Nghiên cứu vấn đề an ninh lương thực tại Việt Nam nhằm phản ánh thực tiễn tình hình an ninh lương thực quốc gia, đồng thời tìm hiểu những ảnh hưởng của tình hình an ninh lương thực thế giới đối với Việt Nam, từ đó góp phần làm sáng tỏ nội dung, yêu cầu về an ninh lương thực ở Việt Nam trong quá trình phát triển đất nước. Đồng thời, góp phần bổ sung phương pháp nghiên cứu, đánh giá an ninh lương thực quốc gia, phân tích điều kiện, khả năng cũng như các trở ngại của Việt Nam trong quá trình phát triển để đề ra giải pháp thực hiện an ninh lương thực một cách bền vững
Trang 1Phần Mở Đầu
1 Lý do chọn đề tài.
Trong nhiều thập kỷ qua, an ninh lương thực luôn là vấn đề bức xúccủa tất cả các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển.Tìm kiếm giải pháp đảm bảo an ninh lương thực cho tất cả mọi ngườikhông chỉ là mối quan tâm hàng đầu của các quốc gia nghèo mà nó đã trởthành vấn đề thời sự mang tính toàn cầu Nhiều sách báo, nhiều tổ chức và
cá nhân, nhiều cuộc hội thảo quốc gia và quốc tế đã thường xuyên đề cập
và thảo luận về chương trình an ninh lương thực quốc gia và toàn cầu Từ
đó họ đã rút ra một kết luận hết sức có ý nghĩa đó là: giải quyết kịp thời vấn
đề lương thực là trung tâm của mọi cố gắng hiện nay để phát triển kinh tế
xã hội một cách bền vững
Ở Việt Nam, sau hơn 10 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng vàChính phủ, sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất lương thực nóiriêng đã có bước phát triển nhanh, liên tục và tương đối ổn định Sản xuấtnông nghiệp tăng trưởng nhanh với tốc độ bình quân 4.3%/năm Từ năm
1988 đến nay, sản lượng lương thực (gạo, ngô, sắn) liên tục tăng với mứchơn 1 triệu tấn/năm, tốc độ tăng bình quân là 5%, gấp 2 lần mức tăng dân
số Năm 2000 sản lượng lương thực đạt trên 34 triệu tấn, bình quân lươngthực đầu người đạt gần 450 kg Nhờ vậy hầu hết dân cư đã có đủ lươngthực để dùng Sản xuất các loại thực phẩm, như rau, quả, cá, thịt,… cũngtăng nhanh đáp ứng cơ bản nhu cầu tiêu dùng trong nước và có dư để xuấtkhẩu Sau đổi mới, Việt Nam từ một nước thiếu lương thực phải nhập khẩuhàng năm trở thành một trong những nước xuất khẩu gạo chủ yếu trên thếgiới với số lượng lương thực xuất khẩu trên 3 triệu tấn/năm
An ninh lương thực ở nước ta đang được thiết lập và đã đạt đượcnhững thành công to lớn trên nhiều mục tiêu Tuy nhiên, việc đảm bảo an
Trang 2ninh lương thực vẫn còn nhiều hạn chế, nhất là khả năng tiếp cận lươngthực của mọi tầng lớp dân cư còn thấp và không đồng đều Do khả năngtiếp cận lương thực của các hộ gia đình còn hạn chế nên trên thực tế hiệnnay tại Việt Nam vẫn còn trên 17% hộ đói và trên 40% trẻ em dưới 5 tuổisuy dinh dưỡng Mức tiêu dùng bình quân nhiều loại thực phẩm còn thấp sovới thế giới Một bộ phận dân cư có mức tiêu dùng lương thực thực phẩmquá thấp (dưới 2100 kcal/ngày), bấp bênh và có sự chênh lệch giữa cácvùng, giữa thành thị và nông thôn.
Có thể nói an ninh lương thực hiện nay đã trở thành yêu cầu mangtính pháp lý của mỗi quốc gia, Việt Nam cũng không thể nằm ngoài vần đềnày trong quá trình thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa – hiện đại hóa đấtnước Có thực mới vực được đạo, sự đúc kết kinh nghiệm đó cho thấy giữđược an ninh về lương thực đảm bảo được an huy xã hội sẽ tạo điều kiện thuậnlợi cho tất cả các thành phần kinh tế tiếp tục phát triển, sản xuất, kinh doanh,vượt qua mọi khó khăn, thách thức trước mắt tiếp tục đưa nền kinh tế trong đó
có sản xuất lương thực phát triển ổn định, bền vững
Với tâm nguyện góp phần nâng cao nhận thức về an ninh lương thực,đồng thời tìm ra những giải pháp hợp lý để đạt được an ninh lương thựcmột cách bền vững, là một sinh viên kinh tế nông nghiệp, trước thực trạngtrên em xin mạnh dạn đi sâu nghiên cứu đề tài:
“ Thực trạng an ninh lương thực tại Việt Nam và các biện pháp khắc phục”.
2 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Vấn đề an ninh lương thực
2.2 Phạm vi nghiên cứu
Về không gian, nghiên cứu vấn đề tại Việt Nam
Về thời gian, giai đoạn 2006-2009
Trang 33 Mục tiêu nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu vấn đề an ninh lương thực tại Việt Nam nhằm phản ánhthực tiễn tình hình an ninh lương thực quốc gia, đồng thời tìm hiểu nhữngảnh hưởng của tình hình an ninh lương thực thế giới đối với Việt Nam, từ
đó góp phần làm sáng tỏ nội dung, yêu cầu về an ninh lương thực ở ViệtNam trong quá trình phát triển đất nước Đồng thời, góp phần bổ sungphương pháp nghiên cứu, đánh giá an ninh lương thực quốc gia, phân tíchđiều kiện, khả năng cũng như các trở ngại của Việt Nam trong quá trình pháttriển để đề ra giải pháp thực hiện an ninh lương thực một cách bền vững
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trước hết hệ thống hóa cơ sở lý luận liên quan vấn đề an ninh lươngthực Sau đó, phản ánh thực tiễn tình hình an ninh lương thực tại Việt Nam,khẳng định những thành công đã đạt được và tìm ra những khó khăn bất ổncòn tồn tại trong hoạt động bảo đảm an ninh lương thực tại Việt Nam để cónhững giải pháp phù hợp
4 Vấn đề nghiên cứu
Tình hình an ninh lương thực tại Việt Nam
5 Phương pháp nghiên cứu
Bài luận văn được viết ra dựa trên phương pháp nghiên cứu là phươngpháp phân tích, tổng hợp, diễn giải các tài liệu thu được từ Tổng công tylương thực Miền Bắc và kết hợp với quan sát, phỏng vấn đề thu thập thôngtin thực tế
Kết cấu của chuyên đề gồm có ba phần:
Chương I : Những vấn đề lý luận cơ bản về an ninh lương thực
Chương II : Thực tiễn tình hình an ninh lương thực tại Việt Nam
Chương III : Đề xuất một số giải pháp nhằm khắc phục những bất ổn.Sau đây ta đi vào dàn ý chi tiết từng chương :
Trang 4Phần Nội Dung
Chương I
Cơ sở lý luận và thực tiễn về an ninh lương thực
1 Khái niệm, vai trò của an ninh lương thực
1.1 Khái niệm an ninh lương thực
Khái niệm về an ninh lương thực được Tổ chức Lương - Nông LiênHiệp Quốc (FAO) đưa ra vào thập niên 80 của thế kỷ trước với ba nội dung
để một nước được cho là bảo đảm an ninh lương thực: (1) Có đủ lươngthực cho cả nước, (2) Có khả năng cung cấp lương thực ổn định và điềuhòa cho mọi người đang sống trên lãnh thổ và (3) tất cả mọi người dân có
đủ khả năng mua lương thực khi cần Ba nội dung này đã được Ủy ban Antoàn lương thực thế giới và Hội đồng Kinh tế - Xã hội của Liên Hiệp Quốcthừa nhận sau một thời gian dài tranh cãi vì nhận thấy đây là những yêu cầukhắc nghiệt Một quan điểm khác cho rằng một quốc gia được xem là đạt
an ninh lương thực khi tỷ lệ tăng sản lượng lương thực hàng năm cao hơn
tỷ lệ tăng dân số
An ninh lương thực là một trạng thái mà không lúc nào con người bịđói, nghĩa là họ có đủ các chất dinh dưỡng cho một cuộc sống hiệu quả,hoạt bát và khỏe mạnh Tuy nhiên sẵn có nguồn lương thực chưa phải mộtđiều kiện để bảo đảm an ninh, bởi vì con người vẫn có thể bị chết đói khilương thực dồi dào Trong một thế giới tiến bộ như ngày nay vẫn còn hơn
800 triệu người bị đói Vấn đề chủ yếu ở chỗ việc phân phối lương thựckém hiệu quả và con người thiếu khả năng mua hàng Qua đó có thể thấyngoài nhân tố ảnh hưởng của thiên tai đối với khả năng sản xuất lươngthực, các chính sách và trình độ quản lý kinh tế của các chính phủ cũngđóng góp một phần không nhỏ vào việc bảo đảm nguồn cung cấp lươngthực cũng như thu nhập cho người dân
Trang 5Mục tiêu chiến lược an ninh lương thực của Việt Nam đến năm 2020là: “Đảm bảo vững chắc an ninh lương thực ở từng hộ gia đình và trênphạm vi toàn quốc trong mọi tình huống bằng việc đẩy mạnh phát triển sảnxuất lương thực, chủ yếu là lúa và ngô trên cơ sở ổn định diện tích đất lúanước, tăng cường thâm canh tăng năng suất, sản lượng, tăng hiệu quả vàthu nhập cho người sản xuất lương thực, tăng khả năng tiếp cận đủ lươngthực của mọi người dân trong mọi tình huống”.
1.2 Vai trò của an ninh lương thực đối với đời sống xã hội
Theo các tài liệu chính thức của Liên Hợp Quốc, an ninh lương thực làmột trong 7 nhân tố cấu thành an ninh con người cùng với các nhân tố khác
đó là: an ninh kinh tế, an ninh sức khỏe, an ninh môi trường, an ninh cánhân, an ninh cộng đồng và an ninh chính trị
An ninh lương thực đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống cũngnhư trong hoạt động sản xuất kinh doanh của cong người An ninh lươngthực đảm bảo cho người dân có đủ lương thực để dùng trong một thời giandài Một nền kinh tế có an ninh lương thực tốt nghĩa là người dân sốngtrong đó không còn phải lo về việc thiếu lương thực hay không đủ khả năng
để mua lương thực khi cần thiết Đặc biệt trong quá trình đô thị hóa đangdiễn ra rất nhanh ở các nước đang phát triển cùng với việc sử dụng lúa gạovào những mục đích khác nhau thì vấn đề an ninh lương thực ngày càngđược quan tâm hơn bao giờ hết.Theo ông Jean Ziegler, một đại diện củaLiên Hợp Quốc nhận xét: “ việc dùng cây lương thực để sản xuất khốilượng lớn nhiên liệu sinh học là một tội ác vì nó tác động trực tiếp tới giálương thực trên toàn cầu, đe doạ cuộc sống của hàng triệu người” Hầu hết cácquốc gia trên thế giới đều sử dụng gạo làm lương thực để dự trữ Số lượng gạo
dự trữ này hàng năm đều tăng do vấn đề tăng dân số Khi gặp sự cố bất ngờnhư thiên tai bão lũ mùa màng thất bát thì Chính Phủ các nước sẽ sử dụngdến lượng lương thực dự trữ này cứu trợ nhân dân
Trang 6Vấn đề an ninh lương thực hiện nay đang đứng trước những báo độngnghiêm trọng Theo định nghĩa về an ninh lương thực: “an ninh lương thực
là khả năng tất cả mọi người ở mọi lúc có đủ lương thực cho việc duy trìcuộc sống khỏe mạnh và đáp ứng yêu cầu hoạt động thể chất bình thường,
kể cả hoạt động lao động của con người ” Song thực tế thì khả năng nàyngày nay đang dần bị đe dọa một cách nghiêm trọng Bằng chứng xác thựcnhất là cuộc khủng hoảng lương thực trong năm 2008 vừa xảy ra Hàng loạtnhững tín hiệu về việc thiếu lương thực trên thế giới đã được phát đi Kếtquả là cuộc chạy đua tăng giá lúa gạo trên thị trường thế giới Vì vấn đềnày mà ở một số nước những biến động về chính trị, xã hội đã gây ảnhhưởng đến đời sống người dân Tại Thái Lan, chính phủ đã phải triển khaiquân đội để ngăn chặn tình trạng cướp lương thực trên cánh đồng và cácnhà kho Trong tháng qua, nhiều vụ bạo động đã xảy ra tại các nước như AiCập, Indonesia, Philippines, Bangladesh, do cuộc khủng hoảng lươngthực Tình trạng bất ổn vì thiếu lương thực cũng đã xảy ra tại nhiều nơithuộc châu Á Sự cảnh báo về một "thời kỳ xung đột kéo dài" và sẽ xuấthiện các dạng xung đột mới khác bắt nguồn từ việc thiếu lương thực và giá
Lúa gạo là cây lương thực quan trọng hơn cả do nó thích ứng với nhiềuđiều kiện khí hậu và sinh thái rất khác nhau: nhiệt đới, ôn đới, vùng cao, khô,vùng thấp có nước
Lúa mì đứng hàng thứ hai sau lúa gạo về cây lương thực chủ yếu Lúa mìthích nghi với khí hậu ôn đới, mùa đông lạnh ẩm, năng suất bình quân khoảng
20 tạ/ha trên diện tích 210 triệu ha và tổng sản lượng thế giới là 355 triệu tấn
Trang 7Ngô là loại cốc đứng thứ ba, sản lượng ngô trên thế giới khoảng 322 triệu tấnvới 40% diện tích tập trung ở Bắc và Trung Mỹ Xét về giá trị dinh dưỡng thìlúa có năng lượng tổng số - 234 Kcal/100g và protein - 4,4%, còn ở ngô là 327Kcal/100g và 7,6% Tuy nhiên, lúa gạo có khá đầy đủ các loại axit amin cầnthiết, trong khi đó, ngô thiếu hẳn hai loại quan trọng mà cơ thể không thể tổnghợp được là lizin và priptophan
Tuy nhiên, hiện nay an ninh lương thực đang đối diện với cuộc khủnghoảng nghiêm trọng mà nguyên nhân chủ yếu là thiếu lương thực Con ngườikhông có đủ lương thực để sống vì sản lượng lương thực đang giảm sút đếnmức báo động Chính vì vậy, sản lượng lương thực là nhân tố tiên quyết đếnvấn đề an ninh lương thực không chỉ cho mỗi quốc gia mà còn cho toàn cầu.Muốn giải quyết được cuộc khủng hoảng lương thực hiện nay thì trước hết cần
có chiến lược tăng sản lượng lương thực, đảm bảo lương thực cho cả nhữngvùng khó khăn nhất trên thế giới
- Khí hậu:
Khí hậu là một trong những yếu tố tác động đến sản lượng lương thựcbởi, từ xưa tới nay việc sản xuất gieo trồng các cây lương thực phần lớnphụ thuộc vào thời tiết cụ thể là nguồn nước mưa và nhiệt độ Hiện nay 2/3dân số trên thế giới đang sống ở các khu vực nông thôn, đa số tại các nướcđang phát triển
Biến đổi khí hậu sẽ gây ra tình trạng mất cân bằng về khí hậu, mưanhiều ở các khu vực khí hậu ôn hòa nhưng lại gây ra hạn hán ở các vùngnhiệt đới và cận nhiệt đới Hạn hán sẽ tác động tiêu cực đến hoạt độngnông nghiệp làm giảm sản lượng lương thực Châu Phi là châu lục dễ bịảnh hưởng nhất khi lượng mưa giảm Sản lượng nông nghiệp đang giảmsút, gây ra nạn đói kém Theo TTXVN, Ủy ban Liên chính phủ về khí hậuthay đổi của LHQ dự kiến vào cuối thế kỷ này, mực nước biển sẽ dâng cao
từ 18 đến 59 cm và các đảo quốc nhỏ thuộc vùng châu thổ Mega ở châu Ánằm trong số những nơi bị đe dọa nghiêm trọng nhất
Trang 8- Dân số:
Dân số là một trong những nhân tố ảnh hưởng không nhỏ đến an ninhlương thực Dân số tăng sẽ dẫn đến nhu cầu tiêu thụ lương thực tăng, diệntích đất sử dụng cho nông nghiệp sẽ ít nhiều bị giảm đi do phải nhường chođất sinh hoạt Khi cung về lương thực không kịp đáp ứng cầu lương thực
sẽ dẫn đến khủng hoảng lương thực( thiếu lương thực, giá lương thựctăng…)
- Diện tích đất Nông nghiệp:
Cùng với dân số thế giới ngày càng tăng, các đô thị, trung tâm côngnghiệp ngày càng nhiều thì tỉ lệ nghịch với nó là diện tích đất nông nghiệpngày càng ít đi vì phải chuyển đổi mục đích sử dụng Chưa kể đến nhữngtàn phá của con người gây ô nhiễm môi trường, đất bị xói mòn, bạc màuhiệu quả sử dụng không cao Đây là những tín hiệu không vui cho thế giới
về vấn đề tăng năng suất lương thực
Sự phát triển là tất yếu, nhưng điều đáng nói là sự phát triển lọn xộn,thiếu quy hoạch đã làm cho nhiều quốc gia trên thế giới rơi vào tình trạngmất đất đai dành cho trồng trọt Vì vậy, mỗi quốc gia cần có những hànhđộng rõ ràng, cụ thể hơn để bảo vệ đất nông nghiệp nhằm đảm bảo an ninhlương thực một cách bền vững
- Tình hình kinh tế - xã hội trên thế giới:
Đây là một trong những nhân tố có tác động gián tiếp đến tình hình anninh lương thực Nếu tình hình kinh tế - xã hội trên thế giới ổn định thì sẽ
là môi trường tốt để các ngành nông nghiệp phát triển và lương thực sẽđược đảm bảo Ngược lại, nếu có chiến tranh, bạo động, dịch bệnh…tànphá thì chắc chắn an ninh lương thực sẽ bất ổn
3 Đặc điểm tình hình an ninh lương thực thế giới và những ảnh hưởng đối với Việt Nam
3.1 Đặc điểm tình hình an ninh lương thực thế giới
Đặc điểm 1: Thế giới đang đối phó với cuộc khủng hoảng lương
Trang 9thực gây hậu quả nghiêm trọng
Chưa bao giờ, vấn đề an ninh lương thực lại được thế giới đặt ra mộtcách cấp bách như hiện nay Theo thống kê, trong 3 tháng đầu năm 2008,giá gạo luôn ở mức cao, hiện đã tăng khoảng 70% trong bối cảnh nguồncung giảm mạnh Những bất ổn về an ninh lương thực ảnh hưởng trực tiếptới sự ổn định của các nước và an ninh quốc tế Khủng hoảng lương thực cóthể kích động làn sóng di cư, bạo loạn, khủng bố, trồng cây thuốc phiện
Ðó là chưa kể các cuộc chiến tranh do nạn đói gây ra Các nhà phân tíchcho rằng, cuộc khủng hoảng lương thực vẫn đang hiện hữu và vấn đề anninh lương thực vẫn là bài toán khó giải
Đánh giá mới nhất của FAO cho thấy tình hình khẩn cấp về lươngthực vẫn còn hiện diện ở 34 quốc gia trên toàn thế giới Con số này đã giảm
so với 39 nước theo đánh giá trước của CFS 26 trong số 34 nước này ởchâu Phi, số còn lại chủ yếu ở châu Á và các vùng khác
Tổng Giám đốc FAO J Diouf cho rằng, tình trạng mất an ninh lươngthực hiện nay trên thế giới là "quá sức chịu đựng" và ông đã kêu gọi triệutập Hội nghị cấp cao thế giới về khủng hoảng lương thực, dự kiến sẽ họpvào tháng 11 năm 2009 tại Roma (Italy) nhân kỳ họp lần thứ 36 của FAO.Ông Diouf cho biết, hội nghị nhằm tạo dựng sự đồng thuận của các quốcgia về mục tiêu cắt giảm nhanh chóng, tiến tới xóa bỏ hoàn toàn tình trạngđói ăn trên toàn cầu, đồng thời hình thành một trật tự lương thực thế giớimới Ông hy vọng hội nghị này sẽ tạo ra sự phối hợp chặt chẽ hơn trên toàncầu trong nỗ lực bảo đảm an ninh lương thực thế giới Dự kiến hội nghịcũng thảo luận về các vấn đề chính sách và cơ cấu của hệ thống nôngnghiệp thế giới, đưa ra các giải pháp về chính trị, tài chính và kỹ thuật bềnvững, nhằm giải quyết tình trạng mất an ninh lương thực toàn cầu hiện nay.Từng quốc gia và cộng đồng quốc tế với vai trò chủ đạo của Liên hợpquốc đã và đang có nhiều nỗ lực, tăng cường hợp tác đấu tranh, chống chọivới cuộc khủng hoảng lương thực
Trang 10Đặc điểm 2: Thiếu lương thực do những bất ổn về khí hậu Liên Hợp Quốc kêu gọi cả thế giới chung tay giải quyết nạn đói
Thị trường lương thực rất nhạy cảm với vấn đề khí hậu Khí hậu tácđộng đến hiệu quả thu hoạch lương thực và chất lượng của các sản phẩmlương thực Trong đó, hạn hán và rét đậm là hai nhân tố chính tác động trựctiếp đến sản lượng lương thực thế giới
Tại châu Phi, do chịu ảnh hưởng của yếu tố hạn hán đã dẫn đến tìnhtrạng giảm thiểu lương thực của Kenya vào thời điểm cuối năm 2008.Tháng 09/2008, Chính phủ nước này cho biết, có tới 10 triệu dân trong tổng
số 35 triệu dân của họ phải đối mặt với nguy cơ mất mùa
Để ứng phó với hạn hán đòi hỏi các quốc gia cần phải đưa ra các giảipháp đảm bảo an ninh lương thực, góp phần làm giảm bớt những tổn thất
do nó mang lại
Tại “vựa lúa” châu Á, chính phủ các nước cũng đang phải nỗ lực đảmbảo an ninh lương thực Thái Lan - nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới,các doanh nghiệp đầu mối cũng phải tiếp tục gom hàng và huỷ hợp đồngvới đối tác xuất khẩu Chính phủ Thái-lan dự định đề xuất ASEAN thànhlập "Quỹ và kho dự trữ thóc gạo" nhằm bảo đảm an ninh lương thực Kếhoạch trên nhằm ngăn chặn khả năng thiếu gạo trong các nước ASEAN,nơi có tổng dân số lên tới 550 triệu người, khi giá gạo tăng đột biến trên thịtrường Là nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới, Thái-lan sẽ lập các kho dựtrữ riêng để phục vụ kế hoạch an ninh lương thực của ASEAN Bên cạnh
đó, mỗi nước thành viên cùng đóng góp vốn hoặc thóc gạo cho quỹ này.Chính phủ các nước khu vực sẽ tính toán giá gạo dựa trên giá thị trường.Thái-lan đề nghị quỹ gạo dự phòng của ASEAN mỗi năm sẽ ở mức khoảng
ba triệu tấn Thái-lan đánh giá kế hoạch trên không chỉ giúp tăng cường vaitrò quản lý và bảo đảm an ninh lương thực cho ASEAN, mà còn nâng caonăng lực điều hành chương trình dự trữ gạo của chính phủ và góp phần
Trang 11bình ổn giá gạo trên thị trường, giúp Thái-lan có thêm kênh bán gạo chocác nước thành viên ASEAN khác.
Tại Ấn Độ, quốc gia xuất khẩu 4 triệu tấn gạo/năm cũng áp đặt lệnhcấm xuất khẩu tất cả các loại gạo, trừ gạo basmati, để đảm bảo có đủ lươngthực cung cấp cho hơn một tỉ người và giảm sức ép tăng giá trong nước Theo FAO, lượng dự trữ lúa mì của thế giới hiện ở mức thấp nhất trongvòng 25 năm qua Những năm trước, Quỹ Dự trữ an ninh lương thực thế giới là
140 triệu tấn gạo, nhưng đến năm nay chỉ còn 76 triệu tấn Trong năm 2007,nhu cầu lương thực trên thế giới cần 245 triệu tấn gạo, trong khi các nước sảnxuất lương thực chỉ có thể sản xuất khoảng 240 triệu tấn
Với Pháp, đây là năm thứ ba liên tiếp nước này phải chứng kiến cảnh mấtmùa lúa mì Năm 2006, đợt nắng nóng khủng khiếp đã làm cho ngành nôngnghiệp Pháp thất thu, sản lượng nông nghiệp sụt giảm nghiêm trọng Bộ Nôngnghiệp Pháp thông báo, sản lượng lúa mì năm nay sẽ tiếp tục giảm, chỉ có thểđạt 32,5 triệu tấn, thấp hơn 2,5% so với năm 2006
Ở Australia, sản lượng ngũ cốc theo vụ trong năm 2007 đã giảm từ 25triệu tấn xuống còn 10 triệu tấn Ukraine cũng phải hạ chỉ tiêu xuất khẩu lươngthực xuống dưới mức 2,5 triệu tấn để bảo đảm an ninh lương thực quốc nội.Chính sách tăng cường sản xuất nhiên liệu sinh học và giảm diện tích trồng câylương thực và thiên tai lũ lụt nặng nề cũng đang làm cho Mỹ và Ðức có nguy
cơ rơi vào tình trạng bất ổn về lương thực
Nguy cơ thiếu lương thực đang đe dọa 28 quốc gia trên thế giới, đặc biệt làZimbabwe và Lesotho ở châu Phi An ninh bất ổn ở miền nam Somalia vàSudan trở thành nguyên nhân chính khiến người dân ở các khu vực này khókiếm được thức ăn, nhất là ở vùng Darfur của Sudan
Ðể bảo vệ người dân các nước nghèo, giải pháp duy nhất là thúc đẩynông nghiệp phát triển Tuy nhiên, những năm gần đây, các dự án đầu tưnước ngoài vào lĩnh vực nông nghiệp ở nhiều nước đang phát triển vẫnchưa đem lại hiệu quả Cuộc khủng hoảng tài chính hiện nay cũng hạn chế
Trang 12khả năng vay vốn của nông dân, trong khi tình trạng sụt giảm trao đổi mậudịch toàn cầu khiến các nhà nhập khẩu lương thực lo ngại Trước tình trạngngười dân các nước nghèo luôn phải sống trong cảnh thiếu ăn, các tổ chứcquốc tế đã nhiều lần lên tiếng kêu gọi các nước giàu thể hiện trách nhiệmcủa mình và tăng cường trợ giúp các nước nghèo FAO cho biết, để đẩy lùinạn đói mỗi năm thế giới chỉ cần chi thêm khoảng 30 tỷ ơ-rô nhằm khuyếnkhích sản xuất hộ gia đình ở khu vực nông nghiệp.
Trong bối cảnh này, mới đây, Tổng thống Mỹ B Obama thông báo, dokhủng hoảng kinh tế toàn cầu, Mỹ sẽ tăng gấp đôi viện trợ lương thực vànông nghiệp dành cho châu Phi, Mỹ la-tinh và các khu vực nghèo khác, lênhơn một tỷ USD Ông Obama nêu rõ, mục tiêu của Mỹ là "trao cho ngườidân công cụ mà họ cần để tự thoát khỏi nghèo đói" Trong khi đó, Pháp dựđịnh thành lập một quỹ đầu tư để hỗ trợ phát triển nông nghiệp châu Phi.Tuy nhiên, các chuyên gia của FAO chỉ rõ rằng, trong khi nhu cầu nông sảnthế giới gia tăng, hiện tượng biến đổi khí hậu làm trầm trọng thêm nguy cơthiếu ăn và bùng nổ giá cả, các nước giàu vẫn tiếp tục không chú ý đúngmức tới vấn đề lương thực Ðiều đó được thể hiện rõ tại Hội nghị cấp caoNhóm các nền kinh tế phát triển và mới nổi (G-20) mới đây khi an ninhlương thực không phải là chủ đề ưu tiên Các chuyên gia cảnh báo, nhữnghình ảnh về nạn đói và tình trạng bạo động do thiếu lương thực tại châu Á,châu Phi, Mỹ la-tinh cách đây đúng một năm vẫn còn nóng hổi
Đặc điểm 3: Giá lương thực tăng đến mức chóng mặt
Kể từ năm 2002, giá lương thực quốc tế bắt đầu có dấu hiệu tăng và thểhiện rõ nét nhất qua những năm gần đây Theo thống kê của Liên Hợp Quốc,chỉ tính riêng năm 2007, giá lương thực đã tăng 42% Đến năm 2008, giá mặthàng này tiếp tục leo thang Các chuyên gia đã đưa ra những nguyên nhân chủyếu đó là: nhu cầu về lương thực trên thế giới cao, sự phát triển của nhiên liêusinh học đã lấn át nguồn lương thực, giá dầu tăng dẫn đến việc gia tăng giáthành sản xuất và vận chuyển lương thực, biến đổi khí hậu dẫn đến chất lượng
Trang 13nguồn lương thực bị giảm sút và ảnh hưởng đến quá trình tiêu thụ trên thịtrường.
Đến cuối nửa năm 2008, tuy giá lương thực, dầu mỏ và các mặt hàng khác
có dấu hiệu lắng xuống nhưng vẫn duy trì ở mức cao Theo thống kê của Tổchức Nông lương Liên hợp quốc (FAO), khoảng cách giá lương thực thế giớiđầu và cuối năm đã giảm 50% Tuy nhiên so với những năm trước đây, giá gạotrên thế giới vẫn cao Tính đến tháng 10, chỉ số giá lương thực theo FAO tăng28% so với năm 2006
Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu tác động không nhỏ đến giá lươngthực Tháng 10 vừa qua, chủ tịch Ngân hàng Thế giới (WB) Robert B Zoellick
đã chỉ ra rằng: "trong khi nhân dân các quốc gia phát triển quan tâm chủ yếuđến khủng hoảng kinh tế thì rất nhiều người thuộc các nước đang phát triển lolắng về ảnh hưởng của giá lương thực và nhiên liệu đang đè nặng lên nền kinh
tế của họ" Theo thống kê của WB, năm 2008 số người bị suy dinh dưỡng vìthiếu lương thực đã tăng lên 44.000.000 người với tổng số là 967 triệu người.Bên cạnh đó, do ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng kinh tế nên rất có thể kinh tếcủa những quốc gia đang phát triển trong năm tới sẽ có dấu hiệu chậm lại,nguồn thu từ kiều hối cũng giảm đi đáng kể Từ đó dẫn đến việc kinh tế nôngthôn trở thành nguồn thu chính của những quốc gia này
Hội nghị thượng đỉnh quốc tế về khủng hoảng lương thực được tổchức vào tháng 6-2008 tại Roma nhằm tìm giải pháp cấp bách cho vấn đềnày Theo Ngân hàng Thế giới (WorldBank) cảnh báo giá lương thực sẽcòn biến động mạnh trong năm 2008, 2009 và tiếp tục ở mức cao Tại phiên
bế mạc Hội nghị mùa xuân của IMF và Ngân hàng Thế giới (WB) tạiWashington ông Tổng Giám đốc Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), DominiqueStrauss-Kahn nhận đinh "Giá lương thực nếu vẫn tiếp tục đà gia tăng nhưhiện nay sẽ gây ra những hậu quả khủng khiếp Hàng trăm nghìn người cónguy cơ bị chết đói, dẫn tới sự sụp đổ của các môi trường kinh tế"
Trang 14Tại thời điểm năy, tình trạng trì trệ của nền kinh tế Mỹ (đe doạ kĩotheo sự giảm sút về kinh tế của câc nước khâc) cũng không “nóng” bằng sựthiếu hụt lương thực đang xảy ra tại nhiều quốc gia Theo Tổ chức Lươngthực thế giới FAO vật giâ leo thang lă “thủ phạm” gđy nín cuộc khủnghoảng năy Giâ cả leo thang có nghĩa lă Chương trình Lương thực Thế giới(WFP) phải cắt khẩu phần lương thực cung cấp cho 73 triệu người ở 78nước Mối đe doạ suy dinh dưỡng trín quy mô lớn đang lờ mờ hiện ra Câcnước giău cũng bắt đầu cảm thấy tâc động của tình hình năy Giâ bột mỳcao khiến cho giâ mỳ ống vă bânh mỳ ở Italia tăng mạnh Bânh miso lămbằng gạo vă lúa mạch ở Nhật Bản cũng tăng; trong khi ở Phâp văÔtxtrđylia, chính phủ đang mở cuộc điều tra về giâ lương thực vă yíu cầucâc nhă sản xuất lương thực, câc siíu thị không được tăng giâ.
Theo đânh giâ của Tổ chức Lương thực vă Nông nghiệp LHQ (FAO),năm 2009 có hơn một tỷ người trín thế giới bị thiếu ăn, so với 963 triệungười năm 2008 Trước khi giâ lương thực tăng, bình quđn mỗi năm có 850triệu người thiếu ăn Sau khi lín tới mức cao nhất văo đầu năm 2008, giâlương thực thế giới đê giảm, nhưng vẫn cao hơn khoảng 19% so với giâtrung bình năm 2006
Câc chuyín gia cảnh bâo, cuộc khủng hoảng lương thực có thể biếnthănh khủng hoảng cơ cấu nếu không có những hănh động ngăn chặn kịpthời, vă sẽ "gđy ra những hậu quả nghiím trọng không chỉ đối với quan hệthương mại, mă ảnh hưởng cả tới quan hệ xê hội vă quốc tế, hai yếu tố tâcđộng trực tiếp tới an ninh vă sự ổn định của chính trị quốc tế" Theo PhóGiâm đốc Quỹ nghiín cứu MOMA của Phâp, giâ một tấn lúa mì có thể sẽdao động từ 80 đến 320 ơ-rô trong văi năm tới Trong những điều kiện nhưvậy, rất khó hy vọng sản lượng lương thực thế giới ổn định vì nhă sản xuất
có xu hướng điều chỉnh lượng hạt gieo căn cứ văo giâ cả Một vấn đề khâccản trở sự gia tăng sản lượng lương thực vă lăm tăng câc rủi ro biến độnggiâ cả lă khả năng vay vốn của người sản xuất bị hạn chế do khủng hoảng
Trang 15tài chính Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) dự báo, trao đổi mậu dịchtoàn thế giới sẽ giảm mạnh trong năm 2009 Ðiều này gây lo ngại cho cácnhà nhập khẩu lương thực, nhất là đối với các nước nghèo Chủ tịch Ngânhàng các quốc gia Trung Phi nhấn mạnh: "Năm 2008, một số nước có thểđưa ra giải pháp cho an ninh lương thực vì có thặng dư ngân sách nhờnguồn thu nhập từ dầu mỏ tăng Nhưng năm 2009, họ không còn khả năngcan thiệp đó nữa" Tổng Thư ký LHQ Ban Ki-moon nhấn mạnh, cuộckhủng hoảng lương thực vẫn đang hiện hữu, dẫn đến tình trạng thiếu lươngthực ở nhiều nơi trên thế giới Ông Ban Ki-moon kêu gọi các nước trên thếgiới tiếp tục ưu tiên cho sản xuất lương thực, nhất là tại những nước nghèonhất.
Hiện nay, cộng đồng quốc tế đang nỗ lực tìm mọi biện pháp để cải thiện
và khôi phục lại nền kinh tế chung, trong đó không thể không nói đến vấn đềkhủng hoảng lương thực Giúp đỡ các quốc gia đang phát triển nâng cao chấtlượng lương thực, qua đó xây dựng cơ chế giao dịch lương thực ổn định luôn làmục tiêu được quan tâm hàng đầu
Tình hình an ninh lương thực hiện nay trên thế giới có ảnh hưởng rấtlớn đến tình hình an ninh lương thực Việt Nam
3.2 Những ảnh hưởng của tình hình an ninh lương thực thế giới đối với Việt Nam
"Nhất sĩ nhì nông Hết gạo chạy rông nhất nông nhì sĩ” Qua thực tếcuộc sống ông cha ta đã đúc kết như vậy Đối chiếu với tình hình khủnghoảng thiếu lương thực dẫn đến bất ổn xã hội tại nhiều nước đang phát triển
ở châu Á, châu Phi càng thấy vai trò vị trí của nông nghiệp trong việc đảmbảo an ninh lương thực nền tảng đảm bảo an ninh, ổn định chính trị Theođánh giá của Liên hiệp quốc giá lương thực trên thị trường thế giới tăngđến 5% và hiện đang có 33 quốc gia thiếu lương thực nghiêm trọng, cận kềvới cái đói cần được cứu trợ khẩn cấp
Trang 16Việt Nam chúng ta không nằm trong danh sách 33 quốc gia nói trên vàđang là một trong các nước xuất khẩu lương thực hàng đầu thế giới ViệtNam đang cùng Thái Lan, Ấn Độ chiếm 60% sản lượng gạo xuất khẩu củathế giới Bởi vậy, mới đây Thái Lan ngỏ ý cùng với Việt Nam, Ấn Độ hìnhthành liên minh xuất khẩu gạo như mô hình tổ chức các nước xuất khẩudầu mỏ OPEC Làm như vậy vừa thống nhất được giá gạo xuất khẩu trênthị trường thế giới vừa ổn định được giá gạo tiêu dùng nội địa và bảo vệ lợiích của nông dân vì họ không thể dự báo được mặt bằng giá cả hợp lý khitham gia thị trường.
Việt Nam chúng ta tuy không phải đối đầu với tình trạng thiếu lươngthực nhưng giá lương thực cũng đã tăng khá cao do tác động của thị trườngthế giới Trước tình hình đó Chính phủ đã chủ trương tạm ngừng xuất khẩugạo vừa để góp phần chống lạm phát vừa để đảm bảo an ninh lương thựcvừa theo dõi diễn biến tình hình thị trường gạo thế giới để có đối sách phùhợp
Một vấn đề khác liên quan đến sản xuất nông nghiệp phát sinh gần đâycũng cần được đề cập Đó là tình trạng huyện huyện, tỉnh tỉnh đua nhau lấyđất nông nghiệp cả những vùng màu mỡ, “bờ xôi, ruộng mật” để lập khucông nghiệp mà không ít khu lập xong không thu hút được các nhà đầu tư.Con số thống kê cho thấy từ năm 2002 đến năm 2007, mỗi năm mất 73.000
ha đất nông nghiệp, 500.000 tấn lương thực, 2,5 triệu nông dân mất tư liệusản xuất rơi vào cảnh “ăn không, ngồi rồi” vì không thể chuyển nghề
Cho đến bây giờ, mặc dù tỷ trọng nông nghiệp trong GDP (tổng sảnphẩm quốc nội) đã giảm nhưng nước ta vẫn là nước nông nghiệp, hơn 75%dân số sống ở nông thôn Bởi vậy công nghiệp hóa là cần thiết nhưng côngnghiệp hóa thế nào để nông nghiệp vẫn phát triển, nông dân được đổi đời,
an ninh lương thực quốc gia được đảm bảo
Vấn đề an ninh lương thực đang thực sự nóng bỏng trên toàn cầu vàtác động trực tiếp đến nước ta Trên thế giới nhu cầu tiêu dùng ngày càng
Trang 17lớn và yêu cầu phát triển nhanh chăn nuôi, nhất là chăn nuôi gia súc, giacầm sử dụng lương thực vì dân số thế giới tăng nhanh (trong 10 năm quadân số thế giới đã tăng 2 lần), nhiều hơn mức tăng sản lượng lúa gạo, đồngthời nhu cầu của thị trường cao cấp về lương thực thực phẩm như thịt -trứng - sữa ngày càng tăng khiến cho một khối lượng lớn lương thực thựcphẩm được điều tiết để hỗ trợ ngành chăn nuôi Chuyển dịch cơ cấu đấttrồng và sản phẩm lương thực thực phẩm cho mục tiêu sản xuất nhiên liệusinh học (biofue) thay thế xăng dầu ngày càng lớn: theo số liệu của Ngânhàng thế giới, Mỹ đã sử dụng 20-40% lượng ngô (bằng 4-8% sản lượngtoàn cầu); Liên minh châu Âu dành 65% dầu thực vật cho mục tiêu sảnxuất biofue Ở Trung Quốc, nhu cầu về nguyên liệu để sản xuất dầu nhờnsinh học (biodiesel) đã làm cho giá dầu cọ giao dịch ở thị trường Malaysiatăng kỷ lục từ 2000 ringit (tháng 3/2007) lên 4000 ringit (tháng 2/2008).Biến đổi của khí hậu toàn cầu gắn với thiên tai, bão lụt, hạn hán, gây rakhan hiếm nước sinh hoạt, nước cho trồng trọt, mất mùa, dịch bệnh, làmsụt giảm sản lượng lương thực thế giới Tình trạng khủng hoảng kinh tếtoàn cầu, giá dầu thô tăng cao đẩy giá phân bón và phí vận chuyển hàngnông nghiệp lên cao; nguồn dự trữ thực phẩm khan hiếm cũng góp phầnlàm tăng giá lương thực, thực phẩm.
Việt Nam cũng không nằm ngoài vòng ảnh hưởng của việc tăng giálương thực thực phẩm trên thế giới mặc dù chúng ta đã quyết liệt đầu tưcho nông nghiệp - nông thôn nhưng giá lương thực thực phẩm vẫn tăng vìgiá các loại vật tư đầu vào cho sản xuất lương thực, thực phẩm đều tăng(xăng dầu, phân bón: DAP tăng gấp 3 lần năm 2007, Urê tăng gấp 1,5 lần;các loại nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi phải nhập khẩu tăng mạnhnhư khô dầu, ngô hạt, bột cá, thức ăn bổ sung, ) và công lao động đều tăng(công thu hoạch lúa Đông xuân 2008 tại các tỉnh ĐBSCL tăng gấp 1,5 lần
so với năm 2007); Cộng với khó khăn do thiên tai như dịch bệnh, rét đậmrét hại, ảnh hưởng lớn đến sản xuất lúa gạo Mặt khác, nước ta đang thời
Trang 18kỳ công nghiệp hoá, việc chuyển đổi đất trồng cây lương thực sang cho nhucầu phát triển công nghiệp, đô thị hoá, phát triển cơ sở hạ tầng cũng khálớn Theo Tổng cục Thống kê từ 2001-2006 đất lúa giảm 206,8 ngàn ha,bình quân giảm 41 ngàn ha/năm, chủ yếu là đất 2 vụ lúa, làm giảm sảnlượng lúa mỗi năm khoảng 500 ngàn tấn.
Tình trạng thiếu hụt lương thực, thực phẩm đang diễn ra ở nhiều nơitrên thế giới dẫn đến giá gạo tăng cao đồng thời đẩy ngành nông nghiệpViệt Nam đối mặt với nhiều sức ép Các lương thực khác như bắp, khoai,sắn đã giúp bình quân lương thực đầu người của Việt Nam tăng mạnh từ
430 kg vào năm 1996 lên hơn 550 kg hiện nay, nhưng trong đó tiêu thụ lúagạo đang giảm xuống còn 150 kg/người/năm, cơ cấu thực phẩm cho bữa ănhàng ngày đã thay đổi, bớt dùng gạo hơn
Mặc dù giá nông sản trong nước đang hồi phục sau đợt giảm sâu vàocuối năm 2008, nhưng một vấn đề khác được quan tâm hơn, đó là an ninhlương thực, như tại hội nghị do Tổ chức Lương nông Liên hợp quốc (FAO)họp ở Thái Lan đã cảnh báo: dự trữ lương thực thế giới hiện ở mức thấpnhất trong vòng 30 năm qua Lúa bắp tăng nhưng vẫn còn hộ thiếu lươngthực
Tình hình đói lương thực và tái nghèo vẫn còn xảy ra ở các vùng khókhăn như vùng núi cao, vùng biên giới hải đảo và vùng thường xuyên bịthiên tai Theo số liệu từ Tổng cục Thống kê cho thấy, cả nước hiện vẫncòn có 6,7% số hộ thiếu lương thực; trong đó khu vực nông thôn là 8,7% vàngay ở thành thị vẫn có 2,2% số hộ thiếu lương thực, đây là sự phát triểnkhông bền vững khi Việt Nam là quốc gia xuất khẩu gạo lớn trên thế giớinhưng vẫn còn một bộ phận dân cư thiếu gạo ăn Chất lượng, vệ sinh antoàn một số loại lương thực thực phẩm chưa cao Bên cạnh đó, hệ thốngchế biến, bảo quản lương thực còn nhiều bất cập, hệ thống kinh doanhlương thực hoạt động với hiệu quả thấp và dễ dẫn tới những cơn sốt lương
Trang 19thực như đã từng xảy ra vào tháng 4 năm 2008 Tiêu dùng lương thực vượtquá sản xuất
Triển vọng ngành nông nghiệp Việt Nam 2009 vào ngày 24 và 25-3 tạiTPHCM, nhiều chuyên gia quốc tế nhận định rằng giá lương thực hiện naykhông tăng không phải do thế giới dư thừa, mà thực ra là do người tiêudùng vì kinh tế khó khăn nên cắt giảm chi tiêu cho lương thực
Tại Việt Nam, dân số tiếp tục tăng đòi hỏi nguồn cung lương thực vàthực phẩm tăng theo tương ứng Hiện Việt Nam có khoảng hơn 85 triệu dânnhưng theo dự báo dân số nước ta tiếp tục tăng bình quân khoảng1-1,2%/năm trong vài thập niên tới Đến năm 2020 dân số khoảng 100 triệungười và 110- 120 triệu người sau năm 2030
Bên cạnh đó, biến đổi khí hậu, suy giảm tài nguyên đất và nước tácđộng đến an ninh lương thực quốc gia
Các nghiên cứu của Ủy ban liên Chính phủ về biến đổi khí hậu cuảLiên hiệp quốc (IPPC) và Ngân hàng Thế giới (WB) đã dự báo nếu nhiệt độtăng thêm 2°C, mực nước biển dâng cao thêm 1 m thì trong 100 năm tớivùng ĐBSCL - trọng điểm sản xuất lúa gạo của Việt Nam, có 1,5 - 2 triệuhéc ta, vùng đồng bằng sông Hồng có 0,3-0,5 triệu héc ta đất nông nghiệp(chủ yếu đất lúa) bị ngập hoặc nhiễm mặn không thể trồng lúa được
Trang 20Chương II : Thực trạng vấn đề an ninh lương thực tại Việt Nam
1 Khái quát về đặc điểm kinh tế Việt Nam giai đoạn 2009
2006-1.1 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam trong giai đoạn 2006-2009
Bước vào thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2006
-2010 nước ta đứng trước nhiều thời cơ, thuận lợi, nhưng cũng không ít khókhăn, thách thức Sự phát triển kinh tế - xã hội các năm 2006 và năm 2007trong tình hình chính trị, xã hội ổn định và kế thừa được nhiều thành tựu tolớn đã đạt được Tuy nhiên, từ cuối năm 2007 và đặc biệt là năm 2008 tìnhhình kinh tế thế giới diễn biến theo chiều hướng phức tạp và không ổnđịnh; sự biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh, xảy ra nhiều hơn đã tácđộng đến mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội nước ta
Dự báo từ nay cho đến năm 2010, tình hình kinh tế thế giới và trongnước tiếp tục có nhiều biến động tạo ra cả cơ hội và thách thức đối vớinước ta
Bảng 1: Tốc độ tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2006-2008
Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP)
(%)
Nguồn: Niên giám thống kê 2006-2008
Về tăng trưởng kinh tế, trong hai năm đầu thực hiện kế hoạch 5 năm2006-2010, tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) đạt mức cao hơn nhiều so vớimục tiêu đề ra Tốc độ tăng GDP năm 2006 là 8,23%, năm 2007 tăng caohơn là 8,48% Đến năm 2008 do tác động lớn của suy thoái kinh tế, cùngvới những khó khăn ở trong nước tăng trưởng kinh tế có chậm lại, chỉ đạt6,23% Bình quân 3 năm tăng trưởng kinh tế đạt 7,65%/năm, cao hơn mụctiêu kế hoạch đề ra là 7,5-8% và cao hơn bình quân giai đoạn 2001-2005 là
Trang 217,5% Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý I/2009 ước tính tăng 3,1% sovới cùng kỳ năm 2008, Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước quý I nămnay tuy thấp hơn nhiều so với mức tăng cùng kỳ của một số năm gần đây,nhưng trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế toàn cầu, hầu hết các nền kinh tếtrên thế giới bị suy giảm mạnh mà nền kinh tế nước ta đạt được tốc độ tăngnhư trên là một cố gắng rất lớn.
Để đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế 7,5-8% bình quân trong 5 năm2006-2010, đòi hỏi sự quyết tâm cao và nỗ lực của tất cả các ngành, cáccấp, các doanh nghiệp và toàn dân
Về cơ cấu kinh tế, cơ cấu kinh tế trong 2 năm 2006-2007 chuyển dịch
theo hướng tích cực, nhưng chậm so với mục tiêu đề ra Đến năm 2008, do
sự giảm sút tốc độ tăng trưởng của công nghiệp và dịch vụ, tỷ trọng nôngnghiệp lại bị đẩy lên cao, trong khi tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ giảmxuống: tỷ trọng nông nghiệp chiếm 22% GDP; công nghiệp và xây dựngchiếm 39,9% GDP; dịch vụ 38,1% GDP
Bảng 2: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế các ngành trong giai đoạn 2006-2008
Nguồn: Niên giám thống kê 2006-2008
Khả năng năm 2009 cơ cấu giá trị GDP khu vực nông nghiệp chỉ đạtđược khoảng 20%, không đạt mục tiêu kế hoạch đề ra (15-16%); cơ cấu giátrị GDP khu vực công nghiệp và xây dựng đến năm 2009 chỉ đạt 40,8%(mục tiêu kế hoạch 43-44%); cơ cấu dịch vụ phấn đấu đạt kế hoạch (40-42%)
Bảng 3: Cơ cấu lao động giai đoạn 2006-2008
Tỷ lệ lao động trong Nông-Lâm-Ngư
(%)
Trang 22Tỷ lệ lao động trong Công nghiệp-xây
dựng (%)
Nguồn: Niên giám thống kê 2006-2008
Cơ cấu lao động đã có sự chuyển dịch, tỷ lệ lao động nông, lâm, ngưnghiệp trong tổng lao động năm 2008 còn 53,4% so với năm 2006 là57,3%; công nghiệp và xây dựng là 19,8% so với năm 2006 là 18,2%; dịch
vụ tăng lên 26,8% so với 24,5% năm 2006 Đến năm 2010 dự kiến cơ cấulao động các khu vực phấn đấu đạt mục tiêu đề ra, tỷ lệ nông lâm ngưnghiệp trong tổng lao động khả năng đến năm 2010 dự kiến khoảng 49,5%
Về xuất nhập khẩu, sau 2 năm gia nhập WTO, với việc thực hiện mạnh
mẽ chủ trương đẩy mạnh xuất khẩu, mở rộng cả thị trường truyền thống vàphát triển thị trường mới có nhiều tiềm năng, đồng thời nhờ yếu tố tăng giánhiều mặt hàng chủ lực, đã giúp tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tăngnhanh, gấp rưỡi chỉ tiêu kế hoạch đề ra Tổng kim ngạch xuất khẩu 3 năm2006-2008 đạt 151,3 tỷ USD, bình quân tăng 24,7%/năm Năm 2009, giá
và lượng một số mặt hàng xuất khẩu chính giảm hơn so với năm 2008, tìnhhình kinh tế thế giới biến động, chi tiêu của người dân tại các nước là thịtrường xuất khẩu lớn của Việt Nam như: Mỹ và EU ảnh hưởng bất lợi tớihoạt động xuất khẩu của Việt Nam Theo Bộ Công thương, kim ngạch xuấtkhẩu của Việt Nam năm 2009 chỉ tăng khoảng 5-6% so với năm 2008 Tuynhiên, khả năng xuất khẩu của Việt Nam có thể tăng trở lại vào năm 2010,khi thương mại toàn cầu năm 2010 dự báo phục hồi
Về nhập khẩu, giá dầu và các nguyên vật liệu đầu vào thiết yếu (vật
liệu xây dựng, phân bón ) cho sản xuất có khả năng giảm, nhưng vẫn ởmức cao, dự báo sẽ tác động không nhỏ tới hoạt động nhập khẩu của ViệtNam Với những nhận định trên, dự báo đến 2010 tăng trưởng kim ngạch
Trang 23xuất khẩu sẽ đạt khoảng 22%, tương đương với 110 tỷ USD vào năm 2010,phấn đấu giảm nhập siêu xuống khoảng 20-25% tổng kim ngạch xuất khẩu.Tổng kim ngạch xuất khẩu và kim ngạch xuất khẩu tính theo đầungười đã đạt xấp xỉ mục tiêu kế hoạch 5 năm: năm 2008 tổng kim ngạchxuất khẩu đã đạt 62,9 tỷ USD so với mục tiêu đề ra là đến năm 2010 đạt68-69 tỷ USD; kim ngạch xuất khẩu tính theo đầu người đạt khoảng 735USD/người so với mục tiêu đến năm 2010 là 770-780 USD/người
Thu chi Ngân sách Nhà Nước ( NSNN), tỷ lệ huy động GDP vàoNSNN các năm 2006-2008 đạt mức cao, bình quân 3 năm đạt khoảng27,7%, cao hơn nhiều so với mục tiêu Đại hội đề ra là 21-22% GDP, trong
đó tỷ lệ huy động từ thuế và phí bình quân đạt 25,4% GDP cao hơn chỉ tiêuđặt ra 20-21% GDP Tỷ lệ huy động đạt kết quả khá cao là nhờ vào sự tăngtrưởng khá nhanh của nền kinh tế và nguồn thu lớn về dầu thô do giá cả thịtrường thế giới tăng nhanh Tổng thu NSNN 3 năm đạt trên 70% mục tiêu
đề ra Quy mô thu NSNN năm 2008 tăng 1,7 lần so với năm 2006 Tốc độtăng thu bình quân đạt 20,6%/năm, gấp 2 lần kế hoạch đề ra; (nếu loại trừyếu tố tăng giá dầu, tốc độ tăng thu bình quân đạt 13,4%, cao hơn kế hoạch
đề ra là 10,8%/năm)
Chi NSNN tăng trung bình khoảng 21,3%/năm Quy mô chi NSNNnăm 2008 tăng gần 80,5% so với năm 2006 Tỷ lệ chi NSNN so với GDPbình quân đạt 32,1% (không kể chi chuyển nguồn từ năm trước sang nămsau), cao hơn mục tiêu đề ra là 27,5% GDP
An ninh tài chính quốc gia được tăng cường, trong 3 năm 2006-2008mức bội chi đều giữ xấp xỉ 5% GDP và đang có xu hướng giảm dần; bố trí
đủ cân đối để chi trả các khoản nợ đến hạn theo các cam kết Dư nợ Chínhphủ, dư nợ ngoài nước của Quốc gia so GDP nằm trong giới hạn an toàncho phép
Về huy động vốn đầu tư phát triển, nhờ việc đổi mới và cải thiện môitrường đầu tư trước hết là môi trường pháp lý trong đầu tư kinh doanh, sự
Trang 24ổn định chính trị và uy tín tạo lòng tin trong phát triển trung hạn và dài hạn,
đã huy động được nhiều nguồn vốn cho đầu tư phát triển Trong 3 năm2006-2008 tổng vốn đầu phát triển toàn xã hội đạt trên 1.514 nghìn tỷđồng Tỷ lệ huy động vốn đầu tư toàn xã hội so với GDP năm 2006 đạt42,3%, năm 2007 đạt 45,6% và năm 2008 ước đạt khoảng 39% GDP, bìnhquân 3 năm đạt 42,3% cao hơn mục tiêu đề ra Trong đó: vốn đầu tư từNSNN 3 năm thực hiện khoảng 318,3 nghìn tỷ đồng, chiếm 21,1% tổngvốn đầu tư toàn xã hội; vốn trái phiếu Chính phủ 3 năm thực hiện khoảng34,6 nghìn tỷ đồng; vốn tín dụng đầu tư và tín dụng chính sách 3 năm thựchiện khoảng 110 nghìn tỷ đồng, chiếm 7,4% tổng vốn đầu tư toàn xã hội;khu vực doanh nghiệp nhà nước 3 năm thực hiện khoảng 187 nghìn tỷđồng, chiếm 12,5% tổng vốn đầu tư toàn xã hội; nguồn vốn đầu tư của khuvực doanh nghiệp ngoài nhà nước và dân cư có tốc độ tăng trưởng nhanh, 3năm thực hiện khoảng 502 nghìn tỷ đồng, chiếm tỷ trọng lớn nhất, bìnhquân 3 năm chiếm 33,5% tổng vốn đầu tư toàn xã hội; nguồn vốn đầu tưtrực tiếp nước ngoài tiếp tục tăng nhanh, trong 3 năm giải ngân được trên
23 tỷ USD (bao gồm cả phần đóng góp trong nước), đạt tới 92% mục tiêucủa 5 năm Đáng chú ý là mức vốn đăng ký mới và tăng thêm đạt kết quảkhá cao, 2 năm 2006-2007 đều đạt tốc độ năm sau cao hơn năm trước gần 2lần, riêng năm 2008 tăng hơn 3 lần so với năm 2007 (64 tỷ USD)
Công tác thu hút và vận động vốn ODA đạt được nhiều kết quả Mặc
dù nguồn cung ODA thế giới có xu hướng giảm song công tác vận động,thu hút vốn ODA trong các năm qua Việt Nam vẫn nhận được sự ủng hộ vàcam kết mạnh mẽ của cộng đồng các nhà tài trợ quốc tế Vốn ODA cam kếtcủa các nhà tài trợ đều tăng qua các năm và năm 2008 đạt mức kỷ lục caonhất từ trước tới nay (5,43 tỷ USD) Tổng vốn ODA cam kết 4 năm 2006-
2009 đạt 18,62 tỷ USD, trong đó đã ký kết các điều ước quốc tế với tổnggiá trị là 9,6 tỷ USD và giải ngân khoảng 6,1 tỷ USD
Trang 25Trong 2 năm 2009-2010, đầu tư phát triển ở các doanh nghiệp có thể
bị chậm lại so với 3 năm trước Dự báo vốn đầu tư phát triển toàn xã hội sovới GDP bình quân 5 năm đạt trên 40% GDP, vượt mục tiêu kế hoạch đề
ra
Về giải quyết việc làm và các vấn đề xã hội, trong 3 năm 2006-2008
đã giải quyết việc làm cho khoảng gần 5 triệu lượt lao động so với mục tiêu
5 năm 2006-2010 là 8 triệu lao động Trong tình hình nền kinh tế đangtrong chiều hướng suy giảm, các doanh nghiệp thu hẹp sản xuất, do vậylượng cầu lao động cũng sẽ giảm sút, số lượng việc làm có thể sẽ bị cắtgiảm, dẫn đến việc tạo việc làm mới sẽ khó khăn hơn Để thực hiện mụctiêu kế hoạch đã đề ra, đi đôi với các biện pháp chính sách hỗ trợ phục hồi,phát triển sản xuất kinh doanh, nhất là khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa,cần phải tăng cường công tác đào tạo, nâng cao tay nghề, nâng cao chấtlượng lao động, phù hợp với yêu cầu phát triển
Trong công tác xuất khẩu lao động, đã chú ý hoạt động đẩy mạnh pháttriển thị trường lao động, tăng cường đầu tư, mở rộng thị phần tại các thịtrường có thu nhập cao Trong 3 năm 2006-2008, số lao động và chuyêngia đi lao động ở các nước đạt gần 250 nghìn người, còn thấp hơn so vớimục tiêu đề ra là 100 nghìn người Trong các năm tới, thị trường xuất khẩulao động của Việt Nam sẽ bị tác động bởi suy thoái kinh tế, làm giảm nhucầu lao động từ Việt Nam
Công tác giảm nghèo tiếp tục được chú trọng, trong 3 năm tỷ lệ hộnghèo cả nước giảm gần 9%, năm 2008 ước tỷ lệ hộ nghèo còn 13,1% sovới năm 2005 là 22%; một số địa phương đã cơ bản xoá hết số hộ nghèotheo chuẩn quốc gia, như Đà Nẵng, TP Hồ Chí Minh, Tuy nhiên, trongthời gian gần đây, do giá cả tăng cao (nhất là cuối năm 2007 và nhữngtháng đầu năm 2008), thiên tai, lũ lụt bệnh dịch liên tiếp xảy ra đã ảnhhưởng xấu đến đời sống của nhân dân, nhất là đối với vùng bị thiên tai,
Trang 26người nghèo có thu nhập thấp Tốc độ giảm nghèo có xu hướng chậm lại,
tỷ lệ hộ tái nghèo tăng lên
Về giáo dục đào tạo, nhiều chỉ tiêu quan trọng như giáo dục đại học vàcao đẳng trên một vạn dân, tỷ lệ lao động qua đào tạo, tăng tuyển mới caođẳng và trung cấp chuyên nghiệp, dạy nghề năm 2008 đã xấp xỉ mục tiêu
kế hoạch đề ra Riêng số địa phương đạt chuẩn chương trình phổ cập giáodục trung học cơ sở đến năm 2008 mới đạt được 46 tỉnh, thành phố so với
63 tỉnh, thành phố Đến năm 2010, dự kiến sẽ có khoảng 4-5 tỉnh không đạtđược chỉ tiêu này
Các chỉ tiêu trong lĩnh vực bảo vệ chăm sóc sức khoẻ nhân dân, trừ tỷ
lệ tử vong bà mẹ liên quan đến thai sản trên 100 nghìn trẻ để sống là khôngthể đạt mục tiêu kế hoạch đề ra, đến năm 2008 mới đạt 74 trẻ trên 100nghìn trẻ đẻ sống so với mục tiêu đặt ra là 60 trẻ trên 100 nghìn trẻ đẻ sống;các chỉ tiêu khác như: tỷ lệ tử vong trẻ em dưới 1 tuổi, dưới 5 tuổi đến năm
2008 đã vượt mục tiêu kế hoạch đề ra
Đối với công tác dân số kế hoạch hoá gia đình, các đánh giá trong 3năm qua cho thấy các chỉ tiêu trong lĩnh vực này đều đạt thấp so với kếhoạch đề ra Tỷ lệ giảm sinh năm 2008 chỉ đạt 0,1%o so với kế hoạch đề ra
là 0,3%o (mục tiêu kế hoạch 5 năm là 0,4%o) Đây là một vấn đề lớn, cầnphải được các cấp, các ngành liên quan quan tâm giải quyết bằng các biệnpháp chính sách đồng bộ, đặc biệt là phải tăng cường công tác tổ chức kếhoạch hoá gia đình ở các đơn vị cơ sở xã, phường, thôn bản
1.2 Nhận xét chung về tình hình phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn 2006-2009
Về thành tựu đã đạt được, bước vào năm 2009, kinh tế-xã hội nước tatiếp tục chịu ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế toàn cầu, nhiều nền kinh
tế lớn suy thoái Trong khi chưa khắc phục hết những khó khăn của năm
2008 và những năm trước đó để lại thì nước ta lại phải đương đầu vớinhững thách thức mới Mặc dù vậy, nước ta vẫn có không ngừng phát huy
Trang 27những thuận lợi và đạt được những thành tựu không nhỏ, đó là: Lạm phátđược kiềm chế; Việt Nam vẫn được đánh giá là thị trường đầu tư hấp dẫn;Chính phủ tiếp tục ban hành thêm các giải pháp và chính sách phát triểnkinh tế một cách linh hoạt, nhằm phản ứng kịp thời trước những biến độngkhó lường về kinh tế; đồng thời chỉ đạo quyết liệt các Bộ, ngành, các địaphương triển khai đồng bộ các chủ trương kích cầu đầu tư và tiêu dùng, từ
đó nhiều dự án đầu tư lớn có ý nghĩa đối với phát triển kinh tế sẽ sớm đivào hoạt động, cải thiện đáng kể năng lực sản xuất của nền kinh tế, tạo điềukiện giải quyết nhiều vấn đề xã hội bức xúc; những kinh nghiệm đúc rútđược về điều hành kinh tế vĩ mô trong thời gian qua tiếp tục phát huy hiệulực, hiệu quả; sự phối hợp giữa Chính phủ, các hiệp hội, ngân hàng vàdoanh nghiệp được tăng cường đã tạo đà cho sự hợp tác cùng vượt qua khókhăn Những yếu tố thuận lợi này bước đầu đã tác động tích cực tới sự pháttriển của nền kinh tế và doanh nghiệp Việt Nam quý I/2009 và sẽ tiếp tụcảnh hưởng mạnh đến tình hình kinh tế-xã hội cả năm
Tuy nhiên, nền kinh tế nước ta vẫn còn một hạn chế sau :
Như chúng ta đã biết Việt Nam là một trong những nước chịu ảnhhưởng khá nặng nề từ cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới và cuộc khủnghoảng lương thực Điều đó cho thấy, Việt Nam còn bị động trước nhữngbiến động của tình hình thế giới, vì vậy không có những ứng phó kịp thời
và gây ra những hậu quả không đáng có
Việt Nam là nước có nền kinh tế Nông nghiệp là chủ đạo, tuy nhiênchúng ta chưa tận dụng và phát huy hết được những tiềm năng quốc gia Vìvậy, chúng ta đã bỏ lỡ nhiều cơ hội đi lên bằng thế mạnh của mình đó làsản xuất nông nghiệp và đặc biệt là sản xuất lương thực
1.3 Tiềm năng sản xuất lương thực, thực phẩm của Việt Nam
Trang 28Vấn đề lương thực, thực phẩm là một trong những mối quan tâm lớnthường xuyên của Nhà nước và nhân dân ta Việt Nam có dân số đông, việcđẩy mạnh sản xuất lương thực, thực phẩm sẽ đảm bảo an ninh lương thực,cải thiện cơ cấu bữa ăn cho nhân dân; mặt khác tạo điều kiện đa dạng hoásản xuất nông nghiệp, tạo nguồn nguyên liệu cho các ngành công nghiệpchế biến, thúc đẩy công nghiệp hoá và tạo nguồn hàng xuất khẩu quantrọng.
Về diện tích đất đai cho sản xuất lương thực, thực phẩm Từ sau ngàyđất nước thống nhất đến nay, sản xuất lương thực tại Việt Nam đã đạt đượcnhững thành tựu khá vững chắc Diện tích gieo trồng lúa cả năm khôngngừng được mở rộng, từ 5,6 triệu ha (năm 1980), đến nay là khoảng 7,3triệu ha Nhờ phát triển thuỷ lợi và đưa vào các giống mới phù hợp với cácvùng sinh thái khác nhau, nên cơ cấu mùa vụ đã thay đổi nhiều Diện tíchlúa đông xuân được mở rộng, tới gần 1,8 triệu ha Lúa hè thu được đưa vàotrồng đại trà Hàng trăm nghìn ha lúa mùa được chuyển sang làm vụ hè thu,nhất là ở đồng bằng sông Cửu Long Việt Nam duy trì vị trí là một trong banước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới (cùng với Hoa Kì và Thái Lan)
Nước ta còn có nhiều khả năng tăng sản lượng lương thực nhờ tăng vụ
và tăng năng suất cây trồng Tuy nhiên, những khó khăn cần phải giải quyết
là tình trạng thiếu vốn, sản xuất phân bón, thuốc trừ sâu trong nước chưađáp ứng nhu cầu, công nghiệp sau thu hoạch còn nhiều hạn chế Mặt khác,thiên tai, sâu bệnh làm thiệt hại mùa màng ở nhiều vùng, làm cho sản lượnglương thực chưa ổn định vững chắc
Ngành chăn nuôi phát triển dựa trên cơ sở thức ăn tự nhiên (đồng cỏ),sản phẩm của ngành trồng trọt, phụ phẩm của ngành thuỷ sản và thức ănchế biến công nghiệp Nhờ đảm bảo được cơ sở lương thực cho người, nênnguồn thức ăn cho chăn nuôi đã được giải quyết tốt hơn Ngành chăn nuôiđang phát triển ngày càng đa dạng hơn, tăng tỉ trọng của những sản phẩmkhông qua giết mổ như trứng, sữa
Trang 29Tuy nhiên, hiện nay ngành chăn nuôi của ta còn phát triển chủ yếutheo lối quảng canh Giống gia súc, gia cầm nói chung năng suất còn thấp,chất lượng chưa cao (nhất là cho yêu cầu xuất khẩu) Cơ sở thức ăn chochăn nuôi chưa được đảm bảo, công nghiệp chế biến thức ăn cho gia súc vàcông tác dịch vụ thú y vẫn còn hạn chế Hiệu quả kinh tế của chăn nuôi nóichung vẫn còn thấp.
Về điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên, Việt Nam có bờ biểndài 3260 km và vùng đặc quyền kinh tế rộng khoảng 1 triệu km2 Vùngbiển nước ta có nguồn lợi hải sản khá phong phú, cho phép khai thác hàngnăm 1,2 – 1,4 triệu tấn Nước ta có nhiều ngư trường, trong đó 4 ngưtrường trọng điểm là : ngư trường Minh Hải – Kiên Giang, ngư trườngNinh Thuận – Bình Thuận – Bà Rịa – Vũng Tàu, ngư trường Hải Phòng -Quảng Ninh và ngư trường quần đảo Hoàng Sa - quần đảo Trường Sa Ven
bờ biển có nhiều bãi triều, vũng, vịnh, đầm phá có khả năng nuôi trồngthuỷ sản nước lợ, nước mặn Diện tích mặt nước có khả năng nuôi thuỷ sảnnước ngọt rất lớn
Nuôi trồng thuỷ sản đang được phát triển theo hướng phát triển đadạng loài trên nhiều loại mặt nước như: Ao, ruộng trũng, hồ chứa, lồng bètrên sông và trên trên biển Sản lượng cá nuôi hơn 108 nghìn tấn, tôm nuôihơn 19 nghìn tấn Ngành thuỷ sản đang được đẩy mạnh phát triển theohướng hiện đại hoá cả ở khâu đánh bắt, nuôi trồng, chế biến và xuất khẩu.Sản phẩm của ngành không chỉ cung cấp nguồn đạm động vật quý giá, màcòn tạo ra các nguồn xuất khẩu có giá trị lớn
Việc sản xuất các loại thực phẩm khác đang được khuyến khích.Các mô hình kinh tế vườn (mô hình VAC, RVAC, “vườn rừng”, “vườnđồi”…) đa dạng, phù hợp với các vùng sinh thái, đã cung cấp phần chủ yếucác loại rau quả và một phần đáng kể thịt, cá, trứng, sữa cho nhu cầu hàngngày của nhân dân ta
Trang 30Mỗi vùng sinh thái nông nghiệp của nước ta đều có những thế mạnhnhất định trong việc sản xuất lương thực, thực phẩm Các thế mạnh ấy đangngày càng được phát huy tốt hơn nhờ sản xuất đi đôi với bảo quản và chếbiến sản phẩm, nhờ sự trao đổi, lưu thông lương thực, thực phẩm hàng hoágiữa các vùng.
Đồng bằng sông Cửu Long là vùng trọng điểm lương thực, thực phẩm
số một Ở đây tập trung tới hơn 50% sản lượng lương thực của cả nước.Ngoài ra, đây còn là vùng dẫn đầu cả nước về trồng mía, cây ăn quả ; vùngphát triển mạnh chăn nuôi lợn và gia cầm, nhất là nuôi vịt Do gần các ngưtrường trọng điểm và tiềm năng nuôi thuỷ sản lớn nên ngành thuỷ sản có vịtrí rất quan trọng trong sản xuất thực phẩm của vùng Hiện nay, khu vựcđồng bằng sông Cửu Long cung cấp hơn 50% sản lượng thủy sản các loạicủa cả nước
Đồng bằng sông Hồng là vùng trọng điểm số hai về lương thực, thựcphẩm Đây là vùng nông nghiệp thâm canh rất cao Năng suất lúa cao nhất
cả nước Nhưng do đất chật, người đông, nên vùng chỉ cung cấp không quá20% sản lượng lúa cả nước và bình quân lương thực trên đầu người khôngcao Thế mạnh của vùng là sản xuất lúa, rau quả, lợn, gia cầm, cá Đặc biệt,khả năng phát triển vụ đông để trồng các loại rau, quả nguồn gốc cận nhiệt
và ôn đới là thế mạnh độc đáo của vùng
Ngoài hai vùng trọng điểm trên, các vùng khác cũng có những thếmạnh khác nhau về sản xuất lương thực, thực phẩm Trung du, miền núiphía Bắc có khả năng phát triển chăn nuôi trâu, bò, trồng đậu tương, mía,lạc, cây ăn quả… Vùng duyên hải miền Trung, với các đồng bằng duyênhải hẹp, lại hay bị thiên tai, khả năng sản xuất lương thực bị hạn chế.Nhưng ở đây lại có những tiềm năng lớn về chăn nuôi trâu, bò, nuôi trồng
và đánh bắt thuỷ sản, trồng lạc, mía, đậu tương Tây Nguyên có nhiều khảnăng phát triển chăn nuôi bò lấy thịt và bò lấy sữa Vùng Đông Nam Bộ cókhả năng lớn thứ hai sau đồng bằng sông Cửu Long về trồng mía, đậu