THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC KHÁM CHỮA BỆNH CHO NGƯỜI NGHÈO TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN LONG BIÊN HÀ NỘI
Trang 1TRƯỜNG ĐÀO TẠO CÁN BỘ LÊ HỒNG PHONG
LONG BIÊN HÀ NỘI
Học viên: NGUYỄN THỊ HUYỀN NGA
Đơn vị công tác: Bệnh viện Đa Khoa Hoè Nhai
Giáo viên hướng dẫn: TH.S ĐẶNG ĐÌNH VINH
Hà Nội, Tháng 05 Năm 2010
Trang 3HĐND Hội đồng nhân dân
UBND Ủy ban nhân dân
PKĐKKV Phòng khám đa khoa khu vực TYT Trạm y tế
CBYT Cán bộ y tế
TTYTDP Trung tâm y tế dự phòng
LĐTB&XH Lao động thương binh và xã hội
BV Bệnh viện
KT-XH Kinh tế -xã hội
Trang 4ĐẶT VẤN ĐỀ
Việt Nam là một trong những nước nghèo trên thế giới Phần lớn nhândân sống ở nông thôn, miền núi và vùng sâu vùng xa có thu nhập thực tế ởmức thấp Đến nay nước ta vẫn còn khoảng gần 20% dân số ở mức nghèo.Đây là đối tượng chịu nhiều thiệt thòi trong khám chữa bệnh và chăm sóc y
tế Có nhiều nguyên nhân nhưng cơ bản vẫn do khả năng kinh tế của họkhông đáp ứng được nhu cầu khám chữa bệnh Trong những năm qua Đảng
và Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách nhằm trợ giúp người nghèo đượcchăm sóc sức khỏe như chế độ miễn, giảm viện phí cấp thẻ BHYT cho ngườinghèo …Tuy nhiên những chính sách này, chưa được thực thi một cách đồng
bộ nên hiệu quả còn thấp Từ trước đến nay, công tác khám chữa bệnh chongười nghèo được các địa phương thực hiện thông qua nhiều hình thức khácnhau Do phụ thuộc vào địa phương nên đã bộc lộ nhiều bất cập, không đápứng được nhu cầu khám chữa bệnh của người nghèo Cũng chính vì mangnặng tính địa phương nên các hộ nghèo người nghèo chỉ có thể được miễngiảm một phần viện phí khi đi khám chữa bệnh trong địa bàn Tỉnh ( Thànhphố) nơi cư trú khi phải điều trị ở tuyến TW ngoại tỉnh thì các dạng ưu tiênkhông còn giá trị
Trong những năm qua ,Đảng và nhà nước ta đã có nhiều nghị quyết vàchính sách thể hiện sự quan tâm đến công tác chăm sóc sức khỏe nhândân.Gần đây nhất Nghị quyết 46 của Bộ chính trị Ban chấp hành trung ươngđẩng ban hành ngày 23 tháng 2 năm 2005 đã đề cập đến việc “ Xã hội hóa cáchoạt động chăm sóc sức khỏe gắn với tăng cường đầu tư của nhà nước ,thựchiện tốt việc trợ giúp cho các đối tượng chính sách và người nghèo trongchăm sóc và nâng cao sức khỏe
Như vậy,chăm sóc sức khỏe cho người nghèo đang ngày càng trở thànhmột vấn đề quan tâm của ngành y tế và của toàn xã hội.Nhiều biện pháp rấtcần được đưa ra để giải quyết vấn đề chăm sóc sức khỏe và khám chũa bệnhcho người nghèo.Trên cơ sở thực tế và thực tiễn công tác ,Tôi quyết định
Trang 5chọn đề tài “Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả công tác khám chữa bệnh cho người nghèo trên địa bàn quận Long Biên ,thành phố Hà Nội “ làm đề tài tiểu luận tốt nghiệp lớp trung cấp lý luận chính trị
Ngoài phần mở đầu ,kết luận ,tài liệu tham khảo ,nội dung tiểu luận được chia thành 3 phần
Chương I : Một số vấn đề về công tác khám chữa bệnh cho người nghèo trên địa bàn quận Long Biên
Chương II :Thực trạng công tác khám chữa bệnh cho người nghèo trên địa bàn quận Long Biên
Chương III:Một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả công tác chăm sóc sức khỏe người nghèo trên địa bàn quận Long Biên
Trang 6
CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CÔNG TÁC CSSK NGƯỜI NGHÈO
I Khái niệm và quan điểm của Đảng,chính sách của nhà nước về khám chữa bệnh cho người nghèo
1 Khái niệm :
Khi nói đến nghèo đói,chúng ta thường nghĩ đến tình trạng thiếuđói,nhà cửa dột nát …thực tế không chỉ đơn thuần như vậy,ngoài những đặctrưng về vật chất nối bật này,nghèo đói còn có nhiều đặc trưng khác về khíacạnh tâm lý,văn hóa,xã hội.Tuy nhiên,cho đến nay vẫn chưa có một địnhnghĩa duy nhất về nghèo đói,do đó cũng không có một phương pháp hoàn hảo
để đo được nó
Theo ngân hàng thế giới:“ Nghèo là bị đói,không có áo mặc chốn ở ,là
ốm đau không được chăm sóc,mù chữ mà không được đi học.Ngoài ra,sốngtrong nghèo khó luôn bị đe dọa bời hiềm họa mà không có khả năng chốngđỡ,không có tiếng nói và quyền hạn gì trong cơ quan nhà nước”
Theo ngân hàng phát triển châu á:Nghèo đói là tình trạng thiếu những tàisản cơ bản và cơ hội mà mỗi người có quyền được hưởng.Mọi người đều cầnđược tiếp cận với giáo dục cơ sở và các dịch vụ chăm sóc sức khỏe cơbản,Các hộ nghèo có quyền duy trì cuộc sống bằng chính lao động của mình
và được trả công một cách hợp lý cũng như được bảo trợ khi có biến động bênngoài
Việt Nam thừa nhận chung về định nghĩa đói nghèo do hội nghị chống đóinghèo khu vực Châu á –Thái bình dương do ESCAP tổ chức TẠI Băng Cốc
Thái Lan tháng 9/1993: Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được
hưởng và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này
đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triền kinh tế -xã hội và phong tục tập quán của địa phương.Khái niệm người nghèo ở mỗi quốc gia
và mỗi giai đoạn,thời kỳ cũng có khác nhau với những chuẩn được quyđịnh.Theo quyết định số 170/2005/QĐ-TTg ngày 8/7/2005 của thủ tướng
Trang 7chính phủ về việc ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006-2010như sau : Hộ nghèo được định nghĩa là hộ có thu nhập bình quân từ 200000đông/tháng trở xuống tại nông thôn và dưới 260000 đồng /tháng trở xuống tạithành phố
2 Mối liên quan giữa nghèo đói và sức khỏe
Nghèo đói và bệnh tật có mối quan hệ hai chiều rất chặt chẽ,bệnh tật dẫnđến đói nghèo và ngược lại,nghèo đói dẫn tới bệnh tật
Bệnh tật dẫn tới nghèo đói : Về cơ bản,ốm đau bệnh tật gây nghèo đói
bởi hai lý do : một là giảm năng suất lao động,giảm thu nhập hộ gia đình,hai
là gia tăng chi tiêu hộ gia đình cho khám bệnh
Nghèo đói dẫn tới bệnh tật: người nghèo dinh dưỡng kém,sức đề kháng
kém, nhà ở chật chội,ẩm thấp làm việc trong môi trường độc hại,thiếu vệsinh,thiếu các điều kiện đàm bảo an toàn,ít có điều kiện tiếp cận với các dịch
vụ y tế dự phòng và điều trị,ít đi khám bệnh và thường đến bệnh viện khibệnh đã nặng,đây là những lý do dẫn tới tình trạng dễ ốm đau,bệnh tật củangười nghèo
Hình 1 Mối liên quan giữa sức khỏe kém và đói nghèo
Trang 8Bẫy đói nghèo : trong những trường hợp bị ốm nặng và cần có chăm
sóc của y tế khẩn cấp hầu hết mọi người đều cố gắng hết khả năng để tìm đủkinh phí trả cho những dịch vụ thậm chí là họ phải bán cả các tư liệu sảnxuất,cho con cái thôi học hoặc đi vay nặng lãi.Hậu quả là,nhiều bênh nhânnghèo cố gắng chi trả cho các chi phí y tế đã trở nên nghèo đói hơn,còn nhữngbệnh nhân thuộc nhóm những người vừa thoát nghèo và những người thuộcnhóm cận nghèo thì sẽ rơi vào tình trạng nghèo đói [2]
3.Quan điểm của Đảng,chính sách của nhà nước về CSSK người nghèo :
Chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân luôn là một trong những mối quantâm hàng đầu của Đảng và nhà nước Việt Nam.Mọi người dân đều có quyềnđược CSSK,Hiến pháp Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1980
quy định : “Nhà nước chăm lo bảo vệ tăng cường ,sức khỏe của nhân
dân ’’(điều 47); “Công dân có quyền bảo vệ sức khỏe ,nhà nước thực hiện chế độ khám chữa bệnh không phải trả tiền” (điều 61 [3]
Giảm sức Lao động
nghèo đói
Trang 9Quan điểm của Đảng về công bằng trong chăm sóc sức khỏe nhân dân là :
“Sức khỏe là vốn quý mỗi con người và của toàn xã hội,là nhân tố quan
trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc.Vì vậy,,chúng ta phấn đấu
để mọi người đều được quan tâm chăm sóc sức khỏe”.[4]
Trước năm 1989 mọi chi phí cho KCB và phòng bệnh,nâng cao sức khỏeđều do nhà nước chi trả,nên quyền CSSK và bình đẳng trong CSSK nhân dânđều được đảm bảo Năm 1989,chính sách thu một phần viện chi phí chính thứcđược thực hiện theo quyết định số 45/HĐBT,ngày 24/4/1989 của hội đồng bộtrưởng (nay là chính phủ ).và “luât bảo vệ sức khỏe nhân dân” ban hành ngày30/6/1989 quy định người bệnh phải trả một phần chi phí cho y tế ( điều 27) Như vây mọi chi phí cho y tế cần phải được thanh toán.Những người sốngtrên mức nghèo sẽ phải tự chi trả chi phí KCB,Những người nghèo,người cócông với cách mạng người sống ở vùng đặc biệt khó khăn …sẽ được KCBmiễn phí hoặc miễn một phần viện phí Miễn phí KCB không phải là khôngthanh toán các chi phí KCB mà là các chi phí này sẽ do nhà nước thanh toán,điều này sẽ góp pần làm đảm bảo quyền được chăm sóc sức khỏe của nhândân, đảm bảo sự công bằng trong chăm sóc sức khỏe cho mọi người
Việc hỗ trợ phí KCB cho người nghèo đã thay đổi qua các thời kỳ, tại cácquyết định, Nghị quyết, Nghị định, thông tư cụ thể như sau:
Quyết định số 45/HĐBT ngày 24/4/1989 của Hội đồng bộ trưởng về việc
thu một phần viện phí
Nghị quyết 04 của ban chấp hành TW khóa VII yêu cầu khẩn trương phát
triển bảo hiểm y tế và Nhà nước có biện pháp thực hiện chính sách xã hội, hỗtrợ cho người nghèo
Nghị định 95/ CP ngày 27/8/1994 của chính phủ về việc thu một phần viện
phí, trong đó có quy định các đối tượng được miễn một phần viện phí
Thông tư số 27/LĐ-TB&XH ngày 24/10/1995 hướng dẫn cấp “sổ hộ
nghèo” Sổ này được dùng vào nhiều mục đích hỗ trợ, miễn giảm học phí,viện phí, hưởng chế độ ưu đãi trong vay tín dụng…
Trang 10Thông tư liên bộ số 05/1999/BLĐ-TB&XH-BIT-BTC ngày 29/1/1999 của
liê bộ Lao động-Thương binh và xã hội, y tế và tài chính, hướng dẫn việc thựchiện KCB được miễn nộp một phần viện phí đối với người thuộc diện quánghèo, những người này được Nhà nước cấp thẻ BHYT miễn phí hàng năm
Quyết định số 139/2002/QĐ-TTg ngày 15/10/2002 của thủ tướng chính
phủ về việc khám chữa bệnh cho người nghèo, quy định mọi chi phí KCB chongười nghèo sẽ do Quỹ KCB người nghèo chi trả
Trước quyết định 139, đã có rất nhiều phương thức hỗ trợ KCB cho ngườinghèo được thực hiện như:sổ hộ nghèo, thẻ KCB T8, thẻ BHYT người nghèo(gọi là thẻ A7), miễn giảm trực tiếp tại cơ sở KCB, bệnh viện miễn phí và một
số hình thức hỗ trợ khác Các hình thức hỗ trợ này đã đáp ứng một số lươngđáng kể nhu cầu KCB của người nghèo Tuy nhiên, thực tế cho thấy cácphương thức này bị phụ thuộc rất nhiều vào nguồn ngân sách địa phương vàviệc miễn giảm trực tiếp sử dung nguôn kinh phí của các cơ sở y tế đã là mộtkhó khăn đáng kể cho việc thực hiện chính sách miễn giảm phí KCB chongười nghèo [1]
Quyết đinh 139 nhằm mang lại lợi ích cho người nghèo trong hai phươngdiện: Tăng việc sự dụng dịch vụ y tế ,góp phần cải thiện chất lượng cuộc sốngcủa người nghèo.Quyết định này cũng làm tăng vai trò của các tỉnh trong việcxây dựng chính sách và hoạt động phù hợp với địa phương
KCBNN là một trong những chủ trương chính sách lớn của Đảng nhànước ta trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước đây là một chủtrương đúng đắn của Đảng và nhà nước,thực hiện quan điểm công bằng trongchăm sóc sức khỏe,tạo cho người nghèo,nhân dân trong vùng khó khăn vàmột bộ phận lớn đồng bào dân tộc thiểu số có đủ nguồn lực tài chính dể sửdụng các dịch vụ khám chữa bệnh từ tuyến xã đến tuyến cao nhất Tất cả cácchính sách trên đã và đang góp phần to lớn vào chăm sóc và bảo vệ sức khỏenhân dân đặc biệt là người nghèo Cải thiện tình trạng sức khỏe người nghèogóp phần đáng kể vào thực hiện công cuộc xóa đói giảm nghèo ở nước ta
Trang 114 Quyết định 139/2002/QĐ-TG của thủ tướng chính phủ về khám,chữa bệnh cho người nghèo
Để hỗ trợ người nghèo một cách tích cực,toàn diện và hiệu quả
hơn,ngày 15/10/2002 thủ tướng chình phủ đã ban hành quyết định 139/2002/QĐ-TG về việc khám chữa bênh cho người nghèo
Theo quyết định,các cở sở khám chữa bệnh nhà nước từ trạm y tế xã đếncác bệnh viện có giường,bệnh viện tuyến TW đều thực hiện chế độ khámchữa bệnh cho người nghèo
Đối tượng thụ hưởng chế độ khám chữa bệnh cho người nghèo gồm :
* Người nghèo theo quy định chuẩn hộ nghèo quy định tại quyếtđịnh 1143/2000/QĐ-LĐTBXH ngày 1/11/2000 của bộ trưởng bộ lao độngthương binh và xã hội
* Nhân dân các xã có điều kiện kinh tế,xã hội đặc biệt khó khăntheo quyết định số 135/1998/QĐ-TTg ngày 31/7/1998 của thủ tướng chínhphủ phê duyệt chuơng trình phát triển kinh tế xã hội các xã đặc biệt khó khănmiền núi và vùng sâu vùng xa
* Nhân dân các dân tộc vùng thiểu số tây nguyên, theo quyết định số168/2001/QĐ-TTg ngày 30/10/2001 của Thủ tướng chính phủ và nhân dâncác dân tộc thiều số tại 6 tỉnh đặc biệt khó khăn của miền núi phía bắc theoquyết định số 186/2001 /QĐ-TTg ngày 7/12/2001 của Thủ tướng chính phủ
* Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thành lập quỹ khám chữa bệnh cho ngừờinghèo với định mức tối thiểu là 70000đồng/người/năm, trong đó tối thiểu75% từ ngân sách nhà nước còn lại là huy động đóng góp từ các cá nhân, tổchức trong và ngoài nước
* Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm tổ chức, quản lý và
sử dụng quỹ KCB cho người nghèo theo quy định : mua thẻ BHYT cho ngườinghèo với mệnh giá 50000 đồng /người /năm hoặc thực hành thực chi chodịch vụ KCB tại tuyến xã và viện phí Ngoài ra tùy theo khả năng tài chínhcủa từng địa phương quỹ còn được dùng để hỗ trợ một phần viện phí cho các
Trang 12truờng hợp khó khăn đột xuất (đối tượng, mức hỗ trợ và trình tự xét duyệt doUBND cấp tỉnh quyết định )
II Thực trạng khám bệnh cho người nghèo hiện nay
Quyết định 139 của Thủ Tướng Chính phủ quy định về KCB cho nguờinghèo, trong đó nhấn mạnh việc đầu tư ngân sách và huy động các nguồn lực
xã hội để xây dựng quỹ KCB cho người nghèo, đây là một bước đột phá trongcông tác KCB cho người nghèo.Theo báo cáo của bộ y tế, đến nay tất cả cácTỉnh, Thành phố đã lập quỹ KCB cho người nghèo Ước tính tổng số đốitượng cần được hưởng chế độ KCB người nghèo theo Quyết định 139 trongtoàn quốc là khoảng 14,6 triệu người Kinh phí dự toán năm 2003 cho 14,6triệu người nghèo với mức 70.000đ/người /năm là 1025 tỷ đồng, trong đó 769
tỷ đồng là từ ngân sách nhà nước và 256 tỷ đồng cần phải huy động từ nguồnkhác
Ngày 16/5/2005, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 63/2005/NĐ-CPthay thế NĐ58 Theo đó người nghèo được quy định là đối tượng tham giaBHYT bắt buộc với mức đóng là 50.000 đồng/ năm Nguồn kinh phí này là doNSNN cấp Như vậy Từ 01/07/2005 việc chăm sóc sức khoẻ cho người nghèochỉ thực hiện thông qua một hình thức duy nhất là BHYT Năm 2005 sốngười nghèo tham gia BHYT chỉ có 4,6 triệu người,nhưng sang năm 2006, sốngười nghèo tham gia BHYT đã tăng lên 14,97 triệu người tăng 3,2 lần so vớinăm 2005 Tính đến 31/12/2006, hầu hết các địa phương đều thực hiện BHYTcho người nghèo,chỉ còn 3 địa phưong chưa thực hiện ( Hoà Bình, Quảng Trị,Phú Yên ).Quyền lợi người nghèo khi đi KCB còn được mở rộng hơn trước,
cơ bản được thanh toán tất cả các chi phí KCB theo giá viện phí , bao gồm cảchi phí dịch vụ kỹ thuật cao, chi phí vận chuyển viện theo quy định
Sau 7 năm triển khai các giải pháp cơ bản về công tác khám chữa bệnhcho người nghèo vào thực tiễn cuộc sống đã đạt nhiều thành quả đáng trântrọng về công tác KCB và chăm sóc sức khỏe cho người nghèo cụ thể như :
Trang 13- Phân bố ngân sách y tế của nhà nước theo đầu người cho miền núivùng sâu, vùng xa có hệ số cao hơn (1,7 Lần ) so với vùng đồng bằng,thànhphố.Thực hiện trợ giá vận chuyển thuốc phòng và chữa bệnh,muối iốt,cấp tiềnthuốc (bình quân 2000 đồng/người ),cho người dân miền núi,vùng sâu vùng xa.
- Thành lập bệnh viện miễn phí (bệnh viện An Bình ,thành phố Hồ chíminh),phòng khám nhân đạo,phòng chẩn trị y học dân tộc của hội chữ thậpđỏ,của các tổ chức xã hội từ thiện trong và ngoài nước.Năm 1994,tại thànhphố Hồ Chí Minh đã lập hội bảo trợ bệnh viện miễn phí(Nay là hội bảo trợbệnh nhân nghèo ) để khám chữa bệnh cho người nghèo.Kết quả trong 6 năm(1994-2000) đã điều trị cho 600000 lượt bệnh nhân nghèo với nhiều loại bệnhkhác nhau và giúp hàng triệu bữa ăn miễn phí cho bệnh nhân nghèo ở bệnhviện với số quỹ đã quyên góp lên đến 70 tỷ đồng
- Các đơn vị trong nghành y tế cùng với tổ chức chính trị -xã hội trong
và ngoài nước thường xuyên tổ chức nhiều đợt khám chữa bệnh cho ngườinghèo như : Mổ mắt trung tâm thành phố Hồ Chí Minh ,của thành đoànTNCS Hồ Chí Minh,thủ đô Hà Nội các đợt phẫu thuật nụ cười cho các trẻ emnghèo ….Và rất nhiều hình thức phong phú và đa dạng khác được triển khai ởtất cả các địa phương trong phạm vi cả nước
-Cấp thẻ bảo hiểm y tế (ở Hái Phòng ,1993) thẻ T8 (ở Hà Nội ),cấp sốKCB cho người nghèo,theo giấy đề nghị của địa phương và xác nhận của bác
sĩ bệnh viện ở hầu hết các địa phương trong cả nước để miễn ,giảm viện phícho người nghèo cụ thể là :Theo tài liệu của vụ điều trị (Bộ Y Tế ) tỷ lệngười bệnh nghèo được miễn giảm viện phí chiếm từ 16,3%-22.4% tổng sốngười bênh.Với tổng số tiền miễn giảm là : năm 1995: 60.2 tỷ đồng mỗi,năm1996: 83,6 tỷ đồng,năm 1997: 103 tỷ đồng và năm 1999: 119 tỷ đồng
-Các hình thức người dân tự đóng góp quỹ y tế (bằng thóc,bằng tiền ) đểchữa bệnh ở xã,huyện như ở huyện Kim Bảng (Hà Nam ),huyện Mỹ Lộc(Nam Định Diễn Châu ( Nghệ an ) … Và rất nhiều hình thức tổ chức và mức
độ khác nhau để khám chữa bệnh cho nhân dân và người nghèo
Trang 14-Tuy vậy công tác khám chữa bệnh cho người nghèo vẫn còn nhiều vấn
đề bất cập như :việc xác định đối tượng người nghèo không phải dễ và kịpthời nên khó quyết định ai được miễn ai nên giảm và ai không được.Hiện naydựa vào chứng nhận của chính quyền địa phương nhiều khi do giám đốc bệnhviện quyết định khi bệnh nhân không thể trả
-Mạng lưới y tế khám chữa bệnh ở cơ sở chưa đảm bảo số lượng vàchất lượng (y tế thôn bản trạm y tế xã, bệnh viện thuộc trung tâm y tế huyện)đặc biệt ở miền núi, vùng sâu vùng xa Đa số người nghèo khi ốm đau chỉ cóthể KCB tại tuyến này, còn bệnh nặng phải lên tuyến trên, dù có được miễngiảm viện phí, thì người nghèo cũng không có điều kiện để lên tuyến trênchữa bệnh vì không có tiền để ăn, ở , tiền tàu xe cho bản thân người bệnh vànguười phục vụ đi theo nên phải chấp nhận về nhà và có thể tử vong
-Chưa có sự giám sát, đánh giá và đầy đủ về công tác KCB cho ngườinghèo để có sự điều chỉnh cần thiết , kịp thời những chính sách và cơ chếquản lý
-Các thủ tục hành chính để được miễn giảm, viện phí cho người nghèocòn phiền hà phức tạp khi đi KCB nếu chưa có thẻ bảo hiểm hay thẻ sứckhỏe.Có lúc số này lại nhiều hơn số bệnh nhân nghèo có thẻ được miễngiảm.Ví dụ :bệnh viện tỉnh Thái Bình,5 tháng đầu năm 2000 chỉ miễn giảmcho người nghèo có giấy xác nhận là 83 triệu đồng /43 triệu đồng cho ngườinghèo có thẻ )
-Người nghèo chưa được hưởng các dịch vụ khám chữa bệnh với kỹ thuậtcao hiện đại có một cách thỏa đáng.Như phải làm các xét nghiệm kỹ thuật vớihóa chất đắt tiền,nếu sử dụng cho người nghèo phải miễn giảm phí thì kinhphí của bệnh viện không chịu đựng nổi,nên dù xét nghiệm đó cần thiết choviệc chẩn đoán bệnh cũng không được chỉ định và nếu chỉ định cũng khôngđược miễn phí
-Chưa có quy định cụ thể trách nhiệm đóng góp của y tế tư nhân(cả y vàdược) trong việc hỗ trợ người nghèo KCB
Trang 15-Chưa có cơ chế KCB thống nhất tại cơ sở y tế để khắc phục sự phân biệtchất lượng chăm sóc đối với người giàu trả phí và người nghèo không trả phí