ của họ Do đó, công tythầu chính phải luôn giám sát, kiểm tra công việc của các thầu phụ.
1.4.4.5 Con người đóng vai trò quyết định trong việc kiểm soát chất lượng
Khác với nhiều ngành sản xuất hiện đại, trong thi công xây lắp, việckiểm soát chất lượng sản phẩm chủ yếu vẫn phải dựa vào con người chứ chưathể là máy móc Đó là các giám sát viên tại công trường với sự trợ giúp củathiết bị Thông thường trên công trường có nhiều giám sát viên khác nhauđồng thời làm nhiệm vụ kiểm soát chất lượng như: giám sát của khách hàng
và của tư vấn trợ giúp khách hàng, giám sát của bản thân công ty xây lắp,giám sát của nhà thầu chính đối với nhà thầu phụ, giám sát của một số tổ chức
có liên quan như giám sát của các công ty quản lý các hệ thống kỹ thuật đô thịtrong việc đấu nối với hệ thống kỹ thuật công cộng
Hoạt động thi công xây dựng do nhiều người với nhiều nghề nghiệp,phương tiện khác nhau đồng thời tiến hành trong một không gian rộng lớn củacông trường và chủ yếu là ở ngoài trời Vị trí làm việc của người công nhânlại liên tục thay đổi theo quá trình hoàn thành công trình.Vì vậy, việc kiểmsoát chất lượng rất khó khăn, không thể chặt chẽ như trong sản xuất một sảnphẩm bên trong nhà xưởng
1.5 Đặc điểm về quản lý chất lượng trong lĩnh vực xây dựng
1.5.1 Chất lượng sản phẩm có vai trò cực kỳ quan trọng
Ngành xây dựng luôn là một trong những ngành kinh tế trụ cột Nó tạo
ra cơ sở vật chất cho toàn xã hội Công trình xây dựng có những tác động lớnlao, có thể tích cực hoặc tiêu cực, đến an toàn, bảo vệ sức khoẻ, bảo vệ môitrường, tiện nghi đời sống hàng ngày của cộng đồng cũng như tâm tư tìnhcảm của con người Mặt khác, những sản phẩm này có giá thành rất cao, nhất
là những công trình thuộc hạ tầng cơ sở
Trang 25Do vậy việc sản xuất ra sản phẩm này được chú trọng quản lý bằngpháp luật Trong bộ Luật dân sự đã ghi “ Khi xây dựng công trình, chủ sở hữuphải tuân theo pháp luật về xây dựng, bảo đảm an toàn” ( trích điều 272 ).
Pháp luật về xây dựng nêu trên bao gồm:
- Các thủ tục quản lý đầu tư xây dựng như thẩm định phê duyệt dự ánđầu tư, thẩm định phê duyệt thiết kế kỹ thuật, tổng dự toán, cấp giấy phép xâydựng, bàn giao và sử dụng công trình
- Các yêu cầu kỹ thuật đối với công trình, được quy định trong quychuẩn xây dựng, quy hoạch và điều lệ quản lý quy hoạch kiến trúc của khuvực
1.5.2 Yêu cầu đối với chất lượng sản phẩm rất phức tạp
Việc xác định yêu cầu của một sản phẩm xây dựng là không đơn giản,
dễ dàng Nó đòi hỏi sự thông hiểu về kỹ thuật, kinh tế cũng như về xã hội,luật pháp Bản thân khách hàng không thể tự xác định nhu cầu của mình mộtcách đầy đủ, rõ ràng và khả thi mà phải có sự tham gia của các chuyên gia xâydựng
Nhu cầu của khách hàng phải xem xét trên nhiều phương diện:
- Tính phù hợp với các quy định của luật pháp, quy chuẩn, quy hoạchxây dựng của khu vực
- Tính phù hợp với đặc điểm tự nhiên, xã hội tại địa điểm xây dựng
- Tính khả thi về kỹ thuật
- Tính hợp lý về kinh phí với khả năng huy động vốn và lợi ích kinh tế
1.5.3 Sai hỏng gây hậu quả nghiêm trọng và khó khắc phục
Chất lượng công trình xây dựng là mối quan tâm chung của toàn xã hộicòn bởi vì những sai hỏng về chất lượng của loại sản phẩm này có thể gây ranhững hậu quả xấu về an toàn và khắc phục rất khó khăn, tốn kém Đặc biệt,
Trang 26đối với nhiều công trình hạ tầng như cầu, đập, thuỷ điện hoặc công trình côngcộng như chung cư, nhà hát…hậu quả này có thể sẽ rất nghiêm trọng.
Những sai hỏng về chất lượng của một công trình xây dựng có thểkhông phát hiện được khi tiến hành nghiệm thu, bàn giao mà chỉ bộc lộ saukhi sử dụng được một thời gian Hơn nữa, khác với những sản phẩm thôngthường, khi phát hiện ra sai hỏng khách hàng không thể trả lại để đổi lấy sảnphẩm khác mà chỉ có thể trông chờ vào những biện pháp sửa chữa khắc phụctại chỗ, thậm chí có trường hợp phải phá đi làm lại Vì vậy, trong xây dựngviệc tuân thủ nguyên tắc “làm đúng ngay từ đầu” là rất quan trọng
1.5.4 Quản lý chất lượng theo từng dự án
Công trường xây dựng có tính cá biệt và phụ thuộc các điều kiện tựnhiên xã hội của địa điểm xây dựng Nó được sản xuất đơn chiếc, không thểsản xuất hàng loạt theo một quy trình cố định, không thay đổi
Mỗi công trình xây dựng được sản xuất ( trong thiết kế cũng như trongthi công xây lắp ) theo một dự án riêng với những yêu cầu riêng biệt tuy vẫndựa trên một số quá trình kỹ thuật điển hình, lặp đi lặp lại Vì vậy, quản lýchất lượng trong xây dựng cần tập trung vào quản lý từng dự án và phải tổchức quản lý theo hai hình thức song song là:
- Quản lý theo tổ chức của toàn công ty
- Quản lý theo từng dự án
Quản lý theo tổ chức của toàn công ty là quản lý các hoạt động của cácphòng ban tại Văn phòng công ty Quản lý theo từng dự án là quản lý hoạtđộng của nhóm dự án ( đối với tư vấn ) và của công trường ( đối với xây lắp )với công việc đầu tiên là lập kế hoạch chất lượng cho từng dự án Trong kếhoạch chất lượng của dự án, ngoài các quy trình thông thường, phải soạn thảoriêng một số quy trình để giải quyết những yêu cầu riêng của dự án
Trang 271.5.5 Quản lý chất lượng chịu tác động của nhiều yếu tố khách quan trong xây dựng
Trong thi công xây dựng, việc kiểm soát chất lượng khá phức tạp, khókhăn Không thể kiểm soát từng chi tiết của các hoạt động xây lắp với độ tincậy cao như đối với một dây chuyền sản xuất bên trong một nhà xưởng
Hoạt động thi công xây dựng do nhiều người tiến hành nhiều hoạt độngnghề nghiệp khác nhau đồng thời trên một mặt bằng và không gian khá rộnglớn Trong đó có nhiều công việc vận chuyển nặng nhọc Các hoạt động đượctiến hành chủ yếu ở ngoài trời nên phụ thuộc vào thời tiết
Trong thi công xây dựng cần nhiều lao động trong đó có nhiều lao độnggiản đơn nhưng vất vả Lực lượng lao động là những lao động giản đơnthường không ổn định vì nhiều người coi đây chỉ là công việc tạm bợ, luôntìm cách chuyển nghề để mong tìm được việc khác đỡ nặng nhọc, vất vả mưanắng lại tích luỹ được kinh nghiệm nâng cao tay nghề Vì vậy việc đào tạohuấn luyện cũng như thực thi các quy trình quản lý khá khó khăn
1.6 Hệ thống quản lý chất lượng ISO 9000 trong lĩnh vực xây dựng
1.6.1 Phạm vi áp dụng ISO 9000 trong lĩnh vực xây dựng
Hệ thống quản lý chất lượng ISO 9000 áp dụng đối với công tác tư vấnxây dựng và công tác xây lắp
Bảng 1.2: Phạm vi áp dụng HTQLCL ISO 9000 trong công tác tư vấn xây
dựng
1 Khảo sát thiết kế - Nghiên cứu dự án đầu tư: lập báo cáo tiền khả
thi, báo cáo nghiên cứu khả thi
- Thiết kế: thiết kế quy hoạch, thiết kế công trình
- Tư vấn về đấu thầu và hợp đồng kinh tế
Trang 28- Đánh giá tác động môi trường.
- Khảo sát xây dựng: công tác hiện trường vàphân tích số liệu trong phòng thí nghiệm
- Khảo sát môi trường: khảo sát về môi trườngkhu vực phục vụ đánh giá tác động môi trường
2 Các dịch vụ dự án - Giám sát thi công: giám sát khối lượng thi
công, giám sát chất lượng thi công, giám sát tiến
Trang 29trình - Lắp đặt hệ thống thông tin, thang máy, điều hoà,
báo cháy, bảo vệ…
4 Hoàn thiện mặt
bằng
- Lắp đặt phần ngoài của các hệ thống kỹ thuậtnhư: cấp điện, chiếu sáng, cấp nước, chữa cháy,bảo vệ, an ninh
- Công tác ngoại thất cảnh quan
5 Các công việc
khác
- Sản xuất vật liệu, cấu kiện xây dựng, chế phẩm
- Vận chuyển, tồn trữ vật liệu, chế phẩm xâydựng
- Ngăn ngừa là chính Dựa trên kết quả thống kê đưa ra các công việc
và giai đoạn bắt buộc phải kiểm tra để ngăn ngừa nguy cơ xảy ra chất lượngkém
- Kiểm soát được tất cả các giai đoạn tạo nên công trình xây dựng sảnphẩm:
+ Kiểm soát chất lượng công tác khảo sát xây dựng
+ Kiểm soát chất lượng công tác thiết kế
+ Kiểm soát chất lượng vật liệu, vật tư và thiết bị
+ Giám sát biện pháp tổ chức thi công và chất lượng thi công
+ Nghiệm thu đánh giá chất lượng trước khi đưa vào sử dụng Công trình phảibảo đảm vững chắc, đảm bảo an toàn Phòng chống cháy nổ, an toàn vận hành
và khai thác, bảo đảm tiện nghi cho người sử dụng và an toàn môi trường.+ Áp đặt chế độ bảo hành và chế tài đối với Nhà thầu xây dựng
Trang 30Nội dung cụ thể:
1.6.2.1 Quản lý chất lượng khảo sát xây dựng
Kết quả khảo sát cần phân tích, đánh giá số liệu ở tất cả các phương ánxem xét để đảm bảo lựa chọn vị trí xây dựng công trình một cách hợp lý, kinh
tế, xác định được vị trí các công trình đầu mối trên tuyến, chính xác hoá điềukiện địa chất công trình của toàn bộ khu vực xây dựng và từng hạng mục côngtrình xây dựng, xác định các thành phần công việc khảo sát phục vụ bướcthiết kế tiếp theo
Kết quả khảo sát phải đảm bảo đủ số liệu để thực hiện các bước thiếtkế: thiết kế tổng mặt bằng, thiết kế san nền, thiết kế các công trình hạ tầng kỹthuật hợp lý, tính toán nền móng và kết cấu công trình hợp lý, an toàn cho bảnthân công trình xây dựng và các công trình liền kề
Riêng đối với công trình theo tuyến, kết quả khảo sát còn phải đảm bảoxây dựng được các mặt cắt dọc và mặt cắt ngang đặc trưng cho các loại địatầng trên tuyến, đặc biệt tại những khu vực có điều kiện địa chất công trìnhphức tạp Xây dựng được phương án xử lý các chướng ngại vật trên tuyến vàxác định chính xác hành lang ổn định công trình tuyến
Chủ đầu tư có trách nhiệm nghiệm thu kết quả khảo sát xây dựng
1.6.2.2 Quản lý chất lượng thiết kế
Chất lượng thiết kế thuộc về trách nhiệm của nhà thầu thiết kế Thiết kếcông trình phải bảo đảm các yêu cầu chung sau:
- Nội dung thiết kế xây dựng công trình phải phù hợp với yêu cầu củatừng bước thiết kế, thoả mãn yêu cầu về chức năng sử dụng, bảo đảm mỹquan, giá thành hợp lý; đồng bộ với từng công trình, đáp ứng yêu cầu vậnhành và sử dụng
Trang 31- Thiết kế phải được thể hiện trên bản vẽ theo quy định Thiết kế phảithể hiện được khối lượng công tác xây dựng để làm cơ sở xác định chi phí xâydựng công trình.
Chủ đầu tư phải nghiệm thu các bước thiết kế Chủ đầu tư chịu tráchnhiệm về các bản vẽ thiết kế giao cho nhà thầu thi công xây dựng Nội dungnghiệm thu bao gồm đánh giá chất lượng thiết kế và kiểm tra hình thức, sốluợng hồ sơ thiết kế xây dựng công trình
1.6.2.3 Quản lý chất lượng thi công xây dựng
Nhà thầu thi công xây dựng phải tự xây dựng kế hoạch chất lượng và tựgiám sát chất lượng thi công Nhà thầu thi công xây dựng có trách nhiệmkiểm tra chất lượng vật liệu, chất lượng sản phẩm và chỉ khi nào nhà thầukhẳng định chất lượng thi công đảm bảo theo thiết kế và tiêu chuẩn kỹ thuậtthì mới yêu cầu được nghiệm thu Như vậy, nhà thầu là người chịu tráchnhiệm chính và trước tiên về chất lượng công việc mình hoàn thành Nhà thầu
có trách nhiệm tổ chức lại để quản lý tốt hơn về chất lượng tránh mọi rủi roxảy ra để không bị chi phí đền bù, không gây những thiệt hại sinh mạng vàgiữ được uy tín cho đơn vị
Chủ đầu tư vẫn là chủ thể duy nhất, có trách nhiệm quản lý chất lượngcông trình Chủ đầu tư tổ chức tư vấn chuyên môn hoá, chuyên nghiệp hoá( của mình hoặc phải thuê ) để giám sát quản lý chất lượng, khối lượng, tiến
độ, an toàn lao động và vệ sinh môi trường Nhà thầu giám sát thi công xâydựng là đại diện có quyền lực của chủ đầu tư để quyết định các vấn đề kỹthuật Họ có trách nhiệm yêu cầu nhà thầu thực hiện đúng thiết kế, đồng thời
họ có nghĩa vụ phát hiện giúp chủ đầu tư những thiết sót ( nếu có ) của thiết
kế Sự xuất hiện của tư vấn giám sát thi công xây dựng là một chế độ bắt buộc
sẽ là một cải cách cực kỳ quan trọng trong lĩnh vực quản lý chất lượng côngtrình xây dựng ở nước ta hiện nay
Trang 32Nhà thầu thiết kế có nghĩa vụ giải thích cho nhà thầu các chi tiết khôngđược mô tả hết Họ có trách nhiệm xác nhận sự đúng đắn giữa thiết kế của họ
và trong thực tiễn Yêu cầu về sự giám sát tác giả của họ phải có khi chủ đầu
tư tổ chức nghiệm thu công việc xây dựng, bộ phận công trình quan trọng,nghiệm thu công trình đưa vào sử dụng
1.6.2.4 Quản lý chất lượng trong công tác bảo hành công trình xây dựng
Việc bảo hành công trình được thực hiện đối với từng hạng mục côngtrình Nếu trong một dự án có nhiều công trình và mỗi công trình được hoànthành có thể được vận hành độc lập thì thời gian tính bảo hành được kể từ khinghiệm thu bàn giao Đây là sự đổi mới hợp lý và bảo vệ lợi ích của các nhàthầu xây lắp
Thời hạn bảo hành công trình xây dựng được tính từ ngày chủ đầu tư
ký biên bản nghiệm thu hạng mục công trình; công trình xây dựng hoàn thành
để đưa vào sử dụng và được quy định như sau:
- Không ít hơn 24 tháng đối với mọi loại công trình cấp đặt biệt ( tổngmức đầu tư trên 1.500 tỷ đồng )
- Không ít hơn 12 tháng đối với công trình còn lại
1.6.2.5 Quản lý chất lượng trong công tác bảo trì công trình
Thông thường từ trước tới nay, công việc của hoạt động xây dựng dừnglại ở khâu: nghiệm thu và bàn giao công trình Trình tự đó hoàn toàn đúng vềmặt sản xuất
Song nhìn ở góc độ một dự án và lợi ích quốc gia trong một chiến lượcbảo tồn bất động sản mà chúng ta đang ý thức được thì công trình cần đượcxem xét, đánh giá hiệu quả sử dụng của nó trong suốt chu trình tuổi thọ Nộidung quan trọng của chiến lược này là vấn đề chất lượng công trình phải đượcnhìn nhận và quán triệt xuyên suốt quá trình hình thành và tồn tại theo yêucầu tuổi thọ của mỗi công trình
Trang 33Trách nhiệm của người thiết kế phải đưa ra những yêu cầu cho các đốitượng công trình cần thiết phải bảo trì Chủ quản lý sử dụng, chủ sở hữu côngtrình có trách nhiệm và nghĩa vụ bảo vệ cho công trình không bị xuống cấpnhanh, đáp ứng nhu cầu sử dụng trong suốt tuổi thọ yêu cầu.
1.6.3 Tình hình áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO 9000 trong lĩnh vực xây dựng của các doanh nghiệp Việt Nam
Trong lĩnh vực xây dựng ở nước ta hiện nay có nhiều loại hình tổ chứcdoanh nghiệp xây dựng: khảo sát, sản xuất vật liệu, tư vấn, xây lắp Áp dụngHTQLCL ISO 9000 với các cơ sở sản xuất vật liệu, cơ khí, thi công xây dựng
đã thiết lập được quy trình sản xuất rõ ràng, tính công nghiệp cao, dễ học tậpkinh nghiệm các đơn vị đi trước trong các ngành công nghiệp khác Áp dụngHTQLCL ISO 9000 với các công ty tư vấn xây dựng đã thiết lập được quytrình tư vấn có tính ổn định cao, đội hình có trình độ tiếp thu, nhanh hiểu sâu vềcác tiêu chuẩn để làm, sản phẩm dễ kiểm tra kiểm soát Đối với xã hội, mà cụthể là đối với người tiêu dùng thì chất lượng của xây dựng là thể hiện ở chínhcông trình đã xây dựng xong và đưa vào khai thác sử dụng đạt các yêu cầu dựkiến làm ra nó Vì vậy các doanh nghiệp xây dựng rất chú trọng quan tâm xâydựng hệ thống quản lý chất lượng ISO 9000
Áp dụng các tiêu chuẩn ISO 9000 không có yếu tố rủi ro, và là công cụtốt nhất cho quản lý của các doanh nghiệp xây dựng HTQLCL ISO 9000 đốivới các doanh nghiệp xây dựng được xây dựng trên cơ sở hệ thống điều hành
và các thủ tục hiện hành của chính tổ chức đó Xây dựng hệ thống Quản lýchất lượng ISO 9000 là một biện pháp tích cực và hiệu quả nhằm tăng cườngyếu tố dự phòng, giảm được nhiều thiếu sót, ít khi xảy ra các điểm không đạt
Do vậy, bớt được chi phí kiểm định, đánh giá và hành động khắc phục Hiệuquả và chất lượng cao hơn, chi phí tổng thể về xây dựng hợp lý hơn
Trang 34Bảng 1.4: Số liệu thống kê các doanh nghiệp xây dựng được cấp chứng chỉ ISO 9000 bởi Bureau Veritas Quality International
Đơn vị : doanh nghiệp
STT Loại hình
Doanh
nghiệp
Năm 2003
Năm 2004
Năm 2005
Năm 2006
Năm 2007
Năm 2008
Tổng số
STT Loại hình
Doanh
nghiệp
Năm 2003
Năm 2004
Năm 2005
Năm 2006
Năm 2007
Năm 2008
Tổng số
1 Tư vấn thiết
kế
Trang 36CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH ÁP DỤNG HỆ THỐNG QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG THEO TIÊU CHUẨN ISO
9000 TẠI TỔNG CÔNG TY XUẤT NHẬP KHẨU VÀ XÂY
DỰNG VIỆT NAM - VINACONEX
2.1 Giới thiệu về Tổng công ty Xuất nhập khẩu và xây dựng Việt Nam – Vinaconex
2.1.1 Giới thiệu chung
Tên gọi: Tổng công ty cổ phần xuất nhập khẩu và xây dựng Việt NamTên giao dịch: Vietnam construction and import – export joint stockcorporation
Tên viết tắt: VINACONEX JSC
Trụ sở: Toà nhà VINACONEX, Khu Đô thị mới Trung Hoà – NhânChính –Hà Nội
Điện thoại: 04.22249206 – 04.22249210
Fax: : 04.22249208
Ngày thành lập: 27-09-1988
Chủ tịch Hội Đồng Quản Trị: Ông Nguyễn Văn Tuân
Tổng Giám Đốc : Ông Nguyễn Thành Phương
Kế toán trưởng : Nguyễn Quốc Hoà
Vốn điều lệ : 1.500.000.000 đồng
Lao động : 42.283 người
Các lĩnh vực sản xuất kinh doanh chủ yếu:
- Nhận thầu xây lắp các công trình công nghiệp, dân dụng, các côngtrình kỹ thuật hạ tầng, các công trình cấp thoát nước, xử lý môi trường, cáccông trình bưu chính viễn thông, cầu, đường, sân bay, bến cảng, đê đập, hồ
Trang 37chứa nước, các công trình điện, đường dây, trạm biến áp…trong và ngoàinước.
- Cung cấp nhân lực đồng bộ, kỹ sư, kỹ thuật viên, đốc công, côngnhân kỹ thuật…cho các hãng, nhà thầu xây dựng nước ngoài Cung cấp laođộng với các ngành nghề khác nhau cho các thị trường lao động trên thế giới
- Xuất nhập khẩu xe máy, thiết bị, vật liệu xây dựng, trang thiết bị nộithất và các hàng hoá khác
- Sản xuất vật liệu xây dựng: cấu kiện bê tông, bê tông thương phẩm
đá các loại và các sản phẩm công nghiệp khác cho xây dựng
- Tư vấn khảo sát, thiết kế, đầu tư xây dựng, quản lý dự án
- Kinh doanh bất động sản, đầu tư các dự án với phương thức BOT
- Dịch vụ khách sạn và du lịch
- Hợp tác với các hãng nước ngoài, thành lập các liên doanh hoặc hợpdoanh để xây lắp các công trình trong và ngoài nước, sản xuất hàng hoá xuấtkhẩu, cho thuê và bán các máy móc thiết bị xây dựng, thiết bị tự động hoá,đầu tư các dự án sản xuất vật liệu xây dựng, cấp nước, thuỷ điện…
2.1.2 Quá trình hình thành và phát triển
2.1.2.1 Giai đoạn 1988 – 1991: Giai đoạn ra đời của VINACONEX
Để đáp ứng yêu cầu quản lý lực lượng lao động của ngành xây dựng ởnước ngoài mà Chính phủ đã giao cho Bộ, ngày 27/09/1988 Bộ Xây Dựng đã
có quyết định số 1118/BXD-TCLĐ thành lập Công ty dịch vụ và xây dựngnước ngoài Đây là tiền thân của Tổng công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu vàXây dựng Việt Nam ( VINACONEX ) ngày nay
Ngay từ buổi đầu thành lập, công ty đã nhanh chóng xây dựng mô hìnhcủa mình để tiếp nhận và quản lý toàn bộ trên 10.000 lao động đang làm việc
ở các nước xã hội chủ nghĩa và một vài nước khác lúc đó
2.1.2.2 Giai đoạn 1991-1995: Giai đoạn đẩy mạnh xây dựng lực lượng
Trang 38Năm 1991 và sau đó, do Liên Xô và các nước Xã hội chủ nghĩa Đông
Âu tan rã, chiến tranh vùng Vịnh lại xảy ra nên hơn 13.000 lao động củangành xây dựng phải về nước trước thời hạn Thực tế ấy đặt ra những yêu cầumới, đặc biệt là vấn đề giải quyết việc làm cho lực lượng này cùng những hệquả do ngoại cảnh gây ra Xuất phát từ tình hình đó, ngày 10/08/1991 Bộ XâyDựng đã có quyết định số 342/BXD-TCLĐ chuyển Công ty dịch vụ và Xâydựng nước ngoài thành Tổng công ty Xuất nhập khẩu xây dựng Việt Nam.Tổng công ty có nhiệm vụ đưa 13.000 lao động Việt Nam ở nước ngoài vềnước an toàn, đồng thời bám trụ để tìm kiếm thị trường xuất khẩu lao độngmới, kinh doanh xuất nhập khẩu
Cũng với mục đích đẩy mạnh xây dựng lực lượng, bước sang năm
1995, Tổng công ty đã có những thay đổi lớn, nhất là về công tác tổ chức vàxây dựng lực lượng Đặc biệt ngày 15/04/1995, Bộ Xây Dựng đã có quyếtđịnh số 275/BXD-TCLĐ chuyển một số doanh nghiệp trực thuộc Bộ dangtrực thuộc Tổng công ty gồm: Xí nghiệp liên hợp xây dựng số 1, số 2; cáccông ty xây dựng số 5,8,9 với 5260 cán bộ công nhân viên Tiếp đó được Thủtướng Chính phủ uỷ quyền, Bộ Xây Dựng đã có quyết định số 992 ngày20/11/1995 về việc thành lập lại Tổng công ty Xuất nhập khẩu xây dựng ViệtNam ( VINACONEX ) với chức năng, nhiệm vụ lớn hơn ( theo tinh thần sắpxếp lại doanh nghiệp Nhà nước cấp Tổng công ty )
2.1.2.3 Giai đoạn 1995-2000: Giai đoạn bắt đầu cho sự phát triển về chiều sâu của doanh nghiệp
Đây là giai đoạn bắt đầu cho sự phát triển về chiều sâu với đặc điểmnổi bật là sắp xếp lại doanh nghiệp, tạo đà phát triển Lực lượng thi công, xâylắp của Tổng công ty đã có những bước phát triển và lớn mạnh vượt bậc, vịthế của Tổng công ty đã được nâng cao Đặc biệt trong lĩnh vực xây lắp củaTổng công ty đã có những chuyển biến quan trọng trong việc áp dụng các
Trang 39công nghệ mới VINACONEX còn mở rộng phạm vi hoạt động sang lĩnh vựcxây dựng giao thông, cầu cảng, xây dựng công nghiệp và cả trong lĩnh vựcsản xuất xi- măng.
Tới thời điểm năm 2000, toàn Tổng công ty đã có 14 doanh nghiệpthành viên Tổng công ty đã trở thành một đơn vị có năng lực xây lắp tươngđương những Tổng công ty lớn của Bộ, có thể đảm nhận thi công các côngtrình có quy mô lớn, hiện đại tầm cỡ quốc gia và quốc tế
2.1.2.4 Giai đoạn 2000 – 2006: Giai đoạn phát triển cả về bề rộng và chiều sâu doanh nghiệp
Đó là giai đoạn của sự đầu tư phát triển mạnh mẽ, đa dạng hóa sảnphẩm, đa doanh, tạo những bứt phá mới trong sự phát triển của Tổng công ty.Quá trình đầu tư phát triển vẫn trên cơ sở chiến lược phát triển với nội dung
cơ bản là “ tiếp tục thực hiện phương châm đa dạng hoá kinh doanh, đa dạnghoá sản phẩm, từng bước chuyển đổi tỷ trọng cơ cấu các lĩnh vực sản xuấtkinh doanh, tăng cường đầu tư nâng cao giá trị sản xuất công nghiệp xuấtkhẩu, xuất khẩu lao động, áp dụng tiến bộ kỹ thuật và công nghệ mới Tăngcường hàm lượng trí tuệ trong cơ cấu sản phẩm, tăng cường thực hiện đổi mới
và sắp xếp lại doanh nghiệp, đẩy mạnh cổ phần hoá, phát triển nguồn vốn huyđộng, thực hiện đa sở hữu vốn, phấn đấu để từng bước xây dựng Tổng công tythành một tập đoàn kinh tế mạnh”
Cũng trong giai đoạn này, Tổng công ty VINACONEX đã thắng thầuhàng loạt các công trình, dự án lớn với tổng số vốn đầu tư lên đến hàng tỷUSD bao gồm cả các lĩnh vực xây dựng hạ tầng, công nghiệp vật liệu xâydựng, phát triển đô thị, đầu tư bất động sản
2.1.2.5 Giai đoạn từ 2007 trở đi: Giai đoạn Tổng công ty hoạt động theo mô hình Công ty Cổ phần.
Trang 40Một mặt Tổng công ty tiếp tục đẩy mạnh đầu tư phát triển, tiếp tục thựchiện đa dạng hoá kinh doanh, đa dạng hóa sản phẩm; mặt khác về tổ chức,Tổng công ty tiếp tục hoàn thiện Cổ phần hoá một cách tích cực nhằm tăngcường sức mạnh của doanh nghiệp trên cơ sở thu hút vốn và chuyển đổi hìnhthức tổ chức, điều hành cho có hiệu quả cao hơn
Thực hiện Cổ phần hoá, Tổng công ty vẫn duy trì phát triển doanhnghiệp Nhà nước với hình thức đa sở hữu, trong đó Nhà nước nắm giữ cổphần chi phối trong doanh nghiệp Cổ phần hoá Điều đó cũng có nghĩa là,muốn đạt hiệu quả cao trong sản xuất – kinh doanh, công tác chính trị, tưtưởng phải được thực hiện tốt, và như vậy vai trò lãnh đạo của Đảng phải tiếptục được nâng cao, hoạt động của các đoàn thể cần được thúc đẩy mạnh mẽ và
đi vào thực chất hơn
Đây là giai đoạn phát triển về chất, xây dựng VINACONEX thành mộtTập đoàn kinh tế mạnh