1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

So sánh một số dòng, giống lạc trong điều kiện vụ hè thu năm 2004 trên đất Gia Lâm Hà Nội

54 211 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 54
Dung lượng 343,5 KB
File đính kèm bao cao tot nghiep.rar (44 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển, đặc điểm hình thái, khả năng chống chịu, năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của các dòng, giống lạc tham gia thí nghiệm. Từ đó đề xuất ra những dòng, giống mới có triển vọng thích hợp với điều kiện vụ thu ở đồng bằng và trung du Bắc bộ.

Trang 1

Phần 1

MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Cây lạc (Arachis hypogea L.) là cây công nghiệp ngắn ngày, cây lấy

dầu quan trọng, không chỉ có giá trị dinh dưỡng cao dùng làm thực phẩm chocon người, thức ăn cho chăn nuôi mà còn có ý nghĩa lớn trong hệ thống canhtác, luân canh tăng vụ cũng như góp phần cải tạo và sử dụng lâu bền tàinguyên đất đai

Giá trị dinh dưỡng của lạc được quyết định bởi các thành phần chủ yếuchứa trong hạt bao gồm: Lipit (40 – 60%), protein (26 – 34%), So với một

số cây trồng khác thì hàm lượng lipit trong lạc xếp vào loại cao nhất, cao gấp

2 lần hàm lượng lipit trong đậu tương Trong thành phần dầu lạc, axit béochưa no chiếm khoảng 80%, còn lại 20% là axit béo no Ngoài ra trong hạt lạccòn có cacbuahydro thơm, các vitamin hoà tan trong dầu lạc như B1(Thiamin), B2 (Riboflavin), PP (Axitnicotinic), vitamin E và F Hiện nay, dầulạc nói riêng và dầu thực vật nói chung đang dần được thay thế mỡ động vật,bởi nó giúp tránh được nhiều loại bệnh nhất là bệnh về tim mạch

Do giá trị dinh dưỡng của lạc, từ lâu loài người đã sử dụng lạc nhưnguồn thực phẩm quan trọng Sử dụng trực tiếp (luộc quả, rang, nấu canh…)

ép dầu để làm dầu ăn và khô dầu, làm nước chấm và nhiều mặt hàng thựcphẩm có giá trị từ lạc Lạc rút dầu, bơ lạc, phomat lạc, sữa lạc,… đã và đangđược sử dụng nhiều ở các nước phát triển

Bên cạnh vai trò là nguồn thực phẩm quan trọng cho con người, cácsản phẩm phụ từ cây lạc cũng rất có ý nghĩa đối với ngành chăn nuôi Cùngvới sự phát triển của công nghiệp ép dầu, khô dầu lạc đã trở thành một phầnquan trọng trong chăn nuôi gia súc

Trang 2

Đặc biệt, lạc còn là cây trồng cải tạo đất, tăng độ phì nhiêu cho đất nhờkhả năng cố định nitơ của khí quyển thông qua bộ rễ cộng sinh với vi khuẩn nốt

sần Rhizobium Vigna và để lại trong đất 30 – 60kg N/ha/vụ chưa kể chất hữu cơ

có trong thân lá [ 25]

Ở Việt Nam, lạc là cây công nghiệp hàng năm có giá trị xuất khẩu đứngthứ 2 chỉ sau cây lúa Đặc biệt, đối với những vùng đất nghèo dinh dưỡng,gặp khó khăn về đầu tư phân bón, nước tưới như đất bạc màu ở Hà Bắc, đấtcát ven biển ở khu Bốn cũ, …

Tuy vậy, tình hình sản xuất lạc ở nước ta chưa thực sự phát triển, diệntích cũng như năng suất và sản lượng tăng lên không đáng kể Nguyên nhândẫn đến sản xuất lạc ở nước ta chậm phát triển là do nhiều yếu tố trong đóphải kể đến là:

- Do bộ giống lạc mới của nước ta còn thiếu phong phú, năng suất chưacao đặc biệt là tính thích ứng còn hẹp

- Thiếu hệ thống chuyên sản xuất và cung ứng giống tốt phục vụ sảnxuất nên các giống mới có ưu thế về năng suất, chất lượng phát triển rất chậm

- Nông dân chưa coi cây lạc là cây trồng chính nên việc đầu tư thâmcanh còn hạn chế

- Biện pháp canh tác còn lạc hậu,…

Vì vậy, để đáp ứng được nhu cầu của thực tiễn sản xuất hiện nay vấn đềcần đặt ra là phải có các tiến bộ kỹ thuật mới về giống, nhất là những giốnglạc tốt có tiềm năng năng suất cao, phẩm chất tốt, thích hợp với điều kiệnngoại cảnh của từng vùng và các biện pháp kỹ thuật thâm canh thích hợp

Xuất phát từ thực tế trên, dưới sự hướng dẫn của TS Vũ Đình Chính

chúng tôi tiến hành đề tài: “So sánh một số dòng, giống lạc trong điều kiện

vụ hè thu năm 2004 trên đất Gia Lâm - Hà Nội ”.

2 Mục đích yêu cầu

Trang 3

2.1 Mục đích

- Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển, đặc điểm hình thái, khảnăng chống chịu, năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của các dòng,giống lạc tham gia thí nghiệm Từ đó đề xuất ra những dòng, giống mới cótriển vọng thích hợp với điều kiện vụ thu ở đồng bằng và trung du Bắc bộ

2.2 Yêu cầu

- Theo dõi các chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển của các dòng, giống lạc

- Tìm hiểu một số đặc trưng hình thái (màu sắc thân, lá, quả, hạt,…)

- Nhận xét khả năng chống chịu của các dòng, giống

- Xác định các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các dòng,giống

Trang 4

Phần 2 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ SẢN XUẤT

1 Tình hình sản xuất trên thế giới và nghiên cứu ở nước ngoài

1.1 Tình hình sản xuất

Trên thế giới hiện nay có khoảng 108 nước trồng lạc Trong đó Châu Áchiếm chủ yếu với 63,4% về diện tích và 71,4% sản lượng Tiếp theo là ChâuPhi với 31,3% diện tích và 18,65% sản lượng, Trung bắc Mỹ 3,7% diện tích

và 7,5% về sản lượng Những nước sản xuất lạc hàng đầu ở Châu Á là TrungQuốc, Ấn Độ, Inđonesia, Thái Lan và Việt Nam Ở Châu Phi là Nigieria,Senegal, Sudan, Zaia, Chad, Uganda, ở Nam Mỹ là Echentina và Braxin, ởBắc Mỹ là Hoa Kỳ và Mêhico [13]

Ấn Độ là nước đứng đầu thế giới về diện tích trồng lạc Nhưng donhiều vùng sản xuất gặp khó khăn về điều kiện canh tác nên năng suất chưacao Trong một thập kỷ qua, sản lượng lạc của Ấn Độ biến động từ 5,0 - 9,0triệu tấn và diện tích cũng biến động từ 7,8 - 8,0 triệu ha hàng năm Trongnăm 2001 - 2002 Ấn Độ sản xuất được 7,6 triệu tấn, năng suất đạt 0,96 tấn/ha,năm 2002 - 2003 là 5,2 triệu tấn và theo dự báo đến năm 2003 - 2010 sảnlượng lạc của Ấn Độ có thể đạt được là 7,7 triệu tấn Một số nước sản xuất lạcchủ yếu khác của thế giới như Nigeria, Mỹ, Senegal sản lượng thu đượctrong năm 2001 lần lượt là 2,90 triệu tấn, 1,922 triệu tấn và 1,061 triệu tấn Năng xuất lạc trên thế giới trong thời gian qua có nhiều biến động phụthuộc nhiều vào điều kiện khí hậu, đất đai, trình độ canh tác và giống Năng

Trang 5

suất cũng có sự khác biệt lớn giữa các nước khác nhau Hiện nay, Mỹ là nướcđứng đầu thế giới về năng suất, tiếp đó lần lượt là Trung Quốc, Achentina,Indonesia, Braxin, Thái Lan, Việt Nam, Mehico, Nam Phi,…

Lạc sản xuất ra hiện nay chủ yếu phục vụ nhu cầu trong nước, lượnglạc xuất khẩu chưa đạt 6% Mặt khác các giống được trồng cũng không phải

là tốt nhất cho các mục đích thương mại riêng biệt Theo ITC (Trung tâmthông tin thương mại thế giới), 7 nhà xuất khẩu lạc lớn nhất thế giới cung cấpkhoảng 87% lượng lạc thương mại quốc tế Trong năm 1997 - 1998:Achentina là nhà xuất khẩu hàng đầu với 245.000 tấn, tiếp theo là Ấn Độ với240.000 tấn, Trung Quốc 185.000 tấn, Việt Nam 98.000 tấn, Nam Phi 40.000tấn và Gambia 20.000 tấn Tương tự 5 nhà nhập khẩu lớn nhất hiện nay muađến 3/4 lượng lạc bán ra: Liên minh Châu Âu chiếm 42%, Indonesia chiếm13%, Canada 8%, Malaysia và Philippin mỗi nước chiếm 3% lượng lạc nhậpkhẩu của thế giới [11] Nhu cầu về lạc trên thế giới vẫn tiếp tục tăng trong khi

dự chữ giảm Điều này làm cho sản xuất lạc có nhiều triển vọng và mang lạihiệu quả khá cho người sản xuất, đặc biệt là các nước vùng khô hạn và bánkhô hạn trên thế giới

1.2 Tình hình nghiên cứu

Song song với ngành sản xuất lạc, công tác chọn tạo giống cũng đạtđược một số thành tựu đáng kể Đây được xem là khâu then chốt thúc đẩy sảnxuất lạc phát triển hơn nữa Hiện nay, các nhà chọn tạo giống đã và đang nỗlực áp dụng các tiến bộ kỹ thuật mới (chuyển gen, chọn lọc bằng phươngpháp đánh dấu phân tử,…) và nhiều phương pháp chọn tạo cổ truyền (nhậpnội, chọn lọc, đột biến,…) để cải tiến giống lạc

Mục tiêu của các nhà chọn giống là chọn ra được các giống có năngsuất cao, hàm lượng dầu và protein cao, thích nghi tốt với các điều kiện ngoại

Trang 6

cảnh, thời gian sinh trưởng theo ý muốn và phù hợp với tập quán canh táccũng như mục tiêu của từng nước

Để công tác chọn giống đạt được nhiều thành công thì nguồn vật liệuban đầu là rất quan trọng Trong những năm qua nhờ quan tâm tìm kiếm cũngnhư các chương trình hợp tác trao đổi giữa các nước, giữa các cơ quan nghiêncứu mà các nhà chọn giống đã có nguồn gen lạc phong phú Một số trung tâm

có nguồn gen lạc rất đa dạng như, ICRISAT với 13.460 mẫu, trong đó có 197loài Arachis hoang dại (các loài này có gen kháng cao với bệnh gỉ sắt, bệnhđốm lá sớm và đốm lá muộn, Rosette, PPN virut,…)

Trong thập niên 80, hầu hết các nước trồng lạc trên thế giới đều sửdụng các giống mới với năng suất cao, phẩm chất tốt, thời gian sinh trưởngngắn hoặc trung bình, thích hợp với điều kiện tự nhiên và chế độ canh tác củatừng vùng Bên cạnh yếu tố năng suất cao và thời gian sinh trưởng ngắn thìviệc sử dụng các giống lạc kháng được một số bệnh hại chính như: Héo do vikhuẩn, đốm lá muộn, gỉ sắt cũng được khuyến cáo đưa vào sản xuất để hạnchế thiệt hại và phòng trừ có hiệu quả hơn đối với các bệnh này

Công tác chọn tạo giống lạc trong khoảng 2 thập kỷ gần đây đã đạtđược nhiều thành công Nhiều giống lạc mới đã được tạo ra và đưa vào sảnxuất đưa năng suất lạc tăng lên đáng kể Thành công nhiều nhất là phải kể đến

là Mỹ và Trung Quốc, các nước khác như Ấn Độ, Achentina, Thái Lan,…cũng thu được nhiều kết quả đáng kể Mỹ là nước có năng suất lạc đứng đầuthế giới hiện nay (năm 2001 là 33,9 tấn/ha) Công tác chọn giống ở nước nàyđược quan tâm từ rất sớm với sự hỗ trợ của USDA và một mạng lưới các trạmthí nghiệm của các bang và hợp tác với nhiều nước khác Thời gian gần đâyTrung Quốc đã có những tiến bộ vượt bậc trong công tác chọn tạo giống lạc.Những thành công này đã góp phần quan trọng đưa Trung Quốc lên vị trí số 1trong các nhà sản xuất lạc Một số giống được đánh giá cao là: Luhua3,

Trang 7

Zhonghua 2, Zhong thế giới hua 4, Yeugou 92, Yeugou 256 có khả năngkháng cao với bệnh gỉ sắt, bệnh héo xanh Các giống Baisaha 1016, Hua 11,Hua 7, Luhua 10, Luhua 8130 có chất lượng hạt tốt dùng để trồng cho xuấtkhẩu Xuzhohu 68 - 4, Haihua N1, Hua 37 chín trung bình, hạt to có năng suấtcao hơn giống cũ 15% Thành công lớn nhất của công tác chọn tạo giống lạccủa Trung Quốc thời gian qua là các tổ hợp lai giữa Spanish và Virginia.Nhiều giống ngắn ngày, chống bệnh gỉ sắt và có tiềm năng năng suất cao đãđược chọn tạo bằng phương pháp này.

Năng suất lạc bình quân ở Ấn Độ chưa cao chủ yếu là do phần nhiềudiện tích lạc ở nước này được trồng ở vùng sản xuất nhờ nước trời Còn vềcông tác giống nước này với một số Viện nghiên cứu lớn về lạc có trên lãnhthổ như ICRISAT, NRCG cũng thu được nhiều thành tựu quan trọng Minhchứng cho điều này là một số giống lạc tốt như B95, ICGV 86325, ICGS - 1,ICGS - 37 đã được đưa vào sản xuất từ những năm 90 và nhiều giống lạcphù hợp đã được vào trồng trọt

Theo Xu Zeyong (1992) [33] và Li Jianping (1992) [37], trong thậpniên 80 thì 95% diện tích trồng lạc ở Trung Quốc sử dụng các giống lạc cảithiện với năng suất tăng 5 – 10% Tại các tỉnh phía bắc nhờ sử dụng cácgiống lạc có thời gian sinh trưởng trung bình và năng suất cao như Xu Zhou

68 - 4, Hai hua No1 và Hua 37 đã làm tăng năng suất 15% so với các loạigiống thuộc loại hình Spanish cũ trên các loại đất có độ phì trung bình Cácgiống lạc mới với những đặc tính nông học tốt và thời gian sinh trưởng ngắnnhư Shanyou 27, Yueyou 116, Yuesuan 58, Yueyou 92, Elhua No4, Furonghua heng,… cũng được đưa vào sản xuất thay thế các giống cũ thuộc loại hìnhSpnish, Virginia và ở các tỉnh miền Trung và Nam Trung Quốc

Ở Thái Lan, các giống lạc với những đặc tính chín sớm, năng suất cao,chịu hạn và kháng đốn lá, gỉ sắt, đặc biệt là kích thứơc hạt lớn phù hợp với tập

Trang 8

quán sử dụng như Khon Kean 60 - 3, Khon Kean 60 - 1, Khon Kean 60 - 2 vàTanian 9 đã được đưa vào phục vụ sản xuất [38].

Ở Philippin các giống đã được đưa vào sản xuất trong những năm gầnđây (1986 – 1990) là UPLPn6, UPLPn8 và BPIPn2 các giống này đều khángvới bệnh đốm lá muộn và gỉ sắt, đều co kích thước hạt lớn, đồng thời có 2 - 3hạt/quả phù hợp với việc sử dụng gia đình Perdido (1996) [29]

Tại Indonesia, việc lựa chọn tạo giống cũng được tập trung vào cácmục tiêu năng suất cao, chín sớm, phẩm chất tốt và kháng các bệnh héo do vikhuẩn đốm lá muộn và gỉ sắt Các giống triển vọng đã được khuyến cáo vàđưa vào sản xuất từ năm 1991 là Mabese, Badak, Biawar và Komodo(CRIPC, 1991) Arachis Newsletter, 1997

Ở các nước phát triển như Mỹ, ngoài các đặc điểm tốt năng suất cao thìgiống cần phải có các đặc điểm phù hợp với điều kiện cơ khí hoá, kỹ thuậtchế biến khẩu vị và chất lượng Theo Norden (1973), một số giống có năngsuất cao nhưng không được phổ biến ở Mỹ vì có những đặc điểm không phùhợp cho chế biến và thị trường tiêu thụ [3]

Shorter (1978) cho biết: Mặc dù, một số giống nhập nội có năng suấtcao hơn hẳn các giống địa phương của Autralia nhưng không được côngnghiệp chế biến chấp nhận [3]

Muốn tăng nhanh diện tích và sản lượng thì hầu hết các quốc gia đềuyêu cầu các giống lạc chín sớm để phù hợp với sự phân bố lượng mưa, hệthống luân canh và khả năng tưới nước Thời gian sinh trưởng tốt Spanishđứng là 90 ngày, với loại hình Virginia bò là 120 ngày nhưng thời gian sinhtrưởng của các giống hiện tại đều bị kéo dài thêm 10 – 14 ngày Hiện tại ởALCORPO có một số giống có thời gian sinh trưởng ngắn đặc biệt là giống

“Chico” có ưu việt về năng suất, tỷ lệ bóc vỏ và hàm lượng dầu Từ một số tổ

Trang 9

hợp lai cũng đã chọn được những giống chín sớm hơn khoảng 10 - 15 ngày vàtăng năng suất từ 18 - 30% [3].

Tác giả Nguyễn Danh Đông cho biết: Ở Trung tâm nghiên cứu lạc bang

Gerogia Mỹ Trong vòng 10 năm từ năm 1980 đến 1990 các nhà chọn tạogiống đã đưa vào sản xuất 16 giống trong đó có: 9 giống thuộc loại hìnhRuner như Sunbelt, Runer, Sunner, G.K.Lang ley, OK, Southern Runer,Tamrun 88, Georgia Runer, Maci, 5 giống thuộc loại hình Virginia là Va81B,NC8C, NC9, NCC10C, NC11, 2 giống còn lại thuộc loại hình Spnish đó làPanto va Spanco

Với việc đẩy mạnh công tác nghiên cứu về giống Trong thời gian tớinhiều giống lạc mới có triển vọng sẽ được tạo ra và đưa vào sản xuất Cùngvới nhiều thành tựu khác về kỹ thuật canh tác, bảo quản chế biến,… sẽ thúcđẩy sản xuất lạc phát triển hơn nữa

2 Nghiên cứu và sản xuất lạc ở Việt Nam

2.1 Tình hình sản xuất

Hiện nay ở Việt Nam, lạc được trồng khá rộng rãi trên các vùng khác

nhau trong cả nước Nhìn chung những năm qua sản xuất lạc liên tục tăngnhưng chậm Năm 1990, sản lượng lạc đã tăng gấp 2,2 lần so với năm 1980,đạt 218.000 tấn, ước tính trong vòng 10 năm từ 1981 - 1990, sản lượng lạctăng bình quân 9% mỗi năm Đến năm 2000 sản lượng đã tăng lên đến352.900 tấn, sản lượng năm 2001 là 370.000 tấn và năm 2002 thu được397.000 tấn Về diện tích trong thập niên 80, trung bình mỗi năm tăng 7% đếnnăm 1995 chúng ta đã có 300.000 ha trồng lạc sau đó diện tích lạc có giảmxuống và giữ ổn định trong nhưng năm qua, năm 2002 diện tích trồng lạc đạt246.800 ha [2] Riêng trong vụ xuân năm 2004, chúng ta đã gieo được122.000 ha, bằng 107,8% cùng kỳ năm 2003 Trong đó Nghệ An hơn22.000ha, Hà Tĩnh hơn 20.000 ha và Thanh Hoá hơn 15,5.000 ha [11] Cũng

Trang 10

như tình hình chung của sản xuất lạc trên thế giới, thời gian qua sản lượnglạc ở Việt Nam tăng chủ yếu là do tăng về diện tích còn năng suất lạc tăng rấtchậm và không đồng đều giữa các vùng khác nhau Diện tích sản xuất lạc hiệnnay tập chung chủ yếu ở Trung du Bắc bộ, khu Bốn cũ, Đông Nam bộ và TâyNguyên Trong thời gian tới lạc vẫn là cây thực phẩm, cây lấy dầu quan trọngcung cấp nguồn đạm từ thực vật chủ yếu của nước ta và mang lại hiệu quảkinh tế cao cũng như có nhiều lợi thế cạnh tranh đặc biệt trên đất nghèo dinhdưỡng, đất cằn, vùng tưới tiêu gặp nhiều khó khăn.

2.2 Tình hình nghiên cứu

Trong vài thập kỷ gần đây, việc nghiên cứu, chọn tạo giống mới vớinăng suất cao, phẩm chất tốt, chống chịu sâu bệnh, thích hợp với điều kiệnngoại cảnh khác nhau đã và đang là mối quan tâm rất lớn cho các nhà khoahọc Đây chính là mấu chốt quyết định đến nghề trồng lạc ở nước ta Trải quathời gian nghiên cứu các nhà khoa học đã gặt hái được nhiều thành công lớntrong việc cải tiến giống ở nước ta, góp một phần to lớn cho việc tăng sảnlượng lạc ở Việt Nam trong những năm gần đây

Trong công tác nghiên cứu, chọn tạo giống mới thì phương pháp laihữu tính là phương pháp được các nhà khoa học rất chú ý

Năm 1974, bộ môn Cây Công Nghiệp - Trường Đại Học Nông Nghiệp

I - Hà Nội nhờ ứng dụng phương pháp lai của A J Norden và V.ARodriguezm (1971) có cải tiến trong điều kiện Việt Nam đã lai tạo 24 tổ hợp.Qua theo dõi chọn lọc cá thể, một số dòng triển vọng đã đưa đi khảo nghiệm

ở các tỉnh phía Bắc Dòng 75/23 là con lai giữa Trạm Xuyên và Mộc Châutrắng Đây là giống đã kết hợp được nhiều đặc tính tốt của bố mẹ, có sức nảymầm cao, sinh trưởng khoẻ, năng suất cao, chất lượng tốt, phù hợp cho vùngthâm canh Dòng Sen lai 75/23 đã được công nhận là giống quốc gia năm

1991 Lê Song Dự và CTV(1991) [26]; Ngô Đức Dương và CTV (1990) [29]

Trang 11

Song song với phương pháp chọn tạo giống cổ điển thông qua lai hữutính thì hiện nay có rất nhiều giống lạc được các nhà khoa học nghiên cứu tạo

ra bằng con đường xử lý đột biến đã cho kết quả rất khả quan

Tác giả Nguyễn Văn Liễu và cộng tác viên (1995) Bằng phương phápgây đột biến trên giống Hoa 17 của Trung Quốc đã chọn được giống 4329 làgiống có dạng hình thực vật Spanish, sinh trưởng khoẻ, năng suất cao, khốilượng quả cao, tỷ lệ nhân quả trung bình, là giống phù hợp cho nhu cầu xuấtkhẩu lạc nhân 4329 là giống thích hợp cho vùng có điều kiện thâm canh chủđộng tưới tiêu Giống 4329 được Bộ nông nghiệp và công nghiệp thực phẩmcông nhận là giống quốc gia năm 1994 [19]

Ngoài hai phương pháp lai tạo và đột biến thì phân lập, tuyển chọn,chọn lọc cũng giúp các nhà khoa học phát hiện ra những dòng, giống tốt chonăng suất cao

Kết quả nghiên cứu chọn lọc giống lạc nhắn ngày L05 của Viện KhoaHọc Nông Nghiệp Việt Nam năm 1998 cho thấy Giống lạc L05 có thời giansinh trưởng 115 ngày trong vụ xuân, ngắn hơn Sen Nghệ An từ 5 - 7 ngày, dàihơn Cúc Nghệ An 10 ngày, chỉ số diện tích lá, khả năng tích luỹ chất khô ởthời kỳ đầu tốt hơn 2 giống đối chứng Giống L05 có năng suất cao hơn CúcNghệ An là 34%, Khối lượng 100 hạt đạt 56,7 - 61,4 gam, vỏ hạt màu hồngsáng, hợp thị hiếu người tiêu dùng và khuất khẩu Giống lạc L05 nhiễm cácbệnh hại chính ở mức trung bình như Cúc Nghệ An, khá hơn Sen Nghệ An[16]

Qua khảo sát 50 dòng, giống nhập nội từ ICRSAT, các cán bộ giảngdạy thuộc bộ môn Cây Công Nghiệp - Trường Đại Học Nông Nghiệp I – HàNội gồm Đoàn Thị Thanh Nhàn, Vũ Đình Chính, Bùi Xuân Sửu và Bùi ThịTịnh đã thu được kết quả như sau:

Trang 12

Các dòng, giống lạc có triển vọng, năng suất, hạt to có thể đưa vào sosánh chính quy là 93215, 90133, 93211 và 93276.

- Kết quả thí nghiệm so sánh một số giống lạc mới lai tạo trong nước vànhập nội từ Trung Quốc cho thấy: Các dòng, giống có năng suất cao, khốilượng 100 hạt lớn, tỷ lệ nhân cao là 77/35 vỏ nhẵn, 77/35 vỏ gân, 77/43 và77/50 Giống có thời gian sinh trưởng ngắn nhất là 77/35 (131 ngày) Cácdòng này cần được thí nghiệm so sánh khu vực hoá rộng rãi [6]

Qua khảo sát 10 giống lạc mới là 77/35, 77/43, DT1, DT2, L02, L03,L05, MD7, KPS13 Nguyễn Thiên Lương, Lê Quý Tường, Nguyễn TiênPhong, Nguyên Khoa Huân, Phạm Xuân Liêm và các cộng tác viên cho biết:L02 là giống có tiềm năng năng suất cao, thích ứng rộng, chịu thâm canh, ítnhiễm sâu bệnh hại nghiêm trọng Năng suất tại các điểm khảo nghiệm đềucao hơn 30 tạ/ha Đây là giống có thời gian sinh trưởng trong vụ xuân là 120ngày, hạt to màu hồng, khối lượng 100 hạt đạt 49 gam, tỷ lệ nhân đạt 63% L02 là giống được khu vực hoá tháng 1/1998 và được công nhận tháng5/1999 [4]

77/43 là giống lạc sinh trưởng khoẻ, năng suất ổn định (25,3 - 37,4tạ/ha), khối lượng 100 hạt cao (đạt 50 gam), tỷ lệ nhân/quả cao (66%), hạtmàu hồng, to hơi dài, thời gian sinh trưởng trong vụ xuân là 120 ngày 77/43

đã qua 4 vụ khảo nghiệm và được đề nghị mở rộng trong sản xuất

MD9 được khảo nghiệm lần đầu vào vụ xuân năm 1999 Giống nàysinh trưởng khoẻ, chịu hạn khá, cứng cây, it nhiễm sâu bệnh hại, quả to màuhồng nhạt, năng suất cao tại các điểm khảo nghiệm (trung bình đạt 35,0 tạ/ha,

có nơi đạt 40,1 tạ/ha như ở Hải Dương) MD9 thuộc loại hình đứng cây, thờigian sinh trưởng trong vụ xuân là 120 ngày MD9 đã được công nhận giốngtạm thời L14 là giống lạc của Viện KHKTNN - Việt Nam Giống này đượcđưa vào khảo nghiẹm lần đầu vào vụ xuân năm 2000, tại các tỉnh và thành

Trang 13

phố như Hà Nội, Hải Dương, Vĩnh Phúc, Thanh Hoá, do Nguyễn ThiênLương và các CTV tiến hành Giống lạc L14 tiếp tục được khảo nghiệm trong

vụ xuân năm 2001 và vụ xuân năm 2002 Sau 3 vụ đưa vào khảo nghiệm chothấy Đây là giống lạc sinh trưởng khoẻ, nhiễm sâu bệnh nhẹ, năng suất khácao và ổn định trung bình đạt 38,1 – 46,9 tạ/ha, trọng lượng 100 hạt đạt 59gam, tỷ lệ nhân cao (71,8 – 73,4%), thời gian sinh trưởng trong vụ xuân từ

118 - 125 ngày L14 được hội đồng Khoa học – Bộ Nông nghiệp và Pháttriển Nông thôn cho phép khu vực hoá ở các tỉnh phía Bắc năm 2002, được đềnghị mở rộng nhanh ra sản xuất Hiện nay L14 đã phổ biến rộng trong sảnxuất và được bà con nông dân đánh giá cao đặc biệt là tại tỉnh Nghệ An

Cũng trong năm 2000 các giống như D40, Trạm Dầu 207, NC2, BG51lần đầu tiên được đưa vào khảo nghiệm và cho năng suất khá, trung bình đạt35,6 – 43,6 tạ/ha Các giống này được đề nghị tiếp tục đưa vào khảo nghịêm

Trong những năm qua trạm khảo nghiệm cây trồng miền trung thuộcTrung Tâm KNGCT T.Ư đã đưa vào khảo nghiệm nhiều giống lạc mới tạicác tỉnh duyên hải miền Trung Sau đây là một số kết quả thu được:

Lê Quý Tường, Nguyễn Kim Ngọc và các cộng tác viên, trong vụ đôngxuân năm 1997 - 1998 đã tiến hành khảo nghiệm một số dòng, giống lạc mớinhư DT1, DT2, HL25 và cho biết:

DT2 là dòng lạc triển vọng, thời gian sinh trưởng ngắn (94 ngày), sinhtrưởng phát triển tốt, thân to, lá xanh đậm, năng suất cao (trung bình đạt 29,6ta/ha), ít nhiễm sâu bệnh, đặc biệt là bệnh héo xanh và ghỉ sắt Giống HL 25

và dòng DT1 cũng có triển vọng, thời gian sinh trưởng ngắn, năng suất cao, ítnhiễm sâu bệnh HL25 và DT1 được đề nghị nhân sản xuất thử và được đềnghị hội đồng Khoa Học Bộ Nông Nghiệp và PTNN cho phép khu vực hoá tạicác tỉnh miền trung Dòng DT1 và giống HL25 được đề nghị cho sản xuất thửtrong vụ đông xuân tại Quảng Ngãi [4]

Trang 14

Năm 2000, tại hai tỉnh Quảng Nam và Quảng Ngãi trạm khảo nghiệmgiống cây trồng miền Trung đã tiến hành khảo nghiệm 9 giống lạc mới gồmLVT, MD7, D40, NC2, Sán Dầu 30 , BG51, L02 và KPS13 Kết quả chothấy, các giống đều sinh trưởng phát triển tốt trên đất bãi ven sông tại QuảngNam và Quảng Ngãi Năng suất các giống đều cao hơn giống Sẻ Gia Laiđem làm đối chứng (cao nhất đạt 37 tạ/ha, thấp nhất đạt 22 tạ/ha) Bước đầunhận thấy một số giống có triển vọng, ngắn ngày, năng suất cao, ít nhiễm sâubệnh hại như:

Các giống MD7, Trạm Dầu 207, Sán Dầu 30, LVT, KPS13, trong vụxuân hè trên đất khảo nghiệm tỉnh Quảng Nam

Giống L02 trong vụ hè thu và giống LVT trong cả hai vụ xuân hè và hèthu tại Quảng Ngãi

Các giống trên được đề nghị tiếp tục đưa vào khảo nghiệm, cho năngsuất khá cao và ổn định, ít nhiễm sâu bệnh hại , được đề nghị cho sản xuất thửtrong vụ đông xuân và hè thu trên đất bãi ven sông tỉnh Quảng Ngãi

Các giống MD7, LVT, Trạm Dầu 207, Sán Dầu 30 được đề nghị đưavào sản xuất trình diễn ở Quảng Ngãi trong vụ xuân hè Hai giống LVTvàL02 được đề nghị cho sản xuất trình diễn trong vụ đông xuân và hè thu tạitỉnh Quảng Nam

Tính đến năm 2002, giống lạc L02 đã đưa vào khảo nghiệm được 5 vụtại duyên hải miền Trung Sau 5 vụ khảo nghiệm cho thấy đây là một giốnglạc ngắn ngày (đông xuân: 103 ngày, hè thu: 95 ngày), có năng suất cao và ổnđịnh (trung bình đạt 27,6 tạ/ha) là giống có năng suất cao nhất trong nhómgiống lạc đưa vào khảo nghiệm, khối lượng 100 hạt đạt 64,3 gam, tỷ lệ đạt63,4%, ít sâu bệnh hại, thích hợp trong cả hai vụ đông xuân và hè thu L02 làgiống triển vọng trong vùng và được đề nghị đưa vào trong vùng nghiên cứu

Trang 15

Cũng tính đến năm 2002, tại Duyên hải miền Trung đã đưa vào khảonghiệm các giống lạc SD1, MD9, L12, L14 được 2 vụ Trong đó 2 giống SD1

và L14 được đánh giá bước đầu có nhiều triển vọng năng suất cao L14 đạttrung bình 25,3 tạ/ha, SD1 trung bình đạt 26,2 tạ/ha Cả hai giống đều tươngđối ít sâu bệnh Tất cả các giống trên đều được đề nghị tiếp tục đưa vào khảonghiệm để có được kết luận chính xác hơn [9]

Viện Khoa Học KTNN Việt Nam cho biết: V79, 4329, 1660, LVL làcác giống đã được công nhận là có năng suất từ 2,5 – 3,8 tấn/ha Các giốngQĐ4, QĐ5, QĐ6 là các giống nhập nội có năng suất cao, hơn 5tấn/ha GiốngQĐ8 năng suất trung bình đạt 4,41 tấn/ha và hạt có chất lượng tốt Các giốngkhác như TQ3, Đài Loan 1 cũng có năng suất khá

Phần 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1 Vật liệu nghiên cứu

Thí nghiệm bao gồm 7 dòng, giống tham gia trong đó có 3 giống và 4dòng

1: 75/23 (giống đối chứng)

2: S12 (giống nhập nội của ICRISAT)

3: D35A (dòng lai B5000 x Bạch Sa vỏ gân)

Trang 16

Phân chuồng: 10 tấn/ ha, bón lót.

Phân đạm Ure: 60kg/ha, bón 50% khi lạc có 2- 3 lá thật, bón 50 % khilạc ra hoa

Supe lân : 350kg/ha, bón lót

Vôi : 500 kg/ha, bón lót 50% và thúc 50% khi lạc ra hoa

4.3 Chăm sóc

Xới xáo 3 lần như sau:

Lần 1: khi lạc có 2 - 3 lá thật, xới nhẹ, làm cho đất tơi xốp, nhổ cỏ tạođiều kiên đủ O2 cho rễ và vi khuẩn nốt sần hoạt động

Lần 2: Trước khi lạc ra hoa, xới xáo làm cho đất tơi xốp, thoáng

Lần 3: Sau khi thời kỳ ra hoa rộ 10 - 15 ngày, xới xáo kết hợp với vun luống

Trang 17

Phòng trừ sâu bệnh cho lạc: Phun phòng trừ kịp thời khi phát hiện sâubệnh hại.

5 Các chỉ tiêu và phương pháp đánh giá

5.1 Thời gian và tỷ lệ mọc mầm

5.1.1 Thời gian mọc mầm

Tính từ lúc gieo đến mọc đến được 80% số cây

Phương pháp đánh giá: Tiến hành theo dõi số cây mọc trên hàng đãđánh dấu mỗi ngày đếm số cây mọc trên hàng vào buổi sáng

5.2 Chiều cao cây và chiều dài cành cấp 1

Ở mỗi lần nhắc lại đánh dấu trước 5 cây và theo dõi

Sau mọc 30 ngày đo lần 1, sau đó cách 10 ngày đo 1 lần đến lúc thuhoạch

5.3 Sự phát dục của các dòng, giống

5.3.1 Thời gian phân cành

Theo dõi từ khi cây mọc đến lúc phân cành cấp 1

Theo dõi 50 cây/ô, khi cây đầu tiên có cặp cành cấp 1 dài 2cm thì 2ngày theo dõi 1 lần, khi 80% số cây phân cành cấp 1 thì không theo dõi nữa

5.3.2 Thời gian ra hoa

Xác định khoảng thời gian từ mọc đến lúc có 10% số cây ra hoa

Mỗi ô theo dõi 5 0 cây/ô, mỗi ngày một lần vào buổi sáng

5.3.3 Động thái nở hoa

Đếm số hoa nở hàng ngày/cây từ khi hoa bắt đầu nở cho đến khi tắthoa

Trang 18

Phương pháp theo dõi: Theo dõi 5 cây/ô thí nghiệm (có đánh dấu), mỗingày đếm một lần và buổi sáng.

5.3.4 Thời gian đâm tia

Xác định khoảng thời gian từ lúc mọc đến đâm tia 10% và đến lúc80% cây đâm tia Khi tia dài 2cm, theo dõi mỗi ô 50 cây, 1 ngày theo dõi mộtlần

5.3.5 Thời gian sinh trưởng

Xác định tỷ lệ quả già/tổng số quả trên cây sau mọc 100 ngày, 110ngày, 120 ngày Nếu thấy tỷ lệ qủa già/tổng số quả > 80% thì có thể thuhoạch

Mỗi ô theo dõi 5 cây, đếm tổng số quả chắc trên cây, tổng số quả già,tính ra tỷ lệ %

Đếm 5 cây trên/ô, qua 3 thời kỳ:

- Thời kỳ bắt đầu ra hoa

- Thời kỳ ra hoa rộ

- Thời kỳ quả vào chắc

5.6 Khả năng tích luỹ chất khô

Sấy khô và cân khối lượng từng cây, lấy 5 cây mỗi ô Đánh giá qua 3thời kỳ khác nhau:

- Thời kỳ bắt đầu ra hoa

Trang 19

- Thời kỳ ra hoa rộ.

- Thời kỳ quả vào chắc

5.7 Khả năng chống chịu sâu bệnh

Tiến hành theo dõi 50 cây/ô, xác định tỷ lệ cây bị hại

5.8 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất

Xác định từ 5 cây lúc thu hoạch

- Đếm tổng số cành cấp 1 trên cây

- Đếm tổng số quả trên mỗi cây

- Đếm tổng số quả chắc trên mỗi cây

Khối lượng khô cả cây

Năng suất cá thể: Lấy trung bình khối lượng quả chắc và khô của 5 cây.Năng suất lý thuyết = Năng suất cá thể x mật độ cây

5.9 Đặc điểm hình thái của các dòng, giống

Màu sắc thân, hình dạng và màu sắc lá,…

Hình dạng quả, mỏ quả, gân quả,…

Hình dạng hạt, màu sắc vỏ hạt, vỏ quả

Trang 20

Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

1 Thời gian và tỷ lệ mọc mầm

Quá trình nảy mầm của hạt là quá trình hạt chuyển từ trạng thái tiềmsinh sang trạng thái sống Trong hạt diễn ra các quá trình sinh lý, sinh hoágiúp cho phôi hình thành nên các bộ phận ban đầu của cây Đây là giai đoạnđầu tiên trong chu kỳ sinh trưởng phát triển của cây

Thời gian mọc mầm ngắn chứng tỏ sức nảy mầm của hạt khoẻ, cây consau này sẽ sinh trưởng phát triển tốt Còn tỷ lệ mọc mầm quyết định mật độban đầu và lượng hạt giống cần sử dụng, qua đó ảnh hưởng đến năng suất khithu hoạch

Thời gian và tỷ lệ nảy mầm của lạc phụ thuộc vào chất lượng hạt giống,điều kiện môi trường và các biện pháp kỹ thuật canh tác Theo dõi thời gian

Trang 21

và tỷ lệ mọc mầm của các dòng, giống lạc trong thí nghiệm kết quả thu đượctrình bày tại bảng 1.

Bảng 1: Thời gian và tỷ lệ mọc mầm

Chỉ tiêuDòng, Giống

Thời gian từ gieo đếnmọc (ngày)

* Thời gian từ gieo đến mọc

Số liệu thu được ở bảng 1 cho thấy: Thời gian từ gieo đến mọc của cácdòng, giống biến động từ 9 – 11 ngày Chênh lệch về thời gian từ gieo đếnmọc của các dòng, giống là không nhiều lắm Các dòng, giống có thời gian từgieo đến mọc ngắn nhất là: D40, D52 và L15 (9 ngày) Giống S12 và dòngD43 có thời gian nảy mầm tương đương giống đối chứng 75/23: 10 ngày,trong khi đó dòng D35A có thời gian nảy mầm dài hơn so với giống đốichứng

* Tỷ lệ mọc mầm

Qua số liệu bảng 1 chúng tôi rút ra nhận xét: các dòng, giống tham giathí nghiệm có tỷ lệ mọc mầm biến động từ 84,00 – 92,00% Giống tỷ lệ mọcmầm cao nhất S12 và L15 đạt 92,00%, trong khi đó dòng D35A có tỷ lệ mọcmầm thấp nhất đạt 84,00% Qua theo dõi chúng tôi nhận thấy 2 dòng D35A

và D43 có tỷ lệ mọc mầm thấp hơn giống đối chứng, dòng D40 tương đươngvới giống đối chứng Các dòng, giống còn lại đều có tỷ lệ mọc mầm cao hơn

so với giống đối chứng 75/23 đạt 90,67%

Trang 22

Qua số liệu bảng 1 chúng tôi có một số nhận xét: Vụ hè thu năm 2004điều kiện thời tiết không thuận lợi Khi gieo gặp mưa lớn kéo dài dẫn đến độ

ẩm đồng ruộng quá lớn nhưng thời gian mọc mầm của các dòng, giống lạctrong thí nghiệm không quá dài và tỷ lệ mọc mầm khá cao chứng tỏ các dòng,giống tham gia thí nghiệm đều có chất lượng hạt giống tốt

2 Chiều cao thân chính và chiều dài cành cấp I

2.1 Chiều cao thân chính

Chiều cao thân chính là một chỉ tiêu quan trọng nó phản ánh khá xácthực về quá trình sinh trưởng và phát triển của cây Đây là một chỉ tiêu màcác nhà chọn giống rất quan tâm, là yếu tố quyết định tới tốc độ và khả năngphân cành của cây Chiều cao cây cũng phản ánh khá rõ nét khả năng tích luỹchất khô Tốc độ vươn cao biểu hiện mối tương quan giữa quá trình sinhtrưởng sinh thực và sinh trưởng sinh dưỡng của cây lạc, do đó nó ảnh hưởngđến năng suất

Lạc thuộc loại hình sinh trưởng vô hạn nên thân chính không ngừngtăng trưởng trong quá trình sinh trưởng của cây, nhưng với tốc độ không đềunhau Tốc độ vươn cao của thân tăng dần trong thời kỳ sinh trưởng sinhdưỡng Tốc độ này tăng nhanh trong thời kỳ ra hoa và đạt cao nhất vào cuốithời kỳ ra hoa rộ Khi cây chuyển sang giai đoạn đâm tia, hình thành quả thìtốc độ sinh trưởng của thân giảm xuống Trong thời kỳ chín tốc độ này lạităng lên và nếu gặp điều kiện thuận lợi thân chính sẽ tăng trưởng cho đến lúcthu hoạch

Chiều cao thân chính của các dòng, giống lạc khác nhau thì khác nhauđiều đó phụ thuộc vào đặc điểm di truyền của giống, điều kiện ngoại cảnhcũng như kỹ thuật canh tác Theo dõi động thái tăng trưởng chiều cao thânchính của các dòng, giống lạc kết quả thu được trình bày tại bảng 2

Số liệu theo dõi về chiều cao cây được tổng hợp và trình bày ở bảng 2

Trang 23

Bảng 2: Động thái tăng trưởng chiều cao thân chính (cm)

50ngày

60ngày

70ngày

80ngày

90ngày

Sau mọc 40 ngày chiều cao thân chính của các dòng giống trung bình

từ 16,77 – 21,33 cm Trong đó cao nhất là giống S12 đạt 21,33 cm và thấpnhất là dòng D35A chỉ đạt 16,77 cm Các dòng, giống còn lại có chiều caothân chính cao hơn hoặc thấp hơn giống đối chứng 75/23: 17,46 cm

Sau mọc 50 ngày các dòng, giống có chiều cao thân chính trung bình

từ 21,63 – 26,62 cm Giống S12 là giống có chiều cao thân chính cao nhất đạt26,62 cm, thấp nhất là dòng D35A: 21,63 cm Trừ dòng D35A là thấp hơngiống đối chứng, còn lại các dòng, giống khác đều cao hơn giống đối chứng75/23: 21,70 cm

Sau mọc 60 ngày, các dòng, giống có chiều cao thân chính biến động

từ 26,69 – 30,67 cm Cao nhất vẫn là giống S12 đạt 30,67 cm, còn lại cácdòng giống khác đều có chiều cao thân chính cao hơn giống đối chứng 75/23:26,69 cm

Trang 24

Sau mọc 70 ngày, các dòng, giống có chiều cao thân chính trung bình

từ 30,58 – 34,62 cm Trong đó cao nhất vẫn là giống S12 đạt 34,62 cm, cònlại các dòng, giống còn lại đều cao hơn giống đối chứng

Sau mọc 80 ngày chiều cao thân chính trung bình của các dòng, giốngbiến động từ 35,51 – 39,65 cm Trong đó cao nhất là giống L15 đạt 39,65 cm

và thấp nhất là dòng D35A: 35,51 cm Còn lại các dòng, giống khác đều cóchiều cao thân chính cao hơn hoặc thấp hơn giống đối chứng 75/23: 36,61 cm

Sau mọc 90 ngày, thân chính của các dòng, giống cao trung bình từ39,47 – 45,59 cm Cao nhất là giống S12 đạt 45,59 cm, có 2 dòng có chiềucao thân chính thấp hơn giống đối chứng là D35A: 39,47 cm và D43: 40,49

cm Còn lại các dòng giống khác đều cao hơn giống đối chứng 75/23: 41,42cm

2.2 Chiều dài cành cấp I

Tốc độ tăng trưởng của cặp cành cấp I có liên quan chặt chẽ tới sự pháttriển của thân chính Nếu thân chính sinh trưởng phát triển quá mạnh nó sẽ ứcchế quá trình phân cành và sự phát triển của cành Do đó hoa ra muộn dẫn đến

số hoa hữu hiệu thấp đó chính là yếu tố hạn chế đến năng suất lạc Mối liênquan này phụ thuộc vào đặc điểm di truyền của các dòng, giống và điều kiệnngoại cảnh Nghiên cứu chỉ tiêu này kết quả được trình bày tại bảng 3

Bảng 3: Động thái tăng trưởng chiều dài cành cấp I (cm)

Thời kỳ

Dòng,

giống

Sau mọc30

ngày

40ngày

50ngày

60ngày

70ngày

80ngày

90ngày

75/23(Đ/C) 10,50 15,37 21,60 25,48 30,51 36,46 40,39

Trang 25

Sau mọc 40 ngày, các dòng giống có chiều dài cành cấp I biến động từ15,37 – 19,44 cm Giống S12 có chiều dài cành cấp I cao nhất đạt 19,44 cm,còn lại các dòng, giống khác tham gia thí nghiệm đều có chiều dài cành cấp Icao hơn giống đối chứng 75/23: 15,37 cm.

Sau mọc 50 ngày, chiều dài cành cấp I của các dòng, giống biến động

từ 20,55 – 25,51 cm Trong đó chiều dài cành cấp I cao nhất là giống S12 đạt25,51 cm, thấp nhất là dòng D40: 20,55 cm Còn lại các dòng, giống khác cóchiêù dài cành cấp I tương đương hoặc cao hơn giống đối chứng 75/23: 21,60cm

Sau mọc 60 ngày, chiều dài cành cấp I trung bình của các dòng, giốngnằm trong khoảng 24,56 – 29,45 cm Giống có cành cấp I dài nhất là S12 đạt29,45 cm, ngắn nhất là dòng D40: 24,56 cm Có 3 trong 7 dòng, giống cóchiều dài cành cấp I cao hơn giống đối chứng lần lượt là: S12, D52 và L15

Trang 26

Các dòng, giống còn lại có chiều dài cành cấp I tương đương giống đối chứng75/23: 25,48 cm.

Sau mọc 70 ngày, chiều dài cành cấp I của các dòng, giống biến động

từ 29,50 – 34,37 cm Trong đó chiều dài cành cấp I dài nhất là giống L15 đạt34,37 cm, ngắn nhất là dòng D35A: 29,50 cm Thời kỳ này 2 dòng có chiềudài cành cấp I ngắn hơn giống đối chứng lần lượt là; D35A và D40, dòng D43

có chiều dài cành cấp I tương đương giống đối chứng , còn lại các dòng,giống S12, D52 và L15 có chiều dài cành cấp I cao hơn giống đối chứng75/23: 30,51 cm

Sau mọc 80 ngày, chiều dài cành cấp I của các dòng giống trung bình

từ 34,47 – 39,55 cm Giống có chiều dài cành cấp I dài nhất là L15 đạt 39,55

cm, ngắn nhất là dòng D43: 34,47 cm Có 3 dòng có chiều dài cành cấp Ingắn hơn giống đối chứng là D35A, D40 và D43, còn lại các dòng giống khác

có chiều dài cành cấp I cao hơn giống đối chứng 75/23: 36,46 cm

Saumọc 90 ngày, 2 dòng D40 và D43 có chiều dài cành cấp I tươngđương giống đối chứng, Giống có chiều dài cành cấp I cao nhất là S12: 44,51

cm, ngắn nhất là dòng D35A: 39,42 3 dòng, giống có chiều dài cành cấp Icao hơn giống đối chứng lần lượt là S12, D52 và L15

3 Sự phát dục của các dòng, giống

3.1 Thời gian phân cành

Cành là cơ quan quan trọng ở cây lạc là vì đa số quả lạc đều ra ở trêncành Số lượng và sự sinh trưởng của các cành nhất là các cành cấp I, cấp II

sẽ quy định số lượng hoa, số hoa hữu hiệu, số quả trên cành Ngoài ra thờigian phân cành còn liên quan đến thời gian nở hoa qua đó ảnh hưởng gián tiếpđến thời gian sinh trưởng của giống Kết quả nghiên cứu được trình bày ởbảng 4

Bảng 4: Thời gian phân cành của các dòng, giống

Trang 27

Dòng, giống Tỷ lệ số cây xuất hiện cành cấp I (%)

Sau mọc 12 ngày Sau mọc 14 ngày Sau mọc 16 ngày

Sau mọc được 12 ngày, tỷ lệ số cây xuất hiện cành cấp I của các dòng,giống biến động từ 38,67 – 68,67% Trong đó giống S12 có tỷ lệ số cây xuấthiện cành cấp I cao nhất đạt 68,67%, tiếp theo lần lượt là L15: 62,67%, D52:60,00%, 3 dòng D35A, D40 và D43 có tỷ lệ số cây xuất hiện cành cấp I thấphơn giống đối chứng 75/23 đạt 55,33%

Sau khi mọc được 14 ngày, 5 trong 7 dòng, giống tham gia thí nghiệm

đã có tỷ lệ cây phân cành đạt trên 80% lần lượt là: S12, D40, D43, D52 vàL15 Dòng D35A còn lại có tỷ lệ phân cành cao hơn so với giống đối chứng75/23 đạt 70,67%

Sau mọc 16 ngày, tỷ lệ số cây phân cành cao nhất là hai giống S12 vàL15 đạt 100% Thấp nhất là dòng D35A, còn lại các dòng, giống khác đều có

tỷ lệ số cây phân cành cấp I tương đương hoặc cao hơn giống đối chứng

3.2 Thời gian nở hoa

Cây lạc bắt đầu phân hoá mầm hoa rất sớm, ngay từ khi có 2 – 3 lá thật.Quá trình này kéo dài nên quá trình nở hoa của lạc cũng kéo dài Hoa mọc ra

Ngày đăng: 23/10/2017, 21:13

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w