1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển thương nghiệp tư nhân trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

34 597 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phát triển thương nghiệp tư nhân trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Đà Nẵng
Thể loại Luận văn
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 639 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

3. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài Luận văn nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực tiễn về thương nghiệp tư nhân ở nước ta nói chung và trên địa bàn thành phố Đà Nẵng nói riêng. - Làm rõ thực trạng phát triển thương nghiệp tư nhân trên địa bàn thành phố Đà Nẵng nhằm chỉ ra những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế hiện nay. - Luận giải các phương hướng phát triển, đề xuất những giải pháp phát triển thương nghiệp tư nhân trên địa bàn thành phố Đà Nẵng trong những năm tới.

Trang 1

MỤC LỤC TRANG PHỤ BÌA

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ BIỂU ĐỒ

TÓM TẮT LUẬN VĂN

+ Về tình hình ngoài nước 58

Trang 2

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

1.CNXH Chủ nghĩa xã hội

2 TNTN Thương nghiệp tư nhân

3 WTO Tổ chức thương mại thế giới

4 ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

5 TKQĐ Thời kỳ quá độ

6 GDP Tổng sản phẩm quốc nội

Trang 3

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ

Nguồn Cục Thống kê TP Đà Nẵng 45 Nguồn Sở kế hoạch và đầu tư TP Đà Nẵng 47 + Về tình hình ngoài nước 58

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu:

Một trong những đặc trưng cơ bản của TKQĐ lên CNXH là sự tồn tại nhiều thành phần kinh tế như một tất yếu khách quan bắt nguồn từ quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Đại hội VI của Đảng cũng đã đánh dấu bước phát triển mới về chất trong việc nhận thức các thành phần kinh tế trong đó đã xác định: Chính sách cơ cấu kinh tế nhiều thành phần có ý nghĩa chiến lược lâu dài trong TKQĐ lên CNXH ở Việt Nam và cho đến nay, trong các thành phần kinh tế,

sự phát triển của thành phần kinh tế tư nhân vẫn cần thiết và nằm trong cơ cấu của nền kinh tế nhiều đi lên CNXH ở Việt Nam.

Từ năm 1997 thành phố Đà Nẵng được tách ra từ tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng để trở thành đơn vị trực thuộc Trung Ương, kinh tế tư nhân đã có bước phát triển tích cực, vươn lên trưởng thành và góp phần đáng kể cho phát triển kinh tế-xã hội của thành phố như đóng góp tỷ trọng lớn trong GDP, có khả năng khai thác và thu hút nguồn vốn trong dân, đặc biệt trong ngành thương nghiệp, sự phát triển của ngành thương nghiệp trong thời gian qua đã đóng góp một phần không nhỏ vào sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế thành phố Đà Năng Trong thời gian tới, để thương nghiệp tư nhân tiếp tục phát triển tương xứng với tiềm năng và thế mạnh, khả năng cạnh tranh và hội nhập nền kinh tế của thành phố và tránh những khiếm khuyết trong hoạt động kinh doanh của ngành thương nghiệp như kinh doanh một cách tự phát, buôn bán hàng giả tác động tiêu cực tới môi trường văn hoá - xã hội của thành phố.

Vì vậy, việc nghiên cứu thực tế hoạt động của thương nghiệp tư nhân trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, trên cơ sở đó cụ thể hoá chính sách và đưa ra giải pháp phù hợp để thương nghiệp tư nhân trên địa bàn thành phố Đà Nẵng phát triển hơn trong thời gian tới Đó cũng là lý do tôi đã chọn đề tài

Trang 5

“Phát triển thương nghiệp tư nhân trên địa bàn thành phố Đà Nẵng ” làm

đề tài nghiên cứu.

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Từ khi có chính sách đổi mới của Đảng cho đến nay, vấn đề làm th ế nào để phát triển thành phần kinh tế tư nhân đã được nhiều cơ quan và các cá nhân nghiên cứu, đã trình bày tính tất yếu của sự tồn tại nền kinh tế nhiều thành phần, thực trạng và vai trò của kinh tế tư nhân và một số biện pháp của Đảng và Nhà nước đối với thành phần kinh tế này Cụ thể như:

- GS TS Tô Xuân Dân, T.S Nghiêm Xuân Đạt, TS Vũ Trọng Lâm

(2002), Phát triển và quản lý các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, Nxb Khoa

học và kỹ thuật, Hà Nội; tác giả đã phân tích vai trò của doanh nghiệp ngoài quốc doanh, doanh nghiệp ngoài quốc doanh đầu tư hiệu quả hơn so với doanh nghiệp quốc doanh, vì vậy theo tác giả cần phải tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp dân doanh phát triển hơn nữa thông qua cơ chế, chính sách quản lý hợp lý của Nhà nước

- PGS.TS Trịnh Thị Hoa Mai (2005), Kinh tế tư nhân Việt Nam trong tiến trình hội nhập, Nxb Thế giới, Hà Nội; tác giả đã cho ta thấy rõ hơn vị trí

và tầm quan trọng của kinh tế tư nhân Việt Nam trong thời kỳ phát triển đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt là niềm tin và kỳ vọng của tác giả đối với tương lai của thành phần kinh tế tư nhân.

- CN Nguyễn Thị Thanh Thuỷ (2004), Hoàn thiện môi trường đầu tư nhằm phát triển kinh tế tư nhân trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, Đề tài cấp thành phố; tác

giả nghiên cứu môi trường đầu tư và vấn đề xây dựng tổ chức đảng ở các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân trên địa bàn thành phố Đà Nẵng Riêng ở thành phố Đà Nẵng chưa có công trình nào nghiên cứu về hoạt động kinh doanh của thương nghiệp tư nhân Chính vì vậy, luận văn của tôi sẽ

đi sâu nghiên cứu thực trạng và các giải pháp phù hợp để thúc đẩy thương nghiệp tư nhân trên địa bàn thành phố Đà Nẵng ngày càng phát triển.

3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Trang 6

Luận văn nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực tiễn về thương nghiệp tư nhân ở nước ta nói chung và trên địa bàn thành phố Đà Nẵng nói riêng.

- Làm rõ thực trạng phát triển thương nghiệp tư nhân trên địa bàn thành phố Đà Nẵng nhằm chỉ ra những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế hiện nay.

- Luận giải các phương hướng phát triển, đề xuất những giải pháp phát triển thương nghiệp tư nhân trên địa bàn thành phố Đà Nẵng trong những năm tới.

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là thương nghiệp tư nhân trên địa bàn thành phố Đà Nẵng trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế

- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu sự phát triển của thương nghiệp tư nhân trên địa bàn thành phố Đà Nẵng từ năm 2005 – 2009.

5 Phương pháp nghiên cứu.

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu truyền thống của kinh tế chính trị như phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, phương pháp lịch sử và lôgíc, phân tích và tổng hợp, phương pháp so sánh được sử dụng chủ yếu trong quá trình nghiên cứu.

+ Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp so sánh: khi phân tích thực trạng thương nghiệp tư nhân trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, tác giả đã xem xét số liệu của hiện tại với số liệu của những năm trước, qua đó tác giả đã phân tích và so sánh sự tăng hay giảm về tình hình hoạt động của thương nghiệp tư nhân của năm sau so với năm trước.

+ Phương pháp lịch sử và lôgíc: khi nghiên cứu thực tiễn thương nghiệp

tư nhân hoạt động, tác giả đã đề xuất những phương hướng và các giải pháp phù hợp để thực hiện những phương hướng trên.

Trang 7

6 Đóng góp mới của luận văn.

Luận văn đã phân tích được thực trạng của thương nghiệp tư nhân ở Đà Nẵng bằng tư duy hệ thống, vì vậy những khía cạnh về thương nghiệp tư nhân được xem xét một cách toàn diện, ở nhiều góc độ Qua phân tích, luận văn cũng đề xuất một số phương hướng và giải pháp thiết thực để phát triển thương nghiệp tư nhân Đà Nẵng phát triển trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế Do vậy, luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho sinh viên các trường đại học, các công trình nghiên cứu có liên quan đến vấn đề này.

7 Kết cấu của luận văn.

Luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về thương nghiệp tư nhân trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

Chương 2: Thực trạng phát triển thương nghiệp tư nhân trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.

Chương 3: Phương hướng và giải pháp phát triển thương nghiệp tư nhân trên địa bàn thành phố Đà Nẵng trong thời gian tới.

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THƯƠNG NGHIỆP

TƯ NHÂN

Trang 8

1.1 THƯƠNG NGHIỆP TƯ NHÂN VÀ CÁC LOẠI HÌNH THƯƠNG NGHIỆP TƯ NHÂN

1.1.1 Khái niệm thương nghiệp tư nhân.

Có thể nói, sự hình thành và phát triển các thành phần kinh tế là đòi hỏi tất yếu khách quan của nền kinh tế hàng hoá, nhất là kinh tế thị trường - giai đoạn phát triển cao của kinh tế hàng hoá.

Trong một nền kinh tế, trao đổi là một yếu tố, một giai đoạn quá độ của sản xuất; nó chỉ đơn thuần là sự thực hiện sản phẩm đã được sản xuất ra với

tư cách là hàng hóa và sự thay thế các yếu tố sản xuất để tiếp tục sản xuất với

tư cách là hàng hóa Nhưng trong quá trình đó trao đổi lại trực tiếp làm xuất hiện một hình thái mới, đó là hoạt động thương nghiệp Xét bề ngoài tưởng như lưu thông tách biệt với sản xuất, nhưng thực chất lưu thông nói chung, hoạt động thương nghiệp nói riêng là một trong các khâu của quá trình tái sản xuất xã hội, trong đó hoạt động thương nghiệp có tác dụng thúc đẩy hoặc cản trở sản xuất Như Ph.Ăngghen đã khẳng định hai “chức năng” sản xuất và trao đổi là “đường hoành và đường tung của đường cong kinh tế” Vì giữa sản xuất và trao đổi có quan hệ hữu cơ với nhau trong quá trình tái sản xuất xã hội.

Sự tác động qua lại giữa sản xuất và trao đổi không dừng lại ở quy mô, mà còn tác động đến trình độ phát triển của nhau cả về mặt quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất

Ở mỗi trình độ khác nhau, hoạt động thương nghiệp trong các nền kinh tế cũng khác nhau Khi nền sản xuất ở trình độ thấp, nhỏ lẻ, phân tán thì hoạt động trao đổi còn hạn chế ở phạm vi hẹp, hoạt động thương nghiệp cũng còn

ở tình trạng manh mún với quy mô nhỏ Khi trình độ xã hội hóa sản xuất cao thì đòi hỏi hoạt động thương nghiệp cũng phải được xã hội hóa với trình độ tương ứng Sản xuất hàng hóa càng phát triển cao thì quá trình trao đổi càng

Trang 9

mở rộng và ngược lại sự mở rộng và phát triển quá trình trao đổi sẽ là động lực thúc đẩy sự phát triển của sản xuất

Cũng như các nền kinh tế khác, thời kỳ đầu của nền kinh tế hàng hoá ở nước ta sản phẩm thặng dư chưa nhiều nên hoạt động thương nghiệp chủ yếu

là do tư nhân thu gom những sản phẩm thừa của những người sản xuất nhỏ như nông dân và thợ thủ công Do vậy hiệu quả của hoạt động thương nghiệp còn rất thấp Nhưng sự tồn tại của hoạt động thương đã làm cho sản xuất tách biệt tương đối với trao đổi, làm cho sản xuất ngày càng có tính chất trao đổi, nên nó có tác dụng thúc đẩy quá trình tan rã những quan hệ sản xuất tự cung

tự cấp Khi sản xuất hàng hoá phát triển thì hình thức thương nghiệp do tư nhân thực hiện vẫn còn tồn tại nhưng nó khác về cơ cấu, quy mô, mô hình tổ chức và phương thức kinh doanh… và cũng có sự khác nhau giữa các nền

kinh tế nhưng vẫn có đặc điểm chung về thương nghiệp tư nhân đó là loại hình kinh doanh trong lĩnh vực lưu thông, dựa trên cơ sở sở hữu tư nhân về vốn và các điều kiện kinh doanh Điều kiện tồn tại của thương nghiệp tư nhân,

theo Mác, là sự tồn tại của lưu thông hàng hoá và lưu thông tiền tệ.

Tuy nhiên, ngày nay, với sự phát triển của nền kinh tế thì kinh doanh trong lĩnh vực thương nghiệp ngày càng trở nên khó khăn, phức tạp dưới tác động của thị trường và yêu cầu không ngừng mở rộng của thị trường Vì vậy, hoạt động trong lĩnh vực thương nghiệp không chỉ đơn thuần bao gồm các hoạt động mua và bán thuần tuý mà còn được mở rộng thêm với các công đoạn có liên quan đến quá trình thúc đẩy nhanh việc mua bán hàng hóa Đến nay, để thực hiện quá trình lưu thông thuận lợi, các chủ thể kinh doanh thương nghiệp buộc phải thực hiện nhiều hoạt động trước và sau hoạt động mua, bán như: xúc tiến thương mại (quảng cáo, đại diện thương mại, môi giới thương mại, uỷ thác mua bán hàng hóa…), gia công, chế biến, đóng gói hàng hóa, dịch vụ sau bán hàng (bảo hành, bảo dưỡng…)

1.1.2 Các loại hình thương nghiệp tư nhân ở nước ta hiện nay.

Trang 10

Thương nghiệp tư nhân tồn tại và hoạt động dưới nhiều hình thức, dựa vào hình thức tổ chức của thương nghiệp tư nhân có thể phân biệt thương

nghiệp tư nhân theo hai tiêu chí là theo hình thức tổ chức và theo phạm vi và

h ình thức hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực thương nghiệp.

1.1.2.1 Theo hình thức tổ chức:

Dựa theo hình thức tổ chức, thương nghiệp tư nhân được chia làm hai loại là loại hình thương nghiệp dựa trên sở hữu tư nhân nhỏ và loại hình thương nghiệp dựa trên sở hữu tư bản tư nhân

* Loại hình thương nghiệp dựa trên sở hữu tư nhân nhỏ (các hộ cá thể,

tiểu chủ kinh doanh thương nghiệp):

Loại hình này thường được tổ chức kinh doanh theo kiểu hộ gia đình, hay một cá nhân, hoạt động dựa trên sở hữu tư nhân nhỏ về vốn và các điều kiện kinh doanh khác với việc sử dụng sử dụng sức lao động của chính hộ hay

cá nhân đó, còn thuê mướn lao động làm thuê chỉ có vai trò bổ sung, mang tính thời vụ

* Loại hình thương nghiệp dựa trên sở hữu tư bản tư nhân :

Đây là mô hình tổ chức của các hãng buôn lớn, tồn tại dưới hình thức doanh nghiệp hoạt động kinh doanh dựa trên hình thức sở hữu tư bản tư nhân

về vốn, tài sản và các nguồn lực khác được thu hút vào kinh doanh, có tính năng động và nhạy bén cao Các doanh nghiệp này hoạt động theo Luật doanh nghiệp của Việt Nam Theo hình thức tổ chức doanh nghiệp hiện hành thì hiện nay thương nghiệp tư nhân tư bản bao gồm:

- Doanh nghiệp tư nhân: Là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ, tự

bỏ vốn thành lập và tự tổ chức kinh doanh Các doanh nghiệp này phải hoàn toàn tự chủ về vốn, bảo toàn vốn, tổ chức kinh doanh và tự tìm kiếm thị trường, tự chịu trách nhiệm về các hoạt động kinh doanh (cả về mặt kinh tế,

cả về mặt pháp luật) Các doanh nghiệp tư nhân lớn trong lĩnh vực thương

Trang 11

nghiệp ở nước ta chưa nhiều, nhưng đã có tác động tích cực đáng kể tới sự phát triển kinh tế - xã hội Trong thời gian qua, tốc độ phát triển của doanh nghiệp tư nhân trong lĩnh vực thương nghiệp cao hơn trong lĩnh vực sản xuất Hầu hết các ngành hàng hiện nay đều có các doanh nghiệp tư nhân kinh doanh, song ít có doanh nghiệp nào chiếm ưu thế, có thị phần lớn trên thị trường.

- Công ty cổ phần: là doanh nghiệp trong đó vốn điều lệ được chia nhỏ

thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần Cổ đông góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm

vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng

cổ phần cho người khác trừ trường hợp quy định tại khoản 3, Điều 81 và khoản 5, Điều 84 của Luật doanh nghiệp Công ty cổ phần có quyền phát hành cổ phiếu các loại để huy động vốn.

- Công ty trách nhiệm hữu hạn: Là doanh nghiêp trong đó thành viên

chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào doanh nghiệp Đây là hình thức biểu hiện sự kết hợp về vốn giữa các thành phần kinh tế Doanh nghiệp loại này có đặc điểm là chế độ sở hữu vốn, tài sản không thuần nhất Trong xu thế chung thì doanh nghiệp loại này đang có cơ hội phát triển mạnh trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng, bởi vì chúng thường có quy mô, khả năng thu hút vốn, trình độ tổ chức, quản lý, khả năng tiếp cận và mở rộng thị trường lớn hơn so với doanh nghiệp TNTN.

- Công ty hợp danh: Là doanh nghiệp trong đó có ít nhất hai thành viên

hợp danh Ngoài hai thành viên hợp danh có thể có thành viên góp vốn Thành viên hợp danh là cá nhân phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty

Trang 12

1.1.2.2 Theo phạm vi và hình thức hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực thương nghiệp:

Có thể phân biệt hoạt động của thương nghiệp tư nhân theo các loại hình sau:

Một là: Thương nghiệp tư nhân kinh doanh nội địa (bao gồm các hoạt

động thu mua, bán buôn, bán lẻ).

Hoạt động thu mua, đây là một đòi hỏi khách quan đối với nền sản xuất

hàng hoá nhỏ Việc tồn tại và phát triển lực lượng tiểu thương làm đại lý, thu gom hàng hoá là cần thiết Đó là công việc tập trung các nguồn hàng từ các kênh sản xuất khác nhau để thực hiện các hoạt động kinh doanh tiếp theo Tuy nhiên, khi đòi hỏi phải thu gom một số lượng hàng hoá lớn thì bản thân hoạt động thu mua lại đòi hỏi tiềm lực kinh tế, năng lực kinh doanh của các chủ thể mua phải ở mức đủ lớn mà thương nghiệp cá thể, tiểu chủ khó có thể đáp ứng Vì vậy, để đáp ứng yêu cầu trên các hộ tư thương buộc phải liên kết, hợp tác với nhau hoặc liên kết, hợp tác với các doanh nghiệp thương nghiệp tư nhân có tiềm lực tài chính mạnh hơn Hoạt động thu mua phát triển sẽ có tác dụng khơi thông nguồn hàng, thúc đẩy sản xuất phát triển và phục vụ tốt hơn cho nhu cầu tiêu dùng.

Hoạt động bán buôn, là khâu phát luồng hàng hoá tới các kênh bán lẻ

và một phần bán trực tiếp cho các chủ thể sản xuất (các yếu tố đầu vào) Mục tiêu hoạt động của các nhà bán buôn là tiêu thụ được khối lượng hàng hoá lớn trong thời gian ngắn nhất Mô hình này đòi hỏi phải có những nhà buôn lớn đáp ứng được đầy đủ các điều kiện kinh doanh trong cơ chế thị trường như: quy mô vốn đầu tư lớn, cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, tiên lợi cho việc chế biến bảo quản và vận chuyển hàng hoá, kênh phân phối rộng, kinh nghiệm kinh doanh phong phú Do đó, ở khâu này chủ yếu là các doanh nghiệp thương nghiệp tư bản tư nhân tham gia hoạt động.

Trang 13

Hoạt động bán lẻ, là khâu cuối cùng của quá trình hoạt động kinh

doanh thương nghiệp Hàng hoá sau khi bán đã ra khỏi lĩnh vực lưu thông và

đi vào lĩnh vực tiêu dùng, giá trị và giá trị sử dụng được thực hiện Đây là hoạt động kinh doanh thương mại đáp ứng nhu cầu phong phú, đa dạng, tỉ mỉ của nhiều đối tượng khách hàng khác nhau và nó là hình thức phổ biến, len lỏi vào mọi ngõ ngách của cuộc sống Hoạt động ở khâu bán lẻ cần có một mạng lưới rộng khắp với nhiều quy mô khác nhau Trong điều kiện nền kinh tế còn chưa phát triển cao, hoạt động này chủ yếu được thực hiện bởi thương nghiệp

cá thể, tiểu chủ Đó là loại hình phù hợp với các đòi hỏi của nhu cầu thị trường khi thu nhập của người tiêu dùng chưa cao, vì vậy không thể nóng vội xoá bỏ loại hình này mà ngược lại phải khuyển khích, tạo điều kiện cho nó kinh doanh theo đúng pháp luật Việc thu hẹp hay khuyến khích mở rộng hoạt động kinh doanh của thương nghiệp tư nhân phụ thuộc vào trình độ phát triển của nền kinh tế (cụ thể là do nhu cầu thị trường quyết định), không thể phụ thuộc vào ý chí chủ quan của con người Tuy nhiên, khi nền kinh tế phát triển,

hệ thống bán lẻ không chỉ dừng ở các cơ sở buôn bán của thương nghiệp cá thể, tiểu chủ mà được tổ chức tập trung hơn hình thành nên các trung tâm thương mại, hệ thống siêu thị.

Hai là: Thương nghiệp tư nhân hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu

Thực tế đây là các hành vi mua, bán hàng hóa trên thị trường, nhưng hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu có tính đặc thù là các hành vi mua, bán được thực hiện chủ yếu ở thị trường nước ngoài Với chủ trương đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ kinh tế đối ngoại thì các đối tác trong quan hệ kinh tế cũng hết sức đa dạng với tiềm lực kinh tế mạnh, có khả năng cạnh tranh cao, có bề dày kinh nghiệm Trong cơ chế cũ, hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu do các doanh nghiệp thương mại Nhà nước thực hiện Khi

Trang 14

chuyển sang cơ chế mới là cơ chế thị trường và trong xu hướng hội nhập kinh

tế quốc tế thì các thành phần kinh tế tham gia hoạt động kinh tế đối ngoại là một xu hướng tất yếu Để thúc đẩy kinh tế trong nước phát triển thì việc huy động các thành phần kinh tế tham gia hoạt động xuất nhập khẩu trong sự quản

lý của Nhà nước là chủ trương hết sức đúng đắn Tuy nhiên, thương nghiệp tư nhân nước ta khi tham gia hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu gặp phải rất nhiều khó khăn do tiềm lực kinh tế yếu, chưa có kinh nghiệm, khả năng nắm bắt và xử lý thông tin thị trường nước ngoài chưa kịp thời, công tác xúc tiến thương mại không được tổ chức thường xuyên Đặc biệt là trình độ ngoại ngữ, hiểu biết hệ thống pháp luật và thông lệ thương mại quốc tế của đội ngũ doanh nhân chưa đáp ứng được yêu cầu khi tham gia kinh doanh xuất nhập khẩu.

1.1.3 Đặc điểm hoạt động của thương nghiệp tư nhân

Hoạt động thương nghiệp là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, đối với các doanh nghiệp sản xuất, khi nói đến hoạt động thương nghiệp chính là nó đến hoạt động liên quan đến việc mua sắm vật tư, kỹ thuật cho sản xuất (thương nghiệp đầu vào) và quá trình tiêu thụ sản phẩm (thương nghiệp đầu ra).

Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động thương nghiệp được coi là một

bộ phận hữu cơ, quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh ở doanh nghiệp Đối với mỗi doanh nghiệp, sản phẩm được sản xuất ra là để bán cho người tiêu dùng, do đó người tiêu dùng chiếm vị trí trung tâm và là đối tượng của mọi hoạt động sản xuất kinh doanh Nói cách khác, sản phẩm được sản xuất ra phải được tiêu thụ, đó là điều kiện tiên quyết cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Nhưng ở các doanh nghiệp sản xuất, hoạt động thương nghiệp không chỉ dừng lại ở tiêu thụ sản phẩm mà còn hoạt động bảo đảm các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất Đó chính là quá trình mua sắm vật tư cho sản xuất của các doanh nghiệp Để thực hiện quá trình sản xuất đòi

Trang 15

hỏi phải đảm bảo thường xuyên liên tục nguyên nhiên vật liệu và máy móc thiết bị Chỉ có đảm bảo đủ số lượng, đúng mặt hàng và chất lượng cần thiết với thời gian quy định thì sản xuất mới có thể tiến hành được bình thường và sản xuất kinh doanh mới có hiệu quả Mua sắm vật tư cho sản xuất và tiêu thụ sản phẩm là hai bộ phận chủ yếu của hoạt động thương nghiệp tư nhân.

Trong hoạt động thương nghiệp, dựa vào hình thức sở hữu khác nhau

mà quy mô hoạt động và phương thức quản lý của mỗi doanh nghiệp cũng khác nhau Đối với các hộ kinh doanh cá thể, tiểu chủ do quy mô hoạt động nhỏ, phạm vi kinh doanh hẹp nên chỉ thích ứng với hoạt động bán lẻ, làm đại

lý cho các tổ chức thương mại khác Trong một số trường hợp, kinh doanh thương nghiệp gắn với sản xuất hàng hoá nhỏ, tức là các hộ vừa sản xuất, vừa tiêu thụ sản phẩm của mình.

Với quy mô nhỏ, bộ máy tổ chức quản lý gọn nhẹ, thương nghiệp cá thể, tiểu chủ thường có tính năng động vì dễ thích ứng với những điều kiện môi trường và địa bàn kinh doanh khác nhau Đặc điểm này rất phù hợp với hoàn cảnh nước ta đang trong quá trình chuyển sang phát triển kinh tế thị trường, nhưng đó cũng chính là các nhân tố gây ra tình trạng kinh doanh tự phát, vô chính phủ trên thị trường của loại hình thương nghiệp cá thể, tiểu chủ, làm thị trường rối loạn, nhất là trong điều kiện quản lý nhà nước còn yếu kém Đồng thời những hạn chế về quy mô, vốn, chất lượng nguồn nhân lực, phương thức tổ chức kinh doanh, trình độ công nghệ, khả năng tiếp cận thị trường sẽ gây cản trở cho sự phát triển của thương nghiệp cá thể, tiểu chủ, đặc biệt trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế Do đó, sự phát triển của loại hình kinh tế này rất cần tới sự giúp đỡ và tạo điều kiện của Nhà nước.

Đối với các doanh nghiệp thương nghiệp tư bản tư nhân là thể hiện khả năng thích ứng cao trong mọi điều kiện, linh hoạt, dễ hình thành, đáp ứng nhu cầu của thực tế đặt ra Khi bắt đầu hoạt động kinh doanh, các chủ thể có khả năng lựa chọn quy mô kinh doanh phù hợp và tổ chức kinh doanh tối ưu Một

Trang 16

quy mô kinh doanh phù hợp thể hiện ở các quyết định lựa chọn số lượng đầu vào hợp lý, quy mô kinh doanh phù hợp với khả năng kinh doanh của mình, giúp doanh nghiệp có khả năng đi đến một cơ chế trả công hợp lý, căn cứ vào mức đóng góp của mỗi người Ngược lại, chủ doanh nghiệp có toàn quyền sa thải những lao động không cần thiết trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp.

Các doanh nghiệp thương nghiệp tư nhân thường tập trung kinh doanh trên địa bàn các trung tâm kinh tế lớn, nơi tập trung các khu công nghiệp, đầu mối giao thông và khu đông dân để hoạt động kinh doanh có đạt hiệu quả nhất nên có tác động tích cực chủ yếu tới sự phát triển của các vùng kinh tế trọng điểm

Tuy nhiên vì mục tiêu hoạt động của các doanh nghiệp của tư nhân bao giờ cũng vì lợi ích của chính họ, dẫn đến những việc làm phi pháp như trốn lậu thuế, buôn bán hàng giả, hàng cấm; không thích công khai thông tin các hoạt động của mình; sự phá sản của một số doanh nghiệp của tư nhân, như một hiện tượng không tránh khỏi trong nền kinh tế, đương nhiên sẽ kéo theo sự bấp bênh trong thu nhập cũng như việc làm không ổn định cho một bộ phận người lao động…

1.2 VAI TRÒ VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG THƯƠNG NGHIỆP TƯ NHÂN TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

1.2.1 Vai trò của thương nghiệp tư nhân

Trước đây, hoạt động thương nghiệp ở nước ta chủ yếu do thương nghiệp quốc doanh và hợp tác xã mua bán nắm giữ tỷ trọng lớn trên thị trường Bộ phận thương nghiệp tư nhân chủ yếu hoạt động ở thị trường “ngầm”.

Thời kỳ trước đổi mới (1986), ở nước ta có gần 5000 doanh nghiệp thương nghiệp quốc doanh, được phân bố khắp các địa bàn và kinh doanh mọi ngành hàng; lực lượng lao động rất lớn, khoảng 442,2 nghìn người Cơ sở vật chất kỹ thuật cũng như vốn của những doanh nghiệp này hoàn toàn được Nhà

Trang 17

nước bao cấp Tuy nhiên, cơ chế tập trung bao cấp đó đã làm cho các doanh nghiệp thương nghiệp quốc doanh rơi vào tình trạng ỉ lại, làm ăn thua lỗ, kém hiệu quả Trước thời kỳ đổi mới doanh nghiệp thương nghiệp quốc doanh chiếm ưu thế và giữ vai trò chi phối (nắm trọn bán buôn, chi phối 80% tổng mức bán lẻ xã hội), nhưng bên cạnh đó vẫn tồn tại các hình thức thương nghiệp tư nhân, chỉ có điều khi đó thương nghiệp tư nhân là đối tượng cần

“cải tạo” hoặc bị phủ nhận

Bước ngoặt trong quá trình phát triển kinh tế tư nhân nói chung và thương nghiệp tư nhân nói riêng được đánh dấu từ tháng 12/1986, lúc này vai trò của thương nghiệp tư nhân mới được nhìn nhận, Đại hội Đảng lần thứ VI

đã thừa nhận nền kinh tế nước ta là nền kinh tế nhiều thành phần.

Như vậy quá trình nhận thức và chỉ đạo về việc xác định các thành phần kinh tế trong nền kinh tế Việt Nam của Đảng và Nhà nước đã có thay đổi nhiều để thích ứng với nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, trong đó kinh tế tư nhân từ chỗ không được thừa nhận, là đối tượng cải tạo XHCN, nay

đã được thừa nhận là một bộ phận cấu thành quan trọng trong nền kinh tế quốc dân.

Xuất phát từ quan điểm trên, các cơ chế, chính sách của Nhà nước đối với phát triển kinh tế tư nhân trong những năm qua đã có chuyển hướng rõ rệt Khu vực kinh tế này bao gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân, hoạt động dưới hình thức hộ kinh doanh cá thể và các loại hình doanh nghiệp tư nhân, chủ yếu hoạt động thông qua Luật doanh nghiệp (từ 1/7/2006).

Như vậy, kể từ khi đổi mới, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trong phát triển kinh tế - xã hội, trong đó có sự đóng góp quan trọng của kinh

tế tư nhân đặc biệt là thương nghiệp tư nhân Đảng ta đã xác định: Kinh tế tư nhân là một bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân Phát triển kinh tế tư nhân là vấn đề chiến lược lâu dài trong phát triển kinh tế nhiều

Ngày đăng: 18/07/2013, 11:46

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Số lượng các doanh nghiệp  thương nghiệp tư nhân  trên địa bàn  thành phố Đà Nẵng - Phát triển thương nghiệp tư nhân trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
Bảng 2.1 Số lượng các doanh nghiệp thương nghiệp tư nhân trên địa bàn thành phố Đà Nẵng (Trang 34)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w