1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án tại Ngân hàng Đại Tín- Chi nhánh Bà Triệu Hà Nội

91 336 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án tại Ngân hàng Đại Tín- Chi nhánh Bà Triệu Hà Nội
Tác giả Nguyễn Huy Bình
Người hướng dẫn ThS. Đinh Ngọc Dinh
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Tài chính
Thể loại Chuyên đề thực tập
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 0,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việt Nam ta đang trong thời kỳ đổi mới, hội nhập, công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước, đòi hỏi việc triển khai ngày càng nhiều các dự án đầu tư, với nguồn vốn trong và ngoài nước, thuộc mọi thành phần kinh tế. Trong đó, nguồn vốn cho vay theo dự án đầu tư của NHTM ngày càng phổ biến, cơ bản và quan trọng đối với mỗi cá nhân, doanh nghiệp và Chính phủ. Điều đó cũng đặt ra một thách thức không nhỏ đối với các NHTM về sự an toàn và hiệu quả của nguồn vốn cho vay theo dự án. Vì các dự án đầu tư thường đòi hỏi số vốn lớn, thời gian kéo dài và rủi ro cao. Để đi đến chấp nhận cho vay, thì thẩm định dự án về mặt tài chính dự án là một khâu quan trọng, quyết định chất lượng cho vay theo dự án của ngân hàng.

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

Đối với các ngân hàng , trong số các nghiệp vụ kinh doanh thì tín dụng lànghiệp vụ kinh doanh chủ yếu, nó tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng nhiều nhất.Nhưng nó cũng là nghiệp vụ chứa đựng nhiều rủi ro nhất Có vô số các rủi ro khácnhau khi cho vay, xuất phát từ nhiều yếu tố và có thể dẫn đến việc không trả được

nợ khi đến hạn, làm cho ngân hàng bị phá sản, gây ảnh hưởng nghiêm trọng chotoàn bộ nền kinh tế

Việt Nam ta đang trong thời kỳ đổi mới, hội nhập, công nghiệp hóa- hiện đạihóa đất nước, đòi hỏi việc triển khai ngày càng nhiều các dự án đầu tư, với nguồnvốn trong và ngoài nước, thuộc mọi thành phần kinh tế Trong đó, nguồn vốn chovay theo dự án đầu tư của NHTM ngày càng phổ biến, cơ bản và quan trọng đốivới mỗi cá nhân, doanh nghiệp và Chính phủ Điều đó cũng đặt ra một thách thứckhông nhỏ đối với các NHTM về sự an toàn và hiệu quả của nguồn vốn cho vaytheo dự án Vì các dự án đầu tư thường đòi hỏi số vốn lớn, thời gian kéo dài và rủi

ro cao Để đi đến chấp nhận cho vay, thì thẩm định dự án về mặt tài chính dự án làmột khâu quan trọng, quyết định chất lượng cho vay theo dự án của ngân hàng Những năm vừa qua, mặc dù các NHTM đã chú trọng đến công tác thẩmđịnh nhưng nhìn chung kết quả đạt được chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầuthực tế Chính vì vậy, em đã chọn đề tài: “ Nâng cao chất lượng thẩm định tàichính dự án tại Ngân hàng Đại Tín- Chi nhánh Bà Triệu Hà Nội”

Với những kiến thức tích luỹ được trong thời gian thực tập thực tế tại Chinhánh và trong thời gian học tập tại trường, em mong muốn sẽ đóng góp một phầncông sức để hoàn thiện và nâng cao chất lượng thẩm định dự án nói chung và chấtlượng thẩm định tài chính dự án tại Chi nhánh nói riêng

Chuyên đề thực tập bao gồm 3 chương:

Chương 1 : Tổng quan chung về thẩm định tài chính dự án trong hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại

Chương 2 : Thực trạng thẩm định tài chính dự án tại Ngân hàng Đại Chi nhánh Bà Triệu Hà Nội

Tín-Chương 3 : Giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án tại Ngân hàng Đại Tín- Chi nhánh Bà Triệu Hà Nội

Trang 2

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CHUNG VỀ THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1 Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại

1.1.1 Khái quát về các hoạt động của Ngân hàng thương mại:

1.1.1.1 Khái niệm Ngân hàng thương mại

Sự ra đời, tồn tại và phát triển của các NHTM được coi là một tất yếu kháchquan, đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế hàng hóa Đồng thời nó có ý nghĩa như mộtbước ngoặt quan trọng trong lịch sử phát triển và tiến bộ của loài người

Ngân hàng là một trong các tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền kinh

tế Ngân hàng bao gồm nhiều loại tùy thuộc vào sự phát triển của nền kinh tế nóichung và hệ thống tài chính nói riêng, trong đó ngân hàng thương mại thườngchiếm tỷ trọng lớn nhất về quy mô tài sản, thị phần và số lượng các ngân hàng.Ngân hàng là tổ chức thu hút tiết kiệm lớn nhất trong hầu hết mọi nền kinh tế.Hàng triệu cá nhân, hộ gia đình và các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế- xã hộiđều gửi tiền tại ngân hàng Ngân hàng đóng vai trò người thủ quỹ cho toàn xã hội.Thu nhập từ ngân hàng là nguồn thu nhập quan trọng của nhiều hộ gia đình Ngânhàng cũng là tổ chức cho vay chủ yếu đối với các doanh nghiệp, cá nhân, hộ giađình và một phần đối với Nhà nước Có nhiều cách định nghĩa về NHTM khácnhau:

Xét từ góc độ dịch vụ trung gian tài chính chủ yếu mà ngân hàng thực hiện,người ta chia các ngân hàng thương mại thành các loại: ngân hàng thông thường,ngân hàng tín thác, và ngân hàng tín dụng dài hạn Tuy nhiên, xu hướng chuyểnđổi thành các trung gian tài chính kinh doanh tổng hợp đã khiến cho cách phân loạitrên không còn được sử dụng nhiều Ngay cả ngân hàng đầu tư, vốn được coi làloại hình ngân hàng khác ngân hàng thương mại, nay cũng không còn khác biệtnhiều

Xét theo không gian địa lý hoạt động chủ yếu, người ta lại có thể chia cácngân hàng thương mại thành ngân hàng thương mại đô thị và ngân hàng thươngmại nông thôn

Ở một số nước, người ta còn phân chia những ngân hàng thương mại thànhcác loại theo hình thức sở hữu Chẳng hạn ở Trung Quốc và Việt Nam, chính phủphân những ngân hàng thương mại thành các loại: ngân hàng thương mại nhà nước(do chính phủ sở hữu toàn bộ vốn điều lệ), ngân hàng thương mại cổ phần (vốn

Trang 3

điều lệ được chia thành các cổ phần, song các tập đoàn kinh tế nhà nước hay cáctổng công ty nhà nước có thể chia nhau sở hữu toàn bộ số vốn điều lệ đó), ngânhàng thương mại liên doanh (tổ chức tín dụng nước ngoài và tổ chức tín dụngtrong nước cùng sở hữu), Chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam.

Ngoài ra còn có một số quan điểm khác về NHTM:

Theo quan điểm của các nhà kinh tế học hiện đại: Ngân hàng thương mại làmột loại hình doanh nghiệp đặc biệt, hoạt động và kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ

và tín dụng

Theo quan điểm của các nhà kinh tế Hoa Kỳ: Ngân hàng thương mại là mộtcông ty kinh doanh chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngànhcông nghiệp dịch vụ tài chính

Theo quan điểm của các nhà kinh tế Việt Nam: Ngân hàng thương mại làmột tổ chức hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi, trên nguyên tắchoàn trả, tiền hành cho vay, chiết khấu và làm các phương tiện thanh toán (theoLuật các tổ chức tín dụng Việt Nam )

Như vậy có khá nhiều quan điểm khác nhau về NHTM nhưng có thể hiểutổng quát: NHTM là một tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân, hoạt động kinhdoanh trên lĩnh vực tiền tệ với hoạt động chính là huy động tiền gửi dưới các hìnhthức khác nhau của khách hàng, trên cơ sở nguồn vốn huy động nàyvà vốn chủ sởhữu của ngân hàng để thực hiện các nghiệp vụ cho vay, đầu tư, chiết khấu đồngthời thực hiện các nghiệp vụ thanh toán, môi giới, tư vấn và một số dịch vụ kháccho các chủ thể trong nền kinh tế

1.1.1.2 Các hoạt động cơ bản của Ngân hàng thương mại:

Ngân hàng thương mại thể hiện được vai trò của mình thông qua các hoạtđộng cơ bản : huy động vốn và sử dụng vốn, cung cấp các dịch vụ khác

Hoạt động huy động vốn: Trong nền kinh tế luôn tồn tại những khoản tiền

nhàn rỗi và cũng luôn tồn tại nhu cầu vốn để đầu tư của các chủ thể kinh tế.Nhưng vì rất nhiều lí do khác nhau mà những người cần vốn lại không gặp đượcnhững người có vốn nhàn rỗi Do vậy, NHTM xuất hiện như một cầu nồi giữa 2đối tượng này Hoạt động huy động vốn được xem như hoạt động cơ bản, hoạtđộng tạo tiền để tài trợ cho các hoạt động khác NHTM huy động vốn bằng nhiềucách khác nhau như huy động tiền gửi, đi vay, thậm chí là huy động thêm vốn chủ

sở hữu

Nhận tiền gửi được xem như là nghiệp vụ quan trọng nhất trong huy độngvốn của ngân hàng Tiền gửi là nguồn quan trọng, chiếm tỷ trọng lớn trong tổngnguồn tiền của ngân hàng Tiền gửi được phân ra thành nhiều loại : tiền gửi không

Trang 4

kì hạn, tiền gửi có kì hạn, tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi của các tổ chức tài chính vàcác ngân hàng khác.

Bên cạnh việc huy động bằng nguồn tiền gửi, trong một số trường hợp cầnthiết ngân hàng cũng có thể đi vay để đáp ứng nhu cầu của mình Các NHTM cóthể vay NHNN, vay các tổ chức tín dụng khác, hay vay trên thị trường vốn

Ngoài ra các ngân hàng cũng có thể lựa chọn huy động thêm vốn chủ sở hữu thôngqua việc giữ lại lợi nhuận kinh doanh hay các NHTM cổ phần có thể phát hànhthêm cổ phiếu để tăng vốn hoặc đôi khi là sử dụng các quỹ vào mục đích kinhdoanh

Hoạt động sử dụng vốn: Ngân hàng là một tổ chức tài chính kinh doanh

tiền tệ NHTM thu hút vốn nhàn rỗi từ nền kinh tế thì họ phải trả lãi suất chonhững khách hàng gửi tiền Sau khi ngân hàng thu hút được vốn, nếu chỉ để tiềntrong két thì tiền sẽ không thể sinh lãi Vì vậy, hoạt động sử dụng vốn cũng khôngkém phần quan trọng đối với mỗi ngân hàng Trong đó, chiếm tỷ trọng lớn nhất vàđem lại nguồn thu cho ngân hàng nhiều nhất là hoạt động tín dụng Có thể hiểu đó

là hoạt động tài trợ vốn của ngân hàng cho khách hàng

Các nghiệp vụ tín dụng của NHTM bao gồm: chiết khấu thương phiếu, chovay, cho thuê, bảo lãnh hoặc tái bảo lãnh

Chiết khấu thương phiếu là việc khách hàng đem thương phiếu đến bán chongân hàng Ngân hàng sẽ kiểm tra độ an toàn của thương phiếu và trả cho kháchhàng một khoản tiền sau khi đã trừ đi lãi chiết khấu và lệ phí chiết khấu Khithương phiếu đến hạn, ngân hàng sẽ chuyển thương phiếu sang người mua để đòitiền

Cho vay là việc ngân hàng cho phép khách hàng sử dụng vốn của mìnhtrong một khoảng thời gian xác định Sau khi hết thời hạn cho vay, ngân hàng sẽnhận về cả vốn và lãi

Cho thuê tài sản là việc ngân hàng bỏ tiền ra để mua tài sản cố định rồi chokhách hàng của mình thuê lại trong một khoảng thời gian nhất định theo hợp đồngthuê mua Ngân hàng luôn phải đảm bảo được rằng mức tiền thuê thu về saukhoảng thời gian đó phải gần đủ hoặc phải đủ giá trị của tài sản ban đầu cộng vớitiền lãi Sau khi hết hạn thuê, khách hàng có thể mua lại tài sản đó với giá ưu đãi.Hình thức này thường được áp dụng với các loại tài sản có giá trị lớn mà doanhnghiệp hoặc các cá nhân không có đủ tiềm lực tài chính để mua

Bảo lãnh là cam kết của ngân hàng sẵn sàng thực hiện nghĩa vụ tài chínhthay cho người được bảo lãnh trong trường hợp họ không thực hiện đúng nghĩa vụnhư đã cam kết Ngân hàng có thể thực hiện bảo lãnh cho khách hàng vì ngân hàng

Trang 5

là tổ chức có uy tín và hoàn toàn có khả năng thanh toán hộ cho khách hàng củamình khi khách hàng không thể thực hiện được nghĩa vụ tài chính.

Hoạt động khác: Bên cạnh 2 hoạt động lớn nhất là huy động vốn và sử

dụng vốn, ngân hàng cũng thực hiện nhiều những hoạt động khác như: Thu đổi vàkinh doanh ngoại tê, bảo quản các giấy tờ có giá, tài trợ cho dự án của chính phủ…đặc biệt trên cơ sở các mối quan hệ thiết lập với các khách hàng, các Ngân hàngtrong nước và nước ngoài, NHTM thực hiện hoạt động thanh toán (thanh toántrong nước và thanh toán quốc tế) qua: hệ thống thanh toán bù trừ giữa các Ngânhàng, phát hành các loại séc, thẻ ngân hàng, thực hiện trích tài khoản, chuyển cáckhoản thanh toán trực tiếp cho các cá nhân hay tổ chức, qua đó Ngân hàng sẽ thuphí Trong các hoạt động của ngân hàng, tỉ trọng hoạt động này đang ngày càngtăng và phát triển

1.1.2 Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại

1.1.2.1 Khái niệm hoạt động cho vay:

Hoạt động cho vay (hay tín dụng) là sự chuyển nhượng tạm thời quyền sửdụng một lượng giá trị dưới hình thức tiền tệ hoặc hiện vật từ người cho vay sangngười đi vay với những điều kiện thoả thuận: thời hạn hoàn trả lãi và gốc, điềukiện đảm bảo

Quan hệ tín dụng dựa trên cơ sở sự tin tưởng giữa người đi vay và người chovay Đây là điều kiện tiên quyết để thiết lập quan hệ tín dụng Người cho vay tintưởng rằng vốn sẽ được hoàn trả đầy đủ khi đến hạn Người đi vay cũng tin tưởngvào khả năng phát huy hiệu quả của vốn vay Đối với ngân hàng thì đây là yếu tốhết sức cơ bản trong quản trị tín dụng Trong thực tế, một số nhân viên tín dụngkhi xét duyệt cho vay không dựa trên cơ sở đánh giá mức độ tín nhiệm về kháchhàng mà lại chú trọng đến các bảo đảm, chính quan điểm này đã làm ảnh hưởngđến chất lượng tín dụng

1.1.2.2 Phân loại tín dụng

Có nhiều cách phân loại tín dụng

Nếu căn cứ vào thời hạn thì người ta chia tín dụng làm hai loại :

- Tín dụng ngắn hạn: là những khoản cho vay mà thời hạn không quá 12tháng nhằm đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn như bổ sung ngân quỹ, đảm bảo yêucầu thanh toán đến hạn, bổ sung nhu cầu vốn lưu động hoặc đáp ứng nhu cầu tiêudùng cá nhân

Đây là loại tín dụng có mức rủi ro thấp vì thời hạn hoàn trả vốn nhanh, tránhđược các rủi ro về lãi suất, lạm phát cũng như sự bất ổn định trong môi trườngkinh tế vĩ mô Vì vậy, lãi suất thường là thấp hơn các loại tín dụng khác

Trang 6

- Tín dụng trung và dài hạn: có thời hạn cho vay trên một năm đến vài chụcnăm Nó thường được sử dụng để phát triển quá trình tái sản xuất theo chiều rộnghoặc theo chiều sâu, kết quả là tăng mức sản xuất và của cải xã hội Vì thời hạndài, hiệu quả đầu tư thường là dự tính nên loại tín dụng này chứa đựng rủi ro cao.Nếu căn cứ vào chủ thể tham gia quan hệ tín dụng

- Tín dụng thương mại: là quan hệ tín dụng giữa các doanh nghiệp được thựchiện thông qua hình thức mua bán chịu hàng hoá - trong đó người cho vay là ngườibán chịu hàng hoá vì đã chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng lượng giá trị hànghoá bán chịu cho người mua Ngược lại, người mua thay vì phải trả tiền ngay, họđược sử dụng số tiền đó một thời gian nhất định, phụ thuộc vào thời gian bán chịu.Tuy nhiên, quan hệ tín dụng này cũng có những hạn chế Vì tín dụng chỉ diễn

ra giữa những nhà sản xuất kinh doanh với nhau nên quy mô hẹp, bị giới hạn bởikhả năng dự trữ giữa các nhà kinh doanh

- Tín dụng ngân hàng: là quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và các chủ thể kinh

tế khác trong xã hội- trong đó ngân hàng giữ vai trò vừa là người đi vay vừa làngười cho vay

- Tín dụng nhà nước: là quan hệ tín dụng giữa nhà nước và các chủ thể kinh

tế khác trong xã hội Nhà nước đi vay bằng cách phát hành các tín phiếu và kỳphiếu tuỳ tính chất thiếu hụt của ngân sách

- Tín dụng doanh nghiệp: là tín dụng đáp ứng quan hệ tín dụng trực tiếp giữacác doanh nghiệp và công chúng Quan hệ này thể hiện dưới hai hình thức khácnhau:

+ Quan hệ tín dụng tiêu dùng - tín dụng đáp ứng nhu cầu của người tiêudùng - tổ chức thương nghiệp lớn cho khách hàng của mình vay bằng cách chophép họ sử dụng một số lượng hàng hoá tiêu dùng nhất định mà không phải trảtiền ngay trong một thời gian nhất định Họ có thể phát hành thẻ tín dụng hoặc chokhách hàng hưởng một hạn mức tín dụng để mua hàng

+ Quan hệ tín dụng giữa doanh nghiệp và công chúng với tư cách là ngườitiết kiệm Doanh nghiệp là người có nhu cầu đầu tư, huy động vốn trực tiếp bằngcách phát hành các trái phiếu trên thị trường vốn Quan hệ này có một vai trò quantrọng trong việc cung ứng các khoản vốn trung và dài hạn cho nhu cầu mở rộngquy mô sản xuất của doanh nghiệp và nền kinh tế

+ Quan hệ tín dụng hợp tác: quan hệ tín dụng giữa một tổ chức với cácthành viên của chính nó và mang tính chất tương trợ về vốn

1.1.2.3 Vai trò của hoạt động tín dụng:

Trang 7

Trong nền kinh tế thị trường sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệpvừa và nhỏ là một tất yếu khách quan, và cũng như các loại hình doanh nghiệpkhác trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp này cũng sửdụng vốn tín dụng ngân hàng để đáp ứng nhu cầu thiếu hụt vốn cũng như để tối ưuhiệu quả sử dụng vốn của mình Vốn tín dụng ngân hàng đầu tư cho các doanhnghiệp vừa và nhỏ đóng vai trò rất quan trọng, nó không những thúc đẩy sự pháttriển kinh tế mà thông qua đó tác động trở lại thúc đẩy hệ thống ngân hàng, đòi hỏingân hàng đổi mới chính sách tiền tệ, hoàn thiện các cơ chế chính sách về tíndụng, thanh toán ngoại hối… Sau đây là một số vai trò chủ yếu của tín dụng ngânhàng đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ:

- Tín dụng ngân hàng góp phần đảm bảo cho hoạt động của các doanhnghiệp vừa và nhỏ được liên tục

Trong nền kinh tế thị trường đòi hỏi các doanh nghiệp luôn phải cải tiến kỹthuật, thay đổi mẫu mã mặt hàng, đổi mới công nghệ máy móc thiết bị để có thểđứng vững và phát triển trong cạnh tranh Trên thực tế không một doanh nghiệpnào có thể đảm bảo đủ 100% vốn cho nhu cầu sản xuất kinh doanh Vốn tín dụngcủa ngân hàng đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đầu tư xây dựng cơ bản, muasắm máy móc thiết bị, cải tiến phương thức kinh doanh, quay vòng vốn và mởrộng quy mô sản xuất Từ đó góp phần thúc đẩy, tạo điều kiện cho quá trình pháttriển sản xuất kinh doanh có thể diễn ra liên tục

- Tín dụng ngân hàng góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanhnghiệp

Khi sử dụng vốn tín dụng, các doanh nghiệp phải tôn trọng hợp đồng tíndụng, tôn tọng các điều khoản của hợp đồng, dù cho doanh nghiệp làm ăn có hiệuquả hay không cũng phải đảm bảo hoàn trả cả gốc và lãi đúng hạn Do đó cácdoanh nghiệp muốn có vốn tín dụng từ các ngân hàng thì cần phải có nhữngphương án sản xuất khả thi Không chỉ thu hồi đủ vốn mà các doanh nghiệp cònphải tìm cách sử dụng vốn có hiệu quả, tăng nhanh chóng vòng quay vốn, đảm bảo

tỷ suất lợi nhuận phải lớn hơn lãi suất ngân hàng thì mới trả được nợ và kinhdoanh mới có lãi Trong quá trình cho vay ngân hàng thực hiện kiểm soát trước,trong và sau khi giải ngân, buộc doanh nghiệp phải sử dụng vốn đúng mục đích,hợp lý và có hiệu quả

- Tín dụng ngân hàng góp phần hình thành cơ cấu vốn tối ưu cho các doanhnghiệp

Trong nền kinh tế thị trường, hiếm có doanh nghiệp nào dùng vốn tự có đểsản xuất kinh doanh Nguồn vốn vay chính là công cụ, là đòn bẩy để doanh nghiệptối ưu hóa hiệu quả sử dụng vốn, bởi nếu doanh nghiệp sử dụng công cụ vay hợp

Trang 8

lý, doanh nghiệp được hưởng một khoản tiết kiệm thuế nhờ lãi vay Đối với cácdoanh nghiệp vừa và nhỏ do hạn chế về vốn nên việc sử dụng vốn tự có để sảnxuất là rất khó khăn vì nếu sử dụng thì giá vốn sẽ cao và sản phẩm khó được thịtrường chấp nhận Để hiệu quả thì doanh nghiệp phải có một cơ cấu vốn tối ưu,hợp lý, nhất là nguồn vốn tự có và vốn vay, nhằm tối đa hóa lợi nhuận tại mức giávốn bình quân rẻ nhất.

- Tín dụng ngân hàng cũng góp phần tập trung vốn sản xuất, nâng cao khảnăng cạnh tranh của các doanh nghiệp

Cạnh tranh là một quy luật tất yếu của nền kinh tế thị trường, để có thể tồntại và phát triển thì các doanh nghiệp cần phải chiến thắng trong cạnh tranh Đặcbiệt đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, do có một số hạn chế nhất định, việcchiếm lĩnh ưu thế cạnh tranh trước các doanh nghiệp lớn trong và ngoài nước làmột vấn đề hết sức khó khăn Xu hướng hiện nay của các doanh nghiệp này là tăngcường liên doanh, liên kết, tập trung vốn đầu tư và mở rộng sản xuất, trang bị kỹthuật hiện đại để tăng sức cạnh tranh Trong khi vốn tự có hạn hẹp, khả năng tíchlũy còn thấp, để có một lượng vốn đủ lớn đầu tư cho sự phát triển thì doanh nghiệpphải mất một thời gian dài mới thực hiện được, khi đó thì cơ hội đầu tư đã trôiqua Như vậy để có thể đáp nhu cầu ứng kịp thời các doanh nghiệp chỉ có thể tìmđến tín dụng ngân hàng Chỉ có tín dụng ngân hàng mới có thể giúp doanh nghiệpthực hiên được mục đích của mình là mở rộng phát triển sản xuất kinh doanh

1.2 Thẩm định tài chính dự án trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại:

1.2.1 Khái quát về thẩm định dự án đầu tư

1.2.1.1 Khái niệm:

Thẩm định dự án đầu tư là rà soát, kiểm tra lại một cách khoa học, kháchquan và toàn diện mọi nội dung của dự án và liên quan đến dự án nhằm khẳngđịnh tính hiệu quả cũng như tính khả thi của dự án trước khi quyết định đầu tư.Đối với các nhà tài trợ, tổ chức cho vay, Ngân hàng thì thẩm định tài chính

dự án đầu tư là một quá trình được thực hiện bằng kỹ thuật phân tích dự án đãđược thiết lập trên cơ sở những chuẩn mực, nhằm rút ra những kết luận làm căn cứquyết định cho khách hàng vay vốn đầu tư dự án

1.2.1.2 Phân loại dự án đầu tư :

Trên thực tế, các dự án đầu tư rất đa dạng về cấp độ, loại hình, quy mô, thờihạn và được phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau Sau đây là một số cách phânloại dự án nhằm tạo thuận lợi cho việc quản lý, theo dõi và đề ra các biện phápnhằm nâng cao hiệu quả của các họat động đầu tư

Theo tính chất dự án đầu tư

Trang 9

Dự án đầu tư mới: Là hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản, nhằm hình thànhcác công trình mới Thực chất trong đầu tư mới, cùng với việc hình thành các côngtrình mới, đòi hỏi có bộ máy quản lý mới.

Dự án đầu tư chiều sâu: Là hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản, nhằm cải tạo,

mở rộng, nâng cấp, hiện đại hoá, đồng bộ hoá dây chuyền sản xuất, dịch vụ trên cơ

sở các công trình đã có sẵn Thực chất trong đầu tư chiều sâu là cải tạo mở rộng vànâng cấp các công trình đã có sẵn, với bộ máy quản lý đã hình thành từ trước khiđầu tư

Dự án đầu tư mở rộng: Là dự án nhằm tăng cường năng lực sản xuất – dịch

vụ hiện có, nhằm tiết kiệm và tận dụng một cách hiệu quả công suất thiết kế củanăng lực sản xuất đã có

Theo nguồn vốn

Dự án đầu tư có vốn huy động trong nước: Vốn trong nước là vốn hình thành

từ nguồn tích luỹ nội bộ của nền kinh tế quốc dân, bao gồm vốn ngân sách nhànước, vốn tín dụng do nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhànước, vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước và các nguồn vốn khác

Dự án đầu tư có vốn huy động từ nước ngoài: Vốn nước ngoài bao gồm vốnthuộc các khoản vay nước ngoài của Chính phủ và các nguồn viện trợ quốc tế dànhcho đầu tư phát triển (kể cả vốn hỗ trợ phát triển chính thức ODA), vốn đầu tư trựctiếp của nước ngoài (FDI), vốn đầu tư của cơ quan ngoại giao, tổ chức quốc tế và

cơ quan nước ngoài khác đầu tư xây dựng trên đất Việt Nam, vốn vay nước ngoài

do Nhà nước bảo lãnh đối với doanh nghiệp

Theo ngành đầu tư

Dự án đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng: Là hoạt động đầu tư phát triển nhằmxây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật và xã hội

Dự án đầu tư phát triển công nghiệp: Là hoạt động đầu tư phát triển nhằmxây dựng các công trình công nghiệp

Dự án đầu tư phát triển nông nghiệp: Là hoạt động đầu tư phát triển nhằmxây dựng các công trình nông nghiệp

Dự án đầu tư phát triển dịch vụ: Là hoạt động đầu tư phát triển nhằm xâydựng các công trình dịch vụ (như thương mại, khách sạn – du lịch và các dịch vụkhác )

Theo Nghị định 16/2005/NĐ-CP ngày 07/02/2005 về quản lý dự án đầu tưxây dựng công trình thì có thể phân loại như sau:

Trang 10

PHÂN LOẠI DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH

(Ban hành kèm theo Nghị định số 16/2005/NĐ-CP

ngày 07 tháng 02 năm 2005 của Chính phủ)

LOẠI DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH TỔNG MỨC ĐẦU

Quốc hội

1 Các dự án đầu tư xây dựng công trình: thuộc lĩnh vực bảo

vệ an ninh, quốc phòng có tính chất bảo mật quốc gia, có ý

nghĩa chính trị - xã hội quan trọng

Không kể mức vốn

2 Các dự án đầu tư xây dựng công trình: sản xuất chất độc

hại, chất nổ; hạ tầng khu công nghiệp

Không kể mức vốn

3 Các dự án đầu tư xây dựng công trình: công nghiệp điện,

khai thác dầu khí, hoá chất, phân bón, chế tạo máy, xi

măng, luyện kim, khai thác chế biến khoáng sản, các dự án

giao thông (cầu, cảng biển, cảng sông, sân bay, đường sắt,

đường quốc lộ), xây dựng khu nhà ở

Trên 600 tỷ đồng

4 Các dự án đầu tư xây dựng công trình: thuỷ lợi, giao thông

(khác ở điểm II-3), cấp thoát nước và công trình hạ tầng

kỹ thuật, kỹ thuật điện, sản xuất thiết bị thông tin, điện tử,

tin học, hoá dược, thiết bị y tế, công trình cơ khí khác, sản

xuất vật liệu, bưu chính, viễn thông

Trên 400 tỷ đồng

5 Các dự án đầu tư xây dựng công trình: công nghiệp nhẹ,

sành sứ, thuỷ tinh, in, vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên

nhiên, sản xuất nông, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản,

chế biến nông, lâm sản

Trên 300 tỷ đồng

6 Các dự án đầu tư xây dựng công trình: y tế, văn hoá, giáo

dục, phát thanh, truyền hình, xây dựng dân dụng khác (trừ

xây dựng khu nhà ở), kho tàng, du lịch, thể dục thể thao,

nghiên cứu khoa học và các dự án khác

Trên 200 tỷ đồng

Trang 11

III Nhóm B

1 Các dự án đầu tư xây dựng công trình: công nghiệp điện,

khai thác dầu khí, hoá chất, phân bón, chế tạo máy, xi măng,

luyện kim, khai thác chế biến khoáng sản, các dự án giao

thông (cầu, cảng biển, cảng sông, sân bay, đường sắt, đường

quốc lộ), xây dựng khu nhà ở

Từ 30 đến 600 tỷ đồng

2 - Các dự án đầu tư xây dựng công trình: thuỷ lợi, giao thông

(khác ở điểm II-3), cấp thoát nước và công trình hạ tầng kỹ

thuật, kỹ thuật điện, sản xuất thiết bị thông tin, điện tử, tin

học, hoá dược, thiết bị y tế, công trình cơ khí khác, sản xuất

vật liệu, bưu chính, viễn thông,

Từ 20 đến 400 tỷ đồng

3 Các dự án đầu tư xây dựng công trình: hạ tầng kỹ thuật khu

đô thị mới, công nghiệp nhẹ, sành sứ, thuỷ tinh, in, vườn

quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, sản xuất nông, lâm

nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, chế biến nông, lâm sản

Từ 15 đến 300 tỷ đồng

4 Các dự án đầu tư xây dựng công trình: y tế, văn hoá, giáo

dục, phát thanh, truyền hình, xây dựng dân dụng khác (trừ

xây dựng khu nhà ở), kho tàng, du lịch, thể dục thể thao,

nghiên cứu khoa học và các dự án khác

Từ 7 đến 200 tỷ đồng

1 Các dự án đầu tư xây dựng công trình: công nghiệp điện,

khai thác dầu khí, hoá chất, phân bón, chế tạo máy, xi măng,

luyện kim, khai thác chế biến khoáng sản, các dự án giao

thông (cầu, cảng biển, cảng sông, sân bay, đường sắt, đường

quốc lộ) Các trường phổ thông nằm trong quy hoạch

(không kể mức vốn), xây dựng khu nhà ở

Dưới 30 tỷ đồng

2 Các dự án đầu tư xây dựng công trình: thuỷ lợi, giao thông

(khác ở điểm II-3), cấp thoát nước và công trình hạ tầng kỹ

thuật, kỹ thuật điện, sản xuất thiết bị thông tin, điện tử, tin

học, hoá dược, thiết bị y tế, công trình cơ khí khác, sản xuất

vật liệu, bưu chính, viễn thông

Dưới 20 tỷ đồng

Trang 12

3 Các dự án đầu tư xây dựng công trình: công nghiệp nhẹ,

sành sứ, thuỷ tinh, in, vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên

nhiên, sản xuất nông, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, chế

biến nông, lâm sản

Dưới 15 tỷ đồng

4 Các dự án đầu tư xây dựng công trình: y tế, văn hoá, giáo

dục, phát thanh, truyền hình, xây dựng dân dụng khác (trừ

xây dựng khu nhà ở), kho tàng, du lịch, thể dục thể thao,

nghiên cứu khoa học và các dự án khác

Dưới 7 tỷ đồng

1.2.1.3 Nội dung thẩm định dự án đầu tư

Nội dung thẩm định dự án đầu tư bao gồm các bước sau:

Bước 1.Giới thiệu về dự án đầu tư

-Tên dự án

-Tên doanh nghiệp

-Địa điểm thực hiện

-Địa chỉ trụ sở chính của doanh nghiệp

-Đơn đăng ký kinh doanh

-Người đại diện

-Người được uỷ quyền(nếu có)

-Tài khoản tiền gửi, tiền vay

-Mục tiêu và ngành nghề kinh doanh

-Tổng mức vốn đầu tư của dự án

-Tiến độ triển khai thực hiện

Bước 2.Thẩm định tư cách pháp lý của chủ đầu tư.

Thẩm định năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự :

-Đối tượng đầu tư

-Điều kiện thành lập doanh nghiệp

-Ngành nghề sản xuất kinh doanh

-Năng lực cán bộ quản lý của chủ đầu tư

Thẩm định tình hình tài chính của chủ đầu tư :

Để đánh giá một cách cơ bản tình hình tài chính cuả doanh nghiệp, có thể sửdụng thông tin kế toán trong nội bộ doanh nghiệp là nguồn thông tin quan trọngnhất được hình thành thông qua việc xử lý các báo cáo kế toán chủ yếu sau:

-Bảng cân đối kế toán 2 năm liền kề

Trang 13

-Báo cáo kết quả kinh doanh hai năm liền kề.

-Báo cáo lưu chuyển tiền tệ

-Thuyết minh báo cáo tài chính có liên quan

-Báo cáo lợi nhuận giữ lại

-Báo cáo kiểm toán

Bước 3.Thẩm định mục tiêu dự án đầu tư.

Lĩnh vực mà dự án đầu tư

Địa bàn mà dự án đầu tư

Bước 4.Thẩm định thời hạn đầu tư.

Bước 5.Thẩm định biện pháp bảo đảm nợ vay.

Bước 6.Kết luận và đề xuất sau thẩm định

1.2.2 Thẩm định tài chính dự án đầu tư

Khi tiến hành cho vay vốn ngân hàng thường phải đối mặt với vô số nhữngrủi ro Vì một dự án thường kéo dài trong nhiều năm, đòi hỏi một lượng vốn lớn

và bị chi phối bởi nhiều yếu tố mà trong tương lai có thể sẽ biến động khó lường.Những con số tính toán cũng như những nhận định đưa ra trong dự án (khi lập dựán) chỉ là những ý kiến, bởi vậy ít nhiều mang tính chủ quan của người lập dự án.Người lập dự án ở đây có thể là chủ đầu tư, hoặc các cơ quan tư vấn được thuê lập

dự án Họ thường đứng trên góc độ hẹp để nhìn nhận các vấn đề của dự án Có thểkhông tính toán đến các vấn đề có liên quan và đôi khi bỏ qua một số yếu tố hoặclàm cho dự án trở nên khả thi hơn một cách cố ý nhằm đạt được sự ủng hộ, tài trợcủa các bên có liên quan

Do vậy để tồn tại, đặc biệt là trong điều kiện của nền kinh tế thị trường với đặcđiểm là tự do cạnh tranh và tính cạnh tranh lại rất cao, thì ngân hàng cũng như cácpháp nhân khác trong nền kinh tế phải tự tìm kiếm các phương cách, giải pháp choriêng mình để ngăn ngừa các rủi ro có thể nảy sinh Thẩm định tài chính dự án làmột khâu rất quan trọng trong công tác thẩm định của ngân hàng, tiến hành thẩmđịnh tài chính dự án cũng chính là một trong những biện pháp cơ bản nhằm phòngngừa rủi ro trong qua trình cho vay vốn đầu tư tại ngân hàng Trên góc độ các nhàtài trợ, các ngân hàng và tổ chức tài chính đánh giá dự án chủ yếu trên phươngdiện khả thi, hiệu quả tài chính và xem xét khả năng thu nợ của ngân hàng Mộtcách tổng quát, ta có thể hiểu thẩm định tài chính dự án: là một quá trình kiểmtra,đánh giá lại toàn bộ các nội dung liên quan đến khía cạnh tài chính của dự án

để xác định hiệu quả tài chính của dự án được xem xét, thẩm định tài chính dự án

là một quá trình được thực hiện bằng kỹ thuật phân tích dự án đã được thiết lập

Trang 14

trên cơ sở những chuẩn mực, nhằm rút ra những kết luận làm căn cứ quyết địnhcho khách hàng vay vốn đầu tư dự án.

1.2.2.1 Vai trò của công tác thẩm định tài chính dự án đầu tư đối với NHTM

Trong quá trình thẩm định dự án đầu tư, Ngân hàng phải thẩm định trênnhiều phương diện khác nhau để có cách nhìn khách quan trước khi đưa ra quyếtđịnh cho vay NHTM với tư cách là người cho vay, tài trợ cho dự án đầu tư, cầnđặc biệt quan tâm đến khía cạnh thẩm định tài chính dự án bởi nó có ý nghĩa quyếtđịnh trong các nội dung thẩm định

Hoạt động cho vay là hoạt động quan trọng nhất của ngân hàng thương mại,các khoản cho vay thường chiếm 59% tài sản của ngân hàng, và 65 - 70% lợi tứccủa ngân hàng sinh ra từ các hoạt động cho vay Thành công của một ngân hàngphụ thuộc chủ yếu vào việc thực hiện kế hoạch tín dụng như thế nào, xuất phát từchính sách cho vay của ngân hàng Trong các hoạt động cho vay của ngân hàng thìcho vay theo dự án được ngân hàng đặc biệt quan tâm vì nó đòi hỏi vốn lớn, thờihạn kéo dài và rủi ro cũng tương đối lớn nhưng khả năng sinh lợi lại cao Vô sốcác rủi ro khác nhau khi cho vay nói chung và cho vay theo dự án nói riêng, xuấtphát từ nhiều yếu tố và có thể dẫn đến việc không chi trả được nợ khi đến hạn Do

đó để quyết định có chấp nhận cho vay hay không, ngân hàng cần phải coi trọngphân tích tín dụng nói chung và thẩm định tài chính dự án nói riêng Thông quaviệc thẩm định này, ngân hàng sẽ có cái nhìn toàn diện về dự án, đánh giá về nhucầu tổng vốn đầu tư, cơ cấu nguồn vốn và tình hình sử dụng nguồn vốn, hiệu quảtài chính mà dự án mang lại cũng như khả năng trả nợ của dự án

Với mục tiêu hoạt động là an toàn và sinh lời, Ngân hàng chỉ cho vay đối vớicác dự án có hiệu quả tài chính, tức là những dự án mang lại lợi nhuận và có khảnăng trả nợ, thì ngân hàng mới có thể thu hồi được gốc và lãi, và ngân hàng sẽ cónhững khoản cho vay có chất lượng

Bất cứ hoạt động cho vay nào của NHTM đều trải qua 3 giai đoạn: xét duyệtmón vay, cho vay và thu nợ

Ba giai đoạn này là một quá trình gắn bó chặt chẽ, mỗi giai đoạn có một ýnghĩa nhất định ảnh hưởng đến chất lượng của một khoản vay

Giai đoạn xét duyệt món vay,cần tiến hành công việc:

1.Nhận hồ sơ xin vay

2.Thẩm định đơn và hồ sơ xin vay

3.Phê duyệt món vay

4.Lập hồ sơ tín dụng,hạch toán món vay

Các khoản vay ở NHTM thường bao gồm vay ngắn hạn và vay trung - dàihạn Việc cho vay các khoản ngắn hạn tương đối dễ và đơn giản Thế mạnh của

Trang 15

NHTM là khai thác các khoản cho vay trung - dài hạn Các khoản vay này thường

là các khoản vay với khối lượng vốn lớn, thời gian vay lâu và độ rủi ro tương đốicao, thường phục vụ cho vấn đề đầu tư mua sắm tài sản cố định, máy móc thiết bịcho sản xuất, xây dựng nhà xưởng…Các dữ liệu của công cuộc đầu tư đều đượcthể hiện trong dự án mà các đơn vị vay vốn nộp kèm đơn vay Khi xét duyệt mónvay, cán bộ tín dụng luôn bám sát các thông tin trong dự án, kết hợp so sánh vớicác yếu tố thông tin bên ngoài để đánh giá hợp lý tính khả thi và hiệu quả của dựán…

Ngân hàng đặc biệt quan tâm đến các dự án mang lại lợi nhuận cao Nhưngmột nguyên tắc bất di bất dịch là “Lợi nhuận cao, thì rủi ro cao” Do đó, để hạnchế rủi ro, ngân hàng thường quan tâm đến công tác thẩm định dự án -nhất là thẩmđịnh về mặt tài chính dự án

Thẩm định tài chính dự án giúp cán bộ tín dụng của ngân hàng nắm bắtđược các thông số thực sự về dự án và bản thân chủ thể vay vốn sau khi đã tiếnhành đối chứng, kiểm định và tính toán lại một số chỉ tiêu chưa hợp lý.Các số liệu

về thu - chi , lợi nhuận vủa một dự án chủ yếu là con số giả định, dự đoán dựatrên tình hình sản xuất kinh doanh tương tự của doanh nghiệp hoặc của một doanhnghiệp khác đã làm trước đây hoặc đang làm Tuy nhiên,các con số này khônghoàn toàn chính xác do tác động của cá yếu tố bên ngoài Một dự án nếu khôngđược thẩm định cẩn thận trước khi cho vay thì rất đễ gây ra những tác động khôngnhư dự kiến Nếu thực tế diễn ra thuận lợi thì tốt, nhưng nếu có những tiêu cực xảy

ra thì không chỉ bản thân ngân hàng khó thu hồi được vốn,doanh nghiệp thua thiệt

mà còn có thể gây ra những tác động tiêu cực đến hiệu quả kinh tế -xã hội Mặtkhác, hiện nay xu hướng chung trong hoạt động cho vay của NHTM là tiến tới chovay không có tài sản thế chấp nhiều hơn.Nếu trước đây tài sản thế chấp của kháchhàng được coi là vật đảm bảo tuyệt đối của khoản vay thì nay vị thế của nó đã thayđổi

Những tiêu cực trong sử dụng tài sản thế chấp như dùng một tài sản thếchấp tại nhiều ngân hàng,phát sinh pháp lý về quyền đồng sở hữu tài sản kinhdoanh hay chất lượng đánh giá thực trạng giá trị tài sản thế chấp khiến cho côngtác thu nợ của ngân hàng nhiều khi lại khó hơn

Với mục đích khuyến khích các doanh nghiệp làm ăn thực sự có hiệu quảngân hàng khuyến khích các khoản vay không cần tài sản thế chấp Đó là một hìnhthức tín chấp trong hoạt động cho vay Cơ sở của tín chấp là uy tín doanh nghiệp

và dự án vay vốn khả thi, có hiệu quả.Trên cơ sở đó, ngân hàng có thể vừa thu nợ

từ hoạt động sản xuất của doanh nghiệp và của dự án nói riêng Như vậy, để đảmbảo khả năng thu nợ và có lãi, ngân hàng cần phải tiến hành thẩm định dự án đầu

Trang 16

tư, vay vốn Với vai trò là một tổ chức kinh doanh tiền tệ, lấy lợi nhuận làm mụctiêu hành động, ngân hàng chú trọng vào thẩm định mặt tài chính Dự án được tiếnhành lý tưởng nhất khi tính khả thi về kỹ thuật,tính an toàn của môi trường,các tácđộng chấp nhận được đối với xã hội được phân tích chặt chẽ, cẩn thận,thể hiệntính khả thi trong báo cáo thẩm định kỹ thuật-môi trường-xã hội của dự án.

1.2.2.2 Nội dung thẩm định tài chính dự án của NHTM

Do sự cần thiết và tính chất quan trọng, thẩm định tài chính dự án khôngnhững được chủ đầu tư mà còn được nhiều chủ thể khác quan tâm và thực hiệntrước khi họ đưa ra các quyết định của mình

Đứng trên quan điểm của người cho vay, tài trợ cho dự án, điều mà Ngânhàng quan tâm là khả năng thu hồi được gốc và lãi Những thông tin đã được kiểmtra lại sau khi phân tích là căn cứ quan trọng để đưa ra quyết định tài trợ Quátrình phân tích cho biết khả năng hoàn trả thực sự của khách hàng xuất phát từ kếtquả hoạt động kinh doanh Đây cũng là cơ sở để người cho vay xác định lãi suất,

kỳ hạn, cách thức trả nợ, … thích hợp với khả năng tài chính của cả hai bên Ngoài

ra, với tư cách là nhà phân tích độc lập, người cho vay còn có thể phát hiện cáckhiếm khuyết trong quá trình lập dự án và kiến nghị với chủ đầu tư để đưa ranhững điều chỉnh phù hợp

Để đưa ra quyết định tài trợ cho dự án, Ngân hàng cần thẩm định lại độchính xác của các thông tin được đưa ra từ khâu lập dự án, các nhà phân tích cầnphải rà soát lại từng vấn đề chi tiết Về mặt tài chính, các vấn đề được chia thànhbốn nội dung chính như sau:

- Phân tích tổng vốn đầu tư, cơ cấu sử dụng vốn và nguồn vốn

- Phân tích các khoản doanh thu

- Phân tích các khoản chi phí

- Dự trù cân đối thu - chi

Cụ thể, như sau:

Phân tích tổng vốn đầu tư, cơ cấu sử dụng vốn và nguồn vốn

Trong quá trình lập dự án, ngoài hạn chế về khả năng ước tính đầy đủ,chính xác giá trị các khoản mục cần đầu tư, còn có hai xu hướng gây ra sai lệch vềtổng vốn đầu tư Một là, dự tính mức vốn này quá thấp để tăng các chỉ tiêu phảnánh hiệu quả nhằm thuyết phục các cơ quan cấp phép và ra quyết định đầu tư Hai

là, dự tính quá cao để rút được nhiều vốn của Nhà nước và các tổ chức tín dụng

Cả hai xu hướng trên đều gây thất thoát vốn và tác động tiêu cực đến tính khả thi

và hiệu quả hoạt động của dự án

Trang 17

Tổng mức vốn đầu tư của dự án là giá trị của toàn bộ số tiền và tài sản cầnthiết để lập và đưa dự án vào hoạt động, bao gồm các khoản mục:

*Vốn đầu tư vào TSCĐ, gồm:

-Chi phí điều tra, khảo sát để lập, trình duyệt dự án, chi phí tư vấn, thiết kế

dự án, chi phí đào tạo, huấn luyện, chuyển giao công nghệ, chi phí ban đầu về mặtđất, mặt nước, chi phí chuẩn bị mặt bằng xây dựng

- Giá trị nhà xưởng hoặc kết cấu hạ tầng sẵn có, chi phí xây dựng mới hoặccảI tạo nhà xưởng, cấu trúc hạ tầng

- Giá trị máy móc thiết bị, phương tiện vận tải sẵn có, chi phí mua máy mócthiết bị, phương tiện vận tải mới

* Vốn đầu tư vào TSLĐ ban đầu: là giá trị các tài sản lưu động ban đầu cần

thiết để đảm bảo cho dự án có thể đi vào hoạt động bình thường theo các điều kiệnkinh tế - kỹ thuật dự tính, bao gồm:

- Dự trữ tiền mặt, các khoản phải thu và trả trước

- Dự trữ hàng hóa: nguyên vật liệu, sản phẩm dở dang, thành phẩm tồn kho.Lượng vốn đầu tư vào vốn lưu động ban đầu thường không lớn song nếukhông dự tính huy động nguồn vốn dài hạn để tài trợ, các dự án sẽ phải huy độngnguồn vốn ngắn hạn để tài trợ và như vậy rất bị động khi đến hạn trả Để xác địnhlượng vốn lưu động ban đầu cần dự trữ có thể dùng một trong ba công thức sau:

Qua các năm hoạt động, Doanh thu tăng  cần dự trữ hàng trong khonhiều  các khoản phải thu từ khách hàng, tiền mặt tăng  cần đầu tư thêm vàoVLĐ ban đầu Lượng vốn đầu tư ban đầu và đầu tư tăng thêm được thu hồi toàn

bộ vào cuối năm khi dự án kết thúc Trong quá trình lập dự toán, đây không coi làchi phí hợp lệ khi tính lợi nhuận chịu thuế vì nó nằm trong khâu dự trữ, chưa đưavào quá trình sản xuất Vào năm cuối, giá trị thu hồi TSLĐ giả định chỉ bù đắpvừa đủ số tiền đã đầu tư, nên không được coi là thu nhập chịu thuế

*Vốn dự phòng: Là lượng vốn để đề phòng phát sinh thêm chi phí đầu tư so

với dự tính Trong thời gian dài hạn, giá cả có thể thay đổi, tỷ giá hối đoái biếnđộng,… Khi đó vốn dự phòng sẽ được dùng để đáp ứng nhanh chóng nhu cầu chi,đảm bảo tiến độ thực hiện dự án Lượng vốn này thường chiếm từ 1% đến 5%

Trang 18

tổng vốn đầu tư, tùy thuộc vào quy mô của dự án và độ biến động của các biến sốchính.

Bên cạnh việc phân tích cơ cấu vốn đầu tư theo các khoản mục chi phí, cầnxem xét vốn đầu tư dưới hình thái tiền và hiện vật, đặc biệt với các tài sản sẵn có,

để xác định chính xác giá trị sử dụng tốt nhất của chúng đối với dự án

Nguồn vốn bao gồm số lượng, hình thức, tiến độ, lãi suất … quyết định đến

sự thành công của dự án Để có đủ vốn đầu tư cho dự án, chủ đầu tư có thể huyđộng vốn bằng cách: Nhà nước cấp phát hoặc cho vay, tự tích lũy, vay của ngânhàng, phát hành cổ phiếu, trái phiếu, liên doanh…

Phân tích các khoản doanh thu

Doanh thu được tính hằng năm và bao gồm các khoản phát sinh từ việc vậnhành TSCĐ được đầu tư bởi dự án:

- Doanh thu từ sản phẩm chính, doanh thu từ sản phẩm phụ

- Dịch vụ cung cấp cho bên ngoài

Để đảm bảo tình hợp lý và chính xác của doanh thu, cần kiểm tra lại haiyếu tổ: giá bán và sản lượng sản xuất hàng năm Để đơn giản trong tính toán, giábán thường được giả định là không đổi trong suốt thời gian vận hành Tuy nhiên,nếu sản phẩm rất nhạy cảm với các biến động của thị trường trong và ngoài nướchoặc chịu áp lực cạnh tranh lớn cần có sự thay đổi giá bán qua các năm, hoặc xếphạng mức độ rủi ro cao hơn khi lựa chọn dự án

Sản lượng sản xuất, tính theo % của cống suất thiết kế, tăng dần trong cácnăm đầu và đạt mức 100% khi sản xuất đi vào ổn định Vì vậy, nhiệm vụ của nhàphân tích là phải kiểm tra lại các thông tin để điều chỉnh tỷ lệ % cho phù hợp

Vào năm cuối cùng, dự án có thể có khoản thu hồi từ tài sản (TSCĐ vàTSLĐ) Khi đó giá bán tài sản cần được trừ đi giá trị còn lại của tài sản theo sổsách (= nguyên giá - khấu hao lũy kế) để tính lợi nhuận (hoặc lỗ)

Phân tích các khoản chi phí

Việc lựa chọn công suất thiết kế không chỉ tác động đến doanh thu mà cònảnh hưởng đến chi phí hoạt động hàng năm của dự án Căn cứ vào kế hoạch sảnxuất, kế hoạch khấu hao, kế hoạch trả nợ, chi phí hoạt động bao gồm các khoảnmục sau:

- Nguyên vật liệu gồm nguyên vật liệu chính, vật liệu bao bì, bán thành phẩm

và dịch vụ mua ngoài, nhiên liệu, năng lượng, nước

-Tiền lương, bảo hiểm xã hội, chi phí bảo dưỡng máy móc thiết bị, nhàxưởng

Trang 19

-Khấu hao gồm: Chi phí chuẩn bị, máy móc thiết bị, dụng cụ, phương tiệnvận tải, nhà xưởng và cấu trúc hạ tầng, chi phí ban đầu về quyền sử dụng đất.-Chi phí quản lý phân xưởng, quản lý doanh nghiệp.

-Chi phí bảo hiểm tài sản, chi phí tiêu thụ sản phẩm lãi vay, chi phí khác…Các chi phí biến đổi như nguyên vật liệu, nhiên liệu, năng lượng,… đượctính theo sản lượng sản phẩm định mức tiêu hao Nhà phân tích cần kiểm tra lạiđịnh mức tiêu hao qua tình hình thực tế của các dự án cùng loại hoặc tiêu chuẩncủa ngành Trường hợp là sản phẩm mới, chưa từng được sản xuất trong nước, cần

có sự tư vấn của các chuyên gia kỹ thuật trong ngành và đánh giá dự án ở mức độrủi ro cao hơn

Các chi phí quản lý được tính theo % trên doanh thu Một số chi phí có thểđược tính theo sản lượng như chi phí vận chuyển, lương nhân viên bán hàng…

Tổng mức khấu hao hàng năm phải bằng nguyên giá TSCĐ Chủ đầu tưthường muốn khấu hao nhanh vừa có nguồn trả nợ sớm, giảm chi phí vay vốn, vừagiảm thuế thu nhập trong những năm đầu, khai thác giá trị thời gian của tiền Tuynhiên, vì mục tiêu quản lý thuế, cơ quan quản lý tài chính nhà nước lại quy đinhphương pháp khấu hao cho các doanh nghiệp, tránh thất thu cho ngân sách

M KH = NG x P% = NG/n

P% = (1 / n) x 100%

Trong đó: M KH là mức khấu hao hàng năm

NG (nguyên giá): là giá trị ban đầu của TSCĐ

n là thời kỳ tính khấu hao

Đối với các tài sản cần nhanh chóng thu hồi do hao mòn nhanh, có thể áp dụngphương pháp khấu hao giảm dần theo giá trị còn lại của tài sản

Trong đó : M KH (t) là mức khấu hao năm thứ t

GTCL (t - 1) là giá trị còn lại năm thứ t -1

P là tỷ lệ khấu hao không đổi:

P = (1 / n) x H

M KH (t) = P x GTCL (t – 1)

Trang 20

Lập báo cáo tài chính dự kiến cho từng năm hoặc từng giai đoạn của đời dự án

Cần lập bảng chi phí sản xuất hoặc dịch vụ, doanh thu, bảng dự tính mức lỗlãi, bảng dự trù cần đối kế toán, bảng dự tính cân đối thu chi Các báo cáo tài chínhgiúp cho chủ đầu tư thấy được tình hình hoạt động tài chính của dự án và nó lànguồn số liệu giúp cho việc tính toán phân tích các chỉ tiêu phản ánh mặt tài chínhcủa dự án

Dự tính doanh thu từ hoạt động của dự án: gồm doanh thu bán sản phẩmchính, sản phẩm phụ và từ dịch vụ cung cấp cho bên ngoài Doanh thu này đượctính cho từng năm hoạt động và dựa vào kế hoạch sản xuất và tiêu thụ hàng nămcủa dự án để xác định

Dự tính chi phí sản xuất: Chi phí này cũng được tính cho từng năm trongsuốt cả đời dự án Việc dự tính dựa trên kế hoạch sản xuất hàng năm, kế hoạchkhấu hao và kế hoạch trả nợ của dự án Cần chú ý chi phí khấu hao là một yếu tốcủa chi phí sản xuất Bởi vậy mức khấu hao có ảnh hưởng đến lợi nhuận, đến mứcthuế thu nhập hàng năm phải nộp Nếu khấu hao tăng, lợi nhuận giảm và do đóthuế thu nhập giảm và ngược lại Việc xác định chính xác mức khấu hao có ýnghĩa quan trọng trong phân tích tài chính dự án đầu tư Mức khấu hao hàng nămlại phụ thuộc vào phương pháp tính khấu hao, chính vì vậy cần lựa chọn phươngpháp khấu hao như thế nào để tiền nọp thuế càng nộp về sau càng nhiều càng tốt.Thông thường phải chọn phương pháp tính khấu hao nhiều ở những năm đầu và

về sau càng ít dần Tuy nhiên việc áp dụng tính khấu hao theo phương pháp nàophải được các cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước cho phép nhằm vừa khuyếnkhích đầu tư tạo thuận lợi cho việc tính thuế, đảm bảo thu hồi đủ vốn để tái đầu tư

Dự tính mức lỗ lãi của dự án: Trên cơ sở số liệu dự tính về tổng doanh thu,chi phí từng năm tiến hành dự tính mức lãi lỗ hàng năm của dự án Đây là nguồn

Trang 21

tài liệu giúp cho chủ đầu tư phân tích đánh giá được khả năng cân bằng tài chínhcủa dự án.

Dự trù cân đối thu - chi

- Khái niệm dòng tiền của dự án: Dòng tiền của dự án được định nghĩa làphần chênh lệch dòng tiền của doanh nghiệp trong giai đoạn mà dự án được thựchiện so với lúc không thực hiện dự án

CFt của dự án = CFt của doanh nghiệp nếu có dự án – CF t của doanhnghiệp nếu không có dự án

Theo cách này, dòng tiền dự án là dòng tiền tăng thêm sẽ xảy ra nếu dự ánđược thực hiện Dòng tiền bao gồm dòng tiền vào và dòng tiền ra

Theo quan điểm của Ngân hàng, Ngân hàng và chủ sở hữu cùng đầu tư, nên không

có chuyện trả lãi hay trả nợ gốc

Cách tính dòng tiền sau: OCF = LNST + KHTSCĐ +Lãi vay.

(Cộng lãi vay vào dòng tiền chứ không phải là: Lãi vay * (1 - T) vì Lãi vay màNgân hàng nhận được là Lãi vay trước thuế)

- Dòng tiền và thu nhập kế toán

Báo cáo kết quả kinh doanh là phần tổng hợp của doanh thu và chi phí của

dự án Chúng còn được gọi là doanh thu và chi phí kế toán của dự án Trong khi

đó, báo cáo lưu chuyển tiền tệ ghi nhận số tiền thực tế thu vào chi ra khỏi ngânquỹ Đây được coi là dòng tiền vào ra của dự án Phần chênh lệch giữa dòng tiềnvào và ra gọi chung là dòng tiền thuần Trên hai báo cáo có thể có một số khoảnmục giống nhau về tên gọi nhưng khác nhau về con số Ví dụ, tiền lương đượchạch toán vào chi phí lao động cũng là khoản chi tiền ra, còn doanh thu có thể chỉđược đưa một phần vào dòng tiền do không thu vào ngay toàn bộ (một số nằm ởkhoản phải thu) Do giá trị thời gian của tiền, để so sánh được những khoản thu,chi tại các thời điểm khác nhau trong quãng đời hoạt động của dự án, cần phải biếtđược thời điểm xuất hiện các khoản tiền này Chính vì vậy, trong việc lập dự toánvốn đầu tư, các quyết định chỉ dựa trên dòng tiền thu vào và chi ra trong từng giaiđoạn hoạt động của dự án

- Thời điểm xuất hiện dòng tiền

Do tiền có giá trị thời gian, nên cần biết chính xác thời điểm xuất hiện dòngtiền Báo cáo kết quả kinh doanh thường được lập theo thời kỳ là tháng, quý haynăm, không phản ánh chính xác khi nào dòng tiền vào, ra Theo lý thuyết, dòngtiền hàng ngày là chính xác nhất nhưng ước tính chúng khá tốn kém  vì thế ítđược sử dụng, và có lẽ cũng không chính xác hơn dòng tiền hàng năm Do vậy,dòng tiền thường được giả định là xuất hiện cuối hàng năm

Trang 22

- Một số dòng tiền đặc biệt.

Khi xem xét dự án, cần phải dựa trên dòng tiền gia tăng, phát sinh trực tiếp

từ việc thực hiện dự án Có ba vấn đề cần tính đến khi ước tính dòng tiền gia tăng

+ Chi phí chìm: Chi phí chìm không phải là chi phí tăng thêm, nên khôngđược đưa vào phân tích Chi phí chìm là khoản đầu tư xuất hiện trước đó Nókhông bị ảnh hưởng bởi quyết định lựa chọn hoặc loại bỏ dự án Ví dụ như:

+ Chi phí cơ hội: Là những khoản thu nhập mà công ty phải mất đi do sửdụng nguồn lực của công ty vào dự án Chi phí cơ hội không phải là một khoảnthực chi nhưng vẫn được tính vào vì đó là một khoản thu nhập mà công ty phảimất đi khi thực hiện dự án

+ Tác động đến các dự án khác

+ Tác động của thuế

Thuế có tác động rất lớn đến dòng tiền và trong nhiều trường hợp, thuế cóthể thúc đẩy và phá vỡ một dự án Vì vậy, khi đánh giá dự án, dòng tiền phải phátsinh từ dự án, dòng tiền phải phát sinh từ dự án là dòng tiền sau thuế

++Giảm thuế đối với vốn đầu tư vào TSCĐ thông qua chi phí khấu hao ++Tăng (giảm) thuế đối với một khoản lợi nhuận (hoặc lỗ) được tạo ra bởi

dự án

++Giảm chi phí lãi tiền vay do lãi vay được đưa vào chi phí trước thuế, từ

đó ảnh hưởng đến cách thức tìm nguồn vốn đầu tư cho dự án

Do đó, lãi suất chiết khấu sau thuế thường được dùng để đánh giá dòng tiềnsau thuế của dự án Dòng tiền sau thuế tính đến hai tác động nêu trên, còn lãi suấtchiết khấu sau thuế xét đến tác động thứ ba

+ Khấu hao

Khoản tiền đầu tư vào TSCĐ của dự án thường được phân bổ trong cácnăm hoạt động của dự án, gọi là chi phí khấu hao và sau đó tài sản có thể đượcthanh lý Tuy nhiên, khấu hao không phải là khỏan chi tiền, nên mức khấu hao caokhông làm giảm dòng tiền, mà ngược lại, còn làm tăng vì số thuế phải nộp giảmxuống

Trong hoặc vào cuối đời hoạt động, TSCĐ có thể được thanh lý Khi đó, dự

án có thể có thêm một khoản thu nhập (hoặc lỗ) ròng bằng giá bán trừ chi phíthanh lý(bằng giá trị còn lại theo sổ sách cộng với chi phí bán) Khoản thu nhập(hoặc lỗ) từ thanh lý cũng làm tăng (hoặc làm giảm) thuế phải nộp tương ứng vớimức thuế suất của doanh nghiệp

+ Thay đổi vốn lưu động ròng

Trang 23

Khi sản xuất mở rộng thì những khoản phải trả cũng tăng lên, làm giảmnhu cầu tài trợ cho dự án Phần chênh lệch giữa lượng tăng thêm về tài sản lưuđộng và về nợ ngắn hạn thường là dương và do vậy đòi hỏi phải có thêm tiền đầu

tư vào phần này, ngoài tiền đầu tư vào TSCĐ, Phần chênh lệch này gọi là vốn lưuđộng ròng

Khi dự án kết thúc, lượng tài sản lưu động dự trữ này cũng được thanh lý

để thu tiền về Do tính chất của tài sản lưu động là tương đối dễ bán, nên để thuậntiện trong quá trình phân tích, giá trị thu hồi thường được giả thiết là bằng đúng sốtiền đã chi ra

- Lãi suất chiết khấu

Thuật ngữ giá trị thời gian của tiền có nghĩa là một khoản tiền sẽ có giá trịkhác nhau nếu xuất hiện tại các thời điểm khác nhau

Nhà đầu tư bỏ ra một khoản chi phí để hi vọng đem lại những khỏan thunhập trong tương lai Nhưng thường thì các khoản thu nhập và chi phí không xuấthiện tại cùng một thời điểm Do giá trị thời gian của tiền, nên phải quy chúng vềcùng một thời điểm để so sánh và đánh giá khả năng sinh lời của một khoản đầu

tư Việc quy đổi này cho phép ta đánh giá những khoản thu nhập trong tương lai

có bù đắp được sự hy sinh của chủ sở hữu khi đầu tư hay không Khi đó cần có

một lãi suất, gọi là lãi suất chiết khấu, để quy đổi những khoản tiền trong tương

lai về hiện tại

Công thức tính lãi suất chiết khấu:

+ Trường hợp có ảnh hưởng lạm phát:

LSCK = % bù đắp chi phí cơ hội + % Lạm phát + % bù đắp rủi ro.

+ Trường hợp sử dụng lãi suất trái phiếu kho bạc hay lãi suất tiền gửi tiếtkiệm của ngân hàng quốc doanh

LSCK = Lãi suất trái phiếu kho bạc (hoặc LS TGTK) + % bù đắp rủi ro.

+ LSCK trên quan điểm tổng đầu tư: (Tổng vốn đầu tư = Vốn chủ sở hữu +Vốn vay ngân hàng)

LSCK = Chi phí vốn trung bình = K d * (1-T) + K s * W s

Trong đó:

Trang 24

Kd :là chi phí vốn vay (lãi vay).

Wd :là tỷ trọng vốn vay trong tổng nguồn vốn

Ks :là chi phí vốn chủ sở hữu

Ws :là tỷ trọng vốn chủ sở hữu trong tổng nguồn vốn

T :thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp

Ngân hàng tài trợ cho dự án thì phân tích dự án dựa trên dòng tiền của tổngvốn đâu tư Quan điểm nhà cho vay còn gọi là quan điểm tổng đầu tư Mục đíchcủa nhà cho vay khi phân tích dự án là đánh giá sự an toàn của số vốn cho vay, mà

sự an toàn đó phải xem xét dựa trên hiệu quả hoạt động của toàn bộ dưựán chứkhông chỉ của số vốn chủ sở hữu Theo đó, các tổ chức tín dụng sẽ xác định đượctính khả thi về mặt tài chính của dự án, nhu cầu vay vốn cũng như khả năng trả nợgốc và lãi vay của dự án Do vậy, dòng tiền dự án bao gồm cả phần của các chủ sởhữu và nhà cho vay Dòng tiền của dự án được tạo ra từ tổng vốn đầu tư bao gồmvốn chủ sở hữu và vốn vay, thì lãi suất chiết khấu không chỉ là chi phí vốn vay(lãivay) hay chi phí vốn chủ sở hữu, phải là chi phí vốn trung bình của vốn

1.3 Đánh giá chất lượng thẩm định tài chính dự án của Ngân hàng thương mại:

1.3.1 Chất lượng thẩm định tài chính dự án:

Chất lượng của việc thẩm định dự án nói chung và thẩm định tài chính dự ánnói riêng có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động cho vay của Ngân hàng, từ đó ảnhhưởng trực tiếp đến lợi nhuận và sự an toàn của ngân hàng

Chất lượng thẩm định tài chính dự án dưới góc độ Ngân hàng là xem xét dự

án đó có đáp ứng tốt nhất những yêu cầu của Ngân hàng, thông qua các chỉ tiêunhư quy trình thẩm định có khoa học và toàn diện không, thời gian thẩm địnhnhanh hay chậm, chi phí thẩm định cao hay thấp, việc lựa chọn các phương phápthẩm định có phù hợp với dự án không,

Một dự án đạt hiệu quả về mặt tài chính khi dự án đó đã thẩm định phải có khảnăng trả nợ (cả gốc và lãi) theo dự kiến, thời gian thẩm định nhanh, có hiệu quả vềmặt xã hội, rủi ro tín dụng thấp, không phát sinh các khoản nợ khó đòi, quá hạn, từ

đó giúp ngân hàng có lợi nhuận Một dự án thẩm định tồi không có hiệu quả vềmặt tài chính không chỉ làm cho Ngân hàng không thu được vốn, suy giảm lợinhuận mà còn có khả năng dẫn đến bờ vực phá sản Do đó nâng cao chất lượngthẩm định tài chính dự án đầu tư là nhiệm vụ quan trọng của mỗi ngân hàng, nóđòi hỏi phải được làm thường xuyên có khoa học và nghiêm túc

1.3.2 Các chỉ tiêu phản ánh chất lượng thẩm định tài chính dự án:

Các chỉ tiêu phản ánh chất lượng thẩm định tài chính dự án và các phươngpháp tính toán tài chính được sử dụng trong thẩm định hiệu quả tài chính bao gồm:

Trang 25

- Giá trị hiện tại ròng (NPV).

- Tỷ suất hoàn vốn nội bộ (IRR)

- Chỉ số doanh lợi (PI)

- Thời gian hoàn vốn (PP)

Cho dù áp dụng phương pháp nào để thẩm định tài chính dự án thì nguyêntắc giá trị thời gian của tiền phải được áp dụng Đồng tiến có giá trị về mặt thờigian, một đồng tiền ngày hôm nay có giá trị hơn một đồng tiền ngày mai, bởi lẽmột đồng tiền hôm nay nếu để ngày mai thì ngoài tiền gốc ra còn có tiền lãi do nósinh ra, còn một đồng ngày mai nguyên vẹn một đồng mà thôi

* Giá trị hiện tại ròng (NPV):

Khái niệm: NPV (Net present vaule) - giá trị hiện tại ròng - là chêng lệch

giữa tổng giá trị của các dòng tiền thu được trong từng năm thực hiện dự án vớivốn đầu tư bỏ ra được hiện tại hoá ở mốc 0 NPV có thể mang giá trị dương, âmhoặc bằng không Đây là chỉ tiêu được sử dụng phổ biến nhất trong thẩm định tàichính dự án

Ý nghĩa của chỉ tiêu: NPV phản ánh giá trị tăng thêm cho chủ đầu tư NPV

mang giá trị dương nghĩa là việc thực hiện dự án sẽ tạo ra giá trị tăng thêm chochủ đầu tư; hay nói cách khác, dự án không những bù đắp đủ vốn đầu tư bỏ ra, màcòn tạo ra lợi nhuận; không những thế, lợi nhuận này còn được xem xét trên cơ sởgiá trị thời gian của tiền Ngược lại, nếu NPV âm có nghĩa là dự án không đủ bùđắp vốn đầu tư, đem lại thua lỗ cho chủ đầu tư

Tiêu chuẩn lựa chọn dự án:

- Nếu NPV< 0: dự án bị từ chối

- Nếu NPV= 0: tuỳ vào vị trí và mục đích khác ( xã hội, môi trường ) đểlựa chọn

- Nếu NPV> 0:

+ Nếu đó là các dự án độc lập thì tất cả được lựa chọn

+ Nếu đó là các dự án thuộc loại xung khắc thì dự án nào có NPV lớn nhất sẽđược lựa chọn

Trang 26

- Tính đến giá trị thời gian của tiền.

- Cho biết lợi nhuận của dự án đầu tư và giúp chủ đầu tư tối đa hoá lợinhuận

Nhược điểm:

- NPV không cho biết khả năng sinh lợi tính bằng tỷ lệ phần trăm nên khôngthuận tiện cho việc so sánh cơ hội đầu tư

- NPV không quan tâm đếm sự khác biệt về thời gian hoạt động của các dự

án nên việc lựa chọn dự án có NPV lớn nhất không được chính xác

- NPV dùng chung một lãi suất chiết khấu cho tất cả các năm hoạt động của

dự án nhưng tỷ lệ chiết khấu luôn thay đổi theo sự thay đổi của các yếu tố kinh tế

-xã hội

- Không thấy được giá trị lợi ích thu được từ một đồng vốn đầu tư

- Phương pháp NPV khó tính toán vì đòi hỏi phải xác định chính xác chi phívốn

* Tỷ lệ hoàn vốn nội bộ (IRR):

Khái niệm: Tỷ lệ hoàn vốn nội bộ là tỷ lệ chiết khấu mà tại đó giá trị hiện tại

ròng của dự án bằng không

Cách xác định

Trong đó:

k1: lãi suất chiết khấu ứng với NPV1 dương gần tới 0

k2: lãi suất chiết khấu ứng với NPV2 âm gần tới 0

NPV1: Giá trị hiện tại ròng ứng với lãi suất chiết khấu k1

NPV2: Giá trị hiện tại ròng ứng với lãi suất chiết khấu k2

Ý nghĩa của chỉ tiêu: IRR phản ánh khả năng sinh lợi của dự án, chưa tính

đến chi phí cơ hội của vốn đầu tư, tức nếu như chiết khấu các luồng tiền theo IRR,

PV sẽ bằng đầu tư ban bầu Co Hay nói khác, nếu chi phí vốn bằng IRR dự án sẽkhông tạo thêm được giá trị hay không có lãi

Tiêu chuẩn lựa chọn dự án:

Gọi r là chi phí sử dụng vốn bình quân của dự án

- Nếu IRR< r: dự án bị loại

- Nếu IRR = r: dự án được lựa chọn hay bị loại tuỳ thuộc vào yêu cầu khác(giải quyết việc làm, cải tạo môi trường )

- Nếu IRR> r:

+ Nếu đó là dự án độc lập: tất cả được lựa chọn

2 1

1 2 1 1

NPV NPV

k k NPV k

IRR

+

− +

=

Trang 27

+ Nếu đó là các dự án thuộc loại xung khắc: dự án nào có IRR lớn nhất sẽđược lựa chọn.

Ưu điểm:

- Có tính đến giá trị thời gian của tiền

- Phương pháp IRR cho biết khả năng sinh lợi của dự án tính bằng tỷ lệ phầntrăm vì vậy thuận tiện cho việc so sánh các cơ hội đầu tư

- Phương pháp IRR có thể gặp vấn đề đa giá trị

* Chỉ số doanh lợi (PI):

Khái niệm: Chỉ số doanh lợi là chỉ số phản ánh khả năng sinh lợi của dự án,

tính bằng tổng giá trị hiện tại của các dòng tiền trong tương lai chia cho vốn đầu tư

bỏ ra ban đầu

Cách xác định:

0 CF

n 1

t CF PI

= +

=

Ý nghĩa của chỉ tiêu: PI cho biết một đồng vốn đầu tư bỏ ra sẽ tạo ra bao

nhiêu đồng thu nhập Thu nhập này chưa tính đến chi phí vốn đầu tư đã bỏ ra

Tiêu chuẩn lựa chọn: PI càng cao thì dự án càng dễ được chấp nhận, nhưng

tối thiểu phải bằng lãi suất chiết khấu

Trang 28

* Thời gian hoàn vốn (PP):

Khái niệm: Thời gian hoàn vốn là khoảng thời gian sao cho các khoản thu

nhập từ dự án (khấu hao và lợi nhuận sau thuế) đủ bù đắp vốn đầu tư vào dự án

Cách xác định:

PP = n = + Số vốn đầu tư còn lại cần được thu hồiDòng tiền ngay sau mốc hoàn vốn

Ý nghĩa của chỉ tiêu: PP phản ánh thời gian thu hồi vốn đầu tư vào dự án, nó

cho biết sau bao lâu thì dự án thu hồi đủ vốn đầu tư; do vậy, PP cho biết khả năngtạo thu nhập của dự án từ khi thực hiện cho đến khi thu hồi đủ vốn

Tiêu chuẩn lựa chọn: Chấp nhận dự án khi PP của dự án nhỏ hơn hoặc bằng

- Không tính tới giá trị thời gian của tiền

- Không chú ý tới các dự án có tính chất chiến lược, dự án dài hạn

- Yếu tố rủi ro của các luồng tiền trong tương lai không được xem xét

Khi tiến hành thẩm định kế hoạch trả nợ của dự án cần chú ý:

Kế hoạch trả nợ của dự án được xây dựng trên cơ sở phương án nguồn vốn

và điều kiện vay nợ của từng nguồn Nó được chủ đầu tư đưa ra trong giai đoạnlập dự án, khi mà nhiều điều kiện vay trả nợ cụ thể chưa được khẳng định cònmang tính chủ quan dựa trên những dự định Ngân hàng khi thẩm định sẽ xem xéttính hợp lý của kế hoạch trả nợ này dựa trên cơ sở phân tích dòng tiền thu của dự

án Nguồn thu của dự án phải đảm bảo phù hợp với kế hoạch trả nợ ngân hàng.Tính toán các chỉ tiêu nhằm đưa ra kỳ hạn cũng như việc thu hồi khoản nợ sao chokhông lớn hơn thời hạn tồn tại của dự án Trên cơ sở đó hai bên thoả thuận nguồntrả nợ, hình thức trả nợ, lãi suất cho vay, thời hạn vay, thời gian ân hạn, kỳ hạn nợ,

Trang 29

Những chỉ tiêu khi thẩm định tình hình tài chính của chủ đầu tư:

Để có cái nhìn toàn diện, tổng thể hơn về tình hình tài chính và tính khả thicủa dự án đầu tư thì bên cạnh việc thẩm định tình hình tài chính của dự án, Ngânhàng còn phải thẩm định khía cạnh tài chính của chủ dự án Để phân tích tình hìnhtài chính của chủ dự án các ngân hàng thường sử dụng các tỷ số tài chính Thôngqua phân tích các tỷ số tài chính của doanh nghiệp Ngân hàng có thể đánh giá kháchính xác tình hình tài chính của doanh nghiệp Các tỷ số tài chính được thiết lập

để đo lường những đặc điểm cụ thể về tình trạng và hoạt động tài chính của doanhnghiệp Chúng có thể được phân chia thành các loại như sau:

– Các tỷ số về khả năng thanh khoản

– Các tỷ số về khả năng hoạt động

– Các tỷ số về khả năng cân đối vốn

– Các tỷ số về khả năng sinh lãi

Các tỷ số về khả năng thanh khoản:

Có hai tỷ số thanh khoản quan trọng nhất là tỷ số về khả năng thanh khoảnhiện hành và khả năng thanh khoản nhanh

Khả năng thanh toán hiện hành.

Khả năng thanh toán hiện hành = Tài sản lưu độngNợ ngắn hạn

Tỷ số về khả năng thanh toán hiện hành là thước đo khẳ năng thanh toánngắn hạn của doanh nghiệp, nó cho biết mức độ các khoản nợ của các chủ nợ ngắnhạn được trang trải bằng các tài sản có thể chuyển thành tiền trong một giai đoạntương đương với thời hạn của các khoản nợ đó Tỷ số này còn phụ thuộc vào sự sosánh với giá trị trung bình ngành của ngành mà doanh nghiệp đang kinh doanh.Đồng thời, nó cũng được so sánh với các giá trị của tỷ số này của doanh nghiệptrong những năm trước đó

Mặt khác, trong nhiều trường hợp tỷ số này phản ánh không chính xác khảnăng thanh khoản, bởi nếu hàng tồn kho là những loại hàng khó bán thì doanhnghiệp rất khó biến chúng thành tiền để trả nợ Bởi vậy, cần phải quan tâm tới tỷ

số về khả năng thanh toán nhanh

Khả năng thanh toán nhanh.

Khả năng thanh toán nhanh = Tài sản lưu động - Hàng hoá tồn khoNợ ngắn hạn

Tỷ số về khả năng thanh toán nhanh cho biết khả năng hoàn trả các khoản

nợ ngắn hạn không phụ thuộc vào việc bán tài sản dự trữ (tồn kho)

Các tỷ số về khả năng hoạt động:

Trang 30

Các tỷ số này đo lường mức độ hoạt động liên quan đến mức tài sản củadoanh nghiệp, chúng bao gồm có 4 tỷ số:

Tỷ số vòng quay hàng tồn kho.

Tỷ số vòng quay hàng tồn kho

Doanh thu thuầnDoanh thu thuần

Tỷ số này đo lường mức doanh số bán liên quan đến mức độ tồn kho của cácloại hàng hoá thành phẩm, nguyên vật liệu Nếu tỷ số này có giá trị thấp chứng tỏrằng các loại hàng hoá tồn kho quá cao so với doanh số bán

Kỳ thu tiền bình quân.

Kỳ thu tiền bình quân = Các khoản phải thu

Doanh thu bình quân một ngày

Kỳ thu tiền bình quân là số ngày bình quân mà 1 VNĐ hàng hoá bán ra đượcthu hồi Số ngày trong kỳ thu tiền bình quân thấp, chứng tỏ doanh nghiệp không bịđọng vốn trong khâu thanh toán, không gặp phải những khoản nợ “khó đòi”

Hiệu suất sử dụng tài sản cố định.

Hiệu suất sử dụng tài

Mặt khác, tỷ số này còn phản ánh khả năng sử dụng hữu hiệu tài sản các loại

Tỷ số hiệu quả sử dụng toàn bộ tài sản.

Hiệu suất sử dụng toàn

Trang 31

Các tỷ số về khả năng cân đối vốn:

Tỷ số nợ.

Tổng tài sản có

Tỷ số nợ là tỷ số giữa tổng số nợ trên tổng tài sản của doanh nghiệp

Tỷ số này được sử dụng để xác định nghĩa vụ của chủ doanh nghiệp đối vớicác chủ nợ trong việc góp vốn Hệ số này càng nhỏ càng tốt nó phản ánh khả năngtrả nợ khi doanh nghiệp có nguy cơ phá sản

Tỷ số về khả năng thanh toán lãi vay

Khả năng thanh toán lãi

EBITChi phí trả lãi

Tỷ số này cho biết mức độ lợi nhuận đảm bảo khả năng trả lãi hàng năm nhưthế nào Việc không trả được các khoản nợ này sẽ thể hiện khả năng doanh nghiệp

có nguy cơ bị phá sản

Các tỷ số về khả năng sinh lãi:

Tỷ số doanh lợi doanh thu.

Doanh lợi doanh thu = Lợi nhuận thuần

Doanh thu thuần

Tỷ số này phản ánh cứ một đồng doanh thu thuần thì có bao nhiêu phần trămlợi nhuận Có thể sử dụng nó để so sánh với tỷ số của các năm trước hay so sánhvới các doanh nghiệp khác

Tỷ số doanh lợi vốn chủ sở hữu

Doanh lợi vốn chủ sở hữu = Lợi nhuận thuần

Vốn cổ phần thường

Tỷ số này đo lường mức lợi nhuận trên mức đầu tư của các chủ sở hữu

Trang 32

Khi thẩm định dự án trong điều kiện rủi ro, thường áp dụng 2 phương pháp: phân tích hòa vốn và phân tích độ nhạy.

Trong thực tế các dự án đầu tư luôn tiềm ẩn những rủi ro, những dự kiến khiphân tích dự án để đưa vào tính toán đều mang tính tương lai khó có thể biết trướcđược đặc biết là những dự án kéo dài trong nhiều năm Do đó, việc thẩm định tàichính dự án trong điều kiện rủi ro là rất cần thiết đối với ngân hàng trong quá trìnhquyết định cho vay Ngân hàng phải xem xét và phân tích cẩn trọng rủi ro đối với

dự án, từ đó cân nhắc tài trợ cho dự án sao cho mức độ rủi ro có thể chấp nhậnđược

Phương pháp phân tích hoà vốn:

Phân tích hoà vốn là quá trình áp dụng các công cụ để phân tích độ rủi ro tàichính ngắn hạn của dự án thông qua việc xác định điểm hoà vốn, mà điểm nàybiểu thị sản lượng hoà vốn, doanh thu hoà vốn, công suất hay mức hoạt động hoàvốn

– Sản lượng hoà vốn lý thuyết:

Sản lượng hoà vốn là sản lượng cần thiết mà dự án phải đạt được để hoạtđộng không lời cũng không lỗ (hoà vốn)

Công thức:

v p

FC BEP

=Q

Trong đó:

BEPQ – Sản lượng hoà vốn lý thuyết của dự án, hiện vật

FC - Tổng định phí hàng năm của dự án, giá trị

p - Giá bán 1 đơn vị sản phẩm, giá trị

v - Biến phí cho 1 đơn vị sản phẩm, giá trị

– Doanh thu hoà vốn lý thuyết:

Doanh thu hoà vốn là doanh thu cần thiết mà dự án phải đạt được để hoạtđộng không lời mà cũng không lỗ (hoà vốn)

Công thức:

S

VC 1

FC P

BEPS - Doanh thu hoà vốn lý thuyết, giá trị

S - Tổng doanh thu trong năm tính toán, giá trị

Trang 33

– Công suất hay mức độ hoạt động hoà vốn lý thuyết:

Công suất hay mức hoạt động hoà vốn là công suất hay mức hoạt động cầnthiết mà dự án phải đạt được để hoạt động không lời mà cũng không lỗ (hoà vốn).Công thức:

+ Từ điều trên cho thấy, nếu công suất hay mức hoạt động hoà vốn của dự

án thấp; nghĩa là, dự án chỉ cần hoạt động với mức cố gắng nhỏ cũng đã đạt đượckết quả hoà vốn Để định lượng, khái niệm độ an toàn công suất được sử dụngdưới đây

Độ an toàn công suất là hiệu số giữa mức một trăm phần trăm công suất thiết

kế và mức hoạt động hoà vốn của dự án

Công thức:

Ý nghĩa:

Từ công thức cho thấy công suất hay mức hoạt động hoà vốn càng thấp thì

độ an toàn công suất càng cao, độ rủi ro hoạt động càng ít và hiệu quả tài chínhcủa dự án càng lớn

Giá hoà vốn: là giá bán thấp nhất một đơn vị sản phẩm để dự án hoạt động

không lời mà cũng không lỗ (hoà vốn)

Công thức:

Trong đó:

BEPPr - Giá bán hoà vốn 1 đơn vị sản phẩm của dự án, giá trị

SPr - Độ an toàn về giá của dự án, %; được tính theo công thức sau đây:

Ưu điểm của phân tích hoà vốn:

- Cho biết doanh nghiệp cần sản xuất và tiêu thụ bao nhiêu sản phẩm hoặcsau bao nhiêu thời gian thì bù đắp được những chi phí mà doanh nghiệp đã bỏ ra

S

BEP Q

BEP BEP P= Q= S

P

P 100% BEP

(100% Spr) p r

BE P = − ×

Trang 34

hoặc đạt được lợi nhuận theo dự kiến Từ đó có thể đề ra các biện phấp để tránhrủi ro và tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.

- Trên cơ sở phân tích hoà vốn có thể lựa chọn các phương án sản xuất khácnhau hoặc đưa ra các quyết định có tính chiến lược lâu dài cho doanh nghiệp như

có nên tiếp tục sản xuất hay nhận những đơn đặt hàng với giá bán thấp hơn sau khidoanh nghiệp đã đạt được điểm hoà vốn

Nhược điểm của phân tích hoà vốn:

- Hầu hết các chi phí trong doanh nghiệp đều rất phức tạp và không thể phânchia một cách hoàn toàn rành mạch thành chi phí cố định và chi phí biến đổi Bởivậy việc phân tích hoà vốn sẽ gặp rất nhiêu khó khăn

- Phân tích hoà vốn không quan tâm đến giá trị thời gian của tiền tệ Chẳnghạn, chi phí cố định có thể được phân bổ trước khi tính toán các chi phí biến đổi

và trước khi tạo ra thu nhập Khi phân tích hoà vốn trong những khoảng thời gianngắn, việc bỏ qua thời gian của tiền thường không ảnh hưởng lớn lắm Nhưng nếuphân tích trong những khoảng thời gian dài, chi phí và doanh thu phải được thểhiện dưới hình thức giá trị hiện tại Điều này đòi hỏi phải áp dụng hình thức phântích độ nhạy với yêu cầu tính chính xác về doanh số hàng bán được khá cao và vớimức doanh thu mà tại đó NPV>0

- Mô hình phân tích hoà vốn cơ bản đánh giá theo đường thẳng (tức P và Vkhông đổi), nhưng giá bán và chi phí biến đổi của mỗi đơn vị hàng bán có thể thayđổi theo mức sản xuất

Phương pháp phân tích độ nhạy:

Phân tích độ nhạy là phương pháp phân tích rủi ro dài hạn, nhằm xác định sựthay đổi khả năng sinh lời của dự án đầu tư khi dự tính có sự biến động giá trị đầuvào và đầu ra của dự án trong điều kiện bất định

Đầu vào và đầu ra của dự án

Các thành phần thuộc đầu vào:

+ Các khoản mục thuộc biến phí trong đó đặc biệt chú ý:

* Nguyên vật liệu;

* Bán thành phẩm;

* Giá thuê nhân công;

* Hao phí dịch vụ hạ tầng, điện, nước

+ Các khoản mục thuộc định phí

+ Chú thích: Các khoản mục thuộc biến phí và định phí được phân tích trongBảng chi phí giá thành hàng năm của dự án

Các thành phần thuộc đầu ra:

+ Giá tiêu thụ một đơn vị sản phẩm (p);

Trang 35

+ Sản lượng tiêu thụ (Q).

+ Tham số biến đổi

+ Giá trị của đầu vào và đầu ra biến đổi, phụ thuộc vào sự thay đổi của haitham số dưới đây: Giá cả và số lượng

Hai tham số này thay đổi đồng thời hoặc không đồng thời; có nghĩa là haibiến số cùng thay đổi hoặc chỉ có 1 trong 2 biến số thay đổi

Sự thay đổi về khả năng sinh lời:

+ Được đo lường bởi sự thay đổi giá trị của các chỉ tiêu NPV, IRR hoặc cácchỉ tiêu sinh lời khác

+ Biên độ dao động của các chỉ tiêu trên được phân tích tương ứng với sựbiến thiên giá trị đầu vào và đầu ra ở 3 trạng thái:

* Trạng thái bình thường: như đã dự tính ban đầu;

* Trạng thái bi quan: Tăng ở đầu vào hoặc giảm ở đầu vào;

* Trạng thái lạc quan: Giảm ở đầu vào hoặc tăng ở đầu ra;

+ Trong phân tích rủi ro, trạng thái bi quan cần được quan tâm

Nguyên tắc phân tích:

Bản chất của phân tích độ nhạy là nhằm xác định bổ sung các chỉ tiêu đánhgiá khả năng sinh lời của dự án đầu tư phụ thuộc vào sự biến đổi của một hoặcmột số các thành phần thuộc đầu vào và đầu ra trong điều kiện bất định xảy ra ởtương lai

Kỹ thuật phân tích các chỉ tiêu đo lường khả năng sinh lời (NPV,IRR và cácchỉ tiêu khác) là tương tự như các phương pháp đã trình bày ở các nội dung trên;nhưng với sự thay đổi về giá trị của chi phí hàng năm hoặc lợi ích hàng năm

Phạm vi áp dụng:

Phân tích độ nhạy được áp dụng để đánh giá độ rủi ro dài hạn của dự án đầu

tư khi dự tính có sự biến động lớn một số thành phần đầu vào quan trọng như:Nguyên vật liệu, bán thành phẩm, giá thuê nhân công Việc phân tích độ nhạyđược thực hiện thuận lợi với việc ứng dụng chương trình phần mềm EXCEL trênmáy tính

Ưu điểm của phân tích độ nhạy:

Phân tích độ nhạy là một quy trình rất hữu ích để nhận diện các biến số mànhững thay đổi của chúng có thể gây tác động lớn đến NPV của một dự án Nó chophép người ra quyết định tính toán được những hậu quả của sự ước tính sai lầm vàảnh hưởng của chúng đối với NPV Bởi vậy qua trình này nhấm mạnh sự cần thiết

Trang 36

phải cải tiến phương pháp đánh giá và tiến hành những hoạt động nhằm giảm tínhkhông chắc chắn liên quan đến những biến số chủ yếu.

Nhược điểm của phân tích độ nhạy:

Các giá trị của biến số được đưa ra dựa trên những phán đoán mang tính chủquan rất cao Mặc du người ta có thể biện luận rằng mức độ kỳ vọng được nhậnxét là rất tốt, song rõ ràng là cần phải đánh giá các biến số dưới trạng thái hai cựccộng thêm phần ước lượng chủ quan để phân tích

Sự phân tích khảo sát độ nhạy của NPV với nhiều biến số khác nhau, mỗibiến số tại một thời điểm, bỏ qua mối quan hệ bên trong giữa các biến số khichúng cùng tác động vào một đối tượng Chẳng hạn, sự cạnh tranh có thể gây ra sựgiảm sút số lượng đơn vị hàng bán cũng như làm giảm giá bán Bởi vậy, khi phântích cần phải điều chỉnh tuỳ theo những dự báo bi quan và lạc quan chỉ rõ viễncảnh mà trong đó mức kết hợp của tất cả các biến số liên quan được dự báo

Những kết quả về phân tích độ nhạy không đem lại cho người ra quyết địnhmột giải pháp rõ ràng đối với vấn đề lựa chọn dự án

1.3.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thẩm định tài chính dự án

Chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư bị chi phối bởi nhiêu nhân tố,song có thể phân chia thành nhân tố chủ quan và nhân tố khách quan Nhân tố chủquan là nhân tố thuộc về nội bộ ngân hàng mà ngân hàng có thể kiểm soát, điềuchỉnh Nhân tố khách quan là những nhân tố bên ngoài môi trường tác động tới nó,chỉ có thể khắc phục để thích nghi Việc xem xét, đánh giá các nhân tố đó là rấtcần thiết đối với ngân hàng trong việc đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao chấtlượng thẩm định tài chính dự án

Nhân tố chủ quan:

 Năng lực, kiến thức, kinh nghiệm của cán bộ thẩm định

Con người đóng vai trò quan trọng mang tính chất quyết định đến chất lượngthẩm định tài chính dự án nói riêng và chất lượng thẩm định dự án nói chung Kếtquả thẩm định tài chính dự án là kết quả của quá trình đánh giá dự án về mặt tàichính theo nhận định chủ quan của con người bởi vì con người là chủ thể trực tiếp

tổ chức và thực hiện hoạt động tài chính theo phương pháp và kỹ thuật của mình.Mọi nhân tố khác sẽ không có ý nghĩa nếu như cán bộ thẩm định không đủ trình

độ và phương pháp làm việc khoa học và nghiêm túc, sai lầm của con người trongquá trình thẩm định tài chính dự án dù vô tình hay cố ý đều dẫn đến những hậuquả nghiêm trọng ảnh hưởng đến tài sản của ngân hàng gây cho ngân hàng nhiềukhó khăn trong việc thu hồi nợ, nguy cơ mất vốn và suy giảm lợi nhuận kinhdoanh là không tránh khỏi

Trang 37

Thẩm định tài chính dự án là một công việc hết sức phức tạp, tinh vi nókhông đơn giản chỉ là việc tính toán theo nhưng công thức cho sẵn đòi hỏi cán bộthẩm định phải hồi tụ được các yếu tố: kiến thức, kinh nghiệm, năng lực và phẩmchất đạo đức Kiến thức đó là sự am hiểu chuyên sâu về nghiệp vụ chuyên môn và

sự hiểu biết rộng về các lĩnh vực trong đời sống khoa học - kinh tế - xã hội Kinhnghiệm của cán bộ thẩm định cũng có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình thẩm định,những tích luỹ trong hoạt động thực tiễn như tiếp xúc với khách hàng, khảo sát nơihoạt động của doanh nghiệp, phân tích các báo cáo tài chính sẽ giúp cho cácquyết định của cán bộ thẩm định chính xác hơn Năng lực là khả năng nắm bắt và

xử lý công việc trên cơ sở kiến thức và kinh nghiệm Ngoài 3 yếu tố trên, cán bộthẩm định phải có tính kỷ luật cao, phẩm chất đạo đức, lòng say mê và khả năngnhạy cảm trong công việc Nếu cán bộ thẩm định không có phẩm chất đạo đức tốt

sẽ ảnh hưởng xấu đến quan hệ giữa khách hàng và ngân hàng làm mất uy tín củangân hàng, đưa ra những nhận xét đánh giá thiếu tính khách quan, minh bạch làm

cơ sở cho việc quyết định cho vay của ngân hàng Kết quả thẩm định tài chính dự

án là công việc của cá nhân nhưng nó ảnh hưởng đến tình hình tài chính của cảngân hàng, đặc biệt là những dự án lớn đòi hỏi vốn nhiều và thời gian kéo dài, do

đó cán bộ thẩm định phải có tính kỷ luật cao và lòng nhẫn nại, tuân thủ quy trìnhthẩm định mà ngân hàng đề ra và có những sáng tạo trong quá trình thẩm định Sựhội tụ các yếu tố trên sẽ là cơ sơ tiền đề cho những quyết định đúng đắn của cán

bộ thẩm định tài chính dự án, từ đó giúp ngân hàng lựa chọn những dự án tối ưuđảm bảo khả năng trả nợ của các chủ dự án theo đứng thoả thuận giữa hai bên.Trong xu thế phát triển như hiện nay, dự án đầu tư không chỉ giới hạn trongphạm vi của các doanh nghiệp trong nước mà nó có sự liên doanh liên kết với cácđối tác nước ngoài thì vấn đề nâng cao trình độ của cán độ thẩm định là cấp bách

và phải được ưu tiên

 Thông tin thu thập phục vụ cho quá trình thẩm định

Trong thời đại bùng nổ thông tin như hiện nay, việc thu thập những thông tin

về khách hàng phục vụ cho quá trình thẩm định không phải là vấn đề khó khăn màlàm sao để các nguồn thông tin thu thập được phải đảm bảo đầy đủ, chính xác vàkịp thời Việc lấy tài liệu, thông tin ở đâu với số lượng bao nhiêu phải được cânnhắc tính toán thận trọng trước khi tiến hành phân tích, đánh giá dự án Thông tin

mà ngân hàng có thể thu thập từ rất nhiều nguồn khác nhau:

Từ khách hàng xin vay vốn: Ngân hàng căn cứ vào hồ sơ dự án do chủ đầu tưgửi đến, phỏng vấn trực tiếp người xin vay vốn, điều tra nơi hoạt động kinh doanhcủa người xin vay vốn, các báo cáo tài chính Trong đó nguồn thông tin từ hồ sơ

dự án là nguồn thông tin cơ bản nhất

Trang 38

Từ trung tâm tín dụng của NHNN như sổ sách của các ngân hàng mà kháchhàng vay vốn đã từng có quan hệ để thấy được năng lực vay nợ, uy tín của kháchhàng.

Từ các nguồn thông tin bên ngoài về tín dụng

Thông tin chính là nguồn nguyên liệu chính phục vụ cho quá trình tác nghiệpcủa cán bộ thẩm định Do đó, số lượng cũng như chất lượng và tính kịp thời củathông tin có tác đông rất lớn đến chất lượng thẩm định Nếu thông tin không chínhxác thì mọi quá trình thẩm định từ đầu cho đến cuối đều không có ý nghĩa cho dùchúng ta sử dụng các phương pháp hiện đại như thế nào, thông tin chính xác làđiều kiện để đưa ra những đánh giá đúng Thông tin thiếu, không đầy đủ dẫn đếnchất lượng thẩm định không tốt hoặc không thẩm định được, nhất là những thôngtin không cân xứng có thể dẫn tới lựa chọn đối nghịch, gây rủi ro cho ngân hàng

Do đó, việc thu thập thông tin từ nhiều nguồn có liên quan đến dự án là rất cầnthiếu, tuy nhiên khái niệm đầy đủ chỉ mang nghĩa tương đối Vấn đề là các nguồnthông tin phải đẩm bảo độ tin cậy, có ý nghĩa quyết định Trong môi trường cạnhtranh như hiện nay, thì tính kịp thời của các nguồn thông tin thu thập được có ảnhhưởng không nhỏ đến chất lượng thẩm định, sự chậm trễ của thông tin làm ảnhhưởng không tốt trong mối quan hệ giữa khách hàng với ngân hàng, nhất là kháchhàng truyền thống và có thể làm mất cơ hội tài trợ cho một dự án tốt

Ngoài ra, bên cạnh việc có được các nguồn thông tin đầy đủ, chính xác vàkịp thời thì việc lựa chọn phương pháp xử lý, lưu trữ và sử dụng các thông tin đóđúng mục đích cũng cần được quan tâm

Như vậy, thông tin có vai trò rất quan trọng trong quá trình thẩm định tàichính dự án, song để có thể thu thập, xử lý, lưu trữ thông tin một cách có hiệu quảcần phải có các trang thiết bị và các phần mền hỗ trợ

 Phương pháp và tiêu chuẩn thẩm định

Trên cơ sở các thông tin đễ thu thập được thì việc lựa chọn phương phápthẩm định cũng rất quan trọng Đó là việc lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá, cách thức

xử lý thông tin một cách khoa học, tiên tiến, phù hợp với từng dự án cụ thể giúpcho cán bộ thẩm định phân tích, tính toán hiệu quả tài chính dự án nhanh chóng,chính xác, dự báo các khả năng có thể xảy ra trong tương lai để tránh được các rủiro

Mỗi dự án có những đặc thù nhất đinh, không phải bất cứ dự án nào cũng ápdụng được các tất cả các chỉ tiêu trong hệ thống thẩm định, do đó việc lựa chọnphương pháp và các chỉ tiêu làm sao đánh giá được tính khả thi về mặt tài chínhcủa dự án cũng như tính khả thi về khả năng trả nợ ngân hàng Phương pháp thẩmđịnh phải mang đầy đủ nội dung đề cập đến tất cả các vấn đề tài chính có liên quan

Trang 39

đứng trên góc độ ngân hàng Với những phương pháp thẩm định tài chính tronggiai đoạn hiện nay sẽ giúp cho quá trình thẩm định được thuận lợi, chính xác vàtoàn diện hơn.

Trong quá trình thẩm định việc lựa chọn tiêu chuẩn để đánh giá hiệu quả tàichính của dự án đầu tư cũng rất quan trọng Việc tính toán đến giá trị thời gian củatiền trong các tiêu chuẩn thẩm định tài chính dự án là cực kỳ quan trọng Tiền cógiá trị về mặt thời gian, đồng tiền hôm nay có giá trị khác ngày mai, nhiều dự án

có khả thi và hiệu quả khi không xét đến giá trị thời gian của tiền nhưng khi xétđến giá trị thời gian của tiền thì lại không có hiệu quả về mặt tài chính Ngoài ra,việc lựa chọn tỷ lệ lãi suất chiết khấu thích hợp là vấn đề cực kỳ quan trọng

 Hệ thống trang thiết bị phục vụ cho quá trình thẩm định

Với việc phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin như hiện này đã tạođiều kiện cho các ngân hàng ngày càng hoàn thiện hệ thống thông tin phục vụ đắclực cho công tác chuyên môn của mình Bằng hệ thống máy tính hiện đại và cácphần mền chuyên dụng đã giúp cho công tác thẩm định tài chính dự án diễn rathuận lợi hơn, với việc tính toán các chỉ tiêu được nhanh chóng, chính xác chỉtrong tích tắc rút ngắn thời gian thẩm định dự án Chỉ trong thời gian ngắn máytính có thể xử lý lưu trữ được một khối lượng thông tin khổng lồ, với khả năng nốimạng như hiện nay thì việc truy cập để tìm kiếm những thông tin cần thiết phục vụcho thẩm định dự án là rất đơn giản và nhanh chóng giúp cho ngân hàng tiết kiệmđược rất nhiều chi phí Với việc ứng dụng các phầm mền chuyên dụng đã giúp chocán bộ thẩm định giải quyết được những vấn đề tưởng trừng không thể làm được

Từ đó, chất lượng thẩm định ngày càng được nâng cao

 Tổ chức công tác thẩm định

Công tác thẩm định là nghiệp vụ đòi hòi tập hợp của nhiều hoạt động khácnhau, liên kết chặt chẽ với nhau đòi hỏi có một sự phân công, sắp xếp, quy địnhquyền hạn và trách nhiệm của các cá nhân, bộ phận tham gia thẩm định, trình tựtiến hành cũng như mối liên hệ giữa các cá nhân và các bộ phận trong quá trìnhthực hiên Việc tổ chức điều hành công tác thẩm định tài chính dự án nếu được xâydựng khoa học, chặt chẽ, phát huy được năng lực, sức sáng tạo của từng cá nhân

và sức mạnh tập thể tạo thành một hệ thống đồng bộ sẽ nâng cao chất lượng thẩmđịnh tài chính dự án Đồng thời, ngân hàng phải có cơ chế kiểm tra, giám sát chặtchẽ quá trình thẩm định đối với từng cá nhân và bộ phận thẩm định Tuy nhiên,các quy định trên không được cứng nhắc, gò bó mất đi tính chủ động, sức sáng tạocủa từng cá nhân làm giảm chất lượng thẩm định dự án

Nhân tố khách quan :

Trang 40

Thẩm định dự án nói chung và thẩm định tài chính dự án nói riêng bị chiphối bởi nhiều nhân tố khách quan, đó là những nhân tố bên ngoài tác động vào dự

án làm cho chất lượng thẩm định tài chính dự án bị giảm sút Các dự án thường cótuổi thọ dài, do đó rủi ro mà các nhân tố khách quan mang lại là rất khó dự báonhư: tình hình kinh tế, chính trị, các cơ chế chính sách pháp luật của nhà nước

mà các nhân tố này luôn luôn thay đổi và nằm ngoài sự kiểm soát của ngân hàng

và chủ dự án

Một nền kinh tế của một quốc gia phát triển thiếu đồng bộ, không ổn định,chưa phát triển sẽ hạn chế trong việc cung cấp những thông tin chính xác phục vụcho việc thẩm định Đồng thời những định hướng, chính sách, chiến lược pháttriển kinh tế, xã hội theo vùng, lãnh thổ, ngành chưa được xây dựng cụ thể, đồng

bộ và ổn định cũng là một yếu tố gây rủi ro trong phân tích, đánh giá và đi đếnchấp nhận dự án Nhiều yếu tố nằm ngoài tầm dự báo của ngân hàng như: thiên tai,chiến tranh, dịch bệnh làm cho ngân hàng không thể thu hồi được vốn bởi vì rủi

ro này ảnh hưởng nghiêm trọng đến dự án và doanh nghiệp không thể chống đỡđược

Môi trường pháp lý với những khiếm khuyết, những sự thiếu đồng bộ, thiếuhiệu lực của các văn bản pháp lý, chính sách quản lý của nhà nước đều tác độngxấu đến chất lượng thẩm định tài chính dự án cũng như kết quả hoạt động của dự

án Các dự án thường có thời gian kéo dài và thường liên quan đến nhiều văn bảnluật, dưới luật về các lĩnh vực như: các văn bản về quản lý tài chính trong cácdoanh nghiệp, các văn bản về thuế, luật doanh nghiệp Bới vậy nếu các văn bảnluật này không có tính ổn định trong thời gian dài cũng như không rõ ràng, minhbạch, chồng chéo sẽ làm thay đổi tính khả thi của dự án theo thời gian, cũng nhưgây khó khăn cho ngân hàng trong việc phân tích, đánh giá các chỉ tiêu hiệu quả,

dự báo rủi ro, làm đảo lộn mọi con số tính toán ảnh hưởng lợi nhuận của ngânhàng và khả năng thu hồi nợ của ngân hàng

Một nhân tố cũng rất quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng thẩm định tàichính dự án thuộc về phía doanh nghiệp (chủ dự án) đó là hồ sơ dự án mà chủ dự

án trình lên ngân hàng Như vậy năng lực lập, thẩm định và thực hiện dự án củachủ đầu tư yếu kém sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng thẩm định của ngânhàng như thời gian phân tích, đánh giá, thu thập thông tin, tính toán kéo dài Nhiềukhi hồ sơ dự án chủ đầu tư trình quá sơ sài, thiếu sức thiếu phục do năng lực quáyếu kém đã khiến ngân hàng không thể chấp nhận được, nhất là đối với các doanhnghiệp Việt Nam khi mà khả năng quản lý tài chính và tiềm lực tài chính rất hạnchế, rủi ro dự án đi vào hoạt động không hiệu quả như dự kiến là rất lớn Bên cạnh

đó, tính trung thực của nguồn thông tin mà chủ dự án cung cấp cho ngân hàng

Ngày đăng: 18/07/2013, 10:57

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Thẩm định tình hình tài chính của chủ đầu tư: - Giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án tại  Ngân hàng Đại Tín- Chi nhánh Bà Triệu Hà Nội
h ẩm định tình hình tài chính của chủ đầu tư: (Trang 12)
Nhiệm vụ của Ban là kiểm tra, giám sát tình hình hoạt động của các đơn vị thuộc hệ thống TRUSTBank về sự tuân thủ pháp luật, các quy định pháp lý của ngành ngân hàng và các quy chế, thể lệ, quy trình nghiệp vụ của Ngân hàng Đại Tín - Giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án tại  Ngân hàng Đại Tín- Chi nhánh Bà Triệu Hà Nội
hi ệm vụ của Ban là kiểm tra, giám sát tình hình hoạt động của các đơn vị thuộc hệ thống TRUSTBank về sự tuân thủ pháp luật, các quy định pháp lý của ngành ngân hàng và các quy chế, thể lệ, quy trình nghiệp vụ của Ngân hàng Đại Tín (Trang 45)
2.1.3.1 Tình hình nguồn vốn. - Giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án tại  Ngân hàng Đại Tín- Chi nhánh Bà Triệu Hà Nội
2.1.3.1 Tình hình nguồn vốn (Trang 47)
2.1.3 Tình hình hoạt động kinh doanh của Ngân hàng - Giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án tại  Ngân hàng Đại Tín- Chi nhánh Bà Triệu Hà Nội
2.1.3 Tình hình hoạt động kinh doanh của Ngân hàng (Trang 47)
-Theo loại hình tiền gửi, số dư tiền gửi thanh toán đạt 2.530 tỷ đồng, tăng 1.284 tỷ đồng, tốc độ tăng 103% so với đầu năm, chiếm tỷ trọng 55%; Số dư tiền gửi tiết kiệm (bao gồm kỳ phiếu) đạt 2.104 tỷ đồng, tăng 1.334 tỷ đồng, tốc độ tăng 173% so với đầu  - Giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án tại  Ngân hàng Đại Tín- Chi nhánh Bà Triệu Hà Nội
heo loại hình tiền gửi, số dư tiền gửi thanh toán đạt 2.530 tỷ đồng, tăng 1.284 tỷ đồng, tốc độ tăng 103% so với đầu năm, chiếm tỷ trọng 55%; Số dư tiền gửi tiết kiệm (bao gồm kỳ phiếu) đạt 2.104 tỷ đồng, tăng 1.334 tỷ đồng, tốc độ tăng 173% so với đầu (Trang 48)
Tình hình sử dụng vốn huy động để cho vay giai đoạn 2007-2009 - Giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án tại  Ngân hàng Đại Tín- Chi nhánh Bà Triệu Hà Nội
nh hình sử dụng vốn huy động để cho vay giai đoạn 2007-2009 (Trang 51)
Mục II. Đánh giá tình hình hoạt động chung của ngành nghề kinh doanh: - Giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án tại  Ngân hàng Đại Tín- Chi nhánh Bà Triệu Hà Nội
c II. Đánh giá tình hình hoạt động chung của ngành nghề kinh doanh: (Trang 65)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w