Phụ nữ trên toàn thế giớingày nay đã được giải phóng khỏi nhiều công việc nặng nhọc và những ràngbuộc hà khắc của những tập quán cố hủ, lạc hậu trong xã hội truyền thống.Cùng với sự chấp
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y Dược THÁI BÌNH
PGS.TS Ninh Văn Minh
Trang 3Lời đầu tiên tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Quản lýđào tạo Sau đại học, Khoa Y tế công cộng cùng các thầy, cô giáo cùa TrườngĐại học Y Dược Thái Bình đã tận tình hướng dẫn và tạo điều kiện thuận lợi
để tôi hoàn thành khoá học
Xin trân trọng cảm ơn NGND, PGS.TS Phạm Văn Trọng, TrưởngKhoa Y tế công cộng, PGS.TS Ninh Văn Minh, Trưởng Bộ môn Sản -Trường Đại học Y Dược Thái Bình, những người Thầy đã trực tiếp và tận tínhhướng dẫn, giúp đõ lôi trong hoàn thành luận án tót nghiệp này
Xin chân thành cảm ơn các đồng chí Lãnh đạo, các cán bộ, công chức,viên chức của Sở Y tế, Bệnh viện đa khoa tỉnh, Trung tâm Chăm sóc Sức khỏesinh sản tỉnh Sơn La, Trung tâm Y tế thành phố Sơn La; cán bộ y tế xã và cácnhân viên y tế bản thuộc Trạm Y tế xã Hua La, Chiềng Xôm, Chiềng Đennhững người đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện và hoàn thành đềtài của luận án này
Xin được cảm ơn các bạn bò cùng lớp Bác sỹ chuyên khoa cấp II,
chuyên ngành Quản lý y tế, những người đã luôn bèn tôi chia sẻ kinh nghiệmhọc tập, động viên, khuyến khích tôi trong học tập và công tác
Trang 5TrangDANH MỤC CHỮ VIẾT
Trang 6Bảng 3.27 Tỷ lệ phụ nữ có vân đê sức khỏe trong vòng 1 tháng sau NHT 52Bảng 3.28 So sánh những vấn đề sức khỏe của 2 nhóm nghiên cứu sau NHT
Bảng 3.24 Địa điểm phụ nữ đã chọn để NHT 49Bảng 3.25 Tỷ lệ đối tượng bị tai biến tức thì trong quá trình NHT 56Bảng 3.26 Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu bị biến chưng sau NHT 2 tuần 57
f \
Trang 7Biếu đồ 3.1 Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu được phỏng vấn của 3 xã nghiên cứu 33Biếu đồ 3.2 Tỷ lệ đối tượng sử dụng biện pháp tránh thai trước khi NHT 40
Trang 8Đồng thời với sự tăng trưởng mạnh về kinh tế, đời sống chính trị, xãhội cải thiện, phụ nữ và trẻ em trên toàn thế giới ngày càng được quan tâmnhiều hơn Phong trào giải phóng phụ nữ, giảm nhẹ mọi gánh nặng cho phụ
nữ, ngày càng thu được những thành tựu to lớn Phụ nữ trên toàn thế giớingày nay đã được giải phóng khỏi nhiều công việc nặng nhọc và những ràngbuộc hà khắc của những tập quán cố hủ, lạc hậu trong xã hội truyền thống.Cùng với sự chấp nhận trên là các biện pháp tránh thai (BPTT) ngày càngđược nhiều người sử dụng song tình hình nạo hút thai tăng hay giảm thường
tỷ lệ thuận với việc thất bại trong sử dụng các biện pháp tránh thai Trongthực tế, hiệu quả của việc sử dụng các BPTT hoàn toàn phụ thuộc vào kiếnthức, thái độ, hành vi của các cặp vợ chồng, của các cán nhân trong độ tuổisinh đẻ, hiểu biết càng cao thì tỷ lệ NHT càng thấp
Tổ chức Y tế thế giới đánh giá Việt Nam là nước có tỉ lệ phá thai caonhất châu Á và là một trong 5 nước có tỉ lệ phá thai cao nhất trên thế giới[64], Theo báo cáo của Daniel Goodkind năm 1994 tổng tỷ suất phá thai là2,5 - nghĩa là mỗi phụ nữ Việt Nam đã phải trải qua 2,5 lần trong cả cuộc đờisinh đẻ cùa mình Theo kết quả điều tra Y tế quốc gia 2001-2002 gần 12%phụ nữ đang có chồng đã từng phá thai trong 5 năm qua Phá thai thực sự làmột thách thức lớn nhất mà Việt Nam đang phải đối mặt trong lĩnh vực chămsóc sức khỏe sinh sản (SKSS), mặc dù tỷ lệ áp dụng các biện pháp tránh thaingày càng tăng [16], [17]
Trang 9Nạo hút thai có thể gây nên những tai biến sớm ngay sau khi tiến hànhthủ thuật hoặc một thời gian nhiều năm sau đó Tai biến NHT gây ảnh hưởngtới sức khỏe phụ nữ như làm tăng nguy cơ vô sinh, sấy thai, thai ngoài tửcung, thủng tử cung Thậm chí tử vong; Phá thai làm tăng bệnh suất và tửsuâtcho bà mẹ, ảnh hưởng nghiêm trọng đên sức khỏe sinh sản, đên châtlượng cuộc sống của người phụ nữ đặc biệt là các phụ nữ chưa có con; nó còn
để lại những chấn thương tâm lý rất nghiêm trọng như tình trạng trầm uất, suysụp với cám giác tội lồi Phá thai có nhiều tai biết như chảy máu, choáng,thủng tử cung, nhiễm trùng, vô sinh NHT không an toàn là một trong nhữngnguyên nhân gây tử vong mẹ, trung bình là 13%, và có thế lên tới 50% ở một
số nước [4],
Dịch vụ NHT được tiến hành trong cả nước, từ bệnh viện tuyến tỉnh,huyện, các phòng khám đa khoa khu vực Thủ thuật hút thai còn được thựchiện ở cả một số trạm y tế xã nếu ở trạm y tế đó có đủ trang thiết bị và nhânviên được đào tạo [22],
Nạo hút thai là một trong những vấn đề liên quan đến sức khỏe đượccộng đồng toàn thế giới quan tâm theo dõi Tuy nhiên nghiên cứu về thựctrạng và ảnh hưởng cùa NHT tới sức khỏe phụ nữ hiện vẫn còn ít Tại thànhphố Sơn La, tỉnh Sơn La chưa có một đề tài nghiên cứu nào về vấn đề này
Từ những lý do nêu trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài
“Thực
trạng và ảnh hưởng của nạo hút thai tới sức khỏe phụ nữ có chồng tại 3 xã thuộc thành phố Sơn La năm 2013 ” với 2 mục tiêu:
Trang 10MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU:
1 Mô tả thực trạng nạo hút thai và quản lý nạo hút thai ở phụ nữ cóchồng tại 3 xã thuộc thành phố Sơn La, tinh Sơn La năm từ tháng 3 năm 2013đến tháng 8 năm 2014
2 Xác định một sổ yếu tố liên quan tới nạo hút thai và ảnh hưởng củanạo hút thai tới sức khỏe của phụ nữ tại địa bàn nghiên cửu
Trang 11G 1 TÓNG QUAN
Tinh trạng nạo phá thai hiện nay là một vấn đồ nhức nhối với nhiềuquốc gia trên thế giới Nạo phá thai không còn là chuyện riêng của mồi người
mà nó được coi là hành động phi đạo đức, thậm chí cao hơn là tội ác giếtngười Rất nhiều quốc gia đã ban hành luật chống nạo phá thai Nhưng trcnthực tế, số liệu về những ca nạo phá thai vẫn không có dấu hiệu khả quan [64],
Xã hội càng phát triển, con người càng trở nên lạnh lùng với sự sống.Việc giới trẻ sống thử, quan hệ tình dục trước hôn nhân, có thai, phá thai trởthành một vòng tròn khép kín giống nhau ở khá nhiều người Họ quan niệmràng thai nhi chưa là người nên không có quyền con người Lối suy nghT đó
đã khiến cho hàng triệu sinh linh bé nhỏ bị tước đoạt đi quyền sống khi chưanhìn thấy ánh mắt trời
Tình trạng nạo phá thai không chỉ diễn ra ở các nước nghèo mà ngay cảnhững nước kinh tế phát triển, vấn nạn này cũng ngày một gia tăng Ở TrungQuốc, theo con số thống kê của nước này vào năm 2009, trung bình mỗi năm
có tới 13 triệu ca nạo, phá thai Nhưng những nhà chức trách khẳng định rằng,trên thực tế con số này có thể lớn hơn rất nhiều vì không ai có thể kiểm soátđược hết những người uống thuốc phá thai tại nhà hoặc đến các cơ sở chui đểnạo, phá thai
Trang 12Theo số liệu của Liên Hợp Quốc, cứ 1000 người phụ nữ trong độ tuổisinh đẻ ở Trung Quốc thì có tới 24 người nạo phá thai Kinh khủng hơn, cũngtiêu chí này, ti lệ ở Nga là 50 người trên 1000 người [40].
Trang 13Với Hàn Quốc, đất nước có luật chống phá thai, tỉ lệ phá thai cũngkhông phải là nhỏ Theo Bộ Y tế an sinh xã hội Hàn, có tới 342.433 vụ pháthainăm 2005 Theo nghiên cứu năm 2012, sô ca phá thai tính tới năm
2010 ở Hàn Quốc đã giảm xuống còn 160.000 ca Tuy nhiên, con sổ nàykhông phải là dấu hiệu khả quan Lí do vì Hàn Quốc là đất nước quy địnhphá thai là hành vi phạm tội, có thể bị bắt đi tù nên nhiều người đã ra nướcngoài để làm việc này [40],
Theo số liệu của Tổng cục dân số kế hoạch hóa gia đình Việt Nam, ở
Mỹ gần nửa số phụ nừ có thai là ngoài ý muốn và trung bình cứ 10 trườnghợp có thai ngoài ý muốn thì có đến 4 trường hợp kết thúc bằng phá thai 20%tổng số phụ nữ có thai (không tính sẩy thai) kết thúc bằng phá thai [31 ]
Cũng theo công bố này, 40% phụ nữ da trắng, 69% phụ nữ da đen và54% phụ nữ gốc Tây Ban Nha có thai ngoài ý muốn Năm 2008, có 1,21 triệu
ca phá thai được thực hiện, giảm từ 1,31 triệu ca năm 2000 Tuy nhiên, trongcác năm 2005 đến 2008, tình trạng phá thai giám chậm Điều đáng buồn làhầu hết những người phá thai đều là những cô gái còn rất trẻ Và những hậuquả phía sau lần “chối bỏ quyền làm mẹ” đó là cả một bi kịch kéo dài [31]
1.1 Tình hình nạo hút thai trên thế giói
Ngày nay, vấn đề NHT đã trở thành mối lo ngại của nhiều quốc gia vànhiều tổ chức quốc tế bởi chính những tai biến của nó đối với sức khóe vàtính mạng của phụ nữ Hakajima Tổng giám đốc của Tổ chức Y tế thế giới đãcảnh báo những nguy hiểm của phụ nữ mang thai khi kết thúc thai nghén, kể
cả những người NHT không an toàn rằng: “Hàng trăm phụ nữ có thai, hômqua vẫn còn sống và nhìn thấy ánh sáng hoàng hôn, nhưng không bao giờ còn
Trang 14được nhìn thấy ánh sáng bình minh của ngày hôm sau”, số thì bị chết trongchuyến dạ vì đẽ khó do khung chậu hẹp và biến dạng Một sổ bị chết ngay trênbàn do NHT không an toàn trong những nồ lực để kết thúc thai nghén ngoài ýmuốn [47], [52], [55].
Trang 15Có người thì chêt ngay tại bệnh viện do không có máu truyên đê điêutrị chảy máu nặng Một số khác bị chết trong những cơn co giật vô cùng đađớn của chứng sản giật, hoặc còn quá trẻ đế chuyền dạ sinh con lần đầu màthiếu các dịch vụ chăm sóc thai nghén Đó là những phụ nữ ở châu Á, châuPhi, châu Mỹ la tinh, ngay trong thời đại ngày nay [55].
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ước tính hàng năm trên thế giới cókhoảng 500.000 phụ nữ chết đó là do tai biến NHT Hơn nữa, 98% chết mẹxảy ra ở các nước đang phát triển, nơi những nguy cơ chết do thai nghén đượccộng hưởng với sự đê nhiều, đỏ dày, mang thai nhiều lần, sự hạn chế của điềukiện kinh tế - xã hội và các điều kiện chăm sóc sức khỏe [55], [64],
Thảm họa về chết mẹ là sự thật nhưng vần có thể phòng chống đượcnếu có sự quản lý đúng đắn, cung cấp các dịch vụ NHT an toàn, các điều kiệntiếp cận dịch vụ, điều trị tai biến NHT và tiếp cận dịch vụ tránh thai thuận lợi
Vì vậy WHO ycu cầu chính phú các nước xem xét tác động của việcNHT không an toàn đến sức khỏe phụ nữ, giảm nhu cầu NHT qua các chươngtrình kế hoạch hóa gia đình mớ rộng và tạo khuân khổ pháp luật cho NHTtrên cơ sở sức khỏe và phúc lợi cho phụ nữ [43]
Hằng năm trên thế giới có khoảng 45 triệu ca NHT, trong đó có khoảng
20 triệu ca NHT không an toàn gây ra khoảng 67000 trường hợp tử vong vànhiều phụ nữ bị các tai biến muộn như viêm nhiễm đường sinh sản, suy giảmsức khỏe hoặc vô sinh Tỷ xuất NHT khoảng 35%0 phụ nữ ở độ tuổi từ 15-49[42], Trên thế giới pháp luật quy định về NHT rất khác nhau giữa các nước,
có nước cấp hoàn toàn, có nước coi đó là quyền cùa phụ nữ mang thai Hiệnnay có khoảng 150 nước cho nạo phá thai là hợp pháp [43]
Trang 16Nghiên cứu tại 132 nước ớ Châu phi, Châu Á, Châu úc, Châu Âu, Bấc
Mỹ và Nam Mỹ, pháp luật cho phép NHT theo các lý do khác nhau:
Trang 17Lý do đế cứu sống phụ nữ có 53 nước gồm: Châu Phi 21 nước, Châu Á
và Châu Úc 16 nước, Châu Âu 2 nước, Bắc Mỹ 8 nước và Nam Mỹ 6 nước
Lý do về sức khỏe bà mẹ có 42 nước gồm: Châu Phi 18 nước, Châu Á
và Châu Úc 12 nước, Châu Âu 5 nước, Bắc Mỹ 3 nước và Nam Mỹ 4 nước
Lý do xã hội và y học có 14 nước gồm: Châu Phi 2 nước, Châu Á vàChâu Úc 5 nước, Châu Âu 6 nước, Bắc Mỹ 0 nước và Nam Mỹ là 1 nước
Theo yêu cầu đối tượng có 23 nước gồm: Châu Phi 2 nước, Châu Á vàChâu Úc 4 nước (trong đó có Việt Nam), Châu Âu 13 nước, Bắc Mỹ 4 nước
và Nam Mỹ 0 nước Trong 132 nước NHT được coi là hợp pháp, Châu Phi có
43 nước, Châu Á và Châu úc có 37 nước, Châu Âu có 26 nước, Bắc Mỹ có
15 nước và Nam Mỹ có 11 nước
Nạo hút thai không an toàn là một trong những nguyên nhân gây tửvong mẹ, trung bình là 13%, ở một số nước có thể lên đến 40-50% [55],
Hiện nay NHT có xu hướng giảm nhưng không đáng kế, vẫn ở trongtình trạng báo động, đã trở nên mối lo ngại của nhiều quốc gia, đặc biệt làChâu Á và Châu Phi
Tỷ suất của một số nước Châu Á như: Trung Quốc 6I,5%0 (1983),38,8%0 (1987); Hàn Quốc 6,4%0 (1989); Nhật Bản 14,5%0 (1990): Singapo24,4%0 (1991) [60],
1.2 Tình hình nao hút thai ở Viêt Nam:
• •
Trang 18Tổ chức Y tế Thế giới đánh giá Việt Nam là nước có tỉ lệ phá thai caonhất châu Á và là một trong 5 nước có tỉ lệ phá thai cao nhất trên thế giới[61] Theo báo cáo của Daniel Goodkind năm 1994 tổng tỷ suất phá thai là2,5 - nghĩa là mỗi phụ nữ Việt Nam đã phái trải qua 2,5 lần trong cả cuộc đờisinh đẻ của mình Theo kết quả điều tra Y tế quốc gia 2001-2002 gần 12%phụ
nữ đang có chông đã từng phá thai trong 5 năm qua Phá thai thực sự làmột thách thức lớn nhất mà Việt Nam đang phải đối mặt trong lĩnh vực chămsóc sức khỏe sinh sản (SKSS), mặc dù tỷ lệ áp dụng các biện pháp tránh thaingày càng tăng [16], [17]
Theo điều tra DHS 1997 phụ nữ nông thôn có tỷ lệ phá thai cao hơnthành thị, điều này được lý giải có thể một phần do sức ép của chương trình
kế hoạch hoá gia đình và sự cung cấp phương tiện tránh thai không được thíchứng Nhưng từ nhũng năm 2000 trở lại đây, số liệu cho thấy xu hướng tỷ lệNPT thành thị lại cao hơn nông thôn, 2001 tỷ lệ phá thai thành thị là 1,7% vànông thôn là 1,2%, tương ứng đến năm 2008 là 1,1% và 0,9% [22]
Trong cuộc điều tra biến động DS-KHHGĐ 2010 của Tổng cục Thống
kê [32] thì lại cho kết quả thấp hơn nhiều Từ năm 2001 đến 2010, tỷ lệ pháthai và hút điều hoà kinh nguyệt của phụ nữ 15-49 tuổi chỉ chiếm 0,7 đến1,7% Trong đó tỷ lệ NHT ở thành thị là 0,8 đến 1,9% có xu hướng cao hơn
so với vùng nông thôn (0,8 đến 1,7%)
Trong số những trường hợp phá thai cho thấy những người có trình độhọc vấn cao có tỷ lệ phá thai cao hơn người có trình độ học vấn thấp Theođiều tra nhân khẩu học và sức khỏe DHS năm 1997, tỷ lệ phá thai trong nhómphụ nữ không đi học chiếm 3%, nhóm có trình độ đại học là 12,9%, tăng hơn
Trang 194 lần Điều tra Y tế Quốc gia 2001-2002 cũng đưa ra kết luận, tỷ lệ phá thaicao nhất ơ nhóm người có trình độ học vấn cao Đây cũng được xem là xuhướng ở các nước đang phát triển Xét về mức sống, nhóm nghèo và cậnnghèo có tỷ lệ phá thai thấp hơn so với các nhóm có mức kinh tế trung bìnhtrớ lên Điều này đặt ra câu hỏi liệu có phải người có trình độ học vấn và thunhập cao hơn thì khả năng chấp nhận việc phá thai cao hơn những người cótrình độ học vấn và thu nhập thấp hơn.
Trang 20Các vùng phía Băc thường cao hơn các vùng phía Nam, ĐB Sông Hông
có tỷ lệ phụ nữ đã nạo thai/hút điều hoà kinh nguyệt trong 5 năm qua là17,8% cao nhất cả nước, thấp nhất là Nam Trung bộ với 2,6%
Điểm đáng chú ý hơn cả là tỷ lệ nạo phá thai ở nhóm tuổi từ 15-24 khácao, trong đó tỷ lệ nạo thai trong tổng số nạo thai/hút điều hoà kinh nguyệt ởnhóm tuổi này là 36,8%, cao hơn hẳn so với 2 nhóm tuổi còn lại, nhóm tuổi từ25-34 là 29,3%, nhóm tuổi từ 35-49 là 29,1% (Báo cáo Y tế 2001-2002).Trong một nghiên cứu của Hội Phụ sản khoa và sinh đẻ có kế hoạch năm
2006 cho biết tỷ lệ phá thai trong nghiên cứu tập trung đông nhất ở lứa tuổi từ20-24 với 64,74%, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng có 20,5% là học sinh, sinhviên đã từng phá thai trong tổng mẫu nghiên cứu Trong một công bố năm
2008 của bệnh viện Phụ sản TƯ cho biết có hơn 31% trong tổng số 154trường họp phá thai từ 17-22 tuần tuổi là đối tượng học sinh, sinh viên [17]
Với tuổi kết hôn trung bình hiện nay là 23,2 ở phụ nữ và 26,6 ớ đàn ông
cùng với tuổi quan hệ tình dục lần đầu có xu hướng giảm dần ( 8 , 6 t u ổ i
t h e o
S A V Y 2 ) thì rõ ràng vị thành niên và thanh niên có một khoảng thời gian
khá
dài mong muốn quan hệ tình dục không mang thai Trong khi đó vấn đề quan
hệ tình dục không an toàn trong thanh, thiếu niên hiện nay lại hết sức đáng longại, điều này làm tăng nguy cơ mang thai ngoài ý muốn cũng như phá thaitrong lứa tuổi này Phân tích số liệu từ điều tra SAVY cho thấy có 79% VTN,
TN quan hệ tình dục lần đầu trước hôn nhân là không an toàn và 71% VTN,
TN không sử dụng bao cao su khi quan hệ
Trang 22Biến chứng của phá thai có thể biểu hiện ngay sau nạo hút hoặc saunày, các biểu hiện có thể là rách, thủng cổ tử cung, băng huyết, sót rau, nhiễmkhuẩn, dính buồng tử cung, chứa ngoài dạ con thậm chí vô sinh Theo thốngkêphá thai là nguyên nhân của 5% sô ca tử vong ở sản phụ Theo điêu tranhân khẩu học và sức khoe sinh sản 1997 ước tính có 32,2% phụ nữ nạo hútthai cho biết là sức khoẻ của họ có bị ảnh hưởng sau khi nạo hút thai Còntrong điều tra Y tế 2001-2002 có chỉ ra chi tiết dấu hiệu bất thường mà phụ nữgặp phải sau phá thai, theo đó 21,4% là đau bụng kèm dịch hôi, 21,0% chảymáu kéo dài, 14,5% sốt Tỷ lệ này cao hơn ở phụ nữ nghèo hơn, trình độ thấphơn, người dân tộc, người theo đạo và ở khu vực nông thôn [ 17].
Cũng theo nguồn điều tra y tế Quốc gia 2001 - 2002 cho thấy, tỷ lệ taibiến sau NHT của phụ nữ người Kinh và Hoa như sau: sốt là 13,4%; chàymáu kéo dài là 21%, đau bụng kèm dịch hôi là 26,7% Trong khi đó tỷ lệ taibiên sau NHT ờ phụ nữ người dân tộc thiểu số như sau: sốt là 19,5%; cháymáu kéo dài là 21,1%, đau bụng kèm dịch hôi là 32,6%
Tỷ lệ tai biến sau NHT của phụ nữ theo đạo Thiên chúa như sau: sốt là20,6%; chảy máu kéo dài là 28,5%, đau bụng kèm dịch hôi là 43,3% Tỷ lệ taibiến sau NHT của phụ nữ theo Phật giáo như sau: sốt là 17,2%; chảy máu kéodài là 33,9%, đau bụng kèm dịch hôi là 34,1%
Tỷ lệ tai biến sau NHT của phụ nữ có mức sống nghèo như sau: sốt là18,3%; chảy máu kéo dài là 25,4%, đau bụng kèm dịch hôi là 32% Tỷ lệ taibiến sau NHT của phụ nữ có mức sống trung binh như sau: sốt là 11,3%; cháymáu kéo dài là 20,3%, đau bụng kèm dịch hôi là 30,6% Tỷ lệ tai biến sauNHT cua phụ nữ có mức sống giầu như sau: sốt là 4,9%; chảy máu kéo dài là
Trang 2316,3%, đau bụng kèm dịch hôi là 18,1% Tỷ lệ xuất hiện sốt, chảy máu kéodài, đau bụng kèm ra dịch hôi sau NHT cúa phụ nữ ở thành thị dao động từ8,2% đến 21,5%, trong khi đó tỷ lệ các tai biên này ở phụ nữ nông thôn là từ16% đến 29,2% [17],
Trang 24Với lứa tuổi VTN, phá thai làm tăng nguy cơ vô sinh ở tuồi trưởngthành và nếu thực hiện tại các cơ sở y tế tư nhân thì nguy cơ cũng cao hơn sovới tại bệnh viện “Nạo hút thai tại các nơi khác bị vô sinh thứ phát gấp 3,7 lầnnạo hút thai tại bệnh viện” Ngoài việc ảnh hưởng đến sức khoe phá thai nócòn ảnh hường đến tâm lý, tinh thần, ảnh hưởng đến kinh tế, việc làm vàhọc tập cùa người phụ nữ Theo những số liệu có được về biến chứng sauphá thai có thế nói tỷ lệ này ở Việt Nam tương đối cao, điều này thể hiệndịch vụ này đang thiếu an toàn ờ Việt Nam Sự chênh lệch về tai biến sauphá thai đặt ra vấn đề cho các nhà quán lý, làm chương trình nên chú ý, đặcbiệt là vấn đề tôn giáo.
1.2.2 Lý do phá thai
1.2.2.1 Chính sách phái triển dân số
Trang 25Việc thực hiện chính sách dân số Việt Nam với việc khuyến khích mồigia đình chỉ nên có từ 1 đến 2 con và khoảng cách sinh nên từ 3-5 năm đã gópphần quan trọng vào nâng cao ý thức của người dân về việc sinh ít con đềnuôi dạy cho tốt Theo báo cáo nghiên cứu của tác giá Bùi Thị Xoa và TrầnĐình Thuận thì số lượng c on, khoảng cách sinh và lựa chọn giới tính thai nhi
có tác động đến phá thai, đáng lưu ý là lý do giới tính chiếm 10,47% Báo cáo
“Nạo hút thai ở Việt Nam: một phân tích về chính sách và thực tiễn” có đưa
ra những số liệu để chứng minh cho cùng nhận định này 70,7% số phụ nữ nạohút thai được hỏi cho biết nguyên nhân nạo hút thai là “không muốn đẻnhiều”, 13,4% “không muốn đẻ dày”, 6,3% “không muốn vi phạm chính sách
2 con”; và chỉ có 1,6% vì lý do “kinh tế khó khăn” ( S ở Y t ế S ơ n L a ,
dù Việt Nam đã nghiêm cấm việc chấn đoán để lựa chọn giới tính thai nhinhưng đây rõ ràng vẫn là một thực tế tồn tại không dề xoá bỏ [34],
1.2.2.2 Nguồn cung cấp và nhu cầu chưa được đáp ứng đầy đủ
Theo kết quả điều tra nhân khấu học và sức khỏe, Việt Nam năm 2002:Nguồn cung cấp các biện pháp tránh thai được phân bố như sau: Khu vực dịch
Trang 26vụ nhà nước chiếm 85,7%, khu vực tư nhân chiếm 13,7%; nguồn khác 0,4%[34],
Tuy đã có nhiều cố gắng vào công tác KHHGĐ đã được nhiều thànhquả trong những năm gần đây, mạng lưới cung cấp dịch vụ chăm sóc sứckhỏe sinh sản và KHHGĐ đã được ngành Y tế và dân số bố trí rộng khắp từtrung ương đến cơ sở, từ thành thị đến nông thôn, từ đồng bằng đến miền núivùng sâu vùng xa Nhiều phương tiện tránh thai được áp dụng có hiệu quả
Số phụ nừ trong đổ tuổi sinh đỏ có nhu cầu KHHGĐ được đáp ứng là93,4%, chỉ số 5,7% có nhu cầu mà không được đáp ứng Có nhu cầu màkhông được đáp ứng cao nhất ớ phụ nữ trẻ (15-49 tuổi: 67%) và phụ nữ sống
ớ vùng tây Nguyên; thấp nhất ớ vùng Đồng bằng sông Hồng (3%) và đồngbàng Sông Cứu Long (4%) [17]
1.2.2.3 Không sử dụng biện pháp tránh thai hoặc sử dụng biện pháp tránh thai thất bại
Theo kêt quả đicu tra nhân khâu học và sức khỏe năm 2002, phụ nừNHT không sử dụng biện pháp tránh thai chiếm 35,6% Khoảng hai phần ba(64%) sổ ca NHT xầy ra trong số phụ nữ vào lúc có thai đang sử dụng biệnpháp tránh thai Hai vấn đề quan trọng đối với chương trình KHHGĐ là tỷ lệngừng sử dụng các biện pháp tránh thai và lý do ngừng sử dụng
Trang 27Tỷ lệ phụ nừ ngừng sử dụng biện pháp tránh thai ở Việt Nam khá thâp,mặc dù đang có su hướng tăng Các số liệu cho thấy có khoáng 25% phụ nữngừng sử dụng biện pháp tránh thai trong vòng 12 tháng kể từ khi sử dụng Tỷ
lệ khách hàng ngừng sử dụng bao cao su là 38%; ngừng biện pháp xuất tinh rangoài âm đạo 30% và ngừng đặt dụng cụ tử cung 13% Đối với tất cả các biệnpháp tránh thai, gộp lại các lý do ngừng sử dụng biện pháp tránh thai trongnăm đầu tiên là biện pháp tránh thai thất bại chiếm tý lệ 8%; phụ nữ muốn cóthai 4%; vì tác dụng phụ hoặc sức khỏe yếu 5% và các lý do khác 8% [33],
Tính chung cho tất cả các biện pháp gộp lại, nguyên nhân ngừng sửdụng phổ biến nhất là muốn có thai 26% Biện pháp thất bại 25%, tác dụngphụ 17%, và chuyển sang biện pháp khác 12% Gồm một nửa số ca NHT xẩy
ra trong số phụ nữ đang sử dụng biện pháp tránh thai truyền thống, đặc biệt làxuất tinh ngoài âm đạo 31%
Đây là điều đáng ngạc nhiên vì một thực tế là xuất tinh ra ngoài âm đạo
là một trong ít biện pháp có số người sử dụng tăng kế từ năm 1997 Việc hạnchế số người áp dụng biện pháp tránh thai bàng xuất tinh ra ngoài âm đạo vàtính vòng kinh đồng thời khuyến khích tăng số người sử dụng các biện pháptránh thai hiện đại sẽ góp phần làm giảm số ca NHT [20]
Trang 28Có khoảng 59% phụ nữ đang có chồng không sử dụng biện pháp tránhthai Khi được phỏng vấn họ đã trả lời rằng, họ có ý định sứ dụng biện pháptránh thai trong tương lai; 45% trong vòng 12 tháng tới, 13% sẽ sử dụng lúcnào đó sau 12 tháng tới và 1% không rõ lúc nào; 3% chưa rõ có sử dụng haykhông, còn 37% trả lời không có ý định sẽ sử dụng biện pháp tránh thai trongtương lai, Lý do không sử dụng, những nguyên nhân khác nhau được ncu rabao gồm: ít sinh hoạt tình dục 10%, vì lý do sức khỏe 7%, ít có khả năngmang thai - tức là gần như vô sinh, vô sinh 7%, lý do tôn giáo 2% hoặcchồngphản đôi KHHGĐ dưới 1 % là nguyên nhân chính làm cho họ không có
sử dụng biện pháp tránh thai trong tương lai [22],
1.2.2.4 Xã hội ngày càng phát triển, quan hệ tình dục mở rộng dề dần đến mang thai ngoài ý muốn
Gần đây điều kiện kinh tế - xã hội ngày càng phát triển, đặc biệt ở nước
ta từ khi thực hiện nền kinh tế thị trường, thực hiện mở cửa giao lưu với cácnước trong khu vực và trên thế giới, sự du nhập của nhiều nền văn hóa, phongcách và lối sống có nhiều thay đổi mà đặc biệt ở lứa tuổi thanh thiếu niên.Quan điểm sống “hiện đại”, yêu “hiện đại”, yêu “hết mình” đã dẫn tới việcquan
hệ tình dục không được “bảo vệ” và hậu quả là mang thai ngoài ý muốn [10],
Mang thai ớ tuồi vị thành niên có xu hướng gia tăng trong những nămgần đây, hiện nay trên thế giới ước tính có khoảng 14-15 triệu phụ nữ mangthai ở tuổi 14-49, đa số là ngoài ý muốn Tổ chức Y tế Thế giới ước tính cókhoảng 4,4 triệu bc gái trong độ tuổi vị thành niên phải NHT trong mồi năm
Trang 29Tỷ lệ NHT ở tuổi vị thành niên cao cũng là một vấn đề ở các nước đang pháttriển, vị thành niên hoạt động tình dục sớm và thiếu hiểu biết về các biện pháptránh thai, KHHGĐ Vì vậy việc đấy mạnh cung cấp thông tin về tác hạiNHT, tác dụng của các biện pháp tránh thai, kế hoạch hóa gia đình, cung cấpdịch vụ NHT an toàn là hết sức cần thiết, đặc biệt cho lứa tuổi vị thành niên.
Nghiên cứu NHT ớ lứa tuổi vị thành niên cho biết, quá nửa vị thànhniên đến NHT ở tuổi 19, khoảng 30% ở tuổi 17-18, còn lại ở tuổi 15-16, vịthành niên NHT có nhiều lý do khác nhau: Không muốn cưới (44%), nghĩrằng không phải người yêu (9,5%) và bạn trai đã có vợ (4,9%) [10]
Trang 30Một nghiên cứu khác ở miền Nam nước ta đã chỉ ra một số nguyênnhân dẫn đến NHT như yếu tố gia đình (gia đình phân ly, bố mẹ không quantâm đến con cái, thiếu tình cảm gia đình ), ảnh hưởng của văn hóa đồitrụy,thiếu kiến thức chăm sóc sức khỏe sinh sản, quan niệm “hiện đại” trongtình
yêu Một số vị thành niên ngộ nhận rằng NHT là một biện pháp kế hoạch hóagia đỉnh [22],
1.2.2.5 Số liệu báo cáo thống kê chưa chỉnh xác:
Hệ thống quản lý thông tin y tế hoạt động chưa thống nhất, thu thậpthông tin báo cáo chưa chính xác Hệ thống quản lý thông tin trong hệ bảo vệsức khỏe bà mẹ trê em vẫn đang nằm trong tỉnh trạng chung đó Các số liệuthu thập được khác nhau như số liệu từ Bộ Y tế, ủy ban Dân số Gia đình vàTré em, Cục thống kê
Số NHT ở những phụ nữ ngoài hôn nhân, dịch vụ NHT ngoài pháp luậtthường thấp hơn thực tế rất nhiều vì khó thu thập số liệu Thậm chí ở một số
cơ sở y tế nhà nước cũng không báo cáo hết số liệu vì sợ mất điếm thi đua.Một số trường họp khác do chẩn đoán không chắc chắn khi có thai đã tiếnhành hút thai khi mới chậm kinh 3-5 ngày, kể cả khi xét nghiệm HCG âmtính Một điều tra ở thành phố Hồ Chí Minh cho thấy 17% phụ nữ hút thai,thứ thai sớm âm tính Ncu như vậy thì có thể ước trcn toàn quốc có hàng trămngàn ca “hút gió” mồi năm [13]
1.3 Tai biến và ảnh hưỏng của nạo hút thai tói sức khỏe phụ nữ
Nạo hút thai là một thủ thuật y học đế kết thúc thai nghén trước khi thainhi có đủ khá năng sống độc lập ở môi trường ngoài tử cung [ 1 ]
Trang 31Hút thai (khái niệm mới) là hút điều hòa kinh nguyệt khi mới chậmkinh 7-14 ngày Nạo thai là một thủ thuật lấy thai từ buồng tử cung ra ngoàibằng kìm gắp và thìa nạo khi thai dưới 12 tuần tuổi Ngày nay người ta dùngcác loại bơm hút châm không (bơm karmann 2 van) và máy hút chân không
để hút thai (kể cả những thai đến 12 tuần tuổi), dùng thuốc (Misoprostol)uống hoặc đặt âm đạo để phá thai
Trang 32Nạo hút thai ở Việt Nam chưa bao giờ được coi là một biện pháp kêhoạch hóa gia đình, đó chỉ là giải pháp tình thế để giải quyết các trường hợpmang thai ngoài ý muốn (vỡ kế hoạch) Tuy nhiên không phải là một thủ thuậtlớn song nó cũng gây ra nhiều tai biến nguy hiểm ảnh hướng đến sức khòe vàhạnh phúc của người phụ nữ, nên phải có chỉ định đúng và thực hiện đúngchuẩn mực quy định.
Biến chứng do kỹ thuật: Có rất nhiều biến chứng có thể xảy ra sau quátrình NHT, trong đó dề gặp nhất là viêm nhiễm đường sinh dục Bình thường,buồng tử cung vô khuẩn tuyệt đối Khi thực hiện thủ thuật NHT, mặc dù cácdụng cụ đã được tiệt trùng và các thao tác được thực hiện cẩn thận bao nhiêuthì quá trình chảy máu vẫn tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập Nhẹ thì gâyviêm nội mạc tử cung, nặng thi dần đến viêm dính tử cung, vòi trứng và cóthể dẫn đến vô sinh Nguy hiểm hơn nếu vi khuẩn xâm nhập vào máu có thếgây nhiễm trùng máu làm người NHT sau 2-3 ngày sẽ sốt dừ dội, khó thở, mêsảng nếu không được xử lý kịp thời có thể dẫn đến tử vong
Các thao tác NHT nếu không được thực hiện đúng kỹ thuật có thể làmcho cổ tử cung bị rách thủng Nếu không được phát hiện có thể dẫn tới hiệntượng chảy máu dữ dội và nguy cơ viêm nhiễm cao Ngoài ra trong các caNHT to, người ta sẽ phải gây mê, khi đó người phụ nữ NHT có thể phải đốidiện với nguy cơ bị phản ứng thuốc mê, có thể ảnh hưởng đến thần kinh, gâysốc hoặc tệ hơn là chết ngay lập tức
Trang 33Một trong những biện pháp thường gặp là sót nhau hoặc sót mộtphần thai, kế đến là nhiễm khuẩn, dính buồng tử cung hoặc thủng tử cung.
Có không ít các cặp vợ chồng bị vô sinh sau một lần NHT, nhất là khi đượcNHT ở những nơi không đảm bảo vô trùng Vì vậy y học vẫn cho rằngNHT vẫn có thể gây vô sinh Có thể hạn chế bằng nạo thai an toàn, vôtrùng và
sử dụng thuôc kháng sinh sau NHT Theo Bành Thanh Lan vàcộng sự, tắc vòi trứng chiếm tới 58% nguycn nhân gây ncn các ca vô sinhthứ phát Chỉ một lần NHT, nguy cơ vô sinh sẽ cao gấp 3,7 lần nếu đếnbệnh viện Biến chứng được coi là phổ biến nhất của tinh trạng nạo pháthai không an toàn chính là tắc vòi trứng [ 12]
Biến chứng về nội tiết và tâm lý: Thai nghén tạo ra những thay đổi lớntrong cơ thề người phụ nữ Bất ngờ chấm dứt sự tồn tại của bào thai (phá thai)không thế không ảnh hưởng đến sự hoạt động cùa các bộ phận và các môtrong cơ thể Có trường hợp sau khi nạo phá thai, chức năng của hệ thốngthần kinh trung ương bị phá vỡ, hệ thống nội tiết và đặc biệt là buồng trứng bịtổn thương Các hiện tượng kinh nguyệt không đều, giảm cảm giác trong quan
hệ tình dục, suy nhược thần kinh, chóng mệt mỏi, mất ngủ là thường gặp.ngoài ra trong nhiều trường hợp, sau khi nạo phá thai, xuất hiện tắc từng phầnhoặc hoàn toàn các ống dẫn trứng, dẫn đến việc thai ngoài dạ con, vô sinh, đòihỏi phải chừa chạy lâu và kiên trì, mà nhiều khi không đạt được kết quả mongmuốn Thực tế là, người đi NHT phải chịu sự đau đớn một cách trực tiếptrong suốt quá trình nạo hút Đặc biệt là người chưa sinh nở lần nào, cổ tửcung còn bé, kích thước còn nhở thì sự đau đớn tăng lên gấp nhiều lần Tiếptheo, sau khi đã trải qua quá trình NHT, sự đau đớn và sợ hãi có thể dần đến
Trang 34những biến đổi trầm trọng về mặt tâm lý như: Sau NHT thường gặp đau bụng,đau do tử cung co lại.
Trang 35Khi NHT do các nguyên nhân như sự co bóp của tử cung, hoặc áp lựccủa ống hút, khiến máu chảy vào trong bụng đã có lẫn một ít màng trong tửcung (tử cung nội mạc) và nuối cấy luôn trong khoang bụng, hình thành nênchứng màng trong tử cung nằm sai vị trí Từ đó dẫn đến đau bụng, thống kinh(đau bụng kinh), vô sinh thứ phát, rối loạn kinh nguyệt và rất đau khi giaohợp Khi NHT làm lớp cơ thành tử cung bị tổn thương, hai vách trước vàsaucủa tử cung dính nhau, làm xuất hiện các triệu chứng đau bụng, bế kinh,trường hợp nghicm trọng phái dùng tới phẫu thuật đổ tách ra Sau khi phẫuthuật nếu khoang chậu bị viêm nhiễm sẽ gây đau bụng [4].
* Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã xác định được các yếu tố liên quanđến NHT như sau:
+ Tuổi thai là nhân tố quan trọng nhất gây ra các tai biến
+ Tai biến NHT liên quan đến tuổi và lịch sử sinh sản của phụ nữ
+ Tai biến NHT nhiều hơn NHT bất hợp phấp
+ Tai biến NHT nhiều hơn ở các nước đang phát triển
Tỷ lệ tai biến NHT tăng lên theo tuổi thai Tai biến NHT sau 8 tuần,tăng mồi tuần 15-35, thông thường nhất là; chảy máu, nhiễm khuấn khungchậu, tổn thương cồ tứ cung và thùng cổ tử cung [4], Một nghiên cứu theo dõidọc 31 tháng trên 16.410 người NHT trong 3 tháng đầu cho thấy tỷ lệ tai biếnlà
1,54%; phố biến nhất là sót rau, cháy máu nhiều sau NHT và thủng tử cung
Tỷ lệ tai biến do NHT trong 3 tháng giữa cao gấp 13 lần so với NHTtrong 3 tháng đầu [4]
Trang 36Làm thủ thuật trong điều kiện gây tê tại chỗ trên 683 phụ nữ hút thaithấy tai biến tức là 1,7%, tai biến chung sau 2 tuần là 3,4% và tai biến muộn
là 1,2% So sánh hiệu quả của NHT bằng máy hút hoặc bơm hút thai bàng taycho 500 trường hợp (l/4/1980)thì tai biến tức thì gồm: một người thủng tửcung, 1 người mất máu quá nhiều và 5 người sốc; tai biến về sau gồm 28người ra máu, và 5 người có tai biến khác [4],
Trang 37Tai biến di NHT trong 3 tháng đầu của thai kỳ được theo dõi là 356 ca(6,1%) bị một hoặc nhiều tai biến như: Chảy máu bệnh lý có hoặc không nạolại, sốt, viêm khung chậu, thủng tử cung, thương tổn cổ tử cung, thai pháttriên.Tai biên nhiêu ở tuôi dưới 19, nhiêu hơn ở người chưa có con so vớingười đã có con; nhiều hơn ớ người chưa từng NHT/sáy thai so với người đã
có 1 lần NHT trở lên [4],
Trong 352.000 ca NHT ờ Canada (1975-1980), khoảng 3% số ca NHThợp pháp đã có hơn một tai biến sớm Tỷ lệ tai biến giảm từ 3,2% năm 1975xuống 2,4% năm 1980 Tai biến ở phụ nữ dưới 20 tuổi là cao nhất (4,1%), gấp1,5 lần so với phụ nữ 20-24 tuổi và 2 lần so với phụ nữ 25-29 tuổi Nguy cơtai biến sớm tăng lên theo thời gian mang thai Các tỷ lệ tai biến NHT đối vớicác thủ thuật khác nhau cũng khác nhau: postaglandin 29%; nong và nạo0,8%, hút 0,4% [4], [46],
Trong 802 ca NHT hợp pháp ở mỹ (1/1986-6/1992), có 159 ca (20%)
bị các tai biến tâm thần và cơ thể nghiêm trọng, gồm 25% nhiễm khuấn, viêmphúc mạc, viêm nội mạc tử cung hoặc viêm vòi trứng (chủ yếu do kỳ thuậtkhông nghiêm ngặt); 14,5% có hậu quá tâm thần và tâm lý như: Đau buồn, ânhận, 12,6% chảy máu từng đợt; 8,8% vô sinh; 7,6% chấn thương cổ tử cung
và tử cung; những người còn lại nói rằng có đau và khủng khoảng tinh thần
Tỷ xuất chết do NHT ở Pháp, Mỹ là 1,4/100.000 ca NHT, còn ở các nướcđang phát triển là 50-100/100.000 [4], [52], [53],
Tai biến do NHT bất hợp pháp là nguy cơ chủ yếu và đáng quan tâmđối với sức khỏe phụ nữ, đặc biệt là ở các nước đang phát triển có 30-50triệu ca NHT, với gần một nửa là bất hợp pháp [57], Chăm sóc bệnh nhân
Trang 38tai biến do NHT bất hợp pháp rất tốn kém Một nghiên cứu ở Trung Quốctính chi phí điều trị cho một ca tai biến NHT tốn kém gấp 12 lần chi phícho một ca đỏ thường.
Trang 39Một nghiên cứu đánh giá tác động của NHT và sảy thai tới rau tiên đạo
ở lần mang thai sau trên 486 phụ nữ có rau tiền đạo cho thấy: Có hơn 30%phụ
nữ đã có từ 01 lân sảy thai hoặc NHT trở lên bị một tai biên thai nghén vêsau do rau tiền đạo [12]
Khoảng 25% các ca NHT không an toàn là các em gái ở lứa tuổi
15-19 Vị thành niên thường đi NHT muộn khi tuổi thai đa lớn, các em thường
đi đến các cơ sở NHT tư nhân, các cơ sở phá thai theo kinh nghiệm dângian nên thường xảy ra tai biến nhiều hơn số lượng nghiên cứu của 67công trình nghiên cứu tại 17 quốc gia cho thấy khoảng 15% số chết mẹ là
do NHT không an toàn
Theo một tài liệu của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) tỷ lệ chết mẹ doNHT không an toàn trên 1000 ca sinh sống trên thế giới: 83 ở Châu Phi, 48 ở
Mỹ la tinh, 47 ở Châu Á, 29 ớ Châu úc, 10 ở Nga và 4 ở Châu Âu [41]
Ở Việt Nam, nhìn chung số liệu về tai biến NHT thường khó chính xác,
vì tai biến NHT không chỉ xuất hiện sau này như: Nhiễm khuẩn phần phụ, tắcống dẫn trứng, vô sinh thứ phát, có thồ làm tăng nguy cơ chứa ngoài dạ con,
đẻ non và sẩy thai đồng thời trong thời gian đó, nhiều bệnh tật nêu trêncũng có thể mắc phái mà không phải do nguyên nhân NHT, do đó rất khó xácđịnh và phân biệt đúng các tai biến NHT Mặt khác cũng giống như số liệu
NHT, các tai biến NHT rất khó thu thập ở các khu vực y tế tư nhân mà thường
chỉ thu thập được số liệu khiêm tốn ớ các cơ sở y tế nhà nước
Một nghiên cứu về chết mẹ mới đây cúa bệnh viện Phụ sán Trung ươngtại 3 tỉnh của Việt Nam đưa ra tỷ lệ chết mẹ là 155/100.000 ca sinh sống,trong đó NHT chiếm khoáng 5% Kết quả nghiên cứu tại 06 bệnh viện huyện,
Trang 40tỉnh và bệnh viện Phụ sán Trung ương năm 2009 cá 12 ca chết mẹ (tỷ lệ576/100.000 ca sinh sống), trong đó có 6% do tai biến NHT như chảy máu,nhiễm khuẩn và chứa ngoài tử cung.