1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tình hình thực hiện chế độ hưu trí ở BHXH tỉnh Thái Bình

63 612 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tình Hình Thực Hiện Chế Độ Hưu Trí Ở BHXH Tỉnh Thái Bình
Tác giả Bùi Văn Minh
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Hải Đường
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Bảo Hiểm Xã Hội
Thể loại Chuyên đề thực tập
Thành phố Thái Bình
Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 517 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bảo hiểm xã hội (BHXH) là một bộ phận lớn trong hệ thống an sinh xã hội. Có thể nói không có BHXH thì không có một nền an sinh xã hội vững mạnh Bảo hiểm xã hội ra đời và phát triển từ khi cuộc cách mạng công nghiệp xuất ở Châu Âu hiện nay thì BHXH là một chính sách lớn của Đảng và nhà nước đối với người lao động, nhằm đảm bảo cuộc sống vật chất, ổn định đời sống cho người lao động và gia đình họ trong các trường hợp ốm đau thai sản,

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Bảo hiểm xã hội (BHXH) là một bộ phận lớn trong hệ thống an sinh xã hội

Có thể nói không có BHXH thì không có một nền an sinh xã hội vững mạnh Bảohiểm xã hội ra đời và phát triển từ khi cuộc cách mạng công nghiệp xuất ở Châu Âuhiện nay thì BHXH là một chính sách lớn của Đảng và nhà nước đối với người laođộng, nhằm đảm bảo cuộc sống vật chất, ổn định đời sống cho người lao động vàgia đình họ trong các trường hợp ốm đau thai sản, suy giảm khả năng lao động, mấtviệc làm, hết tuổi lao động hoặc chết Chính sách BHXH ở nước ta được thực hiện

từ những ngày đầu thành lập nước, 60 năm qua trong quá trình tổ chức thực hiệnchính sách BHXH ngày càng được hoàn thiện và không ngừng đổi mới, bổ sungcho phù hợp với điều kiện hiện tại của đất nước cùng với quá trình đổi mới nền kinh

tế từ sau đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (12/1986), chính sáchBHXH và tổ chức quản lý hoạt động cũng có nhiều đổi mới tích cực Trong nhữngchế độ BHXH thì chế độ hưu trí là chế độ quan trọng nhất vì đây là chế độ chủ yếu

để đảm bảo an sinh xã hội, góp phần quan trọng giúp xã hội ổn định Tuy nhiên việcxác lập chế độ hưu trí như thế nào cho phù hợp với điều kiện mới chẳng hạn nhưđiều kiện hưởng, thời hạn nghỉ hưu, mức hưởng, thời gian đóng góp … đến nay vẫncòn đang phải tiếp tục đổi mới để hoàn thiện

Việc hoàn thiện chế độ hưu trí, củng cố niềm tin nơi người lao động, giúpngười lao động yên tâm hơn về cuộc sống sau khi nghỉ hưu sẽ làm cho năng suất laođộng tăng, mức sống chung của xã hội được cải thiện, đờì sống ngày càng đượcnâng cao hơn giúp xã hội ngày càng phát triển

Thái Bình là một tỉnh nông nghiệp có số dân đông gần 2 triệu người, số ngườitham gia BHXH ngày càng tăng Số đối tượng hưởng chế độ hưu trí lớn Do vậynghiên cứu làm rõ thực trạng chính sách BHXH ở Thái Bình với tất cả những ưuđiểm nhược điểm của nó là một nhiệm vụ cần thiết hiện nay Chính vì thế tôi đã

chọn đề tài “ Tình hình thực hiện chế độ hưu trí ở BHXH tỉnh Thái Bình”.

Chuyên đề này được chia làm 3 chương:

-Chương I: Lý luận chung về BHXH và chế độ hưu trí trong hệ thống chế độBHXH

- Chương II: Tình hình thực hiện chế độ hưu trí ở BHXH tỉnh Thái Bình

- Chương III: Những giải pháp và khuyến nghị nhằm tăng cường thực hiện chế

Trang 2

Trong quá trình hoàn thành tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp nhiệt tình của

Ts Nguyến Hải Đường và các cán bộ viên chức làm việc trong BHXH tỉnh TháiBình đã giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài này Mặc dù rất cố gắng nhưng trong quá trìnhthực hiện đề tài này tất nhiên sẽ không tránh khỏi những sai lầm và thiếu sót Rấtmong có sự góp ý của Ts Nguyễn Hải Đường và các thày cô giáo trong khoa bảohiểm trường đại học kinh tế quốc dân

Trang 3

CHƯƠNG 1:

LÝ THUYẾT CHUNG VỀ CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM HƯU TRÍ

TRONG HỆ THÔNG CHẾ ĐỘ BHXH

1 Tổng quan về bảo hiểm xã hội trong hệ thống an sinh xã hội

1.1 Vai trò của BHXH trong hệ thống an sinh xã hội

Trong cuộc sống của mỗi người muốn tồn tại và phát triển trước hết conngười phải ăn mặc ở đi lại … Để đáp ứng nhu cầu cần thiết đó con người phải laođộng làm ra những sản phẩm cần thiết đáp ứng nhu cầu của mình Trong thực tếkhông phải lúc nào con người cũng gặp những thuận lợi có đầy đủ thu nhập và điềukiện sinh sống bình thường Trái lại có những trường hợp khó khăn bất lợi gây ảnhhưởng đến cuộc sống của họ, chẳng hạn là ốm đau, tai nạn lao động … Khi gặpnhững rủi ro này không vì thế mà các nhu cầu của họ mất đi mà thậm chí còn giatăng, xuất hiện nhu cầu mới

Chính sách BHXH ra đời cũng đã tạo được tâm lý yên tâm cho người lao động thôngqua việc chi trả trợ cấp các chế độ BHXH cho họ, góp phần đảm bảo thay thế hoặc bù đắpmột phần thu nhập cho người lao động khi họ gặp những rủi ro trong cuộc sống Cùng vớicác chính sách an sinh xã hội khác, BHXH tạo ra mạng lưới an toàn xã hội đối với mọitầng lớp dân cư trong xã hội Ở nước ta thực tế đã chứng minh: Trong thời kỳ chiến tranh,BHXH được thực hiện đối với công nhân viên chức Nhà nước và lực lượng vũ trang Qua

đó chính sách BHXH đã phần nào động viên sức người, sức của nhằm thực hiện thắng lợinhiệm vụ chính trị của dân tộc Khi hòa bình lập lại, BHXH lại góp phần giải quyết hậuquả chiến tranh; Trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện nay để hội nhập với thế giới,riêng về BHXH cũng đã có nhiều thay đổi: mở rộng đối tượng tham gia BHXH bắt buộc,

có thêm hình thức BHXH tự nguyện và bảo hiểm thất nghiệp Như vậy, chính sách BHXHnói chung đã góp phần thực hiện công bằng xã hội giữa những người lao động trong mọithành phần kinh tế, góp phần củng cố lòng tin của người dân vào chế độ, tạo nền tảng chomột thể chế chính trị xã hội vững chắc

Do đó con người đã tìm ra một phương pháp hạn chế hay san sẻ rủi ro khingười lao động không may gặp phải đó là tham gia BHXH nói chung đối với mọingười nói chung và đối với người lao động nói riêng

Trang 4

Như vậy BHXH ra đời và trở thành một lĩnh vực không thể thiếu được vớingười lao động và người sử dụng lao động nói chung, đây đồng thời là một chínhsách xã hội lớn của một quốc gia bởi vì:

Thứ nhất: Đối với người lao động

BHXH góp phần ổn định tài chính cho người tham gia BHXH trước nhữngtổn thất do rủi ro xảy ra Trong quá trình lao động nếu người lao động chẳng maygặp phải những rủi ro như ốm đau, tai nạn… làm họ bị gián đoạn công việc, và phảimất một khoản chi phí để tài trợ cho những tổn thất do rủi ro đó gây ra thì việc thamgia BHXH sẽ giúp họ trang trải những khoản chi phí nói trên làm giảm bớt nỗi locho mỗi cá nhân, mỗi doanh nghiệp và yên tâm trong lao động sản xuất, góp phầnnâng cao năng suất lao động

BHXH là tấm lá chắn giúp người sử dụng lao động trong sản xuất kinhdoanh ổn định hơn nghĩa là BHXH đã chi trả những khoản tiền lớn khi mà ngườilao động không may gặp rủi ro hoặc ốm đau, tai nạn lao động, mắc bệnh nghềnghiệp … điều này làm cho người sử dụng lao động yên tâm hơn khi tiến hành hoạtđộng sản xuẩt kinh doanh của mình đồng thời không ảnh hưởng đền tài chính củangười sử dụng lao động Do đó người sử dụng lao động yên tâm lãnh đạo, chỉ đạohoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả Điều đáng nhìn nhận ở đây là người sửdụng lao động tham gia đóng góp BHXH cho người lao động theo tỷ lệ phần trămquỹ lương của mình vào quỹ BHXH

Thứ hai: Với nhà nước và xã hội

BHXH là chính sách của Đảng và nhà nước Thông qua các chính sách nàynhà nước thực hiện quyền tham gia BHXH của người lao động đồng thời BHXHgóp phần ổn định đời sống cũng như tinh thần của người lao động khi họ khôngmay gặp phải rủi ro ốm đau thai sản Tuy nhiên về mặt xã hội, BHXH là nguồn cổ

vũ lớn đối với người lao động cũng như người sử dụng lao động, giúp họ yên tâmlao động sản xuất tạo ra nhiều của cải cho xã hội

Thứ ba: Với người sử dụng lao động

Việc tham gia BHXH của người sử dụng lao động giúp họ trang trải nhữngkhoản chi phí không mong muốn cho những điều khoản (trợ cấp ốm đau, thai sản, tainạn lao động và bệnh nghề nghiệp…) ghi trong hợp đồng lao động mà chủ sử dụngphải đảm bảo Hay nó giúp chủ sử dụng lao động và người lao động giải quyết mâuthuẫn nội tại đã tồn tại bấy lâu nay Từ đó nó làm cho người lao động yên tâm hơn, tin

Trang 5

tưởng vào người chủ của mình hơn, tận tâm với công việc của mình hơn, góp phầnnâng cao năng suất lao động tạo thêm lợi nhuận cho chủ sử dụng lao động.

Như vậy, khẳng định rằng BHXH có vai trò quan trọng đối với phát triển kinh tế và

ổn định chính trị xã hội đất nước Ngược lại, phát triển kinh tế sẽ tạo điều kiện cho cácchính sách xã hội phát triển và hoàn thiện, trong đó có chính sách BHXH Mối quan hệ đó

là sự tác động qua lại lẫn nhau để xây dựng một đất nước phát triển bền vững trong thời kỳhội nhập

1.2 Một số nội dung chính của BHXH

1.2.1 Khái niệm của BHXH

Mặc dù BHXH đã ra đời được vài trăm năm nhưng cho đến nay vẫn còn córất nhiều định nghĩa về BHXH mà không có một định nghĩa nào là cố định Trên thếgiới, xu hướng chung là thực hiện hệ thống an sinh xã hội mà trong đó BHXH chỉ làmột trong những cơ chế chủ yếu, vì vậy thường là tập trung vào định nghĩa về ansinh xã hội còn BHXH chỉ được phân biệt với các cơ chế khác trong hệ thống bằngnhững đặc trưng cơ bản của BHXH.

Tuy có nhiều cách hiểu khác nhau song bản chất của BHXH lại được thểhiện một cách khá rõ ràng và cụ thể Bản chất của BHXH được thể hiện ở nhữngnội dung chủ yếu sau:

- BHXH là nhu cầu khách quan, đa dạng và phức tạp của xã hội Trước sựphát triển của nền sản xuất hàng hóa nên nhu cầu thuê nhân công càng ngày càngnhiều, mối quan hệ thuê mướn lao động cũng phát triển đến một mức độ nhất định,

từ đó nảy sinh những mâu thuẫn giữa giới thợ và giới chủ là những điều kiện đểxuất hiện chính sách BHXH Kinh tế càng phát triển thì BHXH càng đa dạng vàhoàn thiện Vì thế có thể nói kinh tế là nền tảng của BHXH hay BHXH không vượtquá trạng thái kinh tế của mỗi nước

- Mối quan hệ trong BHXH phát triển trên cơ sở quan hệ lao động, đây làmối quan hệ ba bên đều có lợi gồm: bên tham gia BHXH, bên được BHXH, bênBHXH

Trang 6

+ Bên BHXH thường là cơ quan chuyên trách do Nhà nước lập ra và bảotrợ, bên này có nhiệm vụ nhận sự đóng góp của người lao động và người sử dụnglao động lập nên quỹ BHXH và có trách nhiệm chi trả trợ cấp cho bên được BHXHkhi có nhu cầu phát sinh và phát triển nguồn quỹ BHXH.

- Những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm thường

là ngẫu nhiên và năm ngoài ý muốn chủ quan của người lao động như ốm đau, tainạn lao động, bệnh nghề nghiệp … hoặc cũng có thể là sự kiện bảo hiểm có thể biếttrước như: Tuổi già thai sản … đồng thời những biến cố ấy có thể diễn ra cả trong

và ngoài quá trình lao động

- Khi gặp phải những biến cố rủi ro phần thu nhập của người lao độngthường bị giảm hay mất toàn bộ, vì vậy nó phải được bù đắp hoặc thay thế phần bùđắp này lấy tự quỹ tiền tệ tập trung do các bên tham gia BHXH đóng góp là chủyếu, ngoài ra còn được sự hỗ trợ của nhà nước

- Mục đích chính của BHXH là nhằm thỏa mãn những nhu cầu thiết yếu củangười lao động khi họ không may gặp phải những rủi ro hay sự kiện bảo hiểm Mụcđích này ngay từ năm 1952 đã được ILO cụ thể hóa như sau :

+ Đền bù cho người lao động những khoản thu nhập bị giảm hay bị mất đểđảm bảo nhu cầu cho cuộc sống thiết yếu nhất của họ

nó, ở mỗi nước khi muốn xây dựng hệ thống BHXH thì đầu tiên Nhà nước phải tạođiều kiện về môi trường kinh tế - xã hội về chính sách và pháp luật, về cơ chế quản

lý Đồng thời người sủ dụng lao động và người lao động phải thực hiện trách nhiệmđóng góp tài chính của mình vào quỹ BHXH Không có sự đóng góp này thì chínhsách BHXH khó thực hiện Vì vậy thực hiện trách nhiệm đóng góp tài chính xây

Trang 7

dựng quỹ BHXH là điều kiện cơ bản để người lao động được hưởng các chế độ đãingộ thích hợp.

Biểu hiện cụ thể của quyền được hưởng BHXH của người lao động là họđược hưởng trợ cấp BHXH theo chế độ quy định Các chế độ này gắn với tai nạn rủi

ro xảy ra đối với người lao động làm giảm hoăc mất nguồn sinh sống của họ Đây làcác điều kiện cần để họ được hưởng các chế độ BHXH còn điều kiện đủ là họ thamgia đóng BHXH theo quy định

Nhà nước, người sử dụng lao động phải thực hiện chính sách BHXH chongười lao động và đồng thời người lao động cũng phải tự rõ trách nhiệm của chínhmình đó là kết hợp hài hòa giữa các lợi ích

Nói chung trong mối quan hệ ba bên của BHXH Nhà nước có vai trò quantrọng trong quản lý vĩ mô, với vai trò này nhà nước có trong tay công cụ cần thiết

để thực hiện vai trò của mình nhất là trong việc giải quyết những hậu quả khôngmong muốn Những tai nạn rủi ro của người lao động nếu không có BHXH thì nhànước phải chi ngân sách để giúp đỡ người lao động dưới các hình thức khác Sựgiúp đỡ này không những làm cho đời sống của người lao động ổn định mà còn ảnhhưởng rất lớn đến sự phát triển của sản xuất

Đối với người sử dụng lao động thì muốn ổn định và phát triển sản xuất kinhdoanh thì ngoài việc phải chăm lo đầu tư về trang thiết bị máy móc, công nghệ hiệnđại còn chăm lo đời sống của người lao động mà mình sử dụng Khi người lao độnglàm việc bình thường người sủ dụng lao động phải trả lương cho họ, khi họ khôngmay gặp phải rui ro như ốm đau thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệpngười sử dụng lao động cần có trách nhiệm BHXH cho họ

Trong nhiều trường hợp rủi ro có không ít trường hợp gắn liền với quá trìnhlao động Như vậy muốn đảm bảo cho người lao động yên tâm, tích cực lao độngsản xuất tăng năng suất lao động thì sử dụng lao động phải thực hiện nghĩa vụ củamình là đóng góp BHXH cho người lao động Còn đối với người lao động khôngmay gặp rủi ro họ phải chấp nhận rui ro này

Mức hưởng của BHXH thấp hơn mức lương khi họ đang làm việc, nhưngphải đảm bảo mức sống tối thiểu cho người lao động Trợ cấp BHXH ở đây là loạitrợ cấp thay thế thu nhập khi người lao động bị ốm đau, thai sản, tai nạn lao động,bệnh nghề nghiệp, hưu trí tuổi già …

BHXH được thực hiện trên cơ sở lấy số đông bù số ít Bất cứ người lao độngnào khi tham gia BHXH đều phải đóng số phí này được dựa trên tỷ lệ phần trăm

Trang 8

tiền lương của người lao động làm căn cứ để tính mức đóng Tuy nhiên để đượchưởng trợ cấp BHXH không phải ai cũng được hưởng ngay, mặc dù họ đã tham giaBHXH từ lâu hoặc mới tham gia Tuy nhiên họ cũng được hưởng trợ cấp ốm đau,thai sản, TNLD và bệnh nghề nghiệp… điều này thể hiện được quy luật lấy số đông

bù số ít tức là số tiền của hầu hết những người lao động đóng vào quỹ BHXH, dùng

để cho trả cho một số ít người bị ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghềnghiệp, số còn lại để tăng trưởng quỹ, giảm bớt một số kinh phí cho ngân sách nhànước cấp

Như chúng ta đã biết hưu trí là khoản tiền lương mà người lao động đượchưởng khi họ tái sản xuất sức lao động, tức là giúp người lao động có điều kiện sứckhỏe bình thường để họ lao động, trong thực tế cuộc sống luôn luôn có những rủi robất ngờ không lường trước được, do vậy khi bị ốm đau thai sản, TNLD, bệnh nghềnghiệp … người lao động không đủ điều kiện sức khỏe để lao động mà trước đó họ

có tham gia BHXH thì họ được hượng trợ cấp BHXH Tuy nhiên mức trợ cấp nàykhông bằng mức lương mà họ đang làm việc vì nếu khác thì họ sẽ tìm mọi cách ốmđau để nhận trợ cấp BHXH Do vậy mức trợ cấp BHXH phải thấp hơn mức tiềnlương khi đang làm việc và mức thấp nhất cũng băng mức lương tối thiểu nhằmđảm bảo nhu cầu tối thiểu cho ngưởi lao động khi họ không may gặp rủi ro

Bất cứ người lao động nào khi tham gia BHXH đều phải đóng số phí nàyđược dựa trên tỷ lệ phần trăm tiền lương của người lao động làm căn cứ để tính mứcđóng Tuy nhiên để được hưởng trợ cấp BHXH không phải ai cũng được hưởngngay, mặc dù họ đã tham gia BHXH từ lâu hoặc mới tham gia Tuy nhiên họ cũngđược hưởng trợ cấp ốm đau, thai sản, TNLD và bệnh nghề nghiệp… điều này thểhiện được quy luật lấy số đông bù số ít tức là số tiền của hầu hết những người laođộng đóng vào quỹ BHXH, dùng để cho trả cho một số ít người bị ốm đau, thai sản,tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, số còn lại để tăng trưởng quỹ, giảm bớt một sốkinh phí cho ngân sách nhà nước cấp

BHXH vừa mang tính chất bắt buộc vừa mang tính chất tự nguyện để đảmbảo cho lúc tuổi già và khi mất sức lao động tạm thời, người lao động có mức sống

ổn định ở mức bình thường hoặc tối thiểu nhất, BHXH đã quy định về nguyên tắchình thức bắt buộc để đảm bảo quy luật số lớn và có hệ số an toàn cao, song do quyluật số lớn chi phối nên BHXH phải tận dụng triệt để nguyên tắc tự nguyện Bảohiểm tự nguyện tiến tới bảo hiểm toàn dân đang trong quá trình hình thành, điềuđáng quan tâm ở đây về nguồn vốn và thực thi chính sách Muốn đảm bảo được

Trang 9

điều này tất yếu Nhà nước phải ban hành những văn bản cụ thể trong từng giai đoạn

để người lao động yên tâm và tin tưởng

- Tiến hành phân phối và phân phối lại thu nhập giữa những người tham giabảo hiểm Qũy BHXH hình thành dựa trên sự đóng góp của cả người lao động vàngười sử dụng lao động, số đối tượng này đông, tuy nhiên đối tượng đảm bảo củaBHXH là phần thu nhập bị giảm hoặc mất của người lao động lại chiếm một phầnnhỏ Như vậy, theo quy luật số lớn BHXH đã tiến hành phân phối lại thu nhập cảtheo chiều dọc và chiều ngang về thu nhập của những người tham gia BHXH này.Qua đó BHXH đã góp phần thực hiện công bằng xã hội

- Góp phần kích thích người lao động hăng hái tham gia lao động sản xuất để

từ đó nâng cao năng suất lao động cá nhân cũng như năng suất lao động xã hội.Người lao động rất an tâm làm việc, vì họ đã có sự đảm bảo bằng trợ cấp BHXHcho cuộc sống của họ và gia đình khi họ gặp phải các rủi ro xã hội Chức năng nàyđược coi như một đòn bẩy kinh tế, kích thích người lao động nâng cao năng suất laođộng cá nhân và do đó năng suất lao động xã hội cũng tăng theo

Gắn bó giữa lợi ích người lao động với người sử dụng lao động, giữa ngườilao động với xã hội Do chủ sử dụng lao động và người lao động đã có những mâuthuẫn nội tại, khách quan từ lâu về tiền công tiên lương, thời gian làm việc…nênviệc tham gia BHXH sẽ góp phần giải quyết những mâu thuẫn này và đảm bảo lợiích của cả hai bên, giúp hai bên hòa giải và gắn bó với nhau hơn Đối với nhà nước

và xã hội thì việc chi cho BHXH là cách thức chi ít tốn kém nhất lại giải quyết đượcnhững khó khăn cho người lao động và gia đình của họ góp phần ổn định, phát triểnkinh tế, chính trị và xã hội

1.2.4 Đối tượng của BHXH

Đối tượng tham gia BHXH là cả người lao động và người sử dụng lao động,tuỳ theo điều kiện kinh tế chính trị của từng nước mà những đối tượng này có thể là

Trang 10

tất cả hoặc một bộ phận người lao động nào đó Hầu hết các nước khi mới triển khaiBHXH đều bước đầu tiên là áp dụng đối với những công nhân viên chức Nhà nước,những người làm công hưởng lương Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật này

dù biết rằng như vậy là không công bằng với tất cả mọi người

BHXH là một hệ thống đảm bảo bù đắp khoản thu nhập bị mất đi do ngườilao động bị giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm vì các nguyên nhân như

ốm đau, tai nạn, già yếu Vì vậy đối tượng của BHXH chính là thu nhập của bịbiến động của người tham gia lao động

Hiện nay thì BHXH ở nước ta trong thời gian qua đã có những bước pháttriển vượt bậc kèm theo đó là việc thực hiện hàng loạt chính sách mới như bảo hiểm

tự nguyện, bảo hiểm thất nghiệp… Từ chỗ chỉ có các đối tượng là cán bộ côngnhân viên chức thì hiện nay BHXH đã mở ra sự bảo vệ đối với những người làmcông ăn lương trong tất cả các thành phần kinh tế kể cả trong khu vực có nhân tốnước ngoài ngoài ra với sự phát triển của xã hội thì BHXH không chỉ giới hạn ởnhững đối tượng tham gia bắt buộc mà còn có các đối tượng tự nguyện

Tuy vậy, vấn đề là cần phải có phương cách sáng tạo phù hợp với tâm lý xãhội và đặc điểm kinh tế nước ta để phấn đấu mở rộng tối đa diện phủ kín để có thểbảo vệ đến tất cả các thành viên cộng đồng ngoài những đối tượng đã thuộc diệnBHXH bắt buộc

1.3 Vai trò của chế độ hưu trí trong hệ thống BHXH

Chế độ hưu trí là một trong các chế độ của BHXH Đây là chế độ hết sứcquan trọng của bất cứ quốc gia nào, khi áp dụng các chế độ do tổ chức lao độngquốc tế đặt ra Do vậy chế độ hưu trí là chế độ không thể thiếu được trong hệ thốngBHXH Điều này được thể hiện ở các khía cạnh sau:

- Thông qua chế độ hưu trí người lao động có thể tự bảo vệ mình khi hết tuổilao động hoặc đủ điều kiện nghỉ hưu, đây là một cách tự do cho bản thân người laođộng một cách hợp lý nhất, tất nhiên họ phải là người có tham gia BHXH

- Trợ cấp hưu trí là nguồn thu nhập thường xuyên và ổn định của người vềhưu Tuy nhiên ngoài phần trợ cấp lương hưu ra người về hưu còn được cấp thẻBHYT để họ khám chữa bệnh khi ốm đau

- Trợ cấp hưu trí là một trong những chế độ dài hạn, do đó nó cũng có tácđộng vào nhận thức của người lao động, giúp họ nhận thức được sự đảm bảo vữngchắc về thu nhập khi họ về hưu, giúp họ yên tâm hăng hái lao động sản xuất tốt hơn,tạo ra nhiều của cải cho xã hội

Trang 11

- Trợ cấp hưu trí là một trong những chế độ chính sách, thể hiện sự quan tâmcủa Đảng và Nhà nước đối với người lao động.

Như vậy ngoài vai trò tất yếu là đảm bảo thu nhập cho người lao động khi vềhưu, chế độ hưu trí còn có mối quan hệ mật thiết với các chế độ khác trong hệ thốngchế độ chính sách của BHXH, và nó mang tính xã hội cao

2 Các công ước quốc tế liên quan đến chế độ hưu trí trong BHXH

2.1 công ước số 102 công ước về quy phạm tối thiểu về an toàn xã hội

Công ước số 102 là công ước về quy phạm tối thiểu về an toàn xã hội, hộinghị toàn thể của tổ chức lao động quốc tế

Công ước này được văn phòng lao động quốc tế triệu tập tại giơ-ne-vơ ngày

4 tháng 6 năm 1952, trong kỳ họp thứ ba mươi năm Sau khi chấp nhận một số đềnghị về các quy phạm tối thiểu về an toàn xã hội và vấn đề thuộc điểm thứ nămtrong chương trình nghị sự kỳ họp Sau khi đã quyết định rằng những đề nghị đó sẽmang hình thức một công ước quốc tế

Công ước thông qua ngày 28 tháng 6 năm 1952 Công ước dưới đây gọi làcông ước về an toàn xã hội

Trong công ước này thì có các điều 25,26,27,28,29,30 là quy định về trợ cấptuổi già hay hưu trí cụ thể như sau:

- Điều 25: Mọi thành viên chịu hiệu lực của phần này trong công ước phảibảo đảm cho những người được bảo vệ trợ cấp tuổi già (hưu bổng) theo những điềusau đây của phần này

- Điều 27: Những người được bảo vệ phải bao gồm:

+ Những loại làm công ăn lương được quy định, tổng số ít nhất chiếm 50%toàn bộ người làm công ăn lương

Trang 12

+ Hoặc những loại quy định trong dân số hoạt động, tổng số chiếm ít nhất20% toàn bộ người cư trú.

+ Hoặc mọi người thường trú mà phương tiện sinh sống trong khi trong khitrường hợp xảy ra không vượt quá giới hạn quy định theo điều 67

+ Hoặc nếu đã có bản tuyên bố để áp dụng điều 3 phải bao gồm những loạilàm công ăn lương được quy định, tổng số chiếm ít nhất 50% chiếm toàn bộ ngườilàm công ăn lương làm việc trong các cơ sơ công nghiệp sử dụng 20 người trở lên

- Điều 28: Trợ cấp và việc chi trả định mức được tính như sau:

+ Theo quy định tại điều 65 hoặc điều 66, khi người được bảo vệ là ngườilàm công ăn lương hoặc những loại trong dân số lao động

+ Theo quy định tại điều 67 khi người được bảo vệ là người thường trú màphương tiện sinh sống trong khi trường hợp bảo vệ xảy ra không vượt quá giới hạnquy định

+ Khi về nguyên tắc mọi người hoạt động đều được bảo vệ thì phải bảo đảmcho người được bảo vệ đã có một thâm niên đóng góp theo quy định, và đối vớingười đó trong suốt độ tuổi lao động sự đóng góp đã đạt số đóng góp trung bìnhhàng năm theo quy định

b) Nếu trợ cấp nêu tài khoản 1 tùy thuộc vào việc có một khoảng thời gianđóng góp hoặc làm việc tối thiểu thì ít nhất phải đảm bảo một trợ cấp giảm bớt cho:

+ Người được bảo vệ nào trước khi trường hợp xảy ra và theo nhưng nguyêntắc đã định đã có thâm niên 15 năm đóng góp hoặc làm việc

+ khi về nguyên tắc mọi người hoạt động đều được bảo vệ thì phải bảo đảmcho người được bảo vệ nào đã có một thâm niên đóng góp theo quy định và đối vớingười đó trong suốt độ tuổi lao động sự đóng góp đã đạt một số đóng góp trungbình hàng năm theo điểm b khoản 1 điều này

- Điều 30 : Các trợ cấp nêu trên ở điều 28 và điều 29 phải được trả trong suốtthời gian xảy ra trường hợp bảo vệ

Trang 13

2.2 Công ước số 128 : Công ước về trợ cấp tàn tật, tuổi già và tiền tuất

Hội nghị toàn thể Tổ chức Lao động Quốc tế, được hội đồng quản trị của vănphòng lao động quốc tế triệu tập tại Genever ngày 7 tháng 6 năm 1967, trong kỳhọp thứ 51

Sau khi đã quyết định chấp thuận một số đề nghị và xét lại công ước về bảohiểm tuổi già (công nghiệp ), 1933, công ước bảo hiểm tuổi già (nông nghiệp),

1933, công ước về bảo hiểm tử vong, là vấn đề thuộc điểm thứ 4 trong chương nghị

kỳ họp

Sau khi đã quyết định rằng những đề nghị đó sẽ mang hình thức một côngước quốc tế, thông qua ngày 29 tháng 6 năm 1967 Công ước 128 gọi là công ước

về trợ cấp tàn tật, tuổi già và tiền tuất, 1967

Trong công ước 128 này thì có các điều 14,15,16,17,18,19 là quy định về trợcấp tuổi già cụ thể là:

- Điều 14: Mọi nước thành viên chịu hiệu lực của công ước này phải bảođảm trợ cấp tuổi già cho những người được bảo vệ theo những điều sau đây củaphần này

- Điều 15:

+ Trường hợp bảo vệ là tình trạng sống lâu hơn một độ tuổi quy định

+ Độ tuổi quy định không được vượt quá 65 tuy nhiên các nhà chức trách cóthẩm quyền có thể quy định một độ tuổi cao hơn theo các chỉ tiêu về nhân khẩu,kinh tế và xã hội thích hợp, được số liệu thống kê chứng minh

+ Nếu độ tuổi quy định bằng hoặc cao hơn 65 độ tuổi đó phải được hạ thấptrong những điều kiện quy định nhằm mục đích cấp trợ cấp tuổi già, đối với nhữngngười đã làm những công việc được pháp luật quốc gia coi là nặng nhọc độc hại

- Điều 16 :

a) Những người được bảo về phải bao gồm :

+ Tất cả những người làm công ăn lương kể cả những người học nghề

+ Hoặc các loại được quy định trong số đang hoạt động kinh tế, tổng số ítnhất chiếm 75% toàn bộ dân hoạt động kinh tế

+ Hoặc tất cả những người thường trú hay những người thường trú màphương tiện sinh sống trong khi trường hợp bảo vệ xảy ra không vượt quá giới hạntheo quy định tại điều 28

b) Nếu đã có bản tuyên bố đang có hiệu lực để áp dụng điều 4, những ngườiđược bảo vệ phải bao gồm:

Trang 14

+ Những người làm công ăn lương, tổng số ít nhất chiếm 25% toàn bộ ngườilàm công ăn lương.

+ Hoặc những loại người làm công ăn lương được quy định thuộc các cơ sởcông nghiệp tổng số ít nhất chiếm 20% toàn bộ người làm công ăn lương làm việctrong các cơ sở công nghiệp

- Điều 17: Trợ cấp tuổi già phải là việc chi trả định kỳ theo mức được tínhnhư sau:

+ Theo các quy định tại điêu 26 hoặc 27 nếu những người được bảo vệ lànhững người lam công ăn lương hoặc trong số dân hoạt động kinh tế

+ Theo các quy định tại điều 28 nếu tất cả những người bảo vệ là nhữngngười thường trú mà phương tiện sinh sống trong khi trường hợp bảo vệ xảy ra, đã

có một thâm niên đóng góp theo quy định và đối với người đó trong suốt độ tuổi laođộng sự đóng góp đã đạt mức đóng góp trung bình hằng năm theo quy định

sự đóng góp đã đạt mức đóng góp trung bình hằng năm theo quy định

b) Nếu trợ cấp tuổi già tùy thuộc vào việc có một thời gian tối thiểu vềđóng góp hay làm việc thì ít nhất phải đảm bảo một trợ cấp giảm bớt:

+ Cho những người được bảo vệ nào trước khi trường hợp bảo vệ xảy ra đã

có một thâm niên 15 năm đóng góp hay làm việc tùy theo thể lệ quy định

+ Nếu về nguyên tắc những người hoạt động kinh tế đếu được bảo vệ thì chonhững người được bảo vệ nào trước khi trường hợp bảo vệ xảy ra đã có một thâmniên đóng góp theo quy định và đối với người đó trong suốt độ tuổi lao động sựđóng góp đã đạt một nửa mức đóng góp trung bình hằng năm quy định theo điểm bkhoản 1 điều này

C) Những quy định tại khoản 1 điều này được coi là thỏa mãn nếu trợ cấptheo phần V nhưng theo một tỷ lệ phần trăm thấp hơn 10 đơn vị so với tỷ lệ phầntrăm ghi trong bảng kèm theo phần đó cho người thụ hưởng mẫu, sẽ ít nhất bảo đảm

Trang 15

cho những người bảo vệ nào đã có 10 năm đóng góp hay 10 năm thường trú tùytheo tỷ lệ quy định.

3 Bảo hiểm hưu trí trong hệ thống chế độ BHXH

3.1 Khái niệm bảo hiểm hưu trí

Chế độ hưu trí là các quy định cụ thể về đối tượng, phạm vi, điều kiệnhưởng và nêu rõ sự bố trí, sắp xếp để thực hiện luật hoặc các văn bản pháp luật,phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của mỗi nước trong từng giai đoạn lịch sử cụthể Các chế độ hưu trí có tính chất pháp lý chặt chẽ, có chế định rõ ràng

Bảo hiểm hưu trí là hình thức bảo đảm thu nhập cho người lao động khi đãhết tuổi lao động Trong quá trình lao động, họ cống hiến sức lao động để xây dựngđất nước bằng cách tạo ra thu nhập cho xã hội và cho bản thân Do đó đến khi họkhông còn khả năng lao động nữa thì người lao động cần được sự quan tâm ngượclại từ phía xã hội Đó chính là khoản tiền trợ cấp hưu trí hàng tháng phù hợp với sốphí BHXH mà họ đã đóng góp trong suốt quá trình lao động Nguồn trợ cấp này tuy

ít hơn so với lúc đang làm việc nhưng nó rất quan trọng và cần thiết giúp cho ngườilao động ổn định cả về mặt vật chất cũng như tinh thần trong cuộc sống sau khi đãnghỉ hưu

- Chế độ BHXH là sự cụ thể hóa chính sách BHXH bao gồm các chế độ trợcấp như: Chăm sóc y tế, trợ cấp ốm đau, thai sản, trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp tuổigià, trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, trợ cấp người tàn tật và trợ cấpngười nuôi dưỡng

Tùy theo điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia mà hình thành

hệ thống các chế độ BHXH thích hợp

3.2 Các hình thức bảo hiểm hưu trí trên thế giới

Trên thế giới hiện nay có 2 hình thức bảo hiểm hưu trí đó là hình thức bảohiểm hưu trí tự nguyện và hình thức bảo hiểm hưu trí bắt buộc

Đối với hình thức bảo hiểm hưu trí bắt buộc thì các theo tổ chức lao độngquốc tế ILO thì các nước đều phải thực hiện và điều này đã được ghi trong công ướcquốc tế Nhưng tùy từng nước thì chế độ bảo hiểm hưu trí có sự khác biệt để phùhơp với tình hình kinh tế cũng như xã hội của từng nước Trừ một số điều đã quyđịnh trong công ước quốc tế thì ở từng nước cũng có sự khác biệt như là về độ tuổinghỉ hưu (ở Mỹ nam và nữ về hưu ở độ tuổi 65 còn ở Việt Nam nam 60 còn nữ là55 ) Về các tính lương hưu của từng nước khác nhau cũng khác nhau (một số

Trang 16

nước áp dụng mức tính lương 40% cho người lao động không có tay nghề và dưới40% cho người có tay nghề vì lương của họ cao hơn.

Còn đối với hình thức bảo hiểm hưu trí tự nguyện thi đây là một chính sáchcủa Nhà nước giúp cho người lao động không được nằm trong đối tượng bảo hiểmbắt buộc có cơ hội tham gia BHXH và đảm bảo cho tương lai của mình sau này vàqua đó cũng góp phần vào đảm bảo cho sự phát triển ổn định của xã hội Hình thứcbảo hiểm này trên thế giới tùy vào tình hình trong nước có thể thực hiện hoặc chưathực hiện

3.3 Nội dung của chế độ bảo hiểm hưu trí

3.3.1 Đối tượng tham gia

Đối tượng tham gia bảo hiểm hưu trí hiện nay bao gồm có đối tượng thamgia bảo hiểm hưu trí bắt buộc và đối tượng tham gia bảo hiểm hưu trí tự nguyện

3.3.1.1 Đối tượng tham gia bắt buộc

Gồm những người lao động và những người chủ sử dụng lao động phải thamgia đóng góp BHXH theo quy định của pháp luật

Đối với những người lao động tham gia BHXH ở các nước đều có đặc thùchung thuận lợi cho việc thực hiện các chế độ BHXH

- Những người này thường thuộc khu vực kinh tế có tổ chức tốt và ổn địnhnhư khu vực kinh tế nhà nước, khu vực kinh tế chính thức

- Các yếu tố liên quan đến người lao động tham gia bắt buộc như việc làm,thu nhập, điều kiện việc làm được ổn định, rõ ràng, tương đối chính xác cho phép

cơ quan BHXH có thể xác định đóng góp và mức hưởng

- Các thông tin về người lao động tham gia BHXH bắt buộc thường sẵn có,

dễ thu nhập và có hệ thống

Ở Việt Nam hiện nay theo quy định tại điều 2 chương I - luật BHXH ViệtNam, người lao động lao động tham gia BHXH bắt buộc là công dân Việt Nam baogồm:

a) Người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợpđồng lao động có thời hạn từ đử 3 tháng trở lên

b) Cán bộ, công nhân, viên chức

c) Công nhân quốc phòng, công nhân công an

d) Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp quân đội nhân dân, sĩ quan, hạ sĩ quan,chuyên môn kỹ thuật công an nhân dân, người làm công tác cơ yếu hưởng lươngnhư đối với quân đội nhân dân, công an nhân dân

Trang 17

đ) Hạ sĩ quan, binh sĩ quân đội nhân dân và hạ sĩ quan, chiến sĩ công an nhândân phục vụ có thời hạn.

e) Người làm việc có thời hạn ở nước ngoài mà trước đó đã đóng BHXH bắtbuộc

Người sử dụng lao động tham gia BHXH bắt buộc bao gồm cơ quan nhànước, đơn vị sự nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức chính trị, tổ chức xã hộikhác, cơ quan tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnh thổ ViệtNam, doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác, tổ chức khác và cánhân có thuê mướn trả công cho người lao động

3.3.1.2 đối tượngtham gia tự nguyện

Là những người lao động và người sử dung lao động không theo quy địnhtham gia BHXH bắt buộc nhưng tự nguyện tham gia BHXH tự nguyện cho chính họ

và người lao động của họ Những người lao động tham gia BHXH tự nguyệnthường có một số đặc điểm sau:

- Thường là những người lao động thuộc khu vực phi chính thức như laođộng tự tạo việc làm, lao động tại các gia đình, những người lao động hoạt động độclập hoặc những lao động thuộc các khu vực kinh tế có số lao động ít hơn quy định

- Thu nhập nhìn chung thấp không ổn định, tính chất công việc lưu động thâtthường

- phần lớn lao động tham gia BHXH tự nguyện là lao động không có chủ sửdụng lao động

Chính vì các đặc điểm bất lợi của người lao động tham gia BHXH tự nguyệnnên phần lớn các nước chỉ mới tập trung thực hiện chương trình BHXH bắt buộc

Ở Việt Nam hiện nay, người lao động và người sử dụng lao động tham giaBHXH tự nguyện là công dân Viêt Nam trong độ tuổi lao động, không thuộc quyđịnh tham gia BHXH bắt buộc

3.3.2 đối tượng hưởng và điều kiện hưởng trợ cấp hưu trí

Đối tượng hưởng trợ cấp hưu trí là những người lao động đã tham gia BHXH và khi

về hưu họ có quyền nhận trợ cấp hưu trí Tuy nhiên để được hưởng trợ cấp hưu trí họ phảitích đủ các điều kiện về thời gian và mức đóng góp để được hưởng mức trợ cấp phù hợp

và theo qui định riêng của từng quốc gia

Trang 18

Điều kiện hưởng trợ cấp hưu trí phải dựa vào các cơ sở sinh học là tuổi thọ và giớitính của người lao động, ngoài ra nó còn phụ thuộc vào tính chất của ngành nghề công tác,thời gian đóng BHXH, độ tuổi…

BẢNG 1: ĐIỀU KIỆN HƯỞNG TRỢ CẤP HƯU TRÍ Ở MỘT SỐ

NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

(Nguồn: social security programs throughout the World- www.Sociascecurity.gov)

Thường khi nói đến chế độ trợ cấp hưu trí, người ta vẫn hiểu đó là trợ cấp hưu tríđịnh kỳ cho người lao động khi họ đủ điều kiện hưởng; nhưng trong thực tế hiện nay chế

độ này còn gồm cả: Trợ cấp 1 lần khi nghỉ hưu và BHXH một lần

Trong đó:

- Trợ cấp một lần khi nghỉ hưu: Là một khoản trợ cấp cho người lao động đã đóngBHXH trên 30 năm đối với nam và trên 25 năm đối với nữ, khi nghỉ hưu ngoài lương hưucòn được trợ cấp một lần

- BHXH một lần là hình thức trợ cấp một lần cho người tham gia BHXH khi họkhông tiếp tục tham gia BHXH, nhưng cũng không đủ điều kiện hưởng lương hưu hàngtháng

Trang 19

Ở Việt Nam hiện nay, chế độ hưu trí được triển khai dưới hai hình thức là bắt buộc

và tự nguyện nên điều kiện hưởng chế độ hưu trí cũng khác nhau tùy vào cách thức thamgia Người lao động được hưởng lương hưu khi nghỉ việc thuộc một trong các trường hợpsau:

3.3.2.1 đối với hình thức tham gia BHXH bắt buộc

a Người lao động được hưởng lương hưu hàng tháng khi có đủ 20 năm đóng BHXHtrở lên và có một trong các điều kiện sau:

- Nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi

- Nam từ đủ 55 tuổi đến 60 tuổi, nữ từ đủ 50 tuổi đến đủ 55 tuổi và có đủ 15 năm làmnghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đủ 15năm làm việc ở nơi có phụcấp khu vực hệ số 0,7 trở lên

- Nguời lao động có đủ từ 50 tuổi đến đủ 55 tuổi có đủ 15 năm làm công việc khaithác than trong hầm lò

- Người bị nhiễm HIV/ AIDS do tai nạn rủi ro nghề nghiệp

Nguời lao động có đủ 20 năm đóng BHXH trở lên, bị suy giảm khả năng lao động từ61% trở lên được hưởng lương hưu với mức thấp hơn nếu thuộc một trong các trường hợpsau:

- Nam đủ 50 tuổi trở lên, nữ đủ 45 tuổi trở lên

- Có đủ 15 năm làm nghề hoặc công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm trởlên

b Đối với những người lao động đã đóng BHXH trên 30 năm đối với nam, trên 25năm đối với nữ, khi nghỉ hưu ngoài luơng hưu còn được hưởng trợ cấp một lần

c Người lao động được hưởng trợ cấp một lần do quỹ BHXH chi trả khi có mộttrong các điều kiện sau:

- Đủ tuổi nghỉ hưu nhưng chưa đủ 20 năm đóng BHXH

- Bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên mà chưa đủ 20 năm đóng BHXH

- Sau một năm nghỉ việc không tiếp tục đóng BHXH và có yêu cầu nhận BHXH mộtlần mà chưa đủ 20 năm đóng BHXH

- Ra nước ngoài để định cư

Trang 20

3.3.2.2 Đối với người tham gia bảo hiểm tự nguyện

a Người tham gia BHXH tự nguyện được hưởng lương hưu do quỹ BHXH chi trảkhi có một trong các điều kiện sau:

- Nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi và có đủ 20 năm đóng BHXH trở lên

- Nam từ đủ 55 tuổi trở lên, nữ từ đủ 50 tuổi trở lên mà trước đó đã có đủ 20 nămđóng trở lên đóng BHXH, trong đó có đủ 15 năm làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độchại, nguy hiểm hoặc nơi có hệ số phụ cấp khu vực từ 0,7 trở lên

Người lao động trước khi tham gia BHXH tự nguyện đã có đủ 20 năm đóng BHXHbắt buộc trở lên bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên được hưởng lương hưu vớimức thấp hơn nếu thuộc một trong các trường hợp sau:

- Nam đủ 60 tuổi trở lên, nữ đủ 45 tuổi trở lên

- Có đủ 15 năm làm nghề hoặc công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm trởlên

Trường hợp người tham gia BHXH tự nguyện đủ 60 tuổi đối với nam, đủ 55 tuổi đốivới nữ nhưng thời gian đóng BHXH còn thiếu không quá 5 năm so với thời gian quy địnhnhư trên, kể cả những người có đủ từ 15 năm đóng BHXH bắt buộc trở lên mà chưa nhậnBHXH một lần, có nhu cầu tham gia BHXH tự nguyện thì được đóng tiếp BHXH tựnguyện cho đến khi đủ 20 năm đóng BHXH để hưởng chế độ hưu trí

b Nguời tham gia BHXH tự nguyện đã đóng BHXH trên 30 năm đối với Nam, trên

25 năm đối với nữ, khi nghỉ hưu ngoài luơng hưu còn được hưởng trợ cấp một lần

c Nguời tham gia BHXH tự nguyện được hưởng trợ cấp BHXH một lần khi có mộttrong các điều kiện sau:

- Nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi có duới 15 năm đóng BHXH

- Nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi có từ đủ 15 năm đến dứoi 20 năm đóng BHXH màkhông tiếp tục đóng BHXH

- Chưa đủ 20 năm đóng BHXH mà không tiếp tục đóng BHXH và có yêu cầu nhậnBHXH một lần

- Ra nuớc ngoài để định cư

Trang 21

3.3.3 Mức hưởng của chế độ hưu trí.

Mức hưởng lương hưu là số tiền hàng tháng sẽ nhận được sau khi về hưu của ngườilao động Có khá nhiều về mức hưởng tuy nhiên mức hưởng này phải đảm bảo rằng sẽthấp hơn số tiền lương của người lao động khi còn chưa về hưu

Mức lương hưu hàng tháng được tính bằng tích số của tỷ lệ hưởng lương hưuhàng tháng với mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH:

LH = t * L

Trong đó: LH: Tiền lương hưu được hưởng hàng tháng

t: Tỷ lệ hưởng lương hưu hàng tháng

L: Mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH

Ở đây yếu tố quan trọng nhất để tính lương hưu hàng tháng là tỷ lệ hưởnglương hưu hàng tháng của người lao động Tỷ lệ này được tính dựa trên rất nhiềucác yếu tố tác động khác nhau Ở mỗi quốc gia thì tỷ lệ này cũng khác nhau vàngười lao động được hưởng thêm các chế độ trợ cấp, phúc lợi tuỳ theo từng quốcgia và vũng lãnh thổ

Tại Việt Nam tỷ lệ hưởng lương hưu hàng tháng của người lao động đủ điềukiện được tính bằng 45% mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng BHXHtương ứng với 15 năm đóng BHXH, sau đó cứ thêm mỗi năm (đủ 12 tháng) đóngBHXH thì tính thêm 2% đối với nam và 3% đối với nữ; mức tối đa bằng 75%

Trường hợp khi tính mức lương hưu hàng tháng (kể cả trợ cấp một lần khinghỉ hưu và trợ cấp BHXH một lần), nếu thời gian đóng BHXH có tháng lẻ dưới 3tháng thì không tính; từ đủ 3 tháng đến đủ 6 tháng tính là nửa năm; từ trên 6 thángđến 12 tháng tính tròn là một năm

Tỷ lệ hưởng lương hưu hàng tháng của người lao động đối với trường hợpnghỉ hưu sớm do suy giảm khả năng lao động được tính như trên, sau đó cứ mỗinăm nghỉ hưu trước tuổi quy định thì giảm 1%

Yếu tố tiếp theo cần nói đến là mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH.Mức tiền lương này phụ thuộc vào tiền lương tháng đóng BHXH, thời gian đóngBHXH, thời điểm đóng BHXH

Đối với người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhànước quy định và có toàn bộ thời gian đóng BHXH theo chế độ tiền lương này thìtính như sau:

Trang 22

- Người lao động tham gia BHXH trước ngày 01 tháng 01 năm 1995:

- Người lao động tham gia BHXH trong khoảng thời gian từ ngày 01 tháng

01 năm 1995 đến ngày 31 tháng 12 năm 2000:

- Người lao động tham gia BHXH trong khoảng thời gian từ ngày 01 tháng

01 năm 2001 đến ngày 31 tháng 12 năm 2006:

- Người lao động tham gia BHXH từ ngày 01 tháng 01 năm 2007 trở đi:

- Đối với người lao động có toàn bộ thời gian đóng BHXH theo chế độ tiềnlương do người sử dụng lao động quyết định quy định được tính như sau:

Đối với người lao động vừa có thời gian đóng BHXH thuộc đối tượng thựchiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định, vừa có thời gian đóng BHXH theochế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định được tính như sau:

Mbqtl

Tổng số tiền lương tháng đóng BHXH của 5 năm (60

tháng) cuối trước khi nghỉ việc

Tổng số tiền lương tháng đóng BHXH của

8 năm (96 tháng) cuối trước khi nghỉ việc

Trang 23

Trong đó:

- Mbqtl: Mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH

- Tổng số tiền lương tháng đóng BHXH theo chế độ tiền lương do Nhà nướcquy định được tính bằng tích số giữa tổng số tháng đóng BHXH theo chế độ tiềnlương do Nhà nước quy định với mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH

- Trường hợp người lao động có từ 2 giai đoạn trở lên thuộc đối tượng thựchiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định thì tổng số tiền lương tháng đóngBHXH của mỗi giai đoạn được tính như nêu trên (thời điểm tham gia BHXH đểtính mức bình quân tiền lương tháng các giai đọan tính bắt đầu từ ngày tham giagiai đoạn thứ nhất) Tổng số tiền lương tháng đóng BHXH theo chế độ tiền lương

do Nhà nước quy định được tính bằng tổng số tiền lương tháng đóng BHXH của cácgiai đoạn

Tiền lương tháng đóng BHXH là tiền lương theo ngạch, bậc, cấp quân hàm, phụcấp chức vụ, phụ cấp thâm niên vượt khung, phụ cấp thâm niên nghề (nếu có) Tiềnlương này được tính trên mức lương tối thiểu chung tại thời điểm hưởng chế độ

3.3.4 Quản lý đối tượng hưởng chi trả chế độ hưu trí

Việc quản lý đối tượng hưu trí ở Việt Nam hiện được thống nhất quản lý trong

cả nước thông qua hệ thống BHXH Việt Nam được tổ chức thành 3 cấp:

- Ở trung ương BHXH Việt Nam là cơ quan thường trực chính phủ

- Ở tỉnh, thành phố có cơ quan BHXH tỉnh, thành phố và các cơ quan BHXHchuyên ngành, BHXH quân đội, công an, ban cơ yếu chính phủ…

- Ở Quận, Huyện có BHXH Quận, Huyện

BHXH cấp Quận, Huyện là đơn vị trực tiếp chi trả theo các mô hình chi trảsau đây:

- BHXH quận huyện lập bảng lương rồi ký hợp đồng với ban chi trả hưởnglương hưu với UBND phường, xã … họ có nhiệm vụ chi trả hưu trí cho các đốitượng được hưởng Thông qua công tác chi trả này để nắm được tình hình biếnđộng của đối tượng, đặc biệt là các đối tượng đã chết

Trang 24

- BHXH quận, huyện chi trả trực tiếp đến từng đối tượng đối với một sốphường xã địa bàn quanh quận huyện.

- Chi trả thông qua hệ thống tài khoản ngân hàng, qua thẻ ATM

Đây là một trong những nghiệp vụ mà BHXH thường xuyên phải theo dõi,

sơ tổng kết rút kinh nghiệm để đưa ra được biện pháp thực hiện tối ưu nhất Mỗihình thức đều có những ưu và nhược điểm riêng Nắm bắt được những ưu vànhược điểm ấy, BHXH cần ngày càng hoàn thiện hơn nữa bộ máy chi trả, nângcao chất lượng phục vụ đối tượng hưởng, đảm bảo chi trả đúng kỳ, đủ số, chiđúng đối tượng

4 Bảo hiểm hưu trí của một số nước trên thế giới

4.1 Bảo hiểm hưu trí ở ôxtrâylia

Vào năm 1987 như là một phần của hiệp định giữa chính phủ liên bang và tổchức đại diện cho người sử dụng lao động để ban hành chế độ hưu, chính phủ đồng

ý thắt chặt khuôn khổ pháp lý đối với việc về hưu Vào năm 1987, luật tiêu chuẩnhưu nghề nghiệp ( luật OSS ) được ban hành

Luật OSS đưa ra những tiêu chuẩn hoạt động mà các quỹ hưu được yêu cầuđáp ứng để đáp ứng với sự giảm thuế cho người về hưu Tiêu chuẩn chính mànhững người được ủy thác điều hành quỹ hưu phải tuân theo liên quan đến:

- Đầu tư và cho vay mượn bằng quỹ hưu trí

- Duy trì trợ cấp hưu cho đến 55 tuổi

- Thành viên tham gia kiểm soát hưu trí, và đảm bảo quyền lợi của thành viên.Luật giám sát ngành bảo hiểm hưu trí được ban hành năm 1993 ( SIS) Nóichung SIS được thiết kế để nâng cao mức độ bảo hộ của ngành bảo hiểm, tăngcường việc bảo hộ và quyền của các thành viên quỹ hưu trí và đảm bảo khoản tiếtkiệm hưu được sử dụng vì mục tiêu đảm bảo thu nhập hưu trí

Những nhân tố chính của chế độ hưu trí hiện tại là cấu trúc ủy thác điều hành(nơi mà những người được ủy quyền phải có trách nhiện với sự tồn tại và hoạt độngtrôi chảy của quỹ hưu), hướng dẫn đầu tư, công khai hóa, giám sát người quản lýquỹ

Một thay đổi đáng kể so với luật OSS, đó là luật SIS đã có khả năng giám sáthiệu quả ngành bảo hiểm hưu trí bằng việc đưa ra những hình phạt đặc thù đối vớicác bên, chẳng hạnh đối với người được ủy quyền quản lý quỹ Luật này đã bỏ quyđịnh giảm thuế có trong luật OSS và chúng thực sự là trừng phạt các thành viên

Trang 25

Bổ xung thêm vào điều lệ bảo hiểm một mục đích chính nữa của SIS là đảmbảo tiết kiệm hưu trí được sử dụng vì mục đích thu nhập hưu.

Cùng lúc với luật SIS được ban hành, chính phủ cũng thành lập một cơ quangiải quyết khiếu kiện độc lập, đó là tòa giải quyết khiếu kiện hưu trí Tòa này là một

cơ chế giải quyết chanh chấp hiệu quả cho nghành bảo hiểm hưu trí Đồng thời, nócũng thúc đẩy các thành viên tin tưởng vào hệ thống bảo hiểm hưu trí

để xem xét tình trung thực của thị trường

4.2 bảo hiểm hưu trí ở Trung Quốc

Các chế độ hưu trí khác nhau được áp dụng đối với người lao động thuộc cácdoanh nghiệp, nông dân và công chức, viên chức thuốc các cơ quan, tổ chức của chínhphủ

- Chế độ hưu trí đối với người lao động thuốc các doanh nghiệp vào nhữngnăm đầu 1950 và được cải cách từ năm 1984 năm 1997, chế độ bảo hiểm hưu trí cơbản trong toàn quốc đồi với người lao động thuộc các doanh nghiệp đã được banhành và đang được mở rộng tới người làm tư và lao động tự do Đến cuối năm

2003, đã có trên 154,9 triệu người tham gia chế độ này và đã có 38,5 triệu ngườiđược hưởng chế độ

Chế độ hưu trí này được dựa trên sự kết hợp giữa cộng đồng và xã hội (thôngqua việc thiết lập quỹ cộng đồng để chia sẻ rủi ro) và các tài khoản cá nhân Mứcđóng hiện tại với các cá nhân là khoảng 8% tiền lương, tiền công và của người sửdụng lao động là 20% của tổng quỹ tiền lương Ngoài ra, chính quyền các cấp cóthể cung cấp trợ cấp tài chính trong trường hợp quỹ này thiếu hụt Cơ quan BHXHtạo ra các tài khoản cá nhân về hưu trí cho mỗi người lao động với mức là 11% tiềnlương, tiền công trong đó phần 8% đóng góp của người lao động được chuyển trựctiếp vào tài khoản và phần 3% được trích từ phần đóng góp của người sử dụng laođộng Phần đóng góp của người sử dụng lao động sau khi trích chuyển một phầnvào tài khoản cá nhân được chuyển và quỹ cộng đồng

Trang 26

Người lao động khi đến tuổi nghỉ hưu theo quy định và tham gia ít nhất 15năm sẽ được nhận trợ cấp hưu trí hàng tháng Trợ cấp hưu trí cơ bản bao gồm haiphần chính: Phần từ quỹ cộng đồng bằng 20% mức tiền lương trung bình chungnăm trước của người lao động; phần từ tài khoản cá nhân bằng 1/120 của tổng sốtiền tích lũy được Những người làm việc trước thời gian ban hành chính sách bảohiểm hưu trí thì sẽ áp dụng chế độ hưu trí quá độ khi nghỉ hưu và nhà nước sẽ điềuchỉnh mức độ trợ cấp hưu trí theo sự phát triển kinh tế (từ năm 1988 đến 2002lương hưu đã tăng khoảng 50%).

Ngoài ra để đối phó với khó khăn tài chính cho vấn đề già hóa dân số trongtương lai, năm 2000 quỹ bảo hiểm xã hội quốc gia không dựa vào sự đóng góp đãđược thành lập và số tiền dự phòng tích lũy đến 2003 khoảng 130 tỷ nhân dân tệ.Chính phủ cũng hỗ trợ và khuyến khích các doanh nghiệp tạo ra các chương trìnhbảo hiểm hưu trí bổ xung nhưng hiện tại mới bao phủ được 7 triệu người lao động

- Chế độ hưu trí đối với công chức, viên chức: Kinh phí thức hiện được bảođảm bởi nhà nước và cá nhân không phải đóng góp Mức trợ cấp hưu trí được xácđịnh trên cơ sở mức lương cơ bản và số năm phục vụ Hiện tại, chế độ này bao phủ

30 triệu công chức, viên chức Đối với quân nhân cũng có chế độ hưu trí tương tựnhưng là chế độ hưu trí độc lập với chế độ hưu trí của công nhân viên chức

- Trợ cấp tuổi già ở khu vực nông thôn: Năm 1991 chương trình thí điểm vềchế độ hưu trí sử dụng tài khoản cá nhân đước triển khai ở một số khu vực nôngthôn dựa trên sự đóng góp của cá nhân, hỗ trợ của chính quyền địa phương vàkhuyến khích bằng cơ chế của Nhà nước Hiện tại, khoảng 55 triệu người hiện đangtham gia chương trình thí điểm này

Trang 27

CHƯƠNG 2:

TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CHẾ ĐỘ HƯU TRÍ Ở

BHXH TỈNH THÁI BÌNH

1 Vài nét về kinh tế - xã hội ở tỉnh Thái Bình

Thái Bình là một tỉnh nông nghiệp thuần nông, dân số đông lực lượng lao động nôngnghiệp dồi dào, đời sống nhân dân nói chung là còn nhiều khó khăn Song với nhữngquyết tâm nỗ lực phấn đấu của Đảng bộ và nhân dân trong tỉnh có những giải pháp hợp lýnên kinh tế của tỉnh vẫn từng bước phát triển ổn định và có tốc độ tăng trưởng khá, đờisống nhân dân từng bước được cải thiện, các mặt văn hóa xã hội … có tiến bộ và phát triểnkhá đồng đều

Tổng sản phẩm GDP của tỉnh năm 2005 dự kiến đạt 6455 tỷ đồng theo giá so sánhnăm 1994 So với năm 2004 tăng 7,8% ,so với năm 2000 tăng 41,6% gấp 1,8 lần năm

1995, số tuyệt đối GDP của Thái Bình gấp 2 lần Ninh Bình gấp 1.3 lần Bắc Ninh, gấp 1,2lần Hưng Yên

GDP bình quân năm 2005 tăng 7,21% so với mục tiêu đại hội Đảng bộ lần thứ XVIvượt 0,21% cơ cấu theo nhóm ngành kinh tế của Thái Bình đang có sự chuyển dịch theohướng mục tiêu đã đề ra Tỷ trọng khu vực công nghiệp xây dựng từ 14,75% năm 2000tăng lên 22,86% năm 2005

là biện pháp nhăm quản lý thống nhất BHXH từ trung ương xuống địa phương và theo đóthì BHXH tỉnh Thái Bình được thành lập theo quyết định số 03/QĐ ngày 15 tháng 6 năm

1995 của tổng giám đốc BHXH Việt Nam

Trang 28

Tứ khi thành lập và đi vào hoạt động BHXH tỉnh Thái Bình đã thực hiện nhiệm vụcủa mình :

2.1 Công tác tổ chức quản lý và tổ chức hoạt động

a) Tổ chức bộ máy hoạt động

theo quy định trong điều lệ BHXH BHXH tỉnh Thái Bình đã tiến hành tổ chức bộmáy hoạt động của mình theo quy định tại nghị định 19/CP và quyết định 606/TTg củachính phủ dưới sự quản lý và điều hành của BHXH Việt Nam

Bảo hiểm xã hội Thái Bình bao gồm :

- BHXH huyện Kiến xương

- BHXH huyện Tiền hải

- BHXH huyện Vũ thư

- BHXH huyện Thái thụy

- BHXH huyện Đông hưng

- BHXH huyện Hưng hà

- BHXH huyện Quỳnh phụ

Chức năng nhiệm vụ của các phòng nghiệp vụ và của BHXH huyện, thành phố doBHXH tỉnh trực tiếp quy định Theo địa lý hành chính dưới sự lãnh đạo chỉ đạo của cáccấp ủy chính quyền cùng cấp

Thực hiện thu chi và giải quyết chế độ BHXH cho người lao động theo quy định củaBHXH Việt Nam và của Nhà nước

Trang 29

BHXH tỉnh thường xuyên quan hệ và xin ý kiến chỉ đạo của tỉnh ủy, ủy ban nhândân tỉnh và một số ngành chức năng của tỉnh để lãnh đạo, chỉ đạo và thực hiện tốt chế độBHXH ở địa phương.

2.2 Một số kết quả thực hiện công tác BHXH ở tỉnh Thái Bình

Qua 7 năm tổ chức và thực hiện BHXH tỉnh Thái Bình đã đạt được những kết quả sau:

- Số lao động tham gia BHXH ngày càng tăng, quản lý đi vào nề nếp Và trong năm

2009 vừa qua thì đối tượng BHXH bắt buộc là 97,079 người, đối tượng BHYT bắt buộc là389.126 người, đối tượng BHYT tự nguyện là 446.479 người, trẻ em dưới 6 tuổi là160.000 em

Trong năm toàn tỉnh tăng mới 114 đơn vị tham gia BHXH ,BHYT với 12,838 lao động.Công tác BHXH tự nguyện qua 2 năm triển khai thực hiện căn cứ văn bản hướngdẫn của các bộ ngành trung ương BHXH tỉnh hướng dẫn các đơn vị trong ngành tuyêntruyền vận động đến hết năm 2009 có 1550 người ở tất cả xã phường thị trấn trong tỉnhtham gia BHXH tự nguyện

Năm 2009 toàn tỉnh thu BHXH, BHYT bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) được 576 tỷđồng, đạt 108,8 % kế hoạch trong đó thu BHXH đạt 483 tỷ đồng và BHTN là 14.2 tỷđồng Nhìn chung các cơ quan đã tững bước nhận rõ trách nhiệm tham gia đóng BHXH,BHYT, BHTN cho người lao động

Do vậy hiệu quả công tác thu đã có hiệu quả rõ rệt số nợ đọng BHXH đã giảm rấtnhiều vẫn còn một số doanh nghiệp nhà nước do không có việc làm người lao động không

có lương nên tồn đọng về BHXH lớn

Trang 30

BẢNG 2 : TÌNH HÌNH THU CHI CỦA BHXH TỈNH THÁI BÌNH

NĂM 2006 - 2009

2006

2007

2008

2009

(Nguồn : báo cáo tổng hợp hàng năm của BHXH tỉnh Thái Bình)

Từ bảng trên chúng ta thấy số chi qua các năm đều có biểu hiện tăng theo xu hướngnăm sau cao hơn năm trước trong đó năm 2007 so với năm 2006 có mức tăng về chi vượt

so với năm 2006 tăng 50% đây cũng là mức tăng lớn nhất qua các năm Năm 2006 số tiềnchi quỹ BHXH tăng 13.790.074.800 đ so với năm 2005 (tăng 52.1% ) Năm 2007 tăng490.4 tỷ đồng So với năm 2006 (tăng 50.6%) Năm 2008 tăng 200.2 tỷ đồng so với năm

2007 (tăng 12.07%)… số tiền bình quân và số tiền bình quân một tháng cũng tăng liên tụcqua các năm với cùng một tốc độ tăng Năm 2007 mức hưởng bình quân 1 người tăng509.160 đ (tăng 1.79%) so với năm 2006 Năm 2008 mức hưởng bình quân 1 người tăng1.205.338 đ (tăng 41.82%)so với năm 2007 Ngoài ra số thu BHXH tỉnh cũng tăng qua cácnăm có được mức thu tăng như vậy có một phần nguyên nhân là so mức lương tối thiểutăng lên Năm 2005 là 350 nghìn đồng, năm 2007 là 450 nghìn đồng, năm 2008 là 540nghìn đồng Năm 2009 tăng lên là 650 nghìn đồng Ngoài nguyên nhân trên thì nhìn chungcác cơ quan doanh nghiệp đã nhận thức rõ trách nhiệm đóng BHXH, BHYT cho người laođộng Cơ quan BHXH tỉnh và BHXH huyện, thành phố đã kết hợp chặt chẽ gắn công tácthu với việc thực hiện chế độ BHXH từ cơ sở nên việc thu nộp được nghiêm túc và cónhiều tiến bộ kết quả đạt được của cấp huyện và các ngành tương đối đồng đều

Như vậy kể từ khi thành lập và đi vào hoạt động cho tới nay BHXH tỉnh Thái Bình

đã thực hiện tốt nhiệm vụ của mình trên các mặt công tác trong đó công tác xét duyệt hồ sơ

Trang 31

hưởng các chế độ BHXH luôn luôn đảm bảo kịp thời chặt chẽ đúng quy định: thực hiện cơchế một cửa.

Tuy nhiên qua công tác tổ chức BHXH tỉnh Thái Bình đã hoàn thành kế hoạchnhưng việc mở rộng đối tượng tham gia chưa tương xứng với tiềm năng và nguyện vọngcủa nhân dân trong tỉnh Nhận thức về chính sách, chế độ BHXH, BHYT của các ngànhcác cấp và các tầng lớp dân cư có tiến bộ nhưng chưa tạo được bước chuyển biến căn bảnnhất là trong giới chủ doanh nghiệp một bộ phận chưa tích cực tham gia, thậm chí còn tìnhtrạng lẩn tránh không thực hiện đầy đủ quyền đước tham gia BHXH của người lao động.Công tác BHYT có nhiều cố gắng phát triển sự nghiệp và đảm bảo quyền lợi chongười tham gia nhưng tình trang chi bội quỹ khám chữa (KCB) đang là tình trạng bức xúc

Và quan tâm lo lắng của các cấp, còn thiếu các giải pháp cơ bản và đồng bộ để ngăn chặn

sự gia tăng chi phí khám chữa bệnh

3) Tình hình thực hiện chế độ hưu trí ở tỉnh Thái Bình

3.1 Tình hình thức hiện chế độ hưu trí trước năm 1993

3.1.1 nghị định 128/CP ( ngày 27 tháng 2 năm 1961)

Như chúng ta đã biết BHXH ra đời gắn liền với lich sử nhà nước việt Nam từ năm

1945 Sau khi cách mạng tháng 8 thành công Đảng và nhà nước ta đã đã ban hành các sắclệnh về chế độ bảo hiểm hưu trí cho công nhân viên chức nhà nước Điều này được thểhiện qua năm 1946 và 1954 về việc thừa nhận cán bộ công nhân viên chức nhà nước cóquyền được tham gia và hưởng trợ cấp BHXH Quyền này được cụ thể hóa qua việc banhành nghị định 218/CP ngày 27 tháng 2 năm 1961 của chính phủ Nghị định này quy định

6 chế độ về BHXH Trong các chế độ này thì chế độ bảo hiểm hưu trí được quy đinh nhưsau:

a) Điều kiện hưởng

- Về tuổi đời: Độ tuổi công nhân viên chức nghỉ hưu theo quy định đử 60 tuổi đối vớinam và 55 tuổi đối với nữ (nếu làm công việc bình thường.và 55 tuổi với nam và 50 tuổivới nữ nếu làm công việc nặng nhọc độc hại)

- Nghị định này còn quy định đối với công nhân viên chức nhà nước được hưởng chế

độ bảo hiểm hưu trí với điều kiện :

+ Công nhân viên chức Nhà nước có đủ tuổi đời về hưu nhưng chưa đủ thời gian

Ngày đăng: 18/07/2013, 11:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Giáo trình kinh tế bảo hiểm – PGS . TS nguyễn Văn Định Khác
2. Giáo trình an sinh xã hội – PGS .TS nguyễn Văn Định Khác
3. Luật bảo hiểm xã hội tháng 6/2006 Khác
4. Tạp chí bảo hiểm xã hội Khác
5. Báo cáo tổng kết các năm 2006,2007,2008,2009 của BHXH tỉnh Thái Bình Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG  1: ĐIỀU KIỆN HƯỞNG TRỢ CẤP HƯU TRÍ Ở MỘT SỐ  NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI - Tình hình thực hiện chế độ hưu trí ở BHXH tỉnh Thái Bình
1 ĐIỀU KIỆN HƯỞNG TRỢ CẤP HƯU TRÍ Ở MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI (Trang 18)
BẢNG 2 : TÌNH HÌNH THU CHI  CỦA BHXH TỈNH THÁI BÌNH NĂM 2006 - 2009 - Tình hình thực hiện chế độ hưu trí ở BHXH tỉnh Thái Bình
BẢNG 2 TÌNH HÌNH THU CHI CỦA BHXH TỈNH THÁI BÌNH NĂM 2006 - 2009 (Trang 30)
BẢNG 3 : SỐ NGƯỜI ĐƯỢC HƯỞNG CHẾ ĐỘ HƯU TRÍ(1989-1993) TẠI  TỈNH THÁI BÌNH. - Tình hình thực hiện chế độ hưu trí ở BHXH tỉnh Thái Bình
BẢNG 3 SỐ NGƯỜI ĐƯỢC HƯỞNG CHẾ ĐỘ HƯU TRÍ(1989-1993) TẠI TỈNH THÁI BÌNH (Trang 33)
BẢNG  5 : SỐ ĐỐI TƯỢNG ĐƯỢC HƯỞNG TRỢ CẤP HƯU TRÍ TỈNH  THÁI BÌNH NĂM 2006 ĐẾN 2009. - Tình hình thực hiện chế độ hưu trí ở BHXH tỉnh Thái Bình
5 SỐ ĐỐI TƯỢNG ĐƯỢC HƯỞNG TRỢ CẤP HƯU TRÍ TỈNH THÁI BÌNH NĂM 2006 ĐẾN 2009 (Trang 41)
BẢNG 7 : SỐ ĐƠN VỊ MỚI THAM GIA BHXH TRONG NĂM TẠI TỈNH  THÁI BÌNH ( 2006- 2009) - Tình hình thực hiện chế độ hưu trí ở BHXH tỉnh Thái Bình
BẢNG 7 SỐ ĐƠN VỊ MỚI THAM GIA BHXH TRONG NĂM TẠI TỈNH THÁI BÌNH ( 2006- 2009) (Trang 44)
BẢNG 9 : TÌNH HÌNH CHI LƯƠNG HƯU THEO LOẠI  ĐỐI TƯỢNG TẠI  BHXH TỈNH THÁI BÌNH. - Tình hình thực hiện chế độ hưu trí ở BHXH tỉnh Thái Bình
BẢNG 9 TÌNH HÌNH CHI LƯƠNG HƯU THEO LOẠI ĐỐI TƯỢNG TẠI BHXH TỈNH THÁI BÌNH (Trang 48)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w