1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Đánh giá thực trạng sử dụng các thuốc trừ sâu sinh học và nghiên cứu định hướng sử dụng thuốc trừ sâu sinh học trong sản xuất rau ăn quả an toàn tại Hà Nội

58 1,1K 10

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 58
Dung lượng 4,03 MB
File đính kèm De tai thuoc BVTV sinh hoc.rar (4 MB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xác định được thực trạng sử dụng và các yếu tố cản trở về mặt kỹ thuật, kinh tế, xã hội của việc ứng dụng các thuốc trừ sâu sinh học trong sản xuất rau an toàn, từ đó đề xuất được phạm vi và định hướng ứng dụng chúng trong sản xuất rau an toàn tại Hà Nội.

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Dịch hại (sâu bệnh, cỏ dại, chuột v.v ) luôn là đối tượng gây cản trởhoạt động sản xuất nông nghiệp, chúng không chỉ làm giảm năng suất, chấtlượng sản phẩm mà còn làm tăng chi phí sản xuất do các hoạt động phòng trừmang lại Cùng với việc áp dụng hàng loạt các tiến bộ khoa học kỹ thuật trongnông nghiệp đặc biệt là cuộc cách mạng về giống và phân bón, sản xuất nôngnghiệp ở nước ta trong những năm gần đây đã đạt được nhiều thành tựu tolớn Từ chỗ phải nhập khẩu lương thực, chúng ta đã vươn lên trở thành nướcxuất khẩu hàng đầu thế giới về lúa gạo, cà phê, điều v.v…Tuy nhiên, mộtnghịch lý đang đặt ra cho sản xuất nông nghiệp nước ta đó là đi đôi với việctăng năng suất, vấn đề chất lượng sản phẩm và vệ sinh an toàn thực phẩmđang trở nên cấp bách và được cả xã hội quan tâm Do trình độ sản xuất cònhạn chế, chưa làm chủ được các công nghệ tiên tiến trong nông nghiệp cũngnhư công tác tổ chức sản xuất còn nhiều điểm bất hợp lý, nên chất lượng sảnphẩm của chúng ta còn thấp, khó giám sát chất lượng và đặc biệt còn bị nhiễmbẩn bởi dư lượng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV), nitrat, vi sinh vật hay cáckim loại nặng, trong đó rau đang là sản phẩm được cả xã hội quan tâm

Mặc dù cho đến nay đã có nhiều chương trình quản lý dịch hại tổng hợp

(IPM) được ứng dụng, song hiệu quả của các biện pháp phối hợp vẫn rất hạnchế và đôi khi tính khả thi không thực sự cao đối với nông dân khi triển khaitrên diện rộng Để đối phó với sâu, bệnh hại và bảo vệ sản xuất, nông dân hiệnchủ yếu vẫn dựa vào các thuốc hoá học Việc sử dụng lâu dài các thuốc hoáhọc đã gây nên tính kháng của sâu hại đối với thuốc, làm cho hiệu quả phòngtrừ giảm, do đó nông dân phải tăng dần nồng độ, lượng thuốc dùng và sử dụngcác thuốc có độ độc cao Trong khi đó, các quy trình sử dụng an toàn và hiệuquả thuốc BVTV còn thiếu tính thực tiễn, đòi hỏi khả năng vận dụng cao,

Trang 2

không phù hợp với năng lực của người dân và rất khó kiểm soát được chấtlượng sản phẩm Do hạn chế trên mà hiện nay trên thị trường vẫn chưa cóđược sản phẩm rau an toàn hoặc nếu có thì vẫn chưa có được quy trình kiểmtra, giám sát để khẳng định tính an toàn của sản phẩm [1]

Mặc dù cho đến nay đã có rất nhiều sản phẩm thuốc trừ sâu sinh học đượctạo ra từ các đề tài nghiên cứu, dự án, chương trình trong nước cũng như cácsản phẩm được lựa chọn từ nước ngoài nhưng do những giới hạn nhất định vềmặt kỹ thuật, kinh tế và xã hội nên việc ứng dụng những sản phẩm này vẫncòn rất hạn chế Trong khi đó các kết quả nghiên cứu trong nước mới chủ yếutập trung đi sâu xác định các tác nhân sinh học để ứng dụng phát triển cácdạng sản phẩm cho từng đối tượng sâu bệnh mà ít quan tâm đến việc đánh giánhững giới hạn về mặt kỹ thuật, điều kiện ứng dụng, điều kiện kinh tế và xãhội khi ứng dụng các sản phẩm Do đó, trong các quy trình hướng dẫn sửdụng hiện nay đều chưa xác đinh rõ điều kiện và phạm vi ứng dụng của từngloại thuốc cũng như đề xuất định hướng sử dụng kết hợp giữa các thuốc sinhhọc với nhau cũng như giữa thuốc sinh học với thuốc hoá học để tạo thànhmột quy trình ứng dụng đồng bộ, dễ ứng dụng và đạt hiệu quả cao

Việc ứng dụng các thuốc trừ sâu sinh học trong sản xuất đang là một vấn

đề cấp bách đặt ra cho nền sản xuất nông nghiệp ở nước ta Nó không chỉ gópphần hạn chế sử dụng các thuốc hóa học độc hại mà còn góp phần quan trọngvào việc kiểm soát chất lượng sản phẩm, từ đó thúc đẩy việc sản xuất cácnông sản an toàn phục vụ cho nhu cầu tiêu thụ trong nước cũng như xuấtkhẩu Để góp phần đẩy nhanh việc ứng dụng các thuốc trừ sâu sinh học vàosản xuất, đáp ứng nhu cầu sản phẩm an toàn trong nông nghiệp, chúng tôi tiến

hành thực hiện đề tài: “Đánh giá thực trạng sử dụng các thuốc trừ sâu sinh học và nghiên cứu định hướng sử dụng thuốc trừ sâu sinh học trong sản xuất rau ăn quả an toàn tại Hà Nội ”

Trang 3

2 Mục tiêu đề tài

Mục tiêu chung: Xác định được thực trạng sử dụng và các yếu tố cản trở vềmặt kỹ thuật, kinh tế, xã hội của việc ứng dụng các thuốc trừ sâu sinh họctrong sản xuất rau an toàn, từ đó đề xuất được phạm vi và định hướng ứngdụng chúng trong sản xuất rau an toàn tại Hà Nội

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu: Các sản phẩm trừ sâu sinh học hiện có trong

nước (kể cả sản phẩm phát triển trong nước và sản phẩm nhập nội đã được đăng ký sử dụng ở Việt Nam)

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Địa bàn: Hà Nội, Hà Nam và Vĩnh Phúc

- Cây trồng: Trên đối tượng cây rau

Trang 4

và bảo vệ thực vật rất cao trong việc nâng cao và bảo vệ sản lượng cây trồng.Song thâm canh cao kéo theo sự phá vỡ đa dạng sinh học cũng như cân bằngsinh thái vốn có của nền nông nghiệp cổ truyền mà biểu hiện của nó là ngàycàng xuất hiện các đại dịch ngày càng phức tạp Năng suất cây trồng bấpbênh, chất lượng nông sản bị giảm do chứa dư lượng thuốc BVTV Giá trịnông sản bị mất hàng năm do dịch hại được ước lượng gần đây là khoảng30% sản lượng tiềm năng của cây lương thực, cây lấy sợi, cây thức ăn gia súc.[4]

Khác với nhiều loại cây trồng khác cây rau là cây trồng ngắn ngày vớiyêu cầu thâm canh và bảo vệ thực vật khá cao, thuốc hoá học được sử dụngđược trên diện tích cao hơn nhiều so với cây lúa (Viện BVTV, 1998-2005)[23] [24] Hiện trạng dư thuốc BVTV trong rau trong cả nước gần đây đáng longại (Viện BVTV, trung tâm kiểm định thuốc BVTV phía Bắc) [25] Vì vậyviệc hạn chế sử dụng thuốc hoá học trong sản xuất rau hiện nay là vấn đề cấpthiết Trong việc hạn chế sử dụng thuốc hoá học trên cây trồng đã có nhiềucông trình nghiên cứu như [25] [23] [24]… Để giảm thiểu sử dụng thuốc hoá

Trang 5

học BVTV trong nông nghiệp, một trong những hướng đi của ngành BVTV lànghiên cứu sản xuất và sử dụng các chế phẩm sinh học, thảo mộc có thể thaythế thuốc hoá học phòng trừ sâu bệnh hại cây trồng, an toàn với người, sinhvật có ích và môi trường Các chế phẩm sinh học BVTV được sử dụng rộngrãi sẽ góp phần tích cực vào chiến lược quản lý dịch hại tổng hợp trong nềnnông nghiệp đa dạng hiện đại và bền vững Trong những năm qua, các chếphẩm sinh học đã chứng minh được những ưu điểm nổi bật đó là có khả năngphòng trừ dịch hại cao, thân thiện với môi trường và sức khoẻ con người Tuy nhiên, các thuốc trừ sâu sinh học đều được sản xuất từ các cơ thể sốnghay sản phẩm của chúng, do đó để chúng có thể phát huy được hiệu lực cầnphải có những điều kiện sinh thái phù hợp Do đó, các thuốc sinh học thườngchỉ phát huy được hiệu quả trong những phạm vi nhất định về điều kiện thờitiết, khí hậu, giai đoạn sinh trưởng cây trồng, đối tượng sâu hại cũng như mật

độ và giai đoạn phát dục của chúng Bên cạnh đó cũng có hàng loạt các yếu tốkhác như giá thành, kỹ thuật sử dụng, nhận thức và thói quen của nông dân cóthể ảnh hưởng tới quá trình xâm nhập của các thuốc trừ sâu sinh học vào sảnxuất [2]

Với những luận cứ khoa học trên đây, việc đánh giá, xác định phạm vi ứngdụng của các thuốc trừ sâu sinh học là cần thiết giúp cho việc xây dựng địnhhướng sử dụng chúng một cách thực tiễn, từng bước thúc đẩy việc ứng dụngcác thuốc trừ sâu sinh học vào trong sản xuất, đáp ứng yêu cầu của một nềnnông nghiệp sạch và hiện đại

1.2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.2.1 Thực trạng việc nghiên cứu, phát triển và sử dụng các chế phẩm sinh học trong sản xuất rau hiện nay ở nước ta

Cùng với sự phát triển của khoa học thì việc nghiên cứu để tao ra các chếphẩm sinh học trong BVTV đang được nhà nước quan tâm và xây dựng thành

Trang 6

những chương trình công nghệ sinh học của các bộ, ngành và quốc gia Thôngqua các chương trình nghiên cứu và phát triển sản phẩm, hiện nay chúng ta đã

có được khá nhiều những loại chế phẩm sinh học có khả năng ứng dụng trong

sản xuất bao gồm các chế phẩm sản xuất từ virut (NPV), từ vi khuẩn (Bacillus

thuringiensis), từ các loại nấm côn trùng (Metarhizium, Beauveria), từ tuyến

trùng v.v…và các loại chất chiết xuất từ các loài thực vật có hoạt tính trừ sâunhư xoan Ấn Độ, Deris, cây thanh hao, cây khổ sâm v.v [2]

Cho đến nay ở trong nước đã có nhiều công trình nghiên cứu, các dự án vàchương trình tập trung cho việc nghiên cứu, phát triển và sản xuất các thuốctrừ sâu sinh học Trong 10 năm qua, Viện Bảo Vệ Thực Vật đã được Bộ NôngNghiệp và Phát Triển Nông Thôn, Bộ Khoa Học và Công Nghệ giao chủ trì

để phối hợp với nhiều cơ quan và Bộ nghành khác nhau để nghiên cứu, pháttriển và ứng dụng các sản phẩm công nghệ sinh học Trong giai đoạn này đãthu được một số sản phẩm khoa học nổi bật sau:

1 Đã thu thập hàng nghàn mẫu vi sinh vật từ các nguồn trong nước, phânlập được trên 500 chủng bổ xung vào các nguồn trong nước và nhập nội đã có

từ các giai đoạn trước Thiết lập được 21 bộ mẫu vi sinh vật, trong đó cónhiều chủng có hoạt lực cao với sâu bệnh, bảo quản lưu giữ làm nguồn giốnggốc để sản xuất các chế phẩm sinh học BVTV

2 Hoàn thiện 13 quy trình công nghệ và xây dựng được 8 pilot sản xuất cácchế phẩm sinh học BVTV, trong đó có 2 quy trình công nghệ và 1 pilot sản

xuất chế phẩm NPV, NPV-Bt, trừ sâu hại rau màu; 4 quy trình công nghệ và 2 pilot sản xuất các chế phẩm Bt(Bacillus thuringiensis) trừ sâu hại cây trồng; 4

quy trình công nghệ và 2 pilot sản xuất các chế phẩm nấm côn trùng

Beauveria & Metarhizium trừ sâu hại cây trồng; quy trình công nghệ và pilot

sản xuất chế phẩm tuyến trùng có ích Biostar trừ sâu hại cây trồng; quy trình công nghệ và pilot sản xuất chế phẩm hóa sinh Momosertatin trừ sâu hại rau.

Trang 7

Các chế phẩm được sản xuất đã tiến hành đánh giá hiệu quả với sâu bệnhhại và cung cấp cho các địa phương thuộc vùng dự án sử dụng trong hệ thốngtổng hợp phòng trừ sâu bệnh đạt được kết quả khá cao Trong đó có một sốsản phẩm được đăng ký vào danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng ở

Việt Nam bao gồm: 2 chế phẩm NPV trừ sâu hại rau màu và cây công nghiệp

có tên thương mại là ViS 1 1,5x10 9 PIB/g bột và ViHa 1,5x10 9 PIB/g bột; 2 chế

phẩm Bt (Bacillus thuringiensis, Kurstak) trừ sâu hại rau tên thương mại là

Firgiotox - P 16.000 IU/mg bột và Firgiotox - C 3 tỷ bào tử/ml dịch cô đặc; 2

chế phẩm nấm từ côn trùng Metarhizium anisopliae và Beauveria bassiana tên thương mại là Ometar-1,2x10 9 bt/gr bột; và chế phẩm nấm đối kháng Trichoderma trừ bệnh hại cây trồng là RiB1 3,2x10 9 bào tử/ gam dạng khô.

Hiện nay, việc sử dụng các sản phẩm sinh học như Bt trong phòng chốngmột số loại sâu hại rau đã trở nên phổ biến và được xem là giải pháp hiệu quảnhất, khả thi nhất và kinh tế trong sản xuất rau an toàn, vì nó không chỉ gópphần hạn chế sâu hại, bảo vệ năng suất cây trồng mà còn làm tăng giá trị sảnphẩm đối với cây rau, do đó nông dân có thể bán sản phẩm thông qua các cửahàng rau sạch với giá trị tăng từ 35 – 40%

Theo Nguyễn Văn Cảm (1996) thì việc sử dụng chế phẩm Bt có thể chohiệu quả trừ sâu khá cao đối với nhiều loại sâu hại như sâu đục quả đậu

Maruca vitrata, sâu tơ, sâu khoang v.v

Trần Trung Âu, 2004 [13] cho biết Pheromon giới tính có tiềm năng caotrong việc dẫn dụ sâu tơ và sâu khoang Trong 1 ngày đêm một bẫy có thể thuđược từ 9,3 - 73,8 trưởng thành sâu tơ, 6 - 37,3 trưởng thành sâu khoang Thờigian tồn tại hiệu lực của Pheromon sâu tơ là 21 - 28 ngày, của sâu khoang 20 -

26 ngày

Trang 8

Theo Nguyễn Thị Nhung (2000) [18] các chế phẩm sinh học và thảo mộcđược đánh giá có hiệu lực đối một số loại sâu hại trên cây đậu ăn quả Chếphẩm Defil WG, Dipel 3.2 WP, Xentari 35 WDG dùng để phòng trừ sâu đụcquả đậu Chế phẩm Vertimex 1.8EC dùng để phòng trừ sâu đục lá có hiệu quảcao Chế phẩm thảo mộc Artoxid (dạng dịch chiết cây thanh hao) có hiệu lựccao với dệp đậu màu đen

Tuy còn nhiều hạn chế về phạm vi ứng dụng, kỹ thuật sử dụng, giá thànhv.v…song các thuốc trừ sâu sinh học cũng có khá nhiều ưu điểm:

- Thuốc trừ sâu sinh học thuận tiện cho người sử dụng, giảm chi phí bảoquản và vận chuyện, không gây độc cho người sử dụng, không làm bẩn nôngsản và gây ô nhiễm môi trường

- Sử dụng thuốc trừ sâu sinh học trên rau có thể có thể phát huy hiệu quảkhá dài do nguồn vi sinh vật được nhân lên trên đồng ruộng, do đó đã làmgiảm đáng kể số lần phun thuốc Tuy chi phí cho một lần phun có cao hơnnhưng tổng chi phí thuốc BVTV sẽ giảm hơn thuốc hóa học

Ưu điểm nổi bật của việc sử dụng thuốc trừ sâu sinh học là tạo điều kiệnthuận lợi cho việc cho việc giám sát chất lượng nông sản, giảm đáng kể chiphí phân tích dư lượng thuốc BVTV, do đó thận lợi cho tổ chức sản xuất vàgiám sát chất lượng nông sản an toàn

1.2.2 Một số tác nhân sinh học và chế phẩm chủ yếu được sử dụng trong BVTV

1.2.2.1 Vi rút và chế phẩm của vi rút

Trên thế giới vi rút gây hại đối với sâu hại được phát hiện đầu tiên trên sâunon sâu xanh ở miền nam Châu Phi năm 1891 (Maleg 1891 – 1892) nhưngmãi đến năm 1936 mới xác định được nguyên nhân bệnh sau một thời gian dài

có nhiều tác giả đã nghiên cứu và xác định bệnh này ( Swcest wan 1936,Stakler 1939, Coaker 1935, Stcimans 1949, 1957…)

Trang 9

Trong thời gian gần đây virus gây bệnh côn trùng đã được nhiều nước trênthế giới như Mỹ, Nga, Pháp, Ấn Độ…sản xuất thành chế phẩm sinh học, sửdụng rộng rãi để phòng trừ sâu non bộ cánh phấn và thị trường hóa dưới tên thươngphẩm như : Eclear viron H, Bio VHZ, Virin, Saudoz, TM4, Biocontrol 1…

Theo Xearian và Young đã liệt kê có 29 loài Baculovirut có ích chống sâuhại nông nghiệp Theo Falcon ở Tây bán cầu có khoảng 30% sâu hại đượcđiều khiển bằng virut côn trùng trong đó họ Baculovirusus chiếm đa số Năm

1960 – 1975 đã có 17 loại chế phẩm thuộc họ Baculovirusus được sản xuấttrên thị trường Mỹ trừ sâu bọ cánh vảy như virion/s, Biotrol.V.S…

Việc sử dụng virus nhân đa diện NPV của sâu khoang để trừ sâu khoang đãđược nhiều nhà khoa học nghiên cứu Năm 1977 các nhà khoa học TrungQuốc đã khẳng định hiệu lực diệt sâu của NPV cao hơn hẳn so với thuốcParathion Nếu thử nghiệm ở nồng độ 2 x 106 – 3 x 106 PIB/ml hiệu lực diệtsâu là 98,6% (N.Whusscy và Tinsle, 1986 ) Khi sử dụng NPV để trừ sâukhoang S litura trên thuốc lá ở nồng độ 250 LE/ha đạt hiêu lực 86,4% [17] Theo các tác giả, cơ chế gây bệnh chủ yếu của vi rút là khi sâu non ăn

thức ăn vào ruột có chứa virus (NPVHa), các thể vùi PIB của virus sẽ giải

phóng ra các virion, dưới tác dụng của dịch tiêu hóa, qua biểu bì mô ruột giữa,các virion xâm nhập vào trong dịch huyết tương, chúng tiếp xúc với các tế bào

và xâm nhập vào bên trong để thực hiện quá trình gây bệnh cho sâu hại, pháhủy toàn bộ chức năng của sâu làm cho sâu chết

Kể từ năm 1987 đến nay, ở nước ta cũng đã có khá nhiều công trìnhnghiên cứu vi rút để trừ sâu hại cây trồng Viện bảo vệ thực vật đã nghiên cứu

sử dụng vi rút sâu đo xanh (Anomis flava) để trừ sâu đo xanh hại cây đay tại Hải Hưng Nghiên cứu sử dụng vi rút sâu xanh (Heliothis armigera) trừ sâu

xanh hại bông tại Trung tâm Bông Nha Hố - Ninh Thuận (1991-1992), nghiên

Trang 10

cứu sử dụng vi rút của sâu khoang (Spodoptere litura) trừ sâu khoang trên đậu

1.2.2.2 Vi khuẩn và chế phẩm vi khuẩn :

Từ năm 1968, Taylor đã công bố vi khuẩn Bacillus thuringiensis berl.có

triển vọng dùng để phòng trừ sâu đục quả đậu Maruca vitrata ở Nigeria (dẫntheo Waterhouse và CTV, 1987) [5] Karel và CTV (1986) cũng kết luận vikhuẩn Bt có khả năng trừ sâu đục quả đậu Ở Tanzania đã dùng chế phẩm Bt

trừ sâu M.Vitrata trên đậu cô ve có hiệu quả (Karel,1984) [19]

Theo Nguyễn Văn Cảm (1996) đã nghiên cứu sử dụng chế phẩm sản xuất

từ Bt để trừ sâu đục quả đậu M.vitrata Tác giả kết luận có thể dùng Bt để trừ

sâu đục quả đậu

Cho đến nay đã có hàng loạt báo cáo về khả năng sử dụng chế phẩm từ Bt

để trừ các sâu non bộ cánh vẩy như sâu tơ, sâu xanh, sâu khoang hại rau, sâucuốn lá, sâu đục thân hại lúa và nhiều đối tượng sâu hại khác

Theo các tác giả thì cơ chế tác động chủ yếu của Bt là sau khi côn trùng ăn

phải tinh thể độc tố Bt, dưới tác dụng của pH cao đường ruột( pH > 10) là

enzym proteaza, tiền độc tố bị thủy phân thành những phân tử nhỏ có hoạttính độc Các hoạt tính này bám dính lên tế bào thượng bì ruột tạo nên các lỗ

dò để cho các ion và nước chảy vào gây nên sự phình và phân giải tế bào Côntrùng ngừng ăn và chết

Trang 11

Phạm Anh Tuấn và CTV (2004)[11] đã nghiên cứu hoàn thiện quy trìnhsản xuất chế phẩm Bt trên giá thể rắn theo phương pháp lên men hiếu khí Chế

phẩm Bt sản xuất ra có hiệu lực trừ sâu tơ (Plutella xylostella) trên 65% , sâu xanh bướm trắng( Pieris rapae) trên 60%.

1.2.2.3 Nấm vầ chế phẩm của nấm

1.2.2.3.1 Nấm đối kháng :

Trên thế giới đã nghiên cứu vào sử dụng nhiều loài nấm đối kháng để trừ

sâu bệnh hại cây trồng, trong đó việc sử dụng Trichoderma được nghiên cứu

và ứng dụng rộng rãi nhất Người ta dùng nấm Trichoderma thí nghiệm trongnhà luới, nhà kính để trừ nấm cho cà chua, dưa chuột, ớt, cải tím, rau diếp …Trong

một số trường hợp hiệu lực của nấm Trichoderma khá cao (Sesan et al,1995) Nấm này có thể bảo vệ cà chua không bị thối thân do Sclerotium rolfssi gây ra

trong nhà lưới ở Thái Lan (Deema et al, 1990) [15]

Tuy nhiên khi sử dụng trên đồng ruộng ở nhiều nước lại cho thấy hiệu quả

của nấm Trichoderma có sự thay đổi Có những trường hợp hiệu quả rất cao,

nhưng cũng có trường hợp hiệu quả thấp thậm chí không có hiệu quả Nấm

Trichoderma viride làm giảm đáng kể tỷ lệ bệnh thán thư do C.truncatum trên

đậu đũa ở Nigeria (Bankole et al, 1996) Ở Ấn Độ, nấm T.viride có thể ức chế

sự phát triển của bệnh R.solani gây ra trên khoai tây, hiệu quả ức chế tối đa là 83,4% (Sing at al,1991) Nấm T.viride có khả năng bảo vệ hoàn toàn cà chua không bị thối thân do S.rolfssi gây ra Cây sống sót ở nơi sử lý nấm T.viride

đạt 100%, còn đối chứng chỉ đạt 61,9% (Deema et al, 1991) [21]

Sử dụng nấm Trichoderma có tác dụng làm tăng năng suất cây trồng, làm

cây trồng khỏe hơn, tăng sức đề kháng với vi sinh vật gây bệnh, kích thíchsinh trưởng đối với các cây trồng (Buimisatru, 1979; chet, 1990; Elad etal,1980; Jarosik et al, 1996; Kohl et al, 1990; Udaidullavev et al, 1979; Wu,1996)

Trang 12

Theo Seiketov, 1982 khi sử dụng Trichoderma, năng suất cà rốt có thể tăng

13,6 – 16,6%, dưa chuột tăng từ 18,3 – 22,3%, cải bắp tăng 20%, củ cảiđường tăng 30%

Theo các nhà khoa học thì tác động đối kháng của nấm Trichoderma đối

với vi sinh vật gây bệnh cây được thông qua 3 cơ chế chính :

Cơ chế ký sinh: Trước tiên sợi nấm Trichoderma vây xung quanh sợi nấm

gây bệnh cây, sau đó các sợi nấm Trichoderma thắt chặt lấy các sợi nấm,

xuyên thủng qua màng ngoài của nấm bệnh và phân hủy các chất nguyên sinhtrong sợi nấm bệnh

Cơ chế kháng sinh: Nấm Trichoderma sinh ra một số kháng sinh như

Gliotoxin, Viridin tác động lên vi khuẩn, nấm (Ascochyta, pisi; Botrytis, R.solani) hạn chế khả năng sinh trưởng phát triển của chúng.

Cơ chế cạnh tranh: Nấm Trichoderma cạnh tranh với nguồn gây bệnh cây

về dinh dưỡng nơi cư trú Do đó, chúng chiếm các chỗ định cư cũng như dinhdưỡng của nấm gây bệnh

Việc nghiên cứu sản xuất chế phẩm sinh học từ Trichoderma cũng đã được

các nước nghiên cứu và sản xuất từ những năm 1980 Trong quá trình sảnxuất cần phải tạo ra được một sinh khối nấm lớn, đây là một khâu quan trọng

vì hiệu quả phòng trừ phụ thuộc vào chất lượng chế phẩm Ở các nước khácnhau người ta dùng các nguồn liệu khác nhau để làm môi trường nhân giống

Ở Mỹ dùng cám, than bùn hoặc cám và mạt cưa; Ở Israel dùng cám lúa mỳhoặc than bùn ; Ở Pháp dùng yến mạch và agar, ở Ấn Độ dùng các phế liệuchế biến nông sản (vỏ cà phê, vỏ các loại quả cây, phế liệu sản xuất nấm ăn,phân gà, phân vịt…), ở Đài Loan dùng vỏ trấu làm môi trường (Chet, Elad,1983; Elad et al, 1980; Dubos, 1979; Inbar et al, 1996; Cao, 1991; Lewis etal,1995; Sawant et al , 1996) [15]

Trang 13

Ở nước ta, Viện bảo vệ thực vật và các viện nghiên cứu khác như Viện KHNông nghiệp Việt Nam hay Trường ĐH Cần Thơ đã nghiên cứu và sản xuất

thành công sản phẩm Trichoderma để trừ nhiều đối tượng bệnh hại đặc biệt là

bệnh lở cổ rễ cây con trên rau, bệnh khô vằn hại lúa, ngô.v.v…Qua kết quả

cho thấy, hiệu quả trừ bệnh của Trichoderma khá cao song đôi khi hiệu lực

trên đồng ruộng cũng thiếu ổn định

1.2.2.3.2.Nấm gây bệnh côn trùng

Theo Phạm Thị Thùy và Ngô Tự Thành(2005)[10], nấm Metarhizium

flavoviride có tác dụng diệt 3 loài sâu hại rau là sâu tơ (Plutella xylostella),

sâu xanh bướm trắng (Pieris rapae), sâu khoang (Spodoptera litura) Cũng theo Phạm Thị Thùy (2004) [12], nấm bột Nomuraea rileyi diệt trừ được các

loài sâu xanh, sâu khoang và một số loại sâu hại rau khác với tỷ lệ khá cao Hiện nay ở trong nước, Viện Bảo vệ thực vật đã nghiên cứu và sử dụng

thành công nấm Bạch cương Beauveria bassiana và nấm lục cương

Metarhizium anisopliae để phòng trừ nhiều đối tượng sâu bệnh hại bộ cánh

vẩy(sâu tơ, sâu xanh, sâu khoang ), cánh cứng (sung hại gốc )hay cánh thẳng(châu chấu) v.v…

Theo các nhà khoa học, những bào tử nấm Bạch cương dính vào côn trùng,gặp điều kiện thích hợp sẽ nảy mầm và mọc thành sợi nấm đâm xuyên qua vỏkitin phát triển ngay trong cơ thể côn trùng, côn trùng phải huy động hết các

tế bào bạch huyết (lympho-cyte) để chống đỡ, nấm bạch cương đã sử dụng

độc tố Boverixin, proteaza và một số chất khác làm cho tế bào bạch huyết của

sâu không chống đỡ nổi nên lần lượt bị hủy diệt, côn trùng bị chết, cơ thể côntrùng bị cứng lại là do các sợi nấm đan xen lại với nhau Còn khi nấm lục

cương Metarhizium anisopliae bám lên cơ thể côn trùng trong khi gặp các

điều kiện thích hợp như nhiệt độ, ẩm độ trong khoảng 24 giờ thì bào tử nấm

Trang 14

sẽ nảy mầm tạo thành ống mầm xuyên qua vỏ côn trùng Nấm tiết ra các độc

tố Destruxin A, B và chính các độc tố trên đã gây chết côn trùng

1.2.2.4 Pheremon giới tính

Trần Trung Âu (2004)[13] cho biết: Pheremon giới tính là hợp chất hóahọc có hoạt tính sinh học cao và chuyên tính theo loài, do đó có ưu thế rõ rệthơn các chế phẩm bảo vệ thực vật khác, không gây độc và hại cho người vàsinh vật có ích

1.2.2.6 Tuyến trùng ký sinh côn trùng

Tuyến trùng ký sinh gây bệnh cho côn trùng thuộc hai giống Steinernema

và Heterorhabditis Cơ chế tác động của tuyến trùng trên cơ sở cộng sinh với

vi khuẩn gây bệnh (thuộc hai giống Xerorhabdus và Photorhabdus) tạo nên tổ hợp ký sinh gây bệnh nematore/bacterium Trong đó tuyến trùng ký sinh có

vai trò ký sinh và mang theo vi khuẩn cộng sinh vào trong cơ thể côn trùng, vikhuẩn đóng vai trò sản sinh độc tố để gây bệnh và giết chết côn trùng

1.2.2.7 Các thuốc thảo mộc trừ sâu hại

Hiện nay, việc sử dụng các thuốc thảo mộc trong phòng trừ sâu hại đã trởthành xu hướng phổ biến trong sản xuất Các nước trên thế giới đã nghiên cứu

và sản xuất thành công nhiều sản phẩm thảo mộc trừ sâu như Rotenon chiếtxuất từ cây Deris; Altermisia chiết xuất từ cây thanh hao hoa vàng,

Trang 15

Azadrachtin chiết xuất từ cây xoan Ấn Độ, Metrin chiết xuất từ cây khổsâm v.v….

Là một nước nhiệt đới, thành phần cây độc ở nước ta khá phong phú TheoNguyễn Duy Trang và CTV (1996) thì hiện nước ta có tới 53 loài cây độc cóthể khai thác sử dụng làm thuốc thảo mộc trừ sâu hại, trong đó có nhiều loàicây độc có độc tính cao, dễ trồng và khai thác nguyên liệu do đó có tiềm nănglớn trong khai thác và sử dụng phát triển thuốc thảo mộc Trong số đó có cáccây dây mật; cây thanh hao; cây củ đậu; cây xoan Ấn Độ (Neem); cây thuốclá;cây trẩu; cây sở v.v…

Hiện nay Viện Bảo vệ thực vật và Trung tâm KH Tự nhiên và công nghệQuốc gia đã nghiên cứu sản xuất thành công nhiều sản phẩm thảo mộc từ cácloài cây độc trên và sử dụng có hiệu quả cao để trừ sâu hại trên rau như cácsản phẩm từ hạt Neem, từ cây dây mật hay hạt củ đậu v.v…Để trừ sâu đụcthân, sâu tơ, sâu xanh, sâu khoang, rệp hại rau v.v…

Cho đến nay, chúng ta đã có khá đầy đủ các sản phẩm thuốc BVTV đểphục vụ nhu cầu phòng trừ các đối tượng sâu bệnh hại trên các đối tượng sâubệnh hại khác nhau Cụ thể:

+ Đối với nhóm sâu ăn lá thuộc bộ cánh vẩy ( sâu tơ, sâu xanh bướmtrắng, sâu khoang, sâu keo da láng) hại rau thập 纱 tự (bắp cải, cải xanh, cảithảo, súp lơ, su hào) sử dụng các chế phẩm sinh học như: Abamectin,Emamectin, Azadirachtin, Bt, Beauveria Vull, Matrine ( dịch chiết cây khổsâm)…

+ Đối với nhóm sâu chích hút ( rệp, bọ trĩ, dòi đục lá, bọ phấn, ruồi hạiquả) hại rau thập tự sử dụng các chế phẩm Abamectin, Emamectin,Azadirachtin, Matrine ( dịch chiết cây khổ sâm), protein thủy phân

+ Đối với bệnh chết ẻo cây con, lở cổ rễ và sương mai, hại rau thập tự,

sử dụng: Trichoderma spp, Validamycin ( Valaidamycin A) (min 40%)

Trang 16

+ Đối với tuyến trùng hại rễ rau thập tự sử dụng Saponil + Rotenol.

Tuy nhiên việc nghiên cứu, đánh giá phạm vi ứng dụng của các sảnphẩm vẫn chưa được quan tâm đầy đủ, gây khó khăn cho việc ứng dụng trêndiện rộng Cùng với những khó khăn về mặt kinh tế kỹ thuật cũng như thóiquen và nhận thức của nông dân trong quá trình ứng dụng các thuốc trừ sâusinh học vào sản xuất Trong các yếu tố cản trở trên thì yếu tố cản trở lớn nhất

là chúng ta chưa có được quy trình ứng dụng và phối hợp đồng bộ giữa cácsản phẩm sinh học với nhau cũng như kết hợp giữa các thuốc sinh học vớithuốc hóa học ít độc hại Các quy trình ứng dụng cho đến nay mới chỉ đề cậpchung hoặc riêng lẻ cho từng loại thuốc Bên cạnh đó, các nguyên nhân vềkinh tế như giá thành sản phẩm đầu ra và đầu vào cũng khiến người dân phảitính toán kỹ lưỡng trước khi ứng dụng các thuốc trừ sâu sinh học

Trang 17

CHƯƠNG 2 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU

2.1.1 Địa điểm thực hiện đề tài

- Tại một số tỉnh trồng rau ở đồng bằng sông Hồng như Hà Nội, VĩnhPhúc,H và Hà Nam

2.2.2.Vật liệu nghiên cứu

- Thí nghiệm được tiến hành trên đối tượng rau ăn quả chính là đậu đũa

và cà chua

- Các dụng cụ nghiên cứu trong phòng: ống nghiệm, hộp nhựa, hộp Petri,chậu vại, dụng cụ thử thuốc, bình phun thuốc …

- Các loại chế phẩm trừ sâu sinh học trong thí nghiệm

2.2 NỘI DUNG ĐỀ TÀI

1- Điều tra thực trạng việc ứng dụng các thuốc trừ sâu sinh học trong sản xuấtrau

2- Đánh giá và lựa chọn 1 số thuốc trừ sâu sinh học mới để ứng dụng trongsản xuất rau ăn quả an toàn

3- Đề xuất định hướng ứng dụng các thuốc trừ sâu sinh học trong sản xuất rau

ăn quả an toàn

2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.3.1 Phương pháp nghiên cứu.

2.3.1.1 Phương pháp xác định thực trạng sử dụng các thuốc trừ sâu sinh học trong sản xuất rau

Được tiến hành thông qua thu thập số liệu thứ cấp từ các cơ quan quản lý,

các doanh nghiệp kinh doanh thuốc BVTV cũng như phỏng vấn nông dân trựctiếp sử dụng ở 3 tỉnh Hà Nội, Vĩnh Phúc và Hà Nam

* Chỉ tiêu địa bàn và quy mô điều tra:

Trang 18

+ Đối với cơ quan quản lý : Điều tra phạm vi và mức độ sử dụng các thuốctrừ sâu sinh học từ 3 chi cục BVTV các tỉnh Hà Nội, Vĩnh Phúc và Hà Nam.+ Đối với các doanh nghiệp: Điều tra thực trạng sản xuất và tiêu thụ các thuốctrừ sâu sinh học của các doanh nghiệp đang tham gia sản xuất và kinh doanhthuốc BVTV.

+ Đối với nông dân trực tiếp sản xuất: Phỏng vấn nông dân để xác định mức

độ sử dụng thuốc BVTV nói chung và thuốc trừ sâu sinh học nói riêng trênđối tượng cây rau Mỗi tỉnh điều tra 50 hộ sản xuất rau

2.3.1.2 Đánh giá và lựa chọn 1 số thuốc trừ sâu sinh học mới để ứng dụng trong sản xuất rau ăn quả an toàn

Tiến hành thí nghiệm trình diễn trên diện rộng để đánh giá ảnh hưởng đếnsinh trưởng cây trồng sau khi phun và hiệu lực của các chế phẩm trừ sâu sinh

học mới đối với dòi đục lá cà chua (Liriomyza sativae Blanch) và sâu đục quả đậu đũa (Maruca vitrata).

Địa điểm triển khai: Các thí nghiệm được tiến hành tại Vân Nội- ĐôngAnh- Hà Nội trong vụ Đông 2006 và vụ Xuân 2007

2.3.1.2.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm

- Thí nghiệm được tiến hành trên quy mô diện rộng, không nhắc lại Quy

mô thí nghiệm từ 300 – 500 m2/ ô

- Các sản phẩm được sử dụng là sản phẩm thương mại đại diện cho cáchoạt chất trừ sâu mới bắt đầu được đăng ký sử dụng ở Việt Nam

+ Hoạt chất Abamectin: Là sản phẩm được chiết suất từ độc tố của nấm

Steptomyces avermitilis tồn tại trong đất Hợp chất này chứa 80% avermectin

B1a và 20% avermectin B1b Đây là hoạt chất được sử dụng trừ sâu và nhệnhại

Sản phẩm đại diện được sử dụng trong nghiên cứu là: Binhtox 1.8EC,Binhtox 3.6 EC và Binhtox 4.2 EC

Trang 19

+ Hoạt chất Emamectin benzoate: Là 1 hỗn hợp có chứa 8 – 9% Benzoate1a có tác dụng trừ sâu và nhện hại Ở Việt Nam, cả 2 hoạt chất này mới đượcđăng ký sử dụng nhưng đã nhanh chóng được nông dân chấp nhận vì có hiệuquả cao, phổ tác động rộng, trừ được nhiều đối tượng sâu hại

Sản phẩm đại diện trong nghiên cứu là: Newmectin 2.0EC v àNewmectin 5WP

+ Hoạt chất Matrin: Là dịch chiết từ cây khổ sâm, có tác động tiếp xúc và

vị độc, trừ được nhiều loại sâu và nhện hại Hoạt chất này có thể trừ được tất

cả các loại sâu bộ cánh vảy, các sâu miệng trích hút và nhện hại

Sản phẩm đại diện trong nghiên cứu là: Sokupi 0.36AS, Sokupi 0.5AS + Hoạt chất Azadirachtin: hoạt chất được chiết suất từ cây neem (Xoan

Ấn Độ) Là hoạt chất có độc tính cao, trừ được nhiều đối tượng hại kể cả côntrùng và nhện hại

Sản phẩm đại diện trong nghiên cứu là: Kozomi 0.15EC và Kozomi0.05EC

2.3.1.2.2 Chỉ tiêu và phương pháp đánh giá

Đối với sâu đục lá cà chua Liriomyza sativae Blanch

* Chỉ tiêu :

+ Ảnh hưởng của thuốc đến cây cà chua ở 3, 7 ngày sau phun thuốc

+ Tỷ lệ lá bị hại (%) và chỉ số lá bị hại ở 3 và 7 ngày sau phun

+ Hiệu lực của thuốc được hiệu đính theo công thức Henderson – Tilton ( thí nghiệm ngoài đồng )

Ta x Cb

Hiệu lực trừ sâu của thuốc (%) = 1 - -x 100

Tb x Ca

Trong đó:

Ta là mật độ sâu sống ở công thức thí nghiệm phát hiện sau phun thuốc

Tb là mật độ sâu sống ở công thức thí nghiệm phát hiện trước phun

Trang 20

Ca là mật độ sâu sống ở công thức đối chứng trước phun

Cb là mật độ sâu sống ở công thức đối chứng sau phun

* Phương pháp điều tra

Mỗi ô điều tra 20 điểm ngẫu nhiên, mỗi điểm 1 cây cố định, trên cây lấy 4

lá tính từ lá thứ 3 từ ngọn trở xuống Tính tổng số lá hại và số lá điều tra, sau

đó phân cấp hại theo phương pháp sau :

Cấp 1: Không có vết hại, diện tích lá bị hại = 0

Cấp 2: Vết hại ít, rải rác, lẻ tẻ, diện tích lá bị hại từ 1- 10%

Cấp 3: Vết hại nhiều, lá chưa bị biến dạng, diện tích lá bị hại từ 11-30% Cấp 4: Vết hại nhiều, lá biến dạng, diện tích lá bị hại từ 31- 50%

Cấp 5: Lá khô, nhăn nheo, co dúm lại, diện tích lá bị hại từ 51% trở lên

Trang 21

- Quan sát sinh trưởng của cây sau khi xử lý thuốc 1, 3 và 7 ngày

- Tính tỷ lệ quả bị đục trước và sau khi phun thuốc 3, 7 và 14 ngày

- Hiệu đính hiệu lực trừ sâu của thuốc bằng công thức Henderson-Tilton

* Phương pháp điều tra:

Điều tra ngẫu nhiên 5 điểm trên ruộng theo hai đường chéo góc, mỗiđiểm 2 cây Đếm tổng số quả trên cây và số quả bị hại, sau đó tính tỷ lệ quả bịđục theo công thức :

Số quả có vết đục

Tỷ lệ quả bị hại (%) = - x 100

Tổng số quả điều tra

2.3.1.3.Phương pháp xây dựng mô hình sản xuất một số rau ăn quả an toàn

Trên cơ sở đánh giá hiệu lực của các sản phẩm ở mục 2.3.1.2 trên đây, tiếnhành lựa chọn các loại thuốc tốt nhất để đưa vào sử dụng phòng trừ dòi đục lá

cà chua và sâu đục quả đậu đũa Mỗi đối tượng cây trồng tiến hành xây dựng

mô hình với quy mô diện tích là 0,5ha

* Chỉ tiêu và phương pháp đánh giá:

+ Hiệu quả trừ sâu hại của các thuốc thí nghiệm: Được xác định thông quahiệu quả trừ dịch hại ở từng mô hình

+ Hiệu quả kinh tế: Xác định chi phí sản xuất và thu nhập ở các mô hình + Hiệu quả về mặt môi trường: Xác định dư lượng các thuốc hóa học (nếucó) trong nông sản

2.3.2 Phương pháp xử lý số liệu

Các số liệu thí nghiệm được xử lý theo phương pháp thống kê trong nôngnghiệp của Gomez.K.A và Gomez (1983) Các bước xử lý số liệu được thựchiện trong chương trình IRRISTAT.EXCEL trên máy tính [3]

Trang 22

CHƯƠNG 3

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Kết quả điều tra thực trạng sử dụng thuốc trừ sâu sinh học trong sản xuất rau

Sâu bệnh hại là nguyên nhân quan trọng, đồng thời cũng là khó khăn lớnnhất để tăng năng suất và chất lượng của các loại rau ở nước ta Những tác hại

do sâu bệnh đã gây hại nặng ở tất cả các vùng và các vụ mùa trồng rau, làmgiảm năng suất từ 10- 46,5%

Qua thực tế điều tra ở trên 6 tỉnh Hà Nội, Hà Nam, Hà Tây, Hải Dương,Hải Phòng và Vĩnh Phúc ta thấy tình hình sâu hại chính trên cây rau ở cáctỉnh: đối với bắp cải, súp lơ, xu hào, rau cải đều thuộc họ rau thập tự nênchúng có chung thành phần sâu bệnh hại chính giống nhau Trên các cây raunày thì đối tượng bọ nhảy, sâu khoang, sâu tơ, sâu xanh bướm trắng và rệp đã

và đang gây những thiệt hại cho vụ mùa của bà con nông dân Đặc biệt là đốitượng bọ nhảy và sâu khoang đã gây hại nặng cho rau cải Các đối tượng nàyphát sinh thường xuyên từ đầu vụ đến cuối vụ Ngoại trừ sâu tơ và sâu xanh,các đối tượng bọ nhảy và rệp có thể gây hại liên tục, không theo lứa, do đó rấtkhó phòng trừ chúng

Trên nhóm rau ăn quả như cà chua, đậu ăn quả, bâu bí, dưa chuột các đốitượng sâu hại chủ yếu là bọ phấn, dòi đục quả, sâu đục quả đậu, sâu xanh đụcquả cà chua và rệp Các đối tượng này cũng phát sinh và gây hại không theolứa nhất định, do đó nông dân rất khó phòng trừ tập trung mà thường xuyênphải phun thuốc theo định kỳ

Qua bảng điều tra cho thấy, trên cùng một loại rau nhưng có rất nhiều đốitượng sâu hại Các đối tượng này cùng tác động làm ảnh hưởng tới năng suấtcây trồng Để phòng trừ các đối tượng trên đòi hỏi nông dân phải có sự hiểu

Trang 23

biết về đối tượng sâu hại cũng như là cách sử dụng các loại thuốc BVTV Đểđảm bảo hiệu quả kinh tế, và kỹ thuật.

Bảng 3.1 Một số sâu hại chính mà nông dân sản xuất rau đang gặp khó khăn trong công tác phòng trừ

( Số liệu điều tra tại Hà Nội, Hà Nam và Vĩnh Phúc 12/2006)

1 Bọ nhảy Phyllotreta

striolata Fabr. ++ ++ ++ - +++

-2 Sâu khoang

Spodoptera litura Fabr. ++ ++ ++ + +++

-3 Sâu tơ Plutella

-9 Sâu đục quả đậu

đũa Maruca vitrata

Trang 24

- không gây hại + gây nhẹ ++ gây hại trung bình +++ gây hại nặng

Trang 25

Hiện nay để phòng trừ các đối tượng sâu gây hại trên cây rau việc sủdụng thuốc bảo vệ thực vật là điều tất yếu và cần thiết trong việc hạn chếsâu bệnh gây thiệt hại cho mùa màng và tăng hiệu quả kinh tế Bảng 3.2 làkết quả điều tra tại địa phương là Hà Nội, Hà Nam, Hải Dương, Hà Tây,Hải Phòng và Vĩnh Phúc chỉ ra các loại thuốc trừ sâu hoá học và thuốc trừsâu sinh học đang được nhân dân trồng rau sử dụng phổ biến hiện nay

Bảng 3.2 Các thuốc trừ sâu đang được nhân dân các vùng trồng rau sử dụng (Số liệu điều tra tại Hà Nội, Hà Nam và Vĩnh Phúc 12/ 2006)

Tilvil Alvil Daconil

FactacRidomilKoromilZinepMoritor

Tập kỳ Lộc Sơn Soka Sokupi V-BT Kuraba Abamectin

Rau ăn quả (đậu

trạch, cà chua, dưa

chuột, cà pháo…)

Sát trùng song Regell Mashan Admire

Confidor Zinep Daconil Tilt

Sokupi

KurabaKasuran

Trang 26

Theo thống kê, hiện nay nước ta có tới hơn 2000 loại hoá chất BVTV vớihàng nghìn tên thương mại khác nhau đang được lưu hành trên thị trường.Trong số đó có hơn 30 hoạt chất sinh học, thảo mộc với hàng trăm sản phẩmthương mại khác nhau Nhìn vào bảng số liệu thống kê có thể nhận thấy:trong hơn 20 loại thuốc sử dụng trên rau thập tự thì thuốc hoá học chiếm tới

12 loại, chiếm 65% tổng loại thuốc trừ sâu Trong khi đó thuốc sinh học chỉchiếm 35% tổng loại thuốc trừ sâu Trên các loại rau ăn quả, số thuốc sinh họccũng chỉ chiếm 3/8 thuốc trừ sâu nông dân thường sử dụng trong sản xuất,chiếm 37,5% Qua đó cho thấy rất rõ một điều là người nông dân vẫn giữ thóiquen sử dụng thuốc hoá học để phòng trừ sâu hại hơn là thuốc sinh học.Trong nhiều loại thuốc trừ sâu sinh học nông dân sử dụng phổ biến nhất là cácloại thuốc Tập Kỳ, Kuzaba, Bt, Soka vì theo họ hiệu quả diệt sâu của chúngcũng khá cao và giá cả cũng có thể chấp nhận được, khoảng 4000 đồng/ gói Tuy nhiên họ cho rằng, do trên thị trường có rất nhiều loại thuốc trừ sâusinh học gây khó khăn trong việc lựa chọn thuốc sử dụng, họ muốn các công

ty thuốc trừ sâu đưa ra một bộ thuốc chuẩn có hiệu lực diệt sâu cao

Trang 27

Bảng 3.3 Thực trạng sử dụng thuốc trừ sâu sinh học tại 1 số tỉnh

địa phương

chỉ tiêu

% số hộ có sử

dụng thuốc trừsâu sinhhọc(TTSSH)

% số hộ có

hiểu biết vềTTSSH

% số hộ cần

giúp đỡ trongquá trình sửdụng

% số hộ có

tham gia tậphuấn kỹ thuật

Qua điều tra về thực trạng sử dụng thuốc trừ sâu tại 6 địa phương có thểnhận thấy mặc dù thuốc trừ sâu sinh học đã trở nên quen thuộc đối với ngườinông dân, nhiều người nông dân đã biết sử dụng thuốc trừ sâu sinh học sẽ antoàn hơn so với thuốc trừ sâu hoá học Nhưng không phải ai cũng biết cách sửdụng thuốc, lựa chon thời điểm phun thuốc thích hợp, liều lượng phun thuốc

để vừa đạt hiệu quả cao, vừa có giá trị kinh tế Họ sử dụng thuốc có thể chỉ làtheo thói quen, theo lời giới thiệu của người bán hàng, theo các hộ nông dân

Trang 28

bị s âu hại như hộ mình… Bởi vậy, có những người nông dân khi mua thuốctrừ sâu, họ cũng không cần biết đó là thuốc trừ sâu sinh học hay thuốc trừ sâuhoá học Cái họ quan tâm nhất đó là hiệu quả diệt sâu kèm với giá cả củathuốc Nếu có cùng một hiệu quả diệt sâu mà thuốc hoá học rẻ hơn nhiều thì

họ sẵn sàng sử dụng nó Trong khi sử dụng nếu một loại thuốc chưa mang lạihiệu quả mong muốn thì họ có thể hỗn hợp hai, ba loại thuốc khác nhau đểphun Trong cách sử dụng thuốc họ thường chỉ sử dụng một đầu vòi phun vàmột bình bơm phun thuốc cho tất cả các thuốc trừ dịch hại ( thuốc trừ sâu sinhhọc, thuốc trừ sâu hoá học, thuốc diệt cỏ dại…) Họ không biết làm như vậythì độ an toàn của rau sẽ giảm xuống hoặc nếu có biết thì vì lợi ích kinh tế họcũng không quan tâm Khi phỏng vấn chúng tôi hỏi: nếu phun thuốc sâunhiều, bác có sử dụng rau này hay không? Thì đa số họ trả lời họ chỉ trồng đểđem bán chứ không nấu ăn trong gia đình họ Như vậy không phải là họ hoàntoàn không biết tác hại của việc sử dụng thuốc bừa bãi, không đúng kỹ thuật,liều lượng hợp lý, thời gian cách ly để đảm bảo tính an toàn cho rau, nhưng vìlợi nhuận trước mắt họ thường bỏ qua Một số đông người dân thì cho rằngthuốc trừ sâu sinh học có thể mua dễ dàng nhưng chúng lại đắt hơn thuốc hoáhọc, phát huy hiệu lực chậm và hiệu quả không ổn định Đây cũng là lý do để

họ hạn chế việc sử dụng thuốc trừ sâu sinh học

Tóm lại: qua phỏng vấn điều tra tại các tỉnh ở các chi cục BVTV, cácdoanh nghiệp sản xuất và tiêu thụ các thuốc trừ sâu sinh học, đặc biệt là ngườinông dân, người trực tiếp sử dụng và sản xuất rau cho thấy:

Hạn chế việc sử dụng thuốc hoá học, một phần nâng cao hiệu quả kinh tế,phần nữa là không gây ra ô nhiễm môi trường, không làm ảnh hưởng đến sứckhoẻ con người, vật nuôi Như chúng ta biết, chế phẩm sinh học có nhượcđiểm là hiệu quả không cao, khi gặp điều kiện thời tiết bất thuận thì khó đạtkết quả Tuy nhiên, thuốc trừ sâu sinh học có rất nhiều ưu điểm mà thuốc hoá

Trang 29

học không có như: không làm nhiễm bẩn môi trường sống, không gây tínhkháng thuốc với sâu hại, không làm mất đi một quần thể thiên địch có íchtrong tự nhiên, không gây ảnh hưởng đến sức khoẻ của con người và khôngcần phun nhiều lần mà vẫn duy trì được hiệu quả Vấn đề quan trọng là chếphẩm sinh học đã đáp ứng được yêu cầu của một nền nông nghiệp sạch là tạo

ra các sản phẩm sạch cho người dùng Tuy nhiên, do còn những yếu tố cản trởnhất định mà nông dân vẫn còn ít quan tâm sử dụng chúng trong sản xuất.Qua phỏng vấn nông dân cho thấy một trong những nguyên nhân cản trở lớnnhất của việc xâm nhập thuốc trừ sâu sinh học vào trong sản xuất là:

- Hiệu quả của các thuốc chậm và thường thấp hơn thuốc hoá học

- Các thuốc trừ sâu sinh học có hiệu quả không ổn định mà phụ thuộc rấtnhiều vào yếu tố ngoại cảnh Đặc biệt là nhiệt độ và ẩm độ

- Chi phí cao hơn thuốc hoá học

- Năng lực và hiểu biết của người dân còn hạn chế

Kết quả điều tra cũng cho thấy tỷ lệ nông dân được tham gia các lớp tậphuấn kỹ thuật sử dụng thuốc BVTV vẫn chưa cao, vì vậy mà sự hiểu biết vềthuốc trừ sâu nói riêng và thuốc trừ sâu sinh học nói chung vẫn còn nhiều hạnchế Đây cũng là vấn đề đặt ra cho các nhà quản lý, cần phải có những lớp tậphuấn định kỳ để cung cấp thông tin về cách sử dụng thuốc trừ sâu sinh họccho nông dân Có biện pháp kết hợp chặt chẽ giữa nông dân, hợp tác xã và chicục BVTV để có thể giám sát được quy trình sản xuất rau an toàn

3.2 Kết quả đánh giá hiệu lực của một số loại thuốc trừ sâu sinh học mới đối với dòi đục lá cà chua và sâu đục quả đậu đũa

Mặc dù cho đến nay chúng ta đã có nhiều loại thuốc trừ sâu có nguồngốc sinh học đã được đăng ký sử dụng trong sản xuất nhưng do các loại thuốcnày đều được sản xuất từ các vi sinh vật sống như thuốc Bt, V- Bt,Metarhizum, Beauveria…Nên hiệu quả phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện ứng

Ngày đăng: 23/10/2017, 21:31

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w