Giải pháp nhằm đẩy mạnh cung cấp dịch vụ công cho người lao động tại các khu công nghiệp.
Trang 1Chương I : Vai trò của cung ứng dịch vụ công đối với việc cải thiện đời sống người lao động ở các Khu công nghiệp
1, Một số vấn đề cơ bản về dịch vụ công
1 1 Quan niệm và phân loại dịch vụ công
Dịch vụ công (từ tiếng Anh là “public service”) có quan hệ chặt chẽ với phạm trù hàng hóa công cộng Theo ý nghĩa kinh tế học, hàng hóa công cộng có một số đặc tính cơ bản như:
1 Là loại hàng hóa mà khi đã được tạo ra thì khó có thể loại trừ ai ra khỏi việc sử dụng nó;
2 Việc tiêu dùng của người này không làm giảm lượng tiêu dùng của ngườikhác;
3 Không thể vứt bỏ được, tức là ngay khi không được tiêu dùng thì hàng hóa công cộng vẫn tồn tại Nói một cách giản đơn, thì những hàng hóa nào thỏa mãn cả ba đặc tính trên được gọi là hàng hóa công cộng thuần túy, và những hàng hóa nào không thỏa mãn cả ba đặc tính trên được gọi là hàng hóa công cộng không thuần túy
Khái niệm “dịch vụ công” được sử dụng phổ biến rộng rãi ở châu Âu sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai Theo quan niệm của nhiều nước, dịch vụ công luôn gắn với vai trò của nhà nước trong việc cung ứng các dịch vụ này
Từ giác độ chủ thể quản lý nhà nước, các nhà nghiên cứu hành chính cho rằng dịch vụ công là những hoạt động của cơ quan nhà nước trong việc thực thi chức năng quản lý hành chính nhà nước và đảm bảo cung ứng các hàng hóa công cộng phục vụ nhu cầu chung, thiết yếu của xã hội Cách hiểu này nhấn mạnh vai trò
và trách nhiệm của nhà nước đối với những hoạt động cung cấp hàng hóa công cộng Cách tiếp cận khác xuất phát từ đối tượng được hưởng hàng hóa công cộng cho rằng đặc trưng chủ yếu của dịch vụ công là hoạt động đáp ứng nhu cầu thiết yếu của xã hội và cộng đồng, còn việc tiến hành hoạt động ấy có thể do nhà nước hoặc
tư nhân đảm nhiệm Từ điển Petit Larousse của Pháp xuất bản năm 1992 đã định nghĩa: “dịch vụ công là hoạt động vì lợi ích chung, do cơ quan nhà nước hoặc tư nhân đảm nhiệm”
Khái niệm và phạm vi dịch vụ công có sự biến đổi tùy thuộc vào bối cảnh của mỗi quốc gia Chẳng hạn, ở Canada, có tới 34 loại hoạt động được coi là dịch vụ công, từ quốc phòng, an ninh, pháp chế, đến các chính sách kinh tế- xã hội (tạo việc làm, quy hoạch, bảo vệ môi trường, và các hoạt động y tế, giáo dục, văn hoá, bảo hiểm xã hội,…) Trong khi đó, Pháp và Italia đều quan niệm dịch vụ công là những hoạt động phục vụ nhu cầu thiết yếu của người dân do các cơ quan nhà nước đảm
Trang 2nhiệm hoặc do các tổ chức tư nhân thực hiện theo những tiêu chuẩn, quy định của nhà nước Tuy vậy, ở mỗi nước lại có nhận thức khác nhau về phạm vi của dịch vụ công Ở Pháp, khái niệm dịch vụ công được hiểu rộng, bao gồm không chỉ các hoạt động phục vụ nhu cầu về tinh thần và sức khoẻ của người dân (như giáo dục, văn hoá, y tế, thể thao…, thường được gọi là hoạt động sự nghiệp), các hoạt động phục
vụ đời sống dân cư mang tính công nghiệp (điện, nước, giao thông công cộng, vệ sinh môi trường, thường được gọi là hoạt động công ích), hay các dịch vụ hành chính công, bao gồm hoạt động của cơ quan hành chính về cấp phép, hộ khẩu, hộ tịch,… mà cả hoạt động thuế vụ, trật tự, an ninh, quốc phòng…; còn ở Italia dịch vụ công được giới hạn chủ yếu ở hoạt động sự nghiệp (y tế, giáo dục) và hoạt động kinh tế công ích (điện, nước sạch, vệ sinh môi trường) và các hoạt động cấp phép, hộ khẩu, hộ tịch do cơ quan hành chính thực hiện
Trong thực tế ở Việt Nam, khái niệm dịch vụ công được hiểu theo nghĩa hẹp hơn
so với quốc tế; tức là không bao gồm các chức năng công quyền, như lập pháp, hành pháp, tư pháp, an ninh, quốc phòng, ngoại giao Xét về phạm vi thì khái niệm dịch vụ công theo nghĩa rộng mà quốc tế thường dùng bao gồm hầu như toàn bộ khu vực hành chính - sự nghiệp (theo cách gọi thông dụng ở Vịêt Nam) Còn khái niệm dịch vụ công theo nghĩa hẹp mà Việt Nam đang dùng thì có phạm vi gần trùng với khu vực sự nghiệp cộng với những dịch vụ hành chính công
Có thể thấy rằng khái niệm và phạm vi các dịch vụ công cho dù được tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau, chúng đều có tính chất chung là nhằm phục vụ cho nhu cầu và lợi ích chung thiết yếu của xã hội, của cộng đồng dân cư và nhà nước có trách nhiệm đảm bảo các dịch vụ này cho xã hội Ngay cả khi nhà nước chuyển giao một phần việc cung ứng dịch vụ công cho khu vực tư nhân thì nhà nước vẫn có vai trò điều tiết nhằm đảm bảo sự công bằng trong phân phối các dịch vụ này và khắc phục các bất cập của thị trường
Từ những tính chất trên đây, dịch vụ công có thể được hiểu là những hoạt động phục vụ nhu cầu thiết yếu của xã hội, vì lợi ích chung của cộng đồng, của xã hội, do nhà nước trực tiếp đảm nhận hay ủy quyền và tạo điều kiện cho khu vực tư nhân thực hiện
+ Phạm vi dịch vụ công: Phạm vi các dịch vụ công biến đổi tuỳ thuộc thể chế
của từng nước, ở từng thời kỳ liên quan đến mức sống của người dân tương ứng với trình độ phát triển kinh tế Chính vì vậy, áp đặt một chuẩn mực chung cứng nhắc cho mọi nước là điều không thể Có những nước quan niệm phạm vi dịch
vụ công rất rộng, theo đó toàn bộ mọi hoạt động của nhà nước đều được coi là dịch
Trang 3vụ công Chẳng hạn, ở Canađa có tới 34 loại hoạt động được coi là dịch vu công,
từ quốc phòng, an ninh, pháp chế, đến các chính sách kinh tế- xã hội (tạo việc làm, quy hoạch, bảo vệ môi trường, và các hoạt động y tế, giáo dục, văn hoá, bảo
hiểm xã hội,…) Tương tự như vậy, ThuỵĐiển phân cấp rõ những dịch vụ công
mà từng cấp chính quyền phải đảm nhiệm, trong đó đặc biệt chú ý các dịch vụ
công về phúc lợi công cộng hoàn toàn miễn phí (như bảo hiểm thất nghiệp, trợ cấp
xã hội,…) Nhìn chung, các nước đều đặc biệt coi trọng các hoạt động chăm sóc y tế và giáo dục đào tạo
Việc bao quát phạm vi rất rộng về dịch vụ công như trên là xu thế phát triển chung về lâu dài, song trước mắt chỉ phù hợp với những nước có trình độ phát triển cao Đối với nhóm nước còn đang ở trình độ phát triển thấp như Việt Nam, chúng ta nên tập trung nhiều hơn vào chức năng phục vụ xã hội của nhà nước Từ
đó, làm hẹp hơn phạm vi dịch vụ công, tập trung vào các lợi ích chung cấp thiết nhất của người dân, đảm bảo cuộc sống ổn định và an toàn Điều quan trọng là chúng ta phải sớm tách hoạt động dịch vụ công (lâu nay gọi là hoạt động sự nghiệp) ra khỏi hoạt động hành chính công quyền như chủ trương của Chính phủ đã đề ra, nhằm xoá bỏ cơ chế bao cấp, giảm tải cho bộ máy nhà nước, khai thác mọi nguồn lực tiềm tàng trong xã hội, và nâng cao chất lượng của dịch
vụ công phục vụ người dân
+ Các loại dịch vụ công: Cần thiết phải có sự phân loại đúng đắn các hình thức
dịch vụ công để hình thành cơ chế quản lý phù hợp Thí dụ, đối với các loại hình dịch
vụ công quan trọng nhất, thiết yếu nhất như y tế, giáo dục, cơ sở hạ tầng, xóa đói giảm nghèo…, nhà nước có trách nhiệm dành cho chúng những nguồn lực ưu tiên Dịch vụ công có thể phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau, xét theo tính chất của dịch vụ, hoặc theo các hình thức dịch vụ cụ thể,… Thí dụ, xét theo tiêu chí chủ thể cung ứng, dịch vụ công được chia thành ba loại, như sau:
- Dịch vụ công do cơ quan nhà nước trực tiếp cung cấp: Đó là những dịch vụ công cộng cơ bản do các cơ quan của nhà nước cung cấp Thí dụ, an ninh, giáo dục phổ thông, chăm sóc y tế công cộng, bảo trợ xã hội,…
-Dịch vụ công do các tổ chức phi chính phủ và khu vực tư nhân cung cấp, gồm những dịch vụ mà Nhà nước có trách nhiệm cung cấp, nhưng không trực tiếp thực hiện mà uỷ nhiệm cho tổ chức phi chính phủ và tư nhân thực hiện, dưới sự đôn đốc, giám sát của nhà nước Thí dụ, các công trình công cộng do chính phủ gọi thầu
có thể do các công ty tư nhân đấu thầu xây dựng
- Dịch vụ công do tổ chức nhà nước, tổ chức phi chính phủ, tổ chức tư nhân phối hợp thực hiện Loại hình cung ứng dịch vụ này ngày càng trở nên phổ biến ở
Trang 4nhiều nước Như ở Trung quốc, việc thiết lập hệ thống bảo vệ trật tự ở các khu dân
cư là do cơ quan công an, tổ chức dịch vụ khu phố và ủy ban khu phố phối hợp thực hiện
Dựa vào tính chất và tác dụng của dịch vụ được cung ứng, có thể chia dịch vụ công thành các loại như sau:
- Dịch vụ hành chính công: Đây là loại dịch vụ gắn liền với chức năng quản lý nhà nước nhằm đáp ứng yêu cầu của người dân Do vậy, cho đến nay, đối tượng cung ứng duy nhất các dịch vụ công này là cơ quan công quyền hay các cơ quan do nhà nước thành lập được ủy quyền thực hiện cung ứng dịch vụ hành chínhcông Đây là một phần trong chức năng quản lý nhà nước Để thực hiện chức năng này, nhà nước phải tiến hành những hoạt động phục vụ trực tiếp như cấp giấy phép, giấy chứng nhận, đăng ký, công chứng, thị thực, hộ tịch,… (Ở một số nước, dịch vụ hành chính công được coi là một loại hoạt động riêng, không nằm trong phạm vi dịch vụ công Ở nước ta, một số nhà nghiên cứu cũng có quan điểm như vậy) Người dân được hưởng những dịch vụ này không theo quan hệ cung cầu, ngang giá trên thị trường,
mà thông qua việc đóng lệ phí hoặc phí cho các cơ quan hành chính nhà nước Phần lệ phí này mang tính chất hỗ trợ cho ngân sách nhà nước
- Dịch vụ sự nghiệp công: Bao gồm các hoạt động cung cấp phúc lợi xã hội thiết yếu cho người dân như giáo dục, văn hóa, khoa học, chăm sóc sức khoẻ, thể dục thể thao, bảo hiểm, an sinh xã hội,…( Sự nghiệp là một từ gốc Trung quốc, được dùng theo nhiều nghĩa Theo nghĩa hẹp, từ ‘sự nghiệp” dùng để chỉ những hoạt động chuyên môn nhằm đáp ứng những nhu cầu của xã hội và cá nhân con người, chủ yếu
là về những lĩnh vực liên quan đến sự phát triển con người về văn hoá, tinh thần và thể chất) Xu hướng chung hiện nay trên thế giới là nhà nước chỉ thực hiện những dịch vụ công nào mà xã hội không thể làm được hoặc không muốn làm, nên nhà nước đã chuyển giao một phần việc cung ứng loại dịch vụ công này cho khu vực tư nhân và các tổ chức xã hội
- Dịch vụ công ích: Là các hoạt động cung cấp các hàng hoá, dịch vụ cơ bản,thiết yếu cho người dân và cộng đồng như : vệ sinh môi trường, xử lý rác thải, cấp nước sạch, vận tải công cộng đô thị, phòngchống thiên tai…chủ yếu do các doanh nghiệp nhà nước thực hiện Có một số hoạt động ở địa bàn cơ sở do khu vực tư nhân đứng ra đảm nhiệm như vệ sinh môi trường, thu gom vận chuyển rác thải ở một
số đô thị nhỏ, cung ứng nước sạch ở một số vùng nông thôn…
Tuy nhiên các nhà quản lý đô thị lại có định nghĩa khác về dịch vụ công cộng như
sau:
Trang 5Dịch vụ công cộng là từ thường được dùng để chỉ các dịch vụ mà chính phủ cung
ứng cho các công dân của mình, có thể là trực tiếp thông qua khu vực công hay là cấp tài chính cho khu vực tư nhân cung ứng Từ này kết hợp với một sự đồng thuận
xã hội rằng một số dịch vụ trong đó phải đến được với tất cả mọi người, bất kể thu nhập bao nhiêu Cho dù dịch vụ công cộng không phải do chính phủ cung ứng hay cấp tài chính đi nữa nhưng vì các lý do xã hội và chính trị mà chúng vẫn có khuôn khổ pháp lý khác với phần lớn các ngành kinh tế khác…và chúng có thể gắn với quyền cơ bản của con người (như quyền được cấp nước)
Tại các nước phát triển hiện đại, dịch vụ công cộng thường bao gồm (theo Wikipedia)1:
1 Truyền thanh, truyền hình 9 Vận tải công cộng
2 Giáo dục 10 Nhà ở xã hội
3 Cấp điện 11 Viễn thông
4 Cứu hoả 12 Quy hoạch đô thị
5 Cấp khí đốt 13 Quản lý rác
6 Y tế 14 Cấp nước
7 Quân sự 15 Thư viện, lưu trữ
8 Cảnh sát 16 Dịch vụ xã hội
Trong số các dịch vụ công cộng trong đô thị, có những dịch vụ cơ bản gọi là dịch
vụ thị chính (municipal services), bao gồm vệ sinh ( nước thải, rác), cấp nước, đường phố (streets),trường học, thanh tra thực phẩm, một số dịch vụ y tế và vận tải, cấp điện, khí đốt, chiếu sáng công cộng và truyền hìnhv v
1 2 Các đặc điểm chính cuả dịch vụ công
- Dịch vụ công có tính xã hội, với mục tiêu chính là phục vụ lợi ích cộng đồng, bảo đảm công bằng và ổn định xã hội Từ đó có thể thấy tính kinh tế, lợi nhuận không phải là điều kiện tiên quyết chi phối hoạt động dịch vụ công
- Dịch vụ công phục vụ yêu cầu của tất cả công dân, không phân biệt giai
cấp, địa vị xã hội và mang tính quần chúng rộng rãi Mọi người dân đều có quyền
ngang nhau trong việc tiếp cận các dịch vụ công với tư cách là đối tượng phục vụ của nhà nước
- Dịch vụ công cung ứng loại “hàng hóa” không phải bình thường mà
là hàng hóa đặc biệt do nhà nước cung ứng hoặc ủy nhiệm cho tổ chức, cá nhân thực hiện, đáp ứng nhu cầu toàn xã hội, bất kể các sản phẩm được tạo ra có hình thái hiện vật hay phi hiện vật
1 http://www vncold vn/Web/Content aspx?distid=2203 Khái niệm chung về dịch vụ công cộng và không gian dịch vụ công cộng 26/1/2010
Trang 6- Việc trao đổi dịch vụ công không thông qua quan hệ thị trường đầy đủ Thông thường, người sử dụng dịch vụ công không trực tiếp trả tiền, hay đúng hơn
là đã trả tiền dưới hình thức đóng thuế vào ngân sách nhà nước Cũng có những dịch vụ công mà người sử dụng vẫn phải trả một phần hoặc toàn bộ kinh phí; song nhà nước vẫn có trách nhiệm đảm bảo cung ứng các dịch vụ này không nhằm mục tiêu lợi nhuận
Với những đặc điểm như vậy của dịch vụ công, chúng ta thấy rằng cung ứng loại dịch vụ này một cách có hiệu quả không phải là một vấn đềđơn giản Nhà nước phải xác định rõ loại dịch vụ nào nhà nước cần giữ vai trò cung ứng chủ đạo, loại dịch vụ nào cần chuyển giao cho khu vực tư nhân và các tổ chức xã hội, loại dịch vụ nào nhà nước và khu vực tư nhân có thể phối hợp cung ứng và vai trò điều tiết, quản lý của nhà nước về vấn đề này như thế nào Kinh nghiệm của nhiều nước những năm qua cho thấy rằng, trong cung ứng dịch vụ công, nhà nước chỉ trực tiếp thực hiện những dịch vụ công nào mà xã hội không thể làm được và không muốn làm Nếu nhà nước không chuyển giao việc cung ứng dịch vụ công ở các lĩnh vực thích hợp cho khu vực phi nhà nước và cải cách việc cung ứng dịch
vụ công của các cơ quan nhà nước, thì hiệu quả cung ứng dịch vụ công về tổng thể sẽ bị giảm sút, ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống của người dân và sự phát triển chung của toàn xã hội
1 3 Nguyên tắc cung ứng dịch vụ công
Việc cung ứng các dịch vụ công được tiến hành theo những nguyên tắc sau đây:
-Nhà nước có trách nhiệm bảo đảm việc cung ứng các dịch vụ công cho xã hội : Do các tính chất đặc thù của dịch vụ công như trên,nhà nước có trách nhiệm bảo đảm cung ứng dịch vụ công cho xã hội Bảo đảm cung ứng ở đây nghĩa là nhà nước có thể trực tiếp đứng ra cung ứng hoặc uỷ quyền cho các tổ chức hay cá nhân cung ứng ,song nhà nước có biện pháp kiểm tra và duy trì việc cung ứng đó theo đúng yêu cầu đề ra
-Nhà nước đảm bảo cung ứng đều đặn các dịch vụ công nhằm duy trì đời sống bình thường của người dân Như trên đã nêu,dịch vụ công nhằm phục vụ các nhu cầu tối cần thiết của xã hội,bảo đảm cho cuộc sống diễn ra bình thường và an toàn Nếu một loại dịch vụ công bất kỳ nào đó bị ngừng cung ứng trong một thời gian,thì sẽ dẫn đến sự rối loạn trong hoạt động và sinh hoạt của các tổ chức và công dân Vì vậy,nhà nước có trách nhiệm duy trì sự cung ứng đều đặn và đầy đủ các dịch vụ công cho xã hội Đương nhiên,mức độ cung ứng đầy đủ các dịch vụ công đến đâu là tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế và năng lực quản lý của nhà nước
-Mọi người dân có quyền lợi và nghĩa vụ ngang nhau trong việc hưởng thụ
Trang 7các dịch vụ công Sự hưởng thụ các dịch vụ công là do nhà nước cung cấp,bất luận
ở lĩnh vực nào đều theo nguyên tắc bình đẳng,công bằng xã hội Các dịch vụ công
là những hang hoá công cộng xét theo nghĩa rộng,có nghĩa là khó có thể loạ trừ ai ra khỏi việc tiêu dùng hàng hoá đó và việc một cá nhân tiêu dùng nó không ảnh hưởng đến sự tiêu dùng của cá nhân khác Ngay cả những hàng hoá công cộng có tính cá nhân cũng là những hàng hoá không nhằm mục tiêu lợi nhuận và nhà nước có nghĩa
vụ cung ứng vì lợi ích của cộng đồng Vì vậy,về nguyên tắc,mọi người đều có quyền ngang nhau trong việc tiếp cận đến dịch vụ công đó
-Việc cung ứng dịch vụ công không nhằm mục tiêu lợi nhuận Ở bất kỳ quốc gia nào ,trách nhiệm cung ứng dịch vụ công đều thuộc về nhà nước,là nghĩa vụ của nhà nước đối với xã hội,không vì mục tiêu lợi nhuận Nói cách khác, đó là chức năng vốn có của nhà nước,là “trách nhiệm chính trị,pháp lý và đạo lý của nhà nước đối với dân cư của mình,qua sự uỷ nhiệm,tín nhiệm của dân,qua số tiền thuế mà nhân dân đóng góp vào ngân sách
- Nhà nước huy động các nguồn lực trong xã hội vào việc cung ứng các dịch
vụ công Tuy nhà nước có trách nhiệm đảm bảo cung ứng cho xã hội các dịch vụ công,song để có nguồn kinh phí tạo ra các dịch vụ công đó,Nhà nước phải huy động mọi nguồn lực trong xã hội,bao gồm các nguồn lực thông qua ngân sách nhà nước
và cả các nguồn lực ngoài ngân sách đối với một số loại dịch vụ có tính chất tiêu dùng cá nhân
1 4 Yêu cầu đối với việc cung ứng dịch vụ công
1 4 1 Yêu cầu chung
-Tạo sự thuận lợi tối đa cho người dân Trước đây,nhà nước cung ứng các dịch vụ công cho công dân không phải với tinh thần phục vụ ,mà theo cơ chế xin-cho Từ đó nảy sinh cung cách quan liêu ,cửa quyền ,gây phiền hà cho dân và tệ nạn hối lộ Xu thế mới trong cải cách hành chính ở mọi quốc gia trên thế giới trong giai đoạn hiện nay là phải tạo ra sự thuận lợi cho người dân, đáp ứng nhu cầu của người dân chứ không phải chỉ cốt thuận tiện cho người dân cung cấp dịch vụ
-Bảo đảm sự phân công,phân cấp trách nhiêm,thẩm quyền rõ ràng của các cơ quan và tổ chức cung ứng dịch vụ công Việc phân định rõ thẩm quyền,trách nhiệm của các cơ quan,tổ chức tạo ra sự rõ ràng,rành mạch trong hoạt động,tránh sự trùng lặp về chức năng,nhiệm vụ giữa các cơ quan trong bộ máy nhà nước Đây là yêu cầu quan trọng trong việc tổ chức hệ thống cung ứng dịch vụ công
-Hoạt động của bộ máy hành chính thông suốt Một bộ máy hành chính phải thông suốt để giải quyết nhanh chóng,hợp lý và có trình tự tất cả những công việc của dân Tính thông suốt ở đây không chỉ thể hiện ở chức năng nhiệm vụ của các tổ
Trang 8chức được quy định rõ ràng,mà còn ở chỗ mối quan hệ qua lại phối hợp ăn khớp giữa các cơ quan cũng như trong nội bộ từng cơ quan trong việc thực hiện các dịch
vụ công
-Thủ tục hành chính rõ ràng,công khai,khoa học Mối quan hệ giữa nhà nước với các tổ chức và công dân thể hiện trực tiếp ở việc nhà nước cung ứng dịch vụ công Cải tiến các thủ tục hành chính là khâu quan trọng nhằm cải thiện mối quan
hệ giữa nhà nước và nhân dân,làm cho nhân dân tin tưởng vào nhà nước
-Chịu sự kiểm tra ,giám sát của nhân dân Việc cung ứng dịch vụ công phải được đặt dưới sự kiểm tra,giám sát của nhân dân Đó không phải là việc riêng của các cơ quan và công chức nhà nước ,là sự ban hành của nhà nước cho nhân dân Trong xu thế dân chủ hoá đời sống xã hội,quyền dân chủ của người dân được phát huy trước hết là trong việc tham gia vào các công việc quản lý của nhà nước,trong
sự kiểm tra,giám sát hoạt động của bộ máy nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy này
-Công chức có chuyên môn,có thái độ phục vụ chu đáo,không cửa quyền,sách nhiễu Đội ngũ công chức vừa là chủ thể của cải cách,vừa là đối tượng của cải cách Cải cách hành chính có sự tác động sâu sắc đên đội ngũ công chức, đòi hỏi không chỉ nâng cao trình độ,năng lực đội ngũ này mà còn đòi hỏi sự thay đổi cơ bản thái độ phục vụ của công chức đối với nhân dân
1 4 2 Các yêu cầu với một số lĩnh vực cơ bản
a Nhà ở xã hội
Khái niệm nhà ở xã hội còn khá mới ở Việt Nam hiện nay Nhà ở xã hội được xây dựng để đảm bảo nhu cầu về chỗ ở cho những người thuộc diện ưu tiên,người có thu nhập thấp Cần phải xác định đúng đối tượng và đúng mục đích sử dụng để đảm bảo tính công bằng trong việc phân phối nhà ở xã hội Tuy nhiên,nhà
ở xã hội cũng cần đảm bảo chất lượng và có mức giá bán hoặc cho thuê phù hợp để tạo điều kiện cho người dân tiếp cận và mong muốn sử dụng
b Giáo dục- đào tạo
Giáo dục đào tạo là một lĩnh vực cơ bản của dịch vụ công cộng,mọi người không phân biệt giới tính,tôn giáo,độ tuổi đều có quyền được học tập,nghiên cứu Quyền công dân đã ghi rõ :
- Học tập là quyền và nghĩa vụ của công dân ;
- Bậc tiểu học là bắt buộc, không phải trả học phí
- Công dân có quyền học văn hoá và học nghề bằng nhiều hình thức
Hiện nay, Nhà nước đã đặt mục tiêu bảo đảm hầu hết trẻ em năm tuổi ở mọi vùng miền được đến lớp để thực hiện chăm sóc, giáo dục 2 buổi/ngày, đủ một năm
Trang 9học, nhằm chuẩn bị tốt về thể chất, trí tuệ, tình cảm, thẩm mỹ, tiếng Việt và tâm lý sẵn sàng đi học, bảo đảm chất lượng để trẻ em vào lớp 1,thực hiện chính sách phổ cập giáo dục tiểu học bắt buộc từ lớp 1 đến hết lớp 5 đối với tất cả trẻ em Việt Nam trong độ tuổi từ 6 đến 14 tuổi Tiến tới năm 2010 sẽ phổ cập giáo dục bậc Trung học cơ sở trên toàn quốc Cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, gia đình, công dân có trách nhiệm tham gia vào việc thực hiện phổ cập giáo dục
Mọi công dân thuộc mọi tầng lớp trong xã hội đều được tạo điều kiện một cách công bằng nhất trong việc tiếp cận với giáo dục Tỷ lệ trẻ em được đến trường đúng độ tuổi phản ánh rõ nhất điều này Ngoài ra,điều kiện cơ sở vật chất của trường học và chất lượng giáo viên cũng là những tiêu chí để đánh giá chất lượng giáo dục
c Y tế
Dịch vụ y tế là một dịch vụ khá đặc biệt Về bản chất, dịch vụ y tế bao gồm các hoạt động được thực hiện bởi nhân viên y tế như khám, chữa bệnh phục vụ bệnh nhân và gia đình Thực tế, người bệnh ít khi đánh giá chính xác chất lượng dịch vụ y tế mặc dù họ có thể cảm nhận qua tiếp xúc với nhân viên y tế, trang thiết
bị, cơ sở vật chất Một người bệnh được phẫu thuật khó lòng biết được “chất lượng” của ca mổ như thế nào, ngoại trừ cảm giác đau sau mổ và vết mổ được nhìnthấy
Chất lượng dịch vụ y tế bao gồm hai thành phần: chất lượng kỹ thuật(technical quality) và chất lượng chức năng (functional quality) Chất lượng kỹ thuật là sự chính xác trong kỹ thuật chẩn đoán và điều trị bệnh Chất lượng chức năng bao gồm các đặc tính như: cơ sở vật chất bệnh viện, giao tiếp với nhân viên y tế, cách thức tổ chức quy trình khám chữa bệnh mà người bệnh phải thực hiện, cách thức bệnh viện chăm sóc người bệnh…Chỉ có nhân viên trong ngành y tế là những người được trang bị đủ kiến thức để có thể đánh giá chất lượng kỹ thuật của dịch vụ y tế Người bệnh hiếm khi có khả năng nhận định và đánh giá chất lượng kỹ thuật Trong đa số các trường hợp, người bệnh đánh giá dịch vụ y tế dựa vào chất lượng chức năng hơn là chất lượng kỹ thuật
Dịch vụ y tế có được cung ứng tốt hay không,có thể được đánh giá qua tình trạng khám chữa bệnh và sức khoẻ của người dân Công dân có quyền được hưởng chế
độ bảo vệ sức khoẻ Nhà nước quy định chế độ viện phí, chế độ miễn, giảm viện phí Công dân có nghĩa vụ thực hiện các quy định về vệ sinh phòng bệnh và vệ sinh công cộng Bảo hiểm xã hội ,bảo hiểm y tế cần được phổ biến sâu rộng ,nhất là đối với lao động phổ thông
d Các hoạt động văn hoá
Trang 10Chăm lo đời sống tinh thần cho người dân chính là chăm lo nguồn lực cho xã hội trước mắt và lâu dài Nhà nước phải đảm bảo các hoạt động văn hóa góp phần xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến,đậm đà bản sắc dân tộc,đáp ứng tốt nhu cầu hưởng thụ văn hoá của nhân dân,khơi dậy được ý thức tự giác,nhập thân văn hoá của mỗi con người Mọi người dân ở tất cả các vùng miền được hưởng thụ nhiều loại hình văn hoá,xoá đi những « điểm trắng » về văn hoá,tạo nên sinh khí và sắc thái mới trong đời sống xã hội
1 5 Vai trò của Chính phủ trong việc cung ứng dịch vụ công
Chúng ta đều biết rằng, nhà nước của bất kỳ chế độ nào cũng bao gồm hai chức năng cơ bản: chức năng quản lý (hay còn gọi là chức năng cai trị) và chức năng phục vụ (hay còn gọi là chức năng cung cấp dịch vụ cho xã hội) Hai chức năng này thâm nhập vào nhau, trong đó chức năng phục vụ là chủ yếu, chức năng quản lý xét đến cùng cũng nhằm phục vụ Với chức năng phục ở các phần trên, nhà nước có trách nhiệm cung ứng các dịch vụ công thiết yếu cho xã hội Bên cạnh đó, với chức năng quản lý, nhà nước phải thực hiện vai trò quản lý và điều tiết xã hội nói chung, trong đó có vấn đề dịch vụ công Nhà nước bằng quyền lực của mình, thông qua các công cụ quản lý vĩ mô như pháp luật, quy hoạch, kế hoạch, chính sách, để quản lý
và điều tiết hoạt động cung ứng dịch vụ công, qua đó làm tăng hiệu quả cung ứng dịch
vụ công trong toàn xã hội
- Nhà nước hỗ trợ, khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức tự quản của cộng đồng tham gia cung ứng dịch vụ công
Vai trò này vượt ra khỏi phạm vi quản lý nhà nước thuần túy, xuất phát từ việc xác định trách nhiệm cao nhất và đến cùng của nhà nước trong lĩnh vực dịch vụ công không có nghĩa là nhà nước phải trực tiếp cung ứng toàn bộ các dịch vụ này Thực hiện vai trò này, nhà nước cần hoàn thiện cơ chế, chính sách khuyến khích tư nhân, các doanh nghiệp và các tổ chức xã hội của người dân tham gia cung ứng dịch
vụ công Cơ chế, chính sách ấy bao gồm: vạch rõ những lĩnh vực dịch vụ cần khuyến khích sự tham gia của khu vực phi nhà nước, chính sách hỗ trợ tài chính, chính sách thuế, các điều kiện vật chất, các chính sách đào tạo, kiểm tra và kiểm soát, Nhà nước cần tạo ra một môi trường pháp lý chung cho tất cả các đơn vị cung ứng dịch vụ công, đảm bảo một sân chơi bình đẳng cho tất cả các nhà cung ứng dịch vụ công
- Nhà nước quản lý, kiểm tra, giám sát hoạt động của các cơ sở ngoài nhà nước cung ứng dịch vụ công
Xét cho cùng, nhà nước vẫn là người chịu trách nhiệm cuối cùng trước xã hội về số lượng cũng như chất lượng dịch vụ công, kể cả các dịch vụ công được thực hiện bởi
Trang 11các công ty tư nhân hay các tổ chức kinh tế-xã hội Trong khi đó, đối với các công
ty tư nhân, các tổ chức, cá nhân đảm nhận các dịch vụ công, lợi ích của chính bản thân họ không phải bao giờ cũng thống nhất với lợi ích của nhà nước, của xã hội Vì vậy, nhà nước phải tạo ra cơ chế để các tác nhân bên ngoài nhà nước khi đảm nhận các dịch vụ công thực hiện mục tiêu xã hội Xây hiệu quả, đồng thời tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh nhằm không ngừng cải tiến việc cung ứng dịch vụ công cho xã hội Điều cốt lõi là nhà nước phải cân nhắc, tính toán và giải quyết thỏa đáng mối quan hệ giữa lợi ích của nhà nước, của xã hội với lợi ích của tổ chức và cá nhân tham gia cung ứng dịch vụ công
2 Cung cấp dịch vụ công cho người lao động trong các Khu công nghiệp
2 1 Các khu công nghiệp ở Việt Nam
2 1 1 Khái niệm về các Khu công nghiệp
KCN đầu tiên được thành lập vào 1896 ở Manchester(Anh),và phát triển bùng
nổ vào thập kỷ 50,60 của thế kỷ trước ở các nước công nghiệp KCN đầu tiên tại châu Á được thành lập năm 1951 tại Singapore,phát triển nhanh chóng vào thập kỷ 60,70 của thế ký trước ở các nước công nghiệp hoá thế hệ sau như :Hàn Quốc, Đài Loan,Malaysia,Thái Lan KCX Tân Thuận-tp Hồ Chí Minh là KCN đầu tiên tại Việt Nam được thành lập năm1991 Hiện cả nước có 236 KCN, trong đó có 133 khu đã đi vào hoạt động Các KCN này đã tạo công ăn việc làm cho trên 1,1 triệu lao động
KCN đã có lịch sử trên 100 năm phát triển,có thể dưới những tên gọi khác nhau gắn với những đặc thù của ngành sản xuất,nhưng chúng đều có những tính chất, đặc trưng chung của KCN Nhưng đến nay nhận thức và khái niệm về KCN vẫn có nhiều tranh luận ,chưa thống nhất và còn những quan niệm khác nhau Có thể khái quát những loại quan niệm sau về KCN:
+Thứ nhất : KCN là thành phố công nghiệp,một cộng đồng hoàn chỉnh, được quy hoạch đầy đủ các tiện nghi đa dạng,có hệ thống cơ sở hạ tầng hoàn hảo,hệ thống xử lý nước thải,hệ thống thương mại,hệ thống thông tin liên lạc,bệnh viện,trường học và khu chung cư…
Quan niệm về KCN trên là của các nhà quản lý và một số các nhà kinh tế học các nước công nghiệp thế hệ thứ hai Đông Nam Á KCN đồng nhất với thành phố công nghiệp trên giác độ quy hoạch tổng thể một không gian kinh tế với những điều kiện cần thiết cho các sinh hoạt của cộng đồng
+Thứ hai: từ một cách tiếp cận khác,Hiệp hội khu chế xuất thế giới(WEPZA) định nghĩa :KCX là khu vực tự do,do chính phủ xây dựng để xúc tiến các mục tiêu
Trang 12chính sách đc áp dụng thí điểm đột phá Khác với chính sách áp dụng cho khu nội địa,phần lớn các chính sách áp dụng là cởi mở hơn
Theo cách hiểu này về KCX,một mặt nó là khu vực tự do kinh tế,mặt khác cũng xác định rõ chủ thể và mục tiêu xây dựng KCX là gắn liền với các quan hệ kinh tế đối ngoại
+Thứ ba: tổ chức phát triển công nghiệp Liên hiệp quôc(UNIDO) cho rằng,KCX
là khu vực sản xuất công nghiệp,giới hạn ở hành chính,về địa lý, được chế độ thuế quan cho phép tự do nhập trang thiết bị và sản phẩm nhằm mục đích sản xuất sản phẩm xuất khẩu,chế độ thuế quan được ban hành,cùng với những quy định về luật pháp ưu đãi nhằm thu hút đầu tư nước ngoài
Quan niệm của UNIDO về KCX đã đạt đến mức khá đầy đủ và hoàn thiện về các mặt,cả về tính chất hoạt động kinh tế,không gian tổ chức hoạt động kinh tế và mục tiêu hoạt động kinh tế
+Thứ tư : Quan niệm của Việt Nam:KCN là khu tập trung,các doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp,có ranh giới địa lý xác định,không có dân cư sinh sống,do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập Trong KCN có thể có doanh nghiệp chế xuất KCX là KCN tập trung các doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu,thực hiện các dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu có ranh giới địa lý xác định ,không có dân cư sinh sống do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập
KCN là cấu trúc kinh tế khá phức tạp, để tìm hiểu mô hình định hướng phát triển các KCN,trước hết cần phải phân loại các KCN để có sự nhận diện
về những loại KCN cụ thể Tuỳ thuộc vào mục đích nghiên cứu KCN,người
ta có các tiếp cận phân loại khác nhau:
-Dựa vào tính chất ngành nghề chia thành:KCN chuyên ngành,KCN đa ngành,KCN sinh thái
-Căn cứ vào quy mô:KCN chia thành KCN quy mô lớn,KCN quy mô vừa và KCN quy mô nhỏ
-Dựa vào đặc thù của từng đối tượng quản lý KCN lại được phân thành:KCN tập trung,KCN chế xuất,KCN công nghệ cao
-Phân theo cấp quản lý tương ứng với 3 cấp quản lý nhà nước có các loại KCN: KCN do Chính phủ thành lập,KCN do tỉnh,thành phố thành lập,cụm CN
do huyện thị thành lập
Dù phân loại KCN theo những tiêu chí khác nhau,song tựu trung lại ở nước ta hiện có các loại KCN sau:
Trang 13-Loại thứ nhât là:KCN được thành lập dựa trên cơ sở các xí nghiệp công nghiệp hiện có dự trên cơ sở cải tạo hoàn thiện kết cấu hạ tầng và bảo vệ môi trường
-Loại thứ hai là: KCN hình thành do giải toả các xí nghiệp đơn lẻ ,kỹ thuật lạc hậu để chỉnh trang lại đ« thị và chốn ô nhiễm môi trường
-Loại thứ ba:KCN(cụm CN)hình thành để thu hút vốn các doanh nghiệp vừa
và nhỏ thuộc các ngành công nghiệp chế biến nông sản,sản xuất hàng tiêu dùng hoặc phát triển làng nghề truyền thống
-Loại thứ tư là: KCN có quy mô lớn, tập trung, hiện đại do Chính phủ thành lập
Nhìn chung các KCN ở nước ta hiện nay khá đa dạng về ngành nghề,lĩnh vực hoạt động, đa dang về thành phần kinh tế và đa dạng cả về quy mô và trình độ Tính chất đa dạng hoá phát triển các KCN ở nước ta hiện nay,một mặt cho phép phát triển ngành nghề,khai thác tiềm năng,tạo nhiều việc làm và thu nhập cho người lao động,mặt khác tạo khả năng thu hút các nguồn vốn,khoa học kỹ thuật tiên tiến và công nghệ quản lý hiện đại, đặc biệt là đối với các nhà đầu tư lớn với công nghệ nguồn
Các Khu công nghiệp,khu chế xuất là mô hình kinh tế tổng hợp, năng động, có vai trò hết sức quan trọng trong sự nghiệp CNH, HĐH và phát triển KT-XH của đất nước Việc xây dựng và phát triển các KCN gắn với hình thành và phát triển các khu đô thị đã tác động tích cực đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đẩy nhanh tốc
độ đô thị hóa, thúc đẩy quá trình tiếp cận kỹ thuật công nghệ và quản lý tiên tiến, bảo vệ môi trường, phát triển nguồn nhân lực, đồng thời góp phần hỗ trợ tích cực trong công việc xóa đói, giảm nghèo và phát triển kinh tế - xã hội Trong giai đoạn toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế với sự chuyển dịch từ kinh tế nông nghiệp sang kinh tế công nghiệp và kinh tế tri thức,quan niệm về KCN được mở rộng Các giao dịch kinh tế không phải chỉ điều chỉnh bằng các quy định pháp lý trong nước
mà còn bằng cả các quy định quốc tế đặc biệt là những nguyên tắc của WTO
Theo thông lệ quốc tế,các KCN với những ưu đãi không được trái với các nguyên tắc điều chỉnh của WTO Quá trình duy trì những ưu đãi này thường gắn với quá trình đàm phán giữa các bên và sau khi đã trở thành thành viên chính thức,các nước thành viên phải sửa đổi các ưu đãi “nổi trội” này để phù hợp với những nguyên tắc
tự do,minh bạch và công bằng cũng như các thông lệ quốc tế
Như vậy,KCN có thể hiểu là một phương thức tổ chức các hoạt động sản xuất sản phẩm và cung ứng dịch vụ công nghiệp với nhưng chế độ ưu đãi đặc biệt
so với các hoạt động sản xuất và cung ứng dịch vụ còn lại trên lãnh thổ của một
Trang 14nước nhằm khuyến khích đầu tư ,thúc đẩy xuất khẩu và thực hiện các mục tiêu chính sách khác KCN được thành lập không chỉ để nhằm thu hút đầu tư nước ngoài
mà còn cả thu hút đầu tư trong nước
Xây dựng hạ tầng cho KCN là bao gồm cơ sở hạ tầng cho sản xuất hiện nay
và hạ tầng cung cấp nhà ở và các dịch vụ xã hội cơ bản
2 1 2 Vị trí,vai trò của Khu công nghiệp
KCN, KCX là khu vực có những điều kiện thuận lợi về cơ sở hạ tầng cùng với nhiều chính sách ưu đãi đầu tư được áp dụng Đây chính là điểm đến lý tưởng của các nhà đầu tư, trong đó có đầu tư nước ngoài Một số công nghệ tiên tiến, hiện đại trên thế giới cùng trình độ quản lý cao của đội ngũ cán bộ doanh nghiệp, trình
độ tay nghề của công nhân theo các chuẩn mực quốc tế đã được áp dụng tại Việt Nam Đây cũng là những nhân tố quan trọng góp phần để nước ta thực hiện việc chủ động hội nhập kinh tế quốc tế
KCN là nơi tiếp nhận công nghệ mới, tập trung những ngành nghề mới, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH Cùng với dòng vốn đầu
tư nước ngoài đầu tư vào các dự án sản xuất kinh doanh trong KCN, các nhà đầu tư còn đưa vào Việt Nam những dây chuyền sản xuất với công nghệ tiên tiến, hiện đại, trong đó có cả những dự án công nghiệp kỹ thuật cao (phần lớn của Nhật Bản), như Công ty TNHH Canon Việt Nam, Mabuchi Motor, Orion Hanel…, những lĩnh vực
mà chúng ta còn yếu kém và cần khuyến khích phát triển như cơ khí chính xác, điện tử…
Các dự án đầu tư vào KCN tập trung chủ yếu vào các ngành công nghiệp nhẹ như dệt may, da giầy, công nghiệp chế biến thực phẩm (chiếm trên 50% tổng số dự án), đây là các dự án thu hút nhiều lao động, có tỷ lệ xuất khẩu cao và đã góp phần nâng cấp các ngành này về dây chuyền công nghệ, chất lượng sản phẩm… Tuy nhiên, các KCN cũng đã thu hút được các dự án có quy mô và yêu cầu vốn lớn, công nghệ cao như dầu khí, sản xuất ô tô, xe máy, dụng cụ văn phòng, cơ khí chính xác, vật liệu xây dựng… Mặc dù số lượng các dự án này trong KCN mới chiếm khoảng 5 – 10% số dự án, nhưng cũng đã góp phần phát triển và đa dạng hóa cơ cấu ngành nghề công nghiệp
Các doanh nghiệp trong KCN, đặc biệt là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã góp sức đào tạo được đội ngũ lao động công nghiệp sử dụng và vận hành thành thạo các trang thiết bị phục vụ quản lý và sản xuất, nắm vững công nghệ, có tác động lan tỏa và nâng trình độ tay nghề của đội ngũ lao động Việt Nam lên một bước Một lượng đáng kể người lao động Việt Nam được đảm nhận các vị trí quản lý doanh nghiệp, được tiếp xúc với phương thức quản trị doanh nghiệp tiên
Trang 15tiến, hiện đại, kỹ năng marketing, quản lý tài chính, tổ chức nhân sự… Việc được trực tiếp làm việc trong môi trường có kỷ luật cao, yêu cầu tay nghề cao, dã rèn luyện được những kỹ năng và bản lĩnh làm việc giúp người lao động Việt Nam thích ứng với một nền công nghiệp tiên tiến, hiện đại
- Đẩy mạnh phát triển kết cấu hạ tầng các KCN có tác dụng kích thích sự phát triển kinh tế địa phương, góp phần rút ngắn sự chênh lệch phát triển giữa nông thôn và thành thị, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân Điều này có thể dễ dàng nhận nhất ở những vùng có KCN phát triển mạnh như Biên Hòa, Nhơn Trạch (Đồng Nai), Thuận An (Bình Dương), Tiên Sơn (Bắc Ninh)… cùng với quá trình phát triển KCN, các điều kiện về kỹ thuật hạ tầng trong khu vực đã được cải thiện đáng kể, nhu cầu về các dịch vụ gia tăng, góp phần thúc đẩy hoạt động kinh doanh cho các cơ sở dịch vụ trong vùng
- Cùng với các chính sách ưu đãi về tài chính và công tác quản lý thuận lợi của nhà nước, có thể nói việc thu hút nguồn vốn để đầu tư xây dựng hoàn thiện và đồng bộ các kết cấu hạ tầng trong KCN có vai trò quyết định trong việc thu hút đầu
tư Việc các doanh nghiệp thuộc nhiều thành phần kinh tế (doanh nghiệp quốc doanh, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp ngoài quốc doanh) tham gia đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng KCN không những tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong KCN hoạt động hiệu quả, mà còn tạo sự đa dạng hóa thành phần doanh nghiệp tham gia xúc tiến đầu tư góp phần tạo sự hấp dẫn trong việc thu hút doanh nghiệp công nghiệp vào KCN
- Việc đầu tư hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật trong KCN không những thu hút các dự án đầu tư mới mà còn tạo điều kiện cho các doanh nghiệp mở rộng quy mô
để tăng năng lực sản xuất và cạnh tranh, hoặc di chuyển ra khỏi các khu đông dân
cư, tạo điều kiện để các địa phương giải quyết các vấn đề ô nhiễm, bảo vệ môi trường đô thị, tái tạo và hình thành quỹ đất mới phục vụ các mục đích khác của cộng đồng trong khu vực như KCN Tân Tạo (thành phố Hồ Chí Minh), Việt Hương (Bình Dương)…
- Quá trình xây dựng kết cấu hạ tầng trong và ngoài hàng rào KCN còn đảm bảo sự liên thông giữa các vùng, định hướng cho quy hoạch phát triển các khu dân
cư mới, các khu đô thị vệ tinh, hình thành các ngành công nghiệp phụ trợ, dịch vụ… các công trình hạ tầng xã hội phục vụ đời sống người lao động và cư dân trong khu vực như: nhà ở, trường học, bệnh viện, khu giải trí…
- Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đón bắt và thu hút đầu tư các ngành như điện, giao thông vận tải, hệ thống thông tin liên lạc, cảng biển, các hoạt động
Trang 16dịch vụ tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, xúc tiến đầu tư, phát triển thị trường địa ốc… đáp ứng nhu cầu hoạt động và phát triển của các KCN
2 2 Dịch vụ công cung cấp cho người lao động tại các Khu công nghiệp
Hệ thống các dịch vụ công cung cấp cho người lao động trong các Khu công nghiệp là một phần của các tiện ích công cộng trong Khu công nghiệp Khi tiến hành các hoạt động sản xuất ,kinh doanh,các nhà đầu tư phải sử dụng nhiều công trình tiện ích để phục vụ cho các hoạt động của mình Các dịch vụ công cộng phục
vụ cho nhiều đối tượng trong Khu công nghiệp,đóng vai trò rất quan trọng với hoạt động của doanh nghiệp
Các dịch vụ công cung cấp cho người lao động bao gồm các dịch vụ cả trong
và ngoài hàng rào Khu công nghiệp Các dịch vụ công cộng trong hàng rào KCN bao gồm việc cung cấp hệ thống cấp điện,hệ thống cấp nước,hệ thống thoát nước và
xử lý nước thải chung,hệ thống phòng,chống cháy nổ,vệ sinh công nghiệp…Các dịch vụ này do các nhà đầu tư phát triển hạ tầng KCN đầu tư và thu phí sử dụng và
có tính bắt buộc đối với việc phát triển các KCN Các dịch vụ công cộng ngoài hàng rào KCN(dịch vụ công ích) bao gồm việc cung cấp các công trình có tầm ảnh hưởng rộng lớn đến cả vùng,cả lãnh thổ như đường giao thông,hệ thống cấp điện,thoát nước,bưu chính viễn thông… và các dịch vụ công cộng phục vụ nhu cầu hoạt động sản xuất kinh doanh và nhu cầu của người lao động(dịch vụ sự nghiệp công) như nhà ở xã hội,dịch vụ y tế-bảo hiểm khám chữa bệnh ,giáo dục-đào tạo,văn hoá thể thao…Chuyên đề này chỉ tập trung vào các dịch vụ sự nghiệp công phục vụ nhu cầu của người lao động nhằm mục tiêu cải thiện đời sống của họ Trong NGHỊ ĐỊNH CỦA CHÍNH PHỦ SỐ 29/2008/NĐ-CP NGÀY 14 THÁNG 03 NĂM 2008 QUY ĐỊNH VỀ KHU CÔNG NGHIỆP, KHU CHẾ XUẤT VÀ KHU KINH
TẾ Điều 6 : Điều kiện bổ sung khu công nghiệp vào Quy hoạch tổng thể phát triển khu công nghiệp : Có các điều kiện thuận lợi hoặc có khả năng xây dựng hệ thống
kết cấu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội, triển khai đồng bộ và kết hợp chặt chẽ giữa quy hoạch phát triển khu công nghiệp với quy hoạch phát triển đô thị, phân bố dân cư, nhà ở và các công trình xã hội phục vụ công nhân làm việc trong khu công nghiệp
Tuy nhiên,trong thời gian qua,việc đầu tư và kinh doanh cơ sở hạ tầng kỹ thuật khu công nghiệp còn chưa quan tâm nhiều đến việc cung cấp các dịch vụ công phục vụ cho người lao động,dẫn đến tình trạng công nhân lao động phải thuê nhà ở trong các khu dân cư,làng, xã với điều kiện vệ sinh môi trường không đảm bảo;không có nơi giải trí,nghỉ ngơi,không có điều kiện hưởng thụ văn hoá,dẫn đến hình thành những khu ổ chuột ngay cạnh các Khu công nghiệp hiện đại Cũng từ
Trang 17những điều kiện vật chất trên,những người lao động không được đảm bảo sức khoẻ
để đáp ứng những yêu cầu năng lực trong các Khu công nghiệp,những người quản
lý cũng không quan tâm đến việc xây dựng các trung tâm y tế,khám chữa bệnh và Bảo hiểm xã hội khiến người lao động càng khó khăn hơn trong việc tiếp cận các dịch vụ y tế Giáo dục và đào tạo cũng là vấn đề đáng quan tâm khi bản thân người lao động và con em họ chưa được tạo điều kiện tốt nhất để tiếp cận dễ dàng với dịch vụ này
Ở nước ngoài ,đồng thời với việc hình thành các Khu công nghiệp,các nhà đầu tư phải có trách nhiệm đầu tư các khu chung cư cho công nhân lao động của mình với đầy đủ các khu tiện ích công cộng khác ngay trong khu công nghiệp như nhà văn hoá công nhân,công viên cây xanh,nghỉ ngơi,sân chơi thể dục thể thao,trạm y tế ,trường mầm non,trường dạy nghề và bồi dưỡng nâng cao
3 Tầm quan trọng của dịch vụ công đối với đời sống người lao động
3 1 Tác dụng của dịch vụ công trong phát triển kinh tế- xã hội
Tính ưu việt của một xã hội được phản chiếu một cách rõ ràng qua chất lượng cung ứng dịch vụ công, bởi vì dịch vụ công là những hoạt động phục vụ các lợi ích tối cần thiết của xã hội, đảm bảo cho xã hội phát triển bền vững và có kỷ cương, trật tự Mọi xã hội đều có những vấn đề chung, liên quan đến cuộc sống của tất cả mọi người Đó là các vấn đề như trật tự trị an, phân hóa giàu nghèo, giáo dục, y tế, dân số, môi trường, tài nguyên,… Để giải quyết thành công các vấn đề này, cần có sự góp sức của cả nhà nước, cộng đồng và các tổ chức xã hội thông qua việc cung ứng các dịch vụ công Nếu các dịch vụ công bị ngừng cung cấp hoặc cung cấp không đầy
đủ, chất lượng thấp thì sẽ dẫn đến những rối loạn trong xã hội, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của mỗi người dân, đồng thời tác động tiêu cực đến sự phát triển của mỗi quốc gia
Nhìn chung, dịch vụ công đáp ứng những nhu cầu chung của xã hội về các lĩnh vực sau đây:
- Duy trì trật tự công cộng và an toàn xã hội như QP, an ninh, ngoại giao
-Bảo vệ trật tự kinh tế, trật tự mua bán trên thị trường thông qua việc xây dựng
và thực thi thể chế kinh tế thị trường
-Cung cấp các tiện ích công cộng cho toàn thể thành viên trong xã hội như bảo
vệ sức khỏe, GD- đào tạo, giao thông công cộng, thông tin, thư viện công cộng
- Quản lý tài nguyên và tài sản công cộng như: quản lý tài sản nhà nước, bảo vệ môi trường, tài nguyên thiên nhiên
- Bảo vệ quyền công dân, quyền con người
Đề cập sâu hơn tới tác dụng của việc cung ứng dịch vụ công, chúng ta có thể
Trang 18lấy thí dụ trong lĩnh vực hành chính công Hành chính công có liên quan đến mức
độ thoả mãn các nhu cầu công cộng của xã hội, liên quan đến tiến bộ kinh tế, xã hội của một quốc gia Theo các nhà nghiên cứu Trung quốc tác dụng của hành chính công chủ yếu là tác dụng dẫn đường, tác dụng quản chế, tác dụng phục vụ và tác dụng giúp đỡ Nói về tác dụng quản chế, tức là nhà nước phát huy năng lực quản lý công cộng mang tính quyền uy, cưỡng chế để xử lý, điều hòa các quan hệ xã hội và lợi ích xã hội, đảm bảo cho xã hội vận hành tốt; còn về tác dụng giúp đỡ, đó chính là
sự giúp đỡ của nhà nước đối với các địa phương nghèo, những người có hoàn cảnh khó khăn, như giúp đỡ người nghèo, cứu tế xã hội, phúc lợi xã hội, bảo hiểm xã hội, y tế,… Việc cung ứng dịch vụ hành chính công còn có tác dụng trực tiếp đến sự phát triển kinh tế -xã hội của đất nước Khi cung cấp các dịch vụ này, nhà nước sử dụng quyền lực công để tạo ra dịch vụ như cấp các loại giấy phép, đăng ký, chứng thực, thị thực Việc cung ứng dịch vụ hành chính công còn có tác dụng trực tiếp đến sự phát triển kinh tế -xã hội của đất nước Khi cung cấp các dịch vụ này, nhà nước sử dụng quyền lực công để tạo ra dịch vụ như cấp các loại giấy phép, đăng ký,chứng thực, thị thực Tuy xét về mặt hình thức, sản phẩm của các dịch vụ này chỉ là các loại văn bản giấy tờ, nhưng chúng lại có tác dụng chi phối quan trọng đến các hoạt động kinh tế- xã hội của đất nước Chẳng hạn, giấy đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp thể hiện việc nhà nước công nhận doanh nghiệp đó ra đời và đi vào hoạt động, điều này dẫn đến những tác động và kết quả đáng kể về mặt kinh tế - xã hội Ngoài ra, thông qua việc cung ứng dịch vụ công, nhà nước sử dụng quyền lực của mình để đảm bảo quyền dân chủ và các quyền hợp pháp khác của công dân
Nguyên tắc nhà nước phải chịu trách nhiệm cao nhất và cũng là trách nhiệm cuối cùng đối với việc cung ứng đầy đủ về số lượng, chất lượng, có hiệu quả dịch vụ công cho dù là nhà nước tiến hành thực hiện trực tiếp hay thông qua các tổ chức và cá nhân khác là một lá chắn bảo vệ an toàn cho cuộc sống của mỗi người dân Với việc nhà nước bảo đảm sự công bằng, bình đẳng cho công dân, nhất là nhóm dân cư dễ bị tổn thương, trong việc tiếp cận và hưởng thụ các dịch vụ công thiết yếu liên quan trực tiếp tới đời sống như y tế, giáo dục, an sinh xã hội…, người dân được hưởng các quyền sống cơ bản của mình, trên cơ sở đó học tập, làm việc nâng cao mức sống của bản thân và đóng góp nhiều hơn cho xã hội Như vậy, dịch vụ công có tác dụng cực kỳ to lớn đối với sự phát triển của đất nước và từng người dân, và là yếu tố quan trọng góp phần ổn định xã hội
3 2 Cung ứng dịch vụ công cộng với việc cải thiện đời sống người lao động
Dịch vụ công ( bao gồm cả dịch vụ công ích ,dịch vụ sự nghiệp công và dịch vụ công hành chính công)có vị trí quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội của đất
Trang 19nước và góp phần cải thiện cuộc sống của con người Bởi vì nó là một bộ phận cấu thành tạo nên sự cạnh tranh của một đất nước,đất nước đó có hấp dẫn với bên ngoài hay không một phần cũng phụ thuộc vào chất lượng các dịch vụ cung cấp Đồng thời nó cũng là yếu tố quyết định sự hài lòng của công dân và là một phần của chính sách đoàn kết và tái phân phối lại của cải trong xã hội
Mỗi chúng ta,dù sống ở nông thôn hay thành thị,dù lao động trí óc hay lao động chân tay,tất cả mọi người đang sống và làm việc đều chịu sự tác động của các hoạt động của khu vực công Khả năng tiếp cận với các dịch vụ công , tạo cơ hội cho mỗi người cải thiện chất lượng cuộc sống của mình và tham gia đầy đủ hơn vào các hoạt động xã hội Một cách tiếp cận chủ động giúp loại bỏ hoàn toàn sự phân biệt
về mặt xã hội và kinh tế nhằm thúc đẩy những sáng kiến đáp ứng nhu cầu của các tất cả các nhóm người trong xã hội Bảo đảm tính phù hợp,chất lượng và số lượng của các dịch vụ công là cần thiết để cải thiện đời sống con người
Mục tiêu phục vụ của dịch vụ công là cung ứng « hàng hoá công cộng » đáp ứng lợi ích công cộng cho đông đảo dân cư gồm một số nhu cầu tối cần thiết cho cuộc sống cộng đồng ,đảm bảo an sinh xã hội (nếu thiếu sẽ sinh bất ổn,thậm chí rối loạn xã hội) Tuy nhiên ,đó không phải là việc đáp ứng các lợi ích riêng của một bộ phận nhỏ dân cư là đối tượng phục vụ của các dịch vụ thương mại do các tổ chức kinh tế thực hiện(theo quan hệ cung-cầu trên thị trường)
Việc xây dựng các Khu công nghiệp trong điều kiện Việt Nam hiện nay đòi hỏi phải bổ sung rất nhiều nhân công Số lượng nhân công tương ứng với số lượng kêu gọi vốn đầu tư Cơ cấu ,trình độ chuyên môn của nguồn lao động tương ứng với cơ cấu đầu tư Sử dụng hiệu quả nguồn lao động sẽ tạo ra sức phát triển mạnh mẽ
Tuy nhiên,chính sách với người lao động trong các Khu công nghiệp hiện nay vẫn chưa hợp lý Người lao động vẫn bị xem là công cụ để phát triển kinh tế Các chính sách và việc thực thi chính sách mới chỉ dừng lại trong phạm vi hàng rào trong KCN Còn cuộc sống người lao động bên ngoài KCN không được xem xét đầy đủ Người lao động,nhất là lao động nhập cư,bị hạn chế trong việc tiếp cận các dịch vụ công cộng Người lao động có thể yên tâm làm việc được hay không khi họ còn phải ngày ngày lo về việc không có nhà để ở , lo về việc học hành cho con em mình , bản thân họ thì không được chăm sóc sức khoẻ đầy đủ,sống trong cảnh mù văn hoá tinh thần Điều đó đang gây ra những bất ổn cho phát triển kinh tế tại các địa phương như đình công,thiếu lao động,lao động không ổn định làm cho các nhà đầu tư nản lòng
Đảm bảo cung ứng dịch vụ công cho người lao động sẽ góp phần nâng cao mức sống,bình đẳng trong đối xử ,tạo cơ hội cho người lao động an cư lạc nghiệp,
Trang 20sẽ lựa chọn được nguồn nhân lực có chất lượng phục vụ phát triển kinh tế Các địa phương hiện nay không chỉ cạnh tranh trong thu hút và lựa chọn nguồn vốn đầu tư
có chất lượng tạo ra giá trị tăng cao mà còn thu hút và lựa chọn nguồn nhân lực có trình độ để đẩy nhanh tiến trình Công nghiệp hoá-Hiện đại hoá đất nước
4 Kinh nghiệm phát triển các dịch vụ công cộng trong KCN ở một số nước
4 1 Kinh nghiệm của Trung Quốc
Trung Quốc có các loại hình khu kinh tế đặc biệt như KCN,KCX,khu khai phát(khu vực phát triển kinh tế và kỹ thuật),Khu bảo thuế,Đặc khu kinh tế được gọi chung là « Khu kinh tế » Việc phát triển Khu kinh tế ở Trung Quốc luôn luôn gắn chặt với phát triển cơ sở hạ tầng xã hội,tức là gắn phát triển công nghiệp với đô thị hoá Quy hoạch phát triển các khu kinh tế của Trung Quốc được gắn liền với quy hoạch các phân khu chức năng,trong đó,quy hoạch nhà ở và các công trình tiện ích công cộng phục vụ hoạt động doanh nghiệp và người lao động làm việc trong các khu công nghiệp quy định như một bắt buộc Trong quá trình xây dựng các khu kinh tế,căn cứ vào tình hình thu hút đầu tư và số lượng người lao động làm việc trong các khu kinh tế,các khu nhà ở và công trình tiện ích công cộng được phân kỳ đầu tư hợp lý Thời gian đầu do tình hình thu hút đầu tư còn hạn chế,Trung Quốc sử dụng ngân sách nhà nước để đầu tư các công trình công cộng cần thiết để thu hút các nhà đầu tư vào các khu kinh tế Sau một thời gian xây dựng và phát triển ,Chính phủ tạo điều kiện cho khu vực tư nhân tham gia vào xây dựng và kinh doanh khu nhà ở và các công trình công cộng theo quy hoạch, góp phần làm giảm gánh nặng nguồn vốn của ngân sách nhà nước
4 2 Kinh nghiệm của Thái Lan
Qua gần 40 năm hình thành và phát triển các KCN ở Thái Lan cho thấy nhu cầu về nhà ở cho người lao động và các dịch vụ công cộng phục vụ doanh nghiệp
và người lao động là hết sức cần thiết Chính vì vậy,hiện nay Thái Lan đang phát triển xây dựng KCN theo mô hình mới bao gồm cả khu thương mại và khu dân cư
Ví dụ,KCN LeamChabang được chia thành 3 khu vực:
1 Khu công nghiệp tổng hợp và chế biến hàng xuất khẩu :
Khu công nghiệp được dành cho việc xây dựng các nhà máy để sản xuất hang xuất khẩu và hàng tiêu dùng trong nước Khu chế xuất bao gồm các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp để xuất khẩu ít nhất là 40% sản phẩm Hầu hết các KCN có khu chế xuất nằm trong sẽ có kho ngoại quan để tao thuận lợi cho việc giao lưu hàng hoá với bên ngoài
Trang 212 Khu thương mại: Khu vực này được dành cho các hoạt động thương mại và dịch
vụ như ngân hàng,bưu điện,các dịch vụ cung ứng thường xuyên và các hoạt động
hỗ trợ khác để phục vụ cho các ngành công nghiệp hoạt động trong KCN
3 Khu dân cư : Khu vực này dành cho mục đích sinh hoạt ăn ở của những người
lao động làm công và người quản lý
Với mô hình mới hoạt động như trên,nhu cầu về nhà ở cho người lao động
và các dịch vụ công cộng khác đã được giải quyết,góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động doanh nghiệp và đời sống người lao động
Chương II: Thực trạng cung ứng dịch vụ công cho người lao
động tại các Khu công nghiệp ở Việt Nam
1 Bối cảnh cuộc sống người lao động tại các Khu công nghiệp ở Việt Nam
1 1 Sự phát triển Khu công nghiệp ở Việt Nam
Ở Việt nam, các KCN, bao gồm chủ yếu là các KCN và KCX mới được hình thành từ đầu thập niên 1990 Sau gần 20 năm xây dựng và phát triển, tính đến thời
Trang 22điểm tháng 12/2008, cả nước đã hình thành được 236 KCN, phân bố ở khắp 54 tỉnh/thành phố, trong đó có 133 khu hiện đang hoạt động Theo bản kế hoach phát triển quốc gia, số lượng các KCN và quy mô các Khu này sẽ tăng lên ở mức 256 Khu với diện tích 70,000 ha (năm 2015)
Tính riêng các KCN, đến tháng 12/2008, đã thu hút được 3 564 dự án đầu tư nước ngoài với tổng số vốn đầu tư gần 42,667 tỷ USD, cùng với 3 588 dự án đầu
tư trong nước với tổng số vốn đăng ký trên 251,5 nghìn tỷ đồng (tương đương 14,8
tỷ USD)
Phần lớn các doanh nghiệp trong các KCN, đặc biệt là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sản xuất hàng công nghiệp chủ yếu để xuất khẩu Năm 2008, kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp KCN đạt 14,5 tỷ USD, tăng 34% so với năm 2007 và chiếm 24,7% giá trị xuất khẩu của cả nước
Các KCN thường là nơi tiếp nhận công nghệ, ngành nghề mới, góp phần
chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghịêp hoá, hiện đại hoá Cùng với dòng vốn đưa vào các dự án sản xuất kinh doanh, các nhà đầu tư nước ngoài còn mang vào Việt Nam những dây chuyền sản xuất với công nghệ tiên tiến, hiện đại hơn Về mặt lượng, KCN góp phần nâng cao tỷ trọng ngành công nghiệp trong tổng
GDP của cả nước Về mặt chất, KCN đã thu hút được các dự án có hàm lượng vốn
lớn, công nghệ cao như dầu khí, sản xuất ô tô, xe máy, dụng cụ văn phòng, cơ khí chính xác, vật liệu xây dựng… Mặc dù số lượng các dự án này trong các KCN còn khá khiêm tốn, nhưng cũng đã góp phần phát triển những ngành nghề mới, đa dạng hoá cơ cấu ngành nghề công nghiệp
Các doanh nghiệp KCN đã có đóng góp đáng kể vào nguồn thu ngân sách Nhà nước Nếu năm 2004, các doanh nghiệp KCN mới chỉ nộp ngân sách hơn 500 triệu USD, thì đến năm 2008, các doanh nghiệp này đã đóng góp vào ngân sách nhà nước khoảng 1,3 tỷ USD Doanh nghiệp trong các KCN còn đóng góp ngày càng nhiều vào sự tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp chung của cả nước (xem Bảng 1), góp phần làm dịch chuyển cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp, giảm tỷ trọng nông – lâm – ngư nghiệp trong GDP cả nước
Bảng 1: Tỷ lệ % giá trị sản xuất công nghiệp của các KCN trong cả nước so với giá trị sản xuất công nghiệp chung cả nước
Năm 1996 2000 2001 2002 2005 2007
Nguồn: Tổng liên đoàn Lao động Việt nam, 2009
Trang 23Các dự án đầu tư vào các KCN ở việt Nam tập trung chủ yếu vào các ngành công nghiệp nhẹ như dệt may, da giày và công nghiệp chế biến thực phẩm (chiếm trên 50% tổng số dự án), đây là các dự án sử dụng nhiều lao động Ở thời điểm hiện tại, các doanh nghiệp trong các KCN thu hút khoảng trên 1,1 triệu lao động trực tiếp (tính bình quân 1 ha đất công nghiệp thu hút được 73 lao động) Quan trọng hơn, các KCN đã tạo ra một lực lượng lao động có trình độ tay nghề tương đối cao, được tiếp cận với công nghệ hiện đại, với kỷ luật lao động công nghiệp, đòi hỏi phải có các kỹ năng và bản lĩnh làm việc phù hợp
Tuy nhiên, trong khi có những đóng góp đáng kể như vậy, song người lao động tại các KCN lại đang gặp rất nhiều khó khăn Họ chẳng những chưa được hưởng thụ các lợi ích tương xứng với thành quả phát triển, mà còn luôn phải đối mặt với các vấn đề về thu nhập thấp, thiếu thốn về nhà ở và các điều kiện sống tối thiểu khác
1 2 Một số đặc điểm chủ yếu của người lao động trong các Khu công nghiệp
1 2 1 Quy mô,cơ cấu tuổi và giới tính
Người lao động trong các khu công nghiệp hiện nay ở Việt Nam chủ yếu là
lao động nhập cư, xuất thân từ các gia đình nghèo ở nông thôn Theo số liệu của Bộ
KH-ĐT, trong số khoảng trên 1 triệu lao động đang làm việc trực tiếp tại các KCN
có tới 700 nghìn người là lao động nhập cư từ nông thôn Cá biệt, tại một số thành phố lớn và một số địa phương có tốc độ công nghiệp hóa cao (như thành phố HCM, Đồng Nai và Bình Dương ở phía Nam, Hà nội ở phía Bắc), lao động nhập cư chiếm
số lượng áp đảo Ở các tỉnh khác, theo báo cáo của Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam, năm 2007 mức lao động nhập cư đến từ các vùng nông thôn bình quân trên 40% tống số lao động Đặc điểm tiếp theo là ở chỗ trong các khu CN, tỷ lệ lao động
nữ khá cao Bình quân năm 2007, lao động nữ chiếm 62,61% tổng số lao động tại các doanh nghiệp trong KCN Nếu xét riêng trong các doanh nghiệp dệt may, da giày và chế biến thực phẩm tỷ lệ lao động nữ còn cao hơn nhiều, có doanh nghiệp chiếm trên 85% Tỷ lệ lao động đã lập gia đình tương đối thấp, bình quân năm 2003 chỉ có có 26,66%, năm 2007 tuy có tăng, nhưng cũng chỉ đạt 33,79% Gần 90% lao động nằm trong độ tuổi từ 18 đến 35 Nếu xét đến khía cạnh là tất cả các lao động này đều đang ở độ tuổi lập gia đình, thì con số này được coi là rất thấp Xét theo
thành phần sở hữu, tỷ lệ lao động trong các DNNN giảm mạnh, từ 26,51% năm
2003 xuống còn có 6,75% trong năm 2007; trong khi đó, lao động trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (doanh nghiệp FDI) tăng rất mạnh từ 44,21% năm
Trang 242003 lên 60,84% năm 2007 Tương tự, lao động trong các doanh nghiệp phi quốc doanh trong nước tăng từ chiếm 29,28% lên 32,41% trong cùng thời kỳ
Bảng 2: Cơ cấu lao động trong các khu CN (%)
No- Các đặc điểm Năm 2003 Năm 2007
3 • Tỷ lệ lao động đã lập gia đình 26 66 33 79
4 • Tỷ lệ lao động làm việc trong các
DN, phân theo sở hữu:
Doanh nghiêp có vốn đầu tư nước ngoài 44 21 60 84
Nguồn: Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam , 2009
1 2 2 Trình độ học vấn
Mặc dù được coi là nơi có lực lượng lao động tiên tiến, với trình độ chuyên môn và công nghệ cao hơn so với lao động trong khu vực nông nghiệp, trình độ
chuyên môn kỹ thuật của lao động tại các KCN vẫn còn rất thấp Năm 2007, trong
khi tỷ lệ lao động có trình độ đại học, trên đại học chỉ chiếm 4 đến 5%, thì số lao động phổ thông, chưa được đào tạo chiếm đa số áp đảo lên đến trên 60% So với tỷ
lệ lao động không có chuyên môn kỹ thuật trong tổng lực lượng lao động chung của
cả nước (là 75%), số lao động không có chuyên môn kỹ thuật ở các khu CN là thấp, nhưng nếu xem xét là các khu sản xuất công nghiệp thuần tuý, thì tỷ lệ 60% lao động chưa được đào tạo là điều đáng lo ngại
Bảng 3: Cơ cấu về trình độ chuyên môn kỹ thuật
No Trình đô chuyên môn kỹ thuật Tỷ lê ( % người lao động)
3 Công nhân kỹ thuật đã được đào tạo 30
4 Lao động giản đơn chưa đào tạo 60
Nguồn: Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, 2009
Trang 25Những đặc điểm kể trên của lao động trong các KCN nếu không được tính toán đến một cách thấu đáo trong quá trình ban hành và thực hiện chính sách, có thể dẫn đến các vấn đề xã hội khó khắc phục
1 3 Cuộc sống của người lao động trong các Khu công nghiệp
Sự phát triển của các KCN ở Việt Nam đã đem đến nhiều mặt tích cực cho việc phát triển kinh tế xã hội của đất nước Thực tiễn cho thấy, việc hình thành và phát triển các KCN đã và đang tạo động lực cho việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp sang phát triển công nghiệp và dịch vụ, cơ cấu lao động cũng được thay đổi phù hợp với xu thế hội nhập kinh tế quốc tế Đối với người lao động, nhân
tố quan trọng trong việc hình thành và phát triển các KCN, về đời sống vật chất và tinh thần cũng chịu tác động mạnh mẽ của sự phát triển này
Sự hình thành, phát triển các KCN với các nhà máy, xí nghiệp đã tạo nhiều
cơ hội tìm việc làm cho người lao động, giải quyết được tình trạng thất nghiệp, người lao động còn được đào tạo nhiều ngành nghề khác nhau: may mặc, điện tử, hàn, tiện dần dần nâng cao trình độ tay nghề Có thể coi quá trình đào tạo tại Doanh nghiệp là quá trình đào tạo nghề nhanh nhất, hiệu quả nhất vì người lao động được thực hành và ứng dụng ngay các trang thiết bị máy móc bên cạnh việc chỉ dẫn các thao tác và lý thuyết từ chính cán bộ quản lý, chuyên gia tại Doanh nghiệp
Có nhiều cơ hội tìm việc làm và thu nhập cao chính là động lực thúc đẩy người lao động tập trung đến các khu vực có nhiều KCN Hầu hết các Doanh nghiệp KCN là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, nên nhìn chung về chế độ tiền lương được áp dụng cao hơn so với các Doanh nghiệp ở các khu vực kinh tế khác Từ chế độ lương cao hơn nên các chính sách thưởng của các Doanh nghiệp này cũng là yếu tố để thu hút người lao động Bên cạnh đó, tại nhiều doanh nghiệp còn áp dụng nhiều chính sách phúc lợi cho người lao động: trợ cấp đi lại, nhà ở, bữa
ăn giữa ca…phần nào giúp người lao động trang trải được các chi phí đáp ứng nhu cầu của bản thân, nâng cao đời sống vật chất và có khả năng phụ giúp gia đình Ngoài ra, khi làm việc tại các KCN, người lao động được tiếp cận với các máy móc, trang thiết bị hiện đại, công nghệ cao, phương thức quản lý tiên tiến, từ đó người lao động có cơ hội học hỏi kinh nghiệm, nâng cao trình độ tay nghề, đồng thời người lao động còn rèn luyện được tác phong công nghiệp đáp ứng được các yêu cầu của người sử dụng lao động và công việc đặt ra Song song với trình độ chuyên môn được nâng lên thì mức lương và các thu nhập khác cũng được tăng lên tương ứng
Thực tế, với quá trình hình thành và phát triển các KCN trong thời gian vừa qua đã tạo ra cho Việt Nam một lực lượng lao động có chuyên môn tay nghề, khả
Trang 26năng ứng dụng nhanh các tiến bộ khoa học kỹ thuật của thế giới Và việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong thời kỳ hội nhập kinh tế thế giới đang đặt ra nhiều
cơ hội cũng như thách thức, không chỉ riêng với chính quyền các địa phương mà ngay cả chính bản thân người lao động phải nỗ lực rất nhiều nhằm đáp ứng với yêu cầu sử dụng “công nghệ chất xám” của sự phát triển các KCN trong thời gian sắp tới Tuy nhiên, cũng từ sự phát triển này, chính quyền địa phương nơi có các KCN cũng đang đối mặt với nhiều thách thức, nổi bật là làm thế nào để nâng cao chất lượng sống cho người lao động Xuất phát từ thực tế cho thấy môi trường và điều kiện sống của người lao động, đặc biệt là lao động trong các KCN hiện nay vẫn còn thấp, chưa đáp ứng được hết nhu cầu về vật chất và tinh thần
Theo quy định của Bộ luật lao động: người lao động làm việc không quá 8 giờ/ ngày, không quá 48h/tuần, với quy định này đảm bảo cho người lao động có đủ thời gian để nghỉ ngơi, đáp ứng các nhu cầu giải trí cho bản thân từ đó tái tạo lại sức lao động Nhưng với tình hình thực tế như hiện nay, quy định trên đang bị các Doanh nghiệp vi phạm rất phổ biến, công nhân lao động phải làm việc từ 10-12 giờ/ngày, 60-72 giờ/tuần, cao gấp 1,2 đến 1,5 lần so với quy định của Luật Lao động Thậm chí do áp lực của các hợp đồng đã ký kết, giao hàng đúng hạn, người
sử dụng lao động còn áp đặt người lao động tăng ca liên tục với cường độ làm việc cao, căng thẳng mà không có chế độ bồi dưỡng và trả thù lao thích hợp
Phần lớn công nhân khi được hỏi cho rằng, họ đồng ý làm thêm giờ với sự miễn cưỡng, bởi không có sự lựa chọn nào khác Hiện nay, nhiều doanh nghiệp làm việc theo dây chuyền và chỉ cần vài người không chấp nhận làm thêm giờ thì ảnh hưởng cả dây chuyền đồng thời ảnh hưởng đến “lợi nhuận” của chủ Doanh nghiệp
Vì vậy, họ thường tìm cách gây áp lực và có thể đuổi việc với những người lao động không chịu “dốc sức” cho Công ty Bên cạnh đó, tăng ca sẽ có thu nhập thêm, giảm bớt khó khăn về đời sống vật chất cho bản thân và gia đình
Với cường độ lao động làm việc cao, thời giờ nghỉ ngơi bị hạn chế, nên sức khỏe người lao động bị ảnh hưởng rất nhiều, đặc biệt là lao động nữ, họ thường xuyên bị mắc các chứng bệnh mệt mỏi, trầm cảm, suy nhược cơ thể… Việc này ảnh hưởng đến cả khả năng xây dựng hạnh phúc gia đình của họ, về sức khỏe lẫn
cơ hội giao lưu, tìm kiếm bạn đời vì sau khi làm về chỉ còn thời gian tắm giặt và ngủ để lấy lại sức Ngay cả với những người lao động đã lập gia đình, với thời gian
và cường độ làm việc này, cũng gây ra rất nhiều khó khăn, nhất là đối với những gia đình có con nhỏ, họ không còn thời gian để chăm sóc gia đình, không có người trông nom con cái vì các lớp học mầm non tại địa phương chỉ nhận nuôi dạy trẻ theo giờ hành chính, trong khi công nhân lao động chủ yếu ở xa, họ không thể nhờ
Trang 27cậy người thân để trông con em của mình mà thuê người giữ thì thu nhập của họ không đáp ứng được
Với mức thu nhập trung bình trên 1 triệu đồng/ tháng/ người, thì khả năng chi trả của người lao động cho việc thuê nhà trọ làm chỗ ở chỉ dừng lại mức 100 ngàn -150 ngàn/người Nhưng với giá thuê tại các nhà trọ và tình hình thực tế hiện nay chỉ phù hợp với công nhân còn trẻ và sinh sống độc thân Tuy nhiên trong tương lai không xa, khi tuổi đời tăng lên, nhu cầu lập gia đình phát sinh trong các lao động thuộc đối tượng di dân tự do, tất yếu dẫn đến nhu cầu xây dựng nhà ở, tạo thành vùng cư dân xung quanh các KCN sẽ gây khó khăn trong việc quản lý nhân
hộ khẩu, an ninh trật tự trị an cũng như giải quyết các nhu cầu sinh hoạt giải trí
Nhà ở và các giá trị về đời sống vật chất không đáp ứng đủ nhu cầu nên về đời sống văn hóa tinh thần của người lao động tại các KCN đang dần giảm sút Phần lớn ở các nhà trọ, công nhân lao động không có các phương tiện nghe nhìn không có sách báo để đọc, mặt khác, như đã nêu do thời gian làm việc kéo dài, cường độ lao động cao, vì thế nên ngoài giờ làm việc công nhân lao động phải dành thời gian để nghỉ ngơi, ngủ lấy lại sức khỏe nên thường họ không có thói quen đọc sách báo, nghe đài, xem tivi… cơ hội tiếp cận thông tin, tiếp cận với những thay đổi của đời sống văn hóa xã hội của người công nhân lao động bị hạn chế, thu hẹp dẫn đến nhu cầu về giải trí văn hóa tinh thần cũng dần giảm sút
Thực tế, đến các khu nhà trọ tập trung vào những ngày nghỉ cuối tuần, dễ dàng bắt gặp hình ảnh người lao động ngủ muộn hơn ngày làm việc; âm thanh của những bài hát não tình, nhạc nhảy, tiếng thuyết minh những bộ phim chưởng, tình cảm xen lẫn nhau Các nam công nhân thì tập trung đánh bài, uống rượu , các lao động nữ thì tập trung xem các bộ phim tình cảm ủy mị hoặc tập trung nấu ăn, trò chuyện…có lẽ đây là những cách giải trí, cách hưởng thụ duy nhất và thực tế đối với công nhân Cũng chính từ cách giải trí phổ thông này cũng gây ra một số hiện tượng ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự chung: đánh nhau, tiếng ồn giữa các phòng làm ảnh hưởng đến phòng khác dẫn đến cãi vả, gây gổ nhau… tình trạng thiếu văn hóa tinh thần lại dẫn đến tình trạng thiếu văn hóa trong ứng xử
Mặc khác, do sống xa nhà thiếu thốn tình cảm, tình trạng nam nữ cùng sống chung nhà trọ nên quan hệ nam nữ đôi khi thiếu lành mạnh, phổ biến là tình hình
“sống chung, sống thử” tại các nhà trọ quanh KCN như hiện nay Trong đó, nổi lên
sự sa sút trong đời sống hôn nhân gia đình của lao động nữ, họ ít có cơ hội giao lưu tìm hiểu để xây dựng hạnh phúc gia đình, tệ nạn mại dâm và các vấn đề xã hội khác phát sinh ngày càng nhiều
Trang 28Bên cạnh đó, tại hầu hết các cụm, khu công nghiệp không có một nơi vui chơi giải trí công cộng: công viên, sân thể thao, nhà hát, rạp chiếu phim…, nên công nhân nếu có nhu cầu cũng không thể nào hưởng thụ được Về phía các cơ quan chức năng như văn hóa thông tin, Đài phát thanh — truyền hình cũng chưa tổ chức được nhiều các chương trình nghệ thuật hoặc các loại hình sân chơi giải trí khác phục vụ người lao động ngay tại nơi tập trung đông người lao động Những yếu tố này phần nào cũng đã tác động đến nhu cầu hưởng thụ văn hóa tinh thần của người lao động, những nhu cầu tối thiểu nhất mà lẽ ra họ phải được đáp ứng
Ngoài việc gặp nhiều khó khăn trong việc hưởng thụ các giá trị vật chất và tinh thần thì người lao động còn gặp nhiều khó khăn trong việc học tập, nâng cao trình độ, hiểu biết các quy định pháp luật, ngay cả chính sách pháp luật liên quan
“thiết thân” với người lao động là pháp luật lao động, đây cũng chính là một trong những nguyên nhân dẫn đến các cuộc đình công của người lao động hầu hết đều không tuân thủ đúng các trình tự và thủ tục như pháp luật quy định
2 Đánh giá hiệu quả việc cung ứng dịch vụ công cho người lao động ở các khu công nghiệp trong một số lĩnh vực cơ bản
2 1 Những tiến bộ về mặt chính sách trong việc cung ứng một số dịch vụ công cơ bản cho người lao động
2 1 1 Chính sách về nhà ở xã hội
Tiến bộ trong việc ban hành chính sách về nhà ở cho công dân và người lao động được thể hiện trước hết trong Luật Nhà ở (2005), trong đó, có nhiều quy định
nhằm bảo đảm quyền có nhà ở của công dân và người lao động dưới nhiều hình
thức Cụ thể, Điều 4 của Luật Nhà ở đã quy định về quyền có chỗ ở và quyền sở hữu nhà ở của công dân Luật Nhà ở còn quy định rõ về chính sách của Nhà nước
về phát triển nhà ở (Điều 6), trong đó chỉ rõ Nhà nước phải có chính sách về quy hoạch, đất đai, tài chính, tín dụng; về nghiên cứu ứng dụng công nghệ và vật liệu xây dựng mới; về thị trường bất động sản nhà ở và thực hiện công khai, minh bạch thủ tục hành chính để tạo điều kiện cho tổ chức, cá nhân tham gia phát triển nhà ở theo quy định của pháp luật Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế tham gia đầu tư phát triển nhà ở để bán, cho thuê, cho thuê mua
đáp ứng nhu cầu nhà ở của người có thu nhập thấp và các tầng lớp dân cư trong xã
hội ” Tại Điều 31, khoản 1, Luật này còn chỉ rõ rằng trong “Quy hoạch xây dựng
đô thị, điểm dân cư nông thôn và các dự án xây dựng khu kinh tế, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, … phải xác định nhu cầu về nhà ở, đất để xây dựng nhà ở và hệ thống hạ tầng phục vụ nhu cầu ở” Đặc biệt, luật còn quy định rất
rõ “khi phê duyệt các quy hoạch… cơ quan có thẩm quyền phải đồng thời phê duyệt
Trang 29quy hoạch phát triển nhà ở”, hoặc “Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh phải công bố công khai quy hoạch phát triển nhà ở, các cơ chế, chính sách tạo điều kiện cụ thể đối với
từng dự án phát triển nhà ở” Trong Điều 48 về quy hoạch phát triển nhà ở xã hội,
Luật này cũng chỉ rõ: “Trong quy hoạch xây dựng đô thị, điểm dân cư nông thôn, khu kinh tế, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao phải xác định rõ quy hoạch xây dựng quỹ nhà ở xã hội…”
Thời gian gần đây, Đảng và Nhà nước đã chủ trương đến năm 2010 phải giải
quyết có hiệu quả vấn đề nhà ở tại các KCN Nghị quyết 20-NQ/TW về ‘tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghịêp hoá, hiện đại
hoá đất nước” đã đề ra nhiệm vụ “Ban hành chính sách khuyến khích các doanh
nghịêp, các thành phần kinh tế đầu tư xây dựng nhà ở cho công nhân, nhất là tại các KCN, KCX… Quy định phát triển khu công nghịêp phải đi liền với phát triển khu đô thị mới và các công trình phúc lợi công cộng, trong đó có khu nhà ở cho công nhân … Nhà nước đầu tư xây dựng nhà ở và các công trình phúc lợi công cộng phục vụ lâu dài cho công nhân diện thu nhập thấp … Các doanh nghiệp đầu
tư xây dựng nhà ở cho công nhân được tính vào giá trị đầu tư và hoạch toán vào chi phí sản xuất”
Thực hiện chủ trương của Đảng, Chính phủ đã ban hành Nghị định
29/2008/NĐ-CP (ngày14/3/2008) quy định về Khu công nghịêp, khu chế xuất và
khu kinh tế, trong đó có đề ra điều kiện để bổ sung KCN là “phát triển KCN gắn liền với quy hoạch phát triển đô thị, phân bố dân cư và nhà ở và các công trình xã hội phục vụ công nhân làm việc trong các KCN’ Tại điều 16 của Nghị định này có đưa ra cơ chế ưu đãi ‘Chi phí xây dựng, vận hành và thuê nhà chung cư,… phục vụ cho công nhân làm vịêc tại các KCN, khu kinh tế là chi phí hợp lý, được khấu trừ
để tính thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp có dự án đầu tư trong KCN - KKT’
Một số cơ chế ưu đãi khác cũng đã được các địa phương đề xuất như không thu tiền thuê đất cho các dự án nhà ở cho công nhân; được tiếp cận nguồn vốn vay với lãi suất ưu đãi, được giảm thuế,…Như vậy, yếu tố về nhà ở cho người lao động đã được xem xét, tính toán và trở thành điều kiện để hình thành các KCN mới Quy định này có thể sẽ phần nào giúp khắc phục tình trạng bất cập trước đây, đó là xây dựng hàng loạt các KCN mới nhưng lại bỏ ngỏ về vấn đề nhà ở cho người lao động
Mới đây, ngày 24/4/2009, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số
66/2009/QĐ-TTg về cơ chế, chính sách phát triển nhà ở cho công nhân thuê nhằm
tạo điều kiện cho người lao động làm việc tại các KCN, KCX, KCN có nơi ăn chốn
ở ổn định, góp phần bảo đảm cuộc sống Trong Quyết định này đã xác định rõ từ
mô hình thực hiện các dự án đầu tư, đến quỹ đất dành để xây dựng nhà ở công nhân
Trang 30KCN, tiêu chuẩn thiết kế và giá cho thuê nhà; các ưu đãi đối với chủ đầu tư dự án xây dựng nhà ở, quản lý chất lượng công trình xây dựng, quản lý sử dụng, vận hành khai thác quỹ nhà ở, đối tượng được thuê loại nhà ở này
2 1 2 Chính sách về giáo dục đào tạo cho con em người lao động và khuyến khích nâng đào tạo nghề cho người lao động
Luật pháp và chính sách về giáo dục và đào tạo người lao động được thể hiện trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau Tuy nhiên, đối với người lao động nói chung và người lao động trong các KCN nói riêng, các quy định chính
sách về khung học phí đối với các cấp bậc học trong hệ thống giáo dục quốc dân
(nói chung) và các công cụ khuyến khích về đào tạo nghề hiện đang chiếm giữ một
vị trí vô cùng quan trọng
- Chính sách về khung học phí: Ðối với giáo dục mầm non và phổ thông,
khung học phí được quy định cho từng cấp bậc học và phân theo 3 khu vực là: (i) thành phố, thị xã, KCN; (ii) nông thôn, đồng bằng và trung du; và (iii) nông thôn miền núi thấp (Bảng 4)
Bảng 4: Khung thu học phí đối với các cấp bậc học trong hệ thống giáo
dục quốc dân (Quyết định số 70/1998/QÐ-TTg)
Nguồn: Vụ Kế Hoạch Tài Chính, Bộ Giáo dục và Đào tạo
Căn cứ vào khung học phí của Thủ tướng Chính phủ qui định trên đây, Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định mức học phí cụ thể cho từng cấp học, loại hìnhgiáo dục thuộc địa phương quản lý có phân biệt theo điều kiện kinh tế xã hội của mỗi địa phương, trình Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố phê duyệt
Học phí đối với đào tạo nghề cũng được quy định tại Quyết định số 70/1998/QÐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, với các mức chi phí của người lao động cho việc học nghề như sau:
Bảng 5: Khung học phí đối với đào tạo nghề
Trình độ đào tạo Học phí (đồng/tháng/người)
Trang 31Trên cơ sở khung học phí trên, các cơ sở đào tạo tự quyết định mức học phí cho đơn vị mình
- Chính sách khuyến khích đào tạo nghề cho người lao động trong các
KCN: Hiện nay Nhà nước đã ban hành một số chính sách nhằm tăng cường khả năng tiếp cận dịch vụ đào tạo nghề cho người lao động nói chung, người lao động trong các KCN nói riêng, cụ thể là:
•Khuyến khích người lao động tham gia các khoá đào tạo nghề để nâng cao năng lực và trình độ của bản thân thông qua việc tạo điều kiện để người lao động
được vay vốn để đi học với lãi suất ưu đãi
•Khuyến khích các doanh nghiệp tự đào tạo lao động để đáp ứng nhu cầu sử dụng lao động của bản thân doanh nghiệp thông qua việc cho phép doanh nghiệp tính chi phí đào tạo nhân lực vào chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
•Khuyến khích sự liên kết, phối hợp giữa các viện - trường - doanh nghiệp nhằm đào tạo ra đội ngũ lao động chất lượng đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp
•Hỗ trợ, giúp đỡ một số đối tượng người lao động thuộc các nhóm yếu thế trong xã hội (như nông dân thiếu đất canh tác hoặc bị thu hồi đất canh tác, đặc biệt
là những người bị thu hồi đất để xây dựng các KCN, người nghèo, người lao động sống ở các vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, người mồ côi cha mẹ, ); các đối tượng thuộc diện chính sách (con em thương binh liệt sỹ, con em người có công với cách mạng, người dân tộc thiểu số, người khuyết tật, ) được đào tạo nghề miễn phí thông qua một số đề án, dự án do Nhà nước tài trợ Ngoài các văn bản nêu trên, người lao động trong các KCN, KCX còn có thể được hưởng
ưu đãi từ các chính sách phát triển đối với các vùng mà họ đang cư trú hoặc các ngành mà họ đang tham gia lao động
2 1 3 Chính sách về y tế,bảo hiểm và chăm sóc sức khoẻ cho người lao động
Đến nay, Nhà nước đã ban hành rất nhiều chính sách, quy định pháp luật liên quan đến dịch vụ y tế và chăm sóc sức khoẻ cho người lao động Những văn bản này tập trung vào hướng dẫn thực hiện một số nội dung như khám tuyển, khám sức khỏe định kỳ, khám bệnh nghề nghiệp, tai nạn lao động, giám định bệnh nghề nghiệp và tai nạn lao động, bảo hiểm y tế (BHYT) và bảo hiểm xã hội (BHXH) và các chế độ khác như về an toàn vệ sinh lao động, điều dưỡng phục hồi chức năng, thời giờ làm việc, nghỉ ngơi, bồi dưỡng hiện vật, cho người lao động Đây là nhóm chính sách nhằm đảm bảo điều kiện vật chất cho duy trì và phát triển lực
Trang 32lượng lao động trong trường hợp người lao động bị ốm đau, thai sản, hết tuổi lao động, bị bệnh nghề nghiệp, tai nạn lao động và các rủi ro khác
- Chính sách BHYT và BHXH: Nhà nước quy định mọi đối tượng lao
động và sử dụng lao động đều có quyền và trách nhiệm tham gia đầy đủ BHYT (Luật BHYT 2008) và BHXH (Luật BHXH 2006) Mức đóng góp hàng tháng của người sử dụng lao động là 12% lương của người lao động (tương ứng 10% và 2% đối với BHXH và BHYT) và người lao động là 6% lương của họ (tương ứng 5% và
1% đối với BHXH và BHYT) BHXH bảo đảm các chế độ cho người lao động khi
ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hưu trí, tử tuất, hoặc thất
nghiệp; còn BHYT bảo đảm quyền được khám, chữa bệnh, thanh toán viện phí, điều
trị bệnh nội, ngoại trú Các quyền tiếp cận dịch vụ y tế và chăm sóc sức khoẻ của người lao động còn được quy định trong nhiều văn bản pháp luật, Nghị định, Nghị quyết, Thông tư và Chỉ thị khác, với nội dung hướng dẫn thực hiện một số hoạt động như: khám sức khoẻ định kỳ, khám tuyển, khám bệnh nghề nghiệp, tai nạn lao động, giám định bệnh nghề nghiệp và tai nạn lao động, BHYT và BHXH, và các chế độ khác như: an toàn vệ sinh lao động, điều dưỡng phục hồi chức năng, thời gian làm việc, nghỉ ngơi, bồi dưỡng hiện vật,… cho người lao động Điều 141 Bộ luật lao động còn quy định mọi lao động có hợp đồng lao động từ 3 tháng trở lên
phải tham gia BHXH bắt buộc, chủ sử dụng lao động phải đóng 10% quỹ lương và
người lao động phải đóng 5% mức lương Điều148 của Bộ Luật lao động quy định trách nhiệm của các cơ sở sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp, thuỷ sản và nghề muối phải tham gia hình thức BHXH phù hợp với đặc điểm sản xuất và lao động
- Chính sách về chăm sóc sức khoẻ cho người lao động: các chính sách,
quy định về vấn đề chăm sóc sức khoẻ cho người lao động nói chung gồm các nội
dung chính về: (i) Chế độ khám tuyển: khám tuyển là bắt buộc đối với người sử
dụng lao động khi tiếp nhận người lao động Chi phí cho công tác khám tuyển do người sử dụng lao động phải trả Chủ sử dụng lao động có trách nhiệm sắp xếp lao động phù hợp với kết quả khám tuyển và khả năng lao động Đối với người sử dụng không thực hiện chế độ khám sức khỏe tuyển dụng, cơ quan thanh tra và quản lý
nhà nước có quyền xử lý phạt tiền đến 2 000 000 đồng; (ii) Chế độ khám sức khoẻ định kỳ: Người sử dụng lao động bắt buộc phải tổ chức khám sức khoẻ định kỳ cho
người lao động làm việc tại cơ sở sản xuất của mình, kể cả lao động học nghề và tập nghề Thời gian thực hiện khám sức khoẻ định kỳ đối với người lao động được quy định là ít nhất mỗi năm một lần Đối với các ngành sản xuất nặng nhọc, độc hại
nguy hiểm, thì thời gian này là 6 tháng: (iii) Chế độ khám bệnh nghề nghiệp: Khi
Trang 33người lao động làm việc trong môi trường lao động có tiếp xúc với các yếu tố độc hại của nghề nghiệp, người sử dụng lao động có trách nhiệm tổ chức khám bệnh nghề nghiệp cho người lao động nhằm phát hiện và điều trị sớm bệnh nghề nghiệp Nhà nước quy định mỗi tỉnh tối thiểu cần có 01 phòng khám bệnh nghề nghiệp và việc khám bệnh nghề nghiệp cần được tiến hành bởi bác sỹ có trình độ về vệ sinh lao động và bệnh nghề nghiệp Chủ sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả các chi phí cho công tác khám chữa bệnh nghề nghiệp, chẩn đoán, điều trị và phục hồi chức
năng (iv) chế độ phòng chống tai nạn lao động: quy định trách nhiệm của người lao
động và người sử dụng lao động trong các trường hợp tai nạn lao động xảy ra quá trình sản xuất Việc đền bù và bồi thường đối với tai nạn lao động do BHXH chi trả, trong trường hợp người lao động không được tham gia BHXH thì người sử dụng
lao động có trách nhiệm trả các khoản đền bù cho người lao động; (v) Giám định bệnh nghề nghiệp và tai nạn lao động: Mọi người lao động bị tai nạn lao động và
bệnh nghề nghiệp đều được giám định để hưởng các chế độ về điều trị, phục hồi chức năng và đền bù đối với sự suy giảm khả năng lao động của mình Sau khi giám định, phải bố trí sắp xếp lại vị trí lao động phù hợp với khả năng làm việc của người lao động Chi phí giám định đối với đối tượng người lao động bị tai nạn và
bệnh nghề nghiệp do người sử dụng lao động chi trả; và (vi) Các chế độ khác như
học tập về vệ sinh lao động và bệnh nghề nghiệp; Điều trị, điều dưỡng phục hồi sức khoẻ người lao động; Quy định về trang bị bảo hộ lao động, v v cũng được quy định rõ trong các văn bản luật và quy phạm pháp luật khác có liên quan
2 1 4 Chính sách tăng cường văn hóa,nâng cao đời sống tinh thần cho người lao động
Ở tầm toàn quốc gia, thời gian gần đây, các chính sách nhằm tăng cường văn hóa được đẩy mạnh ở tất cả các cấp và các địa phương Một trong các mục tiêu chính của Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hoá là xây dựng và phát triển đời sống văn hóa thông tin ở cấp cơ sở Để thực hiện mục tiêu này, Nhà nước đã tăng cường đầu tư xây dựng và phát huy các thiết chế văn hóa cộng đồng Năm 2007, cả nước có 16 509 thư viện công cộng; 14 333 phòng đọc sách cơ sở Mục tiêu đến năm 2010, có đến 99,5% số hộ trong cả nước được xem truyền hình và nghe đài tiếng nói Việt nam; 100% số làng bản có tủ sách công v v
2 2 Một số kết quả tích cực đã đạt được trong việc cung ứng dịch vụ công cho người lao động tại các Khu công nghiệp
Thời gian qua nhờ có sự quan tâm và kết hợp giữa các Bộ,Ban,Ngành và Ban quản lý các KCN mà hoạt động cung ứng dịch vụ công cho người lao động trong các KCN tại Việt Nam đã từng bước cải thiện
Trang 342 2 1 Nhà ở xã hội cho người lao động trong Khu công nghiệp
Nhờ có những nỗ lực lớn trong việc cải thiện khung luật pháp, chính sách về
nhà ở cho công nhân, gần đây, đã xuất hiện một số điển hình tốt về việc các doanh
nghiệp bảo đảm nhà ở cho người lao động Ví dụ: Công ty Formosa trong KCN Nhơn Trạch II (huyện Nhơn Trạch) đã bỏ ra 8 triệu USD xây dựng khu cư xá cao cấp dành cho công nhân, với 343 phòng, có thể giải quyết chỗ ở cho khoảng 2 200 lao động Trong mỗi phòng được trang bị 3 giường tầng và đầy đủ tiện nghi sinh hoạt: bếp, phòng tắm, tủ lạnh, ti vi, bàn là Trong cư xá có phòng đọc sách, sân tennis, phòng Internet, căng tin, bưu điện, siêu thị mini và khu nhà ăn phục vụ được cho 3 000 xuất ăn mỗi ngày Hiện nay có 2 000 công nhân đang ở Tương tự, xí nghiệp May mặc xuất khẩu 3-2 (xã Hoà Bình, Thuận An, Bình Dương) cũng đã xây nhà lưu trú cho công nhân, bảo đảm thoáng mát, tiện nghi, có người làm vệ sinh hàng ngày Cuối tuần Ban quản lý tổ chức vui chơi, hát Karaoke miễn phí Công ty Trường Thịnh (khu công nghiệp Tân Tạo – tp Hồ Chí Minh) đã xây dựng chỗ ở và giải quyết cho khoảng 500 người lao động của công ty, với giá thuê hàng tháng là
70 000 đồng/người/tháng Một số doanh nghiệp khác (như doanh nghiệp may – thuộc khu công nghịêp Sông Công – Thái Nguyên hay công ty Hock Him, công ty Daily Full, ở tỉnh Bình Dương) do ít đất, không có điều kiện xây dựng chỗ ở tập thể cho người lao động, đã chủ động thuê nhà của một số hộ gia đình gần kề KCN
để cho công nhân ở Việc làm này được một số doanh nghiệp coi là một biện pháp
để “giữ chân” người lao động có tay nghề Tuy nhiên, phải nói rằng phần lớn các doanh nghiệp này đều là các đơn vị có quy mô lớn, vốn lớn, công nghệ sản xuất đòi hỏi kỹ năng cao2
Theo hướng đó, tại một số địa phương, chính quyền cũng đã bắt đầu chủ động, giải quyết nhà ở cho người lao động Ví dụ, chính quyền thành phố HCM đã
có phương án, kế hoạch đầu tư xây dựng nhà ở cho người có thu nhập thấp nói chung và cho lực lượng lao động ở các KCN – KCX từ năm 2003 Chính quyền tỉnh Bình Dương có chính sách hỗ trợ cho mỗi hộ dân gần KCN Mỹ Phương 5 bao xi măng để xây dựng nhà trọ cho công nhân làm việc tại KCN này
Bảng 6 Nhà ở cho người lao động trong khu công nghiệp tại một số
tỉnh thành2008
(các khu công nghiệp đã đi vào hoạt động)
Đơn vị:nghìn người Địa phương
Số khu công nghiệp Lao động
Lao động có nhu cầu thuê nhà
Tỷ lệ lao động được tạo điều kiện về nhà ở
2 Xem: http://news mangtuyendung com vn/view asp?Cat_ID=14&news_id=2154
Trang 35Đồng Nai 29 335 200 7%
Nguồn:tổng hợp từ khucongnghiep com vn
Chúng ta có thể thấy qua bảng số liệu trên nơi tạo điều kiện xây dựng nhà ở cho người lao động nhất là Bình Dương cũng mới chỉ đáp ứng được 15% nhu cầu Đồng Nai là nơi tập trung 29KCN đang hoạt động,thu hút 335nghìn lao động trong
và ngoại tỉnh với hơn 200nghìn lao động có nhu cầu thuê nhà ở nhưng chỉ đáp ứng được 7%nhu cầu của người lao động Mặc dù những con số ấy còn quá ít ỏi nhưng cũng là những tín hiệu đáng mừng thể hiện những nỗ lực của các KCN trong việc xây dựng nhà ở cho người lao động
Một tin vui đến vào những ngày đầu năm 2010 là đã có 6 đơn vị đăng ký với
Sở Xây dựng Hà Nội lập dự án triển khai việc xây nhà ở cho công nhân Hy vọng với những tín hiệu mới, nhà ở cho công nhân đang làm việc tại các KCN - CX, KCNC sẽ bớt thiếu
2 2 2 Y tế-Chăm sóc sức khỏe người lao động
Chăm sóc sức khoẻ cho người lao động là một vấn đề vô cùng quan trọng BHXH
và BHYT là quyền lợi của người lao động, thể hiện rõ mức độ tiếp cận của người lao động với dịch vụ y tế và sự quan tâm của doanh nghiệp đến sức khoẻ NLĐ
Bảng7 Tỷ lệ doanh nghiệp đóng BHYT&BHXH cho người lao động
trong KCN
năm thực hiện đủ nghĩa vụ
có thực hiện nhưng chưa
và BHYT cho công nhân, chiếm 66,42%; năm 2007 - có 694 doanh nghiệp thực hiện, chiếm 56,42% Số có thực hiện, nhưng chưa đầy đủ trong năm 2003 có 52
DN, chiếm tỷ lệ 18,97%; năm 2007 có 254 DN, chiếm tỷ lệ 20,65% Số doanh nghiệp còn lại đã không thực hiện cả 2 chính sách này Mặc dù tỉ lệ này chưa cao nhưng cũng đã thể hiện những cố gắng trong việc đảm bảo quyền lợi về chăm sóc sức khoẻ cho người lao động của các doanh nghiệp
Trang 36Bảng 8 Tỷ lệ lao động trong các KCN tham gia đóng bảo hiểm
Năm Tham gia đóng BHXH Tham gia đóng BHYT
(Số liệu được tổng hợp,phân tích từ báo cáo của 20 liên đoàn lao động các
tỉnh thành phố)
Xét từ phía người lao động, số lao động tham gia đóng BHXH năm 2003 có
45 652 người, chiếm tỷ lệ 64,41%; năm 2007 có 263 584 người được tham gia, chiếm tỷ lệ 74,57% Số lao động được đóng tiền BHYT năm 2003 có 49 150 người được tham gia, chiếm tỷ lệ 69,35%; năm 2007 có 247 106 người được tham gia, chiếm tỷ lệ 69,91% Số còn lại đã không tham gia vào một, hoặc cả 2 loại bảo hiểm nói trên Tỷ lệ lao động đóng bảo hiểm đã tăng lên, điều đó chứng tỏ nhận thức của người lao động đã thay đổi, đó cũng là điều đáng mừng khi họ chủ động trong việc bảo đảm sức khoẻ và sự an toàn cho bản thân mình
Một số KCN đã chú trọng đầu tư xây dựng bệnh viện,trạm y tế riêng ngay trong địa bàn KCN,ví dụ như :Trạm y tế Khu công nghiệp Long Hậu được thành lập với nhiệm vụ quản lý, chăm sóc sức khỏe người lao động trên địa bàn Khu công nghiệp Trung tâm thực hiện tư vấn vệ sinh an toàn thực phẩm, khám chữa bệnh, sơ cấp cứu các tai nạn lao động thường gặp trong sản xuất, chăm sóc sức khỏe người lao động Những KCN không có điều kiện xây dựng bệnh viện,trạm y tế riêng,nhiều nơi đã đặt hợp đồng khám bệnh,kiểm tra sức khoẻ cho người lao động Theo thông tin từ Bệnh viện Thái Bình Dương, một trong những đơn vị thường xuyên nhận hợp đồng khám bệnh định kỳ tại các doanh nghiệp trong các KCN trên địa bàn Hội An, thì thời gian gần đây, số đơn đặt hàng khám bệnh định kỳ cho công nhân ngày càng nhiều Điều này cho thấy, không chỉ là vấn đề đời sống vật chất mà chất lượng cuộc sống, đặc biệt là vấn đề sức khỏe của công nhân đã và đang được các doanh nghiệp
và nhiều ngành chức năng quan tâm hơn Đây thực sự là một tín hiệu vui cho người lao động
2 2 3 Giáo dục-Đào tạo
Giáo dục đào tạo cho người lao động và con em họ cũng đã có nhiều chuyển biến Có thể nhắc đến Trường Bổ túc Văn hóa (BTVH) Tôn Đức Thắng- ngôi trường được tổ chức Công đoàn TP Hồ Chí Minh giao nhiệm vụ nâng cao học vấn cho đội ngũ người lao động trong các KCN trên địa bàn thành phố Tính đến nay, trường đã mở được 654 lớp với 19 874 lượt CNVC-LĐ theo học; trong đó, gần 10
000 người tốt nghiệp trung học phổ thông và hàng trăm người tiếp tục học lên đại học Tỉ lệ tốt nghiệp các cấp luôn đạt trên 80% Theo Hiệu trưởng Bùi Hữu Toàn,
Trang 37con số trên tuy chưa làm hài lòng những người có tâm huyết vì sự nghiệp xây dựng giai cấp CN, nhưng cái được lớn nhất là đã tạo được chuyển biến về nhận thức trong CN và các DN về sự cần thiết của việc phải nâng cao trình độ học vấn Nhiều
CN khẳng định: Chính nhờ trình độ học vấn được nâng lên mà họ tiếp thu công nghệ mới nhanh hơn Có người lúc đầu không muốn đi học, nhưng càng học càng say mê và muốn học thêm nữa Với con em người lao động,Ban quản lý các KCN cũng đã cố gắng tạo điều kiện trong mức có thể để người lao động có thể yên tâm làm việc Điển hình là KCN Tân Tạo-Tp Hồ Chí Minh, đã chủ động xây trường mầm non cho con em người lao động Hay như Công ty cổ phần khoá Việt-Tiệp tại KCN Đông Anh đã có trường mầm non cho con em công nhân trong công ty:
Trang 38Hộp 1: Điểm sáng tại KCN Đông Anh
Chứng kiến một buổi học của cô và trò trường mầm non của Công ty cổ phần Khoá Việt - Tiệp, chúng tôi thấy các cháu đang được chăm sóc và nuôi dạy trong một môi trường sư phạm, cộng với sự gần gũi, gắn bó giữa các cô với bố mẹ các cháu Các cô nuôi đều tốt nghiệp các trường sư phạm, có chuyên môn, ngoài việc hưởng lương của ngành giáo dục, các cô còn được công ty trả lương theo hiệu quả kinh doanh của công ty Với hơn 800 công nhân, trong đó có gần 400 công nhân nữ, thì trường mầm non của công ty thực sự tạo được cho họ sự yên tâm gắn
bó với công ty Chị Dương Thị Minh Thắm, công nhân xưởng lắp ráp đã 12 năm, có
2 con đều gửi nhà trẻ công ty Chị Thắm cho biết, cả hai vợ chồng chị đều là công nhân, gửi con ở nhà trẻ công ty vừa tiện đường bố mẹ đưa đi, đón về, vừa được công ty hỗ trợ, trung bình mỗi tháng chỉ phải đóng 200 000 đồng/tháng Lợi nhất là nếu mẹ làm thêm ngày nghỉ, tăng ca cũng không lo vì các cô ở nhà trẻ cũng trông các cháu ngoài giờ
nguồn: Kinh tế đô thị
Trong những năm qua, dệt may là một trong những ngành cạnh tranh khốc liệt nhất về giá cả, nhưng mô hình nhà trẻ ở Tổng Công ty May 10 vẫn duy trì 26 cô giáo và tiền đóng chỉ từ 250 000 đến 300 000 đồng/tháng/cháu cho thấy nếu đơn
vị thực sự muốn duy trì nhà trẻ, họ vẫn làm được
Đây thực sự là những mô hình rất đáng khích lệ và cần được nhân rộng trên toàn quốc
hộ nghe được đài tiếng nói Việt Nam trong năm 2008 Đầu tư cho thể dục thể thao, tăng cường cơ sở vật chất cho các xã/ phường, điều kiện cho giáo dục thể chất tại các nhà trường thời gian qua cũng đã được tăng cường Số xã, phường, thị trấn có thiết chế thể dục thể thao đạt 92% vào năm 2007 Chỉ tiêu tỷ lệ trường đảm bảo giáo dục thể chất đạt 92% năm 2008 Hoạt động thể dục, thể thao quần chúng diễn
ra sôi nổi Các địa phương, các ngành đã tổ chức nhiều hoạt động thể thao với nội dung phong phú thu hút sự tham gia của nhiều người Đặc biệt, do ý thức được tác dụng của thể thao đối với bảo vệ sức khỏe mà ngày càng nhiều cá nhân và gia đình
Trang 39tham gia tập luyện thể thao Năm 2008, dự kiến có khoảng 23% dân số tham gia luyện tập thể thao thường xuyên, tăng gần 28% so với năm 2005 Bên cạnh đó, hoạt động thể thao thành tích cao cũng được quan tâm đầu tư phát triển Trong khuôn khổ dự án Danida của Đan Mạch “Hỗ trợ cho công nhân làm việc tại các Khu công nghiệp - khu chế xuất”,vừa qua Hiệp hội Nữ doanh nhân Hà Nội phối hợp với Trung tâm dạy nghề phụ nữ, Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Nam Định đã xây dựng nhà văn hóa cho CNLĐ tại Cụm công nghiệp An Xá Đây là nhà văn hóa thứ hai (sau nhà văn hóa tại Khu công nghiệp Vĩnh Khúc - tỉnh Hưng Yên) dành cho CN tại các khu công nghiệp thông qua dự án trên Với mô hình xây dựng nhà văn hoá cộng đồng và các chương trình đào tạo kỹ năng sống cho CN, nhất là CN sau giờ làm việc, đã làm thay đổi chất lượng cuộc sống của CNLĐ tại các khu công nghiệp
Có thể nhận thấy một cách rất rõ ràng là ở những KCN tạo điều kiện tốt,quan tâm chú trọng đến việc cung ứng dịch vụ công cho người lao động, đời sống của người lao động đã được cải thiện đáng kể Mức sống của người lao động được nâng cao và ổn định,không còn những nỗi lo về điều kiện sống cơ bản hàng ngày ,họ tập trung vào công việc,hết lòng vì doanh nghiệp Điều này không chỉ mang lại lợi ích cho người lao động mà còn mang lại lợi ích rất lớn cho doanh nghiệp,tạo sự gắn bó giữa người lao động và doanh nghiệp trong thời buổi nguồn lao động thường xuyên biến động như hiện nay
Hộp 2 :Bài học của NIKE
Ông Nigel Twose - đại diện WB - cho biết: “Năm 1997, một báo cáo kiểm tra của các công ty mua hàng nước ngoài đã phê bình nặng nề điều kiện lao động trong các nhà máy giày da của VN, trong đó có Công ty Nike Các công ty đa quốc gia (bên mua) lấy hàng từ nhiều nước đã áp dụng các quy tắc ứng xử cho các nhà cung cấp của mình nhằm đối phó với các nhóm hoạt động xã hội, người tiêu dùng và cổ đông Kết quả là giá cổ phiếu của Nike đã giảm 17%”
Bà Hồ Uyên - đại diện Công ty Nike - phát biểu: “Từ bài học đó, chúng tôi nhận ra rằng, vì lợi ích của chính mình thì đầu tư vào NLĐ là cách hiệu quả nhất để duy trì kinh doanh và cải thiện hình ảnh của công ty Cụ thể là chúng tôi đã tạo ra môi trường lao động tốt, chăm sóc sức khỏe, giáo dục, đào tạo tại chỗ cho NLĐ Kết quả đầu tư này có những lợi ích kinh doanh đáng kể như ít sản phẩm lỗi, năng suất lao động cao, giảm tỉ lệ bỏ việc và nghỉ không lý do ” Hiện nay, Nike đang hợp tác với 6 công ty giày và khoảng 30 nhà máy sản xuất quần áo tại VN với hơn 60
000 công nhân Năm 2001, giá trị xuất khẩu của Nike đạt khoảng 450 triệu USD, chiếm 4% tổng giá trị xuất khẩu sản xuất của VN
Nguồn: Người lao động online
Trang 402 3 Những bất cập trong việc cung cấp dịch vụ công cho người lao động trong các Khu công nghiệp
2 3 1 Người lao động bị hạn chế trong việc tiếp cận các dịch vụ công
-Được xây dựng hỗ trợ về chỗ ở nhưng người lao động lại không có nhu cầu:Hiện nay, giá tiền thuê nhà trọ trung bình mỗi người từ 80 000đ/tháng –
150 000 đồng/tháng Khoản chi trả này lớn từ gấp đôi đến gần gấp bốn lần mức tiền nhà được cơ cấu trong tiền lương của công nhân Theo cách tính hiện hành, tiền nhà ở trong cơ cấu tiền lương tối thiểu chỉ chiếm 7,5%, với mức lương tối thiểu như hiện nay là 650 000 đồng, thì tiền nhà tương ứng là 48 700 đồng/tháng Chính vì thế, mặc dù có một số KCN đã bắt đầu cung cấp nhà ở cho công nhân với chất lượng đủ đáp ứng tiêu chuẩn, nhưng công nhân vẫn không thể đến ở Ví dụ điển hình là khu lưu trú của KCN Linh Trung (Thủ Đức, TP Hồ Chí Minh) Khu nhà ở này toạ lạc trên diện tích 9 000 m2, với khu vui chơi giải trí thoáng mát, có căng tin giải khát và chiếu phim miễn phí; có 104 phòng, bố trí 8 người/phòng tổng cộng trên 800 chỗ ở; diện tích mỗi phòng 32 m2, trong phòng có bếp và khu vệ sinh khép kín; tiền thuê phòng 80 000 đồng/người/tháng Đây là Khu lưu trú khá lý tưởng nhưng công nhân không mấy người thuê, bởi ngoài tiền nhà người thuê còn phải tự trả tiền điện, tiền nước là các khoản chi khá tốn kém Vì thế, mặc dù Khu lưu trú này hoạt động từ tháng 1/2003 đến nay công nhân thuê chưa hết chỗ, phải cho sinh viên các trường đại học thuê
-Trong lĩnh vực giáo dục đào tạo:
Tuy đã có một số chính sách ưu đãi cho đào tạo người lao động được áp dụng, mức độ tiếp cận dịch vụ đào tạo nghề của người lao động trong KCN vẫn còn rất hạn hẹp Trước hết là do mức chi phí cho học nghề ở các cơ sở giáo dục nghề nghiệp hiện nay vẫn còn cao Hầu hết người lao động, kể cả người lao động trong các KCN, khó có khả năng tiếp cận với dịch vụ đào tạo nghề nếu họ phải tự trang
trải kinh phí Đặc biệt, hầu hết các cơ sở đào tạo đều đã nâng mức học phí lên
tương đương với mức trần trong khung học phí đào tạo do Nhà nước quy định Trong khi đó, ngoài học phí, học viên còn phải đóng nhiều khoản khác như; lệ phí thi cử, tiền gửi xe, tiền bảo hiểm, tiền chi mua nguyên vật liệu, dụng cụ, để thực hành tại cơ sở đào tạo Nếu tính cả tiền thuê nhà trọ, các chi phí cho sinh hoạt trong quá trình học tập và tiền mua tài liệu, giáo trình, dụng cụ học tập, thì tổng các chi phí nói trên ước tính tối thiểu là 800 000 – 1 000 000 đồng/tháng/người, là mức quá cao so với thư nhập hiện nay của một lao động trung bình
Ở các doanh nghiệp trong các KCN, việc đào tạo chủ yếu là “cầm tay chỉ việc” Hình thức này có ưu điểm là chi phí thấp do tận dụng được các nguồn lực từ